Những ý nghĩ rời nhân tháng tư

Nguyễn Hoàng Quý

15823752-md

Anabela Sequeira, Forgotten Hero of the Tides

“Tháng Ba đã qua rồi và mùa hè sắp đến. Mỗi ngày với em đang là một kì diệu được trông đợi anh à.” (Trích thư của một bạn nhỏ, ba mươi tám tuổi)

1.

Tháng tư, những bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhân kỷ niệm 12 năm ngày mất của ông trên blog, trên FB, trên internet, những chương trình ca nhạc tưởng niệm ở các thành phố lớn, hát nhạc TCS ở các quán café tỉnh lẻ cho thấy rằng công chúng yêu nhạc vẫn còn nhớ ông, nói cách khác, ông vẫn tồn tại đâu đó bên đời của nhiều thế hệ.

Cho hay, đàng sau mọi đồn đoán, mọi tị hiềm, mọi âm mưu, định kiến…bài viết của Trịnh Cung, Liên Thành… cả những bài ca ngợi, xưng tụng ông rồi cũng sẽ theo thời gian phai nhạt dần, chỉ còn lại nghệ thuật âm nhạc của ông trong lòng công chúng như của nhạc Phạm Duy, như thơ Bùi Giáng, như những tiểu luận về các vấn đề triết học của Phạm Công Thiện…

Tưởng nhớ TCS với tôi trong những ngày này, không hiểu sao tôi cứ nhìn thấy lại hình ảnh Khánh Ly trong một chương trình ca nhạc của đài THVN trước 1975 phát ở Sài Gòn khi Khánh Ly ở độ tuổi 30 giới thiệu bài “Để gió cuốn đi” trước khi hát. Tôi còn nhớ (gần như) nguyên văn lời giới thiệu này. Và tôi cứ lẩm nhẩm hoài để rồi viết comment cho một người bạn: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Ôi, cần biết bao, đáng quý và trân trọng biết bao …những tấm lòng bè bạn! Tiếp tục đọc

HẠ ĐỎ

Những sớm mai nhặt loài hoa Phượng Vỹ
Trên tay buồn nhung nhớ một thời yêu
Áo em ngoan khép nép…, nhớ thương nhiều
Trong ngăn cặp cất giùm chùm hoa đỏ

Trang lưu bút viết những dòng thương nhớ
Dòng chữ nghiêng nhỏ những giọt tím buồn
Ba tháng Hè nụ cười ấy còn vương
Anh về đếm thời gian bằng nhung nhớ

Anh về nhớ tóc ai bay trong gió
Những sợi dài vương vấn trói tình anh
Em hồn nhiên trao “Lưu Bút Ngày Xanh”
Mùa Hạ đỏ nở trên môi em đỏ

Chùm Phượng Vỹ hôm nào em còn giữ?
Thời gian rồi cũng phai nhạt mà thôi
Thời gian nào có giữ được lứa đôi?
Em xa mãi, con sáo rồi bay mãi…

Em sang sông đã quên thời thơ dại
Có loài hoa màu cứ đỏ trong anh
Mùa Hạ về Phượng Vỹ nở mong manh
Như một thuở đã trôi vào quên lãng…

Âu Thị Phục An

Để Mùa Đông Rực Nắng
Thơ Âu Thị Phục An
Nhạc Trần Quang Lộc

 

Ngăn Cách

Năm tháng theo nhau, thôi không còn vói tới
Trời mưa dầm xứ Huế lạnh xương da
Nụ cười ai ấm lòng trên bến đợi
Những chuyến đò ngang chở mộng kiêu sa.

Không vói tới những ngày say nắng hạ
Huế ru trầm hợp tấu của bầy ve
Nàng tôn nữ nghiêng đầu trong nón lá
Mộng mười lăm xanh mát lối đi về.

Không vói tới nhịp cầu nâng gió nhẹ
Buổi tan trường áo trắng phất phơ bay
Ríu rít lời chim ngọt ngào giọng kể
Mẩu tâm tình trong suốt rất thơ ngây.

Không vói tới cổng trường xưa nếp cũ
Sách vở ngàn năm kể chuyện rồng tiên
Huế điên đảo thương ông già Bến Ngự
Nước sông Hương chuyên chở một lời nguyền.

Không vói tới Huế nghèo xơ xác đó
Rách cho thơm nhân cách giữ giùm nhau
Tiếng hò nghe u trầm như nỗi nhớ
Thành quách kiêu hùng lặng đứng tiêu hao.

Không vói tới từ dặm ngàn đất khách
Vượt không gian dù chỉ một đường bay
Thoắt quay lại đã muôn trùng ngăn cách
Nỗi quê hương thao thức mãi phương này.

Thanh Nhung
Los Angeles, 23/10/1999

Tác giả sinh năm 1941 tại Nha Trang và nơi sinh cũng là tên: Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang. Bút hiệu: Thanh Nhung. là con cả của nữ thi sĩ Tâm Tấn và nhà văn B.Đ Ái Mỹ, thuộc dòng dõi vua Minh Mạng và thi hào Tuy Lý Vương.Theo học Võ Tánh Nha Trang, Quốc Học Huế, Đại học Văn Khoa Sài Gòn.
1963 – Du học Nhật, Mỹ. Năm 1973 lấy bằng Tiến Sĩ Đại Học California ở Berkeley với luận án: Vai Trò Truyền Thống của Phụ Nữ phản ánh trong văn học truyền khẩu và văn chương viết của Việt Nam.
Nói được 5 thứ tiếng, chu du 20 quốc gia, Giáo sư Đại Học của 4 nước: Malaysia, Mỹ, Nhật và Thái Lan.
Và là chị của nhà thơ Phù Du Vĩnh Hiền.

LÃO QUÈ.

Nguyễn Đức Diêu

Old-Asian-Man---Complete-1

Lão Què vo tròn miếng thuốc lào thành viên bi nhỏ rồi nhét vào nỏ điếu cày.  Lão châm đóm, rít một hơi dài sảng khoái rồi nhả khói mù mịt, những cụm khói theo gió nhẹ bay lên trời trong ánh đèn đêm vàng nhạt.  Lão nâng chén trà Thái Nguyên lên và làm một ngụm nhỏ.  Trà ngon thật! Lão thấy tỉnh táo ra và bắt đầu câu chuyện…

Không ai biết rõ gốc tích Lão Què ra sao cả, chỉ thấy lão đóng đô ở cái sân ga Hoà Hưng này không biết từ bao giờ.  Cứ mỗi buổi sáng, lão Què lại lấy vé số đi bán.  Không biết có phải nhờ mồm miệng lão dẻo hay là lão có duyên với nghề mà lão bán khá lắm, ngày nào cũng hết vèo trăm tờ vé số.

Tối về, sau khi ngồi xề xuống gánh cơm của cô bé An- lão thường gọi cô hàng cơm là vậy- dù là cô bé nầy cũng hơn hai mươi rồi.  Lão chỉ độc ăn món thịt kho tàu hũ, hột vịt.  Cô bé khỏi cần hỏi, thấy lão ngồi xuống là làm ngay một dĩa cơm thịt kho tàu hũ, hột vịt thêm ít dưa giá bên trên là xong Tiếp tục đọc

ÁO NGUYỆT VÔ THƯỜNG

Và nơi đó em về, tôi ở lại
Chút nợ tình mãi nặng đến hôm nay
Nỗi nhung nhớ theo thời gian lớn mãi
Tội thân tôi nghiệt ngã kiếp lưu đày

Gió vẫn thổi hoang liêu trời huyễn mộng
Tôi đợi ai,thăm thẳm khói sương ngàn
Vai oằn đau trong cõi đời tuyệt vọng
Bến bờ nào mong ngóng nắng đoan trang

Tóc xưa buộc bẽ bàng trao tay khác
Rối đời nhau qua nhát chém dao tình
Để góc tối quẩn quanh hồn xiêu lạc
Giả dối nào sao tôi lại cả tin?

Áo tình rách thật thà tôi vẫn giữ
Nhưng chẳng đâu xoá được dấu tích buồn?
Em đem đốt bài thơ chưa hề cũ
Chút khói còn vương vấn tuổi hoàng hôn

Thôi cố nhớ, mà dỗ dành phải nhớ
Chuyện hợp tan đâu riêng của bọt bèo
Tóc đã bạc hơn nửa đời bão gió
Vẫn mơ tìm áo nguyệt giữa Nguyên Tiêu

TRẦN VĂN NGHĨA

TÌNH YÊU KHÔNG CÓ LỖI BAO GIỜ

Anh muốn khóc trong lần ta gặp lại
Em tươi cười như không thể vui hơn
Mắt che giấu bao điều không thể nói
Và một nỗi buồn chẳng dám buồn hơn.

Em sẽ khóc khi anh rời ghế đá
Dưới tàng cây lá úa rụng bao mùa
Bụi kỷ niệm quanh đời ta lả tả
Góc vườn xưa hai đứa đã già nua.

Em vẫn đứng phía bên này vạch cấm
Vạch cấm mà em đo vẽ cho mình
Em tự nguyện xây cho mình ngục lạnh
Ngục lạnh để em giam hãm cuộc tình.

Anh vẫn biết lâu rồi em đã khóc
Bởi làm sao em lừa dối chính mình
Anh vẫn biết nhiều đêm em trằn trọc
Bằng cách nào xua đuổi bóng hình anh?

Anh sẽ đợi như kiếp nào vẫn đợi
Dù muộn màng dù tóc đã phai thu
Bởi tình yêu không bao giờ có lỗi
Ta đợi nhau một nụ hôn đầu.

HỒ VIỆT KHUÊ

QUÁN CÁI CHÙA

Từ Kế Tường

582291_145854358915323_38386526_n

Nằm ở góc ngã tư Lê Thánh Tôn – Đồng Khởi Q1 có một quán cà phê nổi tiếng trước năm 1975 mà dân “sành điệu” nào cũng biết, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, đó là quán cà phê La Pagode được gọi nôm na là quán Cái Chùa. Quán không rộng lắm, khoảng 60 m2, đặt chừng 10 cái bàn gỗ mặt vuông, ghế ngồi rộng, cũng bằng gỗ có thành dựa, cửa kính dày hai mặt, khách ngồi uống cà phê có thể nhìn ra thông thống một khoảng không gian rất đẹp của khu công viên Chi Lăng nằm chếch ngã tư. Công viên này có rất nhiều cây cổ thụ, cao to, thẳng tắp, đường kính thân cây cỡ hai vòng tay người ôm mới hết, thân cây với lớp vỏ sần sùi, mốc trắng. Buồi sáng, buổi chiều lớp võ sần sùi, mốc trắng màu thời gian này tùy theo sắc độ mà ánh lên trong mắt người nhìn bằng sự cảm nhận tổng hòa cả thời gian, không gian không chỉ là một thứ màu sắc mà còn là sự hồi tưởng, chất chứa kỷ niệm. Nhất là khi có những cơn mưa nhỏ, giọt lất phất như bụi từ trên những tán cây chảy xuống lớp võ sần sùi khô mốc ấy thì thật giống như một bức tranh sơn dầu với gam màu nhạt, bảng lãng, đầy sức quyến rũ và lay động lòng người.

Quán Cái Chùa của ông chủ người Pháp và dĩ nhiên cung cách phục vụ cũng theo kiểu Pháp. Nhân viên phục vụ mặc đồng phục áo sơ mi trắng, quần tây đen, thắt nơ con bướm ở cổ áo, nói tiếng Pháp tiếng Anh thông thạo và rất lịch sự. Tất nhiên, khách vào quán uống cà phê cũng thuộc thành phần trung lưu, lịch sự, đa phần tuổi trung niên trở lên, thỉnh thoảng mới có một nhóm khách thanh niên “con nhà” hay cặp tình nhân vào quán tìm một chỗ tâm tình lịch sự, yên tĩnh tuyệt nhiên không có khách tuổi choai choai, nhí nhố và không hiểu từ bao giờ quán Cái Chùa trở thành địa điểm gặp gỡ của giới nhà văn, nhà báo và tùy theo “chiếu” mà tập trung ngồi từng nhóm, ở những cái bàn gần như cố định, không thể có trường hợp ngồi lộn “chiếu trên”, “chiếu dưới”. Cũng xin nhấn mạnh rằng giới nhà văn, nhà báo trước năm 1975 phân chia đẳng cấp rất rõ rệt mà lúc bấy giờ gọi là “chiếu”. Có hai nhóm nhà văn, nhà báo thuộc đẳng cấp “chiếu trên” lúc bấy giờ là nhóm Sáng Tạo và nhóm Văn Nghệ thường đóng đô ở quán Cái Chùa, ngồi ở hai bán khác nhau. Nhóm Sáng Tạo gồm có Mai Thảo, Thanh Tâm tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp, Thanh Nam, Cung Tiến (tức Thạch Chương)…nhóm Văn Nghệ gồm có: Trần Dạ từ, Nhã Ca, Nguyễn Thụy Long, Viên Linh, Trần Đức Uyển (Tú Kếu), Tô Thùy Yên, Nguyễn Nghiệp Nhượng…nhóm Văn Nghệ còn được gọi là nhóm “kính trắng ống vố” bởi họ mang kính cận thị ngồi uống cà phê miệng ngậm tẩu thuốc (pipe) phì phà khói thuốc rất điệu nghệ, đầy chất lãng tử Tiếp tục đọc

BỐN MÙA THIỀN MỘNG

mùa thu còn để bên bờ
hẫng chân tôi bước trật mùa xuân xanh
mộng đầy hơi thở lữ hành
đan điền chấm lửng tròng trành mộng ra
chân mòn con dốc ghé qua
băng triền núi lở mưa sa cuối hè
chập chờn hoa phượng lắng nghe
hoa mai trổ nụ, hoa chè trổ hương
bốn mùa hạt nảy bốn phương
xuân thu nhảy với vô thường hạ đông
hai vai trần thế quay mòng
chợt đâu nắng vội trong lòng mưa xuân
đan vui từng chặng xen buồn
cũng còn mộng ảo soi gương mỗi đời
soi người rồi lại soi tôi
hằng hà bào ảnh phân đôi số phần
bao nhiêu chìm nổi xa gần
nửa xoay huyễn tượng, nửa quần nhân sinh
từng cơn sấm chớp thình lình
bốn mùa tung toé thân mình lại rơi
con đường lữ thứ xa xôi
dài từ thiên cổ đến tôi là cùng
tự nhiên có bỗng là không
tự nhiên hữu bỗng nảy bông không thời
thì chơi tận cuộc sinh sôi
bốn mùa chắc đủ nguôi ngoai gọi là.

Phù Du
1996

HỌA

Bỏ người
ta vẽ chân dung
Bỏ người
ta thấy trùng trùng cõi xa
Bỏ ta
ta vẽ đời ta
Bỏ nhau
ta vẽ ngựa già ngủ im
Bỏ ngày xưa
bỏ trái tim
Ta lang bạt tự kiếm tìm xót đau
Bỏ đời rồi bỏ đời nhau
Bỏ trăng chết lạnh bỏ sầu khói sương
Bỏ rừng tuổi lá thơm hương
Bỏ sông để gió làm buồn sóng chao
Bỏ người tôi bỏ đời nhau
Bỏ thiêng liêng…ngẩng mặt chào cõi không…

VŨ HỮU ĐỊNH

( Vũ Hữu Định toàn tập -Thư Ấn Quán xuất bản)

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung  (1942-1981) sinh tại Thừa Thiên, sống nhiều nơi ở Tây Nguyên,  lập gia đình và định cư tại Đà Nẳng.  Làm thơ từ thập niên 60 và đăng báo rải rác.  Sinh thời anh chưa có tác phẩm nào được xuất bản nhưng anh là người rất nổi tiếng vì đã có công đưa thành phố núi Pleiku đầy sương và bụi đỏ vào trái tim của mọi người…

Nước Mắt Trước Cơn Mưa 2

1768114

LỜI MỞ ĐẦU

(tiếp theo)

…Tuần lễ đầu của năm 1975, Bắc Việt chiếm Phước Long. Hạ thủ tỉnh này là một ý định trắc nghiệm. Bằng sự vi phạm Hiệp định một cách trắng trợn như vậy , miền Bắc muốn xem phản ứng của Mỹ ra sao. Nhưng không có phản ứng nào của Mỹ cả. Nói cho đúng, Mỹ có vẻ không quan tâm đến việc Bắc quân làm gì ở miền Nam nữa. Tháng sau đó, khi Phái đoàn Quốc Hội Mỹ đến viếng miền Nam. Bắc quân hoạt động rất ít. Phái đoàn này đến để lượng giá tình hình quân sự, tư vấn cho Quốc Hội và Tổng Thống Mỹ về việc tiếp tế Quân viện và viện trợ nhân đạo. Vài ngày sau khi phái đoàn Quốc hội Mỹ rời Việt Nam, Bắc quân đi nước cờ kế tiếp.

Ngày 10/3/1975 Bắc quân tung một trận tấn công mãnh liệt tối hậu. Họ đã biết chắc là Mỹ mất ý chí chiến đấu và cũng không muốn tài trợ cho sự độc lập của Nam Việt Nam nữa. Không còn e ngại Mỹ can thiệp, quân đội Bắc Việt khẳng định được rằng sau gần 30 năm dai dẳng. chiến thắng của họ và  cuộc thống nhất Việt Nam bằng vũ lực đã đến lúc hoàn tất.

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, miền Bắc chuyển xuống 100.000 bộ đội mới mẻ khỏe khoắn. Con đường , trước chỉ là lối mòn len lỏi giữa rừng già Việt Miên Lào, giờ đây đã trở thành một xa lộ nhộn nhịp với cả một hệ thống ống dẫn dầu chạy kèm theo đến tận tâm điểm miền Nam Việt Nam. Con  đường này giờ đây không còn bị các trận bom của máy bay B 52 đe dọa nữa.

Ban Mê Thuộc, thành phố cao nguyên rơi vào tay Bắc quân giữa tháng 3 . Cuộc kháng cự của Nam quân bị đè bẹp Tiếp tục đọc