KHI XA NHA TRANG

Cám ơn em nhớ quàng tay
Giữ cho anh chỗ sáng nay vắng người
Giữ cho anh chỗ trong đời
Trú thân những lúc tơi bời gió mưa.

Quán quen trống một ghế thừa
Không anh ai chắn gió lùa phía sau
Bờ vai anh dẫu hư hao
Mời em nương tựa đời nhau xế chiều.

Cám ơn em quàng tay yêu
Dặm dài gót mỏi hồn xiêu anh về.

HỒ VIỆT KHUÊ

Lời Cuối Cho Một Bộ Trường Thiên

Nguyễn Mộng Giác

MuaBienDong

Phải chờ đến bảy năm bốn tháng, cuối cùng tôi mới viết được ba dòng chữ đơn giản sau đây vào trang bản thảo:

HẾT

Bắt đầu viết ngày 28 – 01 – 1982 tại đảo Kuku, Nam Dương.

Viết xong ngày 02 – 06 – 1989 tại Orange county, Hoa Kỳ.

Hồn tôi ngây ngây như người nhọc nhằn leo núi, lúc lên tới đỉnh chỉ thấy những khối đá tảng xù xì rêu phong, và nhìn trở xuống là một vực thẳm đầy mây. Viết xong bộ trường thiên Mùa Biển Động sau hơn bảy năm nhiều đổi thay nhất, tôi không biết mình đang buồn hay đang vui.

Tôi đang ngồi trên chiếc Toyota pick up đậu dưới một tàn cây cao ở công viên El Dorado thành phố Long Beach. Chính trên cái bàn viết di động tiện lợi này, dưới bóng cây công viên xanh mát này, tôi đã viết ba tập cuối cùng của bộ trường thiên. Khu công viên rộng rãi với những cây thông cao và những thảm cỏ xanh giúp tâm hồn tôi bình an để sống trọn với thế giới tiểu thuyết. Công viên thường vắng vẻ vào năm ngày thường trong tuần: bên này, chỗ tôi đậu xe ngồi viết Mùa Biển Động là khu bình dân dành cho những người già cả lái xe van ra đây nằm ngủ, những cặp tình nhân thiếu chỗ hẹn ra đây tình tự, những thanh niên thiếu nữ trẻ đầy sinh lực ra đây chạy bộ, chơi tennis, tập thể thao; bên kia hàng rào lưới là sân golf dành cho dân thượng Iưu. Khung cảnh ấy đã nhắc nhở cho tôi nhiều điều. Suốt ba năm nhìn thấy trước mắt bấy nhiêu cảnh vật quen thuộc, tôi khám phá ra rằng ngay những cảnh trí tưởng là đơn giản êm ả như khu công viên này cũng mang tính chất hàm hồ, phức tạp của đời sống. Cây cối bốn mùa thay đổi quanh tôi. Những cụ già đậu xe bên tôi bật cái tivi nhỏ đen trắng lên cho có hình và tiếng nói, rồi ngủ khì để bớt cảm thấy cô đơn. Những học sinh khỏe mạnh hiếu động tập thể thao trước tầm mắt tôi. Những cặp tình nhân khác màu da (thường chàng da đen và nàng da trắng tóc vàng) hôn hít đùa giỡn dưới một rặng thông xanh đằng xa, thì ngay trước mũi xe tôi, trên tấm xi măng Iề đường, ai đó dùng sơn xịt hàng chữ NIGGER GO… Tiếp tục đọc

THƠ CỦA ANH

 

Thơ đâu phải
lá bùa yêu
Mà con gái
cứ đòi theo anh hoài
Không cần
cau sáu bửa hai
Lá trầu cánh phượng
đợi ngày vu quy

Thơ đâu phải
ngải tình si
Mà con gái
đọc câu gì cũng mê
Bỏ giếng làng
bỏ sông quê
Thề cùng anh
bước chân đi
giang hồ

Thơ đâu phải
giấc mộng đời
Mà con gái
chẳng muốn rời
khỏi anh
Cũng may
mới sém nổi danh
Nên thiên hạ
sém vì anh
thất tình

Linh Phương

BÀI DUNG KHÚC

em ham chơi chưa hết mùa con gái
cười như hoa vui tiếng gọi mặt trời
nghịch như chim ăn dở trái chín cây
cây chín trái lòng anh rơi lăn lóc
em ham vui chưa hết ngày chim chóc
lời nhẹ nhàng nào anh trách cho đang
trời sinh chim hót cho cả mai hồng
cho vạn vật… có nhành cây nó đậu
lúc chợt hiểu ra thì anh đã khổ
lòng bao dung nào sánh nổi cây cành!
em ham đi chưa hết tuổi xuân xanh
như chim chóc thiên di theo thời tiết
anh trụi lá mùa trơ xương gánh rét
thèm như thông ngăn ngắt đứng đầu non
chẳng bao giờ thông dáng đứng cô đơn
tạo hóa cũng bất công cùng cây cỏ!
em mắc cỡ chưa hết thời au má đỏ
gió se đông có làm tái môi son?
sân lúa hồn anh nắng đã không còn
anh chỉ trách thời gian bày sớm, tối
chứ ai nỡ giận chim bay ù té
vì quá yêu nó liến thoắng tinh nhanh
em ham chơi mà đời lại ham giành
anh thua cuộc vì … cắn răng độ lượng
anh thua cuộc vì nghĩ mình… cao thượng
(có nghĩa là đau chới với em ơi!)
chiều hôm nay mưa nhỏ nhỏ, sầu đời
sao chim sẻ tung tăng đùa khúc khích?
em ríu rít cho anh buồn muốn chết!

Nguyễn Tất Nhiên

(Westminster, CA, ngày 22.10.87)    

Huế của tôi (2)

Đoàn Thị Lệ Thanh

TobaMika005

Toba Mika

(tiếp theo)

Sau khi tốt nghiệp lớp 12- năm 1974- tôi về Huế, thi đậu vô trường Đại Học Sư Phạm thì ở lại luôn. Nỗi lo thi cử và nỗi mừng khoa bảng trôi qua thì nỗi nhớ nhà , nhớ biển dày vò tôi tàn nhẫn. Thêm nữa, tiếng nhạc từ mấy quán chè bên kia đường cứ than vãn hằng đêm “ Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về….” . Nhatrang êm ả, nhưng vui hơn Huế.  Mỗi sáng đạp xe ra biển tắm, mỗi tối cũng đạp xe ra biển hóng gió, cuối tuần xếp hàng ở quầy vé Tân Tân, Minh Châu, chiều chiều rủ bạn ngồi nghe nhạc, ăn kem. Không có mục gì đặc biệt thì diện thiệt đẹp, lượn lên lượn xuống trên phố Độc lập, tạt vô nhà sách Văn Lang coi sách, nhất là những cuốn tạp chí in hình ca sĩ, tài tử ciné; hay vô mấy tiệm Ấn độ ngắm vải vóc, son phấn, nước hoa, cũng thú vị lắm. Huế cũng có rạp Tân Tân như Nha Trang, nhưng cũ kĩ hơn, và không nhộn nhịp bằng.  Qua bên kia cầu Tràng Tiền là phố, có nhà sách, có chợ Đông Ba, tiệm kem, tiệm chè nhưng không sầm uất như chợ Đầm. Tôi nhớ Nha Trang nên chưa mấy yêu Huế, quả là ở quê hương mà nhớ quê nhà. Thương tôi không bạn bè, lại xa gia đình, nên cả nhà ngoại chìu chuộng tôi đủ cách. Trong nhà, người ít chất Huế nhất là Cậu Hoàng. Cậu đang chờ ngày nhận nhiệm sở nên khá rảnh rỗi. Tôi ngưỡng mộ cậu lắm, đối với tôi, cậu là một nghệ sĩ, không chỉ ở ngón đàn Flamenco hoặc cổ điển tuyệt hay- nhờ cậu mà tôi được thưởng thức những bản nhạc bất hủ  như  “Jeux interdit” (Romance),  “ Rain and tears”, “Granada”– mà còn ở tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, lại dễ dãi xuề xòa. Nhưng với ông bà ngoại, cậu là đứa con có máu “nổi loạn” mà bà ngoại hay dùng từ “ bất trị” mỗi khi la rầy cậu. Tôi nghe kể năm cậu 17 tuổi, sau Tết Mậu Thân, cậu trốn nhà đi mấy ngày, tình nguyện xúc cát vô bao  để người ta xây hầm trốn pháo kích. Mấy ngày liền bà ngoại đau khổ ngồi ở hiên nhà ngóng cậu về. Sau này, khi nghe tin Ban Mê Thuộc thất thủ, tôi tận mắt thấy dáng vẻ còm cõi rũ rượi chờ đợi của bà ngoại.  Bà không ăn, không ngủ, ngồi bên cửa sổ, tay cầm cái radio nhỏ để nghe tin tức. Hễ bản tin đã hết, thì bà lại quay sang hỏi ông ngoại về tình hình chiến sự. Nhiều lúc tôi tưởng như bà ngoại bị mất trí. Trở lại chuyện cậu Hoàng . Cậu mê âm nhạc hơn ngồi chăm chỉ “tụng” bài,  cậu lén ghi danh học thêm vào buổi tối ở trường Âm Nhạc Huế, rồi thành lập ban nhạc. Ngoại rầy la dữ lắm mới bỏ ban nhạc trở lại học hành tử tế, đậu Tú tài, rồi đậu vô ĐHSP khoa sử địa, ra trường đậu cũng khá nên được chọn nhiệm sở ở  Ban Mê Thuột, thành phố gần Huế hơn cả trong danh sách lựa chọn. Cậu lại có trí nhớ đặc biệt, sách truyện thơ, đọc qua  một vài lần là nhớ làu làu. Mỗi bữa cơm hay lúc rảnh rỗi, cậu kể chuyện Tam quốc, Thủy hử, Tây du….. rành rọt như cầm sách đọc. Vì vậy cậu khá đào hoa, nhiều cô viết thư tán tỉnh cậu (Tôi không nghĩ rằng con gái Huế thì nhút nhát và kín đáo đâu ). Có lần, cậu kêu tôi và hai dì vô phòng, trải hai lá thư ra bàn, cười hì hì biểu ba chúng tôi đọc. Lạ một điều là hai lá thư của hai cô không quen biết nhau, mà viết cho cậu tôi lời lẽ y khuôn: “ Anh đến với em nhẹ nhàng và êm đềm như bướm lượn trên hoa”. Dì Trà và dì Thanh cùng cười phá lên: “ Sến dễ sợ, không biết chép chỗ mô ra rứa”. Hiện nay cậu sống ở Na Uy và đang chống chọi những cơn đau đớn của bệnh ung thư. Dù đối mặt với tử thần, cậu vẫn cười giỡn mỗi khi gọi cho tôi : “Ê con, Noel vui không? Cậu đi nhậu mấy bữa nay….” ( Cậu không uống được bia rượu, nhưng hay dùng từ “nhậu” để thay từ “ ăn”). Gần đây, cậu đã phải dùng morphin liều cao, nhưng giọng vẫn cứ vui: “ Ê, con…Phục sinh có chi vui không? Cậu bị shock thuốc phải vô nhà thương, uổng quá, mất mấy chầu nhậu! Mấy bữa ni cậu đau dữ dội lắm, con nhớ cầu nguyện cho cậu nghen”.  Rồi cười hà hà…Tôi nghe cậu cười mà chảy nước mắt Tiếp tục đọc

THÔI VỀ…

Thôi về, gác kiếm xuôi tay
Làm Vô Kỵ vẽ chân mày Triệu Minh
Người xưa mà cũng luỵ tình
Há chi ta kẻ hậu sinh bất tài

Thôi về , đọc truyện liêu trai
Thấy đêm vi vút có ai chung đường
Trần gian còn lắm tai ương
Tìm quên qua bóng vô thường nữ nhi

Thôi về , vứt bỏ hết đi
Chút danh lợi , chút sân si chao lòng
Mơ là phận gió đời sông
Lăn tăn như sóng , phiêu bồng như mây

Thôi về , tìm ở quanh đây
Trong câu thơ cũ nhớ ngày tháng xưa
Có con dế gáy đợi mùa
Có con diều thả đung đưa dưới trời

Thôi về , già hoá trẻ ơi !
Giung giăng giung giẻ chân đời hồn nhiên

TRẦN VĂN NGHĨA
Phan Rang 16/4/2013

GIỮA RÊU XANH BỤI MỜ

Thả chìm dưới cơn mưa
Những giọt buồn sóng sánh
Xòe tay buông kỷ niệm
Nhúm tro tàn tương tư

*
Nhìn mây vương đầu núi
Bay xuôi đọng phố mù
Lá mềm nghiêng cánh ngủ
Tiếng mưa đời thiên thu

*
Nhen trong hồn đóm lửa
Hong mảnh tình âm u
Tháng ngày xưa thức dậy
Gọi mùa thu xanh về

*
Cửa hồn người khóa chặt
Trái tim ta vụng khờ
Để suốt đời mòn mõi
Giữa rêu xanh bụi mờ

Trần Huyền Thoại

Huế của tôi (1)

ĐOÀN THỊ LỆ THANH.

Mai Nemesis, Inversely

Mai Nemesis, Inversely

.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng thời gian sống ở Huế không nhiều lắm. Ba mạ tôi kết hôn tại Huế, sau đó ba tôi thuyên chuyển nhiều nơi, Đà Nẵng, Sài Gòn rồi Nhatrang. Nhưng mỗi hè mạ tôi vẫn thường đưa chị em tôi về thăm ngoại.  Huế  trở thành kí ức của tôi kể từ năm tôi lên 5,6 tuổi. Đó chỉ là những nét chấm phá về  không gian cổ kính, hoang vắng và bí ẩn của Cung An Định, nhà của ngoại. Cung An Định, thuộc vùng An Cựu, vốn là cung điện vãng lai của  các hoàng thái tử, từ hoàng tử Bửu Đảo (vua Khải Định), đến Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) và cuối cùng là Bửu Long. Khi vua Bảo Đại sống lưu vong bên Pháp, Cung An Định  bị tịch thu làm nơi ở cho các giáo sư và nhân viên thuộc Viện Đại Học Huế. Ông ngoại tôi làm phát ngân viên của Viện nên cả gia đình được ở đó. Mặt tiền cung có một cổng chính ít khi mở, và hai cổng phụ. Hai bên cổng phụ là hai cây ngọc lan sum suê, quanh năm xanh tốt. Dì Kim Kê của tôi- lúc đó khoảng 13,14 tuổi- thường hay dắt tôi ra ngồi dưới gốc cây, dì đọc truyện hay viết lách gì đó, trên tóc cài một búp ngọc lan trắng muốt. Sáng sớm thì dì một mình ra cổng, leo lên tường rồi chuyền theo cành lớn hái mấy búp còn ngậm sương đem để trên bàn học. (Chuyện này tôi thì tôi không nhớ, tôi nghe mấy dì kể lại, có lẽ vì tôi còn quá nhỏ để biết yêu hoa. Ngược lại, hai cây ngọc lan này là kỉ niệm biết tỏa hương của hai dì Tố Nga và Kim Kê). Qua khỏi cổng là một khoảng sân rộng, chính giữa có một ngôi nhà che cho bức tượng vua Khải Định bằng đồng đen (Sau này cậu Hoàng tôi giảng cho tôi nghe là cổng chính xây theo lối tam quan, còn ngôi nhà xây theo hình bát giác này gọi là Đình Trung Lập, bức tượng vua Khải Định được đúc từ năm 1920 theo tỉ lệ bằng người thật). Mỗi hè, có gia đình tôi và gia đình dì Quỳnh Hoa- em kế mạ tôi ở Quảng Ngãi -về thăm, cả nhà ra ngôi nhà bát giác đó để chụp hình. Tôi thấy mạ tôi và mấy dì, lần lượt leo lên đài, đứng cạnh vua cười rồi bước xuống, lòng cứ thắc mắc không biết tại sao ai cũng phải cười trước ống kính. Cho nên, trong hình, bên cạnh những quý bà quý cô xinh đẹp rạng rỡ gồm bà ngoại, mạ và mấy dì là cái tôi cau có, luôn nép một nửa người bên cạnh ai đó. Còn hai ông cậu nghịch ngợm của tôi lúc đó khoảng 9,10 tuổi – cậu Hoàng và cậu Khánh- cũng không cười, mà làm mắt lé, hoặc lè lưỡi, hoặc chỉa hai ngón tay lên đầu làm sừng.  Sau ngôi nhà có tượng vua là tòa lâu đài to lớn ( nhìn qua đôi mắt bé con) nơi vua ngự . Sau tòa lâu đài này là hí trường, mà mấy cậu dì tôi hay gọi là “ Lầu Bể” vì bị bom đạn đánh sạt mất một góc (sau này tôi biết tòa lâu đài đó tên là Khởi Tường Lâu, hí trường có tên là Cửu Tư Đài). Hai bên tòa lâu đài là hai dãy nhà dài, nhà của ngoại ở bên trái.

Cách nhà không xa là chuồng nuôi thú rất rộng. Chuồng có nhiều ngăn, mỗi ngăn có chấn song sắt to bằng cổ tay người lớn. Mỗi lần đi chợ không để mắt được tới hai ông cậu của tôi , bà ngoại tôi nhốt hai cậu vô đó. Tôi đứng ở cửa phòng nhìn vào thấy hai cậu rất tội nghiệp. Trái lại, hai cậu hết nhìn nhau cười hi hí, lại chỉa hai ngón tay từ khóe miệng giả làm rang nanh dọa tôi. Chờ bà ngoại đi chợ về , tôi chạy tới ôm chân bà ngoại, phụng phịu chỉ tay về “phòng giam”, bà ngoại quát: “Không được chọc cháu, hai cái thằng tê!” (làm sao mà  “hai cái thằng tê”  nghe được nhưng tôi cũng lấy làm hả dạ), rồi dắt tay tôi về căn bếp thơm nồng mùi khói, cho tôi một trái chuối sấy, hay một cái bánh bích quy Tiếp tục đọc

SAO KHÔNG NÓI

Sao không nói những khi mình gặp gỡ
Những khi ngày còn chở mộng qua sông
Để bây giờ lòng chỉ mới hỏi lòng
Mà đêm đã chia tình sầu vanh vách…

Sao không nói những khi màu lá cỏ
Còn thương tình ngai ngái tuổi thoa son
Để bây giờ thương mến đã thôi giòn
Em một nơi mà anh buồn một chốn

Sao không nói những khi đời au đỏ
Mộng còn đầy trong mắt của nhau xưa
Để bây giờ người ra đi tám hướng
Cho kẻ về ngậm tủi bến sông mưa

Sao không nói những khi lời đã chín
Trên môi người và trên cả môi tôi
Để bây giờ xa trông mà bịn rịn
Dưới thu tàn ai hát khúc chia phôi

Sao không nói những khi trăng còn hẹn
Với lầu khuya say ngợp cả đất trời
Để bây giờ trăng bỏ về phương khác
Cho chim buồn kêu lẻ dưới sương rơi

Sao không nói những khi còn nhạy cảm
Tim làm đàn rung những nốt si mê
Để bây giờ gió mưa về âm ỉ
Đàn ai run theo mắt lệ đầm đìa

Sao không nói những khi tình còn mới
Trên tay yêu một thuở đep vô cùng
Để bây giờ rêu phong từng tiếng nói
Lúc xa người áo cũng rách tang thương!

Sao không nói những khi ta mời rượu
Uống trong nhau những cảm khái rất hồng
Để bây giờ mất người nên rượu đắng
Uống bao nhiêu cũng chát nhớ trong lòng…

Sao không nói những khi mình vương vấn
Những chiều xanh mình thầm bước theo nhau
Để bây giờ xa bên trời lận đận
Lạ nhau rồi ai còn ngóng ai đâu?

Sao không nói những khi còn hơi ấm
Của Phượng phà vào chiếc cổ Loan xưa
Để bây giờ tiêu điều kia đã ngấm
Như nỗi buồn cứ lớn mãi trong thơ…

Trần Dzạ Lữ
(TUỔI NGỌC Số 84, 29.10.1972)

BÊN TRONG CÁNH CỬA

Giờ trong cánh cửa mình tôi
Quạnh hiu ôm một bóng đời như xưa
Mùa xuân giờ đã về chưa
Mùa xuân chưa đến nên chưa thấy về
Tôi còn trong chuỗi ngày mê
Tay ôm không hết sơn khê vào lòng
Nên quên đôi má em hồng
Và quên lá rụng trên dòng cô đơn.

Hạc Thành Hoa

Nhà giáo , nhà thơ HẠC THÀNH HOA đến với Tương Tri với một bài lục bát đã đăng trên TUỔI NGỌC từ năm 1973. Tác phẩm của anh đã được các nhà xuất bản có uy tín in và được nhiều độc giả mến mộ – nhất là dòng thơ lục bát : cao đạo mà hiền hòa – đúng như bản chất của một nhà thơ dạy học

Ngày mai tôi vĩnh biệt đời

Vẫn còn lại… một khoảng trời trước hiên…