EM VỀ

 

Hạ vàng hạ vàng nắng
Chiều qua chiều qua mau
Đường quạnh đường quạnh vắng
Ngõ đón ngõ đón chào

Tà áo tà áo trắng
Vờn lao vờn lao xao
trời im trời im ắng
Én vù én vù cao

Đường hiu đường hiu gió
Lá xạc lá xạc xào
Gót son gót son nhỏ
Bước về bước về mau

Sông tĩnh sông tĩnh lặng
Dòng nao dòng nao nao
Chuông chùa chuông chùa vắng
Mưa rạt mưa rạt rào

Trúc thưa trúc thưa vắng
Gió thổi gió thổi ào
Đường không đường không nắng
Chiều nôn chiều nôn nao

Mây chìm mây chìm lặng
Trời mưa trời mưa rào
Giọt trĩu giọt trĩu nặng
Em về em về mau

Ngày phai ngày phai màu
Chiều xanh chiều xanh xao
Trời mưa trời mưa nặng
Em về em về mau

Trời mưa trời mưa nặng
Em về em về mau
Em về em về mau…

KIỆT TẤN

Bagnolet, đầu xuân  2009

Advertisement

người em xóm học

kiettan

Hỡi người em xóm học
để sương thấm bờ đêm
đường anh đi
tràn ngập lệ buồn em
(Cung Trầm Tưởng)

Diane quấn quít. Tôi càng lúc càng khóc lớn. Mọi người trong quán quay lại ngó nhìn, ái ngại. Quán có tên đặc biệt là “Mì Dơ” nằm ở ga Lyon trong Paris đèn cũ. Ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn khóc, nói chi cũng muộn màng… Diane đứng dậy rời khỏi ghế dài đang ngồi chung với Lộc chạy sang ngồi cạnh nắm vai tôi lắc lắc:
– Anh làm sao vậy?
Tôi tiếp tục khóc ngất. Diane rơm rớm nước mắt, đưa tôi cái khăn giấy ở bàn ăn, tôi lắc đầu. Diane đưa khăn chậm nước mắt cho tôi.
– Anh làm sao vậy
Diane tiếp tục hỏi. Tôi nghẹn ngào đáp lời nàng giữa hai tiếng nấc:
– Tôi cô đơn… Tôi không hạnh phúc… Tôi cô đơn… Tôi muốn chết…
Diane ôm đầu tôi đặt lên vai nàng, tay vuốt tóc tôi:
– Anh nín đi, không thì tôi cũng khóc theo bây giờ.
Lộc xen vào:
– Thôi cứ để thây kệ cho nó khóc một hồi cho đã nư. Nó thèm khóc lâu lắm rồi mới khóc được như vậy.
Quả nhiên tôi tiếp tục tỉ tê và lải nhải một chập rồi cơn buồn khóc từ từ dịu xuống. Thỉnh thoảng tôi còn hít hít hơi lên tủi thân như đứa nhỏ sau trận đòn. Ông chủ quán người Tàu mang ra chai Mai Quế Lộ rót vào cái tách nhỏ đưa cho tôi, xuề xòa thông cảm:
-Tuổi chẻ nhiều lúc lổi cơn như dậy ló. Thôi mời cậu uống ly dượu lày dồi xẽ quên hết. Khóc lược là sướng lắm, ngộ piết mà!…
Tôi ực ly rượu cay xè mà hậu vị còn dịu ngọt trên lưỡi. Tôi uống cạn thêm ly nữa nhưng cô đơn vẫn còn đầy ắp trong tim. Tôi sợ mình lại sắp chảy nước mắt lai láng.

Có hai điều tôi sợ nhất trên đời là bệnh tật và cô đơn. Mỗi lần đến một thành phố lạ nào việc đầu tiên của tôi là đi tìm đàn bà – bất cứ người đàn bà nào cũng được. Không phải để giải quyết sinh lý. Tôi cần có sự hiện diện, mà sự hiện diện đó phải là của một người đàn bà. Không có nàng, tôi thấy đời sống trống rỗng, mênh mông, hoang vu dễ sợ. Tưởng có thể ngã ra chết được. Tôi ghiền đàn bà như ghiền ma túy. Tôi sẽ chết vì ma túy, không có gì ngạc nhiên. Trái ngược lại với bọn con trai vì yêu đương mà xao lãng đèn sách, khi có con gái bên cạnh tôi học càng được. Tôi vừa đánh đàn vừa học bài, thỉnh thoảng hôn lên má nàng một cái, vậy mà học tiến bộ ngó thấy. Không có nàng, tôi lăng xăng tìm kiếm, không học hành gì được hết. Tìm không ra, tôi tưởng phát khùng tới nơi.

Tôi đến Paris với tâm trạng khùng khùng đó vào đầu tháng Sáu, trời sắp đi vào mùa hè. Năm du học đầu tiên ở Canada, tôi sống như thầy tu, trong nhà trọ dành cho sinh viên đực rựa ở ngoại ô, tôi cũng có đi chơi với mấy cô nhưng chẳng đến đâu. Các cô tới tuổi ân ái thì chê tôi quá “lỏi”, với các cô nhỏ hơn thì tôi đụng nhằm cùng một vấn đề, nhưng đặt ngược lại. Tôi với không tới trời, chân không đạp đất, lửng lơ trong tù ngục dục tình. Tôi thèm nhớ thân thể Tuyết, người tình quán nước ở quê nhà. Tôi tương tư Ánh, người yêu học trò ở tỉnh lẻ. Mùa đông Québec thật khắc nghiệt, tôi lạnh cóng hai bàn chân, băng giá trong lòng, thèm yêu như thèm nắng nhiệt đới. Tôi viết đơn xin thôi học. Tôi bất cần tương lai, tôi chỉ cần đàn bà, và cần ngay bây giờ.

Lão giám đốc chương trình du học đánh máy cho tôi một lá thơ dài để an ủi. Các vị lãnh đạo tinh thần xúm lại nâng đỡ tinh thần tôi. Bạn bè dắt tôi đi chơi bời. Nhưng không có gì thay thế được sự hiện diện của người đàn bà trong đời tôi. Tôi lại nhớ ma túy. Nỗi nhớ nằm trong mạch máu và cứ tuần hoàn trở lại tim. Tôi ghiền. Ghiền quá nặng. Sau khi tôi xuất ngoại, anh tôi cũng được học bổng qua Paris học triết ở Sorbonne. Mùa hè, tôi được Công ty điện lực Pháp chấp thuận hồ sơ tu nghiệp có trợ cấp. Tôi được dịp sang thăm ông anh thân mến. Khi đặt chân vào Viện Institut Franco-Vietnamien ở số 269 đường Saint Jacques, tôi xúng xính trong cái áo mưa xám dài chấm gót. Lộc ngó tôi cười ngất, hắn bảo tôi giống “ông cha”. Khi tôi xổ tiếng Tây, Lộc lại cười ngạo vì cái ắc-xăng Québecois cổ lỗ sĩ của tôi. Còn tôi, ngược lại tôi thấy hắn mập ra và mặt thì phèn phẹt như Chệt. Tuy nhiên Lộc đã làm tròn bổn phận của một người anh thương em và một hướng dẫn viên tận tụy với thiên chức. Lộc dắt tôi đi coi tháp Eiffel (chụp hình), đến Notre Dame (chụp hình), rồi ghé thăm các em ở Châtelet (không có chụp hình). Vốn chưa quen cái màn bán người từng khúc, trả tiền tới đâu cho coi tới đó nên tôi chẳng thấy một chút gì hào hứng. Đã vậy em còn bắt tôi nằm ngửa, vì em sợ hư mái tóc mới đi tiệm gội chải và xịt keo.

Tuần lễ sau, nhân dịp hết năm học, Viện có tổ chức bùm. Tây có, Mít có, đầm có, rần rần. Hồi đó Mít nhảy đẹp hết xẩy, nổi tiếng ở Xóm Học (Quartier Latin). Đặc biệt có một cô đầm vóc người nhỏ nhắn thon gọn, mặt mũi xinh xắn, nhảy với Mít ăn khớp như đã có tập dượt với nhau từ trước. Cô ta nhảy với một anh đoạt giải “bi-bốp”, nhảy với một anh khác đoạt giải “cha-cha”. Cô ta quay hai vòng, đứng lại thật gọn gàng rồi quay một vòng ngược lại, chiếc váy màu xanh lục thẫm xòe ra thấy mê luôn. Dù đoạt giải nhưng không thấy cô ta nhoẻn miệng cười, chỉ nhếch mép lên một chút tượng trưng. Tài nghệ của tôi xoàng xỉnh nên đêm đó phần lớn tôi chỉ ngồi coi. Anh tôi thì tánh tình xuề xòa nên cuộc vui nào cũng nhảy xổ vào tham dự và ôm cô đầm nọ nhảy ra rít. Quá nửa đêm, tôi bị chứng bệnh cô đơn trở về hành hạ nên làm một loạt hết mấy chai bia rồi leo lên gác chui vào phòng đắp mền say ngủ.

Buổi sáng tôi thức dậy nghe có tiếng chim bồ câu đập cánh ngoài sân và nắng lọt vào giường ngủ. Rồi từ nhạc viện bên kia sân vọng sang tiếng dương cầm thánh thót, trong veo. Tôi nằm nướng tận hưởng hạnh phúc tình cờ đó. Mọi bận có anh tôi ngủ chung giường. Đêm qua Lộc đã đi hoang đâu mất. Đến trưa cũng không thấy về. Tôi thua buồn lấy giấy viết một trang dày đặc nói về cô đơn, đút vào túi áo. Buổi chiều tôi đang ngồi ở tiệm cà phê thì Lộc từ đâu mở cửa bước vào. Lộc trả tiền, lôi tôi ra khỏi quán để rồi lại đẩy tôi vào một cái quán khác bên kia đường Saint Jacques. Nàng đã ngồi sẵn đó, vẫn chiếc váy xếp màu lục đậm và chiếc sơ-mi màu tím nhạt.
– Đây Diane, đây là Kiệt, em tôi từ Canada qua chơi hè này.
Lộc giới thiệu, tôi bắt tay nàng, bàn tay nàng nhỏ nhắn, vừa vặn lọt trong lòng bàn tay tôi. Cũng nụ cười tượng trưng. Tóc nàng màu nâu ửng vàng óng ánh, một lọn tóc la đà trên trán, hai bên xòe ra úp lên má, trên tóc một băng vải chận giữ cũng màu tím nhạt. Mi nàng kẻ mực đen, cuối mày đường vẽ xếch lên thách thức. Nàng không thoa son, môi hồng thắm tự nhiên. Đường nét trên mặt nàng thanh tú, gẫy gọn. Một nốt ruồi đen chấm dưới mắt trái như một nốt nhạc buồn. Tôi nhìn nàng, linh cảm đời mình đang thay đổi. Tôi thẫn thờ ngồi xuống như thỏi sắt ngã xuống nam châm. Nàng gợi chuyện:
– Sao hồi hôm anh không mời tôi nhảy? Thấy anh cứ ngồi lì trên bực cửa sổ.
– Tôi có thói quen khi nhảy giở một lượt hai cẳng sợ té nên không dám mời ai.
Nàng che miệng cười, đuôi mắt cong vút:
– Tôi thấy anh nhảy “cha-cha” với cô gì mập mập coi cũng được lắm chớ.
– Vậy hả? Coi được sao mà Diane vẫn đoạt giải như thường, còn tôi đeo cửa sổ làm khán giả.
Lộc đỡ lời:
– Ôi thằng này nhà quê lắm em ơi! Nó nói tiếng Tây em hiểu được là khá lắm rồi. Mày uống cái gì không? Uống đi rồi tao dẫn xuống ga Lyon ăn mì dơ. Chắc ở Québec mày thèm mì xào kiểu Chệt?

Thấy tôi buồn, Lộc rót rượu cho tôi uống liên tiếp. Mọi người coi chuyện tôi khóc thét vừa qua như một tai nạn dọc đường. Có Diane ngồi bên cạnh, tôi thấy bớt trống trải và trong lòng cũng được ấm áp. Diane trở nên thân mật hơn, cười nói tự nhiên, không che miệng, tôi để ý nàng có cái răng gãy ở cuối đường môi bên phải. Diane gợi tôi hình ảnh Fantine trong Les Misérables. Tôi không khóc nữa, nhưng cũng dần dần say khướt. Lộc và Diane kè tôi lên taxi chở về khách sạn gần Port Royal. Bước lên cầu thang, tôi bắt đầu nôn mửa, tên chủ càu nhàu, Lộc dúi cho hắn tờ 10 quan, hắn nín. Lên cầu thang, tôi lại nôn mửa. Lại càu nhàu, lại 10 quan, lại hết càu nhàu và có lời cảm ơn.

Lộc về phòng mình. Diane ở lại chăm sóc tôi. Nàng dìu tôi tới chậu rửa mặt để tôi nôn mửa cho hết cơn. Miệng tôi chua đắng. Nàng hứng nước vào cái ly mủ cho tôi súc miệng. Nàng cởi áo cho tôi, đặt nằm lên giường, lấy khăn ướt đắp lên trán, hơi thở ấm của nàng tỏa ra trên mặt, thoang thoảng có mùi phấn thơm dịu ngọt. Chợt vói tay ôm nàng ghì xuống ngực mình cứng ngắc. Tôi lại lẩm bẩm:
– Tôi cô đơn… Tôi không hạnh phúc… Đừng bỏ tôi một mình… Tôi sợ cô đơn! Sợ lắm!…
Diane nằm im nhưng cũng thì thầm:
– Không được đâu anh.
Nước mắt tôi lại trào ra trên má. Như đứa nhỏ bị hắt hủi. Diane nói:
– Tôi đi với Lộc, đâu thể ở lại với anh được. Thôi đừng khóc nữa, tội lắm mà, anh!
Diane gỡ tay tôi đứng dậy, bước ra khỏi buồng, tắt đèn và khép nhẹ cửa lại. Nàng đã về với anh tôi. Nằm lẻ loi trong bóng tối, tôi cần đàn bà biết chừng nào! Tôi không nhận định tình cảm mình rõ rệt. Chỉ thấy cô đơn và thèm muốn. Cơn say chợt ùa tới lôi cuốn tôi, chìm sâu vào cơn mê đen hút, lãng quên, vực thẳm.

Tôi giật mình thức giấc, bàng hoàng, chấp chới. Bên ngoài cửa sổ trời còn tối đen mù mịt. Đầu nhức nhối. Vì rượu đêm qua, có lẽ. Nhiều lúc đang đi ngoài phố bỗng bị cô đơn chụp lấy, đầu tôi tưởng nứt rạn, tim đập dồn dập, trước mắt lan dần những vòng đen, tôi muốn ngã quị xỉu luôn tại chỗ. Cô đơn như một ung thư đục khoét cơ thể đau nhức. Cô đơn là một cảm giác trừu tượng, nhưng sự đau nhức rất là cụ thể. Tôi muốn có một cây đinh thật dài và thật lớn đóng phủng qua màng tang để thủ tiêu nó, thủ tiêu tôi. Một ngày nào đó chắc tôi phải chấp nhận chung sống với cô đơn, bằng không nó sẽ giết tôi chết mất. Tôi rửa mặt, súc miệng qua loa và uống thật nhiều nước ở vòi cho đả cơn khát. Với lấy chiếc áo mà Diane đã cẩn thận máng trên lưng ghế mặc trở lại vào người. Tìm được trong hộc tủ ở bàn một cây viết và mẩu giấy con, tôi viết nguệch ngoạc mấy chữ: “Tôi đi đây. Tôi sẽ leo lên tháp Eiffel để nhìn Paris cho rõ hơn”. Tôi bước ra khỏi phòng đút mẫu giấy vào buồng của Diane và Lộc. Xung quanh vắng lặng. Tôi xỏ giày vào chân, xuống cầu thang rồi đẩy cửa bước ra đường.

Không khí ban sáng lùa vào phổi mát mẻ. Xe cộ bắt đầu chuyển động trên đường phố như những con vật đen đúa, lầm lì, bí mật, xì xầm. Paris đang thức giấc. Nhưng Paris có khi nào ngủ bao giờ? Tôi không có một hướng đi nào rõ rệt. Không hẳn tôi muốn đi tới tháp Eiffel (để làm gì?). Dù có muốn, tôi cũng không biết đường nào để tới. Tôi di chuyển trong Paris bằng xe điện ngầm. Trồi lên mặt đất tôi lạc hướng. Tôi đổi lề đường mấy lần (để làm gì?). Tôi quẹo, rồi tôi lại quẹo nữa.

Mụt ung thư chợt cựa quậy. Tôi sợ hãi thảng thốt, sắp ngã xỉu. Tôi muốn chạy về khách sạn, đập cửa buồng và nắm lấy tay Diane năn nỉ (để làm gì?). Trong thành phố này mọi người chết hết rồi sao? Thân thể tôi rạn nứt. Bên lề đường, một hiệu cà phê thắp đèn sáng, vừa mở cửa. Tôi là người khách đầu tiên. Gã barman nhìn tôi lo ngại:
– Ông làm sao vậy? Sao xanh mướt?
Tôi khoát tay tỏ ý không sao. Rồi tôi gọi một ly nước suối lớn, ngồi uống lặng lẽ ở quầy. Rời quán, tôi lang thang vào một vườn cây (tên gì? ở đâu?). Tôi ngồi co ro trên băng gỗ chờ sáng.

Hình như tôi chập chờn được một giấc khá lâu. Nghe tiếng chim sẻ kêu ríu rít, tôi tỉnh ra, mở mắt. Mặt trời xuyên qua cành lá lấp lánh. Không khí ấm dần. Tôi vươn vai ngáp dài và rời khỏi vườn cây. Lại đi quanh co rồi lại lọt vào một con phố nhộn nhịp, đại lộ Saint Germain-des-Prés. Mọi người xuôi ngược rần rần, tất tả. Nhưng tôi có cảm giác đang lặng trôi lờ đờ trên một dòng nước câm nín, lạnh lẽo, và những bộ mặt lao xao quanh tôi là những bộ mặt chết trôi, khép kín, vô cảm giác. Và tôi cũng đang chết trôi. Paris là thành phố thơ mộng? Tôi chỉ thấy những khối nhà đen đúa, xám xịt, dính đầy cứt chim. Paris là thành phố vui nhộn? Tôi không thấy vui gì hết. Tôi chỉ thấy cô đơn, lạnh lẽo và tôi sắp rã mục. Tôi vịn vào một góc tường có gân đá lớn cho khỏi khụyu ngã. Muốn chết. Thèm chết. Không thể nào sống sót nổi.

Tôi trôi dật dờ trong thành phố Paris cho tới lúc sẫm tối. Sau cùng, quá mỏi mệt và hết còn biết đi đâu, tôi trở lại quán ở đường Saint Jacques. Mở cửa bước vào, tôi lại bắt gặp Diane ngồi đó với đôi mắt lớn kẻ xếch và chiếc áo màu tím nhạt như buổi hôm đầu. Diane reo lớn:
– Kiệt! Kiệt! Anh Kiệt kìa!
Lộc vùng đứng dậy chạy ra ôm lấy tôi. Diane cũng chạy theo. Lộc ríu rít:
– Mày đi đâu vậy? Làm tao lo muốn chết. Tao đã định đi cớ bót.
Diane níu lấy cánh tay tôi vuốt ve:
– Tụi này sợ anh leo lên tháp Eiffel nhảy xuống bất tử. Trước đó ở quán anh đã khóc ngất.
Diane rơm rớm nước mắt. Tôi xúc động mạnh. Thiệt tôi điên quá đi mất! Tôi được dìu ngồi xuống băng dài bọc nệm dựa tường. Lộc và Diane mỗi người kẹp một bên như sợ tôi vùng đứng dậy bỏ chạy bất thần. Tôi xin lỗi cả hai vì cơn bốc đồng của mình. Diane hỏi tôi có giận gì không, tôi nói tôi chỉ buồn bã quá thôi chứ tôi không giận gì ai hết. Diane ấn cằm tôi hướng về mặt nàng, nhìn thẳng vào mắt tôi một chặp rồi hỏi:
– Anh còn cô đơn không?
– Còn!
Tôi đáp gọn lỏn, không do dự. Diane cúi xuống nhìn mặt bàn. Tôi thấy tóc nàng đẹp mướt, muốn hôn lên đó. Tôi không mảy may nghĩ Lộc là một tình địch. Diane đứng dậy đến bên máy hát bỏ xu vào ấn nút. Người ca sĩ buông tiếng ca khàn đục “I found my dream… on Blueberry hills”. Nàng rất thích Louis Amstrong, mặt nàng lộ vẻ say sưa mê mẩn khi người ca sĩ da đen này cất tiếng. Người ca sĩ hát tiếp bản khác: “Hello! Darling… It’s Louis darling!…”, Diane cao hứng búng nhịp, tôi bị lôi cuốn cũng búng tay theo lóc chóc. Mọi người lại như quên hết phiền muộn. Lộc đứng dậy bước đến bàn chơi đánh banh điện. Tôi choàng tay qua vai Diane kéo xiết, lòng thấy ấm áp, mụt ung thư dịu đau. Chúng tôi lại kéo nhau đi ăn mì dơ. Ông Chệt nhận ra khách quen, cười toe toét thân mật:
– Xao pữa lay cậu hết puồng chưa?

Ăn xong chia tay. Lộc đi với Diane, tôi về Viện một mình, lại bắt đầu sợ hãi. Tôi mở mắt trao tráo nhìn bóng tối, thấy bóng cô đơn lù lù ngồi đợi. Tôi trằn trọc, lăn trở, dày vò, ngán ngẩm. Trong đêm đen mịt mù, từ phòng bên cạnh vẳng sang giọng ca buồn buồn thê thiết của Gilbert Bécaud… “Et maintenant… que vais-je faire?… Tu m’as laissé la terre entière, mais la terre sans toi, c’est petit!… Et maintenant… que vais-je faire?… Vers quel néant… glissera ma vie?…” Tôi ước có một cây đinh thật dài…

Buổi tối hôm sau, tôi ra quán ngồi ăn một mình. Nuốt cái xăng-uých không trôi. Tôi thả bộ xuống Saint Michel, lờ đờ không chủ hướng. Bỗng tôi thấy bên kia đường một dáng quen đi sát bên một vách tường đen lớn phản chiếu ánh sáng lờ mờ.

Tôi hét lên một tiếng thất thanh “Diane!”, rồi mừng rỡ chạy băng qua đường bất chấp xe cộ. Người con gái khựng lại, đúng là Diane. Nàng mặc váy xám và áo len đen tay dài khỏi khủy một chút. Diane cũng mừng rỡ thốt kêu “Anh Kiệt!” Hai đứa nắm tay nhau, tôi vô cùng sung sướng. Tôi hỏi:
-Lộc đâu? Sao bỏ em đi có một mình vậy?
– Ban nãy có mấy người bạn Lộc tới kéo đi chơi, em không thích nên để Lộc đi riêng với bạn bè. Còn anh sao? Hôm nay đỡ chưa? Đi đâu lang thang vậy?
– Thì cũng lang thang vậy thôi. Cùng lắm là nhảy xuống sông Seine… cho mát. Tình cờ gặp em đây, hay là chúng ta vào quán uống cà phê nghe nhạc chơi?
ngẫm nghĩ hồi lâu, tôi sợ nàng từ chối. Nàng nói:
– Nếu anh thích nghe nhạc thì để em dẫn anh tới chỗ này, nghe nhạc jazz dễ thương lắm.
Tôi theo nàng đi quanh co trong Xóm Học, qua mấy con đường nhỏ tăm tối có clochards nằm ngủ lăn bên lề. Chúng tôi đẩy cửa bước vào một tiệm nhỏ ở đường Huchettes, bước theo những bậc thang đá gồ ghề dẫn xuống hầm. Hầm thắp đèn lù mù ấm cúng, có băng ghế đặt dựa sát theo vách đá. Rải rác trong hầm vài cặp tình nhân và đôi ba người khách lẻ loi. Tiếng nhạc blues tha thiết tỏa ra từ một máy hát đặt ở nơi nào không ngó thấy. Chúng tôi chọn một góc tối và gọi hai ly whisky. Tôi đốt chung cho hai đứa một điếu thuốc. Diane tựa đầu vào vai, tôi hôn lên mái tóc thèm muốn tự buổi đầu. Một hơi ma túy nồng nàn trong phổi sa mạc khô nứt. Diane hỏi:
– Anh sợ cô đơn lắm phải không?
– Sợ đến chết được. Nó là kẻ tử thù của anh. Anh lúc nào cũng cần có người đàn bà hiện diện trong đời sống, lúc nào cũng thèm khát yêu đương. Còn em, em có yêu Lộc không?
Diane cầm tay tôi đưa lên môi hít một hơi thuốc rồi nói chậm rãi:
– Yêu đương đâu phải dễ vậy anh. Em đang trải qua một cơn khủng hoảng. Cũng như anh, em rất khiếp sợ cô đơn. Thành thử hôm anh khóc ở quán em rất xúc động. Em hiểu lắm. Em đã có lần suýt tự tử vì cô đơn. Lúc thay áo cho anh ở khách sạn em có nhặt mảnh giấy ở trong túi anh. Em đọc nhiều lần càng thấy thấm thía điều anh viết, và càng thêm sợ anh leo lên Tour Eiffel nhảy xuống tự vận. Em có viết một trang đáp lại nhưng chưa đưa anh đọc.
– Có lẽ em chỉ có cảm tình với anh, một chút cảm tình gần với sự thương hại.
– Sao anh nói kỳ vậy? Em rất ghét sự thương hại. Em không chấp nhận sự thương hại của ai hết. Còn anh thì sao? Anh có… anh có… yêu em không?

Tim tôi chùn một nhịp. Tôi chưa biết phải trả lời sao thì Diane đã bá lấy cổ kéo mặt tôi xuống gần đặt môi nàng lên môi tôi ghì siết. Lưỡi nàng tìm kiếm sục sạo rất sâu trong miệng tôi, hương vị ngọt lẫn mùi thơm thuốc lá, lưỡi tôi cũng hưởng ứng quấn quít lưỡi nàng. Lần đầu tiên trong đời tôi thưởng thức nụ hôn tuyệt vời theo lối Pháp, từ một cô gái Pháp. Nụ french kiss dài bất tận… Nhạc blues vẫn dặt dìu tha thiết trong căn hầm ảo khói. Tôi sung sướng quá thể! Chúng tôi ôm nhau, tiếp tục hôn nhau da diết, không cần nói, không nói thêm gì ngoài những lời tình tự ngắn nhỏ thì thầm. Tôi luồn tay dưới áo len nàng, áo len có những thớ nhám, da thịt Diane mịn màng, sinh động, hô hấp, ấm áp, nồng nàn đốt cháy nỗi cô đơn đang khát máu tôi. Bàn tay tôi dò dẫm tìm ngực nàng. Trên trần gian này không ai có thể hạnh phúc hơn tôi lúc đó.

Chúng tôi trở về khách sạn gần nửa đêm. Tôi lấy một phòng cùng tầng với Lộc. Tối nay tôi không về ngủ Viện. Chìa khóa của Lộc không có trên giá treo, chắc Lộc đã về phòng rồi. Tôi và Diane rón rén lên lầu. Tới cửa phòng mình, tôi ôm Diane vào lòng, hôn lên tai nàng và nói nhỏ:
-Thôi em về với Lộc đi, và hãy ngủ cho ngon.
Diane xô tôi ra, nhìn tôi rưng rưng nước mắt:
– Bộ anh không hiểu gì hết sao? Anh đành bụng nào biểu em về ngủ với Lộc?
Sợ nàng òa khóc lớn, tôi mở cửa kéo nàng vào phòng mình. Hai đứa để nguyên quần áo ôm nhau lăn trên giường. Ánh đèn điện ngoài đường dọi vào cửa sổ hiu hắt. Tôi lần mò cởi quần áo Diane. Tôi đê mê bắt gặp lại người đàn bà nguồn sống muôn thuở đã vắng mặt trong đời tôi quá lâu. Tôi không dành một phút nào nhìn ngắm thân thể nàng. Hai đứa say sưa trong cuộc tình hừng hực. Rồi mệt ngủ.

Khi tỉnh giấc thấy Diane nằm trần truồng trong tay, tôi biết nàng đã lọt vào đời tôi kể từ đêm nay. Tôi vuốt ve vai nàng, lưng nàng và hôn nhẹ lên má nàng. Nàng cũng trở giấc. Tôi dành thời giờ nhiều hơn để thưởng thức thân thể nàng. Nàng ôm tôi âu yếm. Cơn dục tình lại kéo về đắm đuối, cuồng nhiệt, mê tơi. Sau cơn ân ái, Diane chợt khóc, vai run run, không biết vì buồn khổ hay hạnh phúc. Tôi không vặn hỏi, không muốn biết. Và tôi thiếp ngủ trở lại, không còn sợ hãi.

Lộc đón nhận sự thay đổi của Diane một cách can đảm và hào hiệp. Còn tôi thật vô tâm. Tôi nghĩ, như để tự bào chữa, dù sao con đường trở lại của Diane đã bế tắc. Ba đứa tôi vẫn gặp nhau, đi uống cà phê và đánh banh điện. Và nghe Louis Amstrong hát, dĩ nhiên. Đó là thú vui của Diane. Nàng có thể nhịn ăn để hưởng thú vui giản dị đó. Khi gò một đường banh, miệng nàng lệch méo qua một bên đầy vẻ chăm chú. Tôi tức cười, cũng thấy rộn rã vui lây. Paris biểu lộ dưới đường nét nên thơ cố hữu, với những khối nhà đen xám, mái lợp bằng đá bảng, cửa sổ rộng lớn mở ra bao lơn viền sắt đen uốn bẻ vân vi, và chim bồ câu vỗ cánh xập xòe trong nắng bay lên đậu. Người ngoài phố cũng trở nên thân mật với tôi hơn. Bằng thân trăn mềm, bằng ngực no nê, bằng tình ái điên rồ, Diane đã giải thoát tôi khỏi cô đơn đĩa đói và đem tôi về đoàn tụ với loài người. Nàng hòa giải tôi với đời sống. Tôi thay xiêm đổi áo, đính hôn với mùa hè, với nắng nóng, với mặt trời, với cỏ cây, với chim chóc.

Tôi đưa Diane về nhà một người bạn gái gần nhà thờ Pantin để nàng lấy quần áo gửi tạm nơi đó. Tôi đứng chờ nàng trong vườn cây. Ngó những người chơi chọi banh sắt nhi nhô cười giỡn lao xao, tôi bỗng thấy yêu đời vô kể, một cảm giác mà tôi tưởng chừng đã mất biệt luôn trong đời mình. Chặp sau Diane từ trong nắng đi tới. Con đường nắng lỗ chỗ, nàng cầm trong tay một cái va-li nhỏ. Nàng nói đây là tất cả gia tài của em. Tôi xúc động thương mến và rạt rào hạnh phúc. Tôi thấy đời sống sao mà dễ ợt, như một cái bánh ngọt. Tôi dẫn nàng đi trên hè phố với cái va-li nhỏ tòn ten trên tay như một cô dâu. Nàng ghé tiệm giày mua đôi hài nhẹ, loại ballerines, nàng nói hồi nhỏ nàng cũng có học vũ cổ điển, nhưng nhảy không hay vì mông hơi lớn, quay không gọn. Tôi vỗ đít nàng nói mông như vầy mới là tuyệt, rồi hai đứa phá lên cười. Nàng dừng lại trước tủ kiếng của hiệu bánh ngọt rất lâu, ngắm nghía thèm thuồng. Tôi định bước vào mua nhưng nàng hoảng hốt nắm tay tôi kéo đi. Nàng sợ dày thêm ở mông, có lẽ.

Bạn bè tập sự cùng khóa thấy tôi trở nên vui tính liến thoắng. Trong đám, tôi trẻ nhất. Cuối tuần có tổ chức cho các tập viên đi thăm dân cho biết sự tình ở nước Pháp. Một bận ghé thăm ngôi nhà thờ nổi tiếng ở Reims, tôi thắp một ngọn nến, quì gối làm dấu thánh giá. Cô hướng dẫn viên tò mò hỏi:
– Ông là người Công Giáo?
– Không, tôi là người Việt Nam.
Cô ta chỉnh lại câu hỏi cho chính xác hơn:
– Tôi muốn hỏi ông tôn thờ gì?
– Tôi tôn thờ đàn bà!

Ai nấy cười ngặt nghẽo. Cô ta cũng lắc đầu cười theo. Trên đường chúng tôi ghé Reims được đãi một chầu sâm-banh bản xứ, cả bọn tập sự chếnh choáng. Tôi và một anh Ba Tây, một Chí Lợi, một Mễ Tây Cơ rút ra đằng sau xe car hòa ca nhạc Nam Mỹ ầm ĩ. Vui như Tết.

Nhưng tôi thích đi chơi cuối tuần với Diane ở các khu rừng miệt ngoại ô Paris hơn. Trong rừng Chantilly, chúng tôi tìm một khoảng cỏ khuất vắng trải khăn nằm nói chuyện trời trăng mây nước. Diane sợ nhầu áo, tôi cởi áo cho nàng mặc. Diane tháo bỏ xú-chen, buộc hai vạt áo lại ở rún, không cài nút trên, để phơi đôi vú xinh xắn, tròn trĩnh, đầu vú ửng hồng. Tôi áp môi dìu nàng nằm xuống. Dục tình bừng bừng trên đầu lưỡi mềm ấm. Tôi muốn làm tình nhưng Diane đẩy tôi ra: “Không được đâu anh! Lỡ có người qua lại…” Tôi nhức nhối, nhăn nhó. Nàng mỉm cười lém lỉnh bảo trời có nắng, tôi chụp cho nàng vài tấm hình. Nàng chỗi dậy, nằm sấp, rồi nằm ngửa, tôi thu hình nàng với đôi vú tròn nõn nà, mời mọc. Không cầm lòng được, tôi vứt máy nhoài tới đè lên người nàng. tôi hôn mạnh, để lại vết bầm xanh nhỏ trên ngực, phía bên trái tim. Nàng mỉm cười ngó tôi âu yếm:
– Vết bầm này dấu vết riêng của anh đó. Suốt mùa hè sẽ không phai.
Câu nói của nàng lôi tôi về thực tế. Suốt mùa hè, phải. Nhưng hết mùa hè tôi với nàng sẽ ra sao? Tôi sẽ trở về Québec, bỏ Diane ở lại Paris. Chấm dứt! Hết? Tôi rùng mình. Để đuổi xua ý nghĩ đó, tôi ngỏ ý với Diane:
-Hết hè anh sẽ ở lại luôn với em, không về Canada nữa đâu.
Diane xô tôi ra nhỏm dậy, cài lại áo:
– Anh đừng nói đùa. Còn tương lai anh? Anh phải học xong đã rồi mới tính chuyện khác được. Anh ở lại đây rồi sẽ ra sao? Định làm gì để sống?
Tôi thoáng giận, tiu nghĩu. Có lẽ thấy tội nghiệp, nàng lại ôm tôi nằm xuống, hôn lên trán bảo anh đừng buồn, em nói vậy là vì anh đó. Hai đứa nằm nghiêng, tay chân quấn quýt, lưỡi tìm lưỡi ấm. Nàng hỏi:
– Anh yêu em nhiều không?
-Yêu nhiều lắm.
– Anh thề yêu em suốt đời đi.
Thấy câu nói có vẻ cải lương nên tôi ngần ngừ. Nàng thúc giục, tôi đáp:
-Anh nói vậy sợ nói láo.
– Nói láo cũng được, miễn là anh thành thật lúc nói.
Tôi ngượng miệng quá nên cứ nín thinh. Nàng rơm rớm nước mắt:
-Anh không nói thì em ở lại trong rừng này luôn, anh về một mình đi.
Rồi Diane phụng phịu quay mặt bên kia. Tôi đành vuốt tóc nàng và xuống vọng cổ:
– Anh thề yêu em suốt đời, chịu chưa?
Nàng quay lại cười khoái trá như con nít được quà. Thấy thương hết sức. Tôi lặp lại câu đó và cảm thấy mình thành thực. Tôi lại hôn nàng. Tôi đê mê nhìn ngắm thiên đường của mình rất lâu. Nàng rên khẽ.

Trời đã xế chiều. Chúng tôi ra đường đón xe quá giang về Paris. Vừa đặt chân vào buồng, tôi giựt áo nàng đứt tung nút. Tôi làm tình điên khùng, như thể hiếp dâm. Như buổi ban đầu. Như chưa quen biết sự trần truồng của người yêu. Nàng rên rỉ suốt cuộc tình. Hai đứa ngã ra chết giấc…

Thật vậy, tôi chưa hề biết thân thể Diane. Lần nào tôi cũng tò mò nghịch phá. Như hai con chó non tới mùa, rượt ngửi, giỡn hớt, chờn vờn. Rồi bốc đồng đắm đuối. Một buổi sáng muộn, chúng tôi thay quần áo định đi xuống phố ăn chút gì rồi chui vào xi-nê. Tôi chưa mang giày vội vì còn chờ Diane trang điểm xong. Nàng thay bộ tailleur xanh da trời vừa lấy từ tiệm giặt ủi về. Tóc nàng quấn băng xanh nhạt hợp màu với đôi bông tai tròn màu xanh biêng biếc. Nàng ngồi bên cửa sổ kẻ mắt, hát khe khẽ: “Je ne sais comment… comment briser tous ces barreaux?…” Hình ảnh ngây thơ mà trĩu nặng nữ tính, quyến rũ lạ lùng. Có lẽ linh tính điều gì, nàng chợt quay lại nhìn tôi, đôi mắt vừa kẻ xong sâu thẳm. Mặt nàng thoa nhẹ một lớp phấn mỏng liền lạc màu da, môi chưa tô son, đôi mắt thẳm sâu càng thêm hun hút gọi tình – hai vết chim bay trên nền mây trắng nhẹ hẫng. Tôi tiến đến gần nàng, hôn lên đôi mắt đó, rồi bàn tay từ gáy, từ cổ lần mò tìm xuống. Nàng linh cảm sự thèm muốn của tôi nên thì thầm: “Để em thay bộ đồ mới ra, kẻo anh làm nhầu hết…” Tôi vói tay khép màn cửa sổ. Hôm đó chúng tôi nằm mùi mẫn với nhau cả ngày, không bước ra ngoài một bước. Đến khuya hai đứa đều đói meo. Vừa than đói vừa cười rúc rích.

Chúng tôi từ Xóm Học dời gần về métro Pasteur. Lộc theo “xem” hai trẻ yêu nhau một cách rất hiền triết. Mùa hè đã tới thực sự, tháng Bảy Paris trời nóng chảy nhựa đường. Chúng tôi dắt nhau đi mua áo, Lộc một cái áo vàng chạy chỉ đen, tôi một cái áo có gân, màu đỏ, cổ lớn, còn Diane không mua gì hết. Tôi mua sôn được một cái áo khỉ mười quan và một cặp kính đen xếch năm quan, mang vào trông như dư đảng mafia. Diane để mặc kệ hai anh em đùa nghịch với nhau. Buổi chiều lại đi ăn mì dơ. Xong ra uống cà phê ở ga Lyon. Đang tán gẫu chợt Diane ngó ra ngoài cửa tiệm biến sắc. Nàng đứng dậy đi ra phía đó. Ở cửa, một anh da vàng và một cô da trắng mang bụng chửa. Diane nói chuyện với họ khá lâu. Tôi nghe loáng thoáng gã da vàng la lớn khi hai người sắp bỏ đi: “Tao sẽ giết nó!… Tao thề sẽ giết nó!” Diane trở lại bàn, mặt mũi càng nhợt nhạt. Tôi suốt ruột hỏi:
– Có việc gì vậy?
Nàng cúi mặt im lìm. Tôi hỏi tiếp:
– Em vừa nói chuyện với ai đó?
Im lặng. Chập sau nàng trả lời:
– Đó là bạn của Đức.
Lộc tò mò:
– Đức! Đức nào? Có phải Đức?…
Diane ôm hai tay lên trán gật đầu. Lộc nhìn tôi ái ngại, định nói gì đó, nhưng Diane đã lên tiếng trước:
– Đức là người đã chung sống với em. (Tôi choáng váng). Anh đã biết rồi, nhưng để em nói cho Kiệt rõ. Hồi em ở Corse lên Paris kiếm việc làm, em gặp Đức và Đức đã tận tình giúp đỡ em. Em sống với Đức hơn năm. Anh hiền lành bao nhiêu thì Đức hung hăng bấy nhiêu. Đức đã đánh em gãy răng, như anh thấy đó…
Nàng ôm mặt khóc. Tôi vừa tội nghiệp Diane, vừa ghen tức. Nàng nhìn tôi mắt còn ngấn lệ long lanh:
-Đức hiện giờ đang ở tù vì liên can tới một chuyện làm ăn lem nhem sao đó.
Tôi không buông tha:
– Em đụng Mít lựu đạn rồi chưa chán Mít sao?
Nàng thành thật:
– Anh làm sao hiểu được. Đã lỡ dính người Việt các anh rồi là không bỏ được nữa. Lẩn quẩn lại tìm một người Việt khác.
Tôi suýt buông ra một câu nói độc ác, nhưng giữ lại kịp. Tôi thương nàng nhưng lửa ghen phựt cháy ngùn ngụt trong lòng quá đỗi. Lộc nói mấy câu hòa giải, nhưng không thấy ai nghe nên thua buồn nín thinh. Chúng tôi lấy taxi ra về. Diane ngồi giữa. Lộc đưa Diane lên buồng. Tôi còn hậm hực chui vào một cái bar ở gần métro Pasteur uống whisky không chịu lên theo. Một lát Lộc trở lại ngồi uống rượu với tôi. Thấy mặt tôi vẫn hầm hầm, Lộc nói:
– Mày làm khổ tao rồi còn định làm khổ Diane nữa phải không?
– Tôi làm khổ anh?
Lộc chỉ mỉm cười, không vui. Tôi chợt thấy mình lố bịch. Nếu sự thành thực có thể khiến cho mình được người khác tha thứ! Tôi xấu hổ:
– Thiệt em quá vô tâm. Em như hồi nhỏ nắm râu con dế quay mòng mòng còn bắt nó vẫn phải gáy. Chắc anh phiền giận lắm. Em đã phản bội anh. Diane đã phản bội anh…
– Không! Diane không phản bội tao!
Lộc ngắt lời, không hề nói tới tôi. Lộc tiếp:
– Diane đã nói với tao là “chính anh đã tự ý xô em vào tay đứa em ruột của anh”. Sáng hôm sau mày viết mấy chữ bỏ đi, tao và Diane gây lộn. Diane đã la lên: “Kiệt biết đam mê! Kiệt biết yêu! Anh không biết đam mê! Anh không biết yêu!” Rồi Diane đã đóng ập cửa vào mặt tao.
Lộc nâng ly uống một hơi cạn:
– Phải tao không biết đam mê, nhưng chắc tao cũng biết yêu chớ. Có điều lúc đó tao thấy mày có thể tự tử, có thể quỵ chết tới nơi nên tao có biểu Diane theo săn sóc mày. Mày cần tình yêu, mày cần đàn bà. Mày! Thằng ngốc tử! Bây giờ mày định làm gì Diane đây? (Lộc thộp ngực áo tôi kéo tới).
Ít khi nào tôi thấy Lộc nổi giận. Nhưng đêm nay Lộc đã nổi giận xô ghế bỏ ra về. Tôi ngồi lại một mình với cơn bối rối. Tột cùng bối rối. Tôi ân hận. Lộc không sao, nhưng tôi chợt thấy thương Diane hết sức. Tôi trả tiền và xin đóa hoa hồng đỏ thẫm cắm trên chậu bông trên quầy đem theo. Tôi lên phòng mở cửa thấy Diane nằm nghiêng, vai trần lộ trên chăn thiếp ngủ, son phấn đã bôi nhạt nhưng mắt vẫn còn kẻ mực đen chưa rửa. Tôi quì bên cạnh giường nhìn nàng thật lâu. Tôi hôn lên vai nàng rồi đặt cành hoa hồng lên cánh tay trần của người yêu. Diane thốt giật cánh tay hất đóa hồng rơi xuống đất. Tôi giận dữ đứng dậy bước ra cửa. Khi đó Diane mở mắt thốt kêu: “Anh Kiệt!”. Nàng choàng dậy tung chăn, nàng trần truồng. Tôi mở cửa bước ra ngoài còn nghe tiếng nàng kêu thất thanh “Kiệt! Kiệt!” Tôi đóng ập cửa lại chạy vội vã xuống đường, không còn muốn nghe ai réo gọi. Tôi chạy trốn…

Tôi vụt nhớ đêm mướt xanh ngồi trên băng gỗ chờ sáng. Thoắt sợ hãi kinh hoàng. Tôi bỏ chạy cuống cuồng. Hồi lâu mệt lả, nằm lăn trên một băng đá vệ đường thở dốc. Ngọn đèn đường ngất cao trên đầu tỏa ánh sáng lù mù, phả từng đợt vàng mờ ảo chung quanh. Tôi cố gắng định thần. Trí óc tôi lú lẩn. Tôi yêu. Tôi sợ. Tôi mê. Tôi ghen. Tôi, tôi, tôi… Chiếc xe taxi chở thân lịm ngắt về Port Royal. Tôi ngã vật trên giường, đôi giày còn dính cẳng. Trần nhà trên cao chập chờn như cơn sóng nhồi, hạ thấp, lên cao, rồi hạ thật thấp, dìm tôi vào vực thẳm đen ngòm, không còn thấy gì nữa hết, không còn biết gì nữa hết. Tôi đã chết. Diane! Diane! Cứu anh với!…

Dậy!dậy!dậy đi! Mùa hè đưa tay nắng gõ lên cửa sổ. Tôi mở mắt rồi nhắm lại. Mặt trời phà hơi ấm vào phòng giục gọi. Dậy đi! Tôi châm điếu gitane nằm nướng trên giường nhả khói. Tôi rửa mặt rồi uể oải xuống ngồi ở hiệu cà phê bên kia đường, chỗ Lộc, Diane và tôi thường ra chơi banh điện nghe nhạc. Tôi bỏ xu vào máy bấm nút: “I found my dream!… on Blueberry hills…” Tôi nhớ Diane quá thể “When I found you… my dream comes true…” Ngoài đường từ xa đi lại một cô gái mặc áo sơ mi màu tím nhạt. Đúng là Diane! Nàng đi ngược về phía tôi hướng mắt. Tôi ngồi bất động. Nàng không nhìn thấy tôi. Nàng đi qua rồi tiếp tục đi thẳng về phía Viện. Có lẽ nàng lại đến cầu cứu Lộc. Tôi đứng dậy rời quán. Ra đến cửa, tôi dụ dự quay lại ngồi chỗ cũ, gọi thêm cốc cà phê, vặn lại đĩa hát cũ “… the moon so still… on Blueberry hills…” Chập sau, quả nhiên Lộc và Diane lọt vào tầm mắt tôi. Lộc mặc áo màu vàng chỉ đen, Diane mang đôi giày màu beige. Hai người múa máy tay chân như đang phân bua, không rõ điều gì. Có lẽ lại bàn tán về việc tôi mất tích. Tôi vẫn ngồi bất động. Sao không ai xô cửa bước vào kiếm tôi?

Cả hai đi khuất hồi lâu, tôi rời quán thả bộ lang thang xuống vườn Luxembourg. Đầu vườn là tượng tạc bầy ngựa dũng mãnh đóng rêu xanh từ hồ nước nhảy chồm ra theo vòi nước phun. Tượng thật đẹp. Bụi nước rơi trên mặt tôi mát mẻ. Đứng ngó một hồi lâu tưởng chừng con ngựa bờm đứng sắp nhảy vọt tới đạp lên mình. Tiếp tục đi dọc theo rặng cây, hết bãi cỏ dài, đến ngồi bên hồ nước giữa vườn. Trên bãi cỏ bầy chim câu, lũ se sẻ, và hai con quạ đen đang tranh nhau mấy mẩu bánh mì. Có con bồ câu nằm ngửa chổng cẳng phơi nắng thật thảnh thơi, hạnh phúc. Tôi tự nghĩ mình quá ngu. Cuối tháng bảy, dân Paris tản cư mất hết, bỏ thành phố lại cho du khách. Mấy thằng bạn tập sự chung với tôi cũng đã trở về nước hết hồi giữa tháng bảy, khi chấm dứt khóa. Tôi lượm hòn sỏi nhỏ ném xuống hồ.

Cả ngày hôm đó tôi bị giằng co giữa ý muốn đi luôn và trở về với Diane. Tôi lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm. Tôi khám phá Paris có rất nhiều tượng đồng và tượng đá mà vì bận rộn đâu đâu tôi không để ý. Tôi thật vô lý. Diane đâu biết tôi đến Paris mùa hè này để nàng lọt vào đời tôi mà chờ đợi? Mà chờ đợi hoài thì lấy thời giờ đâu để sống? Nhưng tôi vẫn nổi giận vì đã không được chờ đợi. Tôi quay ra giận tôi. Như con rắn tự mổ nhằm đuôi mình, tôi nhiễm độc. Tối hôm đó, tôi lại rã rời đôi chân mình ở Port Royal. Và để Diane ngủ một mình ở khách sạn thêm một đêm nữa.

Chiều hôm sau, nhớ Diane hết chịu nổi, tôi lò dò trở về với nàng. Tôi len lén leo lên lầu (tại sao phải len lén?) Nắm khóa cửa vặn nhẹ, cửa không khóa. Bước vào. Diane đang ngồi ở bàn gặm mẩu bánh mì với phô-mát. Nàng mừng rỡ vứt hết bánh mì lẫn phô-mátxuống sàn nhà, chạy ra ôm chầm lấy tôi, mếu máo không nói được lời nào. Tôi ngồi xuống ghế, đặt nàng ngồi trên đùi, vỗ vỗ lưng nàng như dỗ con nít. Diane quệt nước mắt ngó tôi rồi lại mếu máo khóc tiếp, trông vừa tội nghiệp vừa tức cười. Khi cơn khóc đã dịu, nàng hỏi:
– Sao khi không anh bỏ đi mất biệt vậy? Ngày hôm qua em và Lộc đi kiếm anh, em lội bộ lủng hết đôi giày rồi kia kìa.
Nàng lấy ngón tay chỉ đôi giày beige lăn lóc trên sàn, một chiếc thủng lỗ tròn ở mặt dưới. Nàng lại mếu máo:
– Cả ngày hôm nay em không dám đi đâu, sợ anh về bất tử không có em anh lại bỏ đi nữa. Nhịn ăn hai ngày đói quá em mới gặm đỡ bánh mì. Sao anh bỏ đi vậy, bộ giận em hả?
Tôi ngần ngừ:
– Tại em vứt bông hồng anh mang về tặng em.
Nàng trố mắt ngạc nhiên:
– Trời ơi! Nhánh bông hồng còn gai không mà anh đem đặt lên cánh tay trần của người ta! Em bị gai chích đau nên mới giựt mình rút tay lại, bông hồng mới rớt xuống đất đó chớ em đâu có vứt. Bông vẫn còn kia kìa.
Trên bàn, một ly nước trong lớn, bên trên nổi lêu bêu một bông hồng đỏ thẫm đã nở rộng.
Tôi hôn lên má nàng:
– Cho anh xin lỗi.
Tôi luồn tay dưới áo nàng mân mê. Nàng ngoáy đầu lại ngó vào mắt tôi, có vẻ ngờ vực:
– Anh đừng bỏ đi nữa nghen. Em sợ…
Hai đứa hôn nhau làm lành. Xí xóa hết. Như không có chuyện xảy ra. Diane tin thiệt là tôi yêu nàng suốt đời, có lẽ.

Năm đó mùa hè nóng hừng hực. Nhựa đường chảy, bước đi dính nhẹo dưới chân. Paris như lò lửa kín mít không ngớt có củi khô châm vào. Chúng tôi bàn nhau đi biển chơi, miệt Côte d’Azur chẳng hạn. Nhưng đào đâu ra tiền? Một hôm tôi vác máy ảnh lò dò xuống Công Ty Điện Lực, tình cờ gặp lão Giám Đốc ở hành lang. Ông vui vẻ bắt tay tôi hỏi:
– Ủa, anh chưa về Canada sao? Mang máy ảnh đi đâu đây?
Tôi ấp úng:
– Dạ… tôi định xem có ai ở đây muốn mua tôi bán lại, giá rẻ đặc biệt.
Ông ta cười:
– Anh cần tiền phải không?
Tôi ngay tình gật đầu. Ông ta ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo tôi theo ông xuống lầu dưới. Đến phòng kế toán, ông bảo nhân viên làm thủ tục cho tôi lãnh thêm một tháng trợ cấp… gia hạn tập sự. Phát liền tiền mặt. Cash! Tôi bối rối nhưng cũng mừng rơn, đút tiền vào túi, siết tay ông giã từ vừa cám ơn rối rít. Ông vỗ vai tôi thân mật:
– Úi chà tuổi trẻ! Tôi thèm được như anh. Allez! Thôi đi chơi cho vui nghe!
Ra đến cửa tôi còn quay lại vẫy tay chào lia lịa và cười cầu tài một phát. Ông ta lắc đầu cười như để đáp lại cái bồng bột của tôi. Tôi và Diane đi tìm Lộc để thảo kế hoạch. Diane đề nghị cả ba kéo xuống Menton chơi một tuần, tôi tán thành, Lộc từ chối không chịu đi theo. Diane níu tay Lộc năn nỉ, nhằng nhằng. Hắn xiêu lòng, quyết định chung cuối cùng: xuống Nice chơi mười ngày. Đi cả ba. Tôi và Diane xuống trước ba hôm. Lộc xuống sau. Lấy vé khứ hồi trước cho chắc trở lại được Paris. Còn chút tiền dư bỏ vào vạt áo mưa khâu lại mặc vào người cho chắc ăn. Mất là đói cả đám.

Đứng trên xe lửa chạy xuyên nước Pháp từ Bắc xuống tới Địa trung hải, lần đầu tiên tôi khám phá quang cảnh thiên nhiên phong phú của đất nước này. Nào rừng, nào sông, nào núi đồi xanh mượt, nào ruộng lúa mì, đồng cỏ bát ngát, từng đàn bò nhơi gặm thảnh thơi, hoa dại vàng trắng xanh đỏ vươn cao chi chít trên nền cỏ xanh mát mắt màu lục non kéo dài. Tôi thấy yêu đời vô cùng. Tôi thấy yêu Diane hết sức. Hai đứa ôm nhau ngủ ngồi sật sừ. Sáng mở mắt ra đã tới Nice. Bước ra khỏi nhà ga, chúng tôi gặp một bà đề nghị cho mướn một căn phòng nhỏ cách đó không xa, trong Le Vieux Nice. Tôi bảo sẽ có thêm một người nữa. Bà nói sẽ cho mượn ghế bố nhỏ kê vào, chỉ trả thêm chút ít tượng trưng. Chúng tôi đồng ý theo bà về nhà trọ. Căn phòng trên gác, nhỏ nhắn, sáng lờ mờ, có cửa sổ lớn ngó ra mặt đường, tương đối tươm tất sạch sẽ. Sát tường kê một chiếc giường nệm nhỏ, ngủ hai người chớ nên lăn trở nhiều – tôi nghĩ bụng càng tốt. Diane ưng ý, tôi gật đầu, kể như xong.

Chúng tôi ngả lưng lên giường ngủ thiếp một giấc cho giãn gân cốt. Buổi trưa thay quần áo đi bộ xuống bãi. Trời xanh ngắt, nước trong vắt, có chỗ màu xanh thẫm như rong, có chỗ màu ngọc bích tươi thắm rất ngoạn mục. Tiếc là bãi chỉ toàn là đá vụn, đi đau chân, nằm đau lưng. Nhưng tôi bằng lòng lắm. Tôi kéo Diane nhảy ùm xuống nước. Từ ngày rời quê hương, lần đầu tiên tôi được tắm biển. Trời nóng nước ấm làm nhớ Vũng Tàu, những lần Lộc và tôi đèo vespa đi biển, ăn ở bãi, ngủ ở bãi, và chưa biết đàn bà. Trời có gió lớn, Baie des Anges, Bãi Thiên Thần, sóng nhồi rất thích. Tôi bị hai đợt sóng lớn vồ vập liên tiếp nhận chìm, không kịp thở, đất trời đảo lộn, uống mấy ngụm nước mặn chát ngất ngư. Nhân viên tiếp cứu ôm phao nổi nhào xuống định vớt gấp, nhưng may mắn tôi đã trồi lên được. Lên bờ nằm sải tay, thở phì phò. Diane hỏi tôi có sao không? Tôi lắc đầu. Nàng đốt cho tôi điếu thuốc và xoa dầu chống nắng lên khắp thân thể tôi. Tôi cũng xoa lại người nàng và lợi dụng bóp nắn chọc phá Diane. Nàng la tôi đừng nghịch. Nàng nằm sấp bên tôi, cúi xuống hôn:
– Em cám ơn anh. Từ ba năm nay em không được nghỉ hè. Anh không biết em sung sướng đến ngần nào!
Chúng tôi ăn hai bánh pan bania (một loại bánh mì tròn kẹp cá thu, trứng xắt lát, mắm, cà, ô-liu), uống nước máy ở vòi ngắn trên bãi, thấy hạnh phúc. Xế chiều, Diane bảo đi tắm nước ngọt công cộng trước khi về nhà trọ. Tôi nói cứ để nguyên như vậy cho da thịt thơm mùi biển. Chúng tôi nắm tay nhau đi dạo lòng vòng trong Le Vieux Nice. Phố cũ, nhà cửa không thẳng hàng, tường vách sơn nhiều màu sặc sỡ, ám khói, phảng phất vẻ nên thơ vui sống thuở xa xưa hiền hòa, thơ mộng, le bon vieux temps… Nhiều sạp hàng bán mì sợi xanh vàng đỏ, treo thịt khô, giò mặn, xúc xích ngổn ngang trông ngon lành khoái mắt muốn ăn. Sẫm tối đã mỏi chân, hai đứa dung dăng dung dẻ quay về nhà trọ.

Về đến buồng Diane lại ôm tôi hôn và cám ơn ngày nghỉ hè. Tôi ghì nàng trong tay, cơn dục tình lại dấy lên trong mạch máu. Căn gác tối lù mù, chúng tôi để nguyên cửa sổ mở. Da thịt Diane ăn nắng hâm hấp nóng và thơm mùi biển, như rong, mặn mòi. Muối đọng trên mắt, trên môi, trên tai, trên cổ, trên đầu vú, trên bụng, trên tóc, trên gò tình. Diane thì thầm những cảm giác thơm mặn tương tự trên da thịt tôi. Mặt trời và nước biển tăng độ nồng say cho cường dục. Chúng tôi làm tình trong bóng hoàng hôn chập choạng. Diane rên khẽ, rồi lớn dần, như nấc khóc, móng tay cào bấu thịt da tôi rướm máu. Chân tay hai đứa quấn quýt chằng chịt rối ben tưởng không thể nào tháo rời được nữa. Rên rỉ, năn nỉ, xô ra, quấn vào, cuồng nhiệt, mê tơi, cực điểm, chết ngất…

Con thú cái no tình ngủ say trên cánh tay thú đực. Tôi cũng lơ mơ đất trời hồi lâu. Cố gắng thở đều cho tim nhịp chậm lại. Bên ngoài khung cửa bây giờ đã tối đen chợt vọng lại tiếng tây ban cầm tha thiết, dìu dặt “lá lá lá lá… la là là” điệu Jeux Interdits trong ấm tuyệt vời. Ai đánh đàn? Có tâm sự gì mà ngón đàn sao quá thiết tha buồn bã. Tôi xúc động, mình nổi da gà ran ran. Một nỗi lo âu không rõ mặt lấn chiếm trong hồn, tôi cúi xuống hôn mái tóc Diane như muốn ẩn nấp. Phải chăng mùa hè đang đi vào giai đoạn cuối? Bên khung cửa sổ khuất, lời tây ban cầm tự tình lặp đi lặp lại khúc Jeux Interdits hoài hoài, như không muốn dứt.

Ba ngày sau, Lộc xuống, mặc áo vàng chỉ đen. Tôi áo đỏ, Diane áo tím nhạt ra đón ở nhà ga. Lộc xem cũng hài lòng vì lần đầu tiên biết Nice. Chúng tôi băng qua đường, chui vào hiệu cà phê đối diện nhà ga. Suốt thời gian ở biển ba đứa thường la cà ở hiệu cà phê này vào buổi trưa. Ở đây đặc biệt có đặt juke-box trang bị màn ảnh màu và nhiều đĩa nhạc trẻ trung nên bọn choai choai thường tụ tập uống nước đấu láo ồn ào, nhộn nhịp. Một bài hát được nhiều người chiếu cố là “Faut rigoler”, khi ca Henri Salvador cười bò lăn cù dưới đất. Để thích ứng với ngân quỹ eo hẹp, chúng tôi biểu quyết chấp thuận một thực đơn khắc khổ: ngày đầu, mỗi đứa trưa một pan bania, chiều một pan bania. Ngày kế, trưa một pan bania, chiều một con gà rô-ti quay sẵn cho ba đứa. Rồi trở lại như ngày đầu, cứ thế tuần tự. Ngày nào có gà rô-ti, Lộc và tôi gặm kỹ tới nước chó chực xương ngó thấy cũng phải phát khóc. Diane thường ăn độn bánh mì, nhường hai cái đùi cho hai ông Tây vàng. Ghế bố xếp loại nhà binh bà chủ cho mượn được kê ra trong phòng bây giờ đã trở nên chật chội, chỉ dành để ngủ.

Tắm biển liên tiếp ba ngày đã đời, ngày thứ tư Lộc đề nghị đi Monaco chơi, tôi ô-kê. Diane không đi theo vì đã biết du cảnh nơi đây rồi. Chúng tôi giao tiền cho Diane mua gà quay chiều về ăn. Giã từ nàng, chúng tôi lấy xe lửa lên đường. Xe chạy qua những triền núi cao ngó xuống vách đá thẳng đứng cheo leo, những bụi cây xanh chìa bông đỏ rực rỡ trên nền nước thẫm biếc thật đẹp. Chúng tôi ghé dọc đường tắm biển, chụp hình, rồi lại lên đường viếng cảnh chụp hình (thú vui của Lộc). Cà rịch cà tang tới chạng vạng mới về đến nhà trọ. Một điều ngạc nhiên: Diane mặc cái robe mới sọc to bản sặc sỡ lên tới hơn đỉnh vú một chút, vai trần có một băng vải vắt ngang cho áo khỏi tuột. Trông nàng như sơn nữ miền thượng. Đôi vai trần rám nắng ngời bóng chạy xuôi xuống hai cánh tay trần tròn lẵn coi cũng hấp dẫn muốn sờ. Diane nói ngày mai là lễ rước cộ hoa nên nàng tự động may lấy cho mình một cái áo để mặc chơi ngày lễ. Về mặt lý thuyết nghe cũng lọt lỗ tai. Nhưng trên bình diện thực tế thì ôi thôi, nàng đã dùng tiền gà quay mà mua một khúc vải bán sôn và kim chỉ, rồi ngồi nhà cả ngày tự may lấy áo, say sưa bỏ cả ăn uống. Thế là con gà rô-ti đã chắp cánh bay mất: ô-voa! bái-bai! Phần đói bụng, phần tiếc con gà mấy khi mới có, tôi la Diane. Nàng phụng phịu rơm rớm nước mắt. Nàng nói nàng mặc áo mới cho tôi vui mà tôi nỡ nào la nàng. Tôi vẫn tiếp tục cự nự. Lộc can thiệp kéo tôi ra đầu phố mua ổ bánh mì không, xịt chút xì dầu hai đứa gặm.

Buổi tối, để làm lành, tôi gạ gẫm làm tình với nàng. Nàng chấp nhận thiện chí của tôi nhưng dặn nhỏ đừng gây tiếng động kẻo Lộc nghe được sinh lòng đau khổ. Nhưng rồi chính nàng đã thở hổn hển và rên rỉ bên tai nghe rõ mồn một, không biết có lọt ra bên ngoài. Trong đêm Lộc trở mình trên ghế bố sột soạt. Tôi thật quá vô tâm.

Ngày hôm sau chúng tôi tham dự đoàn người rước cộ hoa tưng bừng huyên náo. Các cô gái mỹ miều mặc áo trắng đẹp đẽ như áo cưới, đứng trên xe phủ đầy hoa, các cô cười tình và ném hoa xuống quần chúng, nhắm vào bọn con trai. Tôi chụp được một bông cẩm chướng. Lộc một bông hồng, đưa cho Diane. Confetti được tung ném tưng bừng, tóc Diane dính đầy. Trông nàng hớn hở hạnh phúc mà cảm động. Tối đến chúng tôi kéo nhau ra công viên lễ hội, có dàn nhạc công cộng, dân chúng bu quanh rần rần. Chúng tôi nhảy nhót tới tàn cuộc khuya lắc khuya lơ mới ra về, chân cẳng rã rời, còn nghe sau lưng mình sóng vỗ trên bãi đá vụn xào xạc…

Kể từ hôm đó, Diane không rời chiếc áo sọc nàng đã may lấy. Buổi tối nàng giặt áo trong chậu rửa mặt rồi treo lên phơi. Sáng khô lại mặc vào, trông nàng hí hửng, tíu tít. Thấy mông nàng cứ dêu dêu phía sau, tôi đặt cho nàng cái tên Việt mỹ miều là “Ngọc Ễnh”. Nàng phát âm theo kiểu Tây là “Nock Ễng” và lấy làm hãnh diện về cái tên do người tình đặt cho lắm. Những ngày ở Nice, đêm nào tiếng đàn tây ban cầm tự tình vẳng ra từ khung cửa khuất bên kia đường cũng lọt vào phòng chúng tôi nhắc nhở mùa hè đã muộn. Ngày cuối ở Nice, chúng tôi tắm biển đến xế chiều mới rời bãi. Trên đường về, Diane chợt nhớ chiếc khăn lông nàng bỏ quên. Tôi chạy trở lại kiếm, biệt tăm dấu vết. Có lẽ gió đã cuốn bay ra biển, xa thật xa, trôi mất. Không còn bao giờ tìm thấy nữa, chiếc khăn choàng đã bỏ quên trên bãi muộn Thiên Thần. Những con ruồi say nắng chiều nay rụng cánh nằm chết trên bàn tay ấm áp của mùa hè đang giã biệt. Trong đêm tối, tiếng tây ban cầm mất hút trong tiếng rập rình của toa xe lửa đen ngòm mang chúng tôi trở về Paris.

Tôi và Diane dọn trở lại Xóm Học, đường Soufflot, gần Panthéon. Tiền túi đã cạn. Diane đưa tôi cái áo da hoẳng của nàng bảo cầm thế xài đỡ. Tôi về Viện tìm Lộc. Hắn gạ bán được áo cho một cô sinh viên từ Sài Gòn mới qua, thích áo da hoẳng. Chúng tôi lại dắt nhau đi ăn mì dơ. Sau đó Diane tìm được một chân giữ két cho một tiệm cà-phê ở ngoại ô Paris. Mỗi buổi chiều tối, tôi ra đón nàng ở métro Saint Michel, gặp nhau ôm cứng, mừng ghê. Hai đứa dắt nhau đi dọc theo bờ sông Seine, mỗi đứa cầm trong tay một cái xăng-uýt, thơ mộng ra phết. Chúng tôi ngồi ở băng đá bờ sông ngó qua bên kia nhà thờ Notre Dame. Gió trên sông Seine thổi hiu hiu, đêm xuống mát lạnh. Tôi rùng mình: tháng chín, đã cuối mùa hè. Chắc tôi sẽ chết trong mùa đông ở Québec, như cành cây khô héo. Tuyết dầy lên một thước, không cần ai chôn tôi, thân thể đông cứng, mắt mở trừng trừng. Tôi choàng vai Diane xoa nắn. Tôi dạy nàng bài hát “Tiễn em” thơ Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy phổ nhạc.

“Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế, trời mùa đông Paris, suốt đời làm chia ly…” Diane cố gắng phát âm tiếng Việt. Hát đi hát lại, nàng dần dần thuộc lòng. Tuy nhiên, có đoạn không được như ý: “Xao zơi zớt zùng… vai em uốc mầm, em ơi kót đi em! Kót đi em! Kót đi em…” Nghe đứt ruột, tiếng ca của mầm non Ngọc Ễnh! Tôi hôn nàng khuyến khích. Ngồi trên ghế đá mân mê nhau thú vị kỳ lạ hơn ở trong buồng. Nàng xúi tôi nên viết văn vì nghe Lộc nói tôi ưa viết lách, làm thơ. Tôi lấy viết bic vẽ lên năm đầu ngón tay mình năm chữ D.I.A.N.E. Nàng cũng vẽ lên năm đầu ngón tay nàng bốn chữ K.I.E.T. và một trái tim. Chúng tôi áp tay vào nhau cười rút rít. Chúng tôi nói chuyện rất lẩm cẩm, không hề nói về ngày chia tay sắp tới, hay hứa hẹn tương lai gì hết.

Cuối tuần nàng được ứng trước chút đỉnh tiền. Tôi dự định sẽ đi ăn một miếng sườn heo chiên đã thèm quá lâu. Nàng dắt tôi đi coi phim “Mystère de L’Araignée Verte”, một cây nhền nhện xanh dờn. Trong phim có nhiều bài ca hay hết chỗ chê. Nhứt là bài “Comme au premier jour” do Jacqueline Boyer hát. Vãn hát, còn chút tiền lẻ nàng mua cho hai đứa hai cây cà-rem sô-cô-la hạt dẻ, xong chui vào hiệu cà phê nghe Louis Amstrong ca giọng khàn, đánh banh điện một chút sạch trơn. Lúc đó tôi mới biết hết tiền. Ô-voa cái sườn heo, cũng như đã bái-bai con gà rô-ti ở biển. Tôi đói bụng quá nên cằn nhằn. Nàng nói tôi sao tối ngày chỉ nghĩ tới chuyện ăn. Tôi tức quá đứng lại hét lên giữa phố Saint Michel: “Phải! tôi ham ăn đó! Rồi ai làm gì tôi?” Người đi đường quay lại ngó. Nàng kéo tay tôi đi, tôi dùng dằng, xô nàng chúi nhủi. Nàng tựa vào tường khóc thút thít. Nàng nói:
– Em có chút tiền dắt anh đi chơi mà anh cũng không bằng lòng…
Tôi nắm tay Diane lôi đi, nàng trì lại. Tôi dọa đánh đòn, nàng mới chịu quẹt nước mắt theo tôi. Về tới khách sạn, tôi vẫn còn hầm hầm. Đèn trong hành lang vụt tắt tối đen. Diane đấm ngực tôi thùm thụp, thét khóc rồi ngã quị ở cầu thang. Tôi đỡ nàng dậy, hai đứa ngồi ở bực cầu thang, nàng vẫn sướt mướt, xung quanh tối thui. Tôi ôm đầu nàng hôn lên tóc, lòng hối hận vô cùng. Tôi lầm thầm xin lỗi, nàng vẫn còn thút thít. Tôi dìu nàng lên cầu thang. Nàng để nguyên quần áo chui lên giường. Tôi kéo chăn đắp cho nàng rồi ra cửa sổ ngồi hút thuốc. Đường phố bên dưới đã thưa người, thỉnh thoảng đôi cặp tình nhân qua lại. Họ có phải sắp xa nhau ngàn trùng như tôi và Diane? Nàng sẽ ra sao? Nàng sẽ chết vì quá yêu? Hay nàng sẽ trở lại với Đức, hoặc Lộc? Hay nàng sẽ rời bỏ Paris? Nàng sẽ làm gì để sống? Hay tôi sẽ rước nàng sang Canada khi học xong? Chỉ là những có thể và có thể. Nàng thở đều, có lẽ đã ngủ say. Sợ đánh thức nàng, tôi để nguyên quần áo nằm xuống sàn nhà cạnh chân giường.

Nửa khuya, tôi chợt cảm thấy nghẹt thở. Tỉnh ra thấy Diane đang nằm trên ngực tôi, lưng trần, da ấm mướt mịn. Tôi vuốt ve gáy nàng, nàng rù rù như con mèo hạnh phúc. Tôi kéo mặt nàng lên gần mặt tôi, nàng hôn tôi, đầu lưỡi đút sâu trong miệng sục sạo như đêm đầu ở hầm nghe nhạc blues. Tôi lần tay xuống mông nàng tròn trĩnh êm mượt như nhung. Tôi ấn mạnh cho hai phần nóng sốt được gần gũi. Tôi tự giải thoát bên dưới. Mềm ấm nhung ướt. Diane đã dính với tôi làm một, nàng rên khẽ “em yêu anh… chết em… thôi anh…” tôi ghì siết hai ngực dưới của nàng, nàng cử động trên thân thể người tình, mê sảng, nói nói…

Tôi đánh điện cho thằng bạn ở Canada; “Nếu còn muốn thấy mặt tao, gửi ngay 150 đô la”. Tôi nhận được tiền ba ngày sau, đủ để mua vé tàu thủy từ Le Havre trở về Québec trong tuần tới và sẽ nhập học trễ một tuần, cuối tháng Chín. Thấy tôi thích áo len đen có lông xoắn nàng mặc đêm hôn nhau lần đầu ở Xóm Học, Diane mặc áo đó luôn trong tuần lễ cuối. Nàng nói như vậy anh sẽ nhớ hơi em khi mặc áo ở Québec mùa đông tới. Tôi đè nàng xuống tụt quần lót để giữ làm ky niệm, nàng dẫy nẫy không chịu, nói “dơ” lắm. Nàng bù vào đó bằng cái Jupon tơ óng màu trắng ngà, bên dưới có kết ren. Tôi ngỏ ý xin nàng một lọn tóc nâu. Diane chỉnh là tóc nàng màu auburn chớ không phải màu nâu, cũng không phải màu vàng. Tuy nhiên nàng cũng chịu ngồi yên cho tôi lấy kéo cắt một lọn tóc. Nàng lấy sợi chỉ buộc lại, bỏ vào hộp kẹo mùi anis màu xanh bạc, kẹo đã ăn hết.

Ngẫm nghĩ một hồi, bỗng nhiên nàng tháo váy, cởi quần lót ra, tôi tưởng nàng đã đổi ý muốn tôi giữ mùi hương thầm kín của nàng. Nhưng không, nàng cầm kéo quay mặt vào tường lúi húi. Nàng cắt tặng tôi một cụm cỏ ở gò tình, cũng màu auburn nhưng nhạt hơn và xoắn tít như lông cừu. Nàng bảo tôi nhổ cho nàng sợi tóc, nàng buộc cụm cỏ, bỏ vào hộp thiếc đậy nắp lại. Tôi cảm động thấy thương nàng hết sức. Tôi cúi mặt hôn lên gò tình của nàng, còn nghe dư hương của mùa hè đã hết . Sao tôi không là con ruồi say nắng rụng cánh nằm chết ở bãi Thiên Thần? Chết đi! Mày chết đi!

Còn bốn ngày nữa tôi giã từ Paris, nàng xin nghỉ việc để ở nhà chơi với tôi. Ngày thôi việc nàng bảo tôi đừng đi đón vì nàng sẽ về muộn, hoặc sớm hơn không biết chừng, nhưng dặn tôi phải ở khách sạn chờ nàng suốt buổi chiều. Tôi ngoan ngoãn nghe theo, nằm trong buồng đọc báo lăng nhăng chờ đợi. Khoảng năm giờ cửa phòng sịt mở, Diane đã về! Nhưng không phải Diane tôi thấy thường ngày. Nàng rực rỡ, mê man. Tóc nàng chải phùng ra hai bên và phía sau thật xinh xắn. Mắt nàng sâu thẳm đa tình, môi nàng tô son màu cam nhạt như cong cớn mời hôn. Nàng rất đàn bà. Cả người nàng toát ra chất đàn bà. Thấy tôi dựa lưng trên giường ngó chết trân, nàng đến ngồi cạnh tôi hôn lên trán, người nàng thơm phức, nói hôm nay em đi tiệm chải tóc làm đẹp cho anh… yêu đó. Tôi chỉ muốn vật nàng xuống hôn lên đôi môi mời mọc đó và gặm nhấm mình mẩy thơm tho của nàng cho đã thèm, nhưng sợ làm hư mất dung nhan, nhoẹt nhòe son nhạt. Nàng bảo tôi tắm cho nàng, vì trong buồng chẳng có bồn tắm lẫn vòi nước phun. Tôi âu yếm cởi quần áo cho nàng, chưa bao giờ tôi nghiêm chỉnh như vậy. Tôi có cảm tưởng nếu làm mạnh tay nàng sẽ tan vỡ như pha lê, nhan sắc biến mất như mây khói, và tôi sẽ ăn năn một đời. Tôi yêu, tôi quý, tôi thương… không! phải nói là tôi cưng. Tôi cưng nàng. Tôi muốn chìu chuộng nàng đủ mọi thứ, nàng muốn gì tôi cũng cho hết, ngay cả hơi thở, ngay cả mạng sống của mình.

Tôi đưa tay cho nàng vịn bước lên đứng trên bidet, chậu rửa dành riêng cho đàn bà, biểu tượng sự tế nhị của nền văn minh rất Pháp. Một tay nàng che ngực, một tay nàng che gò tình, cử chỉ muôn đời của Vệ Nữ từ thuở hồng hoang nàng bước xuống trần, để cho bụi hồng vướng gót son, và đàn ông vì nàng mà mê mệt, họa sĩ vì nàng mà vẽ tranh, thi sĩ vì nàng mà làm thơ, văn sĩ vì nàng mà viết chuyện tình không bao giờ kết thúc nổi. Tôi hứng nước trong ly mủ ở chậu rửa mặt xối lên người nàng. Nàng rùng mình ngửa mặt ra sau, động tác gợi tình tuyệt vời của con thú cái. Tôi kỳ cọ cho nàng, nàng xuôi tay đón nhận sự mò mẫm vuốt ve mơn trớn. Hương nắng còn đọng trên da lụa, tay khua tưởng đánh thức mặt trời, dục lên sóng biển và điệu tây ban cầm sẽ phả ra từ khung cửa sổ khuất kín của nàng. Dấu cỏ mất còn đó. Dấu bầm trên vú trái còn đó. Lời thề yêu em suốt đời còn đó. Tôi nựng nịu gò tình. Hôn lên ẩm ướt. Yêu. Yêu. Diane rùng mình. Sợ nàng lạnh, tôi lấy khăn choàng lên ủ cho nàng. Anh cưng em, có thể vì em mà chết được, biết không Diane?

Tôi đặt nàng nằm sấp trên giường, không muốn làm hư mái tóc mới chải. Tôi lau khô nàng. Mặt nàng nghiêng về phía tôi, hai tay soài tới trước, một bên vú bị cấn vun ra, làn da dưới nách nhũn mềm quyến rũ. Vai trái nàng còn hằn vết dây vải áo ở biển, vệt trắng mờ không ăn nắng. Tôi hôn lên gáy nàng, môi lần xuống thung lũng giữa hai vai mềm nhô lên, thung lũng đổ thành lòng suối giữa hai bờ lưng nhỏ, lòng suối trũng sâu thành hồ khuyết dưới đồi mông. Lưỡi thả lênh đênh trên dòng suối đa tình…

Hơi thở nồng nàn chụp phả nắng ấm hơ sưởi đồi xuân, trên đỉnh đồi còn in dấu tam giác trắng tinh khuất nắng. Hai dốc đồi hun hút đổ xuống một khe thung lũng thẳm sâu, chân nàng khép hờ, cỏ óng vàng bắt đầu xuất hiện lơ thơ e dè dưới đáy lũng. Áp má dưới chân đồi, mắt thôi miên bởi bông hoa thầm kín. Lần trở lên đồi, môi hôn di chuyển ngược cuộc hành trình dọc theo lòng suối trở lại lòng vai, nơi vùng lông măng mịn màng tiếp nối tóc mai sợi nhỏ từ gáy thả xuống. Tôi nằm phủ lên người Diane, gối tì giữa hai đùi tươi chắc, hai tay luồn dưới nách vòng lên kìm giữ đôi vai thon nhỏ, môi áp lên gáy nàng, động tác tự nhiên của con thú đực cắn giữa da cổ thú cái khi làm tình. Nàng ưỡn đồi lên, bông hoa dưới lũng kín đón nhận trận mưa tình. “Thôi anh… chết em… đừng… đừng…” lời xô đẩy trở thành tiếng réo gọi mời mọc cuốn hút không thể kham hãm dừng lại gọi về. “Nữa… nữa đi… chết em…” đắm đuối mê ngất. Đất trời lãng đãng. Sao vỡ trong lòng ngân hà. Lũng yêu khơi dòng suối trắng, nơi đời sống bắt đầu…

Diane nằm tựa má lên ngực tôi, ngón tay mơn trớn đầu vú dịu dàng tinh nghịch. Tôi châm điếu thuốc mơ màng nhìn ra cửa sổ sau làn khói xanh uốn éo. Chỉ còn một tuần nữa là hết mùa hè, trời tối nhanh hơn mọi bận. Dân Paris đã dần dần hồi cư về thành phố của mình, tiếng động cơ xì xầm nhiều hơn mọi chiều. Tôi bỏ đi đành sao? Không lúc nào tôi và nàng nói về cuộc chia tay sắp tới. Không có gì để nói? Hay vì khiếp sợ? Chúng tôi không phải là cặp tình nhân đầu tiên bị chia cách, cũng không phải là cặp tình nhân cuối cùng. Nhưng vẫn khiếp sợ. Diane ru se sẽ điệu Tiễn Em “Hôn nhau phút này, chia tay tức thì, em ơi! khóc đi em… khóc đi em… khóc đi em…” Biết bao giờ còn được ngồi bên sông Seine dạy cho nàng hát? Có lẽ nàng đang nghe tim tôi đập mạnh.

Bỗng Diane ngồi dậy bật ngọn đèn vàng ở đầu nằm, bước xuống giường đến mở tủ lôi ra chiếc váy lót bằng lụa trắng mỏng có kết ren mặc vào che phần dưới, ngực nàng vẫn để trần. Đoạn nàng lấy đôi ballerines mua hôm ở Pantin xỏ vào chân buộc lại. Nàng nhón chân ướm thử, sửa lại cho vừa rồi bắt đầu đi mấy bước. Hai tay nàng vòng cao trên đỉnh đầu, những ngón tay cong uốn, nàng xoay vòng vòng trên đầu ngón chân. Nàng hát nho nhỏ: “Comme au premier jour, toujours toujours, le printemps refleurit, quand tu souris, et me donnes la joie…” Nàng xoay chiều này rồi xoay ngược trở lại, váy lụa mỏng xòe ra, mong manh sương khói, mắt nàng say sưa tha thiết đa tình “… Comme au premier jour, toujours toujours, nous irons tous les deux, heureux heureux …” thỉnh thoảng nàng dừng lại, nghiêng vòng tay sang phải rồi nghiêng sang trái, chân giở cao trong không khí, nhẹ nhàng để xuống, lụa trắng phơi phới, tưởng chừng một cơn gió lớn bất chợt thổi tới sẽ cuốn nàng bổng lên không trung bay mất. Anh sắp mất em rồi đó Diane ơi! Em có biết?

Nhưng chậm thế nào rồi cũng phải chia tay… Câu thơ ai đó đã viết. Tôi còn nợ khách sạn một tuần chưa trả. Tuy vậy tôi vẫn hỏi Diane có cần gì không? Nàng nói không, chỉ cần hai vé métro, một để ra về sau khi tiễn tôi ở sân ga, một để di chuyển sau đó (đi đâu?). Sau này, lúc nhập học ở Québec, thư Lộc cho biết khi bán được máy ảnh, Lộc trở lại tìm Diane ở đường Soufflot. Nàng đã rời khách sạn ngay bữa tôi giã từ Paris, còn gửi một va-li nhỏ hẹn trở lại lấy và thanh toán, nhưng đã ba hôm rồi không thấy bóng dáng. Lộc trả tiền khách sạn, nhận va-li về mở ra thấy một ít sách báo cũ, một ít quần áo chưa kịp giặt của tôi và Diane, và bức chân dung nàng vẽ tôi bằng bút chì hồi ở biển. Dấu Diane biệt mù.

Tôi lấy xe lửa từ ga Saint Lazare ra hải cảng Le Havre rồi từ đó lên tàu thủy vượt Đại Tây Dương về Québec, xứ tuyết. Tôi rời Paris vào xế trưa, mùa hè đã hết dù trời còn nóng hổi và nắng tươi tốt. Chúng tôi lấy taxi ra nhà ga. Lộc một bên, Diane một bên, tôi ngồi giữa như một tội nhân người ta đang áp tải đi lưu đầy. Lòng rã rời mệt mỏi. Xe băng qua sông Seine rồi chạy quanh co trong thành phố, vượt qua những bức tường nắng chói chang, những cửa sổ dài mở rộng, những bao lơn sắt đen vân vi, và chim bồ câu vỗ cánh xập xòe. Nghĩ thầm đây là lần cuối qua con phố này. Đây là lần cuối nhìn thấy Paris. Đành vậy sao? Xe ngừng, rồi vọt chạy, rồi lại ngừng, rồi lại vọt chạy. Từ xa, chóp màu xanh rêu của mái Opera đã thấy xuất hiện, tới gần, vượt qua rồi xa khuất. Xuống xe ở nhà ga, Lộc xách va-li lớn, tôi đeo túi da nhỏ đi theo mọi người, cái xác không hồn buông trôi dật dờ theo dòng người lũ ra từ bốn phía. Tôi khựng lại, rồi bị kéo đi, như đứa nhỏ trong ngày tựu trường.

“Ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn khóc, nói chi cũng muộn màng…” Ga Saint Lazare cũng đèn vàng, nhưng tôi không khóc, Diane cũng không khóc. Tìm chỗ ngồi và chất hành lý xong, tôi trở xuống ga đứng cạnh Diane. Sực nhớ tôi bảo Lộc đưa cho nàng hai vé métro. Lộc không còn một cắc. Tôi đứng lớ ngớ bên nàng không nói gì, cũng không nắm tay, không hôn hít, không ôm ấp, cũng không dám ngó nhau, chỉ sợ… (sợ gì?). Tôi muốn bỏ chạy, chạy về Xóm Học. Và tất cả sẽ lại bắt đầu: khiêu vũ, yêu đương, đi biển, làm tình… rồi trở lại nhà ga, rồi tôi lại bỏ chạy… Trong người choáng váng uể oải. Chợt xe lửa hú còi. Tôi ôm Diane rồi buông lẹ ra, người nàng lạnh ngắt. Không dám bịn rịn. Đôi mắt nàng kẻ mực tàu đen mở to, nhìn trân trân khoảng trống, ráo hoảnh, không có nước mắt.

Tôi leo lên xe lửa, ra bên cửa sổ thò đầu ra. Tôi để ý bữa nay Diane mặc váy lục thẫm và áo tím nhạt như thuở ban đầu. Trên sân ga, Diane vội bước tới đưa tay cho tôi nắm. Một người đàn bà chợt đi ngang, Diane hụt tay lùi lại. Xe chuyển bánh, Diane bước theo, tôi nhoài người ra vói, không đụng tay Diane, nàng thoắt dừng lại, mặt tái nhợt, môi xám ngoẹt, rồi nàng lùi dần… lùi dần… Hình ảnh Diane với quần áo màu sắc ngày đầu nhỏ lại trên sân ga dài tít mù rồi chợt biến mất lúc xe lửa uốn mình qua một khúc quanh. Tôi hoảng hốt. Mất nàng thật rồi sao?

Tới Le Havre, tôi một mình xách va-li, đeo túi nhỏ leo cầu thang dẫn lên tàu. Tôi đứng trên boong tàu ngó dáo dác xuống đám người tiễn đưa láo nháo dưới bờ, tưởng chừng sẽ bắt gặp màu áo tím nhạt và đôi mắt kẻ đen xếch lên ở đuôi. Tôi gọi thì thầm Diane! Diane… Nhiều bàn tay vẫy dưới kia. Tàu xúp-lê một. Tôi chết điếng. Phóng nhìn xa hơn, tôi cũng không rõ Paris nằm ở hướng nào. Trước mặt? Hay bên phải? Bên trái? Tháp Eiffel không đủ cao cho tôi ngó thấy. Tàu xúp-lê hai. Tôi hoảng hốt đứng nhỏm dậy định quăng va-li, liệng túi da xuống biển và ù chạy xuống đất liền. Diane! Anh muốn ở lại với em! Thủy thủ đang rút cầu dẫn hành khách lên tàu. Hết! Xúp-lê ba, tàu từ từ rời bến. Hết thật rồi! Tôi ngồi bệt xuống va-li, ôm mặt khóc ngất, khóc ồ ạt. Tôi thấy mình hèn. Hai tay nắm thanh sắt tròn gục mặt trên lan can. Hồi lâu, bỗng có ai vỗ vai. Tôi ngó lên. Người sĩ quan hàng hải thấy tôi nước mắt ràn rụa, vội vàng xin lỗi và quay gót. Ruột tôi quặn thắt, đớn đau như bị vọp bẻ. Xin giã từ em! Xin giã từ xứ Pháp!

Tối hôm đó tôi nằm lì trong ca bin, nhớ Diane quá sức. Tôi nằm úp mặt thở trên cánh tay mình, hơi thở dội lại làm nhớ những lần tôi hô hấp trên người nàng, trên ngực, trên mông, trên gò tình… Nhớ chết được! Áo len đen nàng cho, tôi mặc dính trên người còn đầy hơi hướng, tưởng chừng nàng đang gối đầu dưới nách.

Tôi cố hình dung nàng đang làm gì giờ này ở Xóm Học. Nàng đang ngồi ở hiệu cà phê nghe nhạc, hay đang nằm khóc lặng lẽ một mình trong khách sạn? Nhớ nốt ruồi dưới mắt em như một nốt nhạc buồn. Đầu óc đặc cứng, tôi không nghĩ được gì khác hơn nữa. Tàu bắt đầu đi ra biển.

Phải mất sáu ngày sáu đêm liền mới vượt hết Đại Tây Dương. Tàu chạy vòng lên mạn Bắc Cực. Có hôm nhìn thấy những khối băng tảng khổng lồ trôi lờ đờ phía xa, có hôm gặp đàn cá voi phun nước giữa biển. Mọi người reo hò thích thú. Tôi như người đã chết, chẳng còn tha thiết gì nữa. Đêm nào tôi cũng la cà ở bar hoặc phòng khiêu vũ dành cho hành khách chơi khuya. Một đêm, hai đêm, rồi ba đêm, đêm nào tôi cũng say khướt. “Ồ say thương nhớ vô cùng, rượu hay lệ ướt khăn hồng chị cho…” Đêm thứ ba ngồi ở phòng khiêu vũ, tôi lại say khướt. Nhảy điệu gì tôi cũng nhớ Diane, nhảy slow tôi lại càng nhớ Diane ác hơn nữa. Tôi chết mất. Tôi mở cửa rời phòng khiêu vũ bước ra ngoài boong tàu, người loạng choạng. Trời sáng trăng, đằng xa tít ẩn hiện khối trắng đồ sộ của băng tảng. Tôi ra sau đuôi tàu ngó xuống biển sủi ùn ụt ở chân vịt, bọt nước trắng xóa kéo thành vệt dài khuất chìm ngoài xa tối. Tôi hết muốn sống. Tôi sẽ nhảy xuống đại dương.

Tôi gọi thầm tên Diane rồi choàng một chân qua lan can tàu. Một tiếng nước vỡ! Mặn cứng. Tôi chỉ nghe một tiếng nước vỡ chát chúa bên tai, rồi mặt biển khép kín lại, hòn sỏi chìm xuống đại dương, không ai biết, không còn ai nhắc nhở, không còn ai nói tới… Chợt một cơn gió băng giá từ Bắc Cực ào xuống. Tôi lạnh cóng rùng mình, cơn say loãng đi trong buốt giá. Tôi khựng lại. Diane! Anh còn muốn gặp em! Tôi rụt chân về. Trời lạnh buốt. Tôi chạy trở lại chui vào phòng khiêu vũ. Ngồi vào chỗ cũ, run cầm cập, tôi ực ly rượu còn sót lại trên bàn cho bớt lạnh. Dàn nhạc chơi những bản nhạc quen. Tôi ngỡ thấy Diane đang nhón người trên các đầu ngón chân khiêu vũ giữa sàn nhảy, nàng xoay vòng, váy lụa trắng xòe ra như giấc mơ chưa tan loãng. Nụ cười với chiếc răng gẫy tội nghiệp như Fantine. Ngực trần trắng muốt, cánh tay uốn éo trên đầu, những ngón tay mềm mại ẻo lả. Comme au premier jour, toujours toujours, je revois le matin où le destin t’a mise sur mon chemin… Ôi biết bao giờ! Mai kia mốt nọ một mình tôi đương cự với mùa đông tuyết phủ kín trời. Nụ cười Diane lùi khuất xa dần trong bóng tối. Và trong bóng tối con quái vật cô đơn đã lù lù ngồi đó đợi tôi tự bao giờ, như một kẻ thù thân mật. Người con gái ngồi bên cạnh bước ra sàn nhảy. Tôi ôm mặt khóc.

KIỆT TẤN

Tôi có còn cô độc?

kiettan

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
[1]
(Thôi Hiệu)

tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

Tiếng thơ bi thiết. Nhịp điệu giựt xé. Hình ảnh đột ngột lóe chớp. Rồi mất hút. Phụt tắt. Cảm giác bàng hoàng, nổi gai ốc.

tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi

Ba câu thơ vụt xẹt như tầm sét. Giáng xuống. Chấn động. Người làm thơ bị thương. Người đọc thơ cũng bị thương. Thanh Tâm Tuyền lảo đảo. Tôi té xuống. Mặt úp trong vũng nước mưa đang bốc hơi trên mặt đất nhiệt đới. Mưa xuống quê hương. Mưa xuống Sài Gòn. Trời đương mưa. Mưa dữ dội.

tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục

Thôi thôi! Tôi cấu lấy tóc mình giựt giựt. Hai bàn tay úp kín trên hai tai. Không còn muốn nghe nữa. Tôi đang dẫy dụa tuyệt vọng trong ngục tù tình dục do chính tay mình dựng nên, hết biết đường ra, cũng không biết bằng cách nào ra được. Cô đơn cùng cực. Kiệt! Kiệt! Tôi bóp cổ tôi chết gục. Những đôi vú tròn căng nõn nà, những đôi mông trắng tươi ngó ngoáy, những đám cỏ đen mọc trên tam giác no nê đêm đêm bay đầy trời trong mộng mị chập chờn Chí Dị. Tôi chết mất. Không thể nào sống sót nổi. Tôi vừa rời thân thể ngọt bùi của Tuyết, người tình quán nước bên bờ Tiền Giang để bay sang Xứ Tuyết du học. Nhện sa xuống nước nổi phình, kiếu huynh kiếu đệ kiếu người tình tôi lui… Ðêm nằm tơ tưởng tưởng tơ, chiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu không… Một cửa sổ hai ba cửa sổ… Một cái vú hai cái vú ba cái vú… Chết! Tôi chết mất!

Tập thơ Tôi không còn cô độc, Người Việt xuất bản 1960. Bước sang năm thứ hai đời sinh viên ở Québec, Xứ Tuyết. Tôi thu mình quạnh quẽ trong căn gác trọ nhỏ nhít đường Garnier, gần đại học Laval. Cô đơn nhuộm người tôi vàng xỉn xanh xao. Như trái chanh non héo úa ai bỏ quên trong tủ đá. Rồi bỗng một tối nọ Thanh Tâm Tuyền tới gõ cửa gác trọ, tóc tai bù xù, dưới nách kẹp tập thơ mỏng Tôi không còn cô độc. Mở cửa nắm tay giắt vào, kéo ngồi xuống trên chiếc giường sắt sinh viên hẹp nhỏ ọp ẹp. Người mới bước vô là Khương, một du học sinh Việt Nam vừa bay sang Québec, nhập đại học Laval, cũng như tôi. Khương khoái thơ. Tôi cũng khoái thơ. Tôi khoái Nguyễn Bính, Lỡ bước sang ngang. Khương khoái Thanh Tâm Tuyền, Tôi không còn cô độc. Trao đổi văn nghệ, bắt nhịp cầu tri âm. Và tối đó, tôi khám phá nhà thơ đứng đầu nhóm Sáng Tạo. Những câu thơ chém xuống hừng hực.

Thiệt ra không phải đợi đến tối đó tôi mới được đọc thơ Thanh Tâm Tuyền lần đầu. Tôi đã đọc thơ Thanh Tâm Tuyền hồi còn là học trò đệ nhị đệ nhất trung học, chuẩn bị thi Tú một Tú hai. Ðọc lõm bõm trên tạp chí Sáng Tạo nhưng không thấm. Thuở đó tôi chưa từng biết cô đơn là gì. “Khi ấy em còn thơ ngây, đôi mắt chưa vương lệ sầu…” Tôi còn rất hồn nhiên. “Tôi chưa hề cô độc”. Có thể nói như vậy. Hồn nhiên? Chưa chắc. “Anh chỉ giỏi tài ba xạo”, một bận Tuyết đã chỉnh tôi bằng lời lẽ đó. Trong thời kỳ này, tôi đã có Hoa, người yêu đầu tiên Xóm Bến Ðò Mỹ Tho. Tôi có Ánh, người yêu nữ sinh Cầu Cái Cá Vĩnh Long. Tôi có Tuyết, người tình quán nước bên bờ sông Cổ Chiên ngầu đục phù sa. Tôi đã biết rờ rẫm, biết hun hít mấy người em nhỏ hậu phương, tôi đã biết sục sạo đóa hoa thầm kín trong rạp hát bóng, đã biết vật lộn với em nhỏ bên bờ cỏ đêm trăng, đã biết xâm nhập và cư ngụ trong thân thể mượt ẩm, ấm hỉnh Liêu Trai của nàng. Cô độc sao nổi mà cô độc! Tôi còn đang lẩn quẩn trước hàng ba nhà nàng, còn đang đứng xớ rớ bên cạnh cái hàng rào dâm bụt, nhà nàng ở cạnh nhà tui, cách nhau cái giậu mồng tơi xanh dờn, lẩm cẩm y hịch như sư phụ Nguyễn Bính. Còn xa lắm mới bước được vào lãnh thổ của Thanh Tâm Tuyền, bước được vào vương quốc của Hoàng Ðế Cô Ðộc, nơi đức vua có đủ quyền y để cai trị mọi người bằng… thơ tự do. Còn được gọi diễu là thơ hũ nút bởi phe đối lập. Một bận, trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong xuất hiện một bài thơ hũ nút nhái giọng Hoàng Ðế. Thơ rằng:

bánh xe đạp quay tròn
xịt khói
trái tim giơ mười ngón tay
thét chết
cô độc!

Xịt cười. Không hiểu ất giáp gì hết. Tuy nhiên, thấy ngộ ngộ cho nên còn nhớ tới bây giờ. Cũng như đã nhớ hai câu thơ vỡ lòng, em ơi em ở lại nhà, vườn dâu em đốn thịt gà xé phay của sư phụ mình. Và những câu thơ bá láp khác nữa, chẳng hạn: Ủa ủa giống gì trẹo? Ờ ờ chó mắc lẹo. Ðực vện ngổng đuôi trì, cái vàng cong lưng kéo… Mà càng bá láp lại càng nhớ dai. Trí nhớ con người nó khỉ như vậy đó.

Tuy nhiên, ngay những năm hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã ngoái đầu nhìn lại lịch sử nhân loại mà không khỏi hãi hùng:

toa chở súc vật
bít bưng tức thở
bánh nghiến đường rầy

chúng nó làm phát xít
chúng nó làm cộng sản
chúng con làm tù nhân

Và ngay từ những năm 50, hình như nhà thơ đã linh tính tai họa thảm thiết sắp sửa giáng xuống đất nước kể từ tháng Tư 1975:

mẹ bưng tấm hình úa cũ trước ngực
dò xét từng nét đau khuôn mặt
các anh nhìn cúi đầu
khóc lén
hai hàng rào quá khứ đăm đăm

chúng nó làm phát xít
chúng nó làm cộng sản
chúng ta làm tù nhân

Có phải, qua những câu thơ chặt khúc trên, Thanh Tâm Tuyền đã tiên đoán căn phần đày đọa của mình và bạn bè hai mươi năm sau, trong những trại tập trung cải tạo mọc lên như loài nấm độc trên khắp cùng đất nước tả tơi sau 75?

mưa bay lất phất gió căm căm
đường lầy trơn nhà cửa tối tăm
trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc
co ro đứng xem tù qua thôn

Và khi làm thân tù đi chém tre đẵn gỗ trên ngàn, một bận bị tuột dốc nhào trên hẻm núi, nhà thơ lại thấy lòng mình thanh thản hơn bao giờ hết:

duỗi soải chân tay gối trên nứa
ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
tưởng chừng thi thể ai thối rữa
hồn viển vông chẳng chút oán sầu

Giọng thơ không còn uất hận như thuở ban đầu nữa. Tập Thơ ở đâu xa, tác phẩm cuối cùng của Thanh Tâm Tuyền đã xuất hiện im lìm, âm thầm xuất hiện tại Hoa Kỳ năm 1990. Ðể rồi mười sáu năm sau, nhà thơ cũng âm thầm ra đi tại Minnesota, để lại một vết chim bay trên nền trời băng giá giáp ranh Xứ Tuyết, nơi lần đầu tiên tôi khám phá Tôi không còn cô độc, tập thơ đầu tay của cùng một tác giả.

Nhìn lại công trình của nhóm Sáng Tạo, sự đóng góp đáng kể nhứt của nhóm này vào nền văn học Việt Nam, theo tôi, là thơ của Thanh Tâm Tuyền, về hình thể cũng như cách diễn đạt. Một công trình sáng tạo đúng nghĩa. Nhận định này rất chủ quan, dĩ nhiên. Hồi Võ Phiến sang chơi Paris và đóng đô tại nhà tôi ở Bagnolet, có bận tôi hỏi, theo ông, Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ hay nhà văn. Võ Phiến đã đáp không do dự: là một nhà văn. Kế Thanh Tâm Tuyền, sự đóng góp đáng kể khác của nhóm Sáng Tạo cũng lại là thơ: thơ của Tô Thùy Yên. Lại chủ quan nữa đó, cha nội! Tuy nhiên, về hình thức, thơ của Tô Thùy Yên không hoàn toàn phá thể. Mới gần đây, cõi thơ này (tiếng của Cung Tiến để ám chỉ ba cõi thơ tập trung ở Minnesota: Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng) có bay sang Paris chơi và ngụ nhà tôi ít bữa. Tôi có bày tỏ nhận định vừa nói của mình và Tô Thùy Yên cũng đã gật đầu tán đồng. Còn về mặt văn xuôi, sự đóng góp của nhóm Sáng Tạo không được đặc sắc gì cho lắm. Văn xuôi à? Thì cũng có cái mới thiệt đó, nhưng nếu hỏi tác phẩm văn xuôi nào tiêu biểu cho nhóm Sáng Tạo thì tôi không / chưa kể được tên tác phẩm nào. Truyện của Thanh Tâm Tuyền hồi còn trẻ tôi cũng thích. Thích nhiều là truyện Ung thư, nhưng rủi thay tác giả đang viết chợt bỏ dở nửa chừng. Có bận tôi hỏi vì sao bỏ dở, Hoàng Ðế Cô Ðộc trả lời là tại hết hứng, thấy truyện bế tắc. Ðược biết sau này Ung thư đã hóa kiếp thành Cát lầy. Hình như trong Cát lầy có một nhân vật tên là Kiệt, quả đúng y thị, tên của tôi. Kiệt là một nhân vật lừng khừng, dật dờ, sống cẩu thả, bê bối – tôi nhớ loáng thoáng. Có bận hỏi tác giả, Kiệt trong Cát lầy có phải phần nào đã đội lốt Kiệt tui ngoài đời chăng? Hoàng Ðế khẽ gật gù phán nhỏ: “Cũng có”. Như vậy, vô tình tôi đã được đẩy vào văn học sử, và hết phương trở ra nữa. Than ôi, người ngay mắc nạn! Trời đã hại Sa Vệ! Khiến cho Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ rồi tự ý cắt đầu giao cho ông lái đò trên dòng sông định mạng.

Tôi vốn đã không ưa văn học sử gì cho lắm. Hồi còn ở Việt Nam, năm 1966, Sáng Tạo có đứng tên in cho tôi tập thơ đầu tay Ðiệp khúc tình yêu và trái phá. Ðể rồi sau đó tôi quăng bút, quay sang làm thơ hiện thực (lẫn thực hiện): thơ Bia ôm và trái cóc. Mãi cho tới hai chục năm sau, phần Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên thì đi tù cải tạo mút chỉ ở Việt Bắc, còn riêng tôi thì lêu bêu trôi dạt sang Paris. Lúc đó, nơi xứ lạ quê người không có bia ôm nên rất huởn thì giờ để mà cà nhổng chống xâm lăng, tôi bèn lượm bút lên và tiếp tục mần văn nghệ, bỏ thơ viết truyện, lần lượt ra mắt bà con Nụ cười tre trúc, Thương nàng bấy nhiêu, Lớp lớp phù sa… Sực nhớ lại sáu mươi bốn năm trước đây, nhân dịp Xuân Tha Hương, Nguyễn Bính sư phụ tôi đã xủ một quẻ tại Huế năm 1942 và tiên đoán thời tiết không khá mấy của bọn cầm bút:

Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong
Người ta đi lấy giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không…

Sư phụ tôi đã rên rỉ như vậy đó với người chị yêu dấu của mình ở xứ Hà Ðông (vốn đầy dẫy sư tử cái) xa tít mù xa ngoài Phương Bắc. Chị Trúc bạc phận trong Lỡ bước sang ngang. Hồi đó chưa có xa lộ không đèn, chưa có xe lửa cao tốc, chưa có Boeing 747. Bó tay. Bó giò. Rên là phải!

*

Cảo thơm lần giở trước đèn…

Ðiểm lại thời gian hơn mười năm chiến tranh sau cùng ở Việt Nam, những lần tôi gặp gỡ Thanh Tâm Tuyền đếm được trên năm đầu ngón tay. Kỷ niệm? Thì cũng có, gọi là… Và cũng đếm được trên năm đầu ngón chưn. Lần đầu tiên gặp nhau ở đâu không nhớ. Chỉ nhớ chàng có cái quai hàm vuông vức cương nghị, lông mày rậm, cái nhìn thẳng sâu, giọng nói miền Bắc, không giọng Hà Nội, mà là giọng lảo nhảo quê quê dân dã, dễ thương, dễ gần gũi. Tuy nhiên, vừa mới gặp nhau lần đầu mà đã có chạm súng lẻ tẻ, cũng như lần đầu với Mai Thảo. Tuy chàng làm thơ tự do, rất mới, rất phá thể, nhưng quan niệm của Thanh Tâm Tuyền về các vấn đề thường nhật, nhứt là đối với gia đình thì lại rất là cổ điển, rất là truyền thống, rất là tôn ti trật tự, với đầy đủ đèn xanh đèn đỏ hẳn hòi. Chung chung, là một con người sống rất ư là bình dị. Có thể tôi lầm lẫn vì ít khi tiếp xúc. Ðành bói mò. Cùng cắm dùi chung một cứ địa Gia Ðịnh, tôi ở Hàng Xanh, Thanh Tâm Tuyền ở Bà Chiểu, cách nhau một cái cầu bê tông nhỏ. Ðâu có đường về nhà em xa lắm anh ơi! Chàng có đến nhà tôi hôm in xong tập thơ. Tôi có xâm nhập lãnh thổ của Hoàng Ðế trong ngôi nhà cao cẳng (hình như vậy) để ngồi nhậu lai rai coi anh em cầm bút nhà ta kéo xì phé. Trong số có Trần Lê Nguyễn, người lè phè dễ thương, mê cờ bạc số một.

Tôi có một số bạn thường đi chơi chung của tôi. Những tay nhậu mút mùa, đi thăm mấy em Kiều dài dài, những ông chồng không xứng đáng. Sớm Ðào trưa Lý đêm Hồng Phấn. Tuyết Hạnh sương Quỳnh máu Ðỗ Quyên. Thanh Tâm Tuyền có những người bạn để đi la cà riêng của mình. Những Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Phạm Ðình Chương… Vì hai chàng trai nước Việt đều có bạn riêng nên kỷ niệm chung hơi hiếm.

Thanh Tâm Tuyền không có tiếng là tay nhậu cừ khôi. Cũng không “rằng nghe nổi tiếng cầm đồ”. Không vũ nữ sexy, không bia ôm lả lướt, không xướng ca vô loại. Theo truyền thuyết, hồi theo học khóa sĩ quan ở Thủ Ðức, có một đêm xỉn quá xỉn nên Hoàng Ðế bèn đốt lửa thiêng kêu gọi chư hầu tới cứu viện, đoạn cởi truồng chạy nhồng nhổng trong quân trường. Tuy nhiên sự cố này cũng chỉ là truyền thuyết, không có hình ảnh gì để chứng minh với hậu thế. Có thể đó là mưu tối nhằm bôi nhọ để Hoàng Ðế không còn cách nào ra tranh cử tổng thống với ông Hoàng Ðã Nhứt (tức ông Hoàng…) nước ta thời Thiệu trị Kỳ nhông.

Không xướng ca vô loại? Ấy vậy mà một chiều nọ, trong một phòng trà thời trang ở Sài Gòn, đã có lần Hoàng Ðế bước lên sân khấu và cầm micrô lên mà rỉ rả một bài tình ca rất ư là lả lướt. Khó tin nhưng mà có thiệt! Có nhân chứng và nạn nhân thời cuộc làm chứng trước tòa. Ðó là lần tổ chức bán đấu giá tranh để lấy tiền giúp Vũ Hoàng Chương trị bệnh. Ở đâu? Ở phòng trà Khánh Ly đường Tự Do. Tay nào đã lôi kéo tôi tới đó tôi không nhớ. Có Mạnh Thường Quân nào mua tranh hay không tôi cũng không nhớ. Khi tới phòng trà, tôi đã xiêu vẹo ba ngù. Tôi ngất ngưởng nghe nhạc như người điếc không sợ súng. Rồi thình lình Hoàng Ðế giáng lâm. Tay nắm tay Phạm Ðình Chương, hai ta bèn song ca Mộng Dưới Hoa do Phạm sĩ phổ nhạc, thơ Ðinh Hùng. Hoàng Ðế thơ tự do mà hát thơ bảy chữ có vần thì phải biết! Tôi ngồi khép nép, run như run thần tử thấy long nhan. Rồi việc gì phải đến đã đến. Hoàng Ðế cất tiếng vỗ an bá tánh:

“Chưa gặp anh em đã có bầu, với chàng trai trẻ đẹp như trâu…”

Bủn rủn! Dĩ nhiên Hoàng Ðế không hát nhảm nhí như vậy. Cũng không “tôi hét tên tôi cho nguôi giận: thanh tâm tuyền! Tôi gào tên tôi thảm thiết: thanh tâm tuyền!“. Cõi thơ tự do cất tiếng hát rất là trữ tình, rất là ru em: “Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng, có nàng thiếu nữ đẹp như trăng...” Có thế chứ! Ðứng trên sân khấu bằng phẳng vững chắc mà Hoàng Ðế cũng lắc lư con tàu đi trên hai chưn không thua gì tôi. Ca sĩ mầm non lim dim hát tiếp: “Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại. Âu yếm nhìn tôi không nói năng…” Em gái hậu phương nào mà nghe lọt lỗ tai giọng ca truyền cảm của Hoàng Ðế thì ắt phải rụng rún là cái chắc! Cuộc bán đấu giá chưa tan mà tôi đã tự động giã từ cuộc chiến. Chuyếnh choáng bước ra đường nhựa đứng xớ rớ chưa biết làm cách nào để mà xuôi thuyền về Bến Ngự cho được. May quá! Bỗng một anh chàng cao lớn bô trai từ đâu xáp tới kéo tay tôi rủ rê: Nguyễn Xuân Hoàng! Hoàng Tử rủ tôi vô Brodard giải lao. Ừ, vô thì vô, sợ ai. Tôi gọi cái bia lạnh. Hoàng Tử một ly bia không có bọt, màu trắng đục bỏ đường có ống hút. Hình như lúc đó Hoàng coi tờ Văn, Nguyễn Ðình Vượng chủ trương. Và cũng hình như chàng vừa viết xong một truyện ngắn bảo đảm mới rất mới: “Người đàn ông đội nón ngồi trên chiếc ghế bành”. Thời đó, phong trào Tiểu Thuyết Mới đang thịnh hành. Tôi thì chẳng tiểu thuyết mới, chẳng tiểu thuyết cũ gì hết ráo. Chỉ chủ trương thơ hiện thực bia ôm và trái cóc là ăn chắc (mặc bền). Ngày đêm miệt mài, đi thực tế cho biết lòng dân – và bụng dạ ngoắt ngoéo của đàn bà (ấm cha chả là ấm!)

Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới sông cá chốt trên bờ Tiều Châu. Tôi vốn người miệt Hậu Giang bần chua nước mặn nên rất thiệt thà chơn chất, nhứt là đối với nữ phái tay yếu chưn mềm (mà có thể vật chết anh hùng mạnh cùi cụi trong vòng năm phút như chơi). Vì chưng thiệt thà nên điều gì có ngó thấy tận mắt thì tôi mới tin. “Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”, lấy câu này làm châm ngôn ở đời. Cũng bởi lẽ đó nên đối với Kiệt tui, Thanh Tâm Tuyền chưa chết. Không thấy tẩm liệm, không thấy chôn cất thì đối với tôi là chưa chết. “No see die, no die!”. Dịch nôm tiếng Việt: nô xi đai, nô đai. Cũng như má tôi, cũng như ba tôi. Ba má tôi vẫn còn sống đủ cặp Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết trong tâm tưởng của tôi. Cũng như Vũ Khắc Khoan, cũng như Phạm Ðình Chương, cũng như Mai Thảo, cũng như Thanh Nam, cũng như Ngọc Dũng. Trong trí mình, tôi chưa hề cử hành tang lễ cho một ai hết, tôi chưa hề làm đám ma cho một ai hết.

Tôi không còn cô độc! Khi gào lên như vậy, Hoàng Ðế có chắc không? Trong những đêm đen đặc mịt mù tù đày ở Bắc Việt, có khi nào nhà thơ mò mẫm đá lạnh dưới lưng mà rùng mình trong quạnh quẽ? Tôi biết những người khóc lẻ loi, không nguôi một phút. Ðau đớn! Lệ là những viên đá xanh. Hoặc những hôm trời bão tuyết tầm tã ở Minnesota, ngồi rất một mình bên ly rượu dở dang, Thanh Tâm Tuyền có rùng mình ớn lạnh nói nhỏ một mình trong đầu: “Tôi vẫn còn cô độc!”. Ngó xuống ly rượu lạnh lẽo, bỗng chợt thoáng hiện em về trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm mơ. Xa lắm rồi em người mỗi ngả…

Nhưng bây giờ thì Thanh Tâm Tuyền đã có thể quả quyết: “Tôi không còn cô độc!”. Bởi lẽ bây giờ Thanh Tâm Tuyền đã có vĩnh viễn bên cạnh mình để mà khề khà chén chú chén anh những Vũ Khắc Khoan, những Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Thanh Nam, Ngọc Dũng. Chỉ xin đứt Hoàng Ðế một điều là Người chớ có cai trị mọi người bằng thơ tự ro của Người. Nếu được như vậy thì mai kia mốt nọ sẽ có thêm Thái Tuấn, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Kiệt Tấn tới nhập bọn cho thêm xôm tụ, rậm đám. Tha hồ mà đập bồn đập bát! Ðọc tới đây chắc Thanh Tâm Tuyền cũng đành phải ngậm cười nơi chín suối.

Ngàn năm, ngàn năm… Bạch vân thiên tải không du du. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản…

Kiệt Tấn
Bagnolet, Pháp, tháng Ba 2006

(Trong bài này, thơ Thanh Tâm Tuyền trích từ các bài: “Phục sinh”, “Tù binh”, “Lệ đá xanh”, “Chiều cuối năm qua xóm nghèo”, “Ngã trên núi khi đi vác nứa”. Thơ trích khác là của Nguyễn Bính, Ðinh Hùng, Quang Dũng, Thôi Hiệu.)

[1]Người xưa cỡi hạc đến nơi đâu
Hoàng Hạc còn đây một mái lầu
Chiều tối trông vời đâu cố quận?
Trên sông khói sóng giục ai sầu

Trần Trọng San dịch

Em Vịt Vàng Nhỏ Của Tôi Ơi

kiettan

Má ơi con vịt chết chìm
Con thò tay vớt nó con cá lìm kìm rỉa tay

…Lép kép! Lép kép! Con vịt con thò chiếc mỏ vàng nhỏ xinh xắn rỉa mấy hột cơm tôi vừa mớm ra cho nó ở miệng. Nó ngước lên nuốt mấy hột cơm, chiếc cổ nhỏ xíu ngửng lên trời ngửa ra sau, xong nó giương đôi mắt khù khờ ngó tôi kêu lép kép chờ đợi. Tôi đưa vịt con cạ cạ lông nhung mịn của nó lên má mình, lòng rạt rào sung sướng, thương quá là thương! Tôi sáu tuổi, con vịt con vừa nở được năm ngày. Nó đưa chiếc mỏ rỉa trong vành tai tôi nhột nhột khiến tôi rụt đầu ngoẻo cổ qua một bên. Vậy mà đã ghê! Vịt con thủ thỉ chuyện trò với tôi, lép kép! lép kép!… Chỉ có một mình tôi hiểu được em tôi muốn nói gì.

Tôi mở tay ra. Con vịt nhỏ nằm gọn lỏn trong hai bàn tay tôi, ngoan ngoãn, lép kép! lép kép! Toàn thân con vịt màu vàng, lông tơ mịn màng non nớt thơm tho, mỏ và chân hơi ửng màu cam, trên mỏ có chấm hai lỗ thở nhỏ xíu, mắt tròn vo đen lay láy, ngây thơ ngờ nghệch. Lép kép! Lép kép! Tôi lại mớm cho nó mấy hột cơm. Tôi dặn nó kêu nho nhỏ, sợ má nó nghe được chạy tới đòi lại. Má nó là con vịt xiêm mái cồ đã đẻ nhiều lứa, giữ con thiệt hay nhưng cũng rất dữ tợn, ba tôi gọi con vịt mẹ này là con vịt Mẫu Hậu. Có lần tôi bắt con nó để giỡn chơi bị nó bay đáp lên đầu vừa quào vừa mổ chảy máu, tôi la khóc chói lói và cũng kể từ đó tôi sợ nó lắm.

Vì vậy lần này tôi lén bắt con vịt vàng nhỏ trốn ra góc hè, ngồi dựa vách lá chỗ khuất để được tha hồ mà tưng tiu trửng rỡn với nó. Mà nói cho ngay, con vịt vàng này là của tôi chớ không phải là con ruột của con Mẫu Hậu. Cách đây đâu chừng ba tuần lễ, má tôi biểu tôi ra đồng lùa vịt. Tình cờ tôi lượm được một trứng của con vịt mái nào đó đẻ rớt. Tôi đem về lấy mực làm dấu rồi lén bỏ vô ổ cho con Mẫu Hậu ấp chung với mấy trứng khác cùng chạng. Vịt xiêm biết ấp trứng, còn vịt ta thì không biết. Chừng nở ra mấy con vịt kia đều cùng một họ Xiêm lớn con màu xám có hai chấm vàng trên cánh, chỉ có trứng vịt làm dấu của tôi là nở ra con vịt nhỏ nhứt vàng lườm vô cùng xinh xắn. Nhưng con Mẫu Hậu không kỳ thị chủng tộc một chút nào, con nào cũng là con của nó hết, tôi rớ tới con vịt vàng là bị nó xòe cánh mổ liền. Còn giống vịt cũng ngộ lắm, khi nở ra là theo riết người mẹ mà nó ngó thấy trước tiên lúc mở mắt. Bởi vậy nên mới có cái cảnh mẹ gà con vịt chắt chiu, khi lũ vịt con chạy ùa xuống nước bơi lội thì mẹ gà chỉ còn nước đứng trên bờ gọi khan cả tiếng… rồi rút khăn mù-xoa ra mà lau lệ.

Trước khi xảy ra vụ Nhựt đảo chánh Pháp ở Đông Dương và phong trào Việt Minh nổi dậy, gia đình tôi sống tại châu thành Bạc Liêu, ba và anh Hai tôi chung sức tạo dựng được một trại mộc nhỏ. Khi giặc giã tràn tới, gió bụi nổi lên tơi bời, anh Hai và anh Ba tôi theo kháng chiến chống Tây, còn ba tôi thì đóng tam bản chở gia đình đi tản cư. Sau hơn một năm lang bạt kỳ hồ, muỗi cắn điả đeo, kẻ đau gan người mang bệnh thủng, chúng tôi chịu đời không thấu nên hồi cư.

Về thành, trại mộc đã mất, ba tôi bèn biệt kinh kỳ tấp về Xóm Mới ở ngoại ô Bạc Liêu làm lại cuộc đời. Chúng tôi ở nhà mướn, ba tôi cất một trại mộc mới nhỏ hơn, cùng với anh Hai và chú Chín câm điếc của tôi bào đục, tự lực cánh sinh. Còn má tôi thì nuôi thêm gà vịt đắp đổi. Má tôi vốn người quê mùa miệt Cờ Đỏ nên cũng ham nuôi heo nuôi gà nuôi vịt lắm. Tôi cũng ham không kém vì lần nào có một lứa gà hay vịt nở, má tôi đều cho tôi tự ý lựa chọn một con làm bạn riêng và tha hồ cho tôi tưng tiu chăm sóc nó. Vì vậy, khi trứng bắt đầu khẻ mỏ, tôi cứ túc trực canh chừng bên ổ, mặc tình cho mấy con mạt gà (một loại giống như bồ mắc) từ gà mẹ hay từ ổ bay ra chun vô áo mà cắn, ngứa ngáy gãi sướt cả da. Tôi gan lì ở lại giúp cho gà con và vịt con khẻ mỏ gấp gấp, chun ra khỏi vỏ mau mau. Mỗi bận một con nở ra là mỗi bận tôi reo mừng thú vị hết sức.

Cùng lứa với con Mẫu Hậu là con vịt xiêm đực, hỗn danh Đại Bàng, tên này cũng do ba tôi đặt. Con Đại Bàng mắc chứng cuồng dâm nên vịt xiêm, vịt ta, vịt lớn hay vịt nhỏ gì đều cũng bị nó đạp mái ráo trọi. Cả gà ngỗng cũng bị nó hiếp dâm luôn. Gà mái bị đã đành, gà trống cũng bị như thường. Gặp nhằm gà nòi đá độ, anh chàng bị phang cho mấy cựa đổ máu dạt ra, mà rồi cũng không tởn. Ngay cả con heo thiến má tôi nuôi trong chuồng cũng bị Đại Bàng đáp đại lên lưng mổ cắn trì kéo lỗ tai heo và vặn vẹo cái đuôi vịt, không biết ý gì. Bận khác, bà chủ nhà của tôi ra ngồi ở bãi cỏ khuất mà giải thủy, tưởng đã yên chí. Dè đâu Đại Bàng nằm vùng ở đó tự lúc nào, bèn đưa mỏ cứng ướm thử cái bàn ngồi của bà chủ một phát. Bà la chói lói và chạy vô mắng vốn má tôi: bà bị con vịt phải gió của nhà tôi nó rỉa. Ba tôi che miệng cười khúc khích nói nhỏ với anh Hai tôi: «Gặp tao, tao cũng rỉa nữa… huống hồ là con vịt!»

Mãi về sau này, dung rủi lần nọ khi đã tàn cuộc truy hoan trên mương lộ trước nhà, Đại bàng còn hứng chí vỗ cánh phùng xòe bản Hành Dâm Khúc mà quên thu hồi báu kiếm. Xảy đâu có chàng cá lóc lội ngang nhác thấy tưởng là mồi bở, trồi lên đớp mất. Thế là… tàn đời bạo chúa! Nhưng Bạo chúa không chịu băng hà cho nên mới chết dân lành. Vì khi bị dâm hành mà đạp mái không được, Đại Bàng nổi điên vỗ cánh bay lên ngọn cây rượt theo mấy con quạ và chim tu hú mà cắn mà mổ. Rồi một chiều mưa gió nọ, Đại Bàng đã lướt gió tung mây vĩnh viễn ra đi, vịt cồ nhất khứ bất phục phản (hay là Bạo chúa đã xuống tóc đi tu?). Kể từ đó thanh bình mới thực sự được vãn hồi cho gà vịt heo ngỗng (và bà chủ nhà) trong Xóm Mới hiền hòa của tôi.

Nhưng đối với bà chủ nhà, tôi chỉ nể mà không ghét. Ghét là tôi ghét cái cậu em trai của bà chủ. Cậu này là bợm nhậu mút mùa, chó vàng chó vện gì mập mập mà lảng vảng trước mắt cậu là kể như tới số. Cậu đi tới đâu chó trong xóm hùa ra sủa vang rân tới đó. Thỉnh thoảng thiếu mồi, cậu lại ghé qua chuồng gà chuồng vịt của nhà tôi mà dòm dèm. Tuần trước cậu lại ghé nhà tôi mượn đỡ con gà, nói là để đưa ông Táo về trời trong dịp cuối năm, Tết nhứt tới rồi. Về mặt lý thuyết, tôi chẳng có gì để chống đối. Nhưng trên thực tế, ác thay cậu lại nhè chọn con gà giò mà má tôi đã cho tôi chọn bạn từ hồi mới nở, tôi chăm sóc rất kỹ, cứ ôm ấp hoài và cho ăn thêm nên nó mập bự hơn mấy con khác cùng bầy. Như vậy mới đổ nợ. Khi cậu chỉ tay chọn con gà ruột của mình, mặt tôi vụt xanh dờn bí xị và mếu khóc. Má tôi ôm tôi vào lòng và năn nỉ cậu chọn con gà khác mà cậu nhứt định không nghe, đã vậy còn lên mặt giận hăm he đòi đuổi nhà. Khi cậu thò tay ẵm con gà giò của mình, tôi lăn ra khóc sướt mướt. Má tôi cũng sụt sịt và hết sức dỗ dành tôi. Má tôi hứa khi vịt nở, má tôi sẽ đền cho tôi con khác. Tuy vậy, tôi cũng tỉ tê cả buổi trời.

Rồi buổi chiều hôm đó, tôi lén má ra sau hè nhà bà chủ lượm nắm lông tàn của con gà ruột của mình, đoạn giấu đem qua ruộng phía bên kia mương lộ mà chôn cất gần giếng nước. Bên bờ giếng, tôi giành một khoảng đất nhỏ để chôn cất mấy con vật đã cùng tôi bầu bạn một thời: chim sáo, cá lia thia, dế than, trâu đất, cu cườm… Tôi không chơi đá cá đá dế. Cá và dế của mấy thằng lỏi trong xóm cho đá với nhau tới lúc trầy vi tróc vẩy, sứt càng gãy gọng ngất ngư hết mới chịu quăng ra. Tôi lượm về rán lấy nước muối và đất sét chập chộ cho tỉnh hồn. Mấy thương binh gượng sống ngắc ngoải thêm được ít bữa mới chịu nhắm mắt lìa đời. Tôi khóc lóc và đem đi chôn ở nghĩa địa riêng của mình bên kia bờ giếng.

Mà khi tôi khóc, mấy thằng lỏi trong xóm bèn xúm lại kêu ngạo tôi. Hồi đó, lúc khóc chắc là tôi xấu lắm. Lúc năm sáu tuổi, răng tôi bị xiết ăn đen xì rụng sát nướu, chỉ còn trơ lại hai cái răng chó ở hàm trên, cũng đã bị ăn khuyết mòn xung quanh. Hết răng thì móm, dĩ nhiên. Vì vậy, khi tôi nhăn nướu đen xiết ra khóc, tụi lỏi xúm lại nhạo tôi, «bà già móm tóm lưỡi câu, ông già râu câu cá chốt», hoặc ác hơn «sún răng bắt cầu chía ỏ» (xin đừng nó lái mà chết cái duyên của thằng nhỏ).

Sau khi cạy mô đất nẻ và vùi chôn nắm lông tàn bên dưới, tôi lại ngồi bẹp một bên mà thút thít ngậm ngùi chứa chan lệ đẫm. Sắm sanh nếp tử sa châu, vùi nông một nấm mặc dù cỏ hoa, trải bao thỏ lặn ác tà… Tỉ tê như vậy không biết bao lâu. Tới khi nghe tiếng má kiếm và kêu tên mình từ phía bên kia mương lộ «Kiệt ơi! Kiệt à!» tôi mới giựt mình ngơ ngác. Tôi quẹt nước mắt đứng dậy đi trở ra mương lộ, rồi leo qua chiếc cầu khỉ trở về nhà.

Trời gần Tết, gió hiu hiu lạnh…
***
Hai bữa sau ổ vịt xiêm nở ra được mười một con, trong đó có Em Vịt Vàng Nhỏ của tôi. Đối với tấm lòng thơ ấu của tôi, vịt vàng là đứa con rơi, mồ côi mồ cút, con Mẫu Hậu là má nuôi của nó, còn tôi là anh ruột của nó. Vịt vàng em tôi đã tới kịp thời xoa dịu lòng đau khổ của anh mình và lấp được chỗ trống trải trong con tim ấu thời do con gà bạn thân vừa chết đi để lại. Nhưng vịt vàng còn quá nhỏ, chưa truyền được hơi ấm như những lần tôi luồn tay dưới bụng con gà giò ngày xưa mà ôm vào lòng yêu ấp. Tuy nhiên, tiếng thủ thỉ lép kép! lép kép! ngây thơ của nó cũng chở được vào tâm hồn đứa nhỏ sáu tuổi biết bao là hạnh phúc tuyệt vời!

Vịt vàng lại đưa chiếc mỏ chút xíu rỉa mấy hột cơm giữa hàm răng sún của tôi. Bỗng trên thinh không Ầm!!! một tiếng long trời lở đất, tôi giựt bắn người hết hồn, con vịt vàng cũng la chét lên một tiếng thất kinh. Ầm!!! Ầm!!! hai tiếng nổ long trời khác tiếp theo liền, trên đầu đạn bay véo véo. Tôi còn đang chới với thì vịt vàng đã sút khỏi tay tôi rớt xuống lăn cù rồi đứng dậy chét! chét! chét! gọi má thất thanh, bỏ chạy. Con Mẫu Hậu nghe con kêu cứu cũng lên tiếng đáp ứng và từ xa chạy tới. Vịt vàng mừng quá nhào vô quấn lấy cẳng má mình ẩn núp. Cảnh tượng trước mắt gợi lại trong trí tôi cái Tết năm ngoái trên đường tản cư, khi má tôi dừng mái chèo lại trên dòng sông Vĩnh Phước để cứu vớt ba mẹ con người đàn bà chạy giặc sắp chết đuối, xung quanh đạn lửa bừng bừng, người trúng đạn té xuống sông lòi ruột. Má tôi đã đưa tay kéo đứa nhỏ gái cho đeo cột chèo để má nó trồi lên ôm đứa con trai độ hai tuổi lội qua bên kia sông an toàn. Và đứa nhỏ gái cũng đã lên tiếng gọi má nó thất thanh như con vịt vàng nhỏ của tôi giờ đây vậy. Cũng một giọng cuống cuồng, cũng một điệu thảng thốt, rát ruột. Cho tới khi má tôi trả đứa nhỏ gái lại cho má nó bên kia bờ sông và người đàn bà bồng hai đứa con lẩn khuất trong đám người chạy giặc hỗn loạn tôi mới nghe nó kêu khóc. Chỉ mới năm ngoái thôi nên hình ảnh còn rất rõ rệt.

Thấy con Mẫu Hậu cất tiếng gọi bầy con lại và xù lông bảo vệ, mồng trên đầu và trên mặt đỏ ké dữ tợn, tôi không dám nhào vô mượn đứa em ruột của mình trở lại. Ầm! Ầm! Ầm! Ầm !… Tiếng cà nông thụt từ bót «Hội Đồng Điều» cách nhà tôi khoảng một trăm thước tiếp tục rền rĩ xé trời.

Sở dĩ bót mang tên như vậy là vì ngôi nhà cao cẳng của ông Hội Đồng Điều bị người Pháp trưng dụng và cất thêm lô cốt xung quanh để làm đồn bót chận đường Việt Minh. Tôi ngó theo hướng đạn đang bay về miệt Trà Kha, thấy mấy ngọn cau miệt đó gẫy gục, khói bốc lên ngùn ngụt. Miệt Trà Kha cây cối um tùm và rạch sình chằng chịt, du kích quân thường ẩn núp trong đó, chờ đêm tối kéo ra đánh đồn phá bót rồi lại rút về đó dưỡng quân. Thỉnh thoảng Tây kéo lính, công voa và thiết giáp vô Trà Kha ruồng bố. Chiều qua đã có chạm súng đụng độ và xe cứu thương hụ còi chạy ngang nhà tôi, nghe nói lính ở thành bị lọt phục kích chết nhiều. Có lẽ vì vậy mà giờ đây Tây thụt cà nông vô đó trả thù. Hoặc không chừng pháo kích trước để chuẩn bị hành quân càn quét. Xe díp cứ xẹt tới xẹt lui ngang Xóm Mới tôi từ sáng tới giờ. Nhiều khi mấy ổng còn kéo về tận xóm tôi và núp sau mấy cái mả đá bắn phá và liệng lựu đạn qua bót Hội Đồng Điều. Lính trong đồn xả súng liên thanh và mọt chê tưới sượi vào xóm tôi, nhà nào nhà nấy đều bị lủng đạn, cháy vách bể ngói lung tung! Bởi vậy nhà nào cũng có đào hầm trú ẩn ngay bên trong, nhà tôi cũng vậy.

Khi có chạm súng, ai nấy đều sợ mất vía nên tự động nhào hết xuống hầm. Chỉ trừ có chú Chín tôi vì điếc không sợ súng nên cứ đứng sổng lưng tự nhiên mà coi đạn bay đỏ trời và còn phát âm dễu dễu! dễu dễu! mấy tiếng trầm trồ thán phục. Can không nổi! Lúc nào bắn rát quá, kèo lá trên nóc nhà gẫy tuôn hết xuống ào ào, má tôi niệm Phật lia lịa, còn chị Tư tôi thì đội cái thau nhôm trên đầu, răng cỏ đánh bò cạp lốc cốc và đái luôn trong quần hồi nào không hay. Còn tôi thì cứ đau bụng mắc ỉa thúc tới, cẳng chưn lạnh ngắt, miệng mỏ khô queo.

Cuộc pháo kích còn đang tiếp diễn đinh tai nhức óc thì ba tôi từ trong trại mộc bước ra sân ngó lên trời chưởi đổng:
– Đ.m! Năm nào cũng vậy, hễ Tết nhứt tới là có sanh giặc. Thiệt tình! Hổng có năm nào bà con được yên ổn ăn Tết một lần thử coi.
Đoạn day qua thấy tôi đang đứng xớ rớ ở xó hè, ba tôi lên tiếng:
– Thôi mầy với thằng Lộc sửa soạn tao dắt đi chợ Tết. Bữa nay hăm chín, chiều nay là hết họp chợ rồi. Đi cho kịp trưa nay mua chút đỉnh đồ với thịt heo ba rọi về tao kho để dành Tết ăn.

Tôi nghe nói mừng lắm. Thế nào cũng có thèo lèo cứt chuột, hột dưa, tôm khô củ kiệu, mứt dừa, mứt bí. Hơn nữa, gì chớ ba tôi mà kho thịt heo với cá bống kèo kiểu Bạc Liêu là số dách. Cá ông chỉ rửa sơ, không cạo nhớt, rồi để cá sống nhăn nguyên con như vậy mà đổ vô nước sôi đậy nắp lại, cá bóng còn nhảy soi sói trong nồi lụp bụp. Chập sau, ông giở nắp ra vớt cho tới khi hết bọt rồi mới rót nước mắm ngon vào mà nêm nếm. Khi chín, con cá mềm sùi và còn nguyên chất ngọt. Phần bụng và đầu nhẩn nhẩn để cho người lớn, tôi thì hẩu xực cái đuôi. Còn kho thịt, ba tôi lựa mua thịt heo ba rọi có mỡ nhiều, cắt cục vuông thiệt lớn, lấy cọng lát buộc chéo ngang. Xong ông đốt lửa riu riu, kho thiệt lạt và kho thiệt nhiều bận lửa. Chừng đem ra ăn, mỡ đã rệu, chỉ cần mó đũa vào là mỡ phao ra, đưa vào miệng là chỉ có nuốt cái hương vị béo bùi, thả bánh tét vào mà nhâm nhi là hết xẩy. Ăn từ mùng một tới mùng ba vẫn không biết ngán, vì càng nhiều lửa, thịt càng mềm mỡ càng rệu. Hễ tới Tết là ba tôi giành để chính tay mình kho thịt. Má tôi kho ông chê nạc nhiều, thịt cứng và mặn. Má tôi thì làm những món khác như hủ qua hầm, gà rô ti, vịt cà ri, bánh tét, cải món, dưa cải, dưa giá… cũng ly kỳ lắm. Hồi nhỏ tôi ăn cái gì cũng thấy ngon và sướng ran, khoái tỉ. Nhà nghèo nên cũng ít khi được ăn nhiều món như trong dịp Tết. Quần áo má tôi xỏ kim may lấy cho tôi và Lộc – không biết bà học may ở đâu. Bận vô, bâu vè bẹt ra, túi thẳng hai cái hai bên coi cũng le lói như ai.

Gần trưa, khi tôi và Lộc theo ba đi ngang qua bót Hội Đồng Điều, đã thấy lính ta lính Tây lính Thổ láo nháo đứng trước bót nhậu nhẹt, ăn uống, hút thuốc, chửi thề, cười giỡn rậm rật. Sáu bảy chiếc cam nhông nhà binh đã đậu sẵn ở đó, vài chiếc khác từ Bạc Liêu chạy ra cũng đang từ từ tấp vô xếp hàng thành công-voa. Một anh lính quăng cho tôi và Lộc mấy cục kẹo. Hai đứa lượm bỏ túi.

Ra tới thành phố, ba tôi ghé vào một tiệm Chà Và bán vải để mua cho má tôi cái khăn. Nhận tiền thối xong, Lộc cầm gói khăn, ba tôi nắm tay hai đứa băng qua lộ để vô chợ nhà lồng mua thịt. Tới bên kia đường, ba tôi đứng lại để kiểm tiền thối khi nãy nhưng vì vội vàng chưa kịp đếm, thấy có tờ giấy hai chục đồng rách mướp, rõ là tiền heo gạo khó xài, ba tôi dắt hai đứa băng trở lại đường bước vô tiệm Chà Và đổi lại tờ khác. Xong xuôi trở ra cửa tính băng qua bên kia đường lần nữa để thực sự bước vô chợ. Vừa dợm bước thì…

Ì ì ì ì!! I ì ì!…

Một tiếng nổ vang rền chát chúa từ chợ nhà lồng dội ra ran cả ngực, đồng thời lửa vàng cam chóa lòa lóe lên. Lựu đạn! Một trái lựu đạn vừa được kháng chiến liệng vào chợ nhà lồng để khủng bố – đây cũng không phải là lần đầu. Ba cha con tôi kinh hãi thối lui. Cảnh vật như chết đứng im lìm trong một hai giây ngắn ngủi. Rồi vụt bừng sống trở lại với tiếng rên thét la khóc vang dậy trong nhà lồng chợ. Sau đó là tiếng chân chạy rần rật, người lớp lớp từ trong chợ túa ra, kẻ lành lặn, người đẫm máu, lính tráng giữ trật tự ùa tới chen lấn cực kỳ hỗn loạn, rào chợ được kéo lại, người trong không thể thoát ra người ngoài không thể ào vô, còi xe cứu thương đâu đó rú lên cuống quít.

Gần nửa giờ sau cuộc tản thương mới được cho phép. Người khiêng ra lớp chết, lớp bị thương nặng, lớp bị thương nhẹ, máu me kinh hồn, ruột gan lòng thòng, rên la khóc kể ghê rợn nhầy nhụa tanh tưởi. Máu! Máu! Đầy những máu! Máu tùm lum, máu khắp nơi. Trong đám tản thương, tôi bỗng thấy thằng Lý bám trên một bà già khiêng trên băng ca mình ướt đẫm máu me nằm bất tỉnh nhân sự, nó vừa khóc vừa lải nhải «Ngoại ơi là ngoại! Ngoại ơi ngoại! Hu hu hu». Thằng Lý là con riêng của bà chủ nhà, tuổi chừng mười ba mười bốn, đã trốn vô bưng từ mấy tháng nay. Sau này ba tôi nói lại, tôi mới biết là chính thằng Lý đã lãnh lựu đạn đem về thành liệng vô nhà lồng chợ rồi giả bộ khóc lóc đeo theo bà già xấu số nọ để qua mặt lính kiểm soát mà trốn khỏi vòng vây. Thiệt hết cỡ nói! Vậy mà tôi đâu có dè.

Khi cuộc tản thương đã chấm dứt và rào chợ được mở ra, ba tôi biểu Lộc dẫn tôi về nhà trước, còn ổng thì qua chợ nhà lồng để mua sắm đồ ăn Tết – ổng nói bây giờ người ta bỏ chạy hết rồi, chắc là thịt thà, trái cây, dưa hấu, kẹo mứt phải bán rẻ! Cũng lý luận y chang như hồi tản cư tới Vĩnh Phước vào cuối năm ngoái, bà con đang họp chợ Tết thì Tây Thổ nổ súng lốp bốp, mạnh ai nấy chạy bỏ chợ lộ thiên còn ba tôi thì trái lại vác gươm nhảy lên khỏi ghe tam bản chạy xấn ngược ra chợ để mua thịt heo bán rẻ, làm cho má tôi phải neo ghe chờ sợ xanh máu mặt. Thiệt là ông già lựu đạn mút mùa!

Lộc và tôi về tới nửa đường thì gặp má tôi đang tất tả chạy cẳng không từ đàng xa trờ tới – bà nghe nói có lựu đạn quăng ở chợ Tết rất nhiều người chết nên sợ thất thanh hồn vía đi kiếm chồng kiếm con. Vừa ngó thấy hai đứa tôi bà đã hoảng vía hào hển la lên:
– Chèn ơi!… còn ba tụi bây đâu ?… bộ ổng… bộ ổng bị trúng lựu đạn… lựu đạn… chở vô nhà thương… chở đi… chở đi nhà thương rồi hả?…
Bà nói không ra hơi, tiếng còn tiếng mất. Lộc lên tiếng:
– Hổng có. Ba hổng có sao hết. Ổng đương đi chợ…
– Chèn ơi! (má tôi ôm cứng hai đứa con mình bật khóc)… hai đứa tụi bây hổng có sao hả? (bà mếu máo)… nam mô a di đà Phật! Trời Phật phù hộ con tui! (bà sịt mũi)… còn cái ông già mắc dịch bộ chưa tởn lựu đạn hay sao mà còn ở đó đi chợ đi búa.

Má tôi vội vã dắt tụi tôi về nhà. Ngang qua bót thấy lính tráng rần rật bắt đầu leo lên xe nhà binh bây giờ đã có hơn cả chục chiếc, một chiếc xe díp từ trong bót phóng vèo ra chạy ngược về tỉnh. Hồi sau khá lâu mới thấy ba tôi đi xe lôi về, chở theo nào dưa hấu, cam bưởi, kẹo mứt, trà bánh… tay xách một đùm thịt heo ba rọi bự tổ chảng. Má tôi la ổng. Ông nói mua rẻ mạt còn ức hiếp gì nữa mà la. Lộc và tôi phụ ôm đồ vô nhà, trong bụng tuy còn sợ nhưng cũng khoái chí tử. Má tôi xuống bếp nổi lửa hâm đồ ăn dọn mâm cúng để rước ông bà cuối năm về ăn Tết. Bà biểu Lộc và tôi đi lùa gà lùa vịt về nhốt lại sớm sớm. Tết nhứt tới rồi để mất hổng nên. Lộc ra mé sau, tôi đi vòng ra mé trước.
***
Trước nhà tôi có cái mương nhỏ lưa thưa cỏ lát mọc và bèo nổi. Kế mương là bờ đất cỏ dại, giáp ranh đường lộ lởm chởm đá xanh loang lở. Một bờ đất khác tiếp nối dốc xuống mương lộ rộng chừng ba thước có cầu khỉ bắt ngang, bên kia là ruộng lúa với giếng đào chứa nước mưa ngọt và cái nghĩa địa của tôi nằm cạnh bờ giếng. Tôi bước ra trước nhà ngó thấy cách đó không xa con Mẫu Hậu đang dắt bầy con kiếm ăn ở mương nước, lũ vịt con vừa kêu lép kép vừa chìa mỏ rỉa vào bèo nổi, con vịt vàng nhỏ của tôi tách rời với hai con vịt xám khác, cách vịt mẹ đâu chừng một thước. Tôi đi về phía đó tính lùa vịt về chuồng ở sau nhà nhốt lại.

Chợt từ phía bót Hội Đồng Điều vọng lại tiếng động cơ ồn ào, mỗi lúc một lớn hơn, mỗi lúc một gần hơn. Có lẽ đoàn công-voa đang bắt đầu chuyển dịch. Rồi từ phía xa, một chiếc xe heo nọc trờ tới, mỗi lúc một rõ dần, chiếc xe bọc thép mở đường có gắn súng lớn xung quanh, mũi xe đeo ống dây cáp sắt để trục xe sa lầy, hai bánh trước chạy bằng cao su thường, hai bánh sau chạy trên xích sắt, khi di chuyển dây xích nghiến nát đá đường chát chúa điếc tai, mặt đất rung rinh chấn động. Khi xe thiết giáp dẫn đầu còn cách bầy vịt độ năm thước, bỗng dưng con Mẫu Hậu ngửng đầu lên rồi chợt giựt mình nhảy phóc ra khỏi mương vọt chạy băng qua phía bên kia lộ, dắt theo tám con vịt xám nhỏ – tôi không kịp phản ứng gì hết. Vịt mẹ dừng lại bên kia đường cất tiếng kêu réo đám con còn kẹt lại ở mương nhỏ bên này.

Vừa khi đó chiếc xe bọc thép mở đường cũng đúng nhịp trờ tơí lướt qua mặt tôi, trực chỉ Trà Kha, xích sắt rần rật lay chuyển mặt đất dưới chưn chỗ tôi đang đứng. Chiếc xe cam nhông chở lính đầu tiên từ từ tiến tới, chậm rãi nối đuôi theo xe thiết giáp. Từ từ, từ từ… Bên kia đường vịt mẹ vẫn tiếp tục gọi con, giọng kêu hoảng hốt, lo lắng. Ba con vịt nhỏ còn kẹt lại vụt nhảy lên mương, vọt băng qua phía bên kia đường, tôi dang tay ra cản ngăn không được. Chiếc cam nhông trờ tới… Hai con vịt xám lẹ chưn chun tọt dưới lườn xe biến mất, con vịt vàng nhỏ của tôi cũng vọt theo, tôi cũng vọt theo. Bỗng em tôi vấp bánh sau của xe cam nhông dội lại, tôi cũng dội lại, đuôi xe kình càng lướt qua sát rạt bên mũi, mấy người lính lê dương râu ria xồm xàm ngồi trên xe chồm ra la ó vang rân và khoát tay đuổi tôi trở lộn vô bờ lề. Chiếc xe cam nhông thứ hai từ từ tiến tới, động cơ rù rì, bí mật, lạnh lùng, vô giác. Từ từ, từ từ… bánh xe cao su từ từ lăn tới…

Con Mẫu Hậu vẫn tiếp tục gọi con thảng thốt. Hai con vịt xám nhỏ đã qua được bên kia đường an toàn và nhập bầy. Chỉ còn lại bên nầy đường có mỗi con vịt vàng nhỏ của tôi đang chạy lăng xăng cuống cuồng và tôi cũng đang cuống cuồng rượt theo. Tôi cúi xuống chụp nó mấy lần, nhưng chụp hụt. Má nó lại cất tiếng réo gọi. Con vịt vàng ngửng cổ nghe ngóng rồi lại vọt phóng trở ra giữa lộ thần tốc. Chiếc xe cam nhông thứ hai lăn tới áng khuất, cụm lông vàng mịn không còn ngó thấy đâu nữa, tôi chỉ kịp nghe một tiếng «Chét» thảm thương bên tai, thôi rồi! chết em tôi rồi, tôi ngã quỵ xuống lề đường, đầu gối đập lên đá cục mà không cảm thấy đau đớn gì hết!… Chết em tôi rồi! Nhúm lông vàng dính trên bánh xe sau ghép đôi cuốn theo đoàn lính lăn đi, để lại vết máu đỏ tươi bằng bàn tay thấm ướt trên mặt lộ. Mình mẩy tôi vụt lạnh ngắt, chết em tôi rồi! Tôi hét lên một tiếng thất thanh ngã lật ra sau té trên bờ cỏ, nước mắt vọt ra xối xả, ruột gan nát ngướu như xác vịt con bấy nhậy giữa đường, tim gan rạn nứt bể vụn…

Hết rồi! Thôi hết rồi! Chẳng còn gì nữa em vịt vàng nhỏ của tôi! Vĩnh biệt! Vĩnh biệt! Em ơi vĩnh biệt!

Tôi nằm lăn lộn dẫy dụa trên bờ cỏ, cổ họng thắt gút tắc nghẽn, không bật khóc được thành tiếng, chỉ còn biết hả miệng để kịp lấy hơi thở và để cho tiếng nấc tràn ra ngoài, trời đất xung quanh nhạt nhòe, cổ họng ngất ngất muốn bể tét. Mặt đất dưới lưng tôi tiếp tục chấn động dưới lốp cao su ghép đôi của đoàn xe cam nhông mười bánh rầm rộ, tiếng động cơ vẫn tiếp tục xầm xì dửng dưng lướt qua xịt phun xuống mặt đường mùi xăng khét nghẹt trộn lẫn bụi đường và khói xám xanh mù mịt. Rù rù rù rù rù… chiếc thứ ba… rù tù rù… chiếc thứ tư… rù rù rù rù… chiếc thứ năm rồi chiếc thứ sáu… Mỗi lần xe lướt qua tôi lại nghe vang động trong đầu tiếng «chét» tuyệt mạng của em tôi. Rù rù rù rù… Chét! Rù rù rù rù chét!… Tôi úp hai bàn tay nhỏ của mình lên lỗ tai lăn người ngóc dậy, đầu gối quì trên lề cỏ, ngước đầu ngó ra giữa lộ.

Trên mặt đường không còn phân biệt được dấu máu và vết lông vàng của em tôi nữa. Hết rồi! Em tôi đã hoàn toàn biến mất trên thế gian này. Đoàn xe tiếp tục lăn qua chậm chạp, từ từ, nhưng tiếng động cơ phát ra xầm xì không đè át được tiếng «chét! chét!» thảm thương nhỏ nhít của em tôi còn đang chấn động từng chập trong cùng tận ruột gan mình. Tôi gẫy quặp người tới trước, hai tay cấu lấy bụi cỏ lông gà ghịt kéo để cố dằn tiếng nấc đang cướp mất hơi thở mình… Bụi cỏ trốc gốc, tôi lại té ngửa ra sau, một chân lọt xuống mương nước, tôi nấc tiếp liền mấy tiếng bứt ngang hô hấp, miệng không thể nào khép lại được nữa, tôi nhăn hàm răng xiết ăn ngó trời, lệ tuôn đầm đìa lai láng, trời mây trên cao tan loãng thành vũng nước mắt không còn hình thù gì nữa, tất cả mờ run mịt mùng, lung linh nhòe nhoẹt. Hết rồi! Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Em đã chết bỏ tôi thiệt rồi!…

Khi nghe tiếng xích sắt chát chúa của chiếc xe thiết giáp bọc hậu cuối cùng chấn động trên mặt đất, tôi biết là đoàn công-voa đã đi qua hết. Tôi ủ rũ bò dậy quì gối ngó ra mặt đường. Chẳng còn gì nữa dấu vết em vịt vàng nhỏ của tôi, chẳng còn dấu lông vàng, chẳng còn vết máu đỏ. Em của tôi đã vỗ đôi cánh nhỏ bay về trời mất tích! Tôi òa khóc thành tiếng… Tôi quặp người ghịt lấy bụi cỏ bật khóc ngất ngất, khóc ồ ạt, khóc quằn quại, khóc vật vã. Nếu rủi thời má tôi ngã ra chết lúc đó, có lẽ tôi cũng khóc nhiều đến như vậy là cùng. Tấm lòng thơ dại tan nát! Con tim ấu thời đã dập bể trên mặt lộ đá xanh lởm chởm! Hết rồi! Em ơi, hết rồi! Em đã bỏ tôi thiệt rồi! Tôi hét lên «trời ơi!» một tiếng xé ruột rồi rũ người nghiêng qua một bên, từ từ sụm trên mặt cỏ còn nồng nặc mùi xăng khói…

Tôi nằm co quắp bên lề đường, tay bấu lấy bờ cỏ khóc la thảm thiết như vậy không biết bao lâu. Như mê sảng. Tôi muốn mình mê sảng. Khi gặp chuyện quá dữ dằn, tôi ước rằng đó là một cơn ác mộng, một cơn mơ dữ. Tôi cắn vào đầu lưỡi. Tôi không nằm mơ. Tôi tỉnh táo. Không phải chiêm bao. Chuyện thiệt. Rõ ràng chuyện thiệt. Em vịt vàng nhỏ của tôi đã chết thiệt rồi! Em vịt vàng nhỏ của tôi không còn ở trên dương thế này nữa! Tiếng khóc quằn quại của tôi bật tràn ra cổ họng như thác lũ, rồi mòn mỏi theo đường suối đi nhỏ dần, dợn uốn nao nao và từ từ dịu tắt.

Tôi ngồi dậy hỉ mũi chùi xuống cỏ. Tôi đưa sống tay dụi lên đôi mắt ướt nhẹp và thở dài đứng dậy. Đầu gối chợt buốt nhói muốn té sụm. Tôi cúi xuống phủi mấy vụn đá nhỏ còn dính trên đầu gối, da rách sướt chảy máu rát nhức. Tôi bước cà nhắc xiểng niểng ra lộ đá lượm xác em tôi đem qua bên kia bờ giếng chôn cất. Nhưng trên mặt đường những vụn thịt, những vụn lông vàng non dại, những vụn đất đá trộn lẫn li chi không còn phân biệt được gì nữa hết. Tôi mếu máo bước trở vô lề đường lượm miếng giấy nhựt trình sười rách dính phất phơ trên ngọn cỏ. Tôi phủi sạch rồi bẻ một nhánh cây bình bát mọc ven mương lộ tước hết lá. Tôi trở ra lộ ngồi chồm hổm cạy gỡ những mảnh vụn mà tôi nghĩ là của em tôi còn để lại trên cõi đời này, đùa vào miếng giấy nhựt trình gói thành gói nhỏ. Tôi đi ra mương lộ, dợm bước lên cầu khỉ để qua bên kia bờ giếng.

Dưới mương lộ, con Mẫu Hậu thản nhiên tiếp tục dẫn đàn con mười đứa còn lại tung tăng trên mặt nước rỉa rói quanh đám cỏ lác và bèo dại kiếm ăn. Đám vịt con xám buông tiếng kêu lép kép! lép kép! Tim tôi vụt se thắt. Tôi ngồi thụp xuống đầu cầu khỉ, ôm cứng gói nhựt trình nhỏ vào lòng và bật khóc trở lại sướt mướt. Lòng đau đớn quá đỗi. Nước mắt nước mũi ràn rụa. Tôi không oán hận gì hết. Chỉ thấy đau đớn. Quá đỗi đau đớn. Tôi thương quá chừng em vịt vàng nhỏ của tôi. Bây giờ nó đã chết rồi. Em tôi đã chết rồi. Tôi không oán hận chiến tranh. Ở tuổi thơ đó lòng tôi không biết oán hận. Tôi không oán hận chiếc xe cam nhông đã nghiến nát em vịt vàng nhỏ của tôi. Tôi không oán hận người tài xế đã lái chiếc cam nhông cán em tôi bấy nhậy. Tôi không oán hận đoàn lính Lê Dương ngồi trên chiếc cam nhông đó. Dù sao chiếc cam nhông cũng đã đi mất, đoàn công-voa cũng đã đi mất, người tài xế cũng đã đi mất, đoàn lính Lê Dương cũng đã đi mất. Có thể tối nay khi trở về có người đã chết, đúng vào đêm giao thừa. Tôi hít nhẹ tủi thân, tấm tức. Và bật khóc trở lại lần nữa, lần nữa…

Dù thâm tâm mình không mảy may thù oán, trong đầu óc non nót của tôi bỗng phựt lên cơn giận dữ – cơn giận dữ dính liền với cái chết, nỗi tang thương và sự khổ đau. Tôi giận con vịt Mẫu Hậu! Trong đầu óc khờ khạo của mình, tôi nghĩ tại vì nó đã ngốc nghếch cất tiếng réo gọi con mình cho nên em vịt vàng nhỏ của tôi mới băng qua đường cho xe cán chết thảm. Tôi lượm cục đất ở đầu cầu nhắm con vịt mẹ liệng tới. Cơn giận bay ra nửa chừng mãn hơi rớt ùm xuống nước. Con Mẫu Hậu giựt mình thốt kêu mấy tiếng rồi dắt đàn con lội đi nơi khác. Bỏ lại tôi ngồi chong ngóc một mình ở đầu cầu khỉ tiếp tục khóc thút thít, khóc nghẹn ngào, khóc lẻ loi…

«Kiệt ơi! Kiệt à! Kiệt!», tiếng má tôi từ hiên nhà bên kia đường vọng qua. Má tôi kêu tôi về lạy mâm cơm cúng để rước ông bà về cùng gia đình chúng tôi chung vui ba ngày Tết. Đầu xóm ai đó đốt pháo đợi giao thừa, mừng Tết đến. Cái Tết thiêng liêng háo hức trong huyết quản mọi người. Cái Tết ấu thời nhỏ theo giọt lệ hồng của tôi sùi sụt. Nào ai có biết trong ruột gan đứa nhỏ sáu tuổi, một nửa cái Tết thơ ấu đó đã nát vụn theo con vịt vàng nhỏ em tôi giờ đây nằm trong gói giấy nhựt trình tôi đang ôm cứng trên bụng bên bờ mương nước mặn. Và một nửa cái Tết kia đã theo nhúm lông tàn của con gà bạn tôi mà vùi dập tự bao giờ bên kia bờ giếng nước ngọt, khi những nụ mai vàng theo gió Xuân mướt xanh vừa chớm nhú.

Một cái Tết thơ ấu đã nát vụn và vùi dập bên hai dòng nước mặn ngọt trong xóm nhỏ của tôi tự bao giờ…
***
Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Từ ngày em bị chiếc xe nhà binh mười bánh và chiếc xe tăng nghiến nát, cuộc chiến tranh không ngừng tiếp diễn khốc liệt ở quê hương hai anh em mình, đằng đẵng ba chục năm không hề ngừng nghỉ. Cuốn chìm phăng phăng trong dòng lửa sắt bất cưỡng, tôi may mắn và tình cờ còn sống sót. Và từ Xóm Mới ấm áp phương Đông mình, tôi dạt trôi tới phương trời Tây lạnh lẽo xa lạ.

Nơi tôi ở bây giờ, ngoại ô Paris, không có mai vàng. Chỉ có anh đào trổ một màu hường phơn phớt lợt mọc trên dốc đồi thoai thoải bên những cội lệ liễu xõa tóc dịu dàng.

Và năm nay đào lại nở!

Phải, năm nào mà đào lại chẳng nở. Đào lại nở, tôi lại nhớ em tôi, em vịt vàng nhỏ xinh xắn tội nghiệp. Mỗi năm, khi vừa chớm đông, từng bầy vịt hoang và ngỗng trời từ Bắc Âu vỗ cánh bay ngang Paris, rồi di chuyển về miền Nam để trốn lạnh, sang đến tận Châu Phi.

Khi ngó lên trùng trùng chấm đen lướt qua cao vút trên đầu, lần nào tôi cũng tự hỏi không biết có em vịt vàng nhỏ của tôi trong bầy chim hoang đó hay không, và lần nào tôi cũng thầm lo ngại không biết em tôi có được đủ ấm như một thuở xa xưa nào khi Tết gần đến, tôi đã từng ôm em úm trong lòng để mớm cơm cho em ăn và chuyện trò cùng em thủ thỉ. Nhưng tôi lại tự nhủ chắc là em không có mặt trong bầy vịt đang bay trên cao tít, bởi lẽ quê hương của em, quê hương của tôi, quê hương của anh em mình không phải ở đây. Tôi hình dung giờ này chắc em đang tung tăng bơi lội trong một vùng nước mặn ấm áp quanh năm trước mương lộ của nhà tụi mình ở Xóm Mới, miệt Hậu Giang phù sa mặn mòi, đồng ruộng phì nhiêu quấn quít sông ngòi đặc ngừ tôm cá.

Và em đang thò chiếc mỏ vàng xinh xắn rỉa vào đám bèo nổi kiếm ăn, buông tiếng kêu lép kép nhỏ nhít. Em đang gọi tôi cùng đến để chia sớt nỗi vui mừng rất trẻ con của em.

Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Cũng như mọi sinh vật trên đời, em đã từng có một tuổi nhỏ thơ dại và một trái tim thơ dại ẩn chứa trong lớp lông tơ vàng mịn êm đềm. Trái tim thơ dại đó đã truyền vào con tim ấu thời của tôi biết bao là thương mến, muôn ngàn thương mến, biết bao là cảm xúc, vô vàn cảm xúc, biết bao là hoan lạc, vô vàn hoan lạc, và cũng biết bao là đau đớn, đau đớn tưởng chừng có thể xé đứt ruột gan mình mà ngã ra chết được. Em đã cho tôi con tim thơ dại, tôi đã cho em tuổi ấu thời. Dù vẫn còn phưởng phất ở Xóm Mới mỗi độ Xuân về, con tim thơ dại và tuổi ấu thơ đó đã có lần vỗ cánh thơ ngây bay tìm mùa Xuân trong trắng ở một vùng trời tuyệt nhiên không nhuốm một dấu vết hận thù. Rồi đã vĩnh viễn cư ngụ lại muôn đời luôn tại đó.

Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi
Em vỗ cánh nhỏ bay về trời
Em tha trong mỏ em vàng nhỏ
Tấm lòng thơ nhỏ của riêng tôi

Và năm nay đào lại nở! Giờ đây trên một cụm mây xa thiệt xa, tôi hình dung một đứa nhỏ sún răng đang ôm em vịt vàng nhỏ của mình trong lòng và hai anh em đang bồi hồi ngó xuống trần gian nhìn ngắm thiên hạ nổ pháo rộn ràng mừng đón Ông Bà và Nàng Xuân về ăn Tết…

Kiệt Tấn

Đọc Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa.

kiettan

DSC00010

Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thau hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

(Phạm Thiên Thư)

Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ.

Người đàn bà cúi đầu lủi thủi dưới mưa trời, lòng ướt dầm trĩu nặng. “Mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Tay trái dắt con, tay phải đưa lên che đầu. Nhưng bàn tay bé nhỏ của tôi không che nổi trời, những hạt mưa vẫn tưới xuống những sợi tóc ướt, xoắn thành lọn…nước nhỏ thành giọt lạnh xuống đôi vai”
Cuộc hôn nhân đầu đời gãy đổ, lòng thất vọng ê chề.
Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày

Nhưng ngọn lửa yêu đương trong lòng vẫn còn nhen nhúm, nàng lại đi tìm kiếm. Rồi lại gãy đổ. Lại não nề.
Tôi làm con gái
Bao nhiêu tuổi đầy
Bấy lần ngây dại
Buồn không ai hay

Hai cuộc hôn nhân, hai lần tan tác. Còn tin tưởng được gì ở cuộc đời này nữa chăng? Có còn đủ can đảm để mò mẫm đi tìm kiếm tình yêu nữa chăng? Những ý nghĩ chán chường, đen tối, không ngăn cản được lấn chiếm đầu óc nàng.
Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh, em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét…

Và bàn tay nhỏ lại trở về, trở về như một ám ảnh không thể bức rời.
“Trong cuộc sống, tôi biết từ đây và mãi mãi về sau, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể giật nẩy mình về những cơn hồi tỉnh bất ngờ của ký ức, và tôi lại thấy bóng dáng người đàn bà mảnh mai, một tay dắt con đi dưới cơn mưa lất phất, bàn tay còn lại đưa lên che những giọt nước từ trời rơi xuống. Nhưng bàn tay quá bé nhỏ nên không sao ngăn nổi định mệnh của đất trời.”
Và nàng buông thả mình, bập bềnh trong dòng đời, hồn tê dại, sống như để giản dị là có mặt đó. Tình yêu, món quà hằng mơ ước, đã vĩnh viễn trôi tuột khỏi tầm tay.
Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối
Tôi mất thời gian lỡ nụ cười…

Gấm, người đàn bà mảnh mai có bàn tay bé nhỏ, không che được mưa ướt, không ngăn được định mệnh của đất trời, đã gặp gỡ nhiều bất hạnh trong tình yêu và hôn nhân khi bắt đầu chập chững bước vào đời. Nhưng ngay cả trước đó, từ trong gia đình, nàng cũng chẳng được cuộc đời nồng hậu gì cho lắm. Ba đi cải tạo hơn mười năm từ miền Bắc trở về, thể xác lẫn tinh thần tan tác. Chẳng bao lâu giã từ cuộc đời nghiệt ngã và đất nước bị chiến tranh tàn phá. Má xô đám con dại ra đường, hăm hở bỏ đi lấy chồng giàu để thụ hưởng một mình. Gấm đến ăn nhờ ở đậu bà con, bị nhục nhằn xỉ vả. Đến tuổi yêu đương, hôn nhân gãy đổ hai lần. Thì còn lòng dạ nào mà mơ ước tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
Ấy vậy, cũng bởi bàn tay bé nhỏ không che nổi định mệnh đất trời nên định mệnh đã ưu ái “giáng xuống” cho nàng môt món quà vô cùng tuyệt diệu và bất ngờ: một tình yêu kỳ diệu đến từ một người đàn ông kỳ diệu. (Truyện Bàn tay nhỏ dưới mưa được viết dưới dạng thức nhật ký của Gấm).
Lần gặp gỡ đầu tiên: “Và thật bất ngờ. Sau một hồi chuyện trò,chúng tôi khám phá cả hai đều có nhận thức giống nhau về cuộc đời và nghệ thuật / Kiến thức anh uyên bác, giọng anh sang sảng / Anh vô tư và tự nhiên / Một tình cảm nảy nở trong tôi từ sau vài lần gặp gỡ người đàn ông mới quen. Tôi chưa biết nhiều về anh. Chỉ biết anh là cộng tác viên của báo Tuổi Trẻ ”
Giữa ngã ba đường tay hờ gối mỏi
Tôi cầu xin đời ban phép lạ tương lai

Nhưng Gấm không cầu xin mà phép lạ vẫn hiển linh. Chàng đã tới! Và, tuy “chưa biết nhiều về anh” nhưng tình yêu giữa hai người ý hợp tâm đồng cứ tự nhiên tới thôi. Làm sao mà cản cho nổi. Rồi mọi việc dồn dập đưa tới rất nhanh.

“Mới ba tháng quen anh mà tôi như người lột xác (lột là rất phải!) / Càng gặp anh tôi càng yêu hơn, bởi vì anh luôn phong độ. Luôn luôn tinh tế. Nhẹ nhàng. Và đầy trí tuệ. Anh là tất cả những gì tôi tìm kiếm.”
Gặp được “người trong mộng” thì nàng rất phấn chấn và rộng lượng. Có khen túi bụi “phò mã tốt áo” thì cũng là điều hết sức tự nhiên và cũng đâu có sao. “No star where!”. Yêu mà. Cứ khen tiếp thử xem, để coi có còn cái gì “le lói” hơn nữa chăng?
“Anh xem nghệ thuật là cái nuôi dưỡng tam hồn anh trong cuộc đời (nghệ thuật trên hết!) / Anh khuyên tôi đọc sách / Chính anh là người đã mở mắt cho tôi nhìn thấy trong con người còn có sự vĩ đại và đẹp đẽ trong khát vọng mưu cầu điều nhân ái và tốt lành”.
“Nửa đêm nằm thấy ông tiên / Đem cho chén thuốc mắt liền sáng ra!”. Đúng là phép màu trong truyện Lục Vân Tiên. Mở mắt rồi thì Gấm nhìn thấy được tình yêu rực rỡ thì cũng đâu có gì là lạ.
“Lúc yêu và được anh yêu những tế bào từ trong sâu thẳm bỗng dưng chuyển động, nhựa rạo rực trong thân, lá đâm chồi, nẩy lộc, rồi những cánh nhỏ như từ một thế giới vô hình nào đó lặng lẽ đơm hoa: Nó thầm lặng mà hương thơm ngào ngạt tỏa khắp đất trời”.
Điệu này là thơm tho nức mũi! Và ngứa ngáy khắp cả châu thân. Rồi thì dĩ nhiên, việc gì đến phải đến.
“Tích tắc, lớp vỏ băng giá rã tan, phơi lồ lộ một khối than hồng” (Úi chà! Nóng! Nóng!)
Vậy thì còn chờ gì nữa? Hãy thắp sáng lên ngọn nến tình yêu và khơi cao lửa hồng cho đời thêm rạng rỡ.
Ngọn nào đưa lối bình yên
Cho tôi vài giọt về trên tuổi trời

“Mây mưa mấy giọt chung tình”. Cụ Tiên Điền rất lấy làm thích thú! Một khi Gấm đã thắp nến hồng cho tình yêu rồi thì sá gì đêm dài bất tận. Và “đưa lối bình yên” làm sao nổi mà đưa?
“Dần dà, khi biết những bí ẩn cơ thể của nhau, con đường dẫn đến đỉnh cao cảm xúc ngắn dần, nên những lần đắm mình trong say mê tuyệt đỉnh càng dày”
“Thôi anh! Đừng anh!…chết em! ”. Trong tình yêu nóng sốt hừng hực thì nhục cảm là chất keo gắn liền hai thân thể đang lên cơn sốt, càng thắt chặt thêm sợi dây dâm luyến trần tục. Phải, rất là trần tục!
“Tôi ngắm nhìn nó hiền hòa và mềm mại, không hiểu sao mà khi tỉnh thức chỉ cần khẽ chạm là sinh lực cứ bừng lên, hối hả. Từ một khối mềm nó vụt cứng cáp, hăm hở trao nguồn sống dạt dào.” (Ấy, coi chừng nó…cắn!).
Các bà đã đỏ mặt chưa? Và che miệng rủa thầm: “ Cái anh chàng này…” “Cái ngủ mầy ngủ cho ngoan”… Thôi, ngủ ngoan đi nhé! Bởi một khi trót dại dột phá giấc ngủ và làm cho nó “tỉnh thức” rồi là nó sẽ “quậy” tới bến! Mệt! Mệt ngất ngư! “Thôi anh!…” Chịu hết nổi rồi anh!” …
“Tôi run lên, nhìn anh làm đứa bé tham lam háu đói. Hai núm vú như đông đặc khi anh đặt môi vào. Hai bầu vú tôi rạo rực căng tràn sức sống. Cảm giác trào dâng / Anh thường gọi phút giây cháy bỏng đó là hòa quyện… Và với tôi, làm bất kỳ cái gì với anh cũng đều là thiêng liêng hết.”
“Đều thiêng liêng hết? Thiệt vậy chăng? Kể cả…?” Cũng đâu có sao? Nghĩ thiêng liêng là nó thiêng liêng. Nghĩ trần tục thì nó trần tục. Nhưng không có chưn núi thì làm sao có đỉnh núi? Tuy nhiên,tự nó, núi vẫn chỉ là một. “Chưn / đỉnh” là do con người phân chia và bịa đặt. Tại trí tuệ con người nó thích vẽ vời đấy thôi. Thích đặt tên. Dán nhãn hiệu “thiêng liêng / trần tục”. Mọi sự tự nó, vốn là như vậy. “Hoa hòe, hoa sói” là để cho vui vậy mà. Khi yêu nhau hết mình thì mọi cử chỉ, mọi động tác, mọi mơn trớn đều là tự nhiên hết. Có lẽ tác giả định nói như vậy chăng? Chớ gặp điều “thiêng liêng” thì chỉ có nước sụp lạy chứ dám đâu ở đó mà “quậy!”. Bảo đảm “teo” là cái chắc!

Giờ đây đối với Gấm, bếp lửa tình yêu tỏa nóng khắp nơi, thắp sáng con tim khát khao, sưởi ấm chiếu chăn và ái ân cuồng nhiệt. Xa rồi vết tích của những lần đổ vỡ. Xa rồi ám ảnh của bàn tay bé nhỏ xòe ra lạnh buốt dưới mưa trời. Đã xa rồi, xa hết rồi cái thuở…
Thôi tình ái hãy về theo ảo mộng
Ta lỡ đi xa hết nửa đời rồi…
Không hiểu về đâu để cầu sám hối
Tôi đốt lỡ lầm theo với tuổi thanh xuân

Nhưng giờ đây Gấm không còn “thiêu đốt lỡ lầm” nữa. Mà nàng bốc cháy trong tình yêu cứu độ và ái ân ngùn ngụt đến từ người đàn ông nàng rất ngưỡng mộ và hết dạ yêu chìu. Như một tín đồ phàm tục và hệ lụy. Rồi từ trên bục tình yêu đó mà vói tay nắm bắt hạnh phúc thì nó vừa khít tầm tay thôi – khỏi cần phải nhón gót.
Quan niệm hạnh phúc của Gấm được chàng bổ khuyết thường xuyên.
“Dần dà tôi hiểu hạnh phúc không phải là điều gì to lớn mà nó đến từ những điều đơn giản (Chỉ cần bốn mắt “nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời”) / Em biết không, hạnh phúc và bình an là hai điều mà ai cũng cần nhưng không phải ai cũng có. Để được hạnh phúc và bình an cần phải có một tâm hồn, biết chấp nhận cái mình có và thích nghi với điều chưa có. Có khi vì cái “tôi” quá lớn, trình độ càng cao, bi kịch càng khốc liệt. / Nếu giàu sang và quyền thế mà không có hạnh phúc thì giàu có và quyền thế để làm gì? ”
Phải, để làm cái khỉ mốc gì? Nếu quyền uy ngất ngưởng và tiền chất đầy kho mà vợ vẫn ngoại tình và con vẫn thi rớt đều đều thì chỉ có nước thắt họng. Há người xưa đã chẳng từng răn đe : “Tiền bạc không làm nên hạnh phúc” hay sao? Tuy nhiên,tưởng cũng cần cập nhựt và bổ túc: “Tiền bạc không làm nên hạnh phúc của những ai… không có tiền”. Giả dụ như đang bị nợ đòi mà mà bỗng dưng trúng số độc đắc (nhờ chó dắt!) thì gẫm ra cũng là đỡ khổ lắm lắm! Nhưng đó là chuyện bên lề, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Bởi lẽ trong giây phút này, Gấm đang nằm trong đám mây hồng, nhẹ hẩng, lâng lâng, bay hoài không chạm mặt đất.
“Tôi sung sướng lắm. Thế mà trong đêm khi giật mình thức giấc, mắt tôi bỗng rưng rưng. Tôi khóc. Tình yêu của anh làm tôi khao khát cuộc sống biết bao! Tôi muốn hét to cho mọi người biết là tôi đang hạnh phúc!”
“Ấy ấy! Xin quý vị vui lòng vặn nghe nhỏ bớt, để khỏi làm phiền hàng xóm đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi” : Rồi từ niềm sung sướng vô biên và khao khát sống vô độ, Gấm suy gẫm về hạnh phúc, về con người, về định mệnh đời mình.
“Nhưng định mệnh đã chọn tôi về nhà đúng vào phút giây lịch sử (để gặp gỡ chàng). Xin cảm ơn đời, vì chỉ một phút thôi đã làm thay đổi số phận của cả một đời người”.
Ôi, thiêng liêng thay khúc quanh lịch sử! Trong cuộc đời mỗi người chúng ta, khi ngó lại, chắc ai cũng chiêm nghiệm ra những phút giây kỳ diệu, những duyên cớ nhỏ nhặt, chỉ một tình tiết bất ngờ, mà rồi cả đời mình hoàn toàn rẽ hẳn sang một ngõ khác. “Nếu như, nếu như…”.Phải, nếu như… Làm sao mà giải thích? Chỉ còn biết đổ thừa cho “định mệnh”. Nhưng nếu mạng số khiến xui hạnh ngộ thì sống chung lại không phải là điều dễ dàng chút nào.
“Tôi “ngộ” ra rằng chung sống, hạnh phúc chỉ bắt nguồn từ sự thích hợp. Thích hợp và chia sẻ là điều căn bản, nếu thiếu nó thì không có vẫn hơn”.
Nên hiểu là “thà đừng sống chung vẫn hơn”. Giây phút “ngộ” ra được chân lý này, chắc là đỉnh đầu Gấm phựt sáng rạng ngời (le lói!). Suy gẫm này không có gì mới lạ, nhưng nó vẫn đúng. Lại càng đúng hơn với Gấm và chàng giờ đây. Nhờ vậy, hai người đã đồng thuận, cùng nắm tay nhau mà vượt qua hết mọi chướng ngại.

“Trong thời gian chung sống, chúng tôi cùng cười trong khổ đau,khóc trong sung sướng,hay quằn quại trong nỗi đam mê tột cùng mà người ngoài cuộc không dễ gì hiểu được. Bởi yêu một lúc rất dễ,yêu trọn đời lại không dễ chút nào.”
Tưởng dễ ợt à? “Đừng có tưởng bở mà giỡn mặt!”. Ngã té dài dài và ly dị rụp rụp. Chứng cớ, Gấm đã ly dị hai lần. Và ngó quanh, thiên hạ đua nhau xé toẹt tờ giá thú đều đều, bất kể sang hèn, bất kể trình độ, bất kể cấp bằng, bất kể ngu muội hay thông minh! Kéo nhau ra tòa xé cái rột rồi là “bái bai!” “Anh đi đường anh, tui đường tui / Tình nghĩa đôi ta nó tối thui!” Chung đụng lâu dài với người tình, Gấm cũng “ngộ” (chóa lòa!) thêm rằng hạnh phúc nằm trong sự chấp nhận : Chấp nhận cuộc đời, chấp nhận kẻ khác, chấp nhận người mình yêu với tính tốt lẫn tật xấu của chàng. Như một anh bạn làm thơ đã khuyên nhủ :
“Khi đã chấp nhận chia sẻ với nhà văn, em phải chuẩn bị tâm lý vị tha, độ lượng và chịu đựng. Và cũng nên biết rằng chịu đựng một anh nhà văn thật khó. Tính khí của họ vừa người lớn, vừa trẻ con, có lúc họ cực kỳ tinh tế, cũng có lúc hồn nhiên đến vô tình.”
“Nhà văn” nói đây cũng có thể là chính tác giả: Trương Văn Dân! (Phải chăng?) Cho nên mới đi guốc trong bụng thiên hạ như vậy. Nhà văn càng “nhớn” thì khó khăn càng “nhớn”. Thêm nữa chàng lại còn hay “quậy” tơi bời. Thiệt là chịu đời không thấu! Ấy vậy mà Gấm chấp nhận được hết. “Thương nhau cởi áo cho nhau” (rồi tới gì nữa?) thì sá gì những cái “zở hơi” của nhà văn với lại nhà vẽ.
Một khi đã lụy vì chàng đứt đuôi con nòng nọc thì đôi lúc lại càng thấy những cái “zở hơi” của nhà văn vui vui và tràn ngập duyên ngầm. Chàng lại vốn có dòng máu “con nít” trong người nên chỉ cần “chìu anh tí”, rồi bỏ lên võng vừa lắc lắc vừa ru nhè nhẹ là xong ngay. Không tin cứ thử đi thì biết. Nhà văn TVD đã quá rành sáu câu! À, dặn hờ là nếu gặp nhà văn nhớn thì ru nhớn hơn một tí, còn nhà văn nhỏ thì chỉ cần ru khe khẽ thôi, cũng đủ, “À ơi..cái ngủ mày ngủ cho ngoan…”
Nhân nói về nhà văn, đây là quan niệm và cách viết của người tình của Gấm và cũng có thể là của chính tác giả (hết chối?).
“Đọc anh để thấy rằng giữa cuộc sống thật giả lẫn lộn hôm nay, đâu đó còn có những con người hồn nhiên, sống đơn giản, nhưng say mê đi tìm cái đẹp để viết những trang văn chứa đầy cảm xúc. Những trang viết của anh không sa đà vào cái tủn mủn, tung hô cá nhân hay ca tụng cái riêng tư không đại diện cho bất kỳ ai. Anh viết như dâng tặng tấm lòng mình cho người đọc, như chia sẻ tâm tư, như giải bày tâm sự hay mời gọi mọi người cùng suy ngẫm”.
Người đọc nhận ra phong cách viết này trong suốt tiểu thuyết BTNDM của TVD – ngoại trừ những trang phơi bày các “vấn nạn” thời sự. Điểm son cho môt ngòi bút có tấm lòng.

Cuộc chung sống giữa Gấm và người tình trôi qua đằm thắm. Rồi năm tháng qua mau, tiết thời thay đổi, trời đất chuyển mùa…
Và lá mùa xanh cũng đỏ dần
Còn đầy niềm hối tiếc thanh xuân
Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng
Và nỗi tàn phai gõ một lần…

Và một lần nữa, bàn tay định mệnh lại đến gõ cửa trái tim nàng. Nhưng lần này để báo một tin dữ: Gấm bị ung thư !
“Bác sĩ bảo phải chụp X quang. Xét nghiệm sinh thiết: Ung thư phổi. Tình trạng không thể dùng phẩu thuật để cắt bỏ ! / Dường như cánh cửa nhân sinh vừa khép. Như nắp quan tài vừa ập xuống. Cả thế giới tối sầm.”
Cánh dơi đen mun của định mệnh vừa úp chup xuống cuộc tình đang lên men nồng thắm. Gấm sẽ nhắm mắt, sẽ ra đi vĩnh viễn, bỏ lại người tình bên bờ tử sinh, bơ vơ một mình.
“Tôi vô cùng hoảng hốt / Toàn bộ thần kinh sẽ không còn hoạt động. Thể xác tôi sẽ biến thành một khối thịt xương vô cảm và thế giới hữu hình này sẽ vĩnh viễn khép lại/ Một cơn lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi khẽ rùng mình. Mình sắp phải chết ư?”
Trong cơn trốt của ung thư tàn độc và hốt hoảng cực cùng, đầu óc Gấm quay cuồng với những hình ảnh và ý định dầy đặc bụi mù:
“Linh tính cho tôi biết người đàn ông dù rất yêu tôi, nhưng cũng hải sợ hãi khi chạm phải hình thù móp méo. Cơn mê tình đã chấm dứt / Phải đi ngay, đi ngay! Thà chết dần chết mòn ở một xó xỉnh nào đó còn hơn để những người thân yêu phải sợ hãi / Ý nghĩ giải thoát ấy ám ảnh tôi suốt mấy ngày liền. Trong mấy ngày ròng rã ấy, không có ngày nào mà tôi không nghĩ tới chuyện quyên sinh”.
Nhưng chính trong những lúc chìm xuống tận cùng đáy tuyệt vọng, người ta bỗng chợt ngó lại đời mình, đặt câu hỏi về cuộc đời, về cái chết, về kiếp người,và tìm lời giải thích.
“Căn bệnh này là dấu mốc để mình nhìn lại mọi việc. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa cuộc đời / Hãy chấp nhân cả cái được, cái mất, và trân trọng những gì mình hiện có / Vì dù cuộc đời có nghiệt ngã đến đâu, chỉ cần hai kẻ yêu nhau cũng đủ làm nên kỳ diệu / Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí. Ý nghĩ đó làm tôi chợt nhận ra cuộc đời còn rất đẹp.”

Trong cuộc sống hằng ngày ít ai để ý tới những điều rất tầm thường đang xảy ra quanh mình, như một sự lập lại nhàm chán. Nhưng khi biết mình sắp rời bỏ tất cả để ra đi vĩnh viễn, những cái tầm thường và nhỏ nhặt đó bõng nhiên trở nên mầu nhiệm lạ thường. Bởi lẽ, chính những cái nhỏ nhặt tầm thường hằng ngày đó mới làm nên đời sống. Còn những thứ mà người ta cho là quan trọng và đeo đuổi, thường khi chỉ là vọng chấp viễn vông. Tác giả đã tinh tế cảm nhận được điều này qua giác quan bén nhạy của Gấm đang lúc cận kề cái chết.
“Trong giây phút đó, mọi việc sáng tỏ hơn bao giờ hết. Tôi dụi mắt nhìn dòng sông, cái nhìn mở rộng đến những hàng cây dọc hai bên bờ,những mái nhà lô nhô cạnh những con lạch uốn quanh gần đó và những tia khói màu xám trên những mái nhà, tôi còn nghe tiếng gà táo tác đùa với con trong ổ. Tất cả, tất cả đểu vươn lên một sức sống kỳ diệu / Chỉ trong giây lát mọi nỗi đau khổ bỗng nhẹ nhàng hơn / Tôi lấy lại bình tĩnh. Và cười khan. Ừ, bệnh. Ung thư thì đã sao?”
Chẳng có gì là bí mật. Mọi việc vốn sẵn có đó từ đời đời kiếp kiếp. Chỉ cần để ý một chút ta sẽ nhận thấy. Và mầu nhiệm sáng tỏ ngời ngời. Như trẻ con khám phá và phát hiện từng điều mới, từng việc mới mổi ngày. Rồi thích thú cười vang lên mừng rỡ, ánh mắt rực sáng rạng ngời. Tiếc thay, khi lớn lên mỗi người chúng ta dần dần làm nhạt phai, rồi cuối cùng đánh mất đi “tấm lòng con nít!” – nhưng cũng không hề hay biết là mình đã đánh mất thiên đường tuổi nhỏ.
Sau lần nhận thức sự kỳ diệu trong những thứ hết sức tầm thường, tâm lý Gấm biến chuyển rõ rệt.
“Tâm trí tôi thời gian này có những ý nghĩ mâu thuẫn. Biết cuộc đời đang bị rút ngắn, nhưng tôi lại thấy xung quanh mình cái gì cũng sáng sủa tươi đẹp.Tất cả chỉ gợi trong tôi lòng ham sống chứ không sợ hãi.Những lúc soi gương, tôi ngạc nhiên trước vẻ mặt bình thản của chính mình.Tôi không sợ chết! / Cảm nhận về cái chết đã đến với tôi từ rất nhiều ngày. Có lẽ là vì thế mà từ lâu, tôi cảm nhận là bên cạnh mình, bên trong mình, luôn có một sự hiện diện vô hình”.
“Cái gì cũng sáng sủa tươi đẹp”. Tâm trạng này khiến chúng ta tự hỏi: “Có phải đến lúc đứng bên bờ tử sinh, Gấm mới tìm lại được “tấm lòng con nít?” Như thế là nàng chưa kịp chết đi mà đã tái sinh với đôi mắt đầu đời hồn nhiên, trong trẻo, chưa bị trí tuệ và đời sống làm cho mịt mờ, ô nhiễm.
Lành thay! Lành thay !
Với Gấm, sống chết gần như không có lằn ranh rõ rệt. Trạng thái “Bất sinh, bất diệt”, không sinh ra cũng không chết đi. Từ cái sống nẩy mầm cái chết. Từ cái chết xuất hiện tái sinh. Một dòng liên tục, không khởi đầu, không chấm dứt, trong đó chỉ có sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Rồi hóa thân. Một cách khác, nhà Phật gọi đó là luân hồi. Nỗi khiếp sợ cái chết phát sinh từ mê muội. Một khi đã tỉnh thức và hiểu ra rồi…

Tuy nhiên, những giây phút tươi đẹp đó chỉ là những tia lóe chớp (mà Gấm gọi là “ngộ”?) trong tâm lý mình. Khi cơn đau đớn ngất trời của ung thư kéo về hành hạ, lúc nhìn bàn tay mình đang khô héo dần, tóc hết sinh khí rụng rơi tan tác…Gấm không khói hồi tưởng và thương tiếc những ngày tháng êm đềm nàng tắm gội trong bình yên và hạnh phúc.
Tôi làm con gái
Một lần qua đây
Rồi không trở lại
Ôi mùa xuân này!

Người đàn ông kỳ diệu đã cứu thoát nàng khỏi ngục tù của hai lần thất bại cay đắng đầu đời và đưa nàng về nôi hạnh phúc của tình yêu.
“Anh đã giải thoát tôi khỏi những mặc cảm, xóa bỏ mọi ức chế tâm lý và đẩy cảm xúc thăng hoa / Anh đã đến chẳng những chỉ lối mà còn nắm tay tôi dắt lên cõi thiên đường, đóng lại cánh cửa thông ra địa ngục. Đó không phải là điều vĩ đại mà một người đàn ông có thể làm cho người yêu của mình sao?”
Giờ đây, sự đau đớn thể xác và phai tàn nhan sắc không khiến cho Gấm cảm thấy mình càng lúc càng tách xa người tình. Trái lại, Gấm càng lúc càng tha thiết, càng lúc càng luyến lụy chàng hơn.
Tôi làm con gái
Một lần yêu người
Một lần mãi mãi
Bây giờ chưa thôi

Dĩ nhiên, trong cơn bịnh ngặt nghèo, tâm lý Gấm không thể nào ổn định. Cũng dễ hiểu: Nàng sa mình vào trầm cảm,đầu óc không ngừng dao động chập chờn từ cái chết sang cái sống, từ cái sống sang cái chết. Nàng muốn hiểu. Muốn nắm bắt một chân lý nào đó trong cuộc tử sinh. “Sống để làm gì? Chết rồi sẽ ra sao? Tại sao mọi việc phải là như thế ? Có bí ẩn gì ở đằng sau cái sống, cái chết?”. Sự dằn vặt trí tuệ đưa Gấm đến những nhận định có tính cách triết lý về đời sống và cái chết – những nhận định phảng phất hương vị thiền môn và hoa thơm đất Phật. Tất nhiên, những suy tưởng của Gấm cũng phản ảnh gần như trung thực cái nhìn về đời sống thế tục và tâm linh của tác giả – của Trương Văn Dân. Tác giả đôi khi còn lên tiếng hộ cho người tình, xen lẫn những suy tưởng riêng tư của Gấm.
“Em nên nhớ rằng đời sống không phải là một cuộc chạy đua. Nó là một cuộc hành trình mà chúng ta cần biết sống cho hiện tại, tận hưởng và khám phá. Điều quan trọng là suốt cuộc hành trình là chúng ta luôn có hạnh phúc.”
“Lúc thức dậy, tôi thấy mình nằm tong vòng tay anh.Tôi có cảm giác mình sẽ không thể chết. Bởi tình yêu mầu nhiệm có thể chữa lành mọi thứ, có thể cản ngăn những tế bào phát triển. Kể cả ung thư.” (Hơi quá lạc quan đấy! Tuy nhiên, nàng đang bay bổng trong tình yêu mà!).

Cũng có những bận tư tưởng Gấm chợt thăng hoa và bay bổng lên như thế. Những lần đứng trước cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ, kỳ tuyệt, ngắm nhìn màu sắc lộng lẫy biến hóa khôn lường, cảnh tượng bày ra rồi xóa đi chậm chạp, như tuân theo một nghi lễ trịnh trọng, trang nghiêm, thần bí, trong đầu Gấm đột hiện lên những chiêm nghiệm bất ngờ.
“Tất cả những cảnh tượng đó chợt làm tôi thấy rõ sự sụp đổ, như sự tan vỡ của ảo tưởng. Và ngộ ra sự trần trụi của phù du. (Đỉnh đầu Gấm lại phựt sáng!) / Mọi phiền muộn lo toan trong đời đều điên rồ vô nghĩa. Tình yêu, khổ đau, bệnh tật, hạnh phúc, tử sinh chỉ là hư ảo”.
Ấy! Tuy là phù du hư ảo mà cái đám nhân loại khốn khổ vẫn không ngớt rên la chói lói lâm ly trên cõi trần gian ô trọc này vì ba cái lăng nhăng đó – khiến cho đức Quán Thế Âm bận lòng không dứt. “Thì rên la chơi cho vui vậy mà? Bộ hổng được sao?”. Coi ba cái lăng nhăng và hệ lụy và khổ đau của nó là hư ảo, thì giải thoát khỏi ba cái lăng nhăng và khổ đau hư ảo đó, gẫm ra, cũng chỉ là hư ảo mà thôi. Có ai dám mơ tưởng giải thoát mây trời? Hoặc giải thoát hình bóng mình dưới đáy nước? Vậy mà vẫn có! “Thì giải thoát chơi cho vui vậy mà! Bộ hổng được sao?” Biết ngộ ra cái gì đây cho nó le lói?
Nào ta mơ ước thiên đường
Niết bàn giải thoát mười phương bồ đề
Kiếp người thuyền quẫn bến mê
Thì ta lạc Sở sang Tề sá chi (*)

(KT)

Cũng có những lần khác đứng một mình trước cảnh vật bị xóa nhòa dần đi trong bóng tối, Gấm buông thả mình trôi nổi bềnh bồng trong dòng tưởng miên man về cái chết sắp tới của mình.
“Mắt tôi nhắm nghiền… Lúc ấy cuộc chơi trần thế sẽ không còn nữa. Đất sẽ mở ra và khép lại. Đưa tôi về với cội nguồn. Thân xác sẽ chuyển hóa và chẳng còn gì nữa. Nhưng nghĩ cho cùng, trước khi mình sinh ra thì hình hài này chẳng có. Còn linh hồn?”
Nói tới linh hồn là nói tới sự vĩnh viễn ra đi, và sau đó. Ung thư là cái chết trước mắt. Gấm đang bị ung thư, chết đi là điều hiển nhiên. Không tránh né được thì thử đối diện nó xem sao?
“Bởi chết thật vô cùng đơn giản. Chết là đi tới đích cuộc đời, không còn tường thành giam hãm. Phía bên kia, trật tự này là ảo ảnh. Dục vọng mê cuồng bí ẩn vô biên. / Cái chết đáng sợ, nhưng nghĩ cho cùng thì bản thân cái chết không đáng sợ bằng nỗi ám ảnh của nó. Và có lẽ sự sợ hãi sẽ mất đi khi ý niệm về bản ngã không còn. Hiểu được tấm thân tứ đại “còn duyên thì hợp, hết duyên sẽ lìa” thì cái chết là một điều tất yếu”.
Lời nói nghe qua như là của môt người đã “ngộ”. Bèn khều tác giả lại mà hỏi lẩm cẩm: “Này ông tác giả ơi! Cái bản ngã không còn thì lấy cái chi mà luân hồi đây?”. Ừ, còn tấm thân tứ đại và cơ duyên nó vòng vo ra làm sao? Có gì phải quan ngại lắm chăng?
Ngại gì sắc sắc không không
Vòng vo không sắc sắc không luân hồi
Gẫm ra chìm nổi cuộc chơi
Gieo theo ngũ uẩn biển khơi đắm chìm(*)

(KT)
Gấm suy gẫm như vậy về cái chết, nhưng còn hiện hữu thì sao?
“Sự hiện hữu,thật ra chỉ là một màn luân vũ của tử sinh,một cuộc nhảy múa của vô thường. Hợp tan, tan hợp. Và những gì sinh ra đều phải chết đi và chí có chết mới được tái sinh. Cái mới nhờ đó mà liên tục. Tiếp nối vô thường. Chằng chịt. Trùng trùng.”
Hiện hữu là một điệu luân vũ? Thì còn chi bằng! “Music, please!”. “Một dòng sông xanh xanh… Tập tập xình… tập tập xình.”..Xin mời nàng hãy cùng ta dìu bước theo điệu luân vũ mà quay cuồng trong dòng tử sinh, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết…không bao giờ ngừng nghỉ. Có đó rồi không. Không đó rồi có. Tiếp nối hoài hoài, Không ngừng. Bất tận..
Lăn trôi triệu cát sông Hằng
Pháp Hoa xuất thế nhập Lăng Nghiêm vào
Thân ta bụi cát trời sao
Chân không diệu hữu vẫy chào tịch nhiên…(*)

(KT)
Sống – Chết? Chết – Sống? Nghĩ tới nghĩ lui. Nghĩ xuôi nghĩ ngược. Thóat ra được chăng? Bỏ chết chọn sống? Bỏ sống chọn chết? Cách chọn lựa nào không tạo ra khổ đau? Gấm đi tới (lại “ngộ”?) một kết luận xem ra rất là… “ba phải” : Anh phải, em phải và tui cũng phải!
“Cuộc đời luôn pha trộn điều may lẫn cái rủi. Xấu tốt đan xen nhau. Mình có muốn trốn tránh hay lựa chọn cũng không thể được. Chỉ có duy nhất một cách là chấp nhận tất cả mà thôi.”
Tuy nhiên, đó là do ý thức rồi mà nói lên như vậy: “Chấp nhận tất cả”. Nói “đón nhận tất cả” có lẽ dễ hơn và đúng hơn là “chấp nhận tất cả”. Bởi lẽ, thông thường đón nhận không có tuyển chọn, nhưng chấp nhận thì có tuyển chọn. Trừ phi “chấp nhận” có nghĩa là “nhìn nhận” mọi việc vốn nó “như vậy” và hiện tại nó có đó. Bắt buộc phải “nhìn nhận” nó như một điều “hiển nhiên” không thể chối bỏ. Chớ thành thật “chấp nhận tất cả” tự trong thâm tâm mình và luôn cả ngoài đời là điều thiên nan vạn nan! Mấy ai làm được? Chúa chăng? Phật chăng? Nếu chấp nhân tất cả, kể cả “tham, sân, si” thì mong cầu giải thoát để làm gì? Có lẽ “ngộ” ra điều này (lại phựt sáng!) nên trong đoạn kết của Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa tác giả đã thay lời Gấm mà kết thúc như một sự đón nhận và chấp nhận hòa giải với đời sống và kiếp người không thể khước từ :
“Chúng tôi tin rằng không có nơi đâu đẹp đẽ não nùng và đáng yêu bằng cuộc sống trên Trái Đất / “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này ( Hermann Hesse)”.
Chủ quan? Lạc quan? Dĩ nhiên, người Trái đất thì yêu thương Trái Đất. Còn người Hỏa Tinh thì yêu thương Hỏa Tinh. Đâu có nơi nào đẹp hơn nơi nào. Thì làm sao có nơi nào đẹp nhứt. Chẳng qua “sống đâu thì quen đó” vậy thôi. Nhưng cũng đâu có sao!” No stars where!”. Đều là cây nhà lá vườn hết cả.Và đáng thiết tha lắm lắm! Rất tốt và rất phải. Rất là đáng để ta yêu. “Cho hun một chút coi!”

Nhưng trước khi kết thúc, phải giải quyết cuộc tình giữa Gấm và người tình như thế nào đây? Cuộc tình đã trót quá nồng nàn khắn khít thì phải kết thúc sao cho có hậu, rực rỡ muôn màu.“Phải chơi cho đẹp!” Và tác giả đã tận tình thu xếp cho đôi uyên ương một màn “cụp lạc” đầy hương vị ngọt ngào và lửa yêu hừng hực
Trên lộ trình miên man dẫn đến ngày cuối, thời gian nhỏ xuống từng giọt. Gấm lơ mơ lặn hụp trong ao hồ kỷ niệm, khi phơi phới hân hoan, lúc tuyệt vọng cực cùng. Xen lẫn những cơn đau đớn thể xác và thức tỉnh tâm thần, Gấm buông thả mình bồng bềnh êm trôi về những tháng ngày ân ái mặn nồng kề cận bên người tình. Ôi ! những tháng ngày yêu dấu!

Chợt tiếng buồn xưa đọng bóng cây
Người đi chưa dạt dấu chân giày
Bàn tay nằm đó không ngày tháng
Tình ái xin về với cỏ may…

Vẫn bàn tay đó, bàn tay nhỏ dưới mưa thuở nào. Bàn tay không che nổi định mạng của đất trời giờ đang sắp buông xuôi vĩnh viễn, không ocèn năm tháng, không còn thời gian.

Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài
Đêm chìm trong tiếng khóc tương lai
Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối
Tôi mất thời gian lỡ nụ cười…

“Đời sống ôi buồn như cỏ khô / này anh, em cũng tợ sương mù…” Tất cả sẽ khô héo dần, nhựa sống từ từ giã biệt. Gấm sẽ trở về với lòng đất, với cỏ may, héo úa, tàn tạ, lòng vẫn còn ân hận, nuối tiếc… “Không! không !’’. Gấm phải lưu lại cho người tình một vết tích cuối cùng đẹp đẽ, cháy bỏng sâu đậm. Để mai sau khi tưởng nhớ đến nàng, hình ảnh đẹp đẽ nồng nàn đó sẽ hiện lên trong ký ức người ở lại. Gấm phải lấy lại niềm kiêu hãnh để đối đầu với nghịch cảnh mà định mệnh đã an bài, không thể nào lẫn tránh. Phải chấp nhận. Nên chấp nhận. Hãy lấy lại niềm tự hào của kẻ tha thiết với cuộc đời này mà sống nốt những giây phút cuối cùng của đời mình. “Em nên điểm phấn tô son lại / Ngạo với nhân gian một nụ cười (TC)”

Với niềm tự hào đó, Gấm sẽ thiết tha dâng hiến trọn vẹn hồn xác mình để lưu lại cho người yêu dấu một ấn tượng tuyệt vời trong tâm tưởng. Để mai sau, biết đâu đôi khi ngồi hiu hắt một mình bên ly rượu vơi đầy, chàng bỗng giật mình, bàng hoàng tê điếng …“Thoáng hiện em về trong đáy cốc / Nói cười như chuyện một đêm mơ../ Xa lắm rồi em người mỗi ngã …(QD)”

Sẽ trọn vẹn hiến dâng chàng một đêm cuối vô vàn mê đắm
Chỉ một đêm thôi.
Mây vắng trời trong đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình…(XD)

“Ánh trăng mờ ảo tỏa khắp phòng khách. Tưởng gió, tôi đang định ra khép cửa thì…kinh ngạc vạn lần : Gấm đang đứng trước mặt tôi, hai tay dang rộng”.

Kể từ giây phút này, tác giả thay thế người tình, trở thành người trong cuộc, chủ động mọi động tác yêu đương. Và mọi chuyện trong đêm cuối cùng diễn ra trong sáng tối mập mờ, huyễn hoặc, nửa mộng nửa thực.

“Ánh trăng như một làn sóng xanh tràn qua song, thả xuống nửa giường một vầng sáng. Những luồng sáng uốn lượn theo từng đường cong trên người Gấm. Thân thể nàng hiện lên như một vũ trụ, có đủ thảo nguyên bát ngát. Đồi núi ngút ngàn. Hương cỏ thơm tho”.
Rồi sự ôm ấp diễn ra. Vuốt ve. Mơn trớn. Âu yếm. Siết ghì…
“Người tôi như bềnh bồng trôi giữa ánh trăng. Tôi ngậm lấy bầu vú của nàng theo bản năng của đứa bé thời thơ ấu vẫn thạo vú mẹ mình / Trong cảm xúc ngút ngàn, Gấm cưỡi lên người tôi. Nữa ngồi nửa quỳ trong một tư thế đặc biệt, cơ thể nàng nhẹ nhàng như bông. Thân hình nàng chuyển động nhịp nhàng trong một vũ khúc cực kỳ mê đắm”
“Tôi ôm lấy Gấm, cả hai tận hưởng dư vị trái cấm trong cảm giác say sưa. Rã rời và buông thả. Hình hài quằn quại như đớn đau, nhưng hoan lạc vươn lên đỉnh điểm/ Bởi phút giao cảm đó là sự tái hợp hai-phần-người bị tách đôi, mãi mãi kiếm tìm nửa phần còn lại của mình”.

Cuộc ái ân hoan lạc kéo dài … Còn nữa, còn nữa, và còn nhiều lắm…Rất nhiều động tác. Rất nhiều cảm giác. Đôi khi như lập lại. Nhưng vẫn chưa đủ. Chưa hết. Chưa chịu kết thúc…
Thường trong một lễ hội lớn đều có màn pháo bông ở cuối mục. Và trước khi chấm dứt, sẽ bừng lên một chùm pháo bông tột điểm, lấp lánh muôn màu, chóa lòa rực rỡ, nhằm tạo ấn tượng tột bậc huy hoàng. Rồi phụt tắt : “Le bouquet!”. Đỉnh này vô cùng vang động rầm rộ, lóe chớp muôn vạn sắc màu. Nhưng cực ngắn. Hầu tăng sắc độ của hồi kết thúc.

Đoán chừng tác giả cũng có ý định cống hiến một màn pháo bông huy hoàng rực rỡ để bế mạc “Lễ hội tình yêu”. Tác giả muốn viết rốt ráo, viết cho đầy đủ hết mọi sắc diện của trận cuồng mê cuối cùng. Màn pháo bông kéo dài trang này qua trang khác.. Bởi lẽ đó, làm loãng đi nồng độ của đỉnh pháo kết thúc : Đỉnh cuối cùng rầm rộ chóa lòa. Nhưng phải cực ngắn! Ấn tượng ghi lại trong lòng người đọc thoáng chớp, mà sâu đậm. Và mênh mang luyến tiếc. Như một tia chớp dữ đột ngột xé trời. Chưa kịp ngắm nhìn. Mà đã hết !
Đọc suốt tiểu thuyết BTNDM, cảm nhận TVD là người có tấm lòng. Nhất là đối với Gấm. Có cảm tưởng nàng là người tình của tác giả. Bởi lẽ đó tác giả có kéo dài màn pháo bông vì Gấm nhiều trang, người đọc cũng cố gắng theo dõi suốt cuộc ái ân cuối cùng trong đêm trăng sáng.
Có cần nói thêm gì về diễn tiến trong tập truyện nữa chăng?

BTNDM là truyện dài phân ra làm 4 chương, mỗi chương mang một tựa riêng – chủ ý của tác giả. Điều này khiến cho độc giả lầm tưởng BTNDM là tập truyện gồm 4 truyện ngắn khi xem mục lục. Phải chờ đến lúc đọc hết sách mới rõ ra đây là một truyện dài liên tục.
Xen kẽ với những trang thực sự viết về cuộc tình của Gấm. tác giả trình bày những vấn nạn cấp bách, thời sự. Như chiến tranh, ô nhiễm, khí hậu, thời tiết, phá hoại môi sinh, cải biến sinh lý, đe dọa diệt vong của nhân loại….Những đoạn này có tính cách nhận định và tham luận. Nếu tác giả tách nó ra và tập trung ở một bài viết khác cũng không làm phương hại đến truyện tình. Đưa vào BTNDM làm ngăn trở dòng chảy liên tục của câu truyện chính mà TVD muốn kể lại với người đọc. Khiến cho người đọc không tập trung được tâm trí mình để theo dõi các diễn biến trong cuộc đời Gấm.

Tuy nhiên đoán chừng tác giả hết sức bận tâm tự bấy lâu nay vì các vấn nạn thời sự cấp bách đó. Không nói ra thì ấm ức. Đành phóng bút phơi bày tất tật, hầu mong sao độc giả ý thức và chia sẻ những dằn vật trong lòng mình. Tác giả hết sức bận tâm về tương lai của trái đất và nhân loại. Trong đời sống hôm nay, mọi người nhắm mắt ùn ùn hùa theo cuộc chạy đua kiếm tiền và phục vụ quyền lợi riêng tư của mình. Gặp được một người có tấm lòng như TVD không dễ. Hiếm. Rất hiếm!

Đọc BTNDM, độc giả sẽ tìm thêm về những vấn đề thời sự cấp bách, cùng những tư tưởng tốt lành của một ngòi bút mới có giá trị nhân bản.

Trở lại đêm trăng nồng nàn cuối cùng của cuộc đời Gấm…

“Nhưng chậm thế nào rồi cũng chia tay”. Cuộc từ ly đến hồi kết thúc.

“Tôi bất chợt ưu tư khi thấy bàn tay nàng lạnh giá. Tôi ôm nàng, hốt hoảng khi thấy hòn than trước đó bây giờ tắt ngúm / Tôi chưa kịp nói gì thì nàng đã tiếp:“ Em mãi mãi yêu anh”: Rồi hai tay nới lỏng vòng ôm. Buông xuôi. Như cành cây bị gãy”.
“Nàng đã ra đi. Đã đoạn tuyệt vòng đời chật hẹp./ Gấm đã chết!”

Bàn tay nhỏ dưới mưa đã thôi che hứng định mệnh đất trời. Và buông xuôi vĩnh viễn để trở về với cát bụi…
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến Hoặc bờ Mê …
( VHC)

KIỆT TẤN

(Bagnolet, ngoại ô Paris
Đêm rằm trăng sáng /10,2013)

· Thơ trong bài này mượn của Nhã Ca.

ĐÊM CỎ TUYẾT

kiettan

Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm
Nằm đêm nghĩ lại nát bầm lá gan.

CA DAO

Tôi dắt Tuyết xuống bờ đê. Mùa gặt đã qua từ lâu, ruộng khô chỉ còn lác đác một vài gốc rạ. Trăng lưỡi liềm kín đáo ngọt ngào. Tình nhân yêu nhau, trăng yêu tình nhân, từ muôn thuở. Nhưng có chắc tôi yêu Tuyết? Còn Tuyết? Có lẽ. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì với tôi lúc này. Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu.

Tôi tìm một lùm cây có bãi cỏ kéo Tuyết ngồi xuống. Trước mặt là con rạch nhỏ. Nước nhiều hay ít, tôi không để ý. Có lấp lánh ánh trăng hay không, tôi cũng không biết. Quanh tôi có dế than rỉ rả, vạc kêu não nùng không, tôi cũng không biết. Tôi chỉ có một mục tiêu duy nhất: Tuyết.

Khi nãy trên đường từ cầu Bắc chạy về, Tuyết bảo tôi dừng vespa, vì nàng “mắc” lắm rồi. Trước đó hai đứa tôi ăn cháo trắng hột vịt muối, uống trà đá ly cối, hèn gì! Tôi còn đang loay hoay dựng xe thì Tuyết đã chạy ù xuống ruộng. Tôi bị kích thích, tim đập mạnh như bước hụt, chới với. Phần nhạy cảm nhất của con trai mười tám tuổi trổi đậy. Chẳng phải riêng tôi. Mấy chiếc xe hơi chạy ngang, thắng gấp, tiếng bánh xe cày trên mặt đường rít nghe ê răng. Không có tai nạn. Cũng may. Khi sắp trở vào thành phố Vĩnh Long, tôi quẹo xe ở ngã ba và trực chỉ hướng Cần Thơ. Tôi đậu xe ở gần ruộng dưa gang và dắt Tuyết xuống bờ đê. Tuyết ngoan ngoãn đi theo, thỉnh thoảng cười rúc rích. Còn tôi thì chẳng thiết gì đến cười nói, thần kinh bị kích thích căng thẳng, có lẽ mặt tôi lúc đó hắc ám lắm. Câu quảng cáo in trên toa thuốc bổ thận chắc cũng đúng đến chín phần: “Phàm một con hai cẩu đến mùa rượng đực, ngày đêm chỉ nghĩ đến chuyện giao cấu, không thiết gì đến ăn uống, nghỉ ngơi… “

Tôi tìm lùm cây khuất, tự mặt đường ngó vào không thấy phía sau. Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào nỗi ám ảnh của mình. Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đóa hoa thầm kín của nàng. Mềm mại, ấm áp, trơn ướt, nhung êm. Mê mẩn, sung sướng, hạnh phúc. Cứ gọi là hạnh phúc, dù tôi chẳng có định nghĩa nào về hạnh phúc. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với đóa hoa thầm kín của đàn bà thân mật, chi tiết và trọn vẹn đến như vậy. Cả người tôi cháy thành một khối cảm giác đê mê. Tôi đã biến mất.

Sau cơn cảm xúc mãnh liệt, tôi vội vã, hấp tấp. Tôi loay hoay, luống cuống, bộp chộp. Tôi trật ngã, thiếu chút nữa lăn tuốt xuống rạch nước. Tuyết kịp nắm vai áo tôi giữ lại. Tôi nằm bẹp trên người nàng, hùng hục, hổn hển. Ngay lúc đó trời có sập đề tôi chết tốt tôi cũng không màng. Tôi ôm nàng cứng ngắc. Tuyết lầm thầm: “Anh làm gì… dữ.. . vậy… gì dữ vậy?” Tiếng nói nàng đứt quãng theo nhịp của tôi. Còn phải hỏi! giá mà lúc đó miệng anh rộng đến có thể nuốt chửng được em thì anh cũng nuốt tuốt tuột cho đã cơn dục tình.

Và cơn dục tình của tôi đã được thỏa mãn. Khi đó tôi mới nghĩ đến hôn nàng. Tôi áp môi trên má nóng hổi của Tuyết và hít chùn chụt. Nàng vuốt ve lưng tôi và trách mát: “Anh này đồ quỉ! Đã chưa?” và nàng cười rúc rích. Tôi ngồi dậy. Ánh trăng mát mẻ trên thân thể nàng thật tuyệt vời và hấp dẫn. Mùi ân ái còn thoang thoảng. Tuyết hối tôi:

– Thôi mình đi về, không có chị Tư chỉ la em. Hồi nãy xin phép đi có một giờ mà đi quá mạng, hết lên Cầu Bắc rồi lại ghé đây.

Tôi cố tình chọc Tuyết:

– Em nóng ruột thì ra đón xe đò về trước đi.

Nàng la:

– Đồ quỉ! Thôi đừng có cù nhây, đưa em về sớm, mai mốt chị Tư còn cho đi chơi. Tối nay thứ bảy đông khách mà quán chỉ có mình chỉ với con Liên, lo hổng xuể.

Tôi vừa cặp xe vào hông quán, quả nhiên chị Tư Tùng đã cất tiếng:

– Dữ thần hông! Đi đâu mà mất biệt làm chị lo muốn chết. Cậu chở nó đi đâu vậy?

Tôi phịa đại:

– Thì cũng chạy gần gần đây thôi. Nhưng hồi nãy lên tới cầu Tân Bình thì xe bị bể bánh…

– Thôi cậu đừng có nói dóc. Cái tuồng đó tôi rành quá mà!

Rồi chỉ vào bánh xe sơ-cua gắn trên chiếc vespa, chị hỏi:

– Vậy chớ cái gì đây? Còn mới tinh mà nói bể.

Tôi giả lả:

– Thôi mà chi. Em biết trễ sợ chị la nên nói gỡ gạc vậy thôi, chị thông cảm.

– Ai mà dám la cậu. Mà thôi mấy người cũng lớn rồi muốn làm gì đó thì làm. Hồi nãy tui sợ không biết có tai nạn dọc đường gì không mà đi lâu quá, cả hơn hai tiếng đồng hồ nên mới nói vậy… Cậu cũng biết tui thương con Tuyết lắm, coi nó như em ruột, gia đình không có nên…

Lúc đó khách quen tới, chỉ đon đả chạy ra chào khách. Tôi thừa dịp thoát thân, chạy qua phía bên kia quán, kéo ghế ngồi ở bàn đặt cạnh bờ sông. Gió từ bên cù lao An Thành thổi qua mát mẻ. Những giề lục bình chỉ còn là những khối đen lững lờ trên dòng nước. Nhìn Tuyết chạy lăng xăng khui nước, chặt dừa, xay rau má, lòng tôi tràn đầy hạnh phúc và thương mến. Thỉnh thoảng nàng liếc tôi và cười ỏn ẻn, đồng lõa. Chập sau nàng đem tới cho tôi một ly cối nước cam-sô-đa với hai tròng đỏ hột gà lờ đờ, nàng nói:

– Anh uống đi, bổ lắm!

– Bổ là có chuyện nữa!

– Đồ quỉ!

Chị Tư cưng Tuyết cũng phải. Nhan sắc nàng cũng đại khái thôi, nhưng thịt da mơn mởn dễ nhìn, cười lúm đồng tiền có duyên tuy hai răng trước có kẽ hở. Nàng hay cười nói vui vẻ nên kéo khách cho chị Tư cũng bộn – trong đó có tôi. Khi đó tôi vừa đậu xong tú tài đôi, về Vĩnh Long nghỉ hè. Ban ngày tôi họp bạn đánh đàn hoặc đi thăm người yêu nữ sinh, hoặc ngủ li bì. Ban đêm tôi la cà . Chị Tư thì tôi biết từ hồi còn học đệ tứ, thuở tôi bắt đầu mặc quần đa-cờ-rông láng coóng, thắt dây nịt nhỏ, chải đầu trét bi-dăng-tin và đi giầy mỏ vịt. Hồi đó xuống quán là để uống nước dừa, ăn cơm gà rô-ti, tán dóc với bạn bè và theo dõi đàn anh tán gái để chờ ngày xuống núi hành đạo (hay hành lạc?) . Nói quán nghe rườm rà chớ thiệt ra đó chỉ là một cái chòi bằng thiếc khi giương thì mở ra bốn phía, khi sập xuống thì kín mít. Tuyết nằm ngủ bên trong với Liên, trên một diện tích khoảng hai thước x hai thước. Quán nằm phía cuối chợ cùng với ba quán khác, hai quán bán cơm, một quán bán nước cạnh tranh với chị Tư. Bàn ghế bắc xung quanh quán, không có vị trí nhất đinh. Tôi thường xuống quán rà rà để được ngửi mùi nem nướng hay thịt bò xào. Mùi thơm ngọt ngào sực nức, khói tỏa mịt mù và thú vị biết bao! Tôi không ăn vì sợ ăn sẽ đâm ngán cái thú ngửi mùi đó. Tôi như một cô hồn thưởng thức đồ cúng. Tôi hạnh phúc mà không hay, có lẽ nhờ vậy mà hạnh phúc. Khi hay, hạnh phúc tan biến.

Sống như con nít ngây ngô, ngơ ngác, lúc nào cũng khám phá, khám phá nào cũng tuyệt vời. Tôi khám phá đàn bà như con nít trước một rương đồ chơi bí mật. Lắm lúc tôi cười, nhiều khi tôi khóc. Tôi mê đàn bà, tôi tội nghiệp tôi, thằng ngốc tử. Tôi tội nghiệp các nàng đã trót yêu thằng ngốc tử.

Dĩ nhiên nếu chỉ ngửi thôi thì làm sao sống nổi. Tôi cũng có ăn. Tôi khoái nhứt món hủ tiếu “đầu trọc”. Không phải ăn rồi là rụng tóc trọc đầu, mà bởi món này do một ông chệt đầu trọc gánh đi bán dạo, gõ nhịp lắc-cắc-cụp trên hai miếng tre ngắn đã lên nước. Hủ tiếu khô của ông có nước xốt gì nâu nâu sền sệt chan lên ăn là hết xẩy. Xế trưa tôi một tô, Tuyết một tô, ních vô là thấy hạnh phúc nằm trong tầm tay, đâu cần gì phải đi hành hương xa xôi trắc trở. Lại thêm giọng cười rúc rích của Tuyết giữa trưa nắng rạng rỡ miền Nam, với ngần ấy thứ mà không ngửi thấy hạnh phúc thì dù có tu chín kiếp cũng coi như huề cả làng. Chị Tư không thích hủ tiếu nên thường làm một tô mì hai vắt, cũng mì khô có nước xốt mầu nhiệm đó chan lên. Chị buôn bán nhưng tánh chị thật thà. Da chị ngăm đen, môi dầy, mũi lân và. . . đa tình. Tụi tôi biết vậy nên dụ dỗ kép Thế xuống quán. Kép này là một tay tứ chiếng giang hồ lấy đĩ làm vợ, cao lớn đẹp trai, có nụ cười lém như Gene Kelly. Chị Tư chíp lắm. Mà khi chị đã chịu đèn rồi thì tụi tôi dễ bề làm ăn với Tuyết và Liên. Có quá quắt thì chị cũng làm ngơ. Có chở đi quá giờ thì chị cũng xí xóa. Dẫu giận mấy, có “anh Thế” xuống là xong ngay. Thành thử tôi cũng được rảnh chưn rảnh tay “một mình thong thả mần ăn, khỏe quơ chài kéo mệt quăng câu dầm… “

Lúc đầu tôi xuống quán bên kia. Một tối Tuyết ngó tôi nheo mắt cười tình mấy cái là tôi di cư luôn qua quán chị Tư. Tuyết làm bộ hỏi:

– Anh ghé chơi một chút rồi dọt qua bên kia hả?

– Không, anh lấy cơm tháng ở đây luôn.

Nàng cười rúc rích:

– Anh giỏi tài ba xạo!

Tôi cũng chỉ biết nhăn răng ra cười trừ. Rồi tôi tán tỉnh Tuyết ra sao tôi cũng không nhớ rõ. Tôi vốn đã ít nói. Mà cuộc trao đổi văn nghệ giữa một cậu tú mới toanh và một em bé bán nước dừa chắc cũng không có câu nào đáng đi vào văn học sử. Nhưng hai đưa cũng khắng khít nhau ra rít, đâu cần gì phải vô vọng cổ hay thao thức viết thư tình.

Có lần tôi tò mò hỏi Tuyết:

– Em có yêu anh không?

– Em hổng biết, nhưng em khoái anh!

– Khoái ở chỗ nào?

– Tại anh có hàm răng bẹt-lông, cười có duyên thấy ghét.

Perlon là hiệu kem đánh răng đang được quảng cáo thời đó, với một nụ cười duyên dáng và hàm răng đẹp. Tôi có ngó vô kiếng cười thử, thấy răng mình to và hơi gie ra đằng trước, không có gì đáng ca ngợi. Anh tôi bảo mày hô ống điếu (?) nên cười có duyên ngầm (?). Chắc tại tôi có cái duyên “ống điếu” nên Tuyết đâm mê.

Còn tôi, tôi thèm muốn Tuyết. Yêu? Gọi thế nào cũng được, có đặt tên cho tình cảm hay không thì nó cũng vậy thôi. Riêng tôi, tôi không quan niệm tình yêu mà không có tình dục. Nếu ép tôi bỏ bớt một thứ, có lẽ tôi sẽ giữ lại tình dục. Tôi thường ngạo mấy cô tình nhân khi nàng từ chối tình dục: “Em yêu anh bằng linh hồn còn xác thịt em để cho người khác? Nếu vậy hãy cho phần thứ hai anh trả lại em tình yêu.” Kết quả tôi lại bi rầy: “Anh khôn thấy mồ ?” (Té ra yêu bằng linh hồn là ngu lắm sao . ) Tôi bị rầy là nàng đã hiểu. Xong. Thành thử tôi chỉ có một tình yêu duy nhất không có tình dục, đó là lúc tôi học tú tài một ở Mỹ Tho và yêu Hoa. Không phải tôi thánh thiện mà vì lúc đó tôi chưa thành quỉ. Chưa gặp dịp có lẽ.

Cùng lúc dâm lụy với Tuyết, tôi lại thánh thiện với Ánh, người yêu nữ sinh. Tôi tới nhà Ánh ngồi chơi, rất mực là thư sinh ngoan ngoãn. Nói chuyện gì tôi cũng không nhớ rõ. Nhưng nghĩ cũng phục tôi luôn. Nói gì mà nói nhây hàng giờ, ngày này qua ngày khác, mà không sờ mó mân mê gì cả. Phục lăn. Nhưng xét ra cũng chẳng có gì đáng phục. Tôi đã no nê dục tình với Tuyết, hơi sức đâu mà mơ ước chuyện gì khác. “Phàm một con hải cẩu… ” nhưng tiếc thay tôi chưa bằng được con hải cẩu. Tôi chẳng bao giờ hẹn Ánh nơi chốn tối tăm nào khác bên lùm bên bụi hay (người hẹn cùng ta đến) bên lùm chuối…

Mỗi tuần tôi phải dắt Ánh đi coi phim Ấn Độ một lần, với bà má vốn mê phim Ấn Độ. Tôi thường bẻ một chùm bông thiên lý đem theo. Khi trên màn ảnh hoàng tử và công chúa bắt đầu nắm tay nhau ca múa và lắc lắc cái bụng là tôi ngủ gật với mùi thơm ngầy ngật của hoa lý ở đầu mũi. Nhưng tôi được an ủi lúc ra về. Ánh theo má đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Trăng lên cao, ngọn dừa dật dờ lấp lánh, dáng Ánh gầy gầy, bóng Ánh ngã trên đường nhẹ hổng như vết chim bay. Tôi nghĩ nàng chỉ cần đập cánh là có thể bay lên trời, bỏ tôi lại cõi trần gian dâm dật này cho Tuyết với đôi mông trắng hếu. Có lẽ tôi sẽ khóc, nhưng rất bằng lòng. Tình thực tôi cũng chẳng giấu diếm gì Ánh. Tôi nói tôi ngủ với mấy cô bán quán. Ánh không tin và cho rằng tôi nói vậy để lấy le. Đến một hôm, Ánh bắt gặp tôi chở Tuyết chạy ngang nhà, nàng mới bắt đầu ngờ vực là tôi nói… thiệt.

Mà trong cái tỉnh nhỏ xíu này, đi một vòng là gặp nhau hết, nói gì đi quanh quẩn năm này tháng nọ. Một đêm gần Tết, tự nhiên Tuyết nổi hứng thay áo dài mới xanh lè quê một cục, nhứt quyết đòi tôi chở đi chơi. Tôi thấy Tuyết vui nên cũng chiều ý. Tôi chạy lòng vòng lạng quạng. Bỗng Tuyết đòi đi nhà thờ gần cầu Cái Cá. Nhà của Ánh ngay dưới dốc cầu. Tôi bấn quá, mà từ chối sợ em buồn. Tết nhất rồi, ai nỡ làm vậy. Nhưng lỡ Ánh bắt gặp, chạy ra níu áo rồi mới tính sao đây? Di nhân nan ! Di nhân nan ! Gần tới cầu tôi nảy ra sáng kiến (nhờ ơn trên?). Tôi khóa ga xăng giả bộ xe lên dốc không nổi. Tôi bảo Tuyết xuống và đi bộ qua cầu vô nhà thờ trước chờ tôi. Chùi bu-di xong xe sẽ vọt ngon lành như trước, tôi qua sau. Tôi rất ghét nói dóc. Nhưng nói dóc với Tuyết tôi không thấy lương tâm bị cắn rứt một chút nào hết.

Tuyết bỏ gia đình đi hoang năm mười sáu tuổi. Tuyết cùng một tuổi với tôi. Gia đình Tuyết ở Gò Công. Tôi không rõ lý do ra đi của nàng, hay nàng đã kể rồi mà tôi không nhớ. Tôi cũng chẳng để ý. Ôm được Tuyết, vật với Tuyết trên bờ cỏ đối với tôi là quá đủ. Nếu có ai dọa sao chổi xẹt xuống làm tan băng hà ở Bắc cực, nước sẽ dâng lên cao ba thước khắp địa cầu, tôi cũng coi như pha. Chỉ cần bụi cỏ đen và đôi vú trần của nàng, kỳ dư tôi chẳng ăn nhập gì với quả đất quay nhanh hay chậm. Tôi là một vệ tinh vô danh tiểu tốt quay xung quanh ngực và mông nàng, quay điên cuồng và hạnh phúc. Cho đến ngày nổ tung trên trục quay hay cho đến lúc tôi lạc quỹ đạo đâm sầm vào hành tinh mẹ và cả hai đều bốc cháy tan tành, trả lại bụi sao cho ngân hà, cho nguyên thủy, cho thuở khai thiên lập địa, không có âm không có dương, không có tôi không có nàng, không có đam mê không có dâm luyến, tôi với nàng chỉ là một. (Bởi duyên cớ nào khiến ta thành hai?)

Khi trước tôi ở nhà má tôi, gần rạp hát. Mùa hè năm đó tôi dời đô về nhà ba tôi ở dốc Cầu Lộ cho dễ bề hành hiệp. Nhà ba tôi là một tiệm mộc nên giường chõng tha hồ. Đi chơi khuya về thấy mùng giăng sẵn, dở lên không thấy ai là cứ chun vào ngủ. Tối tối tôi đi đón Tuyết về. Có lúc trời nóng gặp ba tôi còn ngồi ngoài hàng ba phơi bụng hút ống vổ, nàng khẽ cúi đầu:

– Dạ, chào bác.

Ba tôi cười khì khì đồng lõa, hỏi vớ vẩn:

– Tiết đó hả? Lóng rày bán khá không cháu?

– Dạ khá.

– Cháu khá mà bác coi bộ thằng Kiệt nó hơi xanh.

– Dạ… Tuyết ấp úng.

Tôi đỡ lời:

– Tuyết có cho tui uống cam sô-đa hột gà hoài đó chớ.

Tuyết quay lại la tôi:

– Đồ quỉ!

Một bận tờ mờ sáng chúng tôi còn mê mệt ôm nhau ngủ thì ba tôi lay dậy:

– Mau mau! Vọt? Má mày tới!

Tôi còn đang lính quýnh, ba tôi kéo Tuyết chạy ra nhà sau, giấu nàng trong cầu tiêu. Tôi giả bộ ngủ tiếp. Má tôi (có lẽ ai mét) ập vào kinh lý. Bà dở mùng thấy thằng quý tử say ngủ chèo queo một mình nên yên bụng bỏ ra về. Tôi ra cầu tiêu kiếm Tuyết. Sau hồi chới với chúng tôi ôm nhau cười ngất. Nàng hỏi:

– Sao má anh khó quá vậy?

Tôi vớt vát:

– Chắc bả canh ông già chớ đâu phải rình anh.

– Vậy mà làm em cũng hết hồn.

Ba tôi trấn an:

– Ôi! Hơi sức nào mà lo. Bề gì đã có tao đứng mũi chịu sào. Cùng lắm là bả bắt thằng Kiệt về nhà dưới ngủ, không cho ngủ ở nhà tao nữa.

– Ý! Đâu có được.

Tôi phản đối tức khắc. Nhưng cũng may, mọi việc vẫn cứ diễn tiến như trước, đêm đêm tôi đi đón Tuyết về. Đêm nào tôi ngủ quên thì Tuyết tự động ngồi xe xích lô về. Tuổi mười tám sao hăng quá sức, đêm nào cũng như đêm nấy. Tôi thấy đời tôi quá đầy đủ, không dư không thiếu một chỗ nào. Đôi khi quá hăng say, tôi đã được một anh thợ của ba tôi lưu ý.

– Thầy Sáu ác quá! Cái đi-quăng bữa nay giao cho người ta mà thầy làm sao ố hết trọi, báo hại tôi phải cạo sơn lại.

Rồi anh ta chỉ mấy vết vân vân trên mặt gỗ sơn làm tôi cũng hơi quê, nhưng cũng hãnh diện ngầm (sự hãnh diện ích kỷ của con thú đực).

Một đêm, sau khi rời thân thể Tuyết, tôi lò dò bước xuống giường xỏ đôi guốc định ra nhà sau tè một phát trước khi đi ngủ. Bỗng nhiên trong bóng tối có một bàn tay nắm tôi kéo lại rồi giọng anh tôi rỉ vào tai tôi:

– Mầy để đó cho tao.

Tôi chưa kịp phản ứng thì hắn đã xô tôi ra rồi trèo lên giường dở mùng chun vô. Tôi lớ ngớ đi ra nhà sau ngồi chờ, trong lòng bứt rứt. Có tiếng la ó dẫy dụa. Chập sau anh tôi tuột xuống giường vòng ra sau nhà đi về. Tôi rón rén trở lại bên Tuyết. Nàng nằm quay mặt vô vách. Nàng không nói gì tôi cũng không dám lên tiếng. Tôi thiếp ngủ trong niềm ăn năn và ghen tức lẫn lộn. Khi tỉnh đậy không thấy Tuyết đâu nữa. Tôi nghĩ bụng nếu phen này mà Tuyết bỏ tôi thì tôi sẽ kiếm thằng cha anh của tôi xin tí huyết.

Buổi trưa tôi xuống quán gặp Tuyết đang ngồi ăn cơm với chị Tư và Liên. Chị Tư mời lơi:

– Cậu Kiệt ăn cơm.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi kéo ghế xáp vô bàn ăn liền. Để kiểm điểm, tôi gọi thêm một dĩa phá lấu. Tôi gắp một miếng ngon bỏ vào chén cho Tuyết. Tuyết cũng gắp lại cho tôi một miếng và cười rúc rích. Tôi biết như vậy là huề. Tôi được thể kể thêm chuyện tiếu lâm cho mọi người cười cho vui bữa.

Ăn xong Tuyết kéo tôi ra bàn gần bờ sông ngồi hóng mát. Tuyết đi thẳng vào chuyện đêm qua:

– Sao hồi hôm anh làm kỳ vậy? Em mắc cỡ muốn chết.

Mặt Tuyết đỏ gấc, cả vành tai cũng đỏ.

– Em thương anh mà sao anh làm kỳ vậy?

Tôi sượng trân, không biết trả lời ra sao. Tôi ấp úng:

– Anh cũng thấy kỳ thiệt… Nhưng chuyện xảy ra quá bất ngờ, anh đâu có muốn như vậy. Em giận anh lắm hả?

Nàng ngẫm nghĩ một hồi rồi lắc đầu. Tôi cảm động nắm lấy tay nàng. Nàng liếc tôi cười mỉm:

– Thôi bỏ qua chuyện đó. Mà anh đừng có làm vậy nữa nghen. Em thương anh chớ đâu có thương anh Lộc, bộ anh không biết sao?

– Anh biết chớ… Thôi anh xin lỗi em.

Tôi nói tôi biết chớ thiệt ra tôi chẳng biết khỉ mẹ gì hết. Tôi là thằng ngốc tử. Cho tới bây giờ khi tổng kết tình hình quốc tế, quốc nội và tâm lý ái tình đời mình, tôi chẳng biết tôi có yêu ai không nữa. Tôi đam mê, nhiều lúc muốn tự vận thì có. Yêu? (còn phải hỏi lại). Biểu tôi đinh nghĩa tình yêu, tôi cũng bí luôn. Sau một lúc con thuyền tròng trành, tôi và Tuyết trở lại khắng khít nhau như trước. Như không có chuyện gì xảy ra. Tôi lấy thêm một quyết đinh sáng suốt: Nếu thằng cha anh tôi còn dở trò lạng quạng là tôi sẽ quyết liệt mời hắn đi chỗ khác chơi. Bằng võ lực nếu cần. “Ối thôi tôi mời cậu đi ra cho lẹ, nếu còn ở đây ắt sanh tử với tôi?“. Hắn cũng nằm lòng câu hát đó.

Mùa hè trời oi bức nên Tuyết thường đòi đi tắm, hoặc trước hoặc sau khi làm tình. Có khi cả trước lẫn sau khi làm tình. Sau nhà tôi là một sàn nước, trên có để mấy cái lu. Thợ thuyền thường mặc quần xà lỏn tắm lộ thiên trên sàn nếu làm biếng tắm sông. Lần nào Tuyểt về với tôi cũng quá nửa đêm, lối xóm ngủ hết. Tuyết trần truồng như nhộng tắm lộ thiên. Tôi có cái thú đứng ngắm Tuyết tắm. Thân thể Tuyết trắng muốt và ngực Tuyết no tròn, đứng sững đẹp tuyệt. Đã bao lần tôi ngã chết trên đó. Mà rủi có chết luôn tôi cũng không hối tiếc. Canh khuya dế kêu rỉ rả. Khi nàng xối nước ào một cái thì lũ dế im tiếng. Khi nàng kỳ cọ thì tiếng dế lại trổi lên. Có nhạc, có mỹ nhân, nghê thường là đó. Nếu Tuyết biết ăn nói văn chương và biết gảy đàn, tôi sẽ ngờ nàng là hồ ly tinh. Ôi con hồ ly yêu dấu. Tiếng em kỳ cọ trên thân ngà ngọc nghe sao mà dâm tuyệt!

Tôi khổ sở nhất là lúc mỗi tháng Tuyết treo cờ đỏ hưu chiến mấy ngày. Vào thời kỳ này đàn bà hay quạu quọ mà tôi còn quạu hơn Tuyết. Tôi đứng ngồi không yên như bị táo bón, nhăn nhăn nhó nhó như khỉ ăn ớt. Khi nàng hạ cờ là tôi mừng quýnh như con nít má đi chợ về. Nàng lại có dịp la tôi: “Đồ qui, làm gì dữ vậy?” Nàng treo cờ tôi khổ sở. Nhưng nàng không treo cờ, lại là một nỗi bận tâm khác. Một lần nàng nói nhỏ với tôi:

– Sao tháng này em trễ quá, có hơn hai tuần rồi. Rủi em cấn rồi làm sao hả anh?

Đã không lo, trái lại tôi còn thấy vui:

– Cấn rồi thì mang bầu.

– Mang bầu kỳ chết.

– Mang bầu thì đẻ chớ kỳ gì.

– Đẻ rồi làm sao?

– Đẻ rồi thì nuôi chớ làm sao.

– Anh này nói nghe dễ ợt. Lấy gì mà nuôi đây chớ?

– Thì lấy cái này…

Tôi đặt tay lên vú nàng. Nàng hất tay tôi ra:

– Đồ quỉ!

Thấy tôi cười khì khì nàng cũng tủm tỉm cười theo, hai má đỏ rực.

Cách tuần sau, một đêm tôi thiếp ngủ, giật mình không thấy Tuyết bên cạnh, tôi hơi lo sao đêm nay nàng không về. Trưa hôm sau xuống quán chỉ thấy một mình chị Tư. Tôi hỏi Tuyết đâu.

– Tuyết nó đang nằm trong quán.

Tôi chui vào quán thẩy Tuyết nằm co. Tôi đỡ Tuyết dậy hỏi:

– Em bịnh hả?

Tuyết xanh ẻo thều thào:

– Em mệt.

Chị Tư nói thêm:

– Tuyết nó bi thuốc hành nên mệt.

Cách đây mấy bữa, tôi đã nghe chị Tư bàn lén với Tuyết về vụ đó. Tôi nắm vai Tuyết lắc lắc:

– Em phá thai phải không?

Tuyết cúi đầu không nói. Cơn giận đột nhiên bốc dậy trong tôi bừng bừng. Tôi xáng Tuyết một bạt tai ngã chúi vô góc quán rồi đứng dậy. Tuyết gục đầu, nước dãi nàng chảy ra ở miệng. Biểu diễn xong màn tặc-dăng nổi giận, tôi nhảy lên vespa rồ ga phóng đi thẳng. Tôi chạy lòng vòng một hồi rồi trực chỉ ngã ba Cần Thơ. Tôi chui vào một cái nhà sàn gọi bia ra uống. Bà chủ quán còn trẻ, mặc quần áo xốc xếch, một tay bồng nách thằng con lem luốc, một tay bào nước đá. Tôi vụt hối hận chua xót. Tôi bỏ chai bia rồi phóng xe trở lại quán chị Tư. Nghe tiếng xe đậu lại, Tuyết lồm cồm bò dậy ra đứng vịn ở cửa quán. Mắt nàng đỏ hoe, tóc tai bù xù. Tôi ăn năn quá đỗi. Tôi chỉ muốn chạy thẳng ra bờ sông và nhảy ùm xuống dòng nước đục (không phải để tự vận). Tôi muốn lội băng qua con sông lớn, cho tới cù lao An Thành bên kia, tôi leo lên đó trốn hết mọi người, ẩn dật ở cù lao, biến thành con xà niêng hay con dã nhơn gì đó, cho không còn ai nhận ra tôi, cho Tuyết không còn bao giờ nhận ra tôi, gã bạch diện thư sinh sau cái bộ mặt lông lá. Môi Tuyết khô queo, tay nàng run rẩy. Trời nắng chang chang. Hai đứa ngó nhau rưng rưng nước mắt.

Rồi mùa hè qua. Nắng hết vàng rực. Phượng vĩ hết đỏ. Dế hết còn gáy ở sàn nước. Tuyết hết còn khỏa thân tắm lộ thiên. Và tôi cũng bi đuổi ra khỏi nghê thường. Hai đứa còn khắng khít, nhưng nàng ở lại quán, còn tôi lên Sàigòn bước vào đại học. Sau khi đậu tú tài, tôi thi rớt liên miên. Thi công chánh: rớt. Thi trường điện: rớt! Thi sư phạm: rớt ! Thi quân y: đậu. Và đậu hạng nhất, ngành nha khoa. Ba tôi vốn ghét nghề “nhổ răng và thiến heo” của đám hành nghề dạo trong xóm nên ông chửi tôi tàn canh gió lạnh vì tôi thi đậu ngành nhổ răng. Ông nói:

– Tao với má mày gia tài còn có mấy cái răng ăn cháo bộ mày tính học về nhổ luôn cho hết hả? Rồi bà con đau bụng đẻ rước mày tới mày nhổ răng cho chết luôn hay sao? Mầy học cái nghề gì mà ác ôn quá vậy?

Tôi nản quá nên bỏ ngành quân nha. Tôi lêu bêu vào năm đầu đại học khoa học. Tôi lạc lõng, mất hướng. Tôi chỉ mong cuối tuần về để vọt về Vĩnh Long. Có lúc kẹt xe, tôi về tới thành phố đã tối mò. Tôi ghé nhà Ánh trước vì gần bến xe. Nhà nàng ngủ sớm (ông già làm thầy giáo). Một tay gõ cửa mà tay kia tôi còn lận theo khúc bánh mì thịt chưa kịp ăn. Bà chị ra mở cửa la lên:

. Ánh ơi! Thằng Kiệt nó về.

Ánh chạy ra mừng rỡ. Tôi ghé vào nói chuyện láp dáp một chút rồi vọt, hẹn bữa sau trở lại. Tôi kêu xe lôi đi thẳng xuống quán, và trên đường tôi tạt ngang báo cho ba tôi biết tối nay tôi ghé ngủ nhà để ổng cho đem mùng ra tối về có mà giăng. Thấy tôi về Tuyết cũng mừng lắm. Lại một tô hủ tiếu “đầu trọc”, một ly cam sô-đa hột gà. Và tôi lại chết thiếp trên ngực hồ ly, bằng lòng, hạnh phúc.

Có dạo bận học quá, cả tháng không về được, tôi nhận được thư Tuyết. Nàng viết: “.. Anh biết hông, mỗi bữa chiều em bắt ghế ra ngồi trước quán ngó ra ngoài đường thấy người ta đi qua đi lại, em nhớ anh thấy mồ. Lúc nào anh học thuộc bài hết rồi thì anh mau mau về đây cho em thả mãn… “

Trong thơ nàng kèm theo một tấm hình sau lưng có viết mấy chữ: “Em xin tặng anh một đá hoa hồng để làm kỳ nhiễm. Tuyết. “

Kỳ nhiễm? hay kỷ niệm? Tôi đoán lờ mờ. Chữ nghĩa không làm tôi bận tâm, nhưng khi nhìn tôi đâm lo. Thường mấy cô nữ sinh cầm nhánh bông hay đóa hoa để làm duyên khi chụp hình. Đàng này Tuyết cầm hẳn chậu bông đưa thẳng ra một bên, phía trên có cụm hoa hồng bằng nhựa màu. Tôi chỉ sợ nàng mỏi tay buông ra bất tử thì đổ nợ. Thà nàng giả bộ leo lên máy bay ló đầu ra chụp hình như ông anh tôi mà còn khá hơn. Cầm chậu bông kiểu này là chết kiểu con người ta. Bữa nọ thằng bạn lục bóp tôi, lôi ra tấm hình Tuyết, ngắm xong, đọc xong, nó bèn ngửa mặt lên trời cười hô hố, chảy cả nước mắt nước mũi. Tôi quê quá nên từ đó giấu biệt hình nàng.

Trở lại việc học vấn của tôi. Trong cái rủi mà cũng có cái may. Nhờ phất phơ như vậy mà tôi được đi du học. Số là bữa nọ đi lơ ngơ trong Chợ Lớn tôi gặp lại một thằng bạn cũ khá thân. Nó kéo tôi về nhà ở đường Da Bà Bầu tán dóc. Khi mở hộc tủ tìm cây viết nó chợt à một tiếng rồi lôi ra một xấp giấy đưa cho tôi. Đó là đơn xin đi du học ở Canada. Nó nói tao quá tuổi rồi xin không được, mày nhỏ hơn tao hai tuổi, đậu hai tú tài hạng bình thứ xin có hy vọng lắm. Tôi nhắm mắt điền đơn, nộp đại rồi quên bẵng. Năm tháng sau, đùng một cái tôi được mời khám sức khỏe, làm thủ tục xuất dương: tôi đã được chọn. Tôi cầm tấm giấy mời chới với. Có bao giờ tôi nghĩ tới hay mơ ước chuyện xuất dương. Nhà tôi không giàu, ba má tôi dốt nát. Tôi là một thứ cao bồi hương thôn. Dù tôi có bận quần jean cao bồi đi nữa là cũng để chà lết ở miệt vườn. Thế giới của tôi có cù lao An Thành, có cây da Cửa Hữu, có cái miễu Bà, có cầu Cái Cá, có bến xe đò. Và có cái quán nước của chị Tư Tùng. Và trong quán nước có Tuyết, dĩ nhiên. Tôi không muốn đi đâu hết. Tôi tấn thối lưỡng nan. Ông anh thứ ba (không phải Lộc) của tôi biết vậy nên đặc cách cho một lâu la của ông ta dắt tôi đi làm hết mọi giấy tờ. Thành thử tôi kẹt cứng ngắc, tôi chẳng biết gì về Canada ráo, từ nguồn gốc cho tới ngôn ngữ. Má tôi hỏi:

– Nghe anh Ba mày nói mày sắp đi Ca Bá Đại hả? Nghe nói ở đó nước ngập quanh năm mày qua bên đó làm chi vậy?

Tôi bí. Phải chi bà hỏi ở chợ Vĩnh Long có mấy cái quán cóc, quán nào bán cơm quán nào bán nước, quán nào có mẩy cô, tên gì, mấy tuổi tôi bảo đảm trả lời rót rót, đúng đến chín chục phần trăm.

Nhưng rồi mọi việc cứ tuần tự diễn tiến, theo một trật tự bất kham. Bánh xe du học cứ lăn tới và kéo tôi ra khỏi cái cứ địa “cao bồi hương thôn” mặc tình cho tôi trì níu lại. Còn ba tháng nữa sẽ xuất dương, rồi hai tháng, rồi một tháng, rồi nửa tháng. Rồi chỉ còn một tuần lễ. Tuyết có theo dõi tình hình quốc nội do Lộc báo cáo nên nàng cũng khăn gói lên Sài gòn để gặp tôi vì tuần chót tôi kẹt luôn ở thủ đô để lo giấy tờ, thủ tục, thông hành, hối đoái v.v.. Một tối, nàng hẹn gặp tôi trước rạp Khải Hoàn, không phải để coi hát, mà là để giã biệt. Đúng hẹn, tôi dắt Tuyết qua chợ Thái Bình ngang mặt rạp. Nàng đi guốc mộc xanh, bận quần sa-teng trắng, áo xá xị màu hường lợt. Lần đầu tiên tôi để ý nàng vẽ mắt đen, tô son nhạt và đeo bông tòn teng. Coi cũng hấp dẫn lắm. Nhưng tôi thích Tuyết ở truồng đứng xối nước ở nhà sàn hơn. Tuy nhiên tôi cũng khen nàng một câu lấy lòng.

Tôi đề nghị nàng kiểm một cái gì ăn đã, vì lúc đó đã hơn mười giờ đêm mà tôi chưa ăn gì từ chiều. Nàng đồng ý. Tôi hỏi nàng muốn ăn gì, nàng đáp tùy ý anh, em không đói. Không có hủ tiếu đầu trọc, tôi đề nghị nàng ăn mì ở một cái xe đẩy trong chợ. Xe cẩn kiếng đủ màu kể lại sự tích Tam Quốc có Quan Công mặt đỏ, sau nồi xúp nghi ngút là một xì thầu bụng phệ, không trọc đầu, nhưng tôi tin tưởng. Tôi kêu một tô mì đặc biệt có mì và hoành thánh trộn lẫn. Còn nàng, một chai xá xị Con Nai. Bụng đói nên tôi cúi gầm đầu ăn một mách gần hết mới ngửng lên gợi chuyện:

– Em lên đây hồi nào?

– Hồi chiều hôm qua.

– Lên đây em ở đâu?

– Ở đậu nhà bà dì con Liên trong chợ Bàn Cờ. Còn anh, bữa nào thì đi Da… Cá Đại, hay cái gì Da Da đó?

– Bữa nay thứ ba. Còn đúng một tuần nữa thì anh đi. Đi Gia Nã Đại.

– Cái gì Gia?

– Gia Nã Đại.

– Ờ vậy hả? Gia Nã Đại! Cái tên gì kỳ thấy mồ, nói muốn trẹo bản họng. Nghe nói bên đó đất thấp nước ngập dữ lắm phải hông?

Không biết ai đồn cắc cớ như vậy. Tuyết cũng hỏi một câu y chang như má tôi. Tôi giải thích: “Em đừng có lộn Gia Nã Đại với xứ Hòa Lan”. Nàng càng mù tịt thêm nên tôi lảng sang chuyện khác:

– Em có tính ở lại Sài gòn để đưa anh lên máy bay luôn không?

– Ý, đâu được? Chị Tư bi cúm hổm rày nằm liệt địa, quán chỉ có mình con Liên coi, bê búi lắm. Sáng mai em phải về. Hơn nữa…

Nàng ngập ngừng:

– … hơn nữa gia đình anh, em chỉ biết có ba anh và anh Lộc. Má anh lại khó nữa, khi không em nhào vô đưa anh đi coi kỳ chết.

Thiệt ra nếu nàng đòi đưa tôi ra tận phi trường mới là đổ nợ. Vì hôm đó sẽ có Ánh tiễn tôi, chương trình đã in như vậy rồi, cáo phó đâu có kịp nữa. Tôi dò dẫm:

– Em về dưới rồi tính làm cái gì ăn?

– Thì bán quán chớ làm cái gì?

– Bộ em tính bán quán hoài sao?

– Không bán quán chớ anh biểu em làm cái gì bây giờ?

Tôi ỡm ờ:

– Thì chờ anh học thành tài về nước cưới em.

Nàng ngó tôi hoài nghi:

– Anh đừng có nói cà rỡn. Bản mặt anh mà cưới em.

Tôi kênh kênh:

– Thiệt chớ! Em mà dám chờ thì anh cũng dám cưới cho mà coi.

Nàng nghiêm mặt (ít khi tôi thấy nàng nghiêm như vậy) làm thằng nhỏ hơi teo:

– Hồi thở giờ em có biểu anh cưới em lúc nào đâu mà bữa nay anh phát thinh nói kỳ cục vậy?

Mắt nàng hoe đỏ. Tôi sợ nàng khóc bất tử nên gạt ngang:

– Em không tin thì thôi anh không nói nữa.

Nàng dụi dụi mũi, ngần ngừ:

– Mà em hỏi thiệt, anh có thương em hông?

– Có nói em cũng không tin nên anh không nói.

Nàng nài nỉ:

– Hồi nào tới giờ em đâu có hỏi, bữa nay em mới hỏi thiệt anh chớ có thương em hông đó?

– Thương chớ. Thương đứt ruột.

Thấy nàng chưa chịu tin, tôi đưa một ngón tay lên thề:

– Đứa nào nói láo cho ông Táo đội nồi cơm.

– Anh thiệt ba xạo.

Nàng cười, tôi cũng cười theo. Nàng cười là tôi đỡ lo. Nàng cười là tôi đã được tha thứ, chấp nhận. Tôi nắm tay nàng ngó trân trân:

– Bữa nay em đẹp lắm… Anh muốn ngủ với em một đêm chót.

Nàng ngần ngừ:

– Bộ anh tính đem em về ngủ nhà anh hả?

– Anh tá túc nhà anh Ba của anh. Má anh cũng ngủ ở đó . Anh về nhà em được không?

– Ý, nhà dì con Liên em đâu có quen. Hơn nữa nhà có chút xíu, dỉ ngủ trên gác còn em ngủ bộ vạt ở dưới với đứa nhỏ. Anh tới đó làm quỉ đâu có được.

Chợt ngó lên trời, tôi đề nghị:

– Hôm nay có trăng lưỡi liềm, hay anh chở em dạo một vòng ra Bình Điền, ở đó có cây cối…

Nàng gạt ngang:

– Ở dưới mình khác, ở đây khác. Anh làm bậy bạ lính bắt là hết đi Gia Cái Đại luôn. Anh ẩu tả, bữa đó ở Cầu Bắc về anh thiệt thành quỉ. . . Em mà níu anh không kịp là anh lọt tuốt xuống mương rồi!

Nàng cười rúc rích. Lời Tuyết nói vô tình càng kích thích tôi mãnh liệt. Tôi nhớ rõ lắm, tôi nhớ rõ hết, tôi nhớ đóa hoa thầm kín của nàng lần đầu tiên dưới bàn tay tôi mân mê, sục sạo, tôi nhớ bụi cỏ đen, tôi nhớ ánh trăng mát mẻ trên thân dưới lồ lộ của nàng. Tôi thèm muốn điên cuồng, tôi thèm thuồng muốn chết. Tôi cúi đầu tiu nghỉu, như những lần Tuyết treo cờ đỏ hưu chiến. Nàng ngó tôi một hồi coi bộ không êm. Nàng kêu tính tiền, nàng trả tiền rồi nói:

– Thôi mình về anh, khuya rồi.

Thấy tôi cứ ngồi đực mặt ra đó, nàng nắm tay tôi kéo đi, nói nhỏ:

– Thì anh về với em, về Bàn Cờ.

Tôi riu ríu theo nàng. Về tới đầu xóm, nàng biểu tôi dừng xe lại, tắt máy, rồi dắt xe theo nàng. Đi quanh co một hồi tới một căn nhà lợp tôn nàng ra dấu là đã tới. Tôi dựng xe và theo nàng đi vòng cửa sau mở khóa vào nhà. Bên trong chỉ có một bóng đèn đỏ thắp tù mù. Bốn phía vắng lặng. Nàng chỉ ngón tay lên gác rồi đưa lên môi ra dấu cho tôi giữ im lặng. Tôi tuột giầy ra. Nàng nắm tay tôi dắt vào nhà tắm nhỏ hẹp, bên trong kê một cái lu nước và một cái khạp thấp. Nàng khép cửa lại, tối om tôi không thấy gì hết. Tôi nghe tiếng sột soạt. Tôi cũng trút bỏ quần áo theo nàng. Tôi mở hờ cửa cho ánh sáng đỏ lọt vào. Ánh sáng đỏ trên da lụa càng tăng thêm kích thích, tôi muốn cắn lên đó. Nàng còn mặc áo. Tôi đâu chịu như vậy Ngón tay tôi lần mò mở nút áo rồi cởi bộ nịt vú của nàng. Tôi mở rộng cửa phòng tắm cho ánh sáng tù mù vào đầy. Tôi hạnh phúc muốn phát điên. Tôi sắp nổ tung như một bóng đèn quá cường độ. Tôi đè nàng ưỡn người trên lu nước và tôi làm tình với nàng ở tư thế đó. Tư thế bất tiện mà tuyệt vời. Ngực nàng rung rinh, đôi bông tai nàng lắc lư, đôi mắt nàng khép hờ mở nửa cánh thiên đường cho tôi lọt vào (và lạy trời cho tôi đừng lọt ra nữa). Trong trận mưa dục tình tôi hôn nàng khắp mình mẩy (tôi chưa hề hôn nàng như vậy). Hai đứa ôm riết, không muốn rời, không nỡ rời, không chịu rời …. Tuyết! Tuyết! Tuyết!

Buổi chiều hôm sau đứng ở bao lơn, tôi chợt nhận thức Tuyết đã lọt khỏi tầm tay tôi biệt mù. Nàng đang ở đâu đó bên bờ Tiền Giang có gió mát, trăng thanh, hay đang nằm dật dựa trong quán hay nàng đang chặt dừa, xay rau má xôn xao giữa đám khói tỏa mịt mù của sườn nướng, nem nướng. Tôi chợt lo sợ vu vơ. Tôi lo sẽ không bao giờ còn gặp lại nàng nữa.

Nhà anh Ba tôi đường Hùng Vương, cạnh đường rầy xe lửa. Bên kia đường là dãy bàng cao, rất cao, lá lớn xào xạc. Buổi chiều sắp hết, trời chạng vạng. Cơn mưa chiều vội vã đến rồi vội vã đi. Gió không có hướng nhất định, lay lắc lá bàng, nước rơi lộp độp. Tôi chợt sợ hãi, ruột quặn thắt. Bên tôi không có Tuyết, không có Ánh. Mai mốt đây không có người tình quán nước, không có người yêu nữ sinh, chắc tôi không sống nổi (tôi nghĩ vậy).

Trong cơn bàng hoàng, đầu tôi lởn vởn bài thơ tôi muốn viết tặng người yêu và người tình:

Tôi đã khóc như thành đô đã khóc
Mưa chiều nay đánh đẳm ngõ đi về
Dãy bàng cao u đọng chút sầu tê
Và rỏ lệ như lòng tôi đã khóc

Tôi sẽ chết như hoàng hôn đã tắt
Mây bay đi không cuốn được u hoài
Chớm đêm về mưa gió sẽ chia tay
Cho lá nhớ mưa buồn dâng ướt mắt…

Rồi tôi đi du học. Những năm lang thang ở xứ người, tôi đã yêu những người đàn bà khác, ôm ấp những bộ ngực khác, mân mê những bụi cỏ sắc màu khác, chết giấc bên cạnh những hồ ly tinh khác. Tôi quên bẵng Tuyết. Có lúc tôi yêu đời, có lúc tôi muốn tự vận. Nhưng may mắn tôi còn sống sót về nước sống giai đoạn bi thương của xứ sở – cùng những hồ ly khác nữa của quê hương, giữa cái chết và cái sống dằng co mỗi giờ mỗi phút.

Ngày về, một nửa những người khi trước đưa tôi đi đã ra đón tôi. Có ba tôi, có má tôi, có Ánh, có Lộc v.v… Dĩ nhiên không có Tuyết. Mọi người kéo về nhà anh Ba tôi ăn mừng. Tôi mệt quá lăn ra ngủ một giấc, mơ thấy những chuyện trên trời dưới đất. Bữa chiều, tôi đang đứng bên đường rầy xe lửa, chợt ba tôi đến bên cạnh tôi, hỏi:

– Ờ Kiệt, mày còn nhớ con nhỏ Tiết không Kiệt?

Tôi giật mình:

– Nhớ chớ ba. Tui nhớ chớ. Bộ nó còn bán quán hả?

Ba tôi lắc đầu:

– Nó đã đi lấy chồng.

Tim tôi chợt nhói. Ba tôi nói tiếp:

– Tội nghiệp! Con nhỏ đó có lòng lắm. Nó ghé thăm tao hoài và bận nào nó cũng hỏi thăm mày. Hai năm trước, lúc đi lấy chồng nó có lại nhà mình lựa mua cái tủ ba buồng chở về Tân Bình. Chồng nó có tuổi, góa vợ, buôn bán coi mòi cũng khá. Năm rồi nó mang bầu nhưng rủi ro có chửa ngoài tử cung. Khi hay được đem vô nhà thương thì trễ quá cứu không kịp…

Mình mẩy tôi vụt lạnh ngắt, xây xẩm. Tôi băng qua bên kia đường Hùng Vương, đi dọc hết dãy bàng cao rồi chui vào một quán nhỏ. Bên ly bia tôi ngồi khóc lặng lẽ. Tôi muốn dằn cơn khóc mà nước mắt cứ vọt ra. Tay bưng mặt, tay ôm bụng, tôi tưởng chừng ruột gan mình đang đứt ra từng đoạn một. Tôi giận tôi, tôi giận đời sống, tôi giận đủ thứ. Sao đành để Tuyết nhận chịu bất công như vậy? Trong lúc nàng đi lấy chồng đàng hoàng (không phải với thẳng giỏi tài ba xạo như tôi), muốn làm ăn đàng hoàng, muốn có con đàng hoàng thì nàng lại lăn đùng ra chết. Chết tức tưởi. Dãy bàng cao còn đó, thơ học trò tôi tính tặng nàng hãy còn đó, dù chẳng bao giờ nàng đọc, có đọc cũng chẳng bao giờ nàng thích:

Đốt hoàng hôn vỡ thành theo khói thuốc
Ai dày vò mà khói thuốc cong queo
Gió cuốn vội vàng mây phải bay theo
Và tôi gục ngã như hoàng hôn dẫy chết.

Nhưng không phải tôi, mà là “nàng đã gục ngã như hoàng hôn dẫy chết”. Tôi thương Tuyết bạc phước của tôi, tôi nghĩ đến những người gái đĩ bất hạnh. Không bao giờ tôi còn được cái thú viết vớ va vớ vẩn để tặng nàng như thưở còn là học trò nữa. Tuyết ơi là Tuyết ơi!

Thôi nhé em về yên Xóm Cỏ
Sự đời đã trải cuộc yêu đương
Nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió
Cho nắm xương tàn được nở hương
(1)

KIỆT TẤN

(1) Thơ Hoàng Hải Thủy

CHO THIẾP THEO CÙNG

kiettan

(Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam)
CA DAO

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
“Không, chăn trâu sướng lắm chứ?”

Bài học thuộc lòng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư đó chắc ai ở lứa tuổi tôi cũng nằm lòng. Tôi chưa hề chăn trâu nên không biết nó sướng đến cỡ nào, nhưng cũng muốn bắt chước theo điệu đó mà nói: “Ai bảo chăn phu là khổ, chăn phu sướng lắm chớ!”. Phu đây phải hiểu là phu trong “xuất giá tòng phu” của thầy Khổng Tử, tức là đấng ông chồng của chúng ta đó mấy chi em phụ nữ. Tôi muốn bắt chước cái điệu vậy thôi chớ tôi không có ý đề quyết “chăn phu sướng lắm chứ” đâu. Cái đó tùy theo kinh nghiệm cá nhân của mỗi người và tùy theo hoàn cảnh cá biệt của mỗi người. Bữa nay tự nhiên tôi thấy cảm hứng muốn giải bày tâm sự của mình với mấy chị em. Đúng hơn, tôi muốn nói cho đã nư.

Trưa hôm qua, thêm một lần nữa, đấng lang quân yêu dấu của tôi lại làm cho tôi mất mặt bầu cua: Chàng la tôi trước mặt mọi người ! Mấy chị em thử nghĩ hai đứa được một gia đình người bạn thân mời tới nhà ăn Tết muộn (Tết con Trâu, thiệt trúng tủ!). Ăn xong, ông già người bạn có hảo tâm biếu chai sâm banh tưới cho lên men ba ngày Tết. Chàng chếnh choáng đứng đậy xung phong mở chai. Bốp ! Bọt rượu trào ra, mọi người vỗ tay. Chàng rót mỗi người một ly rồi mời ông già cụng ly. Ông cụ khoát tay:

– Cho tui xin khước từ vì tui còn phải đi nhà thờ.

– Ôi ! Thì bác cũng nên làm một ly cho mau gặp Chúa!

Chàng buông một câu xanh dờn! Đó mấy chi em nghĩ coi. Gia đình người ta vốn mộ đạo, ông cụ thoáng nghe vụt biến sắc mặt. Cũng may, sau đó ông cũng đành cười trừ. Bà cụ đỡ lời:

– Cậu này coi vậy mà không phải dễ.

Tôi xen vào:

– Tánh ảnh vậy đó bác ơi, uống vô ba cái là khích bác người ta…

Chàng la tôi:

– Chính em mới khích bác anh chớ anh đâu có khích bác ai. Đi nhà thờ không phải để gặp Chúa chớ để gặp cái gì? Anh chỉ muốn giúp…

Giúp với lại không giúp! Có điều là từ bữa đó đấng ông chồng của tui được tặng cho cái hỗn danh là “ông già gàn.” Đáng kiếp! Mà đâu phải đây là lần đầu tiên chàng xía vô tự do tín ngưỡng của người khác. Lần nghỉ hè năm trước, một gia đình vốn cũng mộ đạo mời tới nhà đãi cơm và dĩ nhiên có cho uống rượu. Biết tính khí của đấng “Đực rựa” yêu dấu của lòng em, tôi đã dặn chàng uổng từ từ, chút chút. Nhưng tới đó, cản không được. Rồi rượu vào lời ra. Người ta tin cái gì thây kệ người ta, mắc mớ gì tới mình mà chàng cũng đá giò lái người ta một cái. Thế là tranh luận. Chàng thì lập luận ngang như cua. Tôi kêu cậu con trai trong nhà vặn nhạc lớn để đánh lạc sự chú ý của chàng. Nào ngờ khi nghe nhạc chàng lạng quạng đứng dậy lôi bà chủ nhà tuổi đã lục tuần đòi khiêu vũ (trong bóng mờ) cho bằng được. Đó, mấy chị em phụ nữ nghĩ coi có chỗ nào coi được không? Tôi mắc cỡ quá rứt chàng ra, kẻo tuốt ra xe, xô chàng vào, đóng ập cửa lại rồi phóng về nhà trọ một mạch. Chàng lăn ra giường ngáy ào ào . Còn tôi cả đêm mắt mở trao tráo, tức cành hông. Sáng hôm sau, tôi cằn nhằn về vụ tới nhà người ta làm giặc, không biết điều, không biết lựa lời mà nói. Những mong chàng hối hận. Không! Tuyệt nhiên không. Đã vậy chàng còn la tôi:

– Bộ tới nhà người ta là phải úp mặt vào mâm mà ăn không cho nói một câu nào hết hả? Em không biết, mấy thứ đạo giáo to, chủ nghĩa lớn, lý thuyết bự là mấy thứ nguy hiềm chết người, chết nhiều, có khi chết không còn một móng. Lấy trường hợp thằng du đãng, cùng lắm là nó lụi vài ba mạng thấy máu me tùm lum nó cũng ớn. Đằng này giết người để đưa họ lên thiên đàng, cái kiểu thiên đàng cộng sản hay Da-La-Tô- La là có lý do giết hoài, giết không gớm tay. Đâu phải anh công kích tín ngưỡng hay một tôn giáo nào. Anh chỉ muốn đả phá cái lòng tin mù quáng, cái cuồng tín xuẩn ngốc. Vậy mà không cho anh nói…

Vân vân và vân vân. Chàng có lý luận thế nào tôi cũng không nghe lọt lỗ nhĩ và cũng không chấp nhận. Tôi chỉ thấy chàng ngoan cố, không biết phục thiện. Ăn ở không biết điều, nói chuyện không lịch sự, hành xử không đúng phép.

Cái tính kỳ chướng đó đâu phải mới đây. Nó có từ hồi bên nhà, hồi thuở trời đất nổi cơn gió bụi, thuở người mình với Cộng Sản choảng nhau dài dài xương máu. Đêm nọ. một người bạn nhạc sĩ kẻo vợ chồng tôi tham dự buổi trinh tấu nhạc của Hội Họa Sĩ tại một biệt thự ở đường Phan Đình Phùng, giới nghệ sĩ tới chơi cũng đông. Sau màn ăn xeo-xẹt-quít, tới màn nghe nhạc hòa tấu thính phòng. Giữa lúc vĩ cầm, tiêu, sáo và đại hồ cầm đang réo rắt bên tung bên hứng thì đấng ông chồng vĩ đại của tôi bật ngửa trên ghé ré lên cười “Há! há! há!… há! há! há!” Mọi người quay lại ngó, khó chịu ra mặt. “Há! há! há!…” mặt chàng đỏ ké, trông thỏa mãn ra phết. Có tiếng suỵt suỵt từ phe thưởng ngoạn. Tôi sượng sùng quá kéo chàng ra ngoài hiên, ngồi trên ghế bành. Tưởng êm. Dè đâu thay vì “Xin quí vi vui lỏng vặn vừa đủ nghe riêng mình, để khỏi làm phiền người khác đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi,” chàng lại tiếp tục Há! Há! Há! lớn hơn nữa.

Tôi bụm miệng chàng, chàng gỡ tay tôi ra (há! há!), tôi bịt lại, chàng gỡ ra (há! há!), tôi quính quáng, phòng nhạc lao xao không ngớt. Hai đứa còn đang dằn co tranh thủ độc lập thì bỗng một người đàn ông cao dong dỏng đến bên bảo nhỏ.

– Thôi chị cứ để cho anh ấy cười. Giá mà tôi được say như anh ấy thì tôi cũng sẽ cười như vậy.

Rồi vỗ vai chàng, anh ta nói:

– Khi nào cười xong thì ghé nhà tôi lựa vài bức tranh mang về nhà treo chơi.

Đoạn ông ta và tôi kè chàng ra ngoài vườn cỏ, ngồi ở băng đá ái tình gần lộ có tiếng xe cộ ồn ào, cười lớn mấy cũng bi tiếng động cơ chẹt mất. Tối đó chúng tôi không ghé nhà anh bạn họa sĩ tốt bụng để lấy tranh.

Năm sau, hai năm sau, ba năm sau, vẫn không cho mãi tới khi qua bên này, lang thang xứ người, nhân dịp tới viếng phòng triển lãm, anh bạn họa sĩ mới có dịp tặng tôi bức tranh cô gái ôm hộp đàn sơn màu tím nhạt làm quà sinh nhật. Tranh đó tôi thích lắm. Và cảm động dĩ nhiên. Nhưng không phải vì vậy mà tôi cám ơn chàng đã cười “há! há!” đêm xưa ở Sài Gòn. Từ thuở cha sanh mẹ đẻ, tôi chưa thấy ai cười vô duyên như vậy.

Nhưng ác giả ác báo, đời có vay có trả. Không phải trả cho tôi, mà là trả cho anh bạn nhạc sĩ mà đấng ông chồng của tui đã làm mất mặt trong đêm hòa tấu thính phòng.

Anh bạn này đi lính về phép ghé lôi chàng ở sở ra Quán Cái Chùa nhậu nhẹt la cà bia ôm ở bar kế đó. Lúc đã quắc cần câu, anh bạn nảy ra sáng kiến ghé thăm bố vợ bi bệnh đã lâu, nhà ở gần đó. Hai người đèo nhau Solex. Anh bạn vào nhà, chàng dựa gốc me đứng chờ. Qua ngày sau, mới được biết, qua phóng sự chiến trường của bà vợ bạn là anh này đã ân cần nắm tay bố vợ mà cảm động nhắn nhủ: “Toa ơi toa! Nghe toa bệnh đã lâu, đau hoài mà sao toa chưa chịu chết?” Bà vợ khóc bù lu bù loa vì bi ông bố từ không cho gặp mặt nữa; vừa khóc vừa sỉ vả chồng tôi là đã xúi bẫy bạn mình đi thăm bố vợ trong lúc ngất ngư (con tàu đi) như vậy. Một anh bạn văn sĩ rất có thớ trong anh em văn nghệ Sài Gòn và cũng là một khuôn mặt lớn trong số bạn bè của vợ chồng nhạc sĩ bất ngờ bị lôi cuốn vào “Vũng lầy của chúng ta” đã tự động đứng dậy giã từ cuộc chiến, để chàng ở lại một mình chống Mỹ cứu nước.

Quái lạ thay! Chuyện khó tin nhưng có thiệt! Chàng không phản kháng. Chàng lãnh đủ tại chỗ rồi về kể lại tôi nghe rồi còn cười thú vị nữa chớ. Chàng nói:

– Muốn chơi với bạn, phải sợ vợ bạn.

Đó là cách ngôn của chàng. Về bạn bè chàng lại có một định nghĩa quái lạ khác nữa: “Người bạn tốt là người bạn chịu để cho bạn mình lợi dụng. . . chút đỉnh.” Riêng tôi, tôi không bằng lòng, vì dù là vợ mình hay vợ bạn thì cũng là phụ nữ như nhau hết, tại sao chàng đổi đãi khác nhau? Tôi chỉ thấy chàng khôn nhà dại chợ. Càng nghĩ tôi lại càng tức (cha chả là tức!)

Hình ảnh tôi phác họa từ đầu tới giờ có thể khiến cho các chị em phụ nữ nghĩ rằng đấng lang quân của tôi là một gã lưu linh dài dài, cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm. Không, con người chàng cũng cách mạng dữ lắm. Bằng chứng, chàng đã theo học hai khóa cách mạng dưới thời Việt Nam Cộng Hòa: một khóa Suối Lồ ô, một khóa Trại Chí Linh.

Lần đầu dưới thời ông Diệm, cố vấn Nhu bày ra khóa học tập “Cách Mạng ấp Chiến Lược.” Chàng đi một tháng tu nghiệp ở bờ suối về, không biết tinh thần cách mạng lên cao tới đâu nhưng thấy mặt chàng nổi miếng lác bằng đồng tiền và kẽ tay nổi ghẻ ngứa. Chàng chưa kịp thực thi những huấn từ của cụ Cổ thì quân nhân làm cách mạng gia đình trị. Ông bạn nhạc sĩ của tôi bi mật vụ bắt giam từ mấy tháng cũng nhân dịp đó được phóng thích. Lần thứ hai chàng học cách mạng ở Vũng Tàu. Cách mạng để tranh thủ với Cộng Sản một khi Hiệp Định Hòa Bình Paris được ký kết giữa một bên là Mỹ và một bên là “chống Mỹ cứu nước.” Lúc đó chàng bi chứng bịnh gì không biết (thất tình cô nào?) xuống sắc thấy rõ. Tôi chạy đôn chạy đáo gởi gấm chàng cho bạn bè quen biết với cán bộ trong trại hầu cho chàng đỡ vất vả ở trại. Nhập trại được tuần lễ, đùng một bữa chàng từ đâu lù lù đeo Honda ôm trở về nhà. Tôi vừa mừng vừa lo đấng “đực rựa” yêu dấu trốn tránh nghĩa vụ cách mạng. Sau khi lấy khẩu cung được biết chàng bị chê vì bác sĩ trong trại khám sức khỏe phát giác tim chàng đập loạn cào, sợ đứt tim bất tử ngoài bãi tập. Chàng càng bệ rạc hơn trước. Ốm teo, xếp de, ngơ ngác. Tôi ngùi ngùi thương xót. Tôi dắt chàng vào Sở Thú ở Thị Nghè, mong chàng tìm được khuây khỏa bên mấy con cọp còi lông, mấy con khỉ đỏ đít và mẩy con cá sấu lớn hơn mấy con thằn lằn chút ít. Tôi mua cho chàng hai cục cà-rem úp trên cái bánh kẹp hình nón dài nhọn. Chàng cầm ngó trân trân, cà-rem chảy dọc xuống bàn tay chàng không thèm liếm, cũng không nhúc nhích, không muốn làm gì hết. Tôi tự nhủ: “Coi bộ anh chàng này sắp khùng tới nơi” và thầm lo. Tôi sẽ trở lại cái khùng của chúng tôi lát nữa.

Không biết vì có phải thấm nhuần tinh thần cách mạng qua hai khóa học tập chăng mà hễ ai nghe nhi nhô nói cách mạng là chàng sừng sỏ tấn công sát ván. Một lần gặp một anh chàng chầu rìa sinh viên lưng to mặt mỡ nghiêm trọng tuyên bố: “Bây giờ tôi làm cách mạng?” chàng hỏi:

– Anh biết cách mạng là gì không đã?

Anh kia ngần ngừ. Chàng hỏi tiếp:

– Anh có biết ai tự cho mình là vô địch cách mạng ở nước ta không?

Lại ngần ngừ. Chàng chỉ ngón tay vào đĩa đậu phộng:

– Là Hồ Chí Minh đó! Anh không biết à?

Bận khác trong một buổi họp nhằm tổ chức Đêm Quốc Kháng 30-4, kỷ niệm miền Nam sập tiệm, một hội thảo viên tuyên bố (lại tuyên bố):

– Đêm 30-4 năm nay chúng ta phải làm cách mạng.

Chàng lập tức phản pháo (thế nào cũng có kẻ nghi chàng nằm vùng):

– Anh tưởng nội trong một đêm mà có thể làm cách mạng được chăng? Mà tại sao ai cũng ham làm cách mạng? Làm cách mạng để khổ hơn thì cách mạng làm con mẹ gì? Anh có biết người đàn bà khóc bạo chúa thời Đông Châu…

Ông chủ tọa (cũng là bạn chàng) lên tiếng can thiệp:

– Thôi mà, anh X đâu phải muốn nói như vậy: cách mạng đây phải hiểu là…

Tôi cũng kéo chàng ngồi xuống vì sợ chàng rán qua chuyện Đông Châu lòi ra cái gàn “có sách vở”. Chàng đã kể cho tôi nghe chuyện người đàn bà khóc bạo chúa thứ ba vừa bi giết vì bà ta sợ lãnh tụ (vĩ đại) khác lên thay còn bạo chúa gấp mấy lần hơn nữa, dựa theo kinh nghiệm máu xương đã qua với bạo chúa thứ nhất và thứ nhì cũng đã bi hành thích.

Nhưng ai tới đâu thì chàng cũng tới đó. Quốc Kháng: có mặt. Nhân Quyền: có mặt. Biểu tình: có mặt. Cầu nguyện: không có mặt. Bạn bè thấy chàng có chút hiểu biết nên muốn lôi chàng vào phe nhóm, đảng phái, chính trị, chính em. Nhưng chàng quyết liệt từ chổi. Chàng nói tính khí chàng không thể làm chính trị được. Làm vô là chết cả đám. Làm chính trị là phải hiệu quả. Muốn hiệu quả là phải điếm. Mà điếm là không phải nghề của chàng. Tuy không làm chính trị chàng cũng tham dự Đêm Quốc Kháng. Với tư cách gì? Đâu mấy chị em thử đoán.

Thuyết trình viên? Cử tọa đoàn? Hoạt náo viên? Ngâm thơ? Diễn kịch? Tuyên án? Trật lất hết! Chàng tham dự với tư cách là trưởng ban võ thuật. Phải, Trưởng Ban Võ Thuật. Nghe qua điếc con ráy, nhưng tôi nói thiệt chớ không nói giỡn. Số là khi ở Montparnasse chàng làm quen với một nhóm võ sư còn trẻ người Việt, cớ tài nhưng không có sân tập riêng. Vẫn ham chuộng võ thuật, chàng đứng ra làm “lãnh tụ anh minh” dìu dắt các võ sư kiếm đất cắm dùi. Sân tập sát bên Trung Tâm Người Việt Tị Nạn, thành thử chàng thủ vai ông bầu hướng dẫn đoàn võ kịch lên sân khấu biểu diễn cho đồng bào tị nạn coi chơi. Đồng bào tán thưởng nhiệt liệt. Trong lúc hăng hái các võ sư choảng nhau thiếu chút nữa đo ván luôn tại sân khấu.

Thật quái gỡ, Tôi là phụ nữ mà lại ham võ nghệ chi kỳ lạ. Chàng đi tập võ, tôi theo coi. Coi riết tôi nhớ. Nhớ riết thấy dễ ợt. Một bữa nổi hứng tôi bước lên thảm tập những mong nhân cơ hội này trả thù chàng đã làm tôi mất mặt bầu cua từ bẩy lâu nay. Tôi đá kiểu võ Thái, phang bằng ống quyền. Cái thứ nhất chàng né, cái thứ hai chàng nghiêng đùi hãm đòn, cái thứ ba đột nhiên chàng đưa ống quyền lên chêm. Bốp. Tôi ôm ống quyển lăn quay xuống thảm, thấy đom đóm lập lòe. Tôi nhăn nhó chảy nước mắt. Vén ống quần lên, ống quyền nổi bướu. Tôi cằn nhằn bắt đền:

– Ui cha đau quá! Tại anh hết trọi đó! Sao em đá mà anh… đỡ, sưng một cục rồi đây nè!

Chàng vừa xoa ống quyển (tôi càng đau thêm) vừa biện hộ:

– Trời ơi, đánh mà không cho đỡ! Sống sao nổi?

Trong tiểu gia đình của chúng tôi (vợ chồng, một gái đâu lòng, một con trai út) không phải chỉ mình tôi muốn hạ độc thủ chàng. Hai đứa nhỏ cũng rình rập. Thằng con trai đã có thử chưởng với chàng, thấy khó xơi nên đã dội ra. Tội cho cô con gái cứ phải lãnh đủ dài dài. Mà con bé này cũng làm tôi khổ sở không ít. Tành khí kỳ cục, chẳng khác gì ông già.. ó đâm của nó mấy. Làm cơm cho nó ăn là có một cuộc hành trình hoang mang trong thế giới của hoài nghi. Có thịt, nó đòi ăn cá, có cá nói đòi ăn trứng, có trứng nó đòi ăn tép, có tép nó đòi phải có khóm, có khóm nó khóc rẻ lên vì ăn rát lưỡi. Tôi muốn khùng luôn. Chỉ có bà nội (tức má của chàng) mới chịu nó nổi. Tôi nổi sùng là bà nội bồng cháu di tản chiến thuật gấp. Có lần tôi bực quá cầm cây củi quất nó, trúng nhằm tay bà già chồng đang bao che cho đàn em nhõng nhẽo thế là đổ nợ. Bà không la thủ phạm mà khiển trách đấng lang quân yêu dấu của tôi: “Mấy thị thiềng cho vợ mày đánh con phải không?”. chàng không hiểu ất giáp gì ráo. Bà già chồng tôi tuyệt thực liên tiếp hai ba ngày để phản đối (trước dư luận trong và ngoài nước). Phải năn nỉ mãi…

Mà con nhỏ càng lớn lên càng chướng. Nói chuyện với ông già ruột của nó một hồi là có chuyện. Cha con mở miệng là đối nhau chan chát, như thơ thất ngôn bát cú.

Rất chỉnh, rất nghiêm túc. Chàng nhắc lời người xưa: “Khi 10 tuổi con thấy khôn hơn cha. Khi 20 tuổi con thấy khôn bằng cha. Khi 30 tuổi con thấy khôn thua cha” Rồi hỏi con thấy sao? Con nhỏ tỉnh bơ:

– Con thấy con khôn hơn ba!

Lúc đó nó đâu được 12 tuổi. Lớn lên một chút, học tú tài, có lần lãnh đề luận: “Trò hãy nói cảm nghĩ của trò về thơ,” cô bé thấy bố già của mình cũng mầm non văn nghệ nên tới rà rà để xin đàn anh mớm cho ý kiến.

Cha con thảo luận sôi nổi một hồi con bé la lên:

– Ba xúi con viết như vầy bị không điểm là cái chắc!

– Tao địt bố thằng cho điểm.

– Nhưng con làm bài cốt ý là để được điểm lớn.

– Vậy thì đừng có hỏi tao. Muốn viết gì đó thì viết.

Chàng vứt một số tập thơ cho con nhỏ. Tha hồ mà chọn lựa.

Điều này làm tôi nhớ hồi ở Hàng Xanh, chàng thỉnh thoảng có họp bạn văn nghệ văn gừng:

Trong một bữa ăn xoay ra bàn về thơ và chính xác hơn, bàn về câu:

“Trời không xanh, không tím, không hồng.
Những ống khói tàu mệt lã …”

Người thì nói qua câu trên thấy tác giả muốn tả trời màu vàng. Kẻ cãi lại trời màu xám. Ý kiến thành phần thứ ba; màu trắng trắng đỏ đỏ, đấng ông chồng yêu dấu của tôi lại có ỷ kiến khác hẳn: “Khi viết tác giả không cố ý tả chân màu trời, tác giả bị lôi cuốn bởi màu sắc và nhịp điệu. Tác giả chỉ nhìn thấy màu mà mình không ngó thấy, nhưng cũng không thể viết: Trời không xanh, không tím, không hồng hoặc trời không xanh, không hồng, không tím, tác giả bị lôi cuốn bởi nhạc của lời. Mà thôi, càng bàn thêm càng lãng nhách. Tác giả viết như vậy đó, chịu không chịu thì thôi?”

Đấng lang quân tôi công kích con gái mình, thôi cũng còn chấp nhận được đi. Đàng này anh chàng được đằng chân lên đằng đầu. Một bữa con nhỏ đem về một cô bạn giới thiệu: “Cô này học Triết,” thế là máu đổ trước cửa chùa ! Chàng xề xuống tấn công con người ta liền, con gái chàng mở một cánh quân giải tỏa áp lực bị pháo kích luôn. Chàng đả kích nào là philo-folie, nào là triết học đặt vấn đề nhiều hơn giải quyết, không kể đa số vấn đề đặt ra là hư ngụy, nào là l’ existence précède l’ essence, et le pétrole précède l’ essence également.

Rồi chàng bắt con nhỏ học triết bình phẩm ý kiến của mình. Không bình phẩm chàng nắm tóc con gái người ta mới lớn dứt dứt bắt phải trả lời, rồi cười khì khì.

Tôi nhột quá nên lại xúi con gái chàng tiếp cứu. Nó nói:

– Con nhào vô là chết luôn cả đám!

Con gái chàng quê quá nên bữa sau nó dặn dò:

– Nói năng theo điệu của ba, con ế chồng là cái chắc. Bà sui ông sui tới hỏi con, ba lại đối đáp như rứa là bây chừ mình xa nhau mãi mãi.

Tôi giật mình: ngôn ngữ con bé bây chừ cũng y hệt ba nó. Chàng đáp:

– Thì tụi bây yêu nhau muốn làm gì đó thì làm, đừng có xúi người lớn hỏi tao. Hỏi tao, tao trả lời ráng chịu. Như má mày biểu: bả đánh tao đừng có đỡ, đâu được. Ông nội mày có dặn khi giao đấu với địch thủ: ngóc chơi, ngóc chơi, không ngóc cũng chơi, để nó ngồi dậy nó đánh mình chết.

Nạn nhân có bằng cấp trên chiến trường triết lý của chàng phải kể là ông anh ruột của chàng – ông anh thứ Năm. Ông này qua tuốt tới tận bên Tây để học triết ở Sorbonne. Mê Sartre lắm. Mà nói Sartre là bị đấng lang quân của tôi sạt-cà-rây. Anh Năm bị chàng đả thương nhân trí mạng nhiều lằn. Nói cái gì cũng bị chàng chêm cái tủ đứng vô bảng họng. Bực quá anh Năm la:

– Vậy chớ mày binh vực cái gì?

– Tôi chẳng binh vực cái gì ráo. Cũng chẳng chủ trương chủ triết gì cả. Có điều thấy chuyện nghịch lý thì chửi chơi vậy thôi.

“Chửi chơi vậy thôi!” Đó, mấy chị em thấy ông nói vậy có ngon không. Nói chuyện phang phang bửa củi như rứa, biểu anh Năm không giận tóe khói sao được. Chưa hộc xì-dầu như Châu Du là kể như có phước lớn. Anh Năm bị chàng dụ khi vào bát quái trận hoài hoài. Hai người cãi nhau như mổ bò, hết tiếng Việt đến tiếng Tây. Có lần hăng quá, hét vang dậy cả xóm, khiến nhân dân tự vệ ngang nhà xách súng qua tính can thiệp. Bà má chồng tôi tưởng hai người đang tranh nhau gia tài của mẹ nên từ trên gác chạy xuống hét:

– Tụi bây anh em ruột mà không biết thương nhau. Tụi bây có tính giết nhau thì giết tao chết trước đi…

Tôi tính phựt đèn màu vì trên sân khấu nói lối theo điệu này là sắp vô vọng cổ (xin bà con cho một tràng pháo tay). Rồi bà khóc. Hai ông tướng thấy không êm nên kéo nhau ra quản cốc bên lề đường cãi tiếp. Chàng tâm sự với tôi: nhấm nháp khô cá thiều với bia 33 ướp lạnh để đấu triết lý thì mau thấm lắm. Chàng nhấn mạnh là bia 33 chớ không phải bia ôm. vì ngồi bên bia ôm, bàn tay mắc đi du lịch nên nói triết lý không được nghiêm chỉnh.

Nhắc Nhân Dân Tự Vệ (nhăn răng tự vận?) tôi mới nhớ đây là một chiến tuyến khác của chàng. Bà con còn nhớ sau Tết Mậu Thân phe ta bày ra Nhân Dân Tự Vệ để gìn phường giữ ấp. Ngang nhà tôi là ấp Nhất Trí 7, trụ sở Nhân Dân Tự Vệ ban đêm. Tối nào mấy cậu Nhân Dân cũng đập bồn đập bát, dọng chuông gõ mõ hát ra rít cả đêm khiến tôi mất ngủ trắng dã con mắt. Lối xóm sợ con nít làm quảng làm tiều, nổ súng bất tử (đã có hai mạng Nhân Dân Tự Vệ bị chết lãng nhách) nên không ai dám nói. Chỉ có tôi nhiều đêm “canh khuya thân gái dặm trường” xông ra trước sân nhà nói vọng qua bên kia:

– Thôi thôi mấy cậu hát hay lắm! Tôi đề nghị ngày mai mấy cậu xin lên đài phát thanh bên Thị Nghè mà hát, để yên đêm tối cho tôi ngủ, sáng mai tôi còn đi cày.

Yên được một lát, chập sau bên ấp cũng lại the thé “Ngoài kia súng nổ, đốt lửa đêm nay, tầm đạn hay tiêng. . .iềng… iêng…iểng… em!”

Riết ra tôi thuộc làu hết mấy bản hát cà chớn. Chàng thì đỡ hơn tôi vì tối nào chàng cũng la cà, về tới nhà chui lên giường là mở tiệm cưa khò khò nên ngoài kia có đốt lửa đêm nay hay cháy nhà chăng nữa chàng cũng bất chấp. Duy có điều là trước khi lên giường chàng phải vào nhà, trước khi vào nhà phải de xe trước bót Nhân Dân Tự Vệ. Có lẽ thấy ghét nên mấy cậu này thường bày chướng ngại vật để cản trở lưu thông. Một lần Nhân Dân dựng xe đạp chình ình trên lối về xóm nhỏ. Chàng de xe cái ào, cán bánh xe đạp vẹo thành sổ tám. Từ đó, nghe tiếng xe chàng đều ngõ là Nhân Dân dẹp tiệm gấp gấp. Vậy mà một đêm chợt có tiếng huyên náo lổn cổn lảng cảng. Chàng đi tắm thì tôi nghe có tiếng gọi trước nhà. Tôi ra thấy một cậu Nhân Dân Tự Vệ cầm vật gì có cán, bên trên là một miếng nhôm tròn tròn méo méo. Cậu than thở:

– Bà thử nghĩ tụi tui nghe ông về là đã lo dọn tiệm. Vậy mà ông ào ào chạy vô cán cái nồi để nấu cháo dẹp lép vậy nè, tới nay biết lấy cái gì ăn để thức khuya canh gác đây?

Nghe nói tội nghiệp, tôi bắt đền năm trăm, cậu ta mừng húm. Kề từ đó mối bang giao giữa chúng tôi và NDTV được cải thiện ngó thấy. Nhân dân càng nể hơn nữa khi một buổi tối họp mặt văn nghệ quá giờ giới nghiêm, tôi và chàng được một ông thiếu tá không quân hào hoa đưa từ trại Huỳnh Hữu Bạc về, đi trước là một xe díp hụ còi mở đường có hai ống đèn đỏ to khỏe chớp chớp, đi sau hộ tống là một xe díp bên trên có gắn súng đại liên phòng không hờm hờm nhả đạn. NDTV cử một đại diện ra cõng chàng vào nhà, chàng líu lưỡi lí nhí cám ơn, hai cẳng nhũn như bún thiu, mình tôi kham không xuể.

Đụng NDTV chưa đủ, chàng đụng luôn cảnh sát. Đụng theo nghĩa đen chứ không có bóng gió gì cả. Như đã nói, tối nào chàng cũng la cà đầu đình xó chợ, bia ôm bia yết. Hay một cái là khi còi hụ giới nghiêm, tiếng xe chàng đã nghe đồng vọng ở đầu ngõ. Một tối, sau còi hụ xong hơn năm phút, rồi mười phút, rồi mười lăm phút, cánh chim trời vẫn biền biệt. Tôi càng lúc càng lo lắng. Độ nửa giờ sau chợt có tiếng đập cửa sắt nhà xe xèng xèng. Tôi vội vã chạy ra thấy chàng mặt mày máu me tùm lum, trên tay còn cầm khúc bánh mì. Tôi hoảng hốt hỏi tới tấp:

– Anh làm sao đổ máu vậy? Sao đi bộ? Còn xe đâu? Trời ơi! Làm gì mà thấy ghê quá xá! Anh có sao không?

Chàng tỉnh bơ:

– Xe đụng rồi.

– Đụng ở đâu?

– Đụng ở bót cảnh sát.

– Bót nào?

– Bót Ngã Ba Hàng Xanh. Xe còn dính ở thùng phuy đằng đó.

Tội dắt chàng vào nhà rửa ráy sạch sẽ rồi lấy băng keo dán lại chỗ chân mày bị rách. Không có gì trầm trọng. Tờ mờ sáng hôm sau tôi đã lò dò tới bót thu thập tin tức chiến trường. Quả nhiên đầu xe còn dính trong thùng phuy. Tôi vào bót tự giới thiệu ra hỏi thăm việc gì đã xẩy ra khiến cho thiền môn nhuộm máu. Một anh cảnh sát tường trình:

– Hồi tối tui đương nằm thiu thiu trên võng máng giữa hai cây trứng cá trước bót, bỗng nghe ầm một cái, tui lọt từ trên võng xuống đất. Tui tưởng Việt Cộng tấn công nên chạy ra sau bót núp chờ phản công. Té ra là xe ông lủi vô bót! May là thùng phuy có đổ bê tông chớ không có là xe ông chạy tuốt vô văn phòng rồi. Ý là tụi tui đã có đề cao cảnh giác trước, vì khuya nào nghe tiếng xe ông từ bên Thị Nghè vọt qua bẻ cua thắng rét rét là tụi tui tan hàng dạt vô bờ lề né hết. Vậy mà cũng không khỏi.

Lúc đó gần Tết. Tôi mua mấy tấm lịch Nhật Bổn và Tam Tông Miếu tặng mấy anh em cảnh sát trong bót nên nội vụ cũng êm. Cả tháng sau chàng phải ngồi xe lam ba bánh đi làm việc.

Trở lại truyện dài NDTV, đối với chàng các cậu này đi từ ác cảm đến nể nang, rồi sau cùng là cảm tình. Giai đoạn thứ ba này xẩy ra vào lúc chàng khoác chinh y đáp lời sông núi. Trong xóm ai cũng đinh ninh chàng là “dân cậu” được hoãn dịch dài dài. Đùng một cái chàng đi lính. “Tôi quyết vì dân quyết đoạn tình” như lời thơ của anh Năm. Một bữa thấy người hùng lù lù về xóm, vai mang ba lô, lưng khoác chiến y, NDTV cảm mến ra mặt. Riêng tôi thấy chàng không khá được, tôi tội nghiệp. Nhưng cũng hài lòng vì ít ra trong thời gian bị cấm trại ở Quang Trung chàng không có dịp lạng tới lạng lui với mấy con nhỏ bia ôm, nhất là với con nhỏ mà chàng cứ khoe với tôi là có cặp vú bự tổ chảng (?) Thằng con trai tôi lúc đó đâu được hai tuổi cũng chê chàng luôn. Chàng về phép bồng nó lên tay, nó ngó chàng trân trân một hồi rồi ré lên khóc. Ông gì lạ hoắc, xanh lè và hôi hám!

Chàng đi lính đen đúa đã đành, phần tôi cũng chăn cà-mum không kém. Số là tuần nào tôi cũng dang nắng đi đón chàng ở cổng trại về phép. Tới giờ bên trong mạnh ai nấy chạy túa ra, rồi cả bọn hơn một chục mạng chiến sĩ hiên ngang nhào lên xe tôi, lớp dở cốp xe ngồi phía sau lểnh nghểnh quá giang đi về thành phố. Tôi phóng xe ào ào sụp ổ gà, phía sau mấy trự bị dằn xóc la chói lói.

Nhưng rồi thú vui của người em gái hậu phương sớm chấm dứt sau 9 tuần: chàng thuộc thành phần chuyên viên, được biệt phái về dân sự, cũng như quý vị thầy giáo. Chính sách này nằm trong kế hoạch bảo tồn nhân lực của VNCH. Đi quân đội mà chàng không bắn ai một phát cũng không ai bắn chàng một phát. Tuy nhiên điều đó khiển chàng bây giờ cảm thấy bứt rứt, cái bứt rứt chung của hai mươi lăm triệu đồng bào dù xa dù gần, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù vô tình hay cố ý đã làm cho Miền Nam sập tiệm.

Trở lại cái “sướng lắm chứ” của em bé chăn trâu, nhiều lúc tôi ước ao trại cách mạng hay quân đội chăn chàng giúp đùm tôi. Vì ngày nào chàng còn tự do la cà là ngày đó tôi còn hồi hộp. Nói ra nghe kỳ chứ những lúc chàng điên điên khùng khùng tôi mới cảm thấy chàng thuộc về tôi. Lúc nào chàng ngắc ngoải ngồi dậy được là tôi lại sợ mất chàng. Đã hai lần trong đời chàng phát khùng. Lần đầu tiên nhằm thời kỳ tôi dắt chàng đi coi khỉ coi cọp, coi cá sấu ở Thị Nghè và ăn cà-lem. Bỗng dưng chàng xệ quá sức. Đêm đêm tôi phải gãi đầu cho chàng và ầu ơ một hồi chàng mới ngủ được một giấc ngắn. Tôi ngậm ngùi thương xót trong lòng thương có pha một chút tình… mẫu tử (có lẽ tôi cũng hơi bệnh hoạn ở điểm này.) Lần thứ hai chàng phát khùng sau khi thất nghiệp hơn năm ở Paris. Đêm đêm tôi lại phải gãi đầu ru chàng ngủ. Tôi ngồi đâu chàng cũng be be ngồi bên cạnh như con chó bị bệnh. Tôi đi làm về chàng mừng rơn như con nít mừng mẹ đi chợ về. Chàng bệ rạc quá sức nên phải đưa vào bệnh viện tâm lý. Hôm đưa chàng vào nhà thương, tôi vừa khóc vừa nói: “Anh ráng cho mau lành bịnh, rồi anh muốn cưới vợ bé em cũng sẽ cưới cho anh.” Chàng không nói gì chỉ níu lấy tay tôi cứng ngắc. May quá, hai tháng sau chàng ra nhà thương. Và cũng không nhắc nhở gì tới ba cái vụ vợ bé.

Lần khùng đầu tiên chàng không phải vô nhà thương. Lúc chàng xìu xìu ểnh ểnh tới hồi ngặt nghèo thì bỗng dưng được thăng chức và đổi lên làm việc ở khu kỹ nghệ Biên Hòa- tôi xin nói rõ là Khu Kỹ Nghệ chớ không phải Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Vậy mà rồi từ từ chàng lành bịnh và hăng say làm việc, nhân viên rất cảm mến chàng. Tôi nghĩ sự mầu nhiệm đó chẳng qua là chàng đổi lên chỗ khỉ ho cò gáy, xung quanh không có mấy con hồ ly bia ôm, gái nhảy nên tâm thần chàng lắng xuống rồi dần dần tới bình phục chẳng mấy hồi. Nhưng rồi tôi lại nhẹ dạ nghe lời chàng xúi bẩy, tham dự vào việc giành trụ sở cho chàng trở về Sài Gòn. Trụ sở đó ở đường Hàn Thuyên, nguyên khởi cấp cho công ty mổ thịt ở cầu Bình Lợi. Xếp sòng công ty này là bạn học của chàng ở Canada. Hai vợ chồng đều có cảm tình với tôi, do đó chàng kéo tôi theo nói giúp cho mau được việc. Anh bạn này đề cao cảnh giác:

– Tôi thấy để cho nó ở Biên Hòa chơi với khỉ vậy mà yên bề cho chị hơn. Chi đem về Sài Gòn nó lạng quạng theo gái chị đừng có trách tôi nghe.

Tôi hiên ngang:

– Ảnh mà lạng quặng là tôi cưa cụt hết hai cẳng! Đừng có giỡn mặt khó làm việc.

Thấy tôi nói ngon lành quá, anh bạn cười hề hề giao cho tôi chìa khóa đưa cho chàng hôm sau đi lấy trụ sở.

Quả nhiên, tôi đúng là dân miền Nam thật thà mắc mưu cộng sản. Trở về Sài Gòn như cá gặp nước, đấng lang quân yêu dấu của tôi lại “giang hồ quen thói vẫy vùng”. Lại rà rà mút mùa lệ thủy. Thiệt là quá cỡ con thợ mộc (ba chồng tôi hành nghề đóng đồ gỗ.) Tôi hối hận thì đã muộn. Thét rồi tôi cũng hết muốn theo dõi hành tung của chàng luôn. Tôi thường dắt hai đứa con tôi đi xi-nê ở rạp Cao Đồng Hưng cho khuây khỏa. Đi coi cọp vì tôi quen với ông quản lý.

Không muốn theo dõi mà vẫn được biết như thường. Một bữa người chị dâu thứ Ba của tôi nói nhỏ là chàng lẹo tẹo với một con bé làm ở Ngân Hàng Quốc Gia. Rồi bà xúi tôi rủ chị dâu thứ Hai đi bắt ghen dùm. Chi Hai tôi bắt ghen được mề đay anh dũng bội tinh có nhành dương liễu. Chị đã từng căng dây giựt tình địch té lăn cù từ xe gắn máy xuống đất và bận khác bắt ghen dùm bạn, búa lầm vào đầu một người đàn bà lương thiện phun máu, suýt nữa ở tù. Vừa nghe đề nghị của chi Ba tôi đã hồn vía lên mây. Và vái van cho đừng bao giờ tôi gặp chàng đi với bồ.

Vái không gặp mà rồi vẫn gặp. Tôi không thấy nhưng thằng con trai tôi thấy. Bữa đó tôi chở Honda thằng lỏi (lúc đó đâu 6 tuổi) đi học về. Tới chỗ ngã tư đèn xanh đèn đỏ Xa Lộ bỗng nó chỉ qua bên đường la lên “Ba kìa!” Quả nhiên chàng đang đánh công xa chở một cô mặc áo hường, hai bên không biết nói gì với nhau mà cười toe toét. Chàng từ Cầu Sơn (khít bên xóm tôi) chạy ra mới dễ giận chớ! Thiệt là giỡn mặt tử thần. Tôi quành xe trở lại rượt theo chàng qua khỏi Thi Nghè. Tới góc Hồng Thập Tự- Đinh Tiên Hoàng tôi bóp còi qua mặt rồi ngó trở lại khoát tay cho chàng tấp vào bờ lề. Tôi nghe tiếng xe thắng, nhưng khi ngó lại xe chàng biến đâu mất, như mây khói. Vòng vòng một hồi kiếm không ra, tôi vọt ga tiếp tục con đường Hàng Thập Tự, phom phom chạy về Hùng Vương, Chợ Lớn, chỗ anh chi Ba tôi ở. Tôi vượt đèn xanh đèn đỏ, cảnh sát công lộ hú còi rượt theo buộc tôi phải dừng lại. Khi thấy tôi nước mắt nước mũi tèm lem, người bạn dân thông cảm, nhưng cũng khuyên nhủ:

– Bà chạy từ từ vì sợ em nhỏ ngồi sau té xuống đường nguy hiểm.

Bấy giờ tôi mới sực nhớ. Thằng lỏi mặt mày xanh dờn, tay chân lạnh ngắt, nó lắp bắp:

– Má ơi! Con sợ!

Tôi xúc động càng khóc lớn hơn. Nhưng sau đó tôi cố lấy lại bình tĩnh và chạy Honda từ từ về nhà anh Ba. Ông công lộ lẽo đẽo theo sau, cách một quãng xa.

Đâu khoảng một giờ sau chàng xít xe tới, dắt theo anh chị Năm và vợ chồng một cộng sự viên thân tín. Đố mấy chi em chàng đặt ra chuyện gì để chạy tội? Tưởng tượng không nổi! Chàng nói:

– Em đừng có ghen ẩu. Bà áo hường là bạn cũ muốn xin cho đứa em vô sở anh làm nên anh nể bạn mời đi uống nước nhắc chuyện đời xưa, chớ có gì đâu. Không tin em thử hỏi…

Chàng chỉ hết người này tới người nọ. Và ai cũng làm chứng gian tại tòa. Lại gan không? Tôi mệt mỏi quá nên chịu thua, không thèm lấy khẩu cung ai hết. Tôi chỉ muốn tin chuyện chàng nói (dù tôi biết là nói dóc), cho đỡ khổ.

Trời ơi sao tôi khổ quá? Tôi muốn chết và đừng bao giờ đầu thai trở lại làm người, nhất là làm đàn bà, để đừng rủi ro gặp lại chàng bất tử.

Thằng lỏi tôi quả thiệt có cái khiếu điềm chỉ viên trong huyết quản. Một bận khác tôi đèo nó đi học về bằng Honda trên đường Chi Lăng. Bỗng nó chỉ bên đường và la lên: “Xe ba kìa!” Tôi thắng gấp. Quả nhiên xe chàng đậu sờ sờ trước một quán nước. Bên trong quán chàng đang ngồi cười ngặt ngoẻo với Ả Linh, cô thư ký riêng của xếp chàng. Cô nàng đẹp vừa phải nhưng biết điểm trang sắc sảo và liếc tình như dao cạo. Chẳng những tôi ghen mà ông xếp cũng ghen thầm với chàng. Đối diện hai người kia là Khánh, phụ tá của chàng. Tôi kêu lớn cho chàng biết rằng tôi đã thấy hết, rồi vọt xe thẳng về nhà. Mãi tới gần giới nghiêm chàng mới lò dò về … Hỏi, chàng đáp:

– Em đừng có ghen ẩu! ông Khánh phụ tá của anh mê cô Ả Linh nên anh mới chở hai người đi chơi chung để khích lệ tinh thần làm việc của đàn em

Nói như vậy đó, chị em nghe coi có lọt lỗ tai được không? Tôi muốn bóp cổ cho chàng chết ngay tại chỗ. Bóp cho tới khi nào le lưỡi cả thước tắt thở luôn, cho hết năn nỉ. Vì năn nỉ tôi lại xiêu lòng. Khổ quá! Tôi đâu có muốn biết mà tôi vẫn biết, tôi đâu có muốn thấy mà tôi vẫn thấy. Tôi quá rõ khả năng và phản ứng của tôi nên tôi sợ .

Hồi còn là học sinh trung học tập tễnh yêu nhau, tôi hết mực tin chàng đã yêu tôi báng mối tình đầu. Tới lúc chàng đi du học, tôi và anh Năm ở nhà tò mò mở cái rương học trọ của chàng. Tôi bật ngửa: trong rương có hình cô gái lộng kiếng, lưng ảnh đề tặng người yêu (Ký tên: Hoa, bến đò Định Tường). Và tập nhật ký chàng viết hồi học lớp đệ Nhị ở Mỹ Tho, tang vật rành rành. Tôi khóc sướt mướt. Anh Năm hoảng quá nên đem ảnh và nhật ký đốt hết cho tôi hài lòng. Nhưng tôi vẫn ân hận và vẫn khóc. Bởi vậy từ đó tôi rất sợ tháy máy các đồ vật riêng tư của chàng mà chàng lại hay vứt bừa bãi, không giấu giếm che đậy.

Lúc đã sống chung, một bữa tôi mở tủ tìm quyển sách mà tôi muốn đọc lại. Tôi bới các kẹt hóc. Sau dãy sách một chiếc hộp thiếc rớt ra. Một hộp đựng kẹo ngậm cho thông cổ. Tôi húy hoáy mở hộp. Tôi khám phá một lọn tóc màu hoe vàng và một cùm lông cùng màu, rồi một lọn tóc và một cùm lông màu nâu óng. Không tin dở hộp ra coi, rau răm ở dưới cá mòi ở trên. Quỷ thần thiên địa ơi! Tôi đã lấy nhằm con quỷ râu xanh! Tôi bủn rủn. Xin ông trời ngó lại mà coi! Dân Gia Nã Đại đóng thuế, chánh phủ Gia Nã Đại cấp học bỗng cho chàng qua xứ người ta du học. Chàng qua xứ người ta rồi chàng cắt lông cắt tóc con gái người ta bỏ vô hộp thiếc mang về xứ mình như mọi Da Đỏ. Thiệt hết cỡ nói! “Ta ngắt đi một cùm lông thạch thảo”. Đến nước vậy, chàng vẫn tìm được lý do để tự bào chữa:

– Mấy nàng tự ý xởn cho, chớ anh đâu có nỡ lòng nào xởn lông, xởn tóc con người ta như vậy. Vã lại, cái màu nâu óng là của Louise Gia Nã Đại, còn hoe vàng là của Diane từ Paris đem về chứ đâu phải của Gia Nã Đại hết!

Của ai thì của, tôi mất ngủ cả đêm. Cả tuần. Chàng lường gạt ái tình tôi trước khi đi, trong khi đi, và ngay cả sau khi đi du học về nước. Quá thể! Tôi không có một kí lô nào trong đời chàng hết. Tôi tủi thân khóc sưng vù cả mắt. Tôi sụt cân, thụt mắt. Bởi vậy tôi sợ biết đời tư của chàng lắm. Như con chim thấy cành cong sợ ná, tôi chọn lựa sự đào tẩu: tôi không muốn biết. Mấy chị em đừng tưởng khi không tôi trở thành triết gia như vậy đâu. Trước đó, tôi đã áp dụng nhiều ngón tuyệt kỷ khác kể cả phương pháp của công an mật vụ. Khuya chàng mò về lăn kềnh ra mở tiệm cưa, tôi thao láo con mắt ngó nóc mùng đâu có chịu nổi. Tôi với tay lấy cây đèn bấm trên đầu nằm, vạch mắt chàng rọi vào lấy khẩu cung. Chàng lè nhè “trời ơi sao ác ôn như việt cộng vậy?” rồi chàng khai hết. Lúc đó tôi mới đâm hoảng, không muốn nghe nữa. Tuốt tuột “con nhỏ nào vú nhỏ, đít lớn, lông nách nhiều, lỗ rún vuông, dầy dầy mỏng mỏng… Thôi thôi tôi không muốn nghe nữa. Tôi tất đèn bấm, khóc thút thít.

Có lẻ trong hoàn cảnh này mấy chị em xúi tui xách va li trở về với má. Tôi đã có lần làm vậy rồi thưa quý vi. Tôi bỏ Sài Gòn về Vĩnh Long đã có hai ba hiệp. Lần nào qua ngày thứ ba tôi cũng nhớ chàng quá chịu hết nỗi nên lại xách va li trở về… và mắc cỡ. Nhưng sau đó, nghĩ cho kỹ tôi thấy ông già chồng tôi có lý: “Tao ghét đứa nào là tao ở lì nhà nó cho nó chết luôn.” Gậy cha đập lưng con. Tôi giận chàng, tôi ghét chàng, tôi tử thủ bên chàng cho chàng hết phương cục cựa.

Hồi mới cưới tôi về, đêm nào chàng cũng đi nhảy nhót tưng bừng, bỏ tôi nằm chèo queo ở nhà một mình. Ức quá tôi đòi đi theo, chàng cho theo. Vừa bước vô tiệm nhảy là mấy con quỷ cái ré lên rồi một đứa xê xuống ngồi lên đùi chàng tỉnh bơ. Chàng cũng bá lấy cổ nó ra rít. Chàng lôi nó ra sàn nhảy, vừa lả lướt vừa ôm lấy eo ếch nó tằn mằn. Tôi ngó muốn lòi con mắt. Tức quá tôi vớ lấy ly rượu trên bàn ực một hơi, mặt mày xây xẩm, tôi ngũ gục luôn tại chỗ. Từ đó tôi từ bỏ chiến thuật “bám trụ chống càn”, nằm nhà ngủ cho khoẻ thân. Tôi biết rồi sẽ có một ngày nào đó người chồng hoang đàng, người cha tội lỗi kia sẽ trở về ngã vào vòng tay âu yếm của người vợ hiền, buông ra những lời ăn năn và viết tờ tự thú.

Nhưng rồi như một nữ minh tinh nhoẽn cười, đã mõi cả miệng mà ông phó nhòm vẫn chưa chịu bẩm nút, tôi dần dần mất kiên nhẫn. Tôi nằm nhà chờ thì chàng đi hoang luôn, ngủ bờ ngủ bụi. Hồi đó mới quen sơ sơ anh bạn nhạc sĩ tôi chưa có dịp nói chuyện. Vì vậy một đêm kia chàng dắt một con qui cái tấp vào nhà anh bạn này, giới thiệu là ý trung nhân của chàng rồi xin tá túc một đêm lý do đã quá giờ giới nghiêm. Sau này vỡ lẽ, vợ chàng nhạc sĩ hòa tấu cho chàng một bản không được du dương cho lắm. Đáng kiếp!

Chàng rượt theo mấy con qui cái là một hành động không có gì khó hiểu. Thể nhưng song song chàng lại có rất nhiều hành tung rất là bí ẩn cho tới bây giờ dưới mắt tôi chúng vẫn còn là kỳ kỳ ảo ảo sau lớp sương mù dày đặc. Lần tôi có bầu đứa con thứ hai (thằng lõi điềm chỉ viên) đâu được sáu tháng, canh khuya nằm chờ chàng tôi ngủ quên luôn ở ghế dài phòng khách. Khi giật mình tỉnh giấc, chàng đã ngồi cạnh tôi từ lúc nào và đang lay lay tôi dậy. Tôi tưởng chàng muốn trêu hoa ghẹo nguyệt. Nhưng không chàng dựng tôi đứng dậy rồi hôn lên bụng chửa của tôi lòng vòng. Hồi lâu tôi cũng nhột mà rứt chàng ra không được. Thêm nữa tôi lại lo bà già chồng tôi nghe rục rịch ở phòng khách bà từ trên gác mò xuống dò la động tĩnh bắt gặp cảnh quái đản này sợ bà sẽ đứng tim ngã ra cho oan mạng. Mà can chàng không nỗi. Tôi phải giả bộ than là bị muỗi cắn chàng mới chịu buông tha cho tôi chui vào mùng ngủ.

Cái đó chưa dị hụ gì mấy. Đêm khác nghe tiếng chàng về nhưng buồn ngủ quá tôi nằm luôn trong mùng. Tôi nghe lãng đãng tiếng lục đục rồi tiếng vòi nước tỏa ra ở nhà tắm. Nhưng chờ mãi không thấy chàng vào ngủ, tôi thắc mắc mò ra trinh sát. Cảnh tượng thiệt hoang đường: đèn nê ông thắp sáng choang, chàng trần truồng ướt mèm ngồi ở bàn ăn… khóc sướt mướt. Tôi hoảng hốt xáp tới ngồi bên cạnh hỏi việc gì đã xảy ra, chàng tiếp tục khóc ngất mà không nói, trông thiệt thương tâm. Một lát, sực nhớ, sợ chàng cảm lạnh tôi lấy khăn lông trùm cho chàng rồi vỗ về chàng đi ngủ. Chàng ngoan ngoãn nghe theo. Đêm đó tôi nằm bên chàng mà đầu óc hoang mang cho đến bây giờ tôi cũng chưa hiểu được vì lý do gì mà chàng ở truồng ngồi khóc tầm tã như vậy.

Khi Sài gòn sập tiệm, tôi xách hai đứa nhỏ chạy rạt gáo qua tới bên Tây muôn dặm tìm chồng (chàng đã mừng rơn tính phen này kiểm vợ khác làm ăn). Tôi những tưởng chàng đã được giải phóng ra khỏi vòng tay mấy con qui cái! Đâu được năm sau đứa cháu gái của chàng (con anh Năm) biên thư nhắn nhe chàng “hãy tội nghiệp người con gái đáng thương ấy và chú đừng quên bổn phận làm cha”

Thế là chàng lòi ra tội… trốn quân dịch. Vậy mà hồi ở Sài Gòn tôi không hay biết gì hết. Người con gái đáng thương ấy chính là Nhung, con nhỏ bồ Bắc kỳ làm ở Ngân Hàng Quốc Gia của chàng. Tôi vừa giận chàng vừa giận con nhỏ cháu. Tôi đã gửi thuốc men quần áo về giúp nó mà nó nỡ nào biên thư qua khuyên chàng một câu xanh dờn. Tôi tức cành hông lấy khẩu cung, đương sự khai là thương con nhỏ Bắc kỳ tại vì cô bé giống Thanh Lan, mà chàng thì khoái Thanh Lan. Tôi cũng thích Thanh Lan, nhưng kề từ đó nghe Thanh Lan hát tôi thấy dỡ ẹt. Tôi thề độc với chàng là chuyện tình gì của anh anh viết em đều đọc chớ còn chuyện tình của anh với con nhỏ Bắc kỳ đó là em nhất quyết sẽ không bao giờ đọc. Con nhỏ biết chàng có vợ rồi mà vẫn còn nhào vô dành dân lấn đất.

Thêm một lần chàng lại độc diễn cái tuồng “tiền dâm hậu thú” với vợ nhà. Nghĩ cho cùng không có cách nào hơn tôi đành mở rộng vòng tay chiêu hồi đón nhận người anh lạc hướng quay về hồi chánh. Tôi thề trong bụng: đây là lần chót ! Sau đó là
the river of no return ! Chàng hãy liệu hồn! Chiến trường Đông Dương coi bộ có mòi lắng dịu thì đùng một cái phe đích từ Bắc Mỹ đánh sang. Đánh bảng điện thoại: Louise, cô bé cũ Gia Nã Đại (đã tự ý xởn lông như chàng nói) tưởng chàng đã chết mất xác trong cuộc chiến tranh dai dẳng ở Việt Nam, nay nghe chàng còn sống sót vội vả gọi sang hỏi thăm sức khoẻ. Cô ta đã ly dị chồng và hiện sống với con gái ở Quebec. Anh Năm vượt biển tị nạn ở xứ này nên nối lại được nhịp cầu tri âm. Khi nàng gọi, chàng bắt điện thoại và trao cho tôi ống nghe phụ. Hai bên trao đổi văn nghệ xã giao một hồi, rồi bắt đầu chia động từ yêu đương “je t’aime, tu m’aimes, nous nous aimons…” tỉnh bơ. Lòng sùn sụt sôi dầu sống, tôi trả lại ống nghe, bước ra phòng khách đóng ập cửa lại cho hai trẻ tha hồ mà tỏ tình nhau qua làn sóng điện – ngót ngét hơn một giờ. Tôi giận run. Chàng giỡn mặt chính quyền quá thể.

Tối hôm đó tôi hát bài Ai Xuôi Vạn Lý điệp khúc “những người mang mền biệt ly”: tôi vác mền ra ngủ ở ghế nệm phòng khách. Tôi chờ, chẳng thấy chàng ra năn nỉ. Qua đêm sau cũng hoạt cảnh như đêm trước. Tôi tức thở không ra hơi. Đêm thứ ba chịu hết nổi tôi mò vô phòng đè chàng xuống vừa bóp cổ vừa ngắt. Chàng vừa đỡ vừa cười… ruồi kiểm điểm. Chàng nói:

– Em đừng ghen ẩu! Cô ta với anh cách trở một đại dương, có cách gì tình qua không gian làm ăn với nhau được mà em ghen? Hồi đó anh lấy cô ta hà rầm em không ghen, bây giờ mới đá bóng một chút mà em phát ghen mới kỳ. Người ta có lòng ưu ái đánh điện thoại xuyên dương hỏi thăm mình, chẳng lẻ anh hất hủi…

Vân vân và vân vân. Mấy chị em nghĩ coi tôi có thể làm gì khác được không? Cắm sừng chàng để trả thù? Tôi sợ thù chẳng những trả không được mà lại còn mang nặng lấy mặc cảm phạm tội suốt đời. Rồi sau đó chàng òn ĩ thế nào không biết mà tôi còn may áo tốt gởi cho nàng Louise mặc trong dịp lễ Giáng Sinh, và nàng cũng có gởi cho tôi món quà đáp lễ nhưng bi thất lạc. Nàng viết thư rũ chàng và tôi qua bên bển chơi trong dịp hè, nàng trả vé máy bay. Nhưng tôi thấy cái tuồng bộ ba ông táo không thể khá được nên cứ khất lần.

Nói tới Gia Nã Đại tôi xin mở ngoặc để nhắc lại chuyện anh bạn xếp sòng Công Ty Mỗ Thịt khi trước. Trên đường từ nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa bay sang Gia Nã Đại sum họp gia đình, anh có ghé Paris và gặp lại chúng tôi. Nhắc chuyện trụ sở hồi nẵm, anh ta cười xòa:

– Đó! Tôi đã nói với chị trước đem thằng qui này về Sài Gòn là nó sanh giặc mà chị không chịu nghe.

Nhắc chuyện Việt Nam, được biết anh là một trong những người hiếm hoi được nhà nước xã hội lưu dụng. Lý do: trong chế độ “không có gí quý hơn tự do và độc lập, vàng và thịt lợn còn quý hơn nhiều! Anh có thớ lắm. Cán bộ lớn nể theo lớn, cán bộ nhỏ nể theo nhỏ, ông xếp nhà đèn còn phải dưới anh một bực. Chẳng có gì khó hiểu: cúp thịt thì điện không hư, mà cúp điện thì thịt hư. Mà thịt hư thì ông nhà đèn có chầu được chủ tịch quản lý thành phố Hồ Chí Minh gọi lên trả lời về cái tội phá hoại tài sản nhà nước. Chế độ “lấy thịt đè người”, đúng không chê vào đâu được. Bà con bây giờ chắc đã rõ tại sao cán bộ ỉa lớn đống hơn nhân dân và thúi hơn của nhân dân rất nhiều.

Từ đầu tới giờ tôi chỉ một mực hài tội đấng lang quân yêu dấu của mình hơi nhiều. Dĩ nhiên, không phải con người của chàng chỉ có xấu xa tồi bại, vì như thể mấy chị em thử nghĩ làm sao tôi thương nổi. Có nhiều bữa chàng thiệt dễ thương, và tôi thấy thương chàng đứt ruột.

….

Thỉnh thoảng chàng cũng gảy đờn, ca hát, viết văn, làm thơ; cũng văn nghệ một cây vi vút. Thấy anh bạn nhạc sĩ đặt nhạc để tặng vợ, anh Ba làm thơ ca tụng vợ, anh Năm viết văn khải tấu vợ, ca sĩ Sacha Distel gân cổ bốc thơm vợ, tôi cũng kín đáo gợi ý chàng nên làm thơ tặng tôi một tí. Chàng… dơ hai tay lên trời:

– Anh chưa có khùng mà sao em xúi anh làm chuyện bất nhơn như vậy!

Tôi cụt hứng. Độ tuần sau, vào một tối chàng đặt ở đầu nằm tôi quyển vở học trò trong đó chàng chép tay những bài thơ mà chàng ưa thích. Dở lần tới phần cuối tôi thấy một bài thơ đề tặng tôi, mang tựa “Thời Mới Lớn” và ký tên chàng. Tôi cảm động đọc bài thơ đó, thấy sướng ran:

Trường tan áo trắng hanh chiều
Em qua để lại quá nhiều nhớ thương
Trường tan nón lá nghiêng tròn
Em qua để lại mỏi mòn riêng ta
Trường tan áo mỏng la đà
Em qua để lại sầu ta vô cùng

Nghe muốn rụng rún. Những câu thơ trên mang tôi về căn trường học trò, nơi đó ngày ngày chàng ta ngồi ở đống cây trước nhà (đừng quên chàng là con thợ mộc) đón tôi đi học về ngang ngõ. Tôi lâng lâng trong khung trời hoa bướm mấy ngày. Tôi thấy bài thơ hay ra phết. Ai mà có ý kiến ngược lại là tôi đối lập tới cùng. Bài thơ nói về tôi, viết về tôi và lại để tặng tôi. Hay thấu trời.

Không biết mấy con quỉ cái đó cố tình làm cho chàng ngất ngư hàm tiếu hay không, vì tôi nhận thấy chàng cũng làm tròn bổn phận công dân “đực rựa” đối với xã hội chủ nghĩa: lao động tốt! Rất tốt (tùy mùa). Chàng đã giúp tôi khám phá những tiềm năng ở tôi mà chính tôi không hề ngờ tới. Những lúc đó tôi muốn kiếp sau được đầu thai trở lại làm người, làm đàn bà, và gặp chàng trở lại. Chàng bảo đừng cám ơn chàng mà nên cám ơn những người đàn bà đã dạy dỗ chàng. Tôi không ghen nhưng thấy khó lòng hậu thuẫn ý kiến này được. Khi giận chàng xách gói về với má, tôi gặp lại chị tôi và có dịp tâm sự. Chi tôi sắc nước hương trời, tôi bằng một nửa là may lắm. Chính chàng thú thiệt cũng mê. Đàn bà nửa đêm tâm sự, tôi nói phớt qua kinh nghiệm giữa tôi với chàng. Chi tôi bộc bạch:

– Tao không biết sướng là cái gì hết! Mỗi lần thằng chả về ăn xong cơm tối là ngáp dài. Rồi leo lên tao như gà đạp mái… Nghe mày nói mà ham. Thiệt tao chưa hề biết sướng. Gẫm lại mấy không đẹp bằng tao mà có phước hơn tao nhiều…

Ra đường thiếp hãy còn son,
về nhà thiếp đã năm con với chàng.

Chị tôi giờ vậy đó. Nghĩ cho cùng, phải chăng chẳng qua đó là nghiệp báo. Hồi thời trung học chị đã khiến cho một anh chàng si tình nuôi hy vọng hảo huyền đeo đuổi nhì nhằng, đau tương tư tưởng chết. Rồi cạo đầu đi tu.

Chàng lao động tốt tùy theo mùa, như đã nói. Có lúc cả tháng khi lên giương chàng khư khư ôm theo một quyển kinh dầy mo bìa cứng màu đỏ. Liên tiếp nhiều đêm sau khi coi truyền hình hé cửa bước vào buồng ngủ bước vào, tôi giựt mình vì đụng nhằm khối đen lù lù ngồi bẹp dưới đất. Tôi rón rén khép cửa lại còn nghe chàng kêu “ộp ộp” như âu Dương Tây Độc luyện hàm mô công.

Nhà tôi ở từng mười lăm. Một đêm trăng sáng nọ chàng mở cửa sổ bước ra ngoài không trung cỡi lên lưng con dơi đen bay tuốt lên cung Hằng Nga như chú Cuội. Nếu tình cờ xảy ra như vậy, tôi cũng sẽ không ngạc nhiên. Tuy nhiên, vẫn còn có một điều khiến cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là vì duyên cớ gì mà năm xưa nọ ở Hàng Xanh, chàng đã trần truồng ngồi khóc tỉ tê dưới ánh đàn nê-ông giữa đêm hôm khuya khoắc!

KIỆT TẤN

Lệ Dung Sang Tề

kiettan

Hôm nay là Xuân mai còn Xuân
Pháo đỏ đầy thêm nhớ cố nhân
Cung nữ môi tô rầng rật điệu
Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân

Nguyễn Bính
Lệ Dung em ơi! sao em nỡ đan tâm lòng quyết (yết) sang (ờ ờ) Tề…”
Tiếng ca rướn cao lên ở chữ quyết rồi dợn uốn ngân nga sang chữ Tề để xuống câu vọng cổ lâm ly mùi mẫn..
“…Em ra đi cho lỗi hẹn câu thề. Như ta đây đã từng là một dũng tướng dọc ngang ngang dọc mà giờ phút này con tim sắt đá thiên vạn đường dài cũng nhất phiến u hoài chỉ vị khanh (ơ ơ…).” Tiếng ca bứt rứt não nề buông lên lời trách móc, tự trách mình và trách người đẹp đã nhẫn tâm rứt tà áo lụa mà lên đường trắc trở xa xăm về xứ khác. “…Em ra đi đoạn đành giẫm nát tình anh, không một lời hỏi han giã từ dục bước lên kiệu hoa đem tấm thân ngọc ngà sang Tề quốc (ờ ơ ơ…).”
Giọng ca của anh Hai Te , người thợ mộc trẻ tuổi tài hoa của ba tôi, bữa nay nghe sao mà thống thiết não nuột hơn bao giờ hết. Trời vừa sụp tối. Tối nay, cũng như mọi tối, sau khi cơm nước xong, anh Hai Te ôm cây đờn lục huyền cầm ra ngồi ở đống cây trước trại mộc vừa khảy nhấn ngọt ngào vừa mùi mẫn hát theo vài khúc ca giải muộn. Bên lối xóm chắc cũng đã có cô gái lãng mạn nào đó si tình anh rồi không chừng. Mọi tối khi nghe anh hát bài Lệ Dung sang Tề tôi thưởng thức điệu nghệ tài hoa của anh và cảm thấy dễ chịu. Nhưng tối nay, cũng vẫn những câu hát đó mà lời ca bất chợt chuyên chở được mối tơ lòng ngổn ngang của mình, tôi cảm thấy ôi sao nó thoát trở nên vô cùng ngậm ngùi thấm thái! Trời hâm hấp nóng mà người tôi thấm lạnh nổi gai ốc ran ran. Tôi ngồi ở bực cửa sổ trên gác thả hồn mình dật dờ chóng mặt theo điệu ca nhấp nhô trầm bổng….
Lệ Dung em ơi! sao em nỡ đan tâm lòng quyết sang Tề?” Nhưng Lệ Dung nào đâu đã sang Tề. Vậy mà đối với dũng tướng…. học trò lớp đệ ngũ như tôi, dù nàng hãy còn sờ sờ đó mà tưởng chừng như đã muôn trùng cách biệt, đôi tay vụng về của tôi sẽ không bao giờ vói tới. Tôi si tình. Tôi lại si tình. Tháng rồi. Năm ngoái. Lần nọ. Lần khác. Rồi lần nữa. Thêm một lần nữa tôi lại si tình! Bắt đầu từ lúc nào tôi biết si tình? Từ hồi mới vô đệ thất? Kim Sơn, Bê. Hay hồi bước lên đệ lục? Cúc, Thủy. Hoặc còn sớm hơn như vậy nữa, hồi còn là nhóc con ngồi ở lớp ba lớp tư hay lớp bét trường làng? Nữ, Nguyệt. Hay ngay từ lúc tôi chưa cắp sách tới trường? Lạc, Quý. Chính tôi cũng chưa chắc đã rõ được. Nhưng chắc một điều là những lúc gần đây tôi càng ngày càng tiến bộ. , càng ngày càng hăng hái si tình hơn trước. Lan, Hươnng, Lài, Ánh, Nho, Hiền, những đóa hoa xinh xắn vừa hé nụ của trường Cao Tiểu Vĩnnh Long (sau này đổi tên Nguyễn Thông rồi Tống Phước Hiệp), những nàng kiều nữ con ông Bảy Hoàng, những cô gái mỹ miều của bà Vĩnh Phúc. Và còn biết bao nhiêu bông hồng khác nữa tôi đã từng theo đuổi… xa xa phía sau mà không hề biết tên biết tuổi. Tuy nhiên, cũng không phải nhờ vậy mà tôi khổ sở ít hơn. Khổ sở điêu đứng ngất ngư vì con tim quá sức nhạy cảm của mình. Nghĩ cho cùng, có lẽ tôi si tình kinh niên và người đẹp chỉ là một cái cớ. Vừa chợt ngó thấy kiều nữ nào xinh xinh mũm mĩm là con tim tôi đã cỡn lên đập loạn xạ, dù nàng có nhỏ tuổi, bằng tuổi hay lớn tuổi hơn tôi cũng không thành vấn đề. Đập loạn xạ để rồi đêm tối nằm một mình ôm con tim nhảy cỡn của mình mà hồi hộp nhớ thương mất ngủ. Những lúc đó nếu có bóng hồng nào chợt đoái tưởng tới tấm chân tình thiệt thà của tôi bèn nảy ra sáng kiến lấy mực tím đề cho tôi một bức thơ tình ngạt ngào trên giấy lụa chắc là tôi sẽ đứng tim mà ngã lăn ra chết tốt. Chết vì quá đỗi bồi hồi sung sướng. Đôi khi tôi oán trách trời già cay nghiệt mắc mớ gì khi không lại sinh ra một thằng con trai với trái tim rướm máu lạng quạng mút mùa như tôi làm chi vậy. Si tình lên. Si tình xuống. Lắc lư qua. Lắc lư lại. Ngất ngư.
Để rồi giờ đây, thêm một lần nữa, tôi lại si tình Lệ Dung. Anh với em má tựa vai kề, nay dù em có lạc Sở sang Tề, thì em cũng gởi thơ về cho anh hay. Mà nào tôi đâu đã được má tựa vai kề. Chỉ dám đứng xa xa mà ngó Lệ Dung và hồi hộp. Rồi tới lúc xáp lại gần mà chiêm ngưỡng, mái tóc xõa dài nhu mì thắt kẹp đồi mồi ngang lưng của nàng thầm kín tỏa ra hương thơm quấn quít của loại nước hoa kỳ bí, tôi càng thêm bấn loạn bủn rủn. Tôi lo sợ trong một phút hoang mang nào đó, cầm lòng không đặng, tôi sẽ buông ra một câu nói… lãng-nhách—để rồi tối đến nằm lẻ loi lăn trở, nhớ lại câu nói bốc đồng của mình mà ân hận thức trắng giờ con mắt. Còn Lệ Dung thì giận lẫy bỏ sang Tề.
Nhưng may mắn thay Lệ Dung chưa nỡ đang tâm bỏ sang Tề. Lệ Dung vẫn hãy còn đó. Không phải vì Lệ Dung quyến luyến dũng tướng học trò Lê Kiệt. Nàng đang dạo chơi và hứng mát ngoài cầu tàu Long Hồ ngó mặt qua cù lao An Thành xanh dờn cây lá nhô lên giữa dòng Cổ Chiên cuồn cuộn nước xuống ngừ đục phù sa khi chiều tới. Chút nữa nàng sẽ trở về đây. Nàng sẽ trở về căn nhà trống trải nương tựa vách lá và vách ván của nhà hàng xóm hai bên mà vươn lên. Nàng sẽ bỏ guốc mộc và nhón gót chân son nhẹ nhàng bước trên những bực thang gỗ rón rén leo lên căn gác nhỏ này đây rồi bất chợt xuất hiện trong vòm hương tỏa thơm quấn quít. Và bắt gặp quả tang tôi đang ngồi ở bực cửa sổ mà mong ngóng nàng. Cũng như hôm qua, cũng như hôm kia. Không! Không được. Không lẽ tôi cứ ngồi im ở bực cửa sổ này đây chịu trận cho anh Hai Te hát những câu vọng cổ bứt rứt và yên lặng mong chờ nàng trở về mà trong bụng mình cứ sốt ruột cầm canh?
Tôi vội vàng bỏ chạy xuống gác nắm lấy cổ chiếc xe đạp cà tàng dắt ra ngoài đường lộ đá xanh loang lở. Tôi thót lên yên đạp đánh một vòng lớn ra phía cầu tàu với hy vọng… đừng gặp Lệ Dung. Vái trời cho tôi đừng bắt gặp nàng đang âu yếm cặp kè người yêu và ngoẻo mái tóc nhu mì lên vai của chàng mà du dương dạo mát. Chỉ tưởng tượng trong trí mình hình ảnh đó thôi, tôi đã bắt đầu lên cơn sốt. Đem bao hy vọng lúc ra đi, chuốc lấy buồn thương lúc trở về. Lòng mỗi lần đi lần bão táp, mỗi lần là một cuộc phân ly!
Vái trời….
Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em em ở lại nhà…

Lần này, từ trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho trở về Vĩnh Long tị nạn, Lộc anh tôi mang về một món quà quý báu bất ngờ: “Lỡ Bước Sang Ngang”, tập thơ ngậm ngùi của thi sĩ Nguyễn Bính. Tập thơ chép tay trên tập vở học trò dầy hai trăm trang có gạch hàng vuông và kẻ lể đỏ. Trang đầu có vẽ bằng mực tàu đen mun một gương mặt đàn ông rầu rầu đau khổ và xa xa phía sau là hình bóng một cô lái đang chèo đò dưới một tàng cây lãng mạn sà xuống mặt sông la đà. Tôi thức đêm đọc một lèo hết trọn tập thơ đó, vừa bùi ngùi vừa đê mê những vần thơ của Nguyễn Bính, có lẽ vì tôi khám phá ra ở chàng thi sĩ thất tình chuyên nghiệp này một tâm hồn đồng điệu. Đồng điệu ở chỗ anh chàng này cũng lẩm cẩm hết cỡ nói. Đã quyết không yêu được một ngày, rôì yêu mất cả buổi chiều nay. Chiều nay bướm trắng ra nhiều quá, không biết là mưa hay nắng đây? Chỉ có mưa với nắng thôi mà cha nội đã bắt đầu lẩm cẩm. Còn nói gì tới thương với nhớ. Lạ quá! Làm sao tôi cứ buồn, làm sao tôi cứ khổ luôn luôn, làm sao tôi cứ tương tư mãi, người đã cùng tôi phụ rất tròn? Còn phải hỏi “lạ quá” với “làm sao”! Tại cha nội chẳng những lẩm cẩm số một mà lại còn si tình số một nữa. Y hịch như tôi vậy. Đã trót mang lấy nghiệp vào thân thì hãy cắn răng gồng mình mà chịu chớ hơi sức đâu ở đó mà vò đầu bức tóc tự hỏi vớ va vớ vẩn “nàm thao mí nị nạ quá!”
Nếu tôi lẩm cẩm và si tình số một thì trái lại Lộc anh tôi phiêu lưu văn nghệ và phiêu lưu chính trị số một. Hồi còn đang học ở trường Cao Tiểu Vĩnh Long, một đêm mưa gió bão bùng nọ tự nhiên anh chàng nổi dậy cơn bão lòng yêu nước bèn biệt kinh kỳ ôm gói vô bưng theo kháng chiến chống Tây cứu nước. “Tôi chẳng cần gì vợ đẹp xinh, tôi không lưu luyến mảnh hương tình, tôi không cần của không cần sắc, tôi quyết vì dân quyết đoạn tình”. Chàng đề thơ để lại lâm ly như vậy đó trước khi lên đường giết giặc. Lên voi túc một tiếng còi, thương con nhớ vợ lịnh đòi phải đi. ngon lành chưa?
Nhưng rồi ở bưng bị sốt rét rừng chịu đời không thấu chàng bèn xách trái lựu đạn liệng xuống sông giả biệt bưng biền phản hồi cố quận…. và bị đuổi học. Chàng chiến sĩ trái mùa bèn dời đô sang Định Tường theo học lớp đệ tam trường Nguyễn Đình Chiểu. Rồi xa quê hương nhớ mẹ hiền, nơi xứ lạ quê người, chàng phải lòng yêu Xuân Huê, để rồi sau đó gặp gỡ Lệ Dung từ Bến Tre sang Mỹ Tho học trọ, và đắm đuối hăng say đeo đuổi sứ mạng phiêu lưu tình ái mới mẻ của mình. Lụy vì tình tưởng đã yên lòng dũng sĩ , đâu dè chàng lại nghe lời sách động biểu tình ủng hộ trò Ơn tử vì nước. Chàng hiên ngang trương biểu ngữ giữa hàng hùng binh có ta đi hàng đầu kêu gọi học sinh bãi khóa. Bị lính kín truy lùng chàng chạy lộn trở về Vĩnh Long để xin tỵ nạn chính trị, một tay xách theo tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang chép tay của Nguyễn Bính. Còn tay kia thì không quên ẵm theo Lệ Dung rời bỏ nước Tề trên bước đường lưu vong mong giờ phục quốc—chàng đâu có dè làm như vậy là kẹt cứng thằng em thơ dại của mình. Lúc đó nhằm những ngày cuối năm, sắp bãi trường ăn Tết. Hôm nay là Xuân mai còn Xuân, phơi phới mưa sa nhớ cố nhân. Đã có yêu nhau là đến thế, đừng về Chiêm quốc nhé Huyền Trân!
Khi thấy chàng dũng sĩ hồi hương lại còn dắt theo một em bé vị thành niên, ba má tôi đều hoảng vía. Tôi mười ba tuổi, Lộc lớn hơn tôi năm tuổi, công nương Lệ Dung tuổi giữa lưng chừng. Hồi ở Bạc Liêu, anh Hai tôi sang Bến Tre học nghề thợ dệt cũng đã dắt về một em bé xứ dừa để trình diện cùng ba má. Nàng tên Lệ Hằng. Lúc đó tôi còn quá lỏi, chưa kịp si tình, chỉ nhớ mang máng Lệ Hằng cũng là một trang mỹ nữ. Sợ ba má cô gái đâm đơn kiện con gái mình bị thảo khấu bắt cóc, má tôi thất kinh vội vàng dắt nàng ra xe đò chạy bằng củi than để tiễn nàng về cố quốc. Hết Lệ Hằng bây giờ tới phiên Lệ Dung, cũng là mỹ nữ miệt Bến Tre. Mới biết ngoài dừa tươi, Bến Tre còn sản xuất những ông già Ba Tri và những cô gái đẹp mỹ miều thaa thướt. Khi Lộc nắm tay Lệ Dung dắt lên gác giới thiệu nàng với thằng em yêu dấu của mình một cách bất thần không có viết thơ báo trước, tôi chới với, trái tim nhảy cỡn lên đập loạn xị xà ngầu. Giết nhau chẳng dụng lưu cầu, giết nhau bằng cái ưu sầu độc hơn. Anh em một nhà mà sao anh nỡ hại em?
“Chào Kiệt”. Lệ Dung buông tiếng chào tôi nhỏ xíu rồi e lệ cúi đầu, tóc mây lòa xòa trên trán ngọc. Gương mặt nàng bầu bĩnh tươi tắn, mắt nhìn thùy mị nhung êm. Đôi vai nàng nhỏ nhắn buông xuôi trên thân mình mũm ma mũm mĩm ở cái tuổi vừa mới lớn. Suối tóc nàng suông dài thả kẹp thấp ngang lưng tỏa ra hương thơm kỳ bí làm tôi chóng mặt. Mỗi lần nàng niễng đầu , suối tóc đen tuyền uốn éo dựa theo quấn siết lấy con tim của dũng tướng học trò mà bóp thắt. Tôi lí nhí chào nàng rồi cũng không biết nói gì hơn. May thay Lộc đã nắm tay dắt nàng tháo lui xuống nhà dưới. Tôi ngó theo suối tóc huyền mút mắt, trong lòng đã thấy bận bịu bồi hồi không yên. Ngồi lại một mình tôi gọi nhỏ: “Lệ Dung!” Giọt lệ sương mong manh trên cánh hoa phù dung vừa hé nụ lúc trời hừng sáng, hay ngấn lệ nõn nà đậu trên một dung nhan kiều diễm? Lệ Dung…!
Tôi ngó vào tập vở học trò chữ nghĩa chi chít của mình mà không còn bụng dạ nào học bài nữa. Có học cũng không vô. Tôi vói tay nắm lấy cây đàn măng-đô-lin trên bàn ôm vào lòng mình run lẳng tẳng một khúc Ai Về Sông Tương giải muộn: Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương? Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương, mơ hoài hình bóng em luôn…
Ngày hôm sau Lộc mượn được ở đâu về cây lục huyền cầm và hai anh em nhà họ Lê hòa tấu mấy khúc đặt dìu cho mỹ nhơn Bến Tre thưởng thức. Cao hứng Lộc hát tặng nàng bản Thu Quyến Rũ. Lộc hát rất hay—còn tôi thì hát dở ẹt. Lộc đã từng lên sân khấu những dịp bãi trường cất giọng thiết tha hái rụng trái tim của mấy em bé nữ sinh xinh xắn và ham mê văn nghệ. Chẳng những đàn hay hát hay hơn tôi mà Lộc còn trắng trẻo đẹp trai hơn tôi. Ganh đua với Lộc trên mặt trận tình ái là kể như chắc chắn nuốt hận đêm dài và lãnh chiến thương tình ái khó thể phai mờ. bao nhiêu hoa khôi ở Vĩnh Long như Liệt, Nhan, Đẹp, Xuân, Đào, đều rúng động con tim vì kép độc hết ráo. Chưa đủ bây giờ tới hoa hậu Bến Tre. Đi tới đâu chàng cũng mão sòng mỹ nữ hết trọi.
Tôi lén đọc nhựt ký của Lộc thấy chỗ nào chàng cũng “xin quỳ xuống và đặt trái tim dưới chân Hoàng Hậu” thì thử hỏi người đẹp nào mà cự tuyệt chàng cho nổi. Tuy nhiên tôi chỉ âm thầm đau khổ thôi chớ ganh ghét Lộc thì không hề có. Lộc được cái tánh rất thảo ăn. Khi nào có người yêu mới là chàng xách về khoe với em mình liền. Đưa ảnh người yêu cho chị xem, cả thư người ấy gửi cho em, y như anh chàng Nguyễn Bính lẩm cẩm.
Sau màn Thu Quyến Rũ, kép độc yêu cầu cô Ba Bến Tre hát tặng hai anh em nhà họ Lê một bản. Tôi trê-ma-lô ròn rã, Lộc đệm tây ban cầm sầm sập, Lệ Dung cất giọng trong trẻo: Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối, rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu… Trăng Mờ Bên Suối, ôi tình tứ xiết bao! Thỉnh thoảng khi dứt câu hát Lệ Dung còn đưa mắt long lanh liếc trộm người yêu khiến tôi bủn rủn trê-ma-lô cứ vấp tới vấp lui từng chập. Nhưng cũng phải ráng lết tới cùng cho đẹp lòng Lệ Dung. Dứt bản, tới phiên chàng và nàng yêu cầu tôi ca mới chết một cửa tứ. Là giết đời nhau đấy biết không? Dũng tướng học trò bèn cự tuyệt. Ai ép ta hát thì trước hết phải bước qua xác chết của ta đã! Tuy nhiên trước lời ỉ ôi ngọt ngào của người đẹp mà tôi thầm mơ ước, tôi đành nhượng bộ và đề nghị hợp ca bản Con Đường Vui, tôi xung phong xin hát bè hai. Dạo nhạc rùm rụp xong khúc mở đầu, ban hợp ca Thăng Long tỉnh lẻ hòa giọng nam nữ cất lên: Đoàn người tưng bừng về trong cơn gió, hồn như đám mây trắng lững lờ, giang hồ không bờ không bến đẹp như kiếp bô-ê-miên…(Khúc đâu Hán Sở chiến trường, nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu, nghe ra như oán như sầu phải chăng?) Tôi xáp vô bè hai: Đoàn ta! Vui bước lên đường mưa gió về, còn nghe vang dư âm bao lời ca sông núi!
Dứt bản ai nấy đều hả hê. Riêng tôi nhìn Lệ Dung đẹp dạ tôi cũng vui lây và thơ thới trong lòng. Lộc ban phát lời ngợi khen hết cả ban hợp ca, rồi lật tiếp tập nhạc lựa bài Dư Âm, Lộc tự đệm đàn và hát một mình. Lệ Dung nhoẻn miệng cười xinh xắn ngước mắt ngó lên nhìn anh tôi tình tứ. Tôi thở dài ôm lấy cây đờn măng-đô-lin siết chặt trong lòng mình đau điếng…. Đàn tôi đứt hết dây rồi, không ai nối hộ không người thay cho. Rì rào những buổi gieo mưa, lòng đơn ngỡ tiếng quay tơ đằm đằm. Ôi Lệ Dung ơi có thấu?
Tối đến má tôi đày anh tôi xuống ngủ ở nhà dưới, còn Lệ Dung thì được bà bắt cóc tấn ở ghế bố sát vách gỗ trên gác, bà bắc ghế bố khít rịt sát bên nàng để cản trở lưu thông. Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay. Tôi thầm cám ơn má tôi đã có sáng kiến tân kỳ. Tôi cũng ngủ trên gác, nằm ở đi-văng phía trước, cạnh bàn học. Kế đó là vách ván ngăn hai bày biện bàn thờ Phật, bàn thờ Quan Công và bàn thờ ông bà. Rồi phía đàng sau vách mới tới hậu liêu của má tôi và Lệ Dung. Nằm chèo queo một mình, tôi lăn trở thao thức. Tiếng người ho trong đêm, tiếng thằn lằn chắc lưỡi, tiếng chân ai rón rén lên xuống ở cầu thang tôi đều nghe hết thảy. Rồi nghĩ quẩn, rồi tưởng tượng, rồi đau khổ. Âm thầm đau khổ trong đêm tối. Ước gì mặt trời mọc lên ngay trong lúc đó. Ngọn đèn hột vịt chong trên bàn thờ hắt hiu leo lét. Cũng như ngọn lửa lòng của tôi. Canh khuya thắp chút dầu dư, tim can chóng lụn anh sầu tư một mình…
Những ngày kế tiếp, Lộc lại lên đường cứu nước, tiếp tục sứ mạng phiêu lưu chính trị cao cả của mình như Lộc đã từng thốt lên. “Đời tôi là cả một bài thơ, cả một bài thơ rũ bụi mờ, cả một bài thơ không đầy ý, là đời nghệ sĩ sống vì mơ.” Lộc đi gặp gỡ các dũng sĩ đồng chí hướng khác để in truyền đơn kêu gọi học sinh bãi khóa. Bản truyền đơn được viết bằng loại mực tím đặc biệt trên nền giấy dầy có thể chuyền sang mặt bột ướt. Sau đó cứ lấy giấy trắng áp lên mặt bột mà vuốt là có được bản sao. Dễ ợt—mà nguy hiểm vì công an không ngớt rình rập.
Riêng tôi không bị thấm đòn sách động nên thừa lúc Lộc vắng nhà để chuyện vãn với Lệ Dung. Tôi phải căn dặn trước con tim mình đừng có nhảy cỡn loạn xị để tôi còn có đủ hơi sức mà ăn nói tỉnh táo với người đẹp. Dặn là dặn chơi vậy thôi chớ tôi dư biết con tim mình vẫn cứ đập theo nhịp điệu tự nhiên trời đất sanh ra của nó, chẳng ăn nhậu gì với ý chí của tôi hết. Ở nhà một mình để giải khuây Lệ Dung mua một cái áo gối bằng vải trắng và nhờ tôi vẽ hai chữ gô-tích mỹ thuật L và D quấn tít vào nhau để nàng thêu tấm lòng của nàng lên mặt gối bằng chỉ hồng. Tôi cắn răng cầm bút chì vẽ vời trên mặt gối vì Lộc đã trót khoe tôi vẽ vời rất có năng khiếu. Lệ Dung kiên nhẫn luồn kim thêu thùa để ngóng đợi chàng dũng sĩ trở về. Còn tôi, tôi kiên nhẫn ngồi cạnh bên ngó nàng âu yếm thêu áo gối tặng cho người yêu dấu. Con tim vốn đã rướm máu sẵn từ khuya giờ đây lại càng thêm bầm vập.
Chuyện vãn được biết nàng có một người chị và một đứa em cỡ tuổi tôi—thôi rồi dũng tướng đệ ngũ kể như tiêu tùng! Bắt qua văn nghệ, Lệ Dung nói nàng thích truyện Hồn Bướm Mơ Tiên, nàng ưa đọc Khái Hưng, Nhất Linh và yêu tùy bút của Thạch Lam. Trong lúc đó tôi vẫn hãy còn quanh quẩn với truyện Đồng Quê của Phi Vân và ba cái văn chương miệt vườn, Ngọn Cỏ Gió Đùa của Hồ Biểu Chánh. Tuy nhiên tôi đột nhiên nhớ ra câu văn xuôi không biết của văn sĩ nào đó mà tôi rất ưa thích. Tôi đọc cho nàng nghe” Lệ Quyên một sớm sang Hồ Hán, một chiều trở lại Hồ Tây, ngược xuôi xuôi ngược, tuy chung nước đổ một dòng mà bèo bọt vẫn đi về muôn ngã.” Văn chương như vậy thiệt là mùi tận mạng. Tôi hỏi nàng có thích không? Nàng yêu cầu tôi đọc lại và nàng gật đầu tán thưởng. Rồi nàng cúi đầu xuống đưa răng ngọc cắn lên sợi chỉ hồng, suối tóc huyền uốn éo tỏa ra hương thơm ẩn mật. Tim tôi lại cỡn lên chấn động. Tất cả mùa Đông đan áo len, cho người tất cả người quen. Còn tôi người lạ, có cũng nên mà không cũng nên! Tôi dợm đứng lên, nàng ngước mắt nhung hỏi tôi tính đi đâu vậy. Tôi nói tôi không tính đi đâu hết. Rồi thẫn thờ ngồi xuống trở lại bên cạnh nàng như trước. Chết bỏ!
Tối đêm đó tôi lại nằm chèo queo một mình và tưởng tượng. Tâm sự rối nùi. Tay chân lạnh ngắt, ruột tôi chơn quặn lên đau thắt dữ dội, mình vã mồ hôi, tưởng chừng bụng mình sắp nứt làm hai phơi hết tim gan mình ra cho mọi người ngó thấy. Tôi thường có những cơn đau đứt ruột khi lòng mình quá xúc động. Đau chết giấc. Hết thuốc chữa… Tôi chỉ còn nước ôm cứng lấy bụng mình mà cắn răng chịu trận, không dám rên rỉ sợ gây huyên náo làm mất giấc ngủ mọi người và đánh thức Lệ Dung.
Chị cho em chị chiếc khăn thêu, ý chị thương em khóc đã nhiều. Khóc chị ngày xưa, giờ lại khóc cho mình khi tắt một tình yêu… Ờ nhỉ! Sao tôi không nhân dịp Lệ Dung thêu thùa mà nhờ nàng thêu cho mình một chiếc khăn tay bỏ túi làm kỷ niệm? Trong đêm tối đen mấy câu thơ của sư phụ chợt lóe lên trong trí tôi và gợi ý. Sáng hôm sau, chờ lúc anh tôi lên đường cứu nước, tôi ngỏ ý khăn thêu với Lệ Dung và được nàng ưng thuận. Nàng lấy một chiếc khăn tay trắng còn mới nguyên có thêu viền chỉ xanh lục xung quanh và biểu tôi vẽ một chữ K lớn ở góc trên. Tôi làm gan đề nghị nàng thêu chữ ký tên Lệ Dung ở góc đối diện cho người ta được biết tác giả. Và nàng cũng ưng thuận.
Nàng lại bắt đầu chăm chỉ thêu thùa chữ cái của tên tôi với chỉ thêu màu xanh lục—một cây xanh dờn cho mát lòng dũng tướng. Tôi lại ngồi bên cạnh nàng và mở tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang của sư phụ mình ra đọc trang từng trang một cho nàng nghe. Thỉnh thoảng nàng dừng thêu thở dài. Mắt quầng tóc rối tơ vương, em còn cho chị lược gương làm gì? Một lần này bước ra đi, là không hẹn một lần về nữa đâu! Có phải khi thở dài sườn sượt như vậy Lệ Dung đã linh cảm mơ hồ điềm ly biệt? Sau này khi Lệ Dung khăn gói từ giã nhà họ Lê trở về Tề quốc rồi thì tôi không còn bao giờ được gặp lại mặt nàng một lần nào nữa hết. Cũng là thôi, cũng đã đành! Sang ngang lỡ bước riêng mình chị sao? Nàng để lại cho anh tôi một tấm ảnh trắng đen chụp nàng đứng cạnh bên nhà thủy tạ cất bằng gỗ xoải mình ra giữa hồ sen trong thành phố Bến Tre. Sau lưng nàng, hàng hàng lê liễu xõa tóc sương mai buông rũ xuống mặt hồ lăn tăn dợn sóng. Lưng ảnh Lệ Dung có đề mấy dòng chữ tạ từ viết tay bằng mực tím: “Nàng liễu rũ vì cơn gió dập, hay vì hoa đã lỡ làng duyên?” Tuy không hiểu rõ nàng muốn nói gì, tôi cũng lén ăn cắp tấm ảnh đó của anh tôi và giấu kín kỷ niệm Lệ Dung còn phưởng phất dư hương quấn quít trong mái tóc nàng làm của riêng.
Bỗng Lệ Dung la “Ái!” lên một tiếng tiếp theo tiếng pháo lớn chợt nổ trước nhà. Nàng buông rơi chiếc khăn thêu luống cuống nắm lấy đầu ngón tay bị kim đâm vào rỉ tuôn máu đỏ lúc nàng giựt mình vì pháo nổ. Một cách máy móc tôi chụp đầu ngón tay nàng đút vào miệng mình như những lần tôi bị đứt tay chảy máu. Nàng cũng để yên không rút lại. Hương thơm bí mật của bàn tay nàng cận kề sát bên mũi tôi hơn bao giờ hết. Mắt nhung nàng ngó thẳng vào mắt tôi. Tôi chóng mặt, tim tôi đập mạnh bấn loạn không còn giữ được trật tự nhịp nhàng gì nữa. Hương thơm Lệ Dung mằn mặn ở đầu lưỡi… Trời ơi! Ngay lúc này giá mà tôi có thể ăn thịt được nàng! Cho dù sau đó có bị kết tù chung thân khổ sai và lưu đày biệt xứ tôi cũng cam chịu.
Tôi đứng dậy tìm băng keo rịt đầu ngón tay lại cho nàng. Cuộc thêu thùa đành ngưng lại lưng chừng, lỡ dở. Để dằn cơn xúc động, tôi bỏ xuống đường và đi lang thang trong thành phố buổi chiều chúa nhựt với dư vị da thịt nàng còn ám ảnh đuổi riết trên môi. Ôi! Lệ Dung….
Sau bữa cơm chiều, anh tôi lại đưa nàng đi dạo mát như thường lệ. Tôi thua buồn leo lên gác ra ngồi ở bực cửa sổ ôm cây đờn măng-đô-lin run khua lẳng tẳng. Dư hương Lệ Dung vẫn còn bồi hồi chưa dứt. Tôi bần thần chưa tỉnh, Trong bụng rưng rưng. Tôi đờn đi đờn lại những ca khúc lãng mạn. Rồi yên lặng ngó lên một vì sao đơn chiếc đang mọc cao trên nền trời thăm thẳm. Anh Hai Te đã về thăm nhà hồi sáng hôm nay. Tôi nhớ và thèm tiếng ca tài tử của anh. Anh cũng có dạy cho tôi hát và đờn thuộc lòng được câu đầu của bài vọng cổ . Tôi ướm thử giọng rồi cất tiếng ca lên một mình:
“Lệ Dung em ơi! Sao em nỡ đan tâm lòng quyết (yết) sang (ơ ơ) Tề…”
Chợt trong vùng ánh sáng bất định một hương thơm quen thuộc thoảng dậy lùa tới bên mũi tôi. Tôi giựt mình ngó lại. Trong vòm hương tỏa ngất ngây Lệ Dung đã xuất hiện đứng đó tự bao giờ. Nương theo một phép nhiệm màu, từ Suối Đào Nguyên nàng thình lình giáng thế. Tôi chới với thiếu chút nữa đã té ngửa qua mái ngói của nhà hàng xóm cạnh bên mà lăn lông lốc rơi tuốt luôn xuống đất. Tôi lặng thinh ngó nàng lung linh trong vùng ánh sáng mờ yếu của ngọn đèn dầu. Nàng bước tới gần cầm chiếc khăn tay đưa ra cho tôi nói hồi chiều nàng đã thêu xong. Tôi đưa tay cầm lấy rụng rời. Yên lặng nàng ngó tôi vài giây rồi chợt cất tiếng nhỏ nhẹ hỏi tôi sao ca bài đó làm chi cho thêm buồn bực? Tôi còn đang bối rối chưa biết trả lời cách nào thì nàng đã vội vàng quay gót son mềm chạy xuống cầu thang như vừa chợt hiểu. Một cơn gió Xuân mát lạnh từ bên ngoài cửa sổ thổi ùa tới làm tôi rùng mình.
Rồi một ngày qua hai ngày qua….
Và giờ phút biệt ly đã đến. Má tôi, Lộc và tôi đưa nàng ra tận bến xe đò để tiễn chân. Lệ Dung về Tề quốc. Tay nắm không buông. Mắt nhìn bịn rịn. Lời nói nghẹn ngào. Lệ tuôn lã chả. Ôi! cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy?
Tàu chạy hình như để chở buồn, chở người đi nhớ kẻ về thương, nâng bao nhiêu gót chân xinh đẹp. Tàu chạy đêm nay có lạc đường? Lệ Dung ngồi sát bên cửa xe thò mái tóc kẹp uốn éo buông lơi ra ngoài và nắm lấy tay má tôi mà khóc như mưa bấc. Lộc đứng khít bên má tôi. Còn tôi thì lùi ra xa trên bờ lề đứng dựa lưng vào một gốc cây me già mà ngó, sợ e đứng gần giai nhân cầm lòng không được tôi phát buông ra những lời nhảm nhí càng gây thêm bối rối cho tất cả mọi người. Hay lại phát thinh ré lên khóc càng thêm quê một cục. Nhìn Lệ Dung lã chã má tôi cũng rút khăn ăn trầu ra mà lau lệ không ngớt. Thế nào má tôi cũng chúc nàng thượng lộ bình an và hứa hẹn khi nào nàng học thành tài xong rồi thì má tôi sẽ cưới nàng về cho anh tôi để cho nàng trở thành một trang hiền phụ. “Em muốn vô làm con dâu thảo cho phụ mẫu mình. Trước coi gia cang bề thế sau nấu đôi bình nước khuya”. Má tôi vốn là người quê mùa nên vẫn hằng tin tưởng rằng yêu nhau là phải có thủy có chung.
Nhưng những giọt nước mắt cho dù có thổn thức ngậm ngùi cách mấy cũng không thể nào thay đổi được giờ giấc của những chuyến xe đò. Xe bắt đầu rồ máy xịt khói xanh um và dợm bánh lăn tới lăn lui. Rồi xe bắt đầu lăn bánh thiệt sự. Má tôi và Lộc đành phải buông tay nàng ra. Lệ Dung đưa tay lên cao vẫy chào biệt ly mọi người. Tôi cũng vội vàng đưa tay lên vẫy vẫy cho tới lúc nàng khuất bóng sau vòm khói xe tỏa xanh mù mịt. Lệ Dung! Lệ Dung! Thôi giã biệt! Cõi lòng của Lộc chưa chắc tan nát bằng cõi lòng của đứa em mình.
Lững thững tàu đi mất nữa rồi, sao không dừng lại ở ga tôi, lấy mươi lăm phút cho tôi gửi, chút ít xuân xanh trả lại trời? “Lệ Dung một sớm sang Hồ Hán, một chiều trở lại Hồ Tây, ngược xuôi xuôi ngược, tuy chung nước đổ một dòng mà bèo bọt vẫn đi về muôn ngã…”
Anh Hai Te đã trở lại trại mộc từ sáng hôm nay. Tối hôm nay, cũng như mọi tối, sau khi cơm nước xong, anh ôm cây đờn vọng cổ ra ngồi ở đống cây trước nhà ca vài khúc ca giải muộn.
Và tối hôm nay, cũng như mọi tối, tôi ra ngồi ở bực cửa sổ trên gác cao mong ngóng. Nhưng tối hôm nay, khác hơn mọi tối, tôi có thêm được chiếc khăn tay mà Lệ Dung đã nhỏ giọt máu đào thêu tặng cho tôi. Anh Hai Te bắt đầu dạo nhạc và nói lối. Áp chiếc khăn thêu nồng ấm lên mũi mình, dư hương kỳ bí của Lệ Dung vẫn còn ngạt ngào nguyên vẹn. Khi anh Hai Te dứt phần dạo nhạc và cất tiếng ca tài hoa xuống câu vọng cổ ngậm ngùi thì hai giọt nước mắt nóng hổi của tôi cũng bật trào theo lăn ròng ròng xuống má. Thôi rồi! Nương tử Lệ Dung đã đành bước lên kiệu hoa đem tấm thân ngọc ngà về xứ khác.
Lệ Dung em ơi! Sao em nỡ đan tâm lòng quyết (yết) sang (ơ ơ) Tề…

KIỆT TẤN

Em điên xõa tóc

kiettan

Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi
ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh

Thanh Tâm Tuyền

Giờ này chắc người con gái tóc dài hãy còn thao thức. Cũng như tôi. Cũng như đêm qua, cũng như đêm kia, và biết bao đêm nữa. Trước khi nổi điên, người ta thường mất ngủ một thời gian dài. Có lần tôi đã mất ngủ cả năm nhưng không nổi điên. Lần này tôi mất ngủ ngót tám tháng, và tôi nổi điên. Nàng cũng vậy, nhưng không biết đã mất ngủ bao lâu. Ðiên? Làm sao biết mình điên? Chỉ biết chúng tôi đang bị giữ trong bệnh viện tâm lý cùng nhiều người khác, nhưng trong đám tương đối tôi và nàng trẻ nhất. Sao chúng tôi nổi điên quá sớm ? Và nàng còn sớm hơn tôi nữa. Nàng đẹp, phải công nhận nàng đẹp. Nhưng đâu phải là một lý do để nổi điên!

Hôm đầu tiên nhập viện, ngồi trong phòng ngó ra thấy nàng mặc một cái robe trắng thấp thoáng ngoài hành lang tôi tưởng nàng là nữ trợ tá. Nàng đi qua nhanh, tôi trông theo, mắt bị thu hút kỳ lạ bởi mái tóc dài ẻo lả trên lưng, xuống tận dây nịt. Mái tóc gội rửa sạch sẽ xõa ra mềm mại, màu nâu thẫm, trong ánh sáng mờ tưởng như mái tóc đen dài của một cô gái đông phương nào đó. Áo nàng màu trắng ngà phùng ra ở cườm tay, ở thắt lưng và bên dưới gối, trùm lên đôi ủng da cao mầu đen, nịt da cũng màu đen. Cả người nàng toát ra nét thanh lịch và tha thướt theo từng bước đi, đuôi tóc phấp phới. Nàng lên phòng trực phát thuốc ở đầu hành lang, chập sau quay trở lại, đi ngang phòng tôi, tới cuối hành lang rồi mở cửa căn phòng ngó xéo với phòng tôi bước vào khép cửa lại. Nàng không biết có tôi đang ngó và đang bị mái tóc nàng mê hoặc.

Tôi có ý chờ khi trở ra nàng sẽ ghé vào phòng tôi, mang cho tôi mấy viên thuốc ngủ cùng ly nước lạnh và vỗ về tôi uống. Tôi khép hờ cửa và chờ nghe tiếng bước chân. Khi cúi xuống tóc nàng xòa lên mặt tôi, thơm tho ngầy ngật – tôi tưởng tượng. Nụ cười của nữ trợ tá chan chứa thông cảm bao dung như tôi thường thấy.

Trong tình trạng hiện tại, người tôi không còn một chút phấn đấu nào, như một bình điện hết hơi, tôi bỏ cuộc. Bốn bức tường bệnh viện ngăn cách tôi khỏi sự công phá từ bên ngoài. Cửa sổ có thanh sắt và kiếng mũ dầy, tôi không thể nào đập vỡ và lao ra không trung bất thần được. Thế giới của tôi bây giờ có nàng và những người điên khác. Kiên nhẫn, một chút nữa nàng sẽ ghé vào. Vách phòng sơn trắng, giường trải nệm trắng, một bàn nhỏ, một ghế nhỏ, một tủ nhỏ cũng sơn trắng ở đầu nằm. Trong tủ có hai bộ quần áo, một bàn chải đánh răng, một cây lược, một cục xà bông thơm, một cuốn sách hình Mickey và một tập vở học trò tôi dùng để chép thơ còn độ một nửa tập giấy trắng. Tự nhiên tôi thèm viết, viết gì cũng được, miễn được cầm bút và ngúy ngoáy trên trang giấy trắng. Hồi còn học sinh, tôi hay viết nhựt ký. Tôi dở tập đến hết phần thơ chép và cầm bút đặt lên trang giấy đầu còn lại. :

Bệnh viện Paul Brousse, ngày…

« Có hai điều tôi sợ nhứt trên đời là bệnh tật và cô đơn. Mà rồi bây giờ tôi cô đơn và bệnh tật. Hôm nay là ngày đầu tiên tôi ở nhà thương điên – mỹ từ : bệnh viện tâm lý. Tôi không muốn vào đây nhưng Ánh nói nằm nhà mãi tình trạnh càng trầm trọng thêm và nàng khóc lóc. Tôi đành nghe theo. Chỉ sợ một khi vào đây, tôi sẽ không trở ra được nữa. Mỗi ngày tôi sẽ một điên thêm, người ta sẽ chuyển tôi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác, sẽ chung chạ với những người càng lúc càng điên nặng hơn. Tôi đã từng chứng kiến người điên bị nhốt. Hồi học trung học, một anh chàng si tình phát điên bị nhốt trong phòng có song sắt, hắn ta miệng nói làm xàm không ngớt và leo trèo lòng vòng như con khỉ thấy phát chóng mặt. Một bận khác đi thăm con nhỏ cháu tôi ở nhà thương Chợ Quán. Nó bị nhốt chung với rất nhiều người điên, nhà giam giống như chuồng nhốt súc vật ở sở thú. Mùi hôi hám nhớp nhúa hực ra tanh thúi không thể tả. Nó đứng vịn song sắt khóc ròng và đòi về, nó nói đã hết điên rồi. Bỗng có một mụ dơ dáy quần áo rách bươm tới nắm tóc nó kéo đi và tru tréo sao nó giết con mụ ta. Nó dẫy dụa gỡ ra không được. Tôi bắt nôn mửa phải lùi ra xa, để mà nó một mình đứng lại gần chuồng cũng không biết làm gì hơn.

Nhắc tới sực nhớ gia đình tôi có lẽ có dòng máu điên. Má tôi, anh tôi, chị tôi, cháu tôi, bây giờ tới tôi. Lúc đẻ ra chị tôi, má tôi bị bệnh rồi phát điên. Một bận đi xuồng trên kinh Cờ Ðỏ, má tôi bỗng nổi cơn tính nhận chìm xuồng cho chết hết bốn mẹ con, may có ba tôi ngăn lại. Bà bỏ chạy lên bờ, ba tôi rượt theo lấy ba cây roi mây chập lại đánh má tôi đổ máu rồi nắm tóc lôi xuống xuồng. Nhắc tới, má tôi còn oán hận ba tôi sao ở ác. Sau đó bỗng một hôm có một bà sư quảy bọc thuốc đi ngang nhà mùi hương xông ngào ngạt. Bà bổ cho má tôi một thang thuốc, má tôi uống vào hết điên luôn. Kế đến chị tôi hồi đẻ đứa con thứ ba phát bịnh tưởng chết, và cuồng trí gần cả năm. Tới phiên con nhỏ cháu tôi, hồi đẻ khó khăn, bị mụ vườn nắm cổ lôi ra, đầu nó mềm nhũn như trái chuối chín mùi bị dập. Lớn lên nó cứ ba trợn, tới mùa nắng là rượt theo trai và nổi khùng.

Còn anh tôi không điên ra mặt, nhưng có chứng cuồng dâm. Khi dâm hành thì bất kể đẹp xấu, mẻ càng gãy gọng, sứt mũi sún răng, hôi hám nhớp nhúa, bao nhiên đứa ở ông ta quơ tuốt, nhiều lúc bốc hốt luôn cả con em họ hàng, bất chấp tai tiếng loạn luân. Có lần bị con nhỏ ở thưa tội hiếp dâm, anh chàng bị nhốt, vừa chạy chọt được thả về ghé nhà tôi lại bóp vú con nhỏ ở của tôi, tới nhà chị dâu tôi lại rờ đít con nhỏ ở đằng đó. Máu cuồng dâm một khi đã bốc lên là mờ cả hai con mắt… »

Có tiếng gõ cửa. Nàng đã tới! Tôi giật thót vội vàng xếp tập lại. Lên tiếng : cứ vào! Người nữ y tá bước vào, mặc áo blouse trắng, chào tôi và mỉm cười dịu dàng. Không phải nàng tóc dài, tôi thất vọng, nhưng cũng chào lại. Cô ta hỏi thăm tình trạng tôi qua loa, đoạn đưa cho tôi hai viên thuốc an thần và pha cho tôi hai chục giọt thuốc ngủ màu hồng. Canh chừng cho tôi uống xong, cô ta chúc tôi ngủ ngon và quay gót. Chờ cho người nữ y tá trở về phòng trực, tôi nhè nhẹ hé cửa ngó qua bên kia. Phòng nàng đóng im ỉm. Nàng có ở trong đó? Hay đã ra về? Về đâu? Giờ này đâu phải là giờ thăm thân nhân. Không có chút ánh sáng nào lọt ra ngoài. Tôi khép cửa lại, tắt đèn, lên giường nằm chờ thuốc ngủ ngấm và giấc ngủ an thần kéo về dập tắt ngọn lửa trong trí tôi.

Màn cửa sổ chỉ kéo che một nửa, bên nửa kia còn ngó thấy nền trời và sao lung linh như một tín hiệu. Trời mới vào xuân, trong sáng êm ả. Ðôi khi anh muốn tin ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể, mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em, đến ngày cuối …* Tôi chợt nhớ tới Ánh và tội nghiệp nàng. Sáng nay nàng khăn gói đưa tôi nhập viện. Ngồi ở phòng đợi làm thủ tục, nàng nắm tay tôi mà khóc, nước mắt ròng ròng. Nàng an ủi tôi – lẽ ra nàng cần được an ủi mới phải. Nàng căn dặn tôi đừng bỏ trốn, nàng sợ lắm. Tôi chỉ ngồi thừ ra đó, như một động cơ hết nhiên liệu. Người ta có thể đổ nhiên liệu vào và đẩy tiếp sức, nhưng tình trạng này không thể kéo dài vĩnh viễn được. Tới một lúc nào đó động cơ phải tự nó bắt điện nổ máy và di chuyển lấy một mình. Bằng không nó sẽ nằm ì ra đó chịu cho rỉ sét gậm mòn tới lúc bị phế thải ra nghĩa địa, mưa gió đục phá cho đến khi hoàn toàn tan rã thành đống bụi nâu đỏ và trái đất thu hồi trở lại.

Thủ tục xong Ánh sắp về, tôi bịn rịn. Nàng về thật rồi. Tôi hốt hoảng và hối hận sao đã chịu vào đây. Tôi không biết ai hết. Tôi sẽ leo chạy bên trong chấn song sắt như con khỉ thất tình? Hay bị giựt tóc như trong chuồng súc vật? Thân thể tôi tỏa nhiệt dồn dập rồi vụt lạnh ngắt. Hệ thống điều hòa tự động của cơ thể rối loạn, mở đóng vô trật tự. Miệng tôi khô đắng, sắp bốc cháy. Ruột thắt lại, người muốn gẫy quặp làm hai, như con múa rối bị đứt chỉ. Tôi xách cái túi nhỏ lẽo đẽo theo người dẫn đường lên lầu ba, phòng giành cho tôi nằm ở đó. Buổi trưa tôi nằm lì trong phòng, bỏ ăn. Tôi hối hận, ăn năn, giận mình. Trời nắng rực rỡ. Tôi kéo màn kín mít. Ðâu phải để ngủ. Làm sao ngủ được. Ðêm nào cũng mở mắt trừn trừng. Uống rượu tiêu sầu họa hoằn lắm cũng chỉ ngất ngư được một chút từ hai tới ba giờ sáng rồi thức trắng dờ luôn. Cho tới lúc mặt trời mọc và tiếng huyên náo lớn dần dưới đường đem trở về một ngày mới với nỗi sợ hãi rất cũ, bất di bất dịch, những đương cự với khó khăn của đời sống hằng ngày. Một câu hỏi duy nhất : làm sao tìm được việc làm. Một bế tắc duy nhất : làm sao tìm được việc làm. Làm như người ta sống ở đời chỉ duy nhất để làm viêc. Thiệt là chó má!

Buổi chiều hai nữ y tá vào phòng dỗ dành tôi đi ăn cơm. Cực chẳng đã tôi phải nghe theo. Tôi để nguyên quần áo xốc xếch, không buồn rửa mặt, bước vào phòng ăn có đâu hơn hai chục người – hay nhiều hơn nữa không biết. Trước mặt tôi là người đàn ông có hai răng trước ở hàm trên bị gãy. Cạnh tôi là một anh chàng tóc quăn dài có râu quai hàm. Tôi không biết ai hết. Tôi không nói với ai một câu. Không ai hỏi tôi một câu. Tôi không thấy có ai khác da vàng như tôi. Tôi cầm muỗng nhúng vào dĩa xúp. Khi múc lên tay tôi chợt rung bắn. Tôi kinh hãi đặt muỗng trở lại dĩa. Tôi đổi tay trái. Cũng lẩy bẩy như thường. Chắc tôi sẽ không bao giờ ra khỏi nơi này. Người ta sẽ chuyển tôi tới một nhà thương dành cho những người điên run rẩy như tôi. Tôi muốn chảy nước mắt. Tôi lén xé bánh mì chấm vào dĩa xúp rồi cúi xuống thật gần đút vào miệng khô đắng. Mẩu bánh mì vướng ngang cổ thắt gút. Tôi đâu quen ai ở chốn này. Tôi muốn kêu Ánh cầu cứu.

Giấc ngủ đầu tiên ở bệnh viện đen ngòm như chén chí-mà-phủ. Không nhớ gì hết. Nó đến hồi nào? Như hòn đá quá nặng vụt chìm, không kịp ngó. Tôi mở mắt, dần dần định trí, nhớ ra mình đang ở đâu. Lần đầu tiên tôi không bị ám ảnh bởi việc mua báo, chúi mũi vào những trang rao vặt và viết đơn xin việc. Lần thứ năm trăm, bảy trăm, cứ mãi một câu kết : « Veuillez agreér, Monsieur, l’assurance… ». Ngủ nướng không được, tôi đứng dậy bước tới cửa sổ kéo màn. Trời đã thực sự vào xuân, nắng rạng rỡ tưởng như Tết. Tôi nhớ tô hủ tiếu hồi nhỏ chỉ dịp Tết mới được ăn, trên có miếng tôm chiên và lát gan khô, xịt tàu vị yểu « Hai Con Chuột »! vô, tôi gục đầu húp tới giọt nước lèo cuối cùng. Sướng hết sức! Ai đã đuổi tôi ra khỏi thiên đường? Sự tinh ranh, suy nghĩ, tìm hiểu, muốn diễn giải, cắt nghĩa. Hành động nào cũng tự nó đầy đủ, như vậy chưa đủ sao? Vẫn luôn luôn chạy kiếm một cái gì bên ngoài, phía sau để biện minh chứng đúng. Khi chứng đúng được hành động của mình, người ta dám trở thành bạo ngược, tàn sát không gớm tay : Tần Thủy Hoàng, Hitler, Staline, Dalatôla, Pol Pot, Việt Nam Xã Hội!

Ăn hủ tiếu là ăn hủ tiếu. Hết. Sống là sống. Hết. Không gì có thể giải thích được gì hết. Giải thích là sa vào mê cung. Rời khỏi mê cung này là chỉ để dấn mình vào mê cung khác. Tôi ở trong mê cung, giờ này phút này.

Tôi làm những vệ sinh thông thường, như hồi đi lính. Khi trở về tôi thấy phòng nàng vẫn đóng kín. Tôi ra ngồi ở ghế bành gần cửa sổ xem tiếp quyển Mickey. Hay xem lại, vì tôi đã xem tới xem lui nhiều lần mà không hiểu gì hết. Tôi mất khả năng chú ý. Ðọc câu này nghĩ câu khác, đọc câu khác nghĩ tới chuyện hoàn toàn không ăn nhập gì, cứ thế, quanh quẩn trở lại những ám ảnh như đĩa đói hút cứng trong óc, nhức nhối. Khác với đọc, khi viết, ý nghĩ bắt buộc phải tập trung, diễn dịch theo một thứ tự tương đối nào đó. Cả chục năm nay tôi bỏ viết. Tôi không đủ đam mê. Tôi không viết để chứng minh. Tôi viết khi cảm thấy có nhu cầu. Nếu không viết mà sống vẫn hạnh phúc, tôi sẽ không bao giờ viết, vì tôi khi đó đang ở trong trạng thái quân bình. Nếu viết, tôi sẽ đánh mất quân bình. Khi viết, tôi như người lên đồng, lúc cười lúc khóc, vật vã, hành xác. Tôi lật nhựt ký bỏ dở nửa chừng hồi hôm viết tiếp :

Paul Brousse, ngày…

« Ðêm qua nàng đã không tới. Nàng, người con gái tóc dài đã đánh lạc hướng nỗi ám ảnh của tôi – để tôi lại sa vào một ám ảnh khác? Tóc nàng không làm cho tôi nhớ liễu, lệ liễu ( nàng liễu rũ còn vì cơn gió dập, hay vì hoa đã lỡ làng duyên), mà tóc nàng làm tôi nhớ tàng cây vú sữa vào buổi trưa nắng, có tiếng chó sủa. Lá vú sữa mặt xanh mặt đỏ, trái trương bóng như vú căng bên trong có sữa trắng, cả vòm cây tỏa ra hơi mát, tôi thường leo lên đó, đâu phải để hái trái. Tôi tới thăm chị em nàng, nàng có lông tơ trên cánh tay, mày rậm (dục tình ?), chị nàng tóc dài trắng trẻo, tôi không biết mình yêu ai, cũng chẳng bao giờ dám tỏ tình. Kiến vàng con lớn cắn nhức nhối. Thiềng Ðức. Cầu sắt ván gỗ đã long, đường đá lởm chởm. Tôi vừa thắng xe đạp, chị nàng ngó ra kêu thốt : « Kìa em!… Ai đã đặt tên cho trái cây đó là « vú sữa »? Thiệt quá tài tình! »

Dưới nội cỏ bệnh viện hoa vàng rực chói mắt. Không phải hoa mai. Từng cụm nhiều nhánh từ dưới đất chỉa lên sai oằn bông vàng chi chít. Không thấy lá, hực hỡ chóa lòa. Từng bầy chim sà xuống, loại chim đuôi ngắn ngủn không phải chim sẻ, không phải chim sáo, cúi đầu mổ lia lịa, chạy lúp xúp trong cỏ, không thấy chưn, tưởng như loài chim đồ chơi cơ động, lăn trên hai bánh lẩn khuất, chạy tới chạy lui ngộ nghĩnh. Tôi thèm chạy trên cỏ. Lần nào ngó chim chạy trên bãi cỏ nắng tôi cũng thấy mình ngu. Trời ơi! Sao hạnh phúc dễ ợt như vậy mà tôi không với tới! Bao nhiêu lần tôi đến ngồi trong vườn Luxembourg suốt mùa xuân suốt mùa hè để chỉ nghĩ đến chuyện thất nghiệp. Kìa xem con chim bồ câu đang tắm rửa rỉa lông và kêu rù rù bên ống nước lủng có tia nước xịt ra nhỏ rức, nó đâu có phải làm đơn xin việc kèm theo phiếu lý lịch có dán hình thắt cà vạt hẳn hòi như tôi. Nọ xem con chim sẻ con đang chạy theo chim mẹ cánh xòe ra, mép vàng chưa mắt dấu, hả miệng chờ mồi, và mẹ nó hết sức kiên nhẫn tận tụy. Tình thương của trời đất. Ðời sống sờ sờ như vậy mà tôi tự ý ngoảnh mặt làm ngơ, giam mình trong ngục tù do mình dựng ra và do mình cai quản…

Buổi chiều, vẫn cảnh phòng ăn quen thuộc ồn ào. Nhưng ồn ào hơn hôm qua vì có một lão mới nhập viện, ngồi ở đầu bàn ăn phát thanh ra rả không ngớt. Bạ gì nói đó không đầu không đuôi, bất chấp luận lý, bất chấp mọi người chung quanh. Nói để nói, vậy thôi. Lúc đầu tôi bực lắm, nhưng sau này tôi thấy vui vui, rồi ngẫm lại lối nói của ông ta coi vậy mà còn ít điên khùng hơn lối nói của bọn cuồng tín, chủ thuyết, giáo điều giáo lý, rập khuôn lải nhải nói hoài một thứ, bất chấp thực tại, bất chấp đời sống. Ít ra lối nói của ông già điên này không biết người và hợp lý hơn so với cái phi lý vì muốn quá sức hợp lý, độc quyền hợp lý, nghe một hồi muốn… đi ỉa cho nhẹ bớt.

Vậy mà con người vẫn hãnh diện vì mình biết nói, biết suy nghĩ, cotigo ergo sum, tôi suy nghĩ vậy tôi có, thay vì tôi có rồi tôi mới suy nghĩ. Mẹ rượt ! Tôi không suy nghĩ vẫn có như thường, không tin thử lấy kim nhọn châm vào đít triết gia đang say ngủ thì biết.

Trước mặt tôi và cạnh tôi vẫn anh chàng sún răng và gã râu quai nón. Hôm nay tay tôi hết run, không hiểu vì sao. Tôi nghe tiếng cười the thé khàn khàn của người đàn bà ở phía trước, không biết của ai, rồi tiếng muỗng thép rơi xoảng ở phía sau lưng, góc trái. Tôi quay lại ngó : Nàng ! Phải, nàng ngồi đó, tóc vẫn dài, áo vẫn trắng, khuôn mặt trẻ, buồn, mắt kẽ xanh phớt, đang cắn môi dưới, bối rối, chiếc muỗng kim khí nằm dưới chân. Nàng ngồi bàn nhỏ ở góc, một mình. Hiện diện của người con gái thanh lịch trong phòng ăn ồn ào điên khùng này thật là không phải chỗ, không lẽ nàng cũng… Gã quai nón lắc vai tôi biểu đưa cho hắn lọ tiêu. Tôi cầm muỗng đưa lên miệng húp, máy móc. Không yên bụng tôi quay ngó lại. Người nữ y tá đang cố gắng đút muỗng xúp cho nàng ăn, nàng lắc đầu, các ngón tay thon vò xé mẩu bánh mì. Tôi lo âu, người nữ y tá năn nỉ, nàng hả miệng. Tôi bớt lo âu, trở lại dĩa xúp của mình, nhủ thầm nên nghĩ đây là tô hủ tiếu hồi còn nhỏ của mày đó, ăn đi. Dĩa xúp được dọn đi, tôi quay ngó lại, nàng không còn ở đó. Dĩa thịt dọn tiếp ra, tôi đói bụng tiếp tục ăn, không thấy ngon gì hết, thỉnh thoảng liếc ngược trở lại. Lòng buồn bã.

Bữa cơm chiều chấm dứt. Tôi không ăn tráng miệng, cầm hai trái táo đem về phòng để nhâm nhi lúc cổ họng khô đắng. Phòng nàng còn mở hờ không thắp sáng, ngoại trừ ánh điện mờ từ ngoài hành lang hắt vào. Tôi tò mò ghé mắt nhìn. Phòng nàng cũng giống như phòng tôi, cũng chiếc giường nệm trắng và ở cuối giường nàng đang ngồi xõa tóc. Lưng quay ra cửa, nàng ngồi ở ghế bất động. Tôi hồi hộp và bồi hồi thương xót. Nàng làm gì ở đây? Chẳng lẽ nàng cũng điên như tôi. Tôi ba chục năm chiến tranh, bạn bè lớp chết lớp cụt tay cụt chưn, bà con tứ tán, bây giờ tôi thất nghiệp đã đành. Nhưng còn nàng? Tóc nàng quá yêu kiều thướt tha như một hạnh phúc nắm chặt khi luồn tay vào mái tóc ấy và nói yêu em. Nỡ nào điên sao? Trong trí tôi lúc đó chỉ những người tâm địa xấu xa, mặt mũi xấu xa mới đáng điên. Còn nàng, tôi không tưởng nổi. Tôi không dám bước vào. Tôi không dám gọi. Tôi thò tay đặt trên giường nàng trái táo, như lén lút, rồi vội vã trở về phòng mình đóng cửa lại, tim đập mạnh.

Tôi trèo lên giường bật đèn. Tôi giở tập thơ chép tay nhẩm đọc các bài mình đã ưa thích. Sự rung động đã chết ngấm trong lòng. Tôi dửng dưng. Sự bất hạnh cũng là điều may mắn. Ðôi khi tôi thèm được làm hòn đá vô tri mà trời đất đã bỏ quên trên một dốc núi hết sức tầm thường, không ai hay biết. Không có trí nhớ, không có dĩ vãng, không có tương lai. Chỉ nằm đó, vậy thôi, quá đủ, không cần chứng minh, chứng minh nào cũng thừa thãi, sai bét. Thú vật đâu có ngu như tôi. Ðâu có con chó nào làm thơ, đâu có con chim nào đặt nhạc, đâu có con dế nào viết văn. Toàn những thứ bày đặt mà con người rất lấy làm hãnh diện, cũng như đã hãnh diện về cái tài biến chế, đẻ ra tôn giáo, chính trị, triết lý của mình. Triết lý, nhứt là triết lý tây phương, mới đi được một nửa hành trình từ có đến không. Chưa ai đi được – hình như vậy – nửa đường còn lại từ không đến có, cho trọn cuộc hành trình. Dừng lại nửa đường, đứng trước hư vô, họ kinh hoàng và đâm ra bạo động – để vớt vát ? Nào ai biết « không có gì đáng sợ bằng sự sợ hãi”!

Tôi lật đến phần nhựt ký viết tiếp :

« Ðã thực sự có một cuộc chiến tranh ở Việt Nam hay sao? Nó là cái gì và bây giờ nó ở đâu ?Chẳng lẽ nó là thằng điên đang nằm bệnh viện giờ đây. Hay là tên tù đang dang nắng xới mìn trên núi đá ? Hay là gã bộ đội trẻ hồi hộp mang con búp bê bằng nhựa hồng sần sùi, có đôi môi đỏ choét in lệch ở chợ trời Sài Gòn về cho đứa em gái nhỏ ngoài Hà Nội để làm quà quí kỷ niệm ngày « giải phóng » miền Nam? Tôi không hiểu nổi. Tôi từ chối mọi giải thích, mọi logique, mọi biện chứng, mọi nhu cầu lịch sử. Chỉ có sự xuẩn ngốc. Tôi không thấy thương xứ sở. Tôi chỉ thấy giận dữ. Tôi giận Việt Nam. Cái xứ gì thật là chó chết! Hãnh diện?Hãnh diện cái mẹ gì? Ðừng tìm đâu xa ai là thủ phạm. Chúng ta là nạn nhân của chính cá tính dân tộc mình. Chúng ta là đao phủ của chính chúng ta. Vậy mà cứ vỗ ngực cho rằng ở cùng Ðông Nam Á mình ngon lành nhứt, mình khôn nhứt, mình oai hùng nhứt. Việt Nam số một! Tiểu xảo, khôn vặt, tào lao, nhảm nhí – nhảm nhí chết người! Tôi giận quá. Tôi giận tôi. Sao hồi đi lính ở Việt Nam tôi không chết quách đi cho xong việc. Nghĩa địa tôi phải là một rãnh mương, bờ đê đất sét hay vàm bãi phù sa nào đó. Tôi làm cái khỉ mốc gì ở đây? Không ai cần tôi có mặt trong cái bệnh viện khốn kiếp này. Tôi trúng đạn đại liên nát ngực, ngã lật trên bờ ruộng chết tốt, không kịp hối tiếc, chẳng hơn sao?

Qua thư nhà, tôi thấy mình còn tốt phước hơn nhiều người. Như anh tôi, như bạn bè tôi đang học tập cải tạo, có thằng đã chết. Vậy mà tôi không thấy sướng khi ở đây. Ðịa ngục tôi trốn được. Nhưng còn cái địa ngục tôi mang kè kè trong đầu, tôi biết lẩn trốn ở đâu. Mỗi chúng ta mang sẵn thiên đàng địa ngục trong tâm tưởng.

Chính bác sĩ tâm lý của tôi, ông Cazas, đã khuyên tôi nên vào đây tịnh dưỡng. Phải rứt tôi ra khỏi cuộc sống hàng ngày. Tôi đã tới phòng mạch ông ngồi lì, không chịu về, muốn rã luôn tại đó, mệt mỏi cực độ. Lúc chẩn bịnh, ông có yêu cầu tôi nắn tuợng. Tôi nắn một người hai mặt ba chưn. Một chưn đứng trên sợi chỉ căng, một mặt hướng về quá khứ sau lưng một mặt hướng về tương lai phía trước, mặt nào cũng nhắm tít mắt, bốn tay đưa thẳng như người mộng du, hai chưn bước về hai phía đối nghịch, lơ lửng trong khoảng trống. Tôi mộng du, quên sống trong hiện tại, dù rằng không thể sống cách nào khác hơn được là sống trong hiện tại. Dĩ vãng tương lai cũng nằm trong hiện tại. Không có thời gian nào khác hơn là thời gian hiện tại.

Bận khác tôi nặn cho ông một con trâu nước. Ông yêu cầu tôi giải thích. Tôi nói đó là hiện thân của tôi, con trâu nước. Tôi muốn trầm mình trong nước, vùi bùn thảnh thơi, không ai ăn thịt tôi, tôi cũng chẳng ăn thịt ai. Con trâu nước không đẹp đẽ cũng chẳng có ích gì cho ai, nhưng cũng chẳng phải ích kỷ. Nó sống, vậy thôi. Con vật nào sinh ra cũng để sống, vậy thôi. Chẳng phải từ đâu đến, đến đây để làm gì, rồi đi về đâu. Ðó là những câu hỏi dựng đứng, bày đặt, lẩm cẩm. Tôi đã nhiều phen đặt những câu hỏi cà chớn như vậy, cũng như đã nhiều phen nổi loạn chống lại Thượng đế vì thấy ông ta quyền hành quá sức. Tạo ra một Thượng đế, phong cho chức tước quyền nắng…rồi chống lại, tuyên chiến. Như hiệp sĩ Ðông Ki-Xốt đánh lộn với cái quạt gió, hay Lucky Luke đấu súng với cái bóng của mình. Hào hứng tới phát khóc được…

Sáng hôm sau khi ở nhà tắm đánh răng trở về, tôi thấy phòng nàng mở cửa. Nàng ngồi trên giường chải tóc, vẫn mái tóc bồng ẻo lả đó. Áo nàng xanh da trời màu thẫm cũng loại vải mềm mại như áo trắng hôm trước, chân nàng cũng trần trắng phớt hồng, bàn tay dịu dàng gỡ lược. Tôi cúi đầu chào, nàng chào lại. Tôi gạ chuyện hỏi chiều qua nàng không ăn có thấy đói không, nàng lắc đầu. Quả táo cắn dở đang còn để trên bàn. Tôi rủ nàng lên phòng ăn sáng. Nàng dụ dự rồi đồng ý. Tôi mặc áo sơ mi sọc, quần jeans, xỏ đôi giày rồi bước qua gọi nàng.

Nàng uống sô-cô-la sữa, không ăn. Tôi rót cho tôi một tô cà phê lớn và trét bơ lên bánh mì nướng. Tôi bảo từ ngày vào đây tôi có triệu chứng lên cân, mặc quần đã thấy chật. Tôi được biết nàng tên Evelyne và nàng vào bệnh viện đã được ba tháng nay. Trước đó nàng là nữ y tá cho một bệnh viện dành cho người già. Vì mới quen nên tôi không tò mò hỏi duyên cớ nào xui nàng vào đây. Nàng cũng không hỏi tôi vì sao phát điên. Nàng hay cắn môi, môi nàng màu hồng đều đặn, không dầy không mỏng. Nàng không có vẻ gì bất bình thường, ngoại trừ đôi mắt như xa vắng, nhìn nhưng không chú ý, có đó mà như không có đó. Gương mặt sầu muộn man mác, thương nhớ đâu đâu. Nếu không điên, có lẽ tôi đã tán tỉnh nàng. Dung nhan nàng trùng hợp với mẫu người con gái mà tôi ưa thích. Ăn xong, chúng tôi về phòng chờ bác sĩ đến khám bệnh cho thuốc.

Sau bữa cơm trưa thằng râu quai hàm rủ tôi trốn ra phồ chơi – hắn tên Christian. Ðã hơn tuần nay tôi giam mình trong bệnh viện, hết ăn tới nằm, hết nằm tới ngồi, hết ngồi tới ăn, tôi cũng tù chân. Trời nắng đẹp, tôi đồng ý leo rào với hắn. Hai đứa lẻn ra cửa nhỏ, cuốc bộ ra đường cái đón xe buýt ra Paris. Ngồi trên xe buýt, tôi chỉ sợ nhân viên bệnh viện đón cùng xe lên thình lình và nắm cổ hai thằng điên lôi về. Chúng tôi an toàn đi vào thành phố, hai đứa rà rà xuống khu Opéra. Trở lại cái náo nhiệt của Paris, tôi thấy vui vui nhưng trong lòng cũng lo sợ vu vơ. Không biết lính cảnh sát có tới hỏi giấy bất tử. Tôi muốn đi xi-nê nhưng không có tiền. Christian dắt tôi vào một tiệm sách, hắn tìm mua một cuốn sách nói về phân-tâm-học. Hắn là thầy giáo ở một khu hẻo lánh dưới tỉnh. Hắn nói ở đó buồn quá, có mỗi một cô giáo độc nhứt lại đổi đi nơi khác. Hắn phát khùng, không biết có phải tại thất tình cô nọ.

Vào tiệm sách, hắn lựa ba quyển nói về tâm lý, hỏi ý kiến tôi nên mua quyển nào. Có một quyển tôi đã đọc nên tôi xúi hắn mua quyển đó, hai quyển kia in chữ nhỏ và có vẻ lập thuyết nên tôi không thích. Thuyết nào cũng chứa sẵn mầm loạn trong nó. Thuyết càng lớn, loạn càng lớn. Hắn chọn một trong hai quyển kia mang ra quày hàng. Khi cô hàng sắp tính tiền, hắn đổi ý ôm quyển sách trở vào, lại hỏi ý kiến tôi. Tôi không đổi ý. Hắn lại ôm quyển khác ra quày rồi lộn trở vào đứng xớ rớ với ba quyển sách trên tay. Tôi không muốn mất thì giờ nên xui hắn mua mẹ nó ba quyển luôn cho được việc. Hắn không chịu. Sau cùng hắn cầm quyển sách tôi chọn ra quầy trả tiền. Xong hai đứa đi lòng vòng một hồi rồi đón xe buýt về bệnh viện. Trên xe hắn lại càu nhàu và tỏ ý hối hận vì đã mua quyển sách mà hắn không thích. Tôi xì nẹt la chưa chắc mày đã biết mày thích gì nữa. Hắn đòi xuống xe đi trở lại Paris đổi sách. Tôi dọa cô bán sách sẽ kêu cảnh sát vì thấy mày dị hụ quá, hắn mới thôi. Hắn tiu nghỉu nhưng cứ cục cựa trên băng xe hoài không yên. Tôi chỉ mong chuyến búyt tới chỗ phứt cho rồi.

Buổi tối, khi ăn cơm Christian lại đem đề tài cuốn sách hồi chiều ra thảo luận. Hắn công kích làm như thể tôi là tác giả cuốn đó. Nghe lý luận của hắn tôi nghĩ bụng thằng cha này không thể nào đàn bà thích nổi, chắc chắn sẽ ở giá tới già. Tôi nổi sùng định gây thì may quá hắn đổi đề tài qua chuyện dĩa bay, một chương mà hắn cho rằng mình nắm giữ được nhiều tài liệu xác thực, chứng cớ đàng hoàng. Hắn tin rằng người ở hành tinh khác sẽ đáp dĩa bayxuống quả đất này và mang tới một trật tự mới. Hắn sẽ theo đoàn người ngoại địa kia bay lên không gian, nơi từ đó hắn đã đap xuống địa cầu này. Hắn nói say sưa rồi hỏi tôi tin dĩa bay có thật không. Tôi nói tôi không biết, có điều chắc chắn là ngoài thế giới loài người, còn có hằng hà sa số thế giới khác nữa. Vả lại tôi chỉ mong cho bọn Nga bọn Mỹ bay tuốt lên hết không gian để lại quả đất già nua này cho tôi, tôi sẽ mừng biết mấy.

Sau bữa cơm tối Christian rủ tôi ở lại coi truyền hình, tôi chán nản trở về phòng nằm ngó ra cửa sổ thấy trăng mọc. Lòng tôi dịu xuống. Tôi chợt có một ý nghĩ rất đằm thắm về nàng, gần như tội nghiệp. Phòng Christian khít phòng tôi và ngang phòng nàng. Hắn nói từ ngày vào bệnh viện hơn tháng nay, hắn không thấy ai tới thăm nàng hết. Có hôm hắn nghe tiếng khóc la trong phòng nàng và hắn kêu cứu nhân viên trực. Người ta đến đem nàng đi hai ngày sau mới mang trở lại. Nàng xanh xao. Duy có điều là lúc nào nàng cũng ăn mặc đẹp đẽ và mái tóc gội rửa sạch sẽ óng chuốt. Hắn có gợi chuyện với nàng nhưng thấy không hạp – có gì đâu ngạc nhiên ? Tôi châm điếu thuốc và ngồi dậy viết nhựt ký.

Ðêm…

« Có lẽ giờ này Ánh đang loay quay dưới bếp, trong tiệm ăn ; mùi xào nấu khét nghẹt, khói tỏa mù mịt. Giờ này khách bắt đầu đông dần, cho tới khuya. Tiệm anh Thận ở đường Saints Pères lúc nào cũng đông vì anh biết chìu khách và tử tế với nhân viên, tuy thỉnh thoảng anh có bốc hốt ấu tả. Ánh than phiền nhưng tôi an ủi là đàn ông nào mà chẳng vậy. Tới khuya nàng lò dò về, len lén tắm rửa sơ sài rồi chui lên giường, mùi củ hành còn dính trong tóc. Có lần tôi than thở em có mùi củ hành, nàng phản đối hôm nay em chỉ xắt tỏi chớ không có xắt hành. Với tôi thì mùi nào cũng khó mà ôm vào lòng ngủ cho được. Tôi vốn đã mất ngủ, đang lúc thất nghiệp. Thế nhưng tôi vẫn ước ao khi nào có đủ tiền ta sẽ rước Kiều ra khỏi lầu xanh. Khi trước ở Việt Nam nàng làm nhà băng, qua bên Tây nàng làm nhà hàng, đâu cũng là nhà cả !

Một dạo tôi xuống đón nàng buổi tối, e nàng thân gái dậm trường. Ðêm nọ dưới métro trạm Odéon tôi đứng lại xem một bọn bốn đứa da đen đánh trống hòa nhịp với nhau. Nghe tiếng trống dội tôi tưởng chừng như ai đang đập lên da thịt mình ( con trâu nước ?). Ðã nhiều lần như vậy và lần nào tôi cũng chảy nước mắt. Con trâu nước đang dãy dụa dưới làn nước đục trên lưng còn dính cứng những mũi giáo nhọn, máu tuôn lênh láng. Con trâu nước trồi lên mặt nước, miệng hả lớn lấy hơi thở, tôi hụp xuống lẩn trốn, con trâu nước trồi lên, tôi hụp xuống, con trâu nước mang giáo nhọn, tôi dãy dụa dưới làn nước đục…Tôi vụt khóc sướt mướt và vội vã chạy ra khỏi métro, chạy băng qua đại lộ Saint Germain, chui vào mấy con đường nhỏ ở chợ Buci, rồi lẩn trốn dưới cổng lớn của trường Y khoa gần tiệm anh Thận. Tôi ẩn núp để khóc cho thỏa thích, làm như khóc là điểu xấu hổ phải dấu che. Tôi khóc rất lâu, tưởng chừng đứt mất hơi thở. Con trâu nước tuôn máu lênh láng, tôi khóc lênh láng. Khi dịu bớt, tôi đi đón Ánh. Ra về, trong toa xe, bất thần tôi lại tủi thân bật khóc. Ánh ôm tôi vỗ về, hành khách trong xe ái ngại. Từ đêm đó, tôi không đi đón nàng nữa.

Chúng tôi thuê một căn nhà hai phòng ở lầu bốn một cao ốc cũ kỹ đường Pyrénées, quận hai mươi Paris. Hai đứa nhỏ ngủ chung một phòng trên giường hai tầng, trong phòng lúc nào cũng ngổn ngang thùng giấy đựng quần áo, như sắp sửa chạy giặc. Tôi và Ánh ở phòng ngoài có ghế dài để ban ngày tiếp khách, ban đêm kéo ra làm giường ngủ, ăn cũng ở đó, xem truyền hình cũng ở đó, hội hè cũng ở đó. Không có hệ thống sưởi, chúng tôi mua một lò sưởi điện xài đỡ. Hôm nào lạnh quá, cha con ngồi co ro bên lò điện tìm hơi ấm. Suốt mùa đông Ánh đi làm việc, hai đứa nhỏ đi học, tôi nằm nhà trùm chăn kín mít cho đỡ lạnh, chỉ chừa một lỗ đủ để thở. Hôm nào có họp chợ lộ thiên, lúc tan chợ tôi lò dò đi lượm mấy trái cam úng người ta quăng bỏ đem về vạt xén phần tư, nhâm nhi phần còn lại có mùi vị bất định cho đỡ thèm. Có bữa cơn động kinh bất chợt kéo về bứt cắn cân não, tôi chỏng lưng giựt tóc la hét một mình trong căn buồng mông quạnh, đầu vùi dưới gối cho không ai nghe thấu. Thất nghiệp, không tiền, không biết đi đâu, không có bận rộn gì khác ngoài viết đơn xin việc. Cố gắng ngủ, không được, mặt như phù thủng, vàng vọt, tóc trĩnh ướt. Khi nghe tiếng chân Ánh về trên cầu thang, tôi cố gắng ngồi dậy cho nàng đỡ âu lo. Nàng về tôi mừng lắm, cũng thấy bớt sợ trong cảnh cô đơn.

Hết đông tới xuân, hết xuân tới hè, vẫn thất nghiệp dài dài. Ðứa con trai nhỏ theo trường đi cắm trại miền biển, còn lại tôi và đứa con gái, cha con mỗi ngày ngồi ngó nhau chờ má về. Nó học ở trường biết thổi sáo chút đỉnh, mấy bản ru em. Tôi mượn được cây lục huyền cầm, gảy lăng tăng. Mùa hè hai cha con tính xuống métro song tấu kiếm chút cháo của hành khách xui ngược. Nhưng sợ má bắt gặp bất tử nên thôi. Tôi nghĩ nếu một mai tôi chết, khi viết hồi ký, con gái tôi chắc sẽ bắt đầu như sau : « Ba tôi là một người hết sức buồn rầu… ». Thấy tôi lừ đừ cả ngày, nó tự động lấy giấy bìa nặn hình cái chén rồi vẽ bông hoa lên đó tiêu khiển. Tôi cũng xé hình màu ở các tạp chí dán lăng nhăng thành những cảnh trí khác để giải khuây. Chán tôi mua rượu về uống. Say chán tôi tỉnh dậy ngán ngẩm còn bao nhiêu rượu đem vào cầu tiêu đổ bỏ rồi giựt nước cho trôi đi. Mùa hè các xí nghiệp đóng cửa hay chỉ hoạt động tà tà, không ai thâu dụng người. Lại chờ nữa.

Có hôm đứng ngó mình trong kiếng tôi ngỡ thấy một thằng điên. Tóc tai rũ rượi, mắt nổi gân đỏ, da mặt vàng ẻo. Tôi chợt hối hận ăn năn vô cùng. Ðâu dễ gì tôi xuất hiện trên trái đất này dưới lốt một con người. Phải bao nhiêu vạn kiếp, bao nhiêu cơ duyên. Sao tôi không nhiệt thành sống cuộc sống đó. Người ta sinh ra đâu phải để hạnh phúc hay để đau khổ. Người ta sinh ra để sống, và sống hàm chứa hạnh phúc lẫn đau khổ. Phải chấp nhận. Nên chấp nhận. Cũng không có cách nào khác. Tự tử để chứng minh mình có tự do thì tự do đó quả thật khốn nạn, hẩm hiu và kiêu căng xuẩn ngốc. Nhiều lần cầm mười viên thuốc ngủ trong lòng bàn tay, tôi do dự. Kiếp người, hành trình từ sống tới chết chỉ một chiều. Không thể đi từ chết trở lại sống. Ðó là lý do duy nhất khiến tôi bỏ các viên thuốc ngủ trở lại ống. Sống không hân hoan là một tật nguyền do chính mình tạo lấy, hoàn cảnh bên ngoài chỉ là một cái cớ. Nếu biết sống vẫn luôn luôn có một chút mặt trời đâu đó… »

Trước cổng bệnh viện là thành phố Villejuif. Thành phố này, đối với tôi, gồm hai khối nhà cửa xúm xít. Khối bên trái gồm nhiều cửa tiệm buôn bán, một hiệu cà phê, nhiều tiệm ăn, quán nước, tiệm giặt ủi, trường học và đặc biệt là một tiệm sách tôi thường ghé vào coi cọp tạp chí lăng nhăng. Khối bên phải gồm chợ nhà lồng có nhiều sạp bày bán quần áo, hàng xén, bánh trái, bông hoa vệ đường…trong những ngày họp chợ, một siêu thị và một quán nước trang bị các máy tiêu khiển, banh điện, banh bàn…bọn trẻ thường tụ họp ở đó. Ngày nào tôi cũng đi lòng vòng quanh hai khối nhà cửa đó, thét rồi thuộc lòng hết vị trí. Cũng chẳng biết đi đâu hơn. Ðối với tôi, thành phố chỉ có vậy. Xa hơn, nhà cửa thưa thớt, cũ kỹ, đi vô đó sợ lạc.

Trời bước vào mùa xuân với những ngày nắng càng lúc càng tươi tốt, rạng rỡ. Tôi đánh một vòng qua khỏi hiệu cà phê đến tiệm sách. Tôi giật mình vì từ xa đã thấy nàng đứng đó, trước cửa tiệm sách, trong nắng vàng, tóc lùa gió xuân bay phất phới, hình ảnh thật tươi mát, hạnh phúc. Nàng mặc quần jean bó sát, áo sơ mi màu hồng nhạt như chim hạc xòe cánh hồng, tay cầm ví nhỏ, trông như một cô gái đang chờ tình nhân, mắt nàng chóa nắng nheo nheo. Nàng có vẻ không để ý gì đến quang cảnh chung quanh. Nàng có đó nhưng cũng đồng thời không có đó. Tôi đến gần, nàng không hay biết. Tôi gọi nhỏ :

Evelyne !

Nàng giật mình nhìn tôi bối rối, tay chân lúng túng như muốn che giấu điều gì. Tôi có cảm tưởng đã bắt gặp quả tang nàng đang…đứng phơi nắng. Tôi cố gắng mỉm cười cho nàng yên tâm. Tôi ngó trời nói bâng quơ:

Bữa nay trời đẹp thiệt ! Cô đi mua sách hả ?

Nàng ấp úng :

Không… không…

Cô đang chờ một người bạn chăng ?

Nàng lắp bắp :

Không… Tôi không chờ ai hết. Cũng chẳng có ai chờ tôi.

Nàng bối rối khiến tôi cũng bối rối. Tôi đề nghị :

Hay là… chúng mình cùng vào đây xem sách coi có gì thú vị chăng.

Nàng ngần ngừ, tôi đẩy cửa tiệm sách, nàng liếc nhanh tôi rồi bước vào. Chúng tôi đứng trước sạp chưng bày các tạp chí và sách hình, dở xem lăng nhăng hết tập này đến tập khác. Tôi hỏi nàng muốn mua gì không, nàng lắc đầu. Sau đó tôi chọn cho nàng một cuốn Mickey mới xuất bản, bảo nàng giữ lấy xem trước, khi xong tôi sẽ xem sau. Rời tiệm sách, tôi đề nghị nàng đi tới một khoảng vườn nhỏ trồng bông gần đó ngồi phơi nắng chơi, hôm nay trời quá đẹp. Trong vườn bông tulipes màu vàng, màu đỏ, màu vàng sọc đỏ nở rực rỡ, hồn nhiên. Con chim sẻ mới biết bay vỗ cánh cất mình la đà tại chỗ rồi rớt xuống, rất ngộ nghĩnh. Nàng nhìn thú vị, như đứa nhỏ đang khám phá đời sống. Tôi ngắt một cọng cỏ vò nát trên đầu ngón tay rồi đưa cho nàng ngửi. Mũi nàng hỉnh hỉnh, có vẻ chăm chú. Tôi kể sơ lược lý do đã khiến tôi vào bệnh viện. Cái tên Việt Nam đối với nàng như một địa danh đến từ một hành tinh xa lạ. Nàng hoàn toàn không biết những gì đã xảy ra ở đó trong mấy chục năm qua. Càng may cho nàng. Biết chi vô ích. Nếu thế giới cũng quên được Việt Nam như nàng thì dân Việt sẽ đỡ khổ biết mấy !

Khi nói về nàng, Evelyne lại tỏ ra lúng túng, hốt hoảng. Nàng nói nàng rối trí vì lý do gia đình. Tôi hỏi :

– Chồng cô đâu sao không thấy tới thăm.

– Không, tôi còn độc thân.

– Ủa, chớ còn chuyện rắc rối gia đình..

– Gia đình đây là gia đình ba má, tôi sống với ba má và người chị sanh đôi duy nhứt là Isabelle. Cách đây hai năm, lúc tôi được mười tám tuổi gia đình bắt đầu xào xáo. Má tôi ghen…

Nàng ngập ngừng. Tôi yên lặng. Nàng tiếp :

– Má tôi ghen với chị tôi. Lúc đầu bà nghi ngờ, rồi sau đó bà quả quyết là ba tôi đã ngủ với chị tôi. Ba tôi chửi má tôi, nói là bà ghen riết hóa điên, từ ngày lấy nhau bà đã luôn luôn hành hạ ông vì cái chứng ghen quá trớn của bà. Ngày nào cũng cãi vả rồi đi tới xô xát.

Mắt nàng mở lớn, sợ sệt. Tôi hỏi :

– Sao hai chị em không ra ở riêng ?

– Chúng tôi không có phương tiện. Hơn nữa ba tôi cũng không muốn. Một hôm trong phòng khách ba người lại cãi nhau. Má tôi buông lời tục tằn, ba tôi giận dữ đánh bà bạt tai, bà ré khóc la hét. Isabelle cũng khóc. Tôi trong buồng bước ra cầm lưỡi dao cạo trên tay dọa sẽ cắt gân máu nếu mọi người tiếp tục. Không ai nghe tôi. Tôi cứa dao cạo lên cổ tay, máu vọt ra lênh láng và ngã xỉu…

Mặt nàng nhợt nhạt. Tôi hoảng hốt nắm vai nàng lay tỉnh. Tôi gọi nàng :

– Evelyne ! Hết rồi ! Chuyện đó hết rồi ! Chúng ta đang ngồi trong vườn. Nhớ đi ! Nhớ đi ! Chúng ta đang ngồi trong vườn hoa.

Tôi hối hận vì vô tình đã đánh thức hoài niệm thương động của người con gái xõa tóc. Tôi nắm tay nàng vỗ về, tay nàng lạnh ngắt. Nàng bình tâm lại. Nàng mở nút tay áo đưa tôi xem, cố tay trái nàng còn ba dấu cắt, một dấu dài ở giữa, hai dấu ngắn hai bên. Tôi bồi hồi thương xót, tôi vuốt ve vết cắt, cài tay áo nàng lại và bảo nàng hãy về buồng ngủ nghỉ ngơi. Nàng đứng dậy, quyển Mickey rơi xuống đất. Tôi cúi xuống nhặt và ngắt cho nàng một hoa tulipe đỏ. Ðể tạ lỗi. Sau lưng chúng tôi, chim trong vườn vẫn kêu ríu rít. Buổi cơm tối không có mặt nàng.

Paul Brousse, tối…

« …Tôi vẫn còn ân hận và áy náy cho Evelyne. Tôi đoán lờ mờ câu chuyện của nàng còn nhiều uẩn khúc. Mà phanh phui nhắc nhở để làm gì ? Trí nhớ khốn kiếp ! Người ta cần có trí nhớ để tiếp tục, nhưng cần phải lãng quên để sống. Trí nhớ, không biết đó là diễm phúc hay là nỗi bất hạnh của vạn vật, của con người. Sự tiến hóa đã sáng chế ra trí nhớ, chôn kín trong tế bào, không thể rứt ra được nữa. Có lần tôi đã viết cho một người đàn bà ở Bình Dương : « Vùi chôn trí nhớ đầu ghềnh, hồn nhiên hạnh phúc lênh đênh cũng gần », không biết nàng có cảm nhận điều tôi muốn nói ?

Vì không quên được nên tôi chưa thích ứng được với cuộc sống nơi đây. Dù giận quê hương, Việt Nam vẫn còn đeo kín trong tâm tưởng. Gỡ ra bật máu, đau nhức như vết thương chưa lành. Ở đây, tôi phải thay đổi đời sống, làm những công việc khác, chấp nhận những luật lệ khác, chia sẻ sự khủng hoảng kinh tế của Pháp – và của thế giới – như mọi người. Sau thời gian thất nghiệp, tôi sẵn sàng làm bất cứ công việc gì, hay ít ra tôi tưởng vậy. Tôi tính đi bưng cơm và rửa chén ở tiệm ăn, nhưng Ánh cản tôi, vì nàng biết tính ý tôi. Tôi nhận đứng bán hàng trong một tiệm điện tử. Từ nhỏ tới lớn tôi nào biết buôn bán là gì. Tôi vốn ghét thương lượng, mặc cả, kiếm lời. Trưa nào tôi cũng xuống hầm gặm khúc bánh mì cạnh cầu tiêu. Một tháng sau tôi đổi việc làm.

Tôi nhận làm thư ký cho tiệm chạp phô của một người đồng hương. Công việc ghi chép sổ sách kế toán, ngân hàng, kiểm điểm thanh toán hoá đơn và các công việc lắt nhắt tạp nhạp khác, kể cả ôm mấy bó củ hành, vịt quay, lạp xưởng ra ngoài nhà bưu điện làm thủ tục để gửi đi. Tôi có triệu chứng sa sút trầm trọng, ban đêm trao tráo, ban ngày ngủ gật, lờ đờ. Ngồi trong cầu tiêu tôi mê thiếp. Tôi làm việc với tâm trạng thất nghiệp, làm chưa đúng nghề của mình. Tôi bám níu nghề cũ, như thể tôi sinh ra để chỉ làm nghề đó, tâm trí vọng chấp. Mỗi tối, khi về Ánh thường gãi đầu tôi trong đêm khuya để dỗ tôi ngủ. Nàng thường ứa nước mắt chép miệng « tụi mình đâu có làm gì ác ! » Mỗi sáng tôi sợ hãi nhỏm dậy sau một đêm chập chờn ( như mấy trăm đêm đã qua), xỏ quần áo xốc xếch, xuống bếp pha ly cà phê lớn. Tôi lò dò bước xuống đường khi Ánh còn mệt ngủ vì làm đêm, về muộn.

Tiệp chạp phô nằm ở khu Maubert. Khi tới gần tiệm, tôi sợ hãi, bước chậm lại muốn thối lui. Ngày nào cũng mùi nước mắm, xì dầu, hành hẹ, rau cỏ úng, ba khía, chả giò, cà ri, vân vân…Tôi đầy cứng cả phổi. Sách nào cũng anh chàng chà-và giữ quán đốt nhang Ấn Ðộ, vặn nhạc Ấn Ðộ, hát theo tiếng Ấn Ðộ, ngoáy ngoáy cái bụng kiểu Ấn Ðộ, quần áo ít khi thay đổi, hôi rình. Bước vào quán đã dội ngược. Rồi tiếng tru tréo của bà chủ, tiếng xỉa xói của đám con bà chủ, tiếng nạt nộ hách xược của ông chủ. Ngồi trong văn phòng ( ! ) nhỏ xíu trong kẹt quán, tôi thường trải qua những giây phút kinh hoàng đột khởi trong tâm lý. Tôi sẽ trở thành lão thư ký già cạo giấy chết dần chết mòn giữa mùi cà ri sực nức này ? Không thấy lối thoát. Những lúc đó tôi thường nhìn bức tranh Quan Âm lộng kíếng treo trước mặt, tôi nhớ tới má tôi thường dắt tôi đi chùa hồi nhỏ, và tôi niệm Phật. Không phải vì tin tưởng, mà giống người sắp chết đuối níu phao, phao gì cũng được. Tôi thấy cắn rứt vì mình không tin tưởng Trời Phật một cách thành thực, bất vụ lợi. Tôi kêu gọi Trời Phật khi bị hiểm nguy, mong mỏi điều đó có thể lợi ích cho tôi. Nếu không có lợi cho tôi gì hết, khó có thể tôi tin lâu dài được. Nếu Chúa Trời không có thiên đàng, có lẽ tín đồ sẽ chỉ còn lại loe ngoe mấy mống. Hơn nữa, nghe đâu ở cõi Cực lạc không có người nữ nên tôi chẳng tha thiết gì cho lắm. Vả lại, tôi rất sợ « vĩnh viễn », bất cứ gì vĩnh viễn. Vui sướng vĩnh viễn! Hoan lạc vĩnh viễn (như thượng mã phong?) Hạnh phúc vĩnh viễn! Nghe qua phát ớn. Vĩnh viễn là một cái chết tuyệt đối. Mà sự hoàn hảo cũng là một thứ vĩnh viễn, một tình trạng bất khả đổi thay. Nếu Thượng đế hoàn hảo thì thật đáng tội nghiệp. Ông ta đã chết cứng khi mới xuất hiện, chết tuyệt đối, chết ngay tại chỗ, không thể tiến lên, không thể tụt xuống.

Tiệm chạp phô cách nhà thờ Notre Dame độ hơn trăm thước. Chỉ cần băng qua cây cầu đá bắt ngang sông Seine là tới. Tiệm không có lò sưỡi nên mùa đông buổi trưa nào tôi cũng ôm khúc bánh mì chui vào nhà thờ tìm hơi ấm để ngủ gật. Trong nhà thờ có những vỉ sắt, hơi nóng từ bên dưới hắt lên. Ngồi đó đỡ khổ lắm. Những lúc ấy tôi thấy nhà thờ thật cần thiết. Tôi nằm co trên ghế, không buồn ăn. Có khi người trong nhà thờ gọi tôi ngồi dậy, không cho nằm, sợ làm mất vẻ tôn nghiêm của thánh đường. Có lúc vào tới thì đã thấy hai ba anh chàng clochards chiếm mất chỗ tốt, tôi đành ngồi lùi phía sau không đủ ấm. Mùa đông năm đó sao lạnh kỳ lạ! Thỉnh thoảng tôi thắp một ngọn nến cắm trên giàn sắt dưới chân Thánh Thérèse. Sau ngày 28.4, tôi theo một cô bạn vào nhà thờ Notre Dame, cô bảo tôi Thánh Thérèse linh hiển lắm, tôi nên cầu nguyện cho vợ con còn kẹt bên đó. Tôi thắp nến nguyện cầu. Ðộ tuần sau, Ánh từ bên đảo Guam điện thoại sang cho biết đã trốn đi được hết sức tình cờ tại Tân cảng với hai con, ngày 29 tháng tư – ngày hôm sau Sài Gòn …, năm 75. Khi nghe sự tích Thánh Thérèse, được biết Bà vốn là một kiều nữ bỏ đi tu, tôi cành thấy gần gũi với Bà hơn, có lẽ vì Bà có mang nhiều chất người trong lốt Thánh.

Cảnh tượng ngủ gật trong nhà thờ còn ràng ràng trong trí. Ngày nào ra khỏi bệnh viện, nơi này, tôi sẽ lại sa chân vào cái tiệm chạp phô, ngửi lại mùi cà ri và nghe lại nhạc Ấn Ðộ, chắc chẳng sớm thì chầy tôi sẽ trở lại đây và sẽ lại đi vòng vòng trong khu phố Villejuif. Có cách nào khác hơn không ?… »

Sáng hôm nay Evelyne trở lại phòng ăn với chiếc áo trắng hôm đầu tôi thoáng thấy nàng ngoài hành lang. Nàng có vẻ tỉnh táo, nhưng vẫn xa vắng. Tôi mừng cho nàng nhưng cũng không muốn quấy rầy. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, không dám gợi chuyện. Nàng cầm trên tay quyển Mickey, thỉnh thoảng lật xem, mỉm cười ( hình như mỉm cười ). Trong khi đó quyển Mickey tôi mang theo khi nhập viện giờ đây tôi đọc đã theo dõi được câu chuyện, bắt đầu tập trung được sự chú ý chút đỉnh.

Ăn sáng xong, anh chàng sún răng rủ tôi đi dạo chợ vì hôm nay có họp chợ lộ thiên. Hãy còn sớm, chúng tôi đánh vài vòng. Chuyện vãn, được biết hắn bị vợ bỏ theo người đàn ông khác. Ba tháng sau nàng trở về, hắn tha thứ hết. Nàng dụ dỗ lấy hết tiền của hắn rồi trốn đi biệt tích. Hắn chán đời uống thuốc tự tử. Chở vào nhà thương người ta phải cạy miệng để bơm ruột. Vì vậy hắn bị gãy hết hai răng trên. Hắn nói chắc sẽ không dại dột tự tử hay nghe đàn bà nữa đâu. Khi ghé chợ, chúng tôi dừng lại trước sạp bán sôn quần áo. Tôi chọn mua một quần jean đã bạc màu, nhưng hãy con tốt, rẻ rề. Hắn lựa mua hai cái quần lót. Khi người bán hàng quay lưng, hắn lén chọt một cái khác nhét vào bọc. Tôi sợ có người bắt gặp tri hô lên và tôi bị vạ lây, hai đứa sẽ bị dắt trở lại nhà thương điên nhốt kỹ, nhốt dài hạn. Vì vậy, rời khỏi sạp, tôi tìm cách thoái thác đi riêng, để hắn tự do hành nghề đạo chích một mình. Tôi đoán chừng hắn bị vợ bỏ chắc cũng có lý do gì đó.

Tôi ghé tiệm cà phê và gọi chai bia. Ðã lâu lắm tôi không uống rượu vì chẳng thấy thú vị. Muốn trốn thực tại, sau cơn say tỉnh dậy các khó khăn vẫn còn nguyên vẹn, và càng thêm ngao ngán, mệt mỏi. Hôm nay uống bia thấy ngon. Ở quầy vài khách quen đi chợ về ghé qua uống rượu đấu hót. Tôi không có cảm giác xa lạ. Mọi vật hình như đã trở lại trật tự và vị trí phải chỗ của nó trong trí tôi.

Xe cộ chạy xì xầm ngoài đường, tự nhiên hết sức. Ánh nắng lọt qua mặt kiếng lớn ở quán, trải lên quầy, tràn lên cánh tay tôi. Trong đường nắng đi, vân vi khói thuốc xanh xám và chút bụi mờ, mỗi hạt bụi là cả một vũ trụ. Tôi chợt cảm nhận khoảnh khắc này sẽ không bao giờ có nữa. Khoảnh khắc nào cũng độc nhứt. Ngày này, tháng này, giờ này, khắc này, tôi đứng đây, ở quầy rượu này sẽ không bao giờ tái diễn. Tôi có cảm tưởng sẽ ra đi và sẽ không bao giờ trở lại trái đất này nữa. Tôi xúc động rớm nước mắt. Tôi chợt cảm thương khoảnh khắc độc nhứt này vô cùng. Nhưng tôi không muốn giữ nó lại. Khoảnh khắc nào cũng như nhau, độc nhứt. Và cũng vì độc nhứt nên khác nhau.

Sau buổi trưa, tôi về phòng ngủ thiu thiu, chợt có tiếng gõ cửa. Evelyne ! Nàng nói hôm nay có buổi tập vẽ ở phòng ăn, ai muốn tham dự cũng được. Tôi không có dụng cụ. Nàng bảo trên đó có sẵn hết. Tôi theo nàng lên phòng ăn. Hướng dẫn viên là một người đàn bà có nụ cười hiền hậu đầy thông cảm. Tôi ngồi đối diện với Evelyne. Tôi pha sơn trên mấy khối màu nước như thuở còn đi học. Nhớ hồi nhỏ tôi ưa vẽ hình Zorro, Tarzan và những nhân vật tôi ưa thích. Tôi gạch ô vuông và gò gẫm bắt chước vẽ cho giống trong sách hình. thiệt thú vị hết sức. Lớn lên tôi chạy theo gái và mất thói quen đó. Giờ này trong nhà thương điên tôi khám phá lại. Tôi không vẽ anh hùng đeo dao giắt súng. Tôi vẽ một cành tre có se sẽ đậu và trên tấm khác, một con chim hạc có đầu mỏ đen, cánh màu hồng và đôi chân dài khẳng khiu.

Evelyne nhúng cọ trong những vũng màu tôi pha và nàng vẽ những ô vuông đầy kín khác màu, ô này nằm chồng tréo lên ô kia, như một bức tranh trừu tượng. Nàng khoe với tôi và hớn hở ra mặt. Tôi khen đẹp lắm, nàng đắc ý hỏi tôi :

– Thiệt hả anh ? Thiệt hả ? Từ thuở giờ em đâu có biết vẽ hình.

Tôi để ý thấy nàng đã đổi cách xưng hô với tôi. Tôi cầm tranh nàng lên ngắm nghía gật gù ra vẻ người thưởng ngoạn sành điệu. Nàng mừng rỡ như con nít. Tôi cảm động. Làm cho người đàn bà hạnh phúc bao giờ tôi cũng cảm động, như nhìn thấy con chim chạy tíu tít trong nắng. Nàng lại nhúng cọ vẽ những tảng tròn nhiều màu. Nàng nói đó là những bong bóng và mặt trời.

Tôi lại gật gù thưởng thức. Mắt nàng rực vui và lần đầu tiên tôi thấy nàng thực sự có mặt, không còn xa vắng, lãng đãng. Bà hướng dẫn cũng khen nàng và tôi vẽ đẹp. Bà lấy đinh gút treo tranh của chúng tôi lên tấm bảng bằng gỗ mốp trong phòng ăn cho mấy người điên khác trong bệnh viện cùng thưởng thức. Tan buổi vẽ, tôi rủ Evelyne đi dạo. Nàng nói muốn về phòng xem tiếp quyển Mickey. Tôi một mình đánh hai vòng rồi về phòng mình viết nhựt ký.

Ngày… tháng tư…

« Hôm nay là sinh nhựt của tôi. Ngày tôi chào đời cách đây hơn ba mươi năm. Tôi được đẻ ra. Tôi ăn. Tôi uống. Tôi bài tiết. Tôi lớn lên. Thật vậy sao? Tôi. Tôi?

Ðã có lần, trong lúc nổi loạn chống lại Thượng đế tôi những tưởng đã nêu lên được trọng tâm của vấn đề: « Tôi đâu đòi hỏi sinh ra làm người. Tôi đâu chọn lựa làm người Việt Nam. Khi tạo ra tôi, Thượng đế đâu có hỏi ý kiến tôi. » Thiệt cũng khổ tâm cho Thượng đế. Trước khi tạo tôi ra, biết tôi ở đâu mà ông ta hỏi ? Tôi thường đặt ra vô số những vấn đề ngụy tạo như vậy. Trong lúc tâm thần bất ổn, thấy cục đá nằm bên lề đường tôi cũng thắc mắc : « Tại sao cục đá nằm đây ? Tại sao cục đá phải là cục đá ? Tại sao cục đá ù lì, câm nín ? Cục đá có tự do lựa chọn ? Yếu tính của cục đá này là gì ? »

Nhưng đừng tưởng tôi xì- nẹt tại cục đá này nằm đây mà không nằm chỗ khác. Sẽ không có một « chỗ khác » nào thỏa mãn được câu hỏi tôi đặt ra đâu. Thượng đế có mang cục đá này về Thiên đàng chưa chắc tôi đã vừa ý. Ðiểm then chốt tôi muốn đặt ra là ý nghĩa của cục đá. Tôi muốn cái gì cũng phải có ý nghĩa. Ý nghĩa theo cảm quan của tôi, dĩ nhiên. Vì có như vậy tôi mới chấp nhận. Tôi chỉ có thể chấp nhận tôi. Thiệt hết sức logique. Hết sức hợp lý. Tôi đã tìm ra được triết lý của cái lỗ rún. Ngó lỗ rún của mình mà lý luận. Mê lắm. Tôi bắt buộc đời phải có ý nghĩa với cảm quan của tôi. Không có thì tôi đi tìm. Tôi vác gói dấn thân vào con đường siêu hình. Tìm không ra tôi xì-nẹt, tôi nổi giận với Thượng đế và tuyên bố cuộc đời phi lý. Cuộc đời trở thành vô nghĩa vì tôi muốn gán cho nó một ý nghĩa mà vốn nó không có. Cuộc đời không ý nghĩa cũng chẳng vô nghĩa. Cuộc đời vốn nó Như Vậy Ðó. Ý nghĩa chỉ là chữ nói do con người ý niệm và đặt ra. Tôi muốn con cá phải có cánh bay như chim. Cá không có cánh, tôi nổi giận. Nhưng rủi thời mọi con cá đều vỗ cánh bay đầy trời như chim chắc chắn tôi sẽ lại nổi giận và đặt một câu hỏi then chốt khác, chẳng hạn : tại sao cá chẳng phải là cá, mà chim chẳng phải là chim ? Cuộc sống không phải để sống. Cuộc sống chỉ là một cái cớ cho tôi đặt câu hỏi. Tôi muốn dùng trí thông minh để giải quyết đời sống. Thiệt lẩm cẩm! Một mình nó, trí thông minh không giải quyết được gì hết. Nó tạo ra vấn đề nhiều hơn là giải quyết.

Ngày sinh nhựt! Tôi là thằng nhỏ đã sinh ra trong ngày đó, tháng đó, năm đó, bây giờ trở thành tôi nằm trong bệnh viện ? Thằng nhỏ là cái bào thai ba tháng lớn lên trong bụng mẹ ? Bào thai là cái trứng của má tôi được khai nở bởi con tinh trùng của ba tôi, một nửa sinh lý của cha, một nửa sinh lý của mẹ. Ðó là tôi, bắt đầu từ sự giao hợp ?

Không! Tôi không hề được sinh ra. Tôi( ?) đã có sẵn trong vũ trụ từ đời đời kiếp kiếp. Sinh ra, chỉ là một cách nói, một dấu mốc trong thời gian. Thời gian do biến dịch mà có. Không có biến dịch, không thể có thời gian. Không biến dịch không có cách gì biết được thời gian. Không biến dịch, chết tuyệt đối. Không có cái gì sinh ra cái gì được hết. Chỉ có một dòng biến dịch vô thủy vô chung. Vũ trụ chớp tắt không ngừng như một ánh đèn. Chớp, có đó. Tắt, biến mất. Chớp, có đó. Vũ trụ khoảnh khắc trước không sinh ra vũ trụ khoảnh khắc sau. Vũ trụ bao giờ cũng xuất hiện mới mẻ, từng khoảnh khắc. Khoảnh khắc nào cũng độc nhứt. Ðộc nhứt nào cũng mới mẻ. Vũ trụ, một chuỗi toàn là độc nhứt, toàn là mới mẻ, vô thủy vô chung. Nói độc nhứt, không phải độc nhứt. Nói mới mẻ không phải mới mẻ. Không có hệ thống chuẩn, không thể so sánh. Ai so sánh ? So sánh với gì ? Ðứng đâu mà so sánh ? Làm sao biết ? Biết vậy, chắc không ? Khi sai đúng đã mất hết ý nghĩa, chỉ còn im lặng mà cảm thức. Không phải ta cảm thức.

Tôi ngày hôm nay không phải là tôi ngày hôm qua trở thành. Tôi lúc nào cũng mới trong vũ trụ lúc nào cũng mới. Nói tôi nhưng không phải là tôi. Tôi ? Giới hạn của tôi ở chỗ nào. Chỗ nào là tôi, chỗ nào không phải là tôi ?

Tôi tiềm tàng trong vũ trụ từ vạn kiếp. Tôi lãng đãng trong bụi sao, trong khí trời, trong hạt muối, trong ngọn cỏ, trong ánh sáng, trong sức nóng, trong con tép, trong vỏ cua, trong thịt chim, trong nanh khủng long, trong tiết mùa, trong tốc độ của trăng sao, trong lăn lóc của trái đất. Không chỗ nào là tôi. Không chỗ nào không phải là tôi.

Rượu nằm trong ly không phải là tôi. Uống rượu vào bụng, rượu trở thành tôi, bài tiết ra ngoài, rượu không phải tôi. Cuống rún nối liền tôi với vũ trụ là đường ống vô hình bắt ráp mũi tôi vào không khí, không khí dính liền với trái đất, trái đất với thái dương hệ, thái dương hệ với ngân hà, ngân hà với vũ trụ. Chỉ cần đường ống tắt nghẽn, một phút, hai phút. Óc não chết ngắt. Sự kiêu hãnh của trí tuệ chấm dứt. Không có ranh giới minh định giữa cái tôi và cái không phải tôi. Tôi mật thiết với vũ trụ như ngón tay với thân thể. Không có sự trao đổi thường xuyên, không có sự giao thoa vô khởi vô tận, sẽ không gì có thể có được. Tất cả đều có cùng lúc, hoặc không có gì có thể có được cả.

Hôm nay là sinh nhựt của tôi. Và cũng không phải là sinh nhựt của tôi… »

Buổi tối hôm đó trời mưa. Lâu lắm tôi mới được nghe trời đất gầm gừ, chớp xẹt và tiếng sét xé trời. Tôi không có nhu cầu cầm viết. Tôi lên phòng coi truyền hình. Máy đen trắng, hình ảnh hưởng răng cưa, nhún nhẩy, âm thanh tiếng mất tiếng còn. Ít khi tôi hiểu hết chuyện gì xảy ra trên màn ảnh nhỏ. Tôi lên đó, có mặt mọi người cho đỡ buồn. Vô tuồng đâu được nửa giờ tôi chợt nghe có tiếng dép lẹp xẹp bước vào phòng hát và giọng cười the thé khàn đục : nàng đã tới ! Nàng là một người đàn bà son phấn lòe loẹt, mặc áo ngủ dài mỏng, để ửng lộ cái xì líp đen và cái xú chen – đen bên trong – có khi màu đỏ, có khi không có xú chen – tóc chải cột đuôi phía sau, tai đeo vòng lớn, móng tay móng chân sơn đỏ choét. Nàng ôm trên tay một hộp kẹo thiếc, đi coi hát lần nào cũng vậy, cười nói tự nhiên như ở nhà, nhai kẹo rôm rốp. Tôi cũng được chẫn bần một cục kẹo the, bỏ vào miệng ngậm đỡ đắng.

Tối đó chiếu tuồng cao bồi có Gary Cooper, mọi người say mê theo dõi. Nàng ồn ào quá nên nhiều người « suỵt, suỵt ». Nàng cũng suỵt suỵt lại rồi cười ăng ắc coi như pha. Cái máy cà chớn lại nhẩy hình. Bình thường như vậy, giữ im lặng coi cũng đã khó hiểu rồi. Ðằng này nàng lại đệm theo tiếng nút kẹo lách chách, thỉnh thoảng phụ đề một câu rồi chêm vô một tràng cười. Khán giả bất mãn phản đối. Thể theo nguyện vọng của đồng bào, nàng ra cuối phòng hát ngồi với một cô bạn để tha hồ đấu hót. Tôi chẳng tha thiết gì với cái truyền hình nhẩy cỡn kia nên cũng lò dò theo ngồi bên cạnh nàng tán gẫu chơi, coi bộ vui hơn. Tôi tò mò hỏi nàng :

– Coi mầy vui vẻ như vầy mà chui vào nhà thương điên thiệt cũng lạ.

Nàng bĩu môi :

– Tại mầy không thấy tao hồi lúc mới vào cách đây hai tháng đó chớ. Lúc đó tao cú rũ như con gà mắc toi. Bây giờ mới đỡ đỡ, chịu diện trở lại, chịu liếc tình với đàn ông.

Nàng lại cười ăng ắc rồi đưa tay bụm miệng. Tôi lại hỏi tiếp :

– Ở ngoài đời mày làm gì ?

– Tao làm nghề đứng đường.

Nàng đáp tỉnh bơ, không do dự. Thấy mặt tôi ngớ ngẩn thộn ra, nàng nói :

– Bộ mày tưởng đĩ không biết điên hả ?

Máu đàn ông nổi dậy, tôi phản ứng :

– Biết chớ ! Hồi đó tao quen một con nhỏ khá xinh cũng làm đĩ. Khuya nào bà chủ cũng kêu dậy đi khách ba bốn lần. Tối nào nó cũng ngủ sật sừ, mơ màng chiêm bao thấy mình bị kéo đầu dậy đi khách, ban đầu nó chỉ ba trợn, thét rồi nó khùng thiệt phải chở vô nhà thương.

Nàng cướp lời :

– Trường hợp tao không phải vậy. Tao bị thằng đĩ đực của tao bỏ rơi. Nó đánh đập tao, lột tiền đi khách của tao chạy theo con đĩ khác. Thiệt chó đẻ! Tao còn thương nó quá nên mới phát điên.

Nàng gãi đùi, móng tay dài kêu sột soạt, lách cách. Thấy tôi không có ý kiến, nàng la:

– Bộ mầy tưởng đĩ không biết yêu hả ?

Tôi chống chế:

– Tao đâu có nói vậy. Tao cũng đã có yêu đĩ nên biết sơ sơ…

– Ðàn ông tụi bây xạo lắm. Chỉ có đàn bà mới biết yêu, đàn ông tụi bây đâu biết yêu, tụi bây chỉ khoái chơi đàn bà, chơi cho đã. Không phải vậy sao ?

Khi không bị bà xẹt bất tử, tôi lúng túng. Biết mình không thể cãi lý với nàng được nên tôi cười cầu tài rồi xin nàng cục kẹo khác. Nàng cũng phá lên cười. Tôi để yên cho nàng đấu hót với cô bạn bên cạnh, trong bụng thấy vui vui. Phim kết thúc, thằng ăn cướp mặt rằn bị bắn chết. Ngoài đời, thằng đĩ đực của nàng giờ này chắc vẫn còn sống nhăn.

Dù sao với em bé đứng đường này, khán giả còn có thể theo dõi diễn tiến trên màn ảnh được, chứ nếu để ông già nói xàm lọt vào phòng hát là vô phương. Ông ta chiếm đài phát thanh độc diễn cho tới lúc khán giả ra về hết và hai nam y tá tới xốc nách dẫn độ đương sự ra về tận phòng khóa lại, còn nghe tiếng phân trần chói lọi vọng ra. Tôi không biết ông ta có bao giờ ngủ, và khi ngủ có còn nói làm xàm ? Cái máy hát có thể hết pin, còn ông này coi bộ không thể nào hết điện được, và cái nút tắt ai đã tháo gỡ đâu mất.

Một bữa trưa đi ngoài hành lang, tôi chợt nghe có tiếng kêu giựt ngược :

– Mông-xừ Lê! Mông-xừ Lê!

Tôi ngần ngừ vì nhận ra tiếng gọi của đài phát thanh. Tiếng gọi càng khẩn thiết :

– Mông-xừ Lê! Xin ông hãy giúp tôi! Xin ông vui lòng ghé lại.

Tôi không nỡ lòng đi thẳng nên quay lại bước vào phòng phát thanh. Ông ta ngồi trên ghế, mặt nhăn nhúm coi bộ mệt mỏi, nhưng tiếng nói vẫn sang sảng :

– Tôi đứng không nổi, xin ông vui lòng mở tủ lấy hộ tôi cái áo.

Tôi mở tủ, tủ trống trơn chẳng thấy áo đâu. Ông nói :

– Ông xách cái túi trong tủ ra, tôi chỉ cho.

Tôi lôi cái túi du lịch Air France lớn màu xanh đặt lên bàn. Ông bảo tôi mở khóa kéo lôi ra từng món. Tôi làm theo. Mỗi món được lôi ra, ông kể tôi nghe lý lịch của nó, mua hồi nào, ở đâu, tại sao mua , mặc cả với người bán hàng ra sao, cửa hàng có cái gì đặc biệt, vân vân. Hết cái cạo râu đến bàn chải áo đến cái quần, hết cái quần đến cái dâu nịt, nghe một hồi tôi choáng váng muốn xỉu. Hết dây nịch đến cái áo xanh, tôi mừng quá tưởng đã hoàn tất nhiệm vụ, nhưng ông bảo không phải, ông muốn cái áo kẻ ô. Tôi sốt ruột trút hết túi đồ lên giường, bới tìm. Không thấy cái áo kẻ ô nào hết. Tôi bực dọc :

– Không có cái áo kẻ ô trong nầy.

Ông nói hết sức tự nhiên :

-Vậy hả ? Chắc vợ tôi đem về giặt rồi. Vậy xin ông vui lòng xếp đồ lại vào túi hộ tôi, tôi chỉ cho ông xếp.

Chương trình phát thanh tiếp tục ngon lành. Tôi cáu sườn nhét đại đồ vào túi, bỏ vô tủ đóng lại. Tôi dợm bước ra, ông níu cánh tay tôi cứng ngắc, đôi mắt nài nỉ. Tôi sắp xiêu lòng. Nhưng tôi lấy can đảm gỡ bàn tay ông và bước nhanh ra cửa, còn nghe tiếng gọi giựt ngược sau lưng :

– Mông-xừ Lê! Mông-xừ Lê! Xin ông vui lòng…

Tôi bỏ chạy xuống cầu thang. Ði khỏi tiệm cà phê, vòng ra tiệm sách. Hy vọng bắt gặp con chim hồng đứng xòe cánh phơi nắng. Không gặp ai, tôi bước vào tiệm sách, cũng không gặp ai. Tôi giở một tờ tạp chí, làm bộ lật ngó rồi xếp lại đặt trả lên kệ, bước ra khỏi tiệm. Trời nắng nóng, xanh biếc. Tôi bỏ ý định đánh vòng. Tôi đi dọc theo con đường dẫn vào khu nhà cửa lưa thưa mà tôi vẫn sợ vào đó đi lạc. Xe cộ thỉnh thoảng vụt qua, tiếng máy ô tô rú ga xé màng nhĩ. Tôi lững thững vô chủ đích. Bỗng từ xa tôi ngỡ thay mái tóc dài xõa trên lưng tựa băng gỗ vệ đường. Không lẽ nàng ? Tôi đi sát ven tường để không bị khám phá. Tới gần. Ðúng là Evelyne, không còn ngờ gì nữa.

Nàng mặc áo sơ mi trắng tinh tay dài có kết ren ở cổ tay, quần jeans, giầy trắng hở đế thấp, vai đeo túi nhỏ màu thuốc lá buộc dây thòng đến trước bụng. Mỗi lần xe vụt qua, gió cuốn tóc nàng phất phơ. Nàng có vẻ không quan ngại đến bụi bặm hay mùi xăng nhớt. Chuyến buýt xịch đổ, hành khách xuống xe. Nàng vẫn ngồi bất động. Xe rời trạm. Nàng không chờ xe đi Paris. Nàng đợi ai chăng ? Lần nào bắt gặp nàng tôi cũng có cảm tưởng nàng đang đón đợi tình nhân. Tôi đến đứng sau băng gỗ vỗ nhẹ lên vai nàng. Evelyne giật bắn người. Ngó lại thấy tôi, nàng bớt sợ mỉm cười. Nàng hỏi :

– Kìa anh ? Ði đâu đó ? Anh làm em hết hồn!

Cách xưng hô của nàng khiến tôi bạo dạn :

– Anh xuống tiệm sách không thấy em, nên đi lang thang, tình cờ tới đây.

Nàng đứng dậy phủi đít, gậm nhấm đầu móng tay ? Xe vụt qua, tóc xòa lên mặt. Tay vén hất. Tóc điên gọi nắng. Cây trồng ven đường bị mé nhánh lúc tàn đông bây giờ nhú lá non , xanh như ngọc. Như tóc mai nhung mượt trên hai màng tang thả xuống nhu mì.

Cử chỉ cố hữu, tôi ngó trời :

– Bữa nay trời nóng, tưởng như mùa hè.

Nàng gật đầu, mắt liếc. Tôi ngó thấy tiệm tạp hóa, trước tủ có bày tủ cà rem trên vỉa hè.

– Evelyne khát nước không ? Tới này anh mua cà rem ăn cho đỡ khát.

Nàng hớn hở, mắt sáng trưng. Nàng lựa cà rem mùi dâu, tôi mùi chanh. Hai đứa liếm láp như con nít, cười ngỏn ngoẻn. Tôi hỏi :

– Em biết khu phố trước mặt không ?

– Em không biết.

– Vậy mình thử tới chơi cho biết.

Hai đứa nói chuyện vu vơ, bắt sang xi-nê :

– Em có thích coi xi-nê không ?

Nàng đáp vội vàng :

– Thích chớ ! Em thích lắm. Mà lâu rồi em không được coi xi-nê. Không có ai dắt em đi hết.

Mặt nàng thoáng buồn, tiu nghỉu. Tôi an ủi :

– Nếu em thích thì hôm nào thuận tiện, mình trốn ra Paris coi xi-nê, anh sẽ dắt em…

– Thiệt hả ? Anh nói thiệt hả ?

Mắt nàng lóng lánh. Tôi gật đầu :

– Thiệt chớ ! Anh nói thiệt mà. Anh xin hứa với em.

Bàn về sở thích, nàng nói thích phim « Le Magicien d’Oz » và « Peau d’Âne ». Tôi hỏi nàng đã coi « Les Dimanches de Ville d’Avray » chưa, nàng nói chưa. Tôi nói phim thú vị lắm, chuyện kể một anh chàng đánh giặc về hơi khật khùng thường đến đón một cô gái nhỏ bị bỏ rơi ở trường học ngày cuối tuần. Cô gái tên Cybelle ( si belle ?). Một đêm lễ, anh khật khùng leo lên đỉnh tháp chuông gỡ con gà bằng đồng trên đó về cho cô gái để làm quà tặng. Người trong làng nghi ngờ anh ta bắt cóc cô gái và có tà ý. Anh ta bị bắn từ trên tháp chuông rớt xuống đất, chết tốt, không kịp trối trăn. Evelyne nói, miệng nàng thoang thoảng mùi dâu :

– Phim gì buồn quá, em không chịu coi đâu. Anh dắt cho em coi phim « Thằng Người Gỗ Pinocchio » vậy mà hay hơn. Em chưa coi. Anh hứa nghe.

– Ừ, anh xin hứa.

Hai đứa đi vào khu phố thưa thớt. Nhà cửa đen xì, đường sá hẹp té, không có bờ lề. Mỗi lần có xe tới, hai đứa nép sát vách tường, còn sợ bị xe chẹt. May mắn có một tiệm cà phê ở góc đường. Tôi và nàng chui vào tiệm, ngồi ở góc vắng. Tiệm cũng trống vắng, chẳng có ai, ngoài hai đứa điên. Evelyne nói còng khát nước. Tôi gọi cho nàng ly bạc hà pha nước lọc, tôi thích màu xanh lục của bạc hà, nó gợi tôi nhớ tuổi ấu thơ, không biết hồi nào, lúc nào. Tô hủ tiếu, ly bạc hà, và Tết và nắng trên những bức tường vôi cao, tôi chẳng đòi hỏi gì hơn. Tôi gọi cho mình ly bia. Tôi nghĩ thầm mùi bạc hà sẽ làm phai nhạt mùi dâu trên môi nàng.

Evelyne bỗng lên tiếng, mặt thoáng tái :

– Em sợ !

Tôi nắm tay nàng ve vuốt :

– Em sợ gì ? Ðâu có gì đáng sợ. Ðã có anh đây…

Tôi buông ra câu đó như một người hùng. Thật tình tôi cũng chẳng biết làm cách nào để bảo vệ nàng.

Nàng sợ gì tôi cũng không biết. Nàng nói :

– Em sợ trở về nhà, nhà của em, ba em, má em…

Tôi an ủi nàng :

– Em chớ quá sợ hãi, mọi chuyện rồi sẽ nguôi ngoai. Nhưng thiệt tình anh nghĩ tốt hơn hết là em nên bàn lại với ba em, để em và Isabelle ra ở riêng.

Mặt Evelyne nhợt nhạt :

– Isabelle chết rồi!

Tôi bắn người như bị điện giật :

– Sao ? Em nói sao ? Isabelle chết hồi nào ? Mới chết đây hả ?

Giọng nàng xa vắng :

– Isabelle chết hồi bảy tuổi… Hôm trước em có cho anh biết rồi mà…

Trong đầu óc khật khùng của hai đứa, tôi không biết nàng lẫn lộn hay tôi lú lẫn. Tôi chỉ ờ ờ chiếu lệ, không dám vặn hỏi sợ đánh thức hoài niệm thương động còn mê ngủ chập chờn dưới mái tóc sợi nhỏ yêu kiều. Nàng cúi đầu, tóc xòa trên bàn tay tôi đang nắm tay nàng.

Khi Evelyne ngửng đầu lên, mắt nàng có ngấn lệ. Tôi bối rối yên lặng. Nàng nói tiếp :

– Bữa đó ba em chở Isabelle đi chơi, hồi đó tụi em ở nhà quê. Ðường vắng, tới ngã tư bất thần có xe lớn phóng ra đâm vào xe ba em. Chị em chết ngay tại chỗ. Ba em thương Isabelle lắm. Ba em muốn phát điên sau tai nạn.

Nàng quẹt nước mắt. Tôi siết tay nàng, xúc động :

– Kể từ đó ba em gọi em là Isabelle, còn má em thì tiếp tục gọi em là Evelyne, nhiều lúc em không biết em là Isabelle hay Evelyne nữa. Má em thường nhắc tới tai nạn và trách móc ba em. Má em sức khỏe yếu kém. Người gầy đét và đau yếu luôn.

Nàng đặt luôn bàn tay kia lên tay tôi níu siết như một bùa chú, một phao nổi :

– Từ lâu ba má em ngủ riêng. Má em lại hay ghen tương.

Tôi buột miệng :

– Má em ghen với…

Tôi ngưng lại kịp. Tôi mân mê lọn tóc xõa. Tôi cầm ly bạc hà đưa cho nàng.

– Em uống đi, ngoan đi rồi mai mốt anh dắt đi coi xi-nê.

Mặt nàng bừng sáng trở lại :

– Thiệt hả anh ? Anh hứa thiệt hả anh ? Ði coi « Thằng Người Gỗ » nghe anh. Phim đó hay lắm.

Evelyne, anh xin hứa. Nếu phải leo lên chóp nhà thờ gỡ cho em con gà bằng đồng đúc cho em vui anh cũng xin tự nguyện. Mỗi người chúng ta đều đáng được chia xẻ nụ cười. Nhứt là em. Nụ cười trong lành thơm mùi dâu chín sau làn tóc tơ giăng.

Trời trưa xế. Tôi dắt nàng trở về bệnh viện. Hai đứa đi ngược lại con đường hồi nãy, không có bờ lề, người sát vào tường như kẻ trộm, tay nắm tay sợ lạc. Tới ngã quẹo ra đường lớn, hai đứa dừng lại ngó nhau, hai tay tôi nắm hai bàn tay nàng. Chợt tôi thèm muốn hôn nàng, tôi thèm hết sức. Hai đứa ngó nhau, trời nắng đã muộn, không dám làm gì hết, Evelyne, Isabelle, tôi cố gắng nhìn rõ, chợt nhớ lần hẹn đầu với người yêu đầu ở bờ sông chùa Vĩnh Tràng, nàng đó… không dám làm gì hết.

Tôi bước vào phòng mình. Người đàn bà nằm trên giường, mặt úp, tóc xõa, chăn đắp lên tới cổ. Hơi thở đều như tiếng động xa xa quen thuộc ban đêm. Tôi ngồi ở ghế bành ngó ra cửa sổ có miếng nhựa ngăn chận, chờ đợi. Nàng mệt ngủ. Phải để nàng ngủ. Tay chân cựa giật trong cơn mê, tội nghiệp. Tình yêu bền bỉ.

Khi giật mình thức dậy, Ánh ngạc nhiên hỏi anh về hồi nào. Em ở tiệm anh Thận ra mua mấy trái cam tới cho anh, chờ anh không được, em lên giường nằm, mệt quá ngủ quên. Sao, hôm nay anh thấy khỏe không ? Ờ, cũng khỏe, không có gì đáng lo. Anh còn ở trong này thì em còn lo. Em cứ lo anh hoài, anh đâu còn là con nít nữa. Ðáng lẽ anh lo cho em mới phải. Tôi mở tủ lấy cái quần jeans mua sôn hôm trước khoe với Ánh, như trúng mối ngon. Nàng dở ra ngắm nghía, thử khóa kéo, kêu lên, trời đất! Quần này là quần đàn bà, anh mua cho ai vậy. Tôi sượng trân. Tôi không biết nói dóc. Ánh xoa đầu tôi, mỉm cười thông cảm. Nàng gọt cam cho tôi ăn rồi kể chuyện hai đứa nhỏ ở nhà và tin tức Việt Nam qua thư gia đình vừa nhận được. Sau khi bàn cãi, nàng lấy giấy trắng ra cho tôi viết đơn xin bảo lãnh Lộc anh tôi đi học tập đã bốn năm rồi chưa được thả, luôn cả vợ và ba con của anh. Một đơn khác cho gia đình của một người anh khác nữa. Nực cười. Tự thân mình, tôi bảo lãnh còn chưa xong. Tôi biên lên bìa của hồ sơ đó ba chữ : « Hồng Ngượt Hải », tên của một hảo hán đã gồng mình đỡ tấm bửng đá cho anh hùng, những Võ Văn Thành Ðô, Lý Ngươn Bá, Ðơn Hùng Tín, La Thành… đang bị sụp bẫy bít kín thoát chạy ra khỏi hang động. Ðến khi đuối sức, Hồng Ngượt Hải bị bửng đá đè lún từ từ, rồi chôn luôn xuống đất. Chết ngay tại chỗ.

Từ hai tuần nay, mỗi sáng sau khi uống cà phê xong, tôi và gã sún răng xuống phòng tập thể dục. Làm những động tác căn bản của cơ thể, thở hít, đưa tay, dở chân, ưỡn ngực, ngồi xếp, giữ thăng bằng. Tôi ngỡ ngàng khám phá nhiều động tác tôi không còn làm được, hoặc làm rối rắm, bong trẹo, mất thăng bằng, té ngửa. Sau buổi tập tôi ra ngồi ở băng đá trên sân cỏ ngoài phòng tập, thở không khí thoáng mát. Trước mặt tôi cây trồng rải rác, cạnh băng đá là một thân cây có vỏ màu bạc trắng ngời ngời. Lá đã ra nhiều, từ xanh non ngã màu xanh lục thẫm.

Tôi có cảm tưởng cội cây vỏ màu bạc này không phải vừa mới có đây. Nó đã có từ vạn kiếp, cũng như tôi, bàng bạc đâu đó. Ngày nào cũng là sinh nhật. Tôi là nhánh cây, phần nối dài của thân cây màu bạc kia, vì lý do gì không rõ, khoảng khắc này ngồi đây, trên băng đá. Tôi chợt thấy vỏ cây lay động và di chuyển ngược về phía trên. Cả gốc cây sẽ đột ngột bỏ chạy và cất tiếng sủa như chó ? Tôi ghé mắt cố nhìn kỹ. Vỏ cây nhúc nhích. Tôi tò mò đưa tay gỡ vỏ cây. Con bọ bên dưới vụt thoát chạy lên ngọn cây biến mất, không kịp nhận ra. Khoảng thân cây bị lột vỏ để lộ màu nâu, trên nền nâu có một chấm trắng nhỏ, như bột phấn. Tôi thổi lên đó, chấm trắng chợt cựa quậy và dời chỗ. Ðó là con sâu nhỏ tí, thiệt bất ngờ và lạ lùng. Phải gọi chấp phấn là sinh vật. Phải gọi ? Tại sao phải gọi ? Nó đã có từ đời nào, đâu đợi tôi gọi mới có. Trước đó nó và cây chỉ là một, giờ tôi đặt nó tên « sâu nắng », cái tên như vết cắt, sự vật bị chia xẻ vô phương hàn gắn trong tâm thức. Ngôn ngữ như một thần chú, huyễn hoặc, dắt vào mê cung. Khởi đầu là một theo trật tự thiên nhiên của trời đất vào trật tự của mình cho dễ nhận dễ hiểu, con người phân biệt, chia cắt, đặt tên cho sự vật. Và cái trật tự dựa trên nhãn hiệu đó, chính nó là hỗn mang.

Tôi đi một vòng ra chợ vì hôm nay có họp chợ trời. Mọi người tới lui tấp nập hết sức bình thường. Mọi người trả tiền rồi bỏ vật mua vào túi xách hết sức bình thường. Tôi thèm muốn được bình thường như mọi người. Không đặt câu hỏi, không thắc mắc. Mùa xuân trở về hết sức bình thường. Trời nắng hết sức bình thường. Chim gọi ríu rít hết sức bình thường. Thêm một ngày trời đẹp, rất đẹp ! Bụng tôi thoắt quặn đau, càng lúc càng dồn thúc. Tôi vội vã trở về bệnh viện.

Ngồi trong cầu tống khứ xong, tôi thấy nhẹ người. Cơn đau đã qua. Tôi tận hưởng sự sung sướng tầm thường và tự nhiên đó. Dưới chân tôi có một tờ báo. Tôi cầm lên đọc, phát hiện bên dưới một quyển sách, trên bìa là hình một người đàn bà chụp phóng ảnh, đầu ngửa ra sau, đôi vú lớn nơ nơ. Tôi vứt tờ báo, nhặt quyển sách. Sách loại dâm dật, không biết ai bỏ quên. Bên trong toàn hình chụp những pha làm tình cụp lạc giữa đàn ông với đàn bà. Bộ phận be bét, trương cứng, tục tĩu. Sao lại tục tĩu ? Không! Bộ phận đực là bộ phận đực, bộ phận cái là bộ phận cái, bộ phận đực cái dính nhau là lẽ tự nhiên, hết sức tự nhiên, sự tục tĩu chỉ có trong đầu. Không có bộ phận nào tục tĩu, không có cách thế nào tục tĩu. Người đàn bà nằm sấp. Người đàn bà nằm nghiêng. Người đàn bà úp trên giường, lưng uốn cong, cả thân hình là một lượn sóng, đường nét trơn tru không sười gãy như nét phẩy của ngọn bút lông trong một phút xuất thần. Bộ phận tôi phản ứng. Lâu lắm tôi mới khám phá lại cảm giác bị kích dục, động tình, rạo rực, thèm dâm. Cửa sổ nhỏ bên trên hé mở thoáng mát, ánh sáng lọt vào. Bên ngoài bệnh viện trời đất bao la, nắng xuân đẹp đẽ, chim xuân ríu rít. Bên trong bệnh viện, giữa bốn vách nhà cầu, tên điên ngốc đang mắn mó bộ phận sinh dục, tìm lại gạch nối giữa mình và đời sống sinh vật. Từ lâu tôi quên mất mình có một thân thể, từ lâu tôi đã sống như một người không có thân thể. Cơn điên bắt đầu từ đó ? Tôi ứa nước mắt.

Tôi châm điếu thuốc nằm trên giường ngó ra cửa sổ kiếng nhựa nhả khói. Cảm giác uể oải dễ chịu. Màn vén hết hai bên. Năm nay mùa xuân sáng choang kỳ lạ. Tôi với tay lấy quyển nhựt ký đọc lại những trang mình đã viết. Như thể ai đã viết, không phải tôi. Tôi điên, tôi biết tôi điên, nhưng tôi không dè mình điên tới mức như vậy. Có lẽ tôi sẽ không bao giờ ra khỏi nơi nầy. Tôi vứt nhựt ký xuống sàn nhà, như vứt một con đĩa đói gớm ghiếc. Nằm lim dim một lát, tôi mở cửa định sang phòng Evelyne mượn lại quyển Mickey mua cho nàng hôm trước đọc chơi đỡ buồn.

Cửa phòng nàng khép hờ, gõ cửa không ai trả lời, tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Evelyne ngồi bất động trên ghế ở đầu giường, lưng quay ra cửa, tóc nâu đen xõa trên vai áo trắng hôm đầu tôi ngó thấy. Tôi bước tới trước mặt nàng gọi nhỏ :

– Evelyne !

Nàng ngước lên nhìn tôi, nét mặt bâng khuâng kỳ lạ, buồn bã khác hẳn mọi khi. Tôi lo lắng :

– Evelyne, em làm sao vậy ?

Nàng cúi mặt rồi ngửng lên, nước mắt chực tràn. Nàng nói chỉ đủ nghe :

– Em sắp rời khỏi nơi nầy. Người ta sẽ mang em tới một bệnh viện khác chiều mai.

Tôi choáng váng :

– Sao ? Ðem em tới nơi khác chi vậy ?

– Người ta nói ở đây không đủ phương tiện. Ở bệnh viện kia có chạy điện…

Tôi bủn rủn. Người ta sẽ tra hai cực điện lên màng tang Evelyne và phóng điện vào óc nàng, tóc nàng cháy khét nghẹt. Làm sao chịu nổi!

– Người ta nói ở đó trị, em mới hết bệnh.

Nàng nhìn tôi, đôi mắt van lơn :

– Anh! Em không muốn đi…

Nước mắt nàng rưng rưng lăn tròn xuống má. Nàng nhìn tôi chừng như tôi có thể bênh vực được cho nàng. Tôi thấy mình bất lực, phẫn uất và hèn nhát. Tôi đưa tay định vuốt tóc nàng. Nhưng tôi không biết nói lời gì để an ủi, vỗ về hoặc trấn an. Tôi dừng tay lại rồi vụt chạy ra khỏi phòng nàng như một tên hèn nhát. Tôi chạy ra ngoài bệnh viện.

Buổi tối, không thấy Evelyne ở phòng ăn. Gã râu quai hàm nói hồi chiều có hai nữ y tá vào phòng nàng, rồi nàng theo hai người lên dãy nhà bên kia, có lẽ để gặp các bác sĩ trị liệu. Ăn xong tôi về phòng nằm nghe ngóng người ta đem Evelyne trở về. Chờ. Có tiếng động ngoài hành lang, không phải nàng, lại chờ. Khoảng mười giờ, người nữ y tá đem tới cho tôi hai viên thuốc an thần và pha những giọt thuốc ngủ màu hồng. Một giờ sau, giấc ngủ chụp xuống như đám mây đen nghịt.

Buổi sáng vừa tỉnh ngủ tôi vội vàng nhảy xuống giường mở cửa ngó sang bên kia. Phòng Evelyne mở toang. Người đàn bà da đen đang thay khăn trải nệm mới, trắng tinh. Phòng trống trơn. Tôi hỏi thăm, người đàn bà không biết gì hết. Buổi trưa, nghe tiếng động, tôi hé cửa ngó qua. Trước cửa phòng nàng, một người đàn bà già nua mặc áo ngủ, tóc tai bù xù, đang đứng xớ rớ. Bệnh nhân mới. Cổ tôi vụt đau thắt, sắp rạn nứt, tôi nghẹt thở, nước mắt cứ ứa ra, nóng hổi. Lẽ ra chiều nay người ta mới đem nàng đi. Tôi giận dữ, không biết giận ai. Ðau xót.

Tôi bỏ ăn cơm trưa. Tôi đánh vòng ra hiệu cà phê, ra tiệm sách rồi lang thang xuống con phố nhỏ, hẹp té, không có bờ lề. Tưởng có thể bất thần gặp lại nàng ở góc phố. Nàng đi lạc. Tôi đi lạc. Tôi sẽ dắt nàng đi trốn. Tôi quay trở về, chân mỏi, ngồi ở băng gỗ nàng ngồi bên trạm đó xe buýt hôm trước – nhưng nàng không đón xe buýt. Tiếng động cơ nổ ồn ào, chát chúa. Lại một ngày nắng nóng, trời xanh. Rời đường lớn, tôi trở lại khoảnh vườn nhỏ có hoa tulips vàng đỏ. Ghế đã nóng hâm hấp. Mùa xuân vẫn tiếp tục nắng tốt. Một con ong lẻ loi đang đánh vòng. Lá cây đã đổi màu đậm hơn. « …Ðôi khi anh muốn tin ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng đế. Mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em, nguồn sữa mật khởi đầu… » *

Người ta đang tra điện lên màng tang Evelyne, tóc nàng cháy khét. Nàng dẫy dụa, miệng há hốc, mắt trắng dã, hai tay muốn giựt thoát khỏi dây trói bấu lấy cực điện đang bốc cháy trên màng tang giựt ra. Có thể vậy sao ? Tôi ôm đầu rứt tóc, không muốn chấp nhận.

Không, Evelyne! Người ta sẽ không làm hư mái tóc xõa đẹp đẽ của em đâu. Một ngày nào đó gặp lại, anh sẽ vuốt tóc em, anh sẽ mua cho em quyển sách hình vẽ, anh sẽ mua cho em cây cà rem mùi dâu, anh sẽ mua cho em ly nước bạc hà màu xanh non thời thơ ấu. Em sẽ không bao giờ lớn thêm, anh sẽ không bao giờ trưởng thành, hai đứa mình không ai lớn lên hết. Và anh sẽ đưa em đi coi hát bóng, coi những tuồng thần thoại hoang đường. Em sẽ là Công Chúa Da Lừa xinh đẹp choàng lốt lông thú ẩn thân trong rừng, trốn chạy phụ vương đang muốn kết hôn với con gái của mình. Anh sẽ là Thằng Người Gỗ vụng về đi hết nhầm lẫn này đến nhầm lẫn khác. Cho đến bao giờ ?

Evelyne ơi! Ngày nào em rời khỏi bệnh viện, ngày nào anh rời khỏi bệnh viện, ngày nào anh và em hết khật khùng, anh hứa sẽ mua cho em cây cà rem và dắt em đi coi hát bóng. Sẽ không coi phim thằng khùng ăn cắp con gà đồng, mà sẽ coi phim Thằng Người Gỗ như em vòi vĩnh.

Evelyne! Ngày nào rời khỏi bệnh viện, anh xin hứa. Giờ này anh ngồi trên băng đá, nước mắt lưng tròng. Còn em ở đâu ? Em đã bớt điên hay có còn sống sót ?
Kiệt Tấn