biến khúc

 

 

dĩ vãng xanh tội tình
đã bị chôn vùi dưới lớp mây mờ
lặng lẽ
nhắc đến như những kỷ niệm đắng
một mình tôi
trong cơn gió ảo
cùng với tiếng thở dài

những lời chất vấn
sự hoài nghi
chưa mọc cánh bay đi
chưa xếp vào bóng tối
cùng với đỉnh núi buồn

những lời vỗ về
an nhiên
ngủ yên như cây cỏ
như loài rong
đón mưa trên mặt biển mịt mù
bầu trời giận dữ

hãy khép mắt thật khẽ
núi cong những đường chập chờn
thành những dặm ruổi rong

bước chân nào dẫn vào hư vô
có thể mở đầu cho sự sống?

trí nhớ mù lòa
của người điên hát dạo
những điệu cũ mòn
trên hành trình vô vọng
ngày luân chuyển
sang địa ngục buồn
trên đá tảng
vẫn mọc những loài rêu đen

một ngày mai
từ bóng tối đang nhảy múa
sự sinh tử không được lựa chọn
buông mình vào cuộc rủi may

hãy mang chiếc mặt nạ
để tự lạ lấy mình
khi mở mắt, tiếng khóc
lúc nhắm mắt, yên vui
vứt lại đằng sau mọi niềm an ủi

chiếc giếng cạn tủi thân
có bóng mặt trời gầy
những đám mây bơ vơ
mặt trời tiền sử

nỗi im lặng tro than
ảo vọng vùn vụt qua trên miền rét mướt
buồn khổ như cánh rừng
đã thôi về với núi

NP phan

Đã lụn tàn những mảnh vườn xanh

 

1.

Ở Sài Gòn, vào đầu những năm 60, ba mẹ tôi dọn nhà về khu Đồng Ông Cộ, gần chợ Bà Chiểu. Cứ khoảng nửa đêm về sáng, đô thành còn say ngủ, chợt nghe êm ả làm sao tiếng xe ngựa lốc cốc chở rau, chở hoa vào chợ. Hay vào các mùa Tết nguyên đán, cứ sau ngày 23 đưa ông Táo về trời là có chợ Tết ban đêm họp tại khu vực xung quanh Lăng Ông, sát bên tòa tỉnh trưởng Gia Định.

Những đêm chợ Tết xa xưa ấy, tôi nhớ mặt hàng Tết năm nào cũng mứt, trà, rượu, bánh, kẹo…, cũng như không bao giờ vắng mặt kem đánh răng “anh Bảy Chà”, xà bông Cô Ba và dầu cù-là Mac Phsu. Có điều là bên cạnh những đồ Tết theo truyền thống ấy, luôn luôn có một loại hàng thực phẩm rẻ tiền, thậm chí là tầm thường vì quá quen thuộc hằng ngày, cũng khiêm tốn xuất hiện trong chợ Tết – đó là các loại rau cải. Khi vào chợ, chỉ bước đến gần gần các sạp bán rau cải thôi là đã ngửi được mùi thơm dễ chịu, ngọt ngào của mấy thứ rau thơm, xà lách, tần ô, dền ớt, dền đỏ, cải thảo, cải ngọt, cải bẹ xanh, bồ ngót.v.v…, mà xưa nay giới tiểu thương gọi chung là đồ hàng bông.

Không rõ do nguồn ký ức thầm kín nào mà giờ này, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, mùi thơm của rau xanh vẫn luôn luôn sống khỏe trong cái tật hiếu cảm của tôi. Thơm nhất, thơm ngát đến thèm ăn ngay là rau húng quế vì loại rau thơm này khiến tôi liên tưởng ngay đến một món khoái khẩu – tô phở tái nghi ngút khói, ngon tuyệt vời! Cao sang hơn và làm đẹp hơn cho chợ Tết là các loại hoa đầy màu sắc tươi tắn, như: vạn thọ, thược dược, cúc vàng, mãn đình hồng… Và từ những năm tháng ấy, tôi mới được biết là ở vùng Gò Vấp, đất Gia Định tôi ở, từ xa xưa đã có nghề làm vườn, trồng rau vốn nuôi sống nhiều gia đình nông dân ở khu vực ngoại ô Sài Gòn.

 

2.

Sau biến cố 30-4, đâu khoảng những năm cuối thập niên 70, nhiều lần tôi đạp xe về khu vực nghĩa trang Vạn Thọ, thuộc phường 11 quận Gò Vấp ngày nay để thăm mảnh vườn của vợ chồng Tư Nhíu. Chúng tôi đã kết bạn khi cả hai, một là sĩ quan ngụy học tập cải tạo mới về, một là thanh niên thất nghiệp,  đều được địa phương “gợi ý” cho lên đường đi đào kênh, đắp đê, làm lúa đất phèn, trồng bo bo đất gò… ở một nông trường nằm ở vùng Củ Chi. Rồi nông trường làm ăn hoàn toàn thất bại, giải thể năm 1979, chúng tôi được xuất ngũ về nhà.

Tôi còn nhớ thời 1979, có một con đường mòn cỏ mọc xác xơ, ngoằn nghoèo chạy giữa nghĩa trang, hai bên là hàng ngàn ngôi mộ cũ kỹ nằm im lìm dưới ánh nắng. Ra khỏi nghĩa trang, nhìn xuyên qua những khóm tre là thấy những vạt đất thẳng thớm, trong số đó có miếng đất xéo xéo của Tư Nhíu, được ươn, trồng đủ loại rau cải xanh. Có vài chủ đất còn nuôi thêm con bò, con heo và gà, vịt thả vườn.

Lần nào cũng vậy, vừa thấy bóng tôi ngoài hàng rào là lập tức Tư cười hể hả, ngưng ngay công việc đang làm trong vườn hay réo vợ ra làm thế để bày độ nhậu lai rai dưới gốc cây chuối ở mé vườn. Thật ra thì bọn tôi không phong lưu, sung sướng cái thân gì cho lắm. Lần nào cũng cái chiếu rách trải đại dưới đất đầy lá mục, cũng mổi nhậu cóc, ổi, đậu phộng nấu… Nhưng độc đáo ở đây là chỉ cách cái chiếu nhậu vài mét là sù sụ mấy ụ phân rác đang được chủ vườn phủ kín cho hoai dưới nắng trời, luôn luôn ban tặng cho dân nhà vườn cái mùi hôi nồng nặc và cả mấy “sư đoàn” ruồi, giòi. Được cái là sau thời gian “đi học” về, cái em sinh viên trắng trẻo rồi anh giáo sư đạo mạo ngày nào đã được “giác ngộ” bởi thời thế, không còn sợ hãi, thối lui trước cảnh ngồi dưới đất ăn uống sát bên đống rác, tay không bốc đồ ăn nữa.

Vừa phẩy tay đuổi con ruồi xanh lì lợm đậu trên miệng chén mắm ruốc, tôi vừa hỏi Tư về một loại phân bón rau còn thấy ớn hơn phân rác hay phân chuồng (phân trâu, bò) nữa, mà trong trại cải tạo Trảng Lớn (Tây Ninh) tôi đã từng phải sử dụng (gọi là xử lý phân) theo lịnh cán bộ quản giáo để bón cho rau muống trồng trên đất với liều lượng lúc nào cũng dư xài vì được lấy thoải mái từ nhà xí hai ngăn trong trại:

– Nè, cậu có dùng phân bác không đó?

– Anh nói phân bác gì?

– Thì… phân người đó! Mấy tờ báo về nông nghiệp ở ngoài Bắc dùng chữ này.

– À…, hổng phải đâu, tui nghe nói kêu đúng là phân bắc chớ hổng phải phân bác – chắc chữ này bị nói trại đi. Ở ngoài Bắc chắc là kẹt, thiếu phân tro dữ lắm nên bà con mới phải xài tới thứ phân này để bón rau, chớ xưa nay trong Nam mình, như ở đây nè, đâu có ai xài thứ đó. Tui nghe nói là chỉ có một thời, cũng xưa lắm rồi, đâu ở miệt Phú Lâm, mấy ông Tàu, hay đội cái nón lá bự bành ki, trồng cải ná, tức cải rổ đó, có lấy thứ đó phơi nhiều nắng cho khô, rồi giã ra trộn với nước đái, gánh đi tưới. Chà, xài phân… đặc biệt như vậy thì cây cải chắc là bự, ngọt hết chỗ nói hả?

Dân làm vườn như Tư vốn phải chịu quen với đủ thứ không hề sạch sẽ, thơm tho gì. Mùi mồ hôi luôn luôn hôi nồng trên người Tư do lao động thường xuyên ngoài vườn, ngoài nắng với công việc làm hoài không hết. Dọn đất, lên luống, ươn cây con, rải phân, dọn cỏ, tưới nước, nhổ rau… Chỉ riêng việc tưới thôi mỗi ngày phải ba bận sáng-trưa-tối. Có lần bị trộm lẻn vô nhà lấy mất cái máy bơm “một ngựa”, vợ chồng Tư rất khốn đốn. Mùa mưa thì thỉnh thoảng hơi khỏe là có thể bỏ tưới giấc trưa. Nhưng ngược lại, chính 6 tháng mùa mưa lại làm năng suất rau giảm, có khi giảm tới phân nửa, vì rau rất dễ hư úng, nhất là đối với loại rau mỏng lá như xà lách. Dân trồng rau xem mùa mưa là mùa nghịch, thường phải giảm bớt số lượng rau ươn trồng vì dễ “thua”. Về 6 tháng mùa nắng thì cũng không phải hoàn toàn thuận lợi, dù thời gian này có dịp Tết nguyên đán để trồng hoa  – dân Nam rặc như vợ chồng Tư nhất định kêu là trồng bông, bán được tiền hơn rau. Về công chăm sóc thì hoa đòi hỏi người trồng phải chịu khó, chăm chút hơn trồng rau, đậu. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ.

Khè một tiếng sau hớp rượu, Tư – dân làm vườn cố cựu mấy đời – mới phân tích thật rành rẽ:

– Nói nào ngay, để đất trồng rau thì rất mau ăn. Cải ngọt, cải bẹ chỉ cỡ 20 ngày là nhổ bán được rồi. Xà lách thì chăm khó hơn nhưng cũng chỉ 25 ngày, nó lại chịu lạnh nên mùa gần Tết, trời mát, xà lách rất đẹp, đem bán thiệt ngon. Còn nếu mình dành đất trồng bông thì cỡ 6 tháng mới bán được. Chừng tháng 6 ta là phải lo xuống giống mới kịp. Rồi ươn ra chậu, rồi 15 ngày sau lo cơi ngọn… Và tuy bông nó không ăn phân, tro nhiều hơn rau, nhưng mình là người trồng, cũng phải ăn cơm để sống, chớ hổng lẽ nhịn đói trong 6 tháng trồng bông? Tiền vốn mua các giống bông cũng nặng và phải lựa giống thiệt kỹ, nếu không, lỡ gặp hột ra cây điếc thì thua là cái chắc.

Đang lai rai, trò chuyện thì chợt một anh hàng xóm của Tư, không chờ tụi tôi chào hỏi, mời mọc gì, tự tiện vạch hàng rào bông bụp bước qua nhập cuộc.Trò chuyện mới sơ sịa, xây tua được mới vài vòng thì anh ta chê mồi nhậu tệ quá và mời tụi tôi qua nhà anh, nghĩa là cũng vạch hàng rào chui qua đất anh. Lần này chiếu nhậu được trải dưới một giàn đậu cô-ve còn anh chủ thì chạy vô bếp làm liền một món mà anh hô là hết sức đặc biệt. Té ra chỉ là đậu cô-ve non vừa hái ngay trên giàn, rửa sơ rồi xào tóp mỡ. Nhưng không ngờ cái món đơn giản, tầm thường này lại nhậu rất bắt vì ngon miệng lạ thường.

Đang thời cả nước phải ăn độn cơm với khoai, với bắp, bạn bè nghèo chúng tôi gặp nhau chỉ có bấy nhiêu đó tạm gọi là vui, là hạnh phúc. Cũng cái thời người dân Sài Gòn bắt đầu biết mùi ăn độn, bà Quốc Việt, vốn là chuyên gia về ẩm thực, nguyên hiệu trưởng một trường nữ công – gia chánh nổi tiếng, đã lên ti-vi dạy cho bà con cách chế biến rau muống thành nhiều món ăn khác nhau mà bà ta cam đoan là đều ngon hay lạ miệng. Lần đó, một chiến hữu của tôi tại chợ trời thuốc tây Tân Định, anh chuyên gọi “tôn vinh” rau muống là sâm dây, đã than thở: “Trời ạ, sau cái vụ rau-muống-bảy-món này, chắc là quí ma-đàm Quốc Việt sẽ dạy tiếp cho quốc dân, đồng bào về món khoai mì, tức là sâm đất đó mấy cha, thành khoai-mì-mười-món quá! Chịu hết nổi! Thôi chắc tui vượt biên quá! Mấy cha chịu nổi mà ở lại thì ráng ăn sâm dây với lại sâm đất cho nó bổ khỏe, còn bổ hơn sâm Cao Ly, sâm Hoa Kỳ nữa lận kìa!”.

 

3.

Ai “chịu nổi” hay “không chịu nổi” gì thì cuộc sống vẫn thản nhiên trôi đi theo ngày tháng. Sau mấy năm liền không có dịp gặp nhau vì tôi rời Sài Gòn, xuống kiếm sống ở quê vợ là Vũng Tàu, tôi trở lại khu nghĩa trang Vạn Thọ thăm nhà Tư Nhíu thì thấy lạ hoắc, lạ huơ. Nghe nói bà Vạn Thọ, chủ nghĩa trang đã hiến đất cho nhà nước tự hồi nào và nơi này đã được giải tỏa trắng để qui hoạch thành Làng Hoa Gò Vấp. Từ một con hẻm cũ chạy bên cạnh làng hoa, người ta phóng một con đường mới, đặt tên là “Lê Văn Thọ”, hỏi ra mới biết tên “Thọ” này chẳng dính líu gì tới gia tộc bà Vạn Thọ – người hiến đất để làm làng hoa và con đường mới này –  mà là tên một liệt sĩ nào đó. Còn cái đường mòn chạy giữa nghĩa địa ngày trước nay đã được cán nhựa và có tên đàng hoàng là đường Cây Trâm, hai bên đường là cả dãy phố khá sầm uất, nhộn nhịp.

Có điều là, chính trên con đường đóng vai  xương sống của làng hoa này lại khó tìm ra các loài hoa. Chỉ thấy toàn nhà hàng, quán nhậu, quán cà phê, quán karaoké, tiệm bán điện thoại di động.v.v… Họa hiếm là hai, ba chỗ bán cây kiểng, hoa chậu hay bày bán các loại tượng đá, tượng xi-măng.

Thời 1979, khi đi trên đường, nhìn qua những hàng tre là thấy ngay những vạt đất trồng rau nằm cạnh những căn nhà lá hay nhà vách ván như nhà Tư Nhíu. Nay tre trúc, nhà lá, nhà gỗ gì cũng biến mất mà chỉ có toàn là nhà gạch, nhà lầu hai, ba tầng trên vĩa hè lát gạch con sâu.  Phải bước ra phía sau căn nhà trệt mới xây của vợ chồng Tư Nhíu mới thấy mảnh vườn cũ. Đất của họ bị giải tỏa một phần cho con đường nhựa và chỉ còn lại khoảng 1000m2 trồng rau. Tư cùng những nhà vườn lân cận vẫn trồng những loại rau truyền thống Gò Vấp, như mồng tơi, dền, rau thơm, xà lách, cải ngọt, cải , cải bẹ.v.v… và một ít xu hào, cải bắp, hành ngò. Nhưng đã Tư nói ngay:

– Đất trồng ở vùng này giảm đến 70 – 80%. Số bà con còn theo nghề chỉ còn khoảng một nửa. Bỏ nghề cũng phải vì giá đất lên liền liền, đem đất phân lô bán kiếm tiền, chuyển qua nghề khác khỏe hơn.

– Cậu vẫn có trồng hoa Tết?

-Thì cũng ráng…. Cũng vẫn mấy thứ bông truyền thống thôi, như thược dược, hướng dương, cúc mâm xôi, sống đời.v.v…Mấy năm qua có thêm vạn thọ Pháp, bông lớn. Nhưng bông Gò Vấp đang không cạnh tranh nổi với bông Cái Bè chở ghe lên Sài Gòn, nhiều và rẻ hơn.

Thời đó, cỡ 1 – 2 giờ khuya vợ chồng Tư đã lo nhổ rau, cột bó, để đến 4 giờ sáng chở đi bán. Do số lượng rau nhỏ nhoi không đáng để Tư chở xuống tận chợ hàng bông Bà Chiểu, họp từ giữa đêm về sáng ngay trên hè phố mà chỉ chở ra tới “chợ” rau ngã tư Lê Văn Thọ – Phạm Văn Chiêu, cách nhà chừng 1 cây số. Nhưng phải coi chừng… Cứ khoảng 4 giờ sáng, dân trồng rau trong vùng tụ tập về ngã tư nhỏ hẹp này để buôn bán với đầu nậu cùng người bán lẽ. “Chợ” chỉ họp đến hững sáng là tàn nhưng trong bóng tối chập choạng, xe 2 bánh chở rau thường đậu lấn mặt đường, người mua cứ tỉnh bơ chuyển rau từ xe người bán qua xe mình, mặc kệ cho kẹt xe. Đến cỡ 5 giờ sáng thì xe cộ nhiều hơn, nào là xe bus, xe hàng, xe chở công nhân… Trúng đoàn xe đám ma thì càng dễ kẹt xe hơn. Đã từng có vụ ẩu đã giữa một anh lơ xe bus với một anh chở rau, rồi anh lơ chạy đi “méc” công an phường. Nhưng công an có xuất hiện thì cũng giống như ai đó khuấy động một bãi ruồi đậu. Công an đi rồi thì ai nấy, người bán rau cũng như người mua rau, lại tiếp tục trở lại chỗ cũ…

 

4.

Tôi từng đặt câu hỏi ngậm ngùi với bạn mình, rằng thấy tương lai của nghề trồng rau vùng này như thế nào. Tư Nhíu, người đàn ông mà mấy đời gia tộc bên mình cũng như bên vợ đều đã sống bằng cái nghề lam lũ này, đã rầu rĩ trả lời:

– Đất trồng rau ở đây càng ngày càng teo tóp, nhường chỗ cho nhà cửa mọc lên. Dân kéo về ở càng đông thì vườn rau mình càng bị bao vây, cô lập. Rồi có ngày sẽ bị thưa kiện về tội làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, nhà tui đâu còn ruồi như hồi trước nữa là do tui rất ít ủ phân rác hay phải đi mua phân đã hoai rồi cho không còn mùi. Nhưng mùi urê, mùi thuốc trừ sâu, mùi gì cũng bị hàng xóm ở sát bên vườn la lối. Hiện nay, tụi tui thức khuya thức hôm, bám vô 1000 mét vuông vườn kia để mỗi tháng, trừ hết chi phí phân giống, điện đóm thì cũng còn dư ra được cỡ ba, bốn triệu để đong gạo, đóng tiền học cho mấy đứa nhỏ. Nhưng chắc một hai năm nữa tui phải đổi nghề thôi. Chừng đó cũng có lẽ không còn ai giữ đất trồng rau, trồng bông ở vùng này nữa đâu. Còn cái làng hoa mà hổng có hoa kia thì khỏi nói…”.

Đã một thời rộn rịp, tấp nập chợ búa nhưng càng ngày càng thưa thớt hẳn đi, rau xanh và hoa của Gò Vấp, Hốc Môn, Bình Chánh từng góp phần cung cấp cho vùng Sài Gòn, bên cạnh hàng của Tiền Giang, Đồng Nai, Lâm Đồng. Sau 30-4, còn có thêm hàng rau, hoa từ Hà Nội vào và cũng sau 1975, hoa Đà Lạt muôn màu muôn vẻ dần hồi tràn ngập thị trường thành phố Sài Gòn với giá hạ hơn trước 1975 rất nhiều. Rốt cuộc, đồ hàng bông và hoa của Gò Vấp, Hóc Môn bị lấn át mạnh mẽ nên ngày càng ít ra chợ và đất vườn trồng rau – như câu chuyện của Tư Nhíu, ngày càng ít đi.

Phải nói, tình hình chuyển biến trên thị trường là kiểu ‘cung ứng nhiều, giá cả hạ’ thì ít nhiều gì cũng là thay đổi thuận lợi cho cuộc sống mọi người. Nhưng riêng tôi, trong thâm tâm vẫn có một nỗi buồn, nỗi tiếc nhớ man mác vì chẳng bao lâu nữa sẽ lụn tàn hết những vườn xanh nhỏ bé, yên tĩnh, khuất lánh ở một vùng ngoại ô thành phố này.

 

PHẠM NGA

 

 

HAI CĂN BỊNH TRẦM KHA CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM: NÓI TRỄ VÀ NÓI DỐI

Sinh viên, học sinh Việt Nam vẫn nghĩ khẩu hiệu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” là nguyên tác bất hủ của ông Hồ. Thật ra, câu nói đó lấy ý từ câu “Nhất niên chi kế, mạc như thọ cốc, thập niên chi kế, mạc như thọ mộc, bách niên chi kế, mạc như thọ nhân”, nghĩa là: “Kế hoạch cho một năm, không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho mười năm, không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm, không gì bằng trồng người” của Quản Trọng. Dù sao, sau hơn nửa thế kỷ trồng người, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, ngoài việc sinh ra các tình trạng mà Giáo sư Hoàng Tụy gọi là “nguy kịch” như chạy theo bằng cấp, bằng giả, học giả, làm luận án thuê v.v., còn gây ra hai căn bịnh rất phổ biến trong xã hội Việt Nam, theo tôi, còn trầm trọng và khó chữa trị hơn nhiều, đó là bịnh nói trễ và nói dối.
Trẻ con trung bình vào khoảng hai, ba tuổi là bắt đầu tập nói. Nếu đến bốn tuổi mà chưa nói được, đứa bé sẽ bị xem như mắc triệu chứng nói trễ (Autism Spectrum Disorders). Nghe đâu nhà bác học Albert Einstein cũng từng mắc phải triệu chứng này. Theo các tài liệu y khoa, đây không phải là căn bịnh làm chết người, nhưng vẫn là một mối lo canh cánh bên lòng các bậc cha mẹ khi nghĩ đến việc con mình không biết nói. Chúng ta không hiểu được nỗi lòng của các em bé, nhưng chắc các em cũng khổ tâm ghê lắm khi không nói được một cách bình thường như những đứa trẻ khác. Nếu quý vị vào Internet để tìm các tài liệu về triệu chứng Asperger hay Autism Spectrum Disorders, quý vị sẽ có cơ hội đọc hàng trăm câu chuyện cảm động của các bà mẹ chia sẻ với nhau niềm vui khi lần đầu nghe con gọi tiếng “mẹ ơi” gọn gàng, suôn sẻ.
Tôi không biết Việt Nam có bao nhiêu em bé bị mắc phải triệu chứng nói trễ, tuy nhiên, phát biểu trễ, trong đó tính chung cả nói và viết, thì rất đông. Ðông đến nỗi, khi có một em phát biểu được những gì em suy nghĩ, ai nấy đều xem đó như một hiện tượng lạ, không những cha mẹ em mừng, anh chị của em mừng, bà con em mừng, mà tám chục triệu đồng bào trong nước và cả hai triệu người Việt ở hải ngoại cũng mừng theo. Ðó là trường hợp của em Nguyễn Phi Thanh, học sinh lớp 11A18 trường THPT Việt Ðức, Hà Nội. Có một điểm khác nhau giữa bịnh Autism Spectrum Disorders và nói trễ ở Việt Nam, trong lúc Autism Spectrum Disorders là do sự phát triển chậm của khu vực nói trong hệ thần kinh trẻ em, bịnh nói trễ ở Việt Nam là do nền giáo dục xã hội chủ nghĩa gây ra và tồn tại không chỉ trong trẻ em mà cả trong nhiều người lớn tuổi.
Nhận xét của em Phi Thanh về đề thi “Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc” đã được báo chí trong và ngoài nước đăng tải khá nhiều, tôi chỉ trích một đoạn ngắn:
“Em nghĩ, đứng trước một tác phẩm văn học bao giờ cũng có ý kiến trái ngược khen–chê, hay-dở nhưng dường như học sinh bọn em chỉ có quyền thích, chỉ có quyền khen hay mà không có quyền nói lên chính kiến của mình, và việc phê bình văn học hình như chỉ là việc của các nhà phê bình. Phải chăng vì tư tưởng bảo thủ này mà suốt 63 năm qua, văn thơ của chúng ta chưa được “mới”? Nhìn ra, chỉ ra cái hay của một tác phẩm văn học đã khó, nhưng chỉ ra cái hạn chế, thiếu sót của tác phẩm ấy còn khó hơn nữa, vậy mà chưa bao giờ bọn em được tỏ rõ chính kiến của mình trong một bài thi cả, tất cả chỉ vì áp lực điểm số.”
Tại các quốc gia tiên tiến, một học sinh lớp 11 viết những câu như thế thì không có gì đặc biệt. Năm ngoái nơi tôi ở, một học sinh cũng lớp 11 chẳng những viết mà sau đó còn đưa cả Thống đốc và Sở Giáo dục Tiểu bang ra tòa với tội vi phạm hiến pháp chỉ vì số lượng học sinh trong lớp em học đông hơn số lượng mà Bộ Giáo dục quy định. Việt Nam thì khác, viết được như Phi Thanh là một biến cố lịch sử, chưa từng xảy ra, nói chi đến chuyện đưa nhà nước ra tòa. Học sinh Phi Thanh viết “Em có thể chắc chắn rằng trong số mười học sinh như em thì có chín người cũng không thích tác phẩm này”, điều đó cũng có nghĩa em may mắn nói được còn chín em kia vẫn còn mắc phải triệu chứng nói trễ.
Sự đồng tình của nhiều người, nhiều giới, trong đó có một số người đang làm công tác giáo dục, về bài viết của em Phi Thanh, chứng tỏ sự khát khao, chờ đợi của người dân dành cho một tiếng nói trung thực, một phản ứng tích cực thay vì rập khuôn một cách thụ động theo dấu chân của đảng trên con đường mòn giáo dục xã hội chủ nghĩa như năm chục năm qua. Ðó là một dấu hiệu tốt. Ít ra, mỗi ngày có thêm nhiều người ý thức rằng cuộc vận hành của lịch sử là một chuyến tàu không bao giờ chạy ngược và không dừng lại lâu ở một sân ga nào mà luôn hướng đến một sân ga mới, mang theo hành khách mới với hành trang và ước vọng riêng cho thời đại họ. Những khái niệm, phạm trù được xem như là chân lý cách đây nửa thế kỷ có thể không còn đúng nữa. Xã hội ngày nay không phải là xã hội của năm mươi năm trước. Những suy tư, trăn trở, lo âu, ước vọng, đam mê của thế hệ trẻ ngày nay cũng hoàn toàn khác với thế hệ cha anh, và vì thế, mục đích lẫn phương pháp giáo dục phải thay đổi một cách thích nghi theo nhu cầu thời đại.
Lấy bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” làm ví dụ. Không ai phủ nhận giá trị lịch sử của tác phẩm, đặc tính anh hùng cách mạng của nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng như tinh thần bất khuất của cụ Nguyễn Ðình Chiểu, tuy nhiên, buộc các em, các cháu học sinh phải xúc động theo cách xúc động của ông bà các em khi đọc những câu như “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” hoặc “Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ” thì không đúng. Thất bại của hệ thống giáo dục là không làm cho các thế hệ ngày nay rung động được cái rung động của người xưa bằng ngôn ngữ của thời đại các em, không làm dấy lên trong lòng thế hệ măng non một tình yêu nước trong sáng như tình yêu nước trong lòng của các bậc tổ tiên, ông bà các em. Yêu nước ngày nay đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội, nhưng chủ nghĩa xã hội là gì, giống ai, hình dáng ra sao, mập ốm thế nào thì ngay cả ông Tổng bí thư cũng không hình dung được, nói chi là các em học sinh lớp 11.
Nền giáo dục vẹt như thế tồn tại trong xã hội Việt Nam từ bao nhiêu năm qua đã giết chết mọi mầm mống sáng tạo tự nhiên trong con người. Tôi nhớ những ngày còn học ở Đại học Kinh tế sau 1975 như một sinh viên chế độ cũ chuyển sang, ngồi nghe một cán bộ giảng dạy trình bày về toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại từ vượn đến người không khác gì một câu chuyện khoa học giả tưởng. Lý do, trong suốt bài giảng ông không dựa vào một kết quả nghiên cứu khoa học hay một công trình khảo cứu giá trị nào, mà chỉ lập lại gần như nguyên văn bài viết dài chưa đến hai mươi trang, “Quá trình chuyển biến từ vượn thành người” của Engels, trong Tuyển tập Mác-Engels. Trong vỏn vẹn hai chục trang sách thôi, Engels đã phác họa toàn bộ nguồn gốc nhân loại như đã chính mắt mình trông thấy. Rằng ngày xửa ngày xưa, có một bầy vượn đi kiếm ăn, vì nhu cầu thực phẩm nên phải leo trèo, hai chân trước vì vậy đã phát triển để thích nghi với việc hái nên dần dần biến dạng ra cái mà chúng ta gọi là hai tay. Trong lúc hai chân sau vì sử dụng như là những điểm tựa nên vẫn được gọi là hai chân v.v. Và thủy tổ con người đã hình thành không khác gì một cuốn phim hoạt họa thế đó. Tuy nhiên, tác phẩm nầy, cùng với các tác phẩm kinh điển khác của các lãnh tụ đảng, được đảng viên các cấp tôn kính tuyệt đối, và là nền tảng của hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Bất cứ tác phẩm nào viết về nguồn gốc loài người được xuất bản tại các quốc gia cộng sản đều trích dẫn hay tập trung chung quanh câu chuyện kể lại từ hai chục trang nầy. Lý do là vì Engels viết. Mặc dù không phải là nhà khảo cổ học hay nhân chủng học, nhưng Engels, người bạn vĩ đại và cảm động của Marx, viết thì phải được xem như là chân lý, không cần thiết phải chứng minh. Từ những người làm công tác giáo dục, nhà văn, nhà báo, cho đến các lãnh đạo đảng và nhà nước, đều say mê trích dẫn các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin một cách chân thành và trịnh trọng. Không một giáo án, giáo trình, diễn văn, tham luận, tuyên ngôn, tuyên cáo nào mà không trích dẫn vài câu nói của họ. Văn bản nào không có trích dẫn những “lời dạy” của các lãnh tụ cộng sản thì văn bản đó bị coi như không có giá trị gì. Sự nô lệ trí thức, vì vậy, như là một loại vi trùng sinh sôi và lan rộng trong từng con người, qua nhiều thế hệ, xói mòn và tàn phá tính khai phóng, làm thui chột tính sáng tạo trong con người.
Trong lúc bịnh nói trễ dù sao cũng tùy trường hợp mỗi người, bịnh nói dối là cả một hệ thống, dối có chủ trương, dối có sách vở, dối có tổ chức. Ðó chính là một hậu quả tai hại khác của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung. Vài ví dụ về hậu quả tai hại của tính nói dối tại nước cộng sản đàn anh Trung Quốc. Trong tác phẩm Cuộc đời riêng tư của Chủ tịch Mao Trạch Ðông (The Private Life of Chairman Mao), bác sĩ Lý Chí Thỏa kể lại nhiều câu chuyện về bịnh nói dối tại Trung Quốc trong giai đoạn Bước tiến nhảy vọt và Công xã nhân dân. Một lần, Mao đi thăm tỉnh Hồ Bắc, để chứng minh tỉnh mình vượt chỉ tiêu lúa gạo, viên bí thư tỉnh chỉ thị nông dân dời cả những thửa ruộng nằm sâu trong làng ra sát đường rầy xe lửa để gây cho Mao ấn tượng là mùa màng đang dư dả. Lúa được dời, nhiều khi trồng quá sát nhau đến nỗi dân địa phương phải đặt quạt điện bốn góc ruộng để thổi không khí vào cho thông, nếu không lúa sẽ chết trước khi xe lửa của Mao chạy ngang. Một phụ tá của Mao nói riêng với bác sĩ Lý rằng tất cả các con số thống kê lúa gạo đều là giả vì không có đất nào có thể thu hoạch được mỗi mẫu hai chục hay ba chục ngàn cân thóc. Tương tự, sản phẩm được sản xuất từ những nhà máy luyện kim của công xã mà bác sĩ Lý gọi mỉa mai là “lò luyện kim sau hè” đều vô dụng. Sắt thành phẩm trình lên Mao chẳng qua là sắt thật, mang đến từ nhà máy luyện kim hiện đại. Không cần phải là nhà khoa học, nhà kỹ thuật, mà những người bình thường với một chút kiến thức căn bản cũng biết rằng những nồi niêu xoong chảo dù nấu chảy ra cũng không thể biến chúng trở lại thành sắt thép. Thế nhưng các ủy viên trung ương đảng, các ủy viên bộ chính trị và gia đình họ cũng tích cực tham gia xây dựng các “nhà máy luyện sau hè,” đến nỗi đêm nào khu vực Trung Nam Hải, nơi ở và làm việc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng sáng rực vì lửa của nồi nấu chảy các đồ dùng bằng thiếc, kẽm trong nhà. Tất cả các lãnh tụ cao cấp đều không ai dám bình luận điều gì. Tiếng nói duy nhất phát ra trong giai đoạn nầy là của Mao. Cho đến một ngày, chính Mao cũng cảm thấy có điều gì đó bất ổn đang xảy ra và thắc mắc, “Tại sao Anh, Mỹ, Liên-Xô phải xây dựng những nhà máy luyện kim khổng lồ và tốn kém, chẳng lẽ họ ngu hơn dân Trung Quốc?” Thật ra chính Mao mới là người ngu và cả nước phải ngu theo. Hậu quả của sự ngu xuẩn và dối trá đó là cảnh chết đói oan uổng của trên 30 triệu dân Trung Quốc.
Vì hoàn cảnh, con người phải lừa dối nhau để tồn tại. Ðiều đó đôi khi còn có thể thông cảm. Thế nhưng một tác phẩm văn học xây dựng trên sự lừa dối và nhằm mục đích lừa dối người khác là một điều không thể chấp nhận được. Rất tiếc, việc hình thành một đội ngũ của những người viết dối để phục vụ cho chế độ, cũng là một trong những đặc điểm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Ðể chứng minh cho tính nói dối trong văn học Việt Nam, tôi xin giới thiệu đến độc giả một đoạn văn của nhà văn Lê Lựu viết về thành phố Boston, nơi tôi đang sống, trích trong tác phẩm Một thời lầm lỗi và Trở lại nước Mỹ của ông, do nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản năm 2000.
Trước khi đánh máy lại đoạn văn của nhà văn Lê Lựu, tôi xin giới thiệu vài dòng về Boston, để độc giả chưa đến hay chưa biết nhiều về thành phố lịch sử này của nước Mỹ, có một khái niệm tổng quát về thành phố. Boston là trung tâm lịch sử và một trong những thành phố trù phú nhất của liên bang Hoa Kỳ. Nơi đây, từ bốn trăm năm trước đã có những di dân đầu tiên trên chiếc tàu Mayflower giong buồm tiến vào vịnh Provincetown, Cape Cod. Tên tuổi và địa danh của những quận như Concord, Lexington, Bunker Hill đã đi vào lịch sử vẻ vang của cuộc chiến tranh giành độc lập từ tay đế quốc Anh. Mỗi năm, hàng trăm ngàn người Mỹ từ khắp nơi đổ về Boston để đi dọc theo con đường vào ngày 18 tháng 4 năm 1775, ông Paul Revere đã từng cỡi ngựa đi qua từ Charlestown Neck đến Concord, Lincoln, Lexington để báo động “Quân Anh đang đến!” Boston cũng là thành phố kỹ thuật lớn, với hàng trăm công ty kỹ thuật cao cấp nằm hai bên các xa lộ chung quanh thành phố, và là trung tâm giáo dục hàng đầu thế giới với Đại học Harvard, Học viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT), Đại học Boston, Đại học Massachusetts và hàng chục trường đại học tên tuổi khác. Theo thống kê năm 1990 (thời gian nhà văn Lê Lựu đến thăm), Boston có dân số là 574.282 người, với lợi tức trung bình của một gia đình Boston khoảng 40 ngàn Mỹ kim một năm. Giống như các thành phố lớn khác của Mỹ trong xã hội tư bản, bên cạnh sự thịnh vượng của thành phố, Boston cũng có những người không nhà. Hai lý do chính của tình trạng không có nơi ở (homelessness) là lợi tức tăng chậm hơn tiền mướn nhà và giá nhà ở tại Boston quá cao. Mỗi năm, Thị trưởng Boston công bố một thống kê chính thức về tình trạng không nhà của người dân Boston và các biện pháp ngăn ngừa. Năm 1992, Boston có 4411 người không có nơi riêng để ở và phải ở trong các khu nhà tạm trú (shelter) do chính phủ cung cấp với điều kiện sống chật chội và thiếu tiện nghi hơn ở nhà riêng.
Và sau đây là đoạn văn tả thành phố Boston của nhà văn Lê Lựu sau chuyến viếng thăm Boston của nhà văn vào năm 1989:
Boston, thủ đô của nền văn hóa sang trọng, lịch lãm nhất nước Mỹ. Nhìn về Boston, người Mỹ có thể vênh vang ngửa mặt ra bốn phương mà kiêu ngạo, mà tự tin chỉ cần mặc chiếc quần soóc, chiếc áo may ô, bất kể đàn ông hay đàn bà có thể nghênh ngang đi khắp trái đất, không thèm nhìn ai. Vậy mà giữa bão tuyết của đêm mùa đông ngoài trời có hơn 130 ngàn người không cửa, không nhà. Chị Liliên (bạn của nhà văn và là người làm việc ở trung tâm cứu trợ người nghèo) nói: Con số này tự tôi và đồng nghiệp của tôi đã đi đếm suốt đêm. Bằng mọi cách phản đối, kiến nghị lên chính phủ địa phương, chính phủ liên bang và kêu gọi lòng từ thiện của nhân dân, đến nay mới kiếm được chỗ ở cho 54 ngàn người, còn 77.600 người vẫn đêm đêm nằm lại vườn hoa và hè phố. Nhưng trong thực tế sẽ lớn hơn nhiều so với 77.600 vì mùa đông năm ngoái chúng tôi chưa đếm lại.
Và trong đoạn sau, nhà văn Lê Lựu so sánh Boston và Hà Nội:
“Ở đất nước ta nghèo túng là thế, ở thủ đô có số dân bằng số dân Boston, mà đã ai trông thấy, đã ai đếm được con số một nghìn người đêm đêm lăn lóc ở lề đường, trong các vườn hoa Hà Nội! Sự giàu sang ở Hà Nội không thể đem so sánh với Boston. Ai làm công việc đó được coi như kẻ mắc bịnh tâm thần, kẻ dở hơi. Nhưng sự vất vưởng của con người Boston đem so sánh với Hà Nội cũng là giữa trời và vực.”
Nếu những dữ kiện của nhà văn Lê Lựu viết ra là đúng thì Boston, thành phố đầy kiêu hãnh của nước Mỹ, trong mùa đông đã có gần một phần tư dân số phải chịu cảnh màn trời chiếu đất.
Số người do chị Liliên nào đó và các bạn chị đếm cao hơn con số do Thị trưởng Boston công bố gấp 30 lần! Con số của chị Liliên chỉ cần đúng một nửa thôi, chẳng những Thị trưởng Boston mất chức, Thống đốc bang Massachusetts mất chức, mà cả Tổng thống Mỹ cũng phải từ chức vì nạn đói năm Ất Dậu ở Việt Nam hình như đang tái diễn ngay tại quốc gia cường thịnh nhất thế giới này. Chị Liliên (tạm cho là một nhân vật có thật), trong tư cách là người làm việc cho một cơ quan xã hội và hẳn nhiên am tường tình trạng không nhà, đào đâu ra con số vô cùng khủng khiếp và phi lý đến thế? Hình ảnh 130 ngàn người lây lắt trong một thành phố với diện tích 125 cây số vuông như Boston, ngay cả đạo diễn các phim chiến tranh thế giới, chắc cũng không nghĩ ra. Boston, nếu quả thật như vậy, không còn là thành phố cảng tuyệt vời và là quê hương của John F. Kennedy, George Herbert Walker Bush, Quincy Adams, John Quincy Adams, Henry Wadsworth Longfellow, Ralph Waldo Emerson, Emily Dickinson mà là Rwanda, Bangladesh, Ethiopia.
Và cho dù chị Liliên là người có thật và thích bịa chuyện đi nữa, trong tư cách một nhà văn đã viết nhiều tác phẩm, mang quân hàm Ðại tá Quân đội Nhân dân, không phải lần đầu tiên viếng thăm Mỹ, nhà văn Lê Lựu cũng nên có một thái độ nghi ngờ dữ kiện cần thiết, một lý trí trưởng thành để cân nhắc và đánh giá những gì nhà văn nghe, nhà văn thấy, trước khi cầm bút viết lại câu chuyện và in thành sách. Và “một thời lầm lỡ” in thành sách rồi, khi tái bản vào năm 2000, nhà văn cũng nên xét lại những đoạn viết dối quá lố lăng để khỏi làm trò cười cho độc giả, nhất là các em du học sinh đang theo học tại Boston. Nhưng không, nhà văn vẫn nghĩ rằng những dữ kiện lạ lùng đó là sự thật và in lại mà không cần cắt bỏ. Nếu tác phẩm hay đoạn văn đó được dịch sang tiếng Anh, độc giả Mỹ sẽ nghĩ sao về tư cách và trình độ kiến thức phổ thông của một nhà văn Việt Nam? Chắc chắn họ sẽ vô cùng thất vọng. Người Mỹ bỏ tiền mua vé máy bay cho nhà văn, lo chỗ ăn chỗ ở, đưa đón, hướng dẫn tham quan, tiếp xúc, thảo luận, không phải để nhà văn ca ngợi nước Mỹ hay chửi cha mắng mẹ họ, nhưng chính là để nhà văn được thấy sự thật và mang về lại Việt Nam sự thật của đời sống Mỹ, con người nước Mỹ, và qua trung gian nhà văn, các thế hệ trẻ Việt Nam có cơ hội hội nhập vào thế giới trong tinh thần cảm thông và đối thoại. Nhà văn may mắn được đi tham quan nước ngoài, lẽ ra nên mang về lại nhà những tin tức khách quan, những cái mới, cái hay cái đẹp đang xảy ra phía bên kia ô cửa của ngôi trường nhỏ hẹp, để giúp cho sinh viên học sinh cơ hội được nhìn xa hơn, rộng hơn đến những chân trời văn minh của nhân loại. Nếu không được như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, thì nhà văn cũng không nên đào sâu thêm hận thù, ganh ghét trong lòng người dân hai nước.
Ðọc xong tác phẩm Một thời lầm lỗi và Trở lại nước Mỹ, các em học sinh Việt Nam có thể nghĩ rằng không chỉ Việt Nam nghèo nàn, mà ngay cả một siêu cường cỡ Mỹ cũng đang khốn đốn vì miếng cơm manh áo; không phải chỉ Việt Nam có những kẻ khố rách áo ôm, mà nước Mỹ cũng đầy những cảnh đầu đường xó chợ.
Thưa nhà văn, thời đại của “trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ” đã qua xa rồi. Hãy để cho các em có cơ hội được thấy những đổi thay bên ngoài đất nước. Không có sự so sánh thì làm sao các em biết nỗ lực để vươn lên.
Nhà văn cũng không cần phải bôi đen thành phố lịch sử Boston của Mỹ chỉ để chứng minh cho cái nghèo nhưng sạch, rách nhưng thơm của Hà Nội như là “giữa trời và vực”. Kỹ thuật tự khen mình bằng cách bêu xấu đối phương không phải tư cách của một người lương thiện, và tương tự, hạ thấp giá trị của thành phố nhà văn đang thăm viếng chỉ để biện hộ cho cái mặc cảm nghèo nàn của một thành phố Việt Nam không phải là cách viết của một nhà văn trưởng thành và thái độ của một con người lịch sự. Hà Nội không cần nhà văn ca ngợi hay binh vực bằng phương cách đó. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam, dù trong nước hay ngoài nước, Hà Nội tuy nghèo, Hà Nội tuy xưa, Hà Nội tuy cũ, nhưng Hà Nội vẫn uy nghi như một trung tâm văn hóa lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Nếu ai nói khác hay khinh thường Hà Nội, không đợi đến nhà văn đứng ra bảo vệ mà tám chục triệu người, trong đó có kẻ viết bài này, sẽ làm công việc đó. Ca ngợi Hà Nội như cách của nhà văn chẳng khác gì trét bùn lên một bức tranh tuyệt mỹ.
Ðộc giả sẽ thắc mắc, làm thế nào một nhà văn như đại tá Lê Lựu lại có thể viết những chuyện xa vời thực tế như thế. Câu trả lời chắc sẽ dành cho nhà văn mặc dù những tham luận, bút ký có khả năng giết người vẫn nhan nhản trong xã hội cộng sản, sá chi là chuyện vài con số tuyên truyền. Với tôi, câu trả lời rơi vào một trong hai trường hợp, nếu chị Liliên không nói thì chính nhà văn đã viết dối và nếu chị Liliên không biết đếm thì nhà văn là người không có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa giả dối và thành thật. Và dù trường hợp nào, thủ phạm cuối cùng chịu trách nhiệm cho sự dối trá vẫn là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Viêt Nam.
Chúng ta thường lo âu về những tình trạng chậm tiến về khoa học kỹ thuật, nghèo nàn lạc hậu về kinh tế, nhưng nghĩ cho cùng, cái nghèo đói trí thức, nghèo đói tinh thần, nghèo đói đạo đức tại Việt Nam còn trầm trọng và thúc bách hơn nhiều. Với óc cần cù, thông minh của người Việt và cơ hội học hỏi khắp năm châu, chúng ta không phải quá lo lắng về một nền khoa học hiện đại, một nền kỹ thuật hiện đại. Ðiều đáng lo lắng nhất vẫn là làm thế nào để có những con người Việt Nam biết sống lương thiện và thành thật, làm thế nào có được một nền giáo dục biết đặt cơ sở trên tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng thật sự làm nền tảng cho một xã hội dân chủ pháp trị tiên tiến trong tương lai. Ðó là một cuộc cách mạng tư duy và tâm thức lâu dài.
Mới chỉ năm mươi năm thôi mà các giá trị luân lý, đạo đức Việt Nam đã suy đồi và băng hoại đến thế này, nếu đợi đúng “một trăm năm trồng người” xong thì đất nước sẽ ra sao?
Trần Trung Đạo (Trích trong Tâm Bút Trần Trung Đạo và từ talawas)

NGƯỜI HẸN TRĂM NĂM

 

người hẹn trăm năm phía đó
tằm tơ treo nửa khuôn đời
lênh đênh phận con chữ nhỏ
mặt trời cũng chỉ trò chơi

mặt người đang mùa nhật thực
lá non héo nửa miệng cười
ai bán một lời chân thật
thơ về mua mảnh tình rơi

nếu có bình yên đỉnh gió
phù vân lần lữa cuộc người
trên ngón xương gầy vò võ
trôi dài sợi bạc đời ơi

gót cùn loanh quanh ngõ hẹp
nghe mưa qua đó miền xa
ướt cánh thiên cầm mấy thuở
tha hương đâu cũng quê nhà

ta biết hôm nay còn gặp
mặt cười phố xá thân quen
ta tin lá không hờ hững
xanh suốt mùa thu muộn phiền

Bùi Diệp

KHÚC CA DAO ĐỎ CUỐI CÙNG

em về.lá nắng thơm mùi tóc
hương trộn lưng trời chan tiếng ve
hoa rụng.đỏ bàn chân phía trước
mây cao.hạ trắng chói chang về

anh cầm tập vở cong queo mép
không định đề.công thức giáo khoa
anh giấu một tên em rất đẹp
sân trường cửa lớp.tiếng guốc xa

xưa.khỏi cổng trường không ngoái lại
phía sau.em áo trắng đựng buồn
từ đó em mang tên ký ức
đỏ một mùa phượng cuối.rưng rưng

em về.phơi nhớ lên mùa cũ
mắt chân chim đắm đuối xuân thì
em con gái quàng lưng sương phụ
ủ kin dòng lục bát.đường thi

em về.phố cứ xanh màu phố
ôm choàng thời son rổi rưng rưng
anh không hát “ngày xưa hoàng thị”(1)
thầm.
khúc-ca-dao-đỏ-cuối-cùng !

LÊ HÁT SƠN

Độc

 

Nhìn, vẫn chỉ là nhìn và không vẫn chỉ là nhìn. Cặp mắt không thể hạn định tầm với bằng chỉ số thước đo hay đường chân trời. Không của báu nào thú bằng việc chọc thủng tầm nhìn khỏi những bộ sọ tróc lở, phố trôn ốc hay đền đài miếu tẩm. Khi máu không còn chảy, sẽ thoát ra ngoài bằng luồng hơi đỏ hoặc một màu nhạt ngấm từ trong và dần sánh ngầu. Bên ô cửa kính, chỉ là những miểng kính vỡ toác, trông nham nhở như hàm răng cải mả. Trong nhà chẳng có gì. Họa chăng là những cái bàn, ghế ngổn ngang. Ghế, bàn đơn hay kép đều có. Hẳn từng có một, hoặc hai cái ghế còn một, hoặc hai chân. Giờ thì chân ghế, bàn đã cụt ngủn, hoặc lìa mất như kẻ thọt chân. Mặt các bàn toang hoác đường nứt vỡ, tạo thành khe, rãnh, những hang những hốc trườn ngoằn ngoèo. Chỗ thả được vài ngón tay, chỗ thọc hết được một cánh tay. Nhiều dòng viết nằm đè lên nhau, và nhiều hình khối cũng nghiến lên nhau, kéo dài. Thử nhắm một mắt lại, sẽ thấy ít bàn, ghế hơn. Tất cả chúng cũng tả tơi, hay, đang liền lại như trò phù phép.

Tôi chết đã lâu. Cái chết không đến từ cơn bạo bệnh chớp nhoáng, hoặc một viên đạn tầm xa, cũng chớp nhoáng. Mấy con dao, nhỏ chỉ bằng ngón tay vẫn cắm quanh xác. Chỉ cần chạm một đầu ngón tay, lay nhẹ là máu ộc ra. Chẳng thể biết có thật đấy là một cái xác không. Tiếng thở, thì tắt rồi. Tiếng tim cũng thôi đập. Đúng hơn, là quả tim đã bị các mũi dao bằm nát nhừ. Chỉ máu còn phun ra. Từng tia nhỏ, bắn cao như khẩu phun nước hoặc tràn ra, loang dài như một rãnh mương. Từ chỗ này, có thể đi xa hơn bằng cách vạch thêm một con mắt trên trán. Bên ngoài, loài rắn đỏ đang trườn bò. Màu đỏ trên mình rắn như thứ nước sơn đặc. Mỗi con rắn bò đi, thứ màu cũng chạm trổ mặt đất, và kéo lê. Rắn ở khắp nơi. Không đến từ một xó ngách hoặc bụi rậm. Rắn bò trên vỉa hè, treo vắt vẻo thân cây, trườn lên các mái nhà, chiễm chệ cả trước cổng nhà mà không một ai xua chổi. Mọi nẻo đường đều thấy rắn. Những con rắn còi cọc tuồng như chưa trưởng thành, những con dài ngằng, to lớn, không thiếu con bụng chảy phệ hệt như vừa nuốt chửng con mồi quá cỡ. Họ đi lại, tránh giẫm vào đuôi rắn. Ai thiếu cảnh giác liền bị rắn tấn công. Không có cú táp, chỉ một cái quật đuôi khiến mặt mày xây xẩm. Màu đỏ trên mình rắn bám dính trên người.

Không thể thấy nổi một khuôn mặt đầy đặn hoàn toàn.

Họ, những người đang đi lại hoặc ngừng đi lại, chỉ có nửa mặt. Phần còn lại là một màu trắng đục. Có khi chỉ một màu cánh giáp bọ hung. Sẽ chẳng lạ, nếu thấy một cái mặt với hai nửa đối đầu. Một bên mặt như nhăn nhó, và ẩm mốc. Nửa mặt kia nhăn nhó, và ẩm mốc hơn. Đã có những gương mặt bị lóc đi hết đường nét. Hẳn gương mặt đấy vốn chẳng đẹp đẽ, hoặc quá thừa khiếm khuyết đến nỗi phải khoét đi. Chẳng còn mắt, mũi hay hốc miệng. Nhưng rồi, sẽ lại có mắt, mũi, miệng cùng những đường, những nét từ mắt, mũi, miệng. Truất đi sự ban ơn của Chúa, họ vẽ lại mặt mình bằng búa và đinh dùi. Vẽ giúp nhau, hoặc đắp bừa một cái mặt. Nhiều khi, chẳng cần đến vật dụng gì. Đơn giản, một gương mặt đã bị cạo nát tự tái tạo, bất chấp sẽ thành thế nào. Chẳng còn sự bình đẳng nào khi đã hớp lấy dòng nước rỉ từ phiến đá hình cặp đùi.

Nhắm mắt trái, và nhìn. Mở mắt trái, nhắm mắt phải, và cũng nhìn. Số bàn ghế hẵng còn ngổn ngang. Chẳng thứ nào mọc lại chân. Từng chiếc được dồn lại và thành một khối vuông chẳng vuông lắm. Hít thật căng buồng ngực. Giữ lấy cái hít hơi đấy để chất đầy tim. Nén mãi thế, và chẳng cần đẩy hơi bẩn ra. Và, cũng thận trọng, tránh thở rõ tiếng. Từ đây, sau tấm ván mỏng chia nhỏ lối đi, nhìn ra. Nghe. Sẽ thấy tiếng thở ra, nhỏ, chậm, từ từ. Chỉ một cái hít quá sâu, thở quá bạo sẽ đánh động rắn. Cú quật đuôi chỉ đủ bươu đầu. Mạnh hơn, thì rạn xương. Màu đỏ trên mình rắn sẽ dính vào, bám xuyên da như thứ nhựa trường cửu. Chẳng thể lau đi vết màu loang dù có cọ rửa nhiều lần. Đấy sẽ là dấu ấn để nhận biết một khuôn mặt trong vô vàn khuôn mặt chen chúc trong những dãy phố hoang tàn ngổn ngang người.

Tôi chết bởi nhiều mũi dao. Những vết dao nhọn và rất cong.

Thứ nước rỉ từ phiến đá, sẽ thấm sâu hơn vào tạng phủ. Nuốt nước bọt thêm mười lần, dòng nước sẽ mãi trong lồng ngực. Một mắt nhắm. Mắt còn lại cũng nghiền chặt. Bầu trời sẽ chẳng mất. Ánh sáng rót tràn tầm mắt và sủi mùi mật ong pha máu. Sẽ có một con mắt thứ ba mở đường, và khai thông mọi bề mặt vốn lõm, lồi hoặc cong hình liềm gặt. Chẳng đi đâu khỏi những cọc dài như chấn song sơn xanh lục…Quang cảnh này, còn có thể lộn nhào dù tay không chống đất. Những cái mặt, bị gãy rời rồi được tái tạo khác xa nguyên gốc. Và loài rắn đỏ đang ngoe nguẩy cái đuôi với vẻ hung tợn. Cái lưỡi chẻ đôi thò ra thụt vào, liếm láp trong không khí, tìm mùi thù địch. Lẩm bẩm thế nào cũng không toán hết sĩ số của mặt, của bàn, ghế hay bầy rắn ngày một nhan nhản.

Chân lý không đến từ một cái mặt. Càng không đến từ một tiếng nói cất cao, phá vỡ cả vùng trời đỏ lựng ngả màu cánh giáp bọ hung. Phiến đá nước rỉ, có hình con mắt lớn. Một rãnh con con, sẽ lộ ra khi đã cạo hết lớp rêu xanh. Mọi giống nòi sẵn sàng nuốt lấy thứ nước rỉ sau khi đã gõ chán chê. Nhiều cái miệng ngoác rộng và táp lấy phần rãnh, để lưỡi trườn vào như con đỉa. Dòng nước ngấm, từ đầu lưỡi. Mấy thân thể oằn vẹo vọ, vẫn không chịu nhổ ra. Xa xăm, một cái sọ trắng tách đôi. Giữa đường nứt chia đôi sọ, một vệt nước còn loang dính. Một cái nuốt, và thâm nhập. Bầy rắn nhiều lên. Chúng sục sạo. Nhiều con bò thành đàn trên phố. Bò trái, phải, sang ngang, ngẩng cổ và đe dọa người ta bằng tiếng khè hung hãn. Rắn chắn trước bất kì ai. Chẳng một lí do, rắn quất đuôi như cách đánh dấu lãnh thổ. Một sự phản kháng, sẽ không còn cái quất đuôi. Một cú đớp sát thủ, túi nọc tiết từ nanh sẽ giết chết mọi thù địch. Lớp mặt ngoài đã nát bươm và hiện hữu nơi chốn khác. Phần mặt trong, được tạo ra quá nhanh chóng. Từ các bậu cửa, chỉ thấy những bản mặt giống nhau dù chẳng giống nhau. Những dấu đỏ chẳng nhạt, cũng chẳng đậm lên.

Xác tôi ngấm đỏ ngầu. Ngoài những vết đâm bởi dao, phần còn lại cơ thể ngả đỏ ngầu. Nước màu đỏ hơn máu, đậm hơn máu và làm dịu cả mùi tanh của máu bằng mùi hôi của rắn. Hẳn người một chân đã bị rắn quấn. Máu còn đổ, người đã chết. Bóp miệng, và quệt vào miệng xác thứ nước rỉ từ phiến đá. Tôi chẳng sống lại. Vẫn cái xác đấy, giờ nhổm dậy và đi lại. Mấy mũi dao nhỏ còn trước ngực, máu còn phun thành tia nhỏ. Một cái trở lưng đi, trở lưng lại, cái xác đã mất. Cái cổ bẻ rôm rốp, rồi vươn dài ra húc xuyên bầu trời đỏ.

Tôi đã đi hẳn. Thật nhanh, chẳng để lại bóng, dấu chân hay một dấu máu. Những hàng cây đã che lối, hay các con phố đã nối dài thêm và chồng kéo thành thứ kiến trúc vô định. Một cái tóm chặt cổ rắn. Đầu rắn xé làm hai.

Thứ nước rỉ từ phiến đá thẩm thấu và tạo ra sức mạnh. Trầm mình trong thứ quyền năng được mọc cánh và khống chế cả thần ma. Đấy chỉ là giấc mù quá dai và được đánh tráo thành những dày xé xương tủy. Một chút thần thông không là gì khi tinh thần luôn rệu rã. Những cái răng luôn có máu. Một vài chiếc lung lay, chờ bật tung khỏi lợi. Hai con ngươi cũng uể oải, chỉ thấy màu cánh giáp bọ hung sủi đỏ. Tầm nhìn này, chẳng quá dài và từ lâu không thể tường tận dù là con kiến leo tường. Số mặt người, được xác định bởi một chỉ thị từ tâm não. Sẽ là đen, hoặc trắng, nửa đen hoặc trắng hay một khối hình mặt nhão, vô sắc vị. Hãy ôm mặt mình, lần sờ xem còn bao nhiêu nét còn hằn lên. Buộc phải chạy lùi, để chui rúc trong gầm bàn, ghế, những rãnh nứt từ bàn, ghế dù chỉ để nhét nửa cái đầu vào. Rắn, hãy còn đây. Một cú táp, đủ đau và đủ độc để kết liễu sự hiện hữu một cái mặt, vốn gãy nát. Cơn đau chẳng thấu tim, và có đáng lắm không so với việc tạm bợ trong ngăn kéo bàn, ghế. Hít một hơi sâu, rồi thở phù. Sự khỏe khoắn vốn chẳng thể ăn mày. Tôi lơ lửng trên nóc tòa thị chính. Cái chết đứng. Cái chân độc nhất và duy nhất cắm phập nóc thị chính như bám rễ. Cái chết thẳng mình trước mọi cơn gió và đánh bại mọi cú quất đuôi, mổ độc của loài rắn đỏ. Lũ rắn lẩn đi, kéo vội vã thứ phẩm độc tố vào các bụi cây.

Đau đầu, ôi đầu đau như có máu ứ trong não. Họ nói với nhau. Nóc thị chính có vật cản, một lưỡi kiếm cắm xuyên vào sọ. Họ với gọi nhau hạ xác xuống.

Trời đổ mưa, mưa không đỏ, mưa tanh, mưa không máu.

Mưa tanh.

 

TRU SA

 

Dạo khúc 24

 

Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Kể cả những người đàn bà quên trang điểm trước giờ hấp hối
Hay những thai nhi – chưa sinh ra – đã lìa đời.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Kể cả những tình nhân chết đêm vượt biển
Xác đàn ông nằm im dưới đáy
Xác đàn bà chẳng biết trôi đâu
Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.

NGUYỄN QUANG TẤN

ly 10

( cho Big Boss)

giữa những ngày qua rất vắng
giữa những ý nghĩ chưa nghĩ cho ra vuông ra tròn
giữa đêm mà nỗi nhớ chưa chở đi hết từ quên
ngủ đi Ly

tôi đã từng thèm một tiếng nhắc nhở như thế
đêm thiên hà lạnh và buốt
đêm thiên hà sâu và trắng
nỗi đau cũng chưa chở đi hết từ quên
tôi cần nghe tiếng nhắc từ B
ngủ đi Ly

những bài hát nghe đi nghe lại đến cũ mèm
rã rời từng giọt âm vỡ nát
rơi tí tách ( không như mưa ) như những giọt nước trong dây truyền dịch
những lời ca nghe buốt sống mũi
những ẩn nghi vẫn còn đó
chưa hề được giải mã
những kí tự lạnh trơ ở nơi chờ đợi dấu bấm hình mũi tên
đã không bao giờ còn được xuất phát

ngủ đi Ly
lần này tôi tự ru mình
bởi không còn ai nhắc
về nơi thế giới bỏ quên

Hoàng Phương Uy

 

CÕI TÀN PHAI

 

Thôi nhé em yêu! Chiều đã tắt!
Nắng tàn phai rụng dưới chân ngày.
Thương nhớ một đời như sương khói
Hoa mộng đầu nở trắng hai tay!

Anh không thể níu mùa xanh lại
Tóc huyền xưa mắt biếc môi hồng
Nghe tiếng gió: “Mình yêu nhau mãi”
Vòng tay ôm: Một bóng chiều không!

Sương tuyết thời gian đùn cỏ mộ
Đưa nhau về trong cõi tàn phai.
Trên đỉnh thu sầu màu trăng vỡ
Đường nhân gian lạnh buốt đêm dài!

Người yêu hỡi! Trăng vàng suối ngọc
Cát mịn màng…sóng vỗ biển dâu.
Khoảnh khắc tình nồng thơm muôn thuở
Lời trăm năm vọng mãi nghìn thu!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

THÔI HÃY VỀ ĐI

Ngày hôm qua July 10,2015 Omar Sharif ra đi vào cõi thiên thu. Có lẽ người đời nhớ đến diễn viên gốc Ai Cập bằng những giải thưởng Golden Blobe cao quý. Nhất là qua hình ảnh của Bác sỹ Zhivago trong cuốn phim kinh điển cùng tên. Nhạc phim mang tên Somewhere My Love, Hỡi Người Tình Lara đã dìu dắt chúng ta đi vào một chuyện tình tay ba đẹp ngời trong tan tác đau thương của một thời loạn lạc khủng khiếp…Cuốn phim đi vào lòng người sâu lắng đến nghẹn ngào bởi Omar Sharif đã nhập vai và lột tả được chân dung và nội tâm của một bác sỹ đẹp trai, tràn đầy hồn thơ. Yêu hết mình, yêu cả vợ và người tình. Như yêu hết cả cuộc đời đầy tàn khốc mà đẹp thiết tha nọ. Yêu run rẫy như ngọn nến và những cơn giá băng trắng xóa một màu tuyết lạnh, buồn bã đi qua đời người.

Omar Sharif, as Yuri, and Julie Christie as Lara, in a publicity still for ‘Doctor Zhivago’, directed by David Lean, 1965. (Photo by Silver Screen Collection/Getty Images)

Riêng tôi nhớ hoài bộ râu của chàng. Bộ râu đen thẳm mà đẹp như một nét nhấn đậm đà trên khuôn mặt khắc khổ mà phúc hậu của một vị lương y. Ánh mắt thì yếu đuối và long lanh như chừng bất lực trước sự bất công, như thụ động chấp nhận hơn là phản kháng. Bộ râu sậm và đầy đó che phủ một bờ môi luôn khát khao tình ái. Tuyết rơi, rơi mãi, những bông tuyết trắng xóa hay hơi thở chưa kịp lên trời thì đóng băng ngay trên bộ râu. Những vệt trắng nặng trĩu. Bộ râu này làm tôi nhớ Clark Gable. Cũng bộ râu tương tự trong nụ hôn bão tố với nàng Scarlett O’hara. Ôi! khuôn mặt và nụ hôn ấy, làm mọi thứ thiết tha, cần thiết trên cõi đời này bỗng “cuốn theo chiều gió”. Trong đó gồm cả tình yêu, sự nghiệp, danh vọng, tài sản và ước mơ! Tấc cả cuốn theo chiều gió, một ngọn gió đời, ngàn năm thổi mãi, một thời mê hoan.

Ngày ấy có người con gái đi nhẹ qua đời tôi, nàng nói khi hôn tôi: hôn một người đàn ông không có râu, như ăn cháo không có muối. Những năm tháng ấy tôi để râu và bên mình luôn có bộ dao cạo Gillette. (Gillette, the best the men can be! Đó là quảng cáo của Gillette) Thực ra người Tây thì nói” Hôn một người đàn ông không có râu, như ăn trứng không có muối. Rồi ngay cả Jean-Paul Sartre cũng dí dỏm:  “A kiss without a moustache, they said then, is like an egg without salt; I will add to it: and it is like Good without Evil.” (Người ta nói một nụ hôn thiếu bộ râu, như ăn trứng thiếu muối; tôi sẽ thêm là: giống như cái thiện thiếu vắng cái ác). Chàng triết gia này cũng vòng vo với nhị nguyên, không có ác làm gì có thiện. Nhưng thật sự thì ăn trứng không có muối thì thật là “vô vị”. Nhạt lắm. Bạn có đồng ý rằng ăn trứng với muối thật là ngon, nhất là với trứng muối. Đậm đà và mềm trên môi, tan vào lưỡi…như một nụ hôn.

Trở lại cái chết của Omar Sharif, ra đi ở tuổi 83 thì chẳng có gì nuối tiếc. Vào tháng năm vừa rồi ông đã bị Alzheimer, suy giảm trí nhớ. Ông không còn nhớ cuốn phim nào đã làm nên tên tuổi lẫy lừng, Doctor Zhivago hay Lawrence of Arabia. Ông quên hẳn chúng đóng ở đâu và mình là ai! Và ngày hôm qua, ông ra đi sau cơn trụy tim trong bệnh viện ở Cairo, Ai ​C​ập.

Trong cuốn phim Doctor Zhivago, bác sỹ Zhivago cũng bị trụy tim đột ngột và chết trên đường phố, khi chàng ngỡ mình trông thấy Lara bước đi bên kia v​ỉ​a hè, mái tóc buộc gọn trong khăn quàng, chàng rời xe điện, hối h​ả​ chạy theo nàng, dáng nàng đáng yêu thon mảnh như ngày nào đang vô tình bước nhanh bên kia xa. Chỉ cần một vài bước vội, chỉ cần một vài cánh tay với, chàng sẽ níu được nàng quay lại để tương phùng trăm năm, chàng thốt lên Lara, qua bờ môi rung cảm ấy, qua bộ râu mặn mà sầu khổ ấy. Trái tim nhói đau và buông xuôi tiếng đập. Trái tim mệt m​ỏ​i thôi còn thao thức. Chàng ngã qụy trên đường và bóng nàng không hay biết xa xăm.

Căn bệnh Alzheimer đến vào cuối đời Omar Sharif là niềm vui hơn là tai họa. Tám mươi ba mùa tuyết trắng cũng đủ làm đầy cuộc đời này. lãng quên đôi khi là điều hạnh phúc. Bởi trí nhớ nhỏ nhoi mà sợi tóc nàng ​Lara bị cuốn trọn​ trong khăn quàng che ấm những mùa băng tuyết tàn khốc trong trại tập trung, sợi tóc nàng thôi lay bay bên kia ​vỉa hè mà ​đường​ về​ thì dài.

Có sợi tóc nào bay
Trong trí nhớ nhỏ nhoi (TCS)

 

Xin khép lại những dòng này đ​ể​ nhớ về một giai điệu đẹp Hỡi ​N​gười ​T​ình Lara, một diễn viên đẹp Omar Sharif, một nhân vật đẹp bác sỹ Zhivago. Thôi về hãy về đi. Hương trầm có còn bay. nén nhang lòng cho ai.

 

Sean Bảo