Author Archives
CÙNG “GÃ BÙ NHÌN” TRẦN THIÊN THỊ “ĐI TÌM THÂN THÍCH”
Và nâng sách bằng đôi tay, tôi đọc trang đầu tiên của bản thảo trong một đêm rằm. Lại ngẫu nhiên chạm mắt vào đúng vầng trăng sáng lung linh giữa những câu thơ:
“Con trăng bạc cứ rằm lại đến
Em nói rằng thương
Mà như gió giữa trời”
Ừ thì lời nói gió bay ! Ừ thì, trăng thanh gió mát hợp cảnh hò hẹn! Chứ thi nhân thừa hiểu chẳng nên mong đợi gì ở lời thương. Cơn cớ chi mà đòi phẫu thuật thẩm mĩ cái cần cổ ?. Vì lẽ dài cổ trông đợi hay rát họng “mà gọi: người ơi” ? Hồ Dzếnh đã từng nhắn nhủ người nữ đấy thôi “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Thì cứ kiên trì chờ cho đến khi cần cổ ủ rũ như tàu lá héo thì hãy tìm nơi “Giải phẫu cái cần cổ” cho vừa lòng nhau:
“Ai chỉ dùm cho chỗ giải phẫu thẩm mỹ
Cần phải đi sửa lại cái cổ
Chờ nhau đã cạn tháng giêng rồi”
Thơ Trần Thiên Thị hiếm khi giản đơn, một chiều theo kiểu dắt tay độc giả. Nhà thơ không định co kéo trì níu người đọc nhưng biên độ tứ thơ giãn nở không cùng. Có khi lời thơ đã khép nhưng hồn thơ vẫn mở. Có khi ý thơ miên man dẫn người đọc đi khắp nẻo đường. Vừa mới thấy dáng em ở chợ mai – chợ chiều “Chợ mai bán một mặt trời/ con gà ngửa cổ bán lời o…o/ có em bán một hẹn hò/ và tôi bán cái ngây ngô của mình”, lại thoáng thấy bóng người ở Duy Sơn (Chiều Duy Sơn), vượt đèo Giàng đèo Gió ở Cao Bằng rồi xuôi đèo Ba Dội (Qua đèo Ba Dội mà yêu) … Thoắt cái đã thấy “đưa người về với Hội An”. Như một lãng tử cuồng hành túng chân, nợ nần những chuyến lên đường từ tiền kiếp, hình ảnh bàn chân gợi nhắc hành trình lên rừng xuống biển, du lãng đến thôn cùng xóm vắng cứ bày ra đều đặn trong cả mấy phần thi phẩm:
“Bàn chân nằm nhớ con đường
Tóc tai nằm nhớ gió sương cận kề”
(Lục bát chưa đặt tựa)
Ngỡ ngàng không chỉ vì cách gieo chữ hiệp vần hồn nhiên, người đọc còn bắt gặp điều giản đơn thần tình trong thi ảnh này đây: “Đường xa mấy suối mấy sông/ Đôi giày nằm ngó bàn chân mà buồn”. Chắc nhà thơ buồn chân muốn đi, chớ e chẳng buồn lòng. Còn người đọc đến đây hẳn hơi ngả đầu ra sau cho đỡ mỏi cổ (cần chi phải “sửa lại cái cổ” cho mệt !) và tủm tủm cười với hình ảnh đôi giày ngao ngán nhìn bàn chân quen nết rủ rê nhau. Ý tưởng xê dịch như là ẩn ức bẩm sinh, mời gọi tác giả lên đường. Không đi thì cùn chân đến nóng lòng bỏng dạ. Không đi không đành. Đến nỗi phải “chạm vào lòng bàn chân/ để người nhớ lối mà về”.
Vẫy tay mà biệt với rừng
Hai bàn chân nhớ đã từng qua đây
Thơ Trần Thiên Thị có những bài, những câu gai góc ngang tàng nhưng đây đó, người đọc vẫn lượm được đôi câu thủ thỉ ngọt ngào như mật nằm lẫn giữa thơm thảo lối hoa hay lấp lánh trên đường trăng: “Xin cúi xuống tạ ơn đôi hài nhỏ/ Như trăng vàng về thắp buổi buồn ta/ như lòng gần/ ngắn lại những đường xa/ (….) / Gót sen hồng/ đánh động những đường hoa ” (Mùng sáu thật trăng). Thật ra, vầng trăng xẻ đôi trong Truyện Kiều hay trăn trở chia ly đôi ngã trong ca dao đã quá đau xót :
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai rẽ ngược xuôi hỡi chàng”
Vậy mà thi nhân đòi cắn vỡ trăng (Tôi giật mình/ Tưởng đã cắn vỡ vầng trăng). Xẻ, chí ít trăng chỉ chia đôi mà vẫn còn nguyên mảnh. Trăng bị cắn vỡ bao nhiêu mảnh, thi nhân cũng nát lòng bấy nhiêu ! Can cớ chi mà vọng động, rồi mộng mị một vầng trăng lên ngôi viên mãn:
Dỗ dành tôi
“Vầng trăng vẫn còn nguyên vẹn
Một vầng trăng đầu mùa hò hẹn
Đang sáng dần thắp lại những đêm anh”
Say trăng hay chếnh choáng men tình, men rượu chỉ “gã làm thơ” họ Trần mới tỏ. Bởi chắc gì người thơ đã say mà có mấy câu thơ tỉnh đến thế ! “Điều khổ tâm thứ nhất/ Là khi con người quá đỗi chân thành/ Điều khổ tâm thứ hai/ Là giữa cơn say/ Gã làm thơ được khải huyền phong thánh”. Khổ tâm còn lại, không nói thành câu thành chữ được, phải chăng là ngoài làm thơ thi nhân còn biết làm gì ngoài sinh sự với mình ? Phải rã lòng nát dạ lắm mới ngán ngẩm chính mình, mà nói bằng giọng dửng dưng như thể bàng quan, xa lạ với cái tôi ngã mạn: “Và tôi cũng ớn tôi rồi/ Trách chi em bỏ lại người mà đi”. Làm sao vô ngã vô chấp khi thi nhân còn đau đời thương người đến thế !
Đời vẽ chi con ngựa hồng ?
Ta vẽ thêm vào ria với mão
Rồi ngồi mà khóc long đong
Vẽ thanh roi cày thành kiếm sắc
(….)
Không chỉ riêng ta đau đời
Không chỉ riêng ta một thời”
Tiệm cận hiện thực không có nghĩa là triệt tiêu cảm xúc thẩm mĩ mà có thể cảm nhận đối tượng ở những chiều kích khác nhau, để dò được độ sâu trong vẻ đẹp tiềm ẩn của sự vật, con người. Sáng tạo đích thực phải là khơi dậy trong đống tro than chút tàn lửa để nhóm lên ý thơ vừa mới tượng hình: “Khi người ta giơ nắm đấm/ đánh vào lồng ngực/ tiếng kêu vang/ tiếng trống bịt da người (…)/ không thể nhân danh ai/ để đánh lên tiếng trống bịt da người”. Những tiếng trống thơ dội vào thịt da đau tức !. Đánh vào tiếng trống hay cần gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh trước bạo quyền, nơi cái ác nhân danh những lời hoa mĩ sáo rỗng như “cứu cánh biện minh cho phương tiện” ? Nhà thơ bị vấp liên tục trước những nghịch lý mà hiện thực phũ phàng bày biện ra từ năm này qua tháng nọ:
“Thương chi con ngựa già sứt móng
Giữa truông dài một tiếng hí khan”
(Bài của năm trước)
Có thể vì niềm thương bi tráng nên “con ngựa già” chẳng cần chốn dừng chân cố định, chỉ muốn buông cương rủ bờm gõ móng, như thuyền lòng cứ chực chờ xuôi dòng hải lưu mà lướt sóng ra khơi “Không biết dòng sông sẽ chảy như thế nào/ trong lòng biển khơi/ thế mà những con nước muôn đời hăm hở/ rủ rê nhau căng buồm” (Biên dạng một hải lưu).
Thơ tình Trần Thiên Thị ngai ngái buồn, có sự hòa hợp giữa những trào cảm lẫn sầu muộn có ý thức. Hầu hết là những dùng dằng tình tứ “vịn vai”, “tựa đầu” “ôm mòn tay áo”, “ôm chân”, “vẽ vào tay” … mà ôi thôi vẫn bị dính mắc vào nỗi sầu dai dẳng:
Buồn em cộng với buồn ta
Hôm nay cộng với hôm qua cũng buồn
Thật ra, cũng nhờ nỗi buồn lay tỉnh mà thơ cùng cháy hết lòng với người. Như ngọn bấc tưởng đã lụi tàn được châm thêm dầu thêm lửa “Sầu đã đủ/ Năm cùng tháng tận/ Giữ lại trái tim nhịp đập yêu người”. Kệ thôi !
“Ừ thì
Buồn ấy không nói được
ừ thì
Buồn ấy không chia được” nên tôi “trả lại em nguyên vẹn một em buồn”. Có sao đâu !. Sông vẫn sống đời sông. Gió vẫn nói lời gió. Can chi đến thời tiết nắng mưa mà đổ tại “nắng mưa rụng xuống bao nhiêu lần buồn”. Cứ mặc cho lòng nghiêng xuống đón bước người, gác ngoài tai chuyện sông hồ dâu bể: “Giang hồ ta chỉ thằng hóng hớt/ Chẳng thiết núi sông chỉ mê người” (Gối đầu vào đây mà ngủ). Mà, thì, là cớ gì người viết lại liên tưởng đến mấy câu hay thôi rồi của Phạm Hữu Quang:
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà.
Trần Thiên Thị không giang hồ vặt, bởi chất phiêu bạt đã hòa vào máu thịt. Trong bất cứ bài thơ nào, ta cũng bắt gặp thi sĩ đang rong chơi, đã hoặc sắp sửa lên đường. Thử chung toa tàu, chuyến xe với nhà thơ xem ông có thể lang thang đến đâu. Ai chẳng thích rong chơi đây đó khi “sầu đã đầy tháng ngày”: Chiều Duy Sơn; Qua đèo Ba Dội mà yêu; Đưa người về với Hội An; Viết ở rừng cổ chi; Tháng ba ở rừng Tân Hạnh; Ở một góc chợ mới ba xã; Gởi Pleiku; Rao em trên chợ Nổi (Cần Thơ); Mưa Sài Gòn; Viết trên vé xe 1; Về bến Cấm; Bữa đau ở Quy Nhơn; Ở chân đền Mỹ Sơn …
Thỉnh thoảng giữa hành trình xuôi ngược đa đoan, thơ Trần Thiên Thị đánh rơi dáng dấp ngang tàng cố hữu bên đường, chỉ còn lại trên vạt cỏ chú dế cơm, con thuyền giấy và bạn mèo hen tội nghiệp được đặt vào đãy thơ chừng đó món hành trang ít ỏi: “Em đã nhặt chiếc thuyền, chú mèo và con dế cơm bỏ vào câu thơ làm của riêng (…)/ Con dế cơm hồn nhiên hát ca giữa biềng cỏ biếc/ Ta và những con thuyền không thể ra khơi”. Những câu thơ, bài thơ trong tập “Bản thảo” gần như biết cách chừa một khoảng xanh cho thiên nhiên ghé lại. Khoảng xanh của bầu trời, rừng cây, đồi cỏ, dòng sông, … như tóc ai xanh, “như cỏ đã từng xanh”. Cần gì phải đặt lại tên cho cỏ ?! Đôi hài cỏ em đi tự nó đã gọi về những biềng cỏ đẫm sương đêm:
Một đôi dép cỏ mùa xuân
Đi từ dạo cỏ trên truông còn vàng
Người ta lãng mạn viễn vông với nhẫn cỏ, thi nhân mơ mộng “sến súa” (chữ dùng của Trần Thiên Thị) với cỏ áo phù dung buổi “ngã lưng bờ cỏ lạ”. Cỏ úa vì khô hạn thì đành tìm một khoảng xanh gần gụi mà xa vời khác “Quay về phía núi nhìn cây/ Bao nhiêu nắng/ Để lá bày biện xanh”. Thiệt tình mà nói, bài thơ “Nắm lấy tay mình” có những câu hữu ý, hữu tình kì lạ và hoang hoải dày dặt hơn cỏ xanh nhiều lắm. Ví như “Tôi ngồi gặm nhấm lại tôi/ Nhìn vai tìm dấu tay người đã vin (…)/ Ngày vui cắn lấy vai người/ Như giông đánh dấu xuống đồi cỏ khô”. Thì thôi đành “nắm lấy tay mình”, dẫu có ai nắm được bàn tay của mình thật lâu bền nên hãy tự nhiên như nhiên tựa lời hoa cỏ. Vì nỗi buồn không cần tư biện. Tự thân phiền trược sẽ thất lạc trên đường đời xa ngái, cần chi những tác động ngoại giới:
“Buổi chiều còn lại tôi và
Hồn nhiên cây cỏ nở hoa ven đường”
Tôi – hồn nhiên được kết nối mật thiết bởi chữ “và” nhờ cây cỏ. Dòng thơ ngẫu nhiên đột khởi tách hàng để lòng thơ chan hòa cùng hoa cỏ mùa xuân. Bạn đọc cho rằng những câu thơ dễ thương nhất của thi nhân không phải là những câu ca tụng người nữ (kiểu như “Này bàn chân hồng bé nhỏ”; “Gươm liễu liêu xiêu cặp chân mày”; “Da hồng ngọc cháy lời của lửa”…), mà là những dòng viết về cỏ, về những kỷ niệm tuổi thơ xanh trong, hồn hậu: “Một đôi cánh sáp vân vi/ Hoa trên đất trích/ Yêu vì ải mây/ Giá như cầm được trên tay/ Một mùa xuân/ Tặng em bày cuộc chơi” (Bay trên đôi cánh sáp). Trò chơi cò cò, ô ăn quan, oẳn tù tì … (Trả cho em hòn mạng) cứ tự nhiên rồng rắn kéo về những hồn nhiên trong ngần tuổi thơ, khiến cấu trúc bài thơ ở khổ cuối láy lại khổ đầu và mở ra mênh mang hoài niệm:
“Trả cho em hòn mạng
Để em quay về sân cò cò
Đi canh một canh hai (…)
Ta tặng em chiếc gương chiếc lược
Trả em về
Chơi tiếp cuộc cô dâu”.
Có những thi ảnh sáng tạo khiến người đọc giật mình bỡ ngỡ:
“Chở em đi trên chiếc thuyền vỏ trấu/ Qua lòng Ba Bể mênh mông” hoặc thả những ước mơ lên bầu trời cao rộng trong chuyến đi xa của con diều giấy “Lòng cứ muốn bay lên/ Nên tôi chép những vần thơ/ Có hình dáng một cánh diều …”.
Và cỏ, đã từng rất xanh:
“Con dế cơm hồn nhiên hát ca giữa biềng cỏ biếc
Ta và những con thuyền không thể ra khơi”
Và nỗi buồn tinh khôi, cũng đã từng biết mấy trong veo:
“Quá vãng lại về
Thơm tho mùi dủ giẻ
Ta thì rong ruổi trên con ngựa lá dừa
Phi hoài không tới đích
Em thì cầm cánh diều với sợi dây dài một sải tay
Chạy mòn vẹt bàn chân
Mà cánh diều chỉ bay ngang mái tóc”
(Nhớ về Mộ Dung Phục)
Những câu thơ ngọt như những viên kẹo óng ánh màu sắc mang ta về tuổi thơ vàng son, với trò hái lá mít làm mũ mão, kết lá dừa làm ngựa. Trong “Thiên long bát bộ”, họ Mộ Dung thuộc dòng dõi thế gia, khí chất hơn người. Mộ Dung Phục thiên tư thông minh nhưng tâm tính cao ngạo, chấp mê bất ngộ, nên kết thúc trò chơi chính trị (cùng giấc mộng phục quốc, mà tài năng và thời thế chưa chín muồi) y hóa rồ dại. Một người võ công cái thế, thiên bẩm sáng láng về cuối đời đội mũ miện làm bằng giấy, dùng kẹo bột dụ bọn trẻ trong làng làm quần thần, tôn y làm vua và tung hô vạn tuế. Người đọc bất giác xót xa thương cảm. Tuy thế, bài thơ là món quà tinh thần giúp ta tạm quên những phiền trược trong cõi hồng trần tục lụy, để lắng lòng đúc kết: “Chính trị, (…), chiến tranh/ Thực chất là trò chơi của bọn nhà giàu/ Và xương máu đổ ra cho cuộc chơi này là của người nghèo” (Này ngồi lại đây với tôi). Đôi khi phát điên như Mộ Dung Phục biết đâu lại hay không kém hành động lánh đời về làm “ngư, tiều, canh, mục” thời loạn. Làm mục tử cưỡi trâu như Lý Nhĩ, thành Tô Vũ chăn dê hay thất chí mà hóa dại như Mộ Dung biết đâu lại thanh thản ?!.
“Này ta tặng em khu rừng tháng tám
Cỏ đã lên xanh
Bầy dê non tình tự”
(Bài ca người chăn dê)
Dẫu biết rằng mai sau “Còn lại một tôi già/ Và cỏ xanh nguyên vẹn” (Nghé ngọ) thì độc giả mến thơ tình Trần Thiên Thị hẳn còn vì những câu thơ dễ thương như thuở nụ trà mi còn thơm lừng hương cỏ, hương xuân: “Tầm hương trên đóa trà mi/ Con ong mõn sức cũng vì mùa xuân”. Chỉ cần một chữ “Mõn” gieo đúng ở câu thứ hai, cả ý thơ đã chinh phục được những người đọc thơ cẩn trọng, khó tính. Thế nên, bạn đọc dễ gì ngán món thơ độc đáo mà nhà thơ đã mời tặng bằng cách tự trào:
“Bây giờ tôi ớn cả tôi
Trách chi chúng nó bỏ rơi một người”.
Có thể, người đọc thơ mải vui chân theo thi nhân mà lạc giữa cơn giông gió trái khoáy vào buổi chiều tháng năm, như đã từng lưu lạc theo dòng sông quê nhà tìm dấu vết cỏ xanh ngày trước. Nhưng chẳng bao lâu sẽ nghiệm thấy như tôi rằng: thơ Trần Thiên Thị không chỉ có vầng trăng huyền ảo mộng mị, những chuyến đi xuôi nam ngược bắc để thỏa chí tang bồng, những trò chơi trẻ thơ như chú dế cơm náu mình trong biềng cỏ non thanh lành, những câu thơ thỉnh thoảng cố ý không thành vần điệu, ẩn trong thi ảnh giàu cá tính sáng tạo là những thông điệp vô ngôn đầy ám ảnh … Đọc thơ Trần Thiên Thị, ta còn kịp thoáng thấy nỗi buồn thân phận u uẩn trong những cuộc rượu tàn canh, như trong thi phẩm “Uống nào bé nhỏ”:
Chiều nay uống với mây ngoài núi
Chén rượu như chừng có cả giông
Em uống với ta nào bé nhỏ
Sầu chi
Sầu chi
Mà đau lòng.
Còn bạn, có đau lòng cùng “ta” không ?
(P/S: Viết giữa cơn giông chiều tháng 5/ 2017.
Cảm ơn nhà thơ Trần Thiên Thị)
*Chú thích: Nhan đề là tên một bài thơ trong tập “Bản thảo” của thi sĩ Trần Thiên Thị.
NGUYỄN THOẠI VY
EM CÒN NHƯNG TÔI ĐÃ RƠI..
Thấy rồi – một chút heo may
Thổi lên tóc rối cho dài bóng tôi
Thấy rồi- một nửa hồn côi
Bay theo ngọn gió cuối đời đợi mong
Thấy rồi- có một mùa đông
Đến trong nỗi nhớ chờ mong một người
Em bên đó với cuộc chơi
Nửa vui, nửa khóc, nửa vời vợi xa
Vui trong tiếng hát người ta
Khóc trong tiếng vỡ nhạt nhoà bóng đêm
Nỗi buồn cứ thế nhân lên
Cuối đời vào mộng buồn tênh kiếp người
Em còn – nhưng tôi đã rơi
Rơi theo nỗi nhớ của thời lãng du
Rơi trong xa tít sương mù
Rơi rơi sót lại thiên thu tình nồng..
Sắp rồi- đến một mùa đông
Mùa Xuân sẽ đến – thuyền trông, bến chờ
Hình như- có gã làm thơ
Tương tư cho lắm- rồi ngơ ngẩn…buồn..
HỒ CHÍ BỬU
XIN EM…
NGƯỜI VỀ
trong sương mù dấu hạc
tà áo lụa sông trôi
trong hồn xưa mưa vọng
tiếng chuông tan ngậm ngùi
người về dòng sông trắng
cánh buồm mơ hồ thôi
lầu chuông rung âm hưởng
một thuở xưa tơi bời
có nghe chiều len tới
ngồi bên mái hiên tây
cung đàn ai xa vợi
tơ vương cùng đất trời
người về cho mưa tới
làm đau ngọn lá khô
người về âm thương nhớ
lơ lửng treo mái đời
phamquangtrung
NỢ MỘT ĐIỀU KHÔNG NÓI
Núi kết núi dáng em nằm xõa tóc
Đợi chờ ai mà năm tháng mõi mòn
Thành phớ biển cùng em trong tiềm ức
Ta nhớ mình còn có một cố hương
Cố hương với cánh chim trời bay lạc
vào hồn ta hót tiếng hót nhẹ nhàng
Chia tóc em thành hai bờ trái đất
Nửa ở bên này nửa ở Nha Trang
Nửa ở bên này dòng sông em chảy
Len êm đềm qua ngõ ngách đời ta
Có chuỗi nắng ai xâu từ ký ức
Đeo nụ hôn lên gò má trắng ngà
Có giọt biển xưa chạy vòng khoé mắt
Như bóng hoàng hôn quanh quẩn nỗi sầu
Từ New Orleans ngồi nhớ về cổ tháp
Nối nụ buồn vào mắc xích hư vô
Chiều xa xứ vàng hồn ai vật vã
Rót thời gian xuống dòng nước xanh trong
Con đường cũ hỏi khi nào trở lại
Để bao giờ biển mặn được vầng trăng
Mơ một giấc mơ về một thành phố
Cổng nhà ta xưa dĩ vãng chứa đầy
Có tiếng guốc em đi từ một buổi
Cùng lời thề ước nguyện ở đâu đây
Cuộc sống vốn có nhiều điều khác biệt
Cuộc đời ta và em chẳng giống nhau
Ta có một tuổi thơ đầy khánh kiệt
Tuổi thơ em dòng sữa ngọt ca dao
Ta trải qua thời chiến tranh khốn khổ
Thành trái cây lột vỏ vứt ngoài đường
Em là giọt sương bón ta nhú rễ
Nứt xuân thì trên cuối biển đầu non
Rừng hành quân xưa mùa này sim nở
Nghe bên tai tiếng bìm bịp kêu chiều
Nỗi thấm đó giải thích sao em hiểu
Dĩ vãng của ta buồn như tương lai
Mưa xuống núi trôi Nha Trang ra biển
Xưa bày em môn đánh lưới ái tình
Tay lớ ngớ bủa ra ngoài vô vọng
Mõi mắt trông vời đã mấy mươi năm
Ta mắc nợ em một điều không nói
Cuộc sống khiến ta phá sản ngôn từ
Đêm chắc lưỡi tiếng thạch sùng quá khứ
Nếu có luân hồi xin hẹn kiếp sau
Quan Dương
Trò Chơi Xác Ma
1.
Thỉnh thoảng, anh em nhà nhỏ Nga và vài đứa bạn học tụ lại để chơi một trò chơi đặc biệt lý thú. Xác ma, nội tên gọi nghe đã dị thường, hèn chi trò này chỉ nên chơi vào những đêm tối tăm, vắng vẻ…
Tối bữa nay, nhằm lúc bố mẹ đi ăn đám cưới, cả bọn tụ lại ở một căn phòng đóng kín cửa. Kỳ này, cũng một tên bạn học của Minh phối hợp với cậu ta cùng Đăng – cậu em kế – và nhỏ Nga – cô em út – cho đủ bốn người, tạm gọi là bốn pháp sư, như yêu cầu của trò chơi. Và, cũng không hề có ý tự nguyện nhưng nhỏ Liên – bạn hàng xóm của nhỏ Nga – lại phải miễn cưỡng đóng vai xác ma như ý kiến áp đảo của cả bọn.
Nhỏ Liên ngồi dưới đất, nhắm nghiến mắt, hai chân hơi co lại, hai cánh tay vòng qua đầu gối, các ngón tay đan vào nhau. Ba cậu trai và nhỏ Nga cùng quì một chân, nhanh nhẩu đặt ngón trỏ tay phải của mình vào hai nách và phía sau hai khuỷu chân nhỏ Liên. Cả bốn pháp sư thầm khấn vái với người cõi Âm, nhất là những bóng quế đang có mặt quanh quẩn đâu đây, rằng xin giúp nâng xác ma lên cao.
Minh chậm rãi đếm “một, hai, ba”. Tiếng “ba” vừa dứt là cả bốn anh em đồng loạt nín thở, dùng ngón tay của mình nâng nhỏ Liên lên với ý nghĩ hết sức nồng nhiệt là nhất định sẽ cùng làm được việc này.
Kết quả không như mong muốn: thân mình nhỏ Liên chỉ bị lay chuyển chút ít mà không hề cất lên cao một chút nào cả.
Đúng ra đây là một điều nếu như bình thường thì phải thế. Cân nặng ở một bé gái 8 tuổi nào khác nếu phát triển bình thường khoảng 25 – 26 kí lô. Còn trường hợp này, nhỏ Liên ròm con nhà nghèo nhất định sẽ nhẹ hơn mức ấy, nghĩa là khoảng 21-22 kí lô. Nhưng đối với chừng ấy khối nặng, chỉ có bốn ngón tay của bốn thiếu niên thì làm sao mà nâng bổng lên được?
Trước khi làm lại lần nữa, Minh lại nhắc cả bọn phải hết sức tập trung, mỗi đứa đều phải thành tâm hơn nữa so với lần trước khi khấn vái ngưởi cõi Âm trợ giúp cho sức mạnh của ngón tay mình.
Lần này thì thật kỳ diệu: xác ma được nâng bổng lên như một khối bông gòn. Rồi chừng khoảng 5 – 10 giây trôi qua, những ngón tay tự buông lỏng theo quán tính. Thân hình nhỏ Liên nhẹ nhàng rơi xuống vị trí cũ. Sự việc chỉ diễn ra vài giây ngắn ngủi vậy thôi nhưng cả bọn ồ lên, cười hể hả, vô cùng mãn nguyện như là mình mới cùng thực hiện được một phép thuật tuyệt vời. Chỉ có nhỏ Liên – cái xác ma mới được các pháp sư người phàm cho bay lên hạ xuống, lúc này đã trở lại làm người bình thường – là im lặng, ngơ ngác, bàng hoàng nhìn hết người này đến người khác.
2.
Nhỏ Nga chợt đề nghị:
“Tụi mình chơi trò này nhiều lần rồi, bốn người thì trước sau gì cũng nâng được con nhỏ Liên. Giờ mấy anh thử để một mình em thôi, em cầu bóng quế hết sức rồi cũng dùng một ngón tay nâng thử cái gì đó. Như cái ghế nhỏ kia kìa.”
Lập tức Đăng tỏ vẻ không tin:
“Làm sao em làm được? Cái ghế nhựa đó coi thấp và nhẹ như vậy nhưng nó vẫn nặng đối với người nhỏ, yếu như em. Cỡ em thì bằng cả hai tay mới mong nâng nó lên cao được. Còn em tính đưa ra có một ngón tay thôi thì…, coi chừng không bị gãy thì cũng bị quẹo ngón đó nhe!”
Riêng Minh thì lo lắng cho em gái mình:
“Hồi nảy, tụi mình nâng nhỏ Liên lên được đúng là nhờ có sự giúp sức của bóng quế, nhưng phải tính thêm cái vụ bốn ngón tay đã kê vô bốn vị trí cân bằng trước/sau và trên/dưới, nghĩa là chịu đồng đều sức nặng của thân hình nhỏ Liên. Còn thí dụ như tụi mình dồn hết bốn ngón tay vô dọc một bên thân mình hay chỉ nâng chỗ cặp giò nhỏ Liên thôi chẳng hạn, thì mất cân bằng liền, trọng tâm vật được nâng sẽ bị lệch, nghĩa là con nhỏ này sẽ ngã qua một bên hay ngã ra đằng sau thôi chứ tụi mình không nâng bổng nguyên người nó lên được.”
Minh lấy cái ghế nhựa đặt vào một chỗ trống giữa phòng, chỉ vô một góc vuông, chỗ tiếp giáp giữa một chân ghế với phía dưới mặt ngồi, bảo em mình:
“Vậy với cái ghế này, em nên kê ngón tay vô chỗ đây nè, thì khi em nâng, hy vọng trọng tâm của ghế đỡ bị lệch, ghế đỡ nghiêng ngã.”
Nảy giờ, cung cách suy nghĩ và hành động của Minh rõ ràng cho thấy là dù vẫn có tin tưởng về thế giới thần bí và các quyền lực siêu hình, cũng như lâu nay cậu có tin vào “công lực” chưa khám phá của em gái mình, nhưng cậu trai trẻ vẫn tỏ lộ một cách đáng khen xu hướng lý trí thường thấy nơi nam giới, đồng thời cậu biết vận dụng kiến thức về khoa học, vật lý học, động lực học, đặc biệt là về luật hấp dẫn và trọng lực.v.v.. học hỏi được từ cả bên trong lẫn bên ngoài nhà trường để góp phần lý giải sự việc.
Thế là một mình nhỏ Nga nhắm mắt khấn gọi các bóng quế trợ giúp rồi đặt một ngón trỏ tay phải vào vị trí Minh đã chỉ ở cái ghế. Nhỏ đếm thầm “một, hai, ba!” rối quả quyết cất tay lên thật nhanh.
Kết quả thật mỹ mãn: cái ghế được nâng bổng lên theo phương thẳng đứng, cao gần cả thước mà không hề đổ ngã! Cứ như cái ghế được nâng lên bởi một, hai bàn tay vô hình, cỡ tay của người lớn khỏe mạnh có thừa chứ không phải bởi ngón tay nhỏ xíu, gầy guộc của nhỏ Nga…
PHẠM NGA
BIỂN ĐÊM
Đêm nay lại về phố biển
Cát còn ẩn dấu chân xưa?
Ngập ngừng từng con sóng vỗ
Nghe như tiếng vỡ bao mùa
Bóng dừa nghiêng che kỷ niệm
Một mình khẻ gọi biển ơi
Bọt sóng trào dâng ảo ảnh
Nhớ thương tha thiết muôn đời
Vầng trăng như chừng đi lạc
Để buồn con nước xa khơi
Ánh vàng chìm trong mây phủ
Lấp che ánh mắt lạc loài
Dưới kia biển xanh vẫn hát
Trùng khơi gõ nhịp chơi vơi
Nghẹn ngào giấc mơ ngày cũ
Sương rơi phủ áo ngang đời
Biển xanh vẫn nồng vị mặn
Tóc xanh nay đã bạc rồi
Một mình nghe cay bờ mắt
Biển tình xa tít mây trôi …
NHÃ MY
Xiên Mỵ
Nếu thơ là chốn ẩn náu của người lữ hành cô độc, thì truyện chính là nơi tiếp nối cuộc hành trình…những truyện ngắn của nhà thơ Phương Uy vẫn mang cái phong thái ma mị của thơ cô, từ Gặp Giữa Ngàn Trùng, Mớ Trăng Máu… đến Trong Góc Tối…
Nhưng Xiên Mỵ lại khác, Xiên Mỵ là lời cô muốn nói với môi trường xã hội cô đang sống, với nghề nghiệp cô đã chọn bằng một niềm thấu cảm sâu xa .
(Tương Tri)
Hải gọi cô là Xiên Mỵ, Xiên Mỵ là tên một nhân vật trong bộ phim hoạt hình mà Hải coi. . Một cô gái mong manh nhưng mạnh mẽ.Hải thích nhân vật ấy lắm. Lúc ấy Mỵ thấy buồn cười, thằng con trai to lộc ngộc như Hải mà còn mê hoạt hình như trẻ con.
Ngày cô chạy trốn khỏi cái vùng quê biển nắng gió ấy, chạy trốn hỏi người chú nuôi đáng sợ ấy. Cô lả đi trước nhà Hải vào một buổi trưa nắng. Hải đi học về, há hốc mồm khi nhìn thấy cô. Hải vội vã mang cô vào nhà, vục hết chai nước cô mới tỉnh lại đôi chút. Sau đó Hải nấu mì cô ăn, ba ngày cô chưa ăn gì ngoài những ngụm nước lã, nên cô ngấu nghiến hết tô mì nửa sống nửa chín mà Hải chế cho cô bằng chút nước gần nguội pha từ bình thủy. Mỵ nghe Hải nói lại, lúc ấy nhìn Mỵ thấy sợ lắm, khuôn mặt xanh lướt với cổ tay ẻo lả của Mỵ làm Hải nhớ đến mẹ, người mẹ đã bỏ Hải đi từ lâu lắm. Sau này Hải cho Mỵ coi hình của mẹ, Mỵ mới giật mình, đúng là Mỵ giống mẹ Hải kỳ lạ, cũng nhan sắc ấy, cũng thần thái ấy. Nước da ngăm đen và đôi mắt u uẩn hớp hồn người.
Mỵ sốt, nằm lại nhà Hải ba ngày, ngày thứ tư Hải bảo: Mỵ đừng đi nữa, ở nhà canh nhà cho Hải đi học, chừng nào tìm được việc gì làm rồi hãy đi.
Hải ở một mình trong ngôi nhà cũ kỹ của ba để lại, ngôi nhà nằm sát đường lộ, trơ trọi chỉ có một tán bằng lăng mảnh khảnh trước nhà, tới mùa ra bông tím đến nhức nhối. Ngày ba ra đi, mẹ cũng không về. Hải chỉ biết chụp điện thoại gọi cho bà nội ở Mỹ. Hai ngày sau, anh hai mới từ chùa về cùng Hải ôm di ảnh ba, chống gậy đưa ba tới nơi an nghỉ. Ba Hải bị xơ gan, hậu quả của những bữa rượu triền miên từ ngày mẹ bỏ đi.
“ Mà thật ra – Hải kể – anh hai cũng không phải là con ba”. Ba biết điều đó nhưng vẫn thương và chăm chút anh hai từng xíu một. Ngày anh hai lên chùa, hành trang không mang theo gì, chỉ mang chiếc xe tăng bằng gỗ mà ba đã tỉ mẫn gọt cho anh lúc anh Hai mới hai tuổi. Có lẽ anh Hai chỉ muốn lưu lại trong ký ức khoảng thời gian tươi đẹp của tuổi thơ đã qua.
Hải cưu mang Mỵ, cùng Mỵ chia sẻ cuộc sống bằng khoản tiền chu cấp ít ỏi từ bà nội.Vì Hải đi học hai buổi, cả ngày Mỵ ở nhà một mình, tối Hải về, cả hai lại ngồi đong đưa trên cái xích đu dưới gốc bằng lăng dưới sân. Mỵ kể cho Hải nghe về tuổi thơ cơ cực của Mỵ, về lí do Mỵ trốn chạy.
Mỵ vốn mồ côi, bà lượm Mỵ ở chợ vào một buổi sáng sớm. Bà vẫn bảo Mỵ là món quà trời ban cho bà khi về nhà. Mỵ ríu rít bên bà như con sẻ nhỏ. Có những lúc trời mưa, bà nằm ôm Mỵ trên chõng trông mưa, Mỵ hỏi bà ba mẹ Mỵ ở đâu, sao đứa nào cũng có ba mẹ mà Mỵ không có. Bà bảo Mỵ là con của mẹ đất, của cha trời, đất trời sinh ra Mỵ, rồi tặng Mỵ cho bà.Mỵ vốn vẫn tin như vậy. Mỵ không hề biết được, ngày bà nhặt Mỵ nằm o e ở chợ thì ở bến sông Hạ người ta vớt được xác của một cô gái, vốn trước làm công nhân ở mỏ đá. Sau này, hình như bị người yêu phụ tình, bụng mang dạ chửa, không chịu nỗi điều tiếng dư luận, đã mang con để chợ, ra bến sông trẫm mình.
Hải vẫn thường phải ôm siết Mỵ vào lòng vỗ về mỗi khi cô rúm ró cả người lúc kể lại buổi tối hôm đó.
Bà mất, Mỵ về ở với chú thím nuôi. Đêm đó, Mỵ đang ngủ thì thấy đổ ập trên người mình một khối đen ngập ngụa mùi rượu, Mỵ vùng vẫy, la hét để kêu cứu. Nhưng tiếng la tắc nghẽn ngang cổ khi cái đau xé rách thịt da đâm xuyên qua người.Khi Mỵ lết ra đến cửa sau, thì thấy thím ngồi gục đầu khóc rấm rứt ở đấy, không để cho Mỵ kịp nói gì, thím lận túi vét chút tiền lẻ mà thím tích cóp được mỗi ngày đi chợ đưa cho Mỵ rồi đẩy Mỵ chạy đi.
Có khi, Hải không cho Mỵ kể chuyện nữa mà bảo Mỵ ngồi yên Hải hát cho nghe. Điệu hát buồn buồn của bài hát mà mẹ Hải hồi xưa hay hát “ Thôi về đi,đường trần đâu có gì…”
Nhưng bây giờ Mỵ biết đi về đâu? Còn mẹ Hải biết ở đâu mà gọi về?
Giọng Hải trầm, khàn khàn do vỡ tiếng. Mười sáu tuổi, Hải đã cao lớn như một thanh niên ,tóc loăn xoăn ,mắt sâu hút.
Mỵ mười bảy tuổi mảnh dẻ như bé gái chưa dậy thì.
Hải ít bạn bè nhưng có một đận, Hải mang một đám bạn về nhà liên hoan, hát karaoke. Trong đám con trai, có một đứa cao ráo trắng trẻo cứ đi theo khen Mỵ xinh.
– Em mày hả Hải?
– Không, chị tao đó – Hải nặng giọng, đôi mắt đã tối lại càng tối hơn.
Tối lại, khi chỉ còn hai đứa, ngồi dưới gốc bằng lăng. Hải bảo:
– Hải không thích ai khen Mỵ xinh. Ngày xưa, chú ấy cũng thường đến chơi khen mẹ xinh, đẹp. Sau đó, mẹ bỏ cha con Hải theo chú ấy.
Ngày mẹ đi, không một lời từ giã. Sáng Hải ngủ dậy, đã không thấy mẹ. Ba không đi tìm, mà chỉ thấy mỗi tối, ba ngồi bên chai rượu khuya hơn.
– Thế Hải có giận mẹ không?
– Không, Hải chỉ thấy nhớ mẹ. Tới tận bây giờ, mỗi đêm Hải đều mơ thấy mẹ.
Mỵ sực nhớ có đêm, Mỵ đau bụng, ra phòng khách, chỗ tấm đệm Hải ngủ tìm chai dầu, bật đèn lên thấy má Hải nhòe nhoẹt nước, không lẽ lúc ấy Hải khóc vì một hình bóng mẹ đã xa?
Nhiều lúc Mỵ hỏi Hải sao cả gan đem Mỵ về nuôi thế. Hải chỉ cười
– Nuôi Xiên Mỵ có tốn gì đâu, Mỵ ăn ít như mèo, ngủ thì khoanh một cục rúm ró trong phòng. Nhìn Mỵ tội nghiệp lắm, thả cho Mỵ đi lang thang bên ngoài, Hải không đành.
– Có một điều, Hải không kể cho Mỵ nghe trong những giấc mơ của Hải dạo gần đây. Mẹ càng lúc càng trẻ , trẻ giống như Mỵ.
***
Hải bỏ học, chỉ vì bị vướng vào một vụ đánh nhau có vũ khí trong trường học do một mối quan hệ lằng nhằng. Thư đẹp, và thú vị, đó là nhận xét của Hải về cô bạn lớp bên. Và cũng như những đứa con trai khác cùng tuổi, Hải say nắng Thư, cũng đưa đón, cũng hẹn hò…và điều đó làm một nhóm nam sinh lớp Thư khó chịu.
Sáng đó đến lớp, Hải đến lớp, đã thấy đám thằng Khánh chận trước cửa, không cho Hải vào lớp, và cú đánh bằng sợi xích sắt vào lưng đã khiến Hải nổi điên. Sẳn con dao vẫn dùng để rọc giấy Hải cất trong balô, Hải lận túi lấy con dao và cuộc chiến nổ ra. Hải và cả nhóm kia bị đình chỉ.
Hải bảo với Mỵ:
– Thôi, Hải nghỉ một năm chờ Mỵ, sang năm, Hải đi học với Mỵ luôn.
Mỵ hỏi tiền đâu mà đi học thì Hải cười:
– Để Hải đi làm, lấy tiền nuôi Mỵ đi học
Nói rồi Hải đi làm thật, Hải xin phụ việc cho tiệm nhôm kiếng trước nhà. Có khi về nhà, tay Hải bị nhôm và kiếng cứa chảy máu tùm lum. Mỵ vừa bôi thuốc vừa xa xót. Hải chỉ cười “ Ráng chút là đủ tiền cho Mỵ sang năm đi học chung với Hải”
***
Tháng Tám , Mỵ với Hải đến trường nộp đơn xin học. Trong lúc chờ nhận giấy vào lớp. Hải với Mỵ đi loanh quanh trong sân trường, vô tình lại đứng sau cửa sổ phòng giáo viên. Từ trong đó vọng ra tiếng các thầy cô nói chuyện với nhau.
Hải đứng gần hơn nên nghe rõ, còn Mỵ đứng xa, nên không biết các thầy cô nói gì. Chỉ thấy mặt Hải tối đen, càng lúc càng u ám. Rồi Hải quay lưng bỏ đi một mạch, không gọi Mỵ theo cùng. Mỵ chạy theo, hỏi Hải cái gì Hải cũng không nói. Mãi đến tối, Hải mới kể Mỵ nghe. Hải bảo Hải không học nữa.Mỵ gặng một hồi, Hải mới kể. Câu chuyện trong phòng giáo viên, mà Hải nghe được, nhân vật chính là Hải.
– Rồi sao?
– Thì người này đá qua người kia, nguyên dàn giáo viên khối 11, không ai chịu nhận Hải vào lớp.
– Nhưng vì sao?
– Thầy Vinh bảo là Hải đánh lộn, khó dạy, thầy không nhận, lớp thầy yếu, sợ Hải vào ảnh hưởng thi đua. Thầy Hương thì bảo Hải là dạng lưu ban, học yếu, không theo kịp trình độ lớp chọn của thầy. Còn cô Loan thì bảo Hải…
Nói tới đây, Hải nghẹn lại, Mỵ chờ, đỗi lâu mới nghe Hải nói tiếp.
– … Hải là con không cha không mẹ, lại là thành phần quậy phá trong trường, xảy ra chuyện gì thì cô biết nói với ai? Chưa kể nhà Hải lại gần nhà cô, nhỡ Hải có vi phạm gì, nói Hải mất công Hải lại vác đá chọi vào nhà cô như mấy học sinh năm trước thì sao?
Hải bảo, lúc nghe xong câu ấy, Hải bỏ đi thẳng về nhà, và quyết định hình thành trong đầu Hải lúc ấy, là phải đi tìm mẹ. Nếu không tìm được mẹ về, Hải không bước chân vào ngôi trường ấy nữa.
Mỵ chưa kịp kể lại với Hải câu nói của một thầy giáo, già và hơi gầy mà Mỵ nghe được lúc Hải bỏ đi : “ Các thầy các cô cứ chọn cho được học sinh ngoan, chê học sinh hư. Nó không ai dạy thì mình càng phải dạy dỗ cho nó, chứ nó ngoan ngoãn thông minh rồi thì đâu cần mình nhiều như những đứa kia. Em này, nhà trường mình đẩy ra khỏi trường, thì không khéo lại thành du đãng” thì Hải đã xốc áo đứng dậy bỏ sang bên kia đường, không quên ngoái lại bảo Mỵ lát để cửa chờ Hải về , Hải đóng cho.
Mỵ không biết là trong giấc mơ Hải hằng đêm, hình ảnh hai đứa nhỏ đứa bảy tuổi cõng đứa hai tuổi leo lên con dốc đầu đường chờ mẹ về mỗi chiều đến khi nắng chiều chênh vênh qua núi rồi lại lủi thủi cõng nhau về ám ảnh Hải hằng đêm.
– Hải phải đi tìm mẹ, Mỵ ở nhà một mình, chờ Hải, được không?
Mỵ không biết nói gì, bởi Mỵ đã thấy những giọt nước mắt của Hải, trong giấc ngủ, nhiều đêm.
Ngày Hải đi, Hải vét túi đưa hết tiền cho Mỵ. Chỉ giữ lại đúng một trăm hai chục ngàn tiền xe vào thành phố, nơi Hải nghe nói là chỗ mẹ ở. Mỵ hỏi vào đấy, nếu không tìm được mẹ ngay thì Hải đói lấy gì ăn? Hải bảo Mỵ không phải lo, Hải tự kiếm được việc làm để khỏi đói. Hải sợ là sợ cho Mỵ. Số tiền nội gửi về hàng tháng đủ cho Mỵ sống, nhưng một thân một mình, Mỵ lại hay đau yếu, thì không biết làm sao.
Hải gọi xe khuya, mở cửa cho Hải đi rồi, Mỵ vào vùi mình trong tấm nệm còn ấm hơi Hải, tự dưng thấy má ướt đầm. Trong đầu Mỵ lại hiện lên con dốc mà anh em Hải thuở bé vẫn thường chờ mẹ về. Mai mốt, trên con dốc ấy lại sẽ là Mỵ?
***
Chiều và mưa – Hơi lạnh đan xen vào máu, vào não.
Nhiều đêm, đã nhiều đêm không ngủ yên.Nhiều đêm, mộng mị ngập đầy chăn gối.
Có những ngày mưa ngồi một mình trong nhà, ý nghĩ về Hải làm Mỵ sững người.Mỵ cứ mê mãi chờ đợi như thế này , không biết đến lúc nào dừng lại.Đến chừng nhận ra thì đã không còn dừng lại được nữa.
Mà Hải , đã lâu cũng đã không còn đi trên con đường đó nữa!
Hải đi mấy tháng, mấy ngày, Mỵ không còn nhớ .Cỏ dại mọc lấn vào cả hiên nhà, bám lên vách. Không có Hải, một mình Mỵ cũng không đủ sức để làm cỏ, cái bình nấu nước bằng điện bị hỏng, không có Hải, Mỵ cũng không sửa được. cả cái mô tơ bơm nước từ giếng bị hư, Mỵ phải kéo nước bằng gàu từ giếng lên.
Mỵ muốn gặp Hải lắm rồi. Hải hứa tìm được mẹ, Hải sẽ về với Mỵ. Nhưng tới giờ, vẫn chưa thấy Hải về. Hải chưa tìm được mẹ? hay Hải quên Mỵ rồi? Giả mà Hải không tìm đươc mẹ, thì Hải sống như thế nào? Nhiều lúc, Mỵ cũng muốn lên thành phố tìm Hải, nhưng Mỵ không biết phải đi bằng cách nào. Rồi làm sao mà tìm được Hải.
Mà Mỵ lo, nếu Mỵ đi, mà Hải về, không thấy Mỵ thì sao? Lúc ấy, không biết Hải có đi tìm Mỵ không?
Mỵ quyết định ở lại chờ Hải. Mà thật ra mà nói, Mỵ không muốn đi đâu cả. Ngôi nhà của bà, chú đã bán cho người khác. Tuổi thơ của Mỵ, quá khứ đầy yêu thương của bà với Mỵ, đã bị thay đổi. Khi Mỵ đến đây, Hải đã mở lòng với Mỵ. Mỵ từ lâu đã yêu quý nơi này. Bây giờ, dù vắng Hải, nhưng mọi thứ vẫn còn đậm hơi Hải. Vì vậy, Mỵ không muốn rời đi. Ngoài bà, thì Hải là người duy nhất còn thương Mỵ.
Ba hôm nay Mỵ lại sốt, nằm vùi trong nhà, trên tấm nệm Hải thường ngủ lúc còn ở nhà. Mỵ tưởng tượng ra cảnh Mỵ chết một mình mà Hải thì chưa về. Mối sẽ đùn lên phủ lấy Mỵ và tấm nệm của Hải, nghĩ tới đấy, Mỵ lại khóc. Sao Hải lâu về quá…
Chiều, Mỵ lần mò ra sân, ngồi ở cái xích đu dưới gốc bằng lăng, chỗ Hải hay ngồi hát cho Mỵ nghe mỗi tối. “ Thôi về đi, đường trần đâu có gì, tóc xanh mấy mùa…”
Ừ, Mỵ không biết khi nào Hải về, nhưng Mỵ tin Hải sẽ về.
Cho dù tóc có không còn xanh.
Mỵ ngửa mặt hít một hơi dài, rồi lau nước mắt. Mỵ còn trẻ mà, Mỵ mới mười tám tuổi. Mỵ sẽ cố gắng khỏe mạnh lại, rồi Mỵ sẽ xin việc ở chỗ bà Vân bán cơm đầu chợ. Làm một buổi, một buổi Mỵ đi học. Khi Hải về, Hải sẽ thấy được Mỵ sống vui vẻ như thế nào.
Dù sao thì Mỵ cũng mới mười tám tuổi. Và Mỵ còn rất nhiều thời gian để chờ Hải về. Và Hải sẽ về, Mỵ tin như vậy.
PHƯƠNG UY
THƯ HOÀNG HÔN
Thoáng một sợi mùa vương mắt lá
Lóe trong hồn đằm thắm nụ yêu xưa
Em vời vợi phía chân mây nghiêng ngửa
Có về xem thương nhớ nhuộm xanh lòng
Ta chạy trốn ta lúc bình minh nhóm lửa
Hoàng hôn về lại thắp lửa trong tim
Đâu đã tan trận bão cuồng nghiệt ngã
Sao chợt thèm hôn khe khẽ nét phai tàn
Sẽ lấp kín lối hẹn hò dưới cỏ
Đợi một người khai quật ánh trăng non
Và quét dọn màn sương mờ hư ảo
Dắt con đường đi đến tận hồn nhau
Ta bỏ ta cho thời gian gặm nhấm
Em bỏ lại em chiếc bóng trắng hiên nhà
Bên cánh cửa vô tình không ngừng chuyển động
Gió đưa tình ngơ ngẩn vào ra
Ta chạy trốn ta tìm người biệt xứ
Thất thểu về buồn phơ phất râu xanh
Ôm khuôn mặt lấm lem mùa thương cũ
Lời yêu xưa cất cánh giữa tro tàn!
Lưu Xông Pha









