Mùa Hạ Về Thành Nội

Bây chừ hoa phượng nở
Rưng rưng chiều nội thành
Ta về phơi thương nhớ
Bên đường kỷ niệm xanh

Một mình đi loanh quanh
Kiếm tìm mùi hương cũ
Phượng nở ,sen cũng nở
Sao không nở tình em ?

Ngó mô cũng thấy phượng
Rợp cả trời cố đô
Chiều rơi tiếng đàn nhớ
Trong tim người mơ mơ…

Tìm đâu ra em hở
Tôn Nữ của ngày xưa?
Một thời ai nghiêng nón
Sửng sốt hồn trai tơ!

Bây chừ hoa phượng nở
Mình xa nhau thật rồi
Chao ôi! Tình một thuở
Mà đau suốt một đời…

Trần Dzạ Lữ

mưa

giận hờn rên rỉ đau thương
mưa than thở níu buồn vương trăm chiều
ngõ về một sớm cô liêu
ôm muôn mối đã có nhiều đam mê
tình ta nay quá ủ ê
thứ cay đắng đã ê chề mông mông
dật dờ mưa bước qua sông
một đàn chim én thong dong đan mùa
buồn về moi ký ức xưa
là man mác một lần mưa ru hồn
là tiếng khóc đêm mưa tuôn
lòng ngân gót guốc em tương tư về…

Đồ Dõm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa 1

NMTCMNBT1768114

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Tears Before the Rain, Nước Mắt Trước Cơn Mưa, là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann, giáo sư khoa sử của đại học San Jose, California và được Nguyễn Bá Trạc, tác giả của Ngọn Cỏ Bồng dịch ra tiếng Việt.

Như trong một video clip phỏng vấn mình, tác giả Larry Engelmann cho biết mình không phải là nhà văn mà chỉ là người kể chuyện, storyteller, đến với sách vở chữ nghĩa chỉ là một sự tình cờ. Ông sinh năm 1941, lớn lên tại một thành phố nhỏ ở tiểu bang Minnesota. Ngay từ nhỏ ông đã say mê nghe người lớn, trong số đó là những người trở về từ Thế Chiến Thứ 2, kể chuyện. Ông say mê nghe người ta kể chuyện rồi từ nghe ông lại trở thành người kể chuyện. Nên không có gì lạ khi ông mê môn sử và chọn sử là ngành mình theo học khi lên bậc đại học, và học xong, ra trường lại đem chính cái tài kể chuyện của mình ra dạy môn sử tại đại học San Jose, California. Lương dạy học không đủ chi phí cho gia đình, ông mới viết và gửi bài cho một số báo để kiếm thêm tiền. Tài kể chuyện của ông khi đưa lên trang giấy lại gây lôi cuốn và xúc động cho người đọc, và ông thành nhà văn, không, ông thành nhà kể chuyện, storyteller, storyteller for money, người kể chuyện để kiếm tiền, như ông xác nhận mình là ai và vì sao viết.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa xuất hiện cũng là sự tình cờ như vậy. Khởi đầu ông gửi cho một nhà xuất bản 38 trang đầu tiên ông mới viết nháp để thăm dò. Chỉ đọc xong 38 trang bản thảo, đúng 11 giờ khuya, nhà xuất bản gọi điện thoại cho ông, trước tiên cho ông biết, theo lẽ thường, những cú điện thoại của bác sĩ gọi 11 giờ đêm là tin xấu, còn của nhà xuất bản là những tin tốt lành. Nhà xuất bản đề nghị ký hợp đồng xuất bản cuốn sách, và vì cuốn sách chỉ mới có 38 trang, nên đưa ra thời hạn trong vòng 12 tháng, ông phải hoàn tất và giao bản thảo cho nhà xuất bản và nhà xuất bản ứng trước cho ông 175 ngàn đô.

Cú điện thoại 11 giờ khuya của nhà xuất bản với 38 trang đầu là như vậy, nên bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc Tears Before the Rain qua bản dịch của Nguyễn Bá Trạc mà Tương Tri được phép của dịch giả Nguyễn Bá Trạc sẽ đánh máy lại và đưa lên.  Xúc động, xúc động và xúc động như hai câu thơ đầy định mệnh:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Tuongtri.com

8111_engelmann_larry

_________________________________________

L Ờ I   M Ở   Đ Ầ U

Cuối tháng giêng 1975, một đàn ong đông đảo bất thường chợt bay xuống Sài Gòn. Đàn ong đậu trên hai tòa cao ốc làm mọi người trong nhà sợ hãi chạy ra. Sau đó vài người bạo dạn quay lại tính xông khói đuổi ong đi Tiếp tục đọc

GỌI

Bất ngờ tôi gọi tôi ơi
Nghe thinh không đáp vọng lời hư không
Nghe tan từng giọt máu hồng
Trong hơi thở đã ẩm nồng đau thương

Tôi trong cõi mộng vô thường
Bước chân xuôi phía lạc đường vời trông
Sông trôi dài dọc đời sông
Mây bay suốt cuộc phiêu bồng đời mây

Mở bàn tay khép bàn tay
Cũng không níu giữ được ngày tháng qua
Con người giữa cõi người ta
Tôi, và tôi, và tôi, và… tôi ơi!

Tạ Văn Sỹ

Người lính trong TRUYỆN TỪ VĂN* của Trần Hoài Thư

Trần Thị Nguyệt Mai

bia-truyen_tu_van-1

Trong bài giới thiệu về tác giả Trần Hoài Thư của nhà văn Mai Thảo đăng trên tạp chí Văn ngày 1-3- 1972, ông đã viết:

“…Người đọc có thể chê trách người lính bệnh của Trần Hoài Thư trong Bệnh Xá Cuối Năm đã đề cập tới những chủ đề lớn như chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, đoàn viên và thương yêu hai miền, bằng một tâm hồn quá đơn giản, thơ ngây. Người lính của chúng ta hiền quá. Hiền thật. Làm thế nào được. Dân tộc ta hiền, mãi mãi hiền, mặc dầu đã hai mươi năm lâm trận. Cái tính hiền đó được biểu hiện cùng khắp trong những truyện ngắn về tiền đồn, về mặt trận, của Trần Hoài Thư, mà Bệnh Xá Cuối Năm là một.”

Thật vậy, trong các truyện ngắn của anh trong tập “Truyện từ Văn” (*) mà tôi hân hạnh được đọc, nổi bật lên hình ảnh người lính VNCH thật hiền, dù là khi nằm trong bệnh viện hay khi đang lâm trận, hoặc ở bên người em, người tình. Họ chỉ có một mơ ước duy nhất, là ngày hòa bình mau trở lại để trở về với làng quê, xóm cũ, bên cha mẹ già, lấy vợ sinh con. Thôi không còn những ngày nằm mương nằm mả truy lùng địch. Không còn hỏa châu, trái sáng, tiếng đạn bom trên quê hương đã quá nhọc nhằn.Rồi tôi và lũ bạn ở trong trại bịnh sẽ dắt dìu nhau, kẻ chống nạng, người băng bó đầy mình, kẻ tóc râu như con dã thú, kẻ xanh xao, ốm yếu như một tên nghiện thuốc phiện… Chúng tôi sẽ mở cánh cửa sắt của bệnh xá này, trải con tim thật nhạy cảm cùng nhân loại, để làm một cuộc duyệt binh thật vĩ đại cùng những người đang lâm chiến. Họ ở Trường Sơn xuống. Hạ Lào qua. Cao Miên lại. Họ từ muôn nơi tụ hội lại, cùng bắt tay nhau, cùng chúc mừng nhau, cùng nghẹn ngào chào nhau. (Bệnh xá cuối năm – trang 12)

Họ mang một trái tim nhân hậu, không phân biệt đối xử ngay cả với tù binh. Các tù thương phế binh miền Bắc được săn sóc như những người lính miền Nam. Chứ không phải như ngày hòa bình mới lập lại, kẻ chiến thắng đã đuổi tất cả các thương bệnh binh VNCH đang nằm dưỡng thương ra khỏi quân y viện… Anh Trần Hoài Thư đã nhìn, đã tả người lính phía bên kia bằng con mắt anh em, rất người, rất bao dung Tiếp tục đọc

ĐẠO LONG, EM CÓ BAO GIỜ

Tặng Vân Nga

Em có bao giờ nhớ đến ta
Niềm riêng xin gửi lại quê nhà
Nhớ mưa ngày hạ mưa chiều tối
Gió thật hững hờ đến xót xa

Em có bao giờ biết đứng trông
Ngẩn ngơ theo lớp nắng mai hồng
Nhìn mây rồi nhớ mây đồng nội
Và khóc vô cùng như nước sông

Đã một lần mơ vạn lúc thương
Hồn nhau mấy nỗi cũng vô thường
Bỗng dưng tha thiết trong ngày tháng
Nên lúc xa thôi rất dễ buồn

Em có bao giờ hiểu đến ta
Âm thầm thương nhớ thật thiết tha
Đã yêu từ đó đêm hôm đó
Và đợi mùa mưa mưa thật thà

Một thoáng em ơi đã vạn sầu
Bởi buồn lãng mạn dễ thâm sâu
Ngàn năm mộng chẻ đôi hồn trí
Lá cỏ vô cùng thật nhớ nhau

Em có bao giờ biết đến không
Ta đi nhớ cũng xót xa lòng
Tương tư nào đã đầy thân thể
Yêu mến vô cùng em Đạo Long

NGỌC THUỲ KHANH

(Bài thơ này được đăng trên tuần báo Tuổi Ngọc năm 1971)

Thân gửi Tuongtri.com!

Duy Nguyên, bạn tôi ở SG vừa phôtô gửi về một số bài thơ của tôi đã đăng ở Tuổi Ngọc vào năm 1971 mà bạn tìm được. Thật tình cờ, trong trang thơ lúc đó, ngoài một số bài thơ ngắn của tôi, còn có bài thơ “Đạo Long, em có bao giờ” của nhà thơ Ngọc Thuỳ Khanh quê ở Phan Rang. Người anh mà tôi quen sau năm 80 và đã mất cách đây vừa tròn 5 năm.

Đề nhớ về anh, nhà thơ từng có bài đăng trên Tuổi Ngọc ngày xưa. Tôi gửi đến bài thơ trên nhờ Tuongtri đăng lại với sơ lược về tiểu sử của anh:

Nhà thơ Ngọc Thuỳ Khanh sinh năm 1945 tại Phan Rang, Ninh Thuận. Trước 75, anh tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt, làm văn nghệ cùng thời vời các anh Tô Đình Sự và Trần Mị Huyền (đã mất), Trần Huyền Thoại, Chu Trầm Nguyên Minh…. Có thơ đăng trên các báo lúc đó, trong đó có Tuổi Ngọc. Sau năm 75, anh làm công nhân và có thơ đăng trên VN NT và một số tờ báo khác. Năm 2002, có xuất bản tập thơ “Chỉ hai mùa ở đó”. Anh mất vì bệnh vào ngày 04/3/2008 tại Phan Rang.

Trần Văn Nghĩa

TÂM TRẠNG

Ta vẫn như mọi ngày
Đi về riêng một bóng
Qua sông,thầm nhớ sóng
Về nhà , nhớ cô đơn
Ta vẫn như con đường
Lên núi, xuống vực sâu
Lúc đã hết chiêm bao
Nhìn lại mình thất vọng!
Ta vẫn như giấy mỏng
Chín giữa rừng hoang vu
Tay khoác vào sương mù
Tìm ra không ánh nắng!
Ta cũng như dĩ vãng
Còn đọng lại hôm nay….

NGUYỄN NHƯ MÂY

chữ ngược

du nga  ɐbu np

chunguocdn

1.
Cuối năm, Du ghé bác Dõng, kỉnh quà tết. Bác là bạn vong niên, Du tuổi nhỏ cỡ hàng cháu, được bác yêu xưng em.

Lâu nay vẫn thích cái phòng khách bé bé nhà bác. Trần xanh dương, vách phía đỏ phía vàng, nền gạch trắng, bộ ghế bọc simili đen. Trên bức vách đỏ một phía treo bộ tranh tứ bình bốn cô thiếu nữ, một phía kệ gỗ đen chưng các đồ nho nhỏ kiêm bàn thờ gia tiên nội ngoại, cũng đủ lư hương chân đèn bằng đồng xinh xẻo. Trên bức vách vàng, treo một chữ Phúc thếp vàng nền giấy đỏ khung đen. Ngày tết, căn phòng càng trang trọng với hoa tươi, mâm ngũ quả, khói nhang thơm phức mùi trầm.

Lâu nay, Du cũng ngứa tay học thư pháp. Hết thư pháp chữ Việt, giờ chuyển qua thư pháp chữ Nho. Cũng võ vẻ dăm chữ lận túi để rồng bay phượng múa: chữ Tâm, chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Thọ, chữ Nhẫn, chữ Đức, chữ Tài… Người ta cũng chỉ xin ngần ấy chữ mà thôi! Mới học được chữ Tửu, xuân này hí hoáy tặng bạn bè thân hữu chơi!

Trong khi bác Dõng loay hoay lấy nước, Du thấy trên quả dưa hấu của mâm ngũ quả có dán một chữ Nho là lạ. Nhìn kỹ thì hóa ra là chữ Phúc dán ngược. Sao thế nhỉ? Chắc là mấy đứa cháu trong nhà dán nhầm!

Hai “anh em” chuyện vãn một hồi, quay ra chuyện chữ nghĩa.

2.
À cái chữ trên quả dưa là anh dán đấy! Không phải các cháu dán nhầm đâu. Đây là tục của người Hoa, đến tết, họ dán chữ Phúc ngược. Phúc ngược là Phúc đảo, đồng âm với Phúc đáo – Phúc đến nhà. Ý là mong ngày đầu năm, phúc đến nhà mình Tiếp tục đọc

MẤY NHỊP CẦU TRE

Mười năm trở lại thăm làng cũ
Gặp lại chiều mưa ướt bờ cau
Con chích choè đâu không hót nữa
Mưa bây giờ chẳng thể mưa ngâu

Anh vịn cầu tre theo lối nhỏ
Mười năm cô bạn đã thay lòng
Bơ vơ hương rụng sân cau nhỏ
Lạc loài giọt mái chảy ra sông

Có những chiều mưa buồn viễn xứ
Nhớ em, nhớ má, nhớ bờ cau
Nhớ ngôi trường nhỏ ngày hai buổi
Ngày xưa lắt lẻo mấy nhịp cầu

Mười năm trở lại thăm làng cũ
Em xa khói bếp lạc chiều mơ
Con chích choè xưa giờ trốn lạnh
Cầu ơi còn mấy nhịp đợi chờ?

BÙI DIỆP