Đoàn Thị Lệ Thanh

Toba Mika
(tiếp theo)
…
Sau khi tốt nghiệp lớp 12- năm 1974- tôi về Huế, thi đậu vô trường Đại Học Sư Phạm thì ở lại luôn. Nỗi lo thi cử và nỗi mừng khoa bảng trôi qua thì nỗi nhớ nhà , nhớ biển dày vò tôi tàn nhẫn. Thêm nữa, tiếng nhạc từ mấy quán chè bên kia đường cứ than vãn hằng đêm “ Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về….” . Nhatrang êm ả, nhưng vui hơn Huế. Mỗi sáng đạp xe ra biển tắm, mỗi tối cũng đạp xe ra biển hóng gió, cuối tuần xếp hàng ở quầy vé Tân Tân, Minh Châu, chiều chiều rủ bạn ngồi nghe nhạc, ăn kem. Không có mục gì đặc biệt thì diện thiệt đẹp, lượn lên lượn xuống trên phố Độc lập, tạt vô nhà sách Văn Lang coi sách, nhất là những cuốn tạp chí in hình ca sĩ, tài tử ciné; hay vô mấy tiệm Ấn độ ngắm vải vóc, son phấn, nước hoa, cũng thú vị lắm. Huế cũng có rạp Tân Tân như Nha Trang, nhưng cũ kĩ hơn, và không nhộn nhịp bằng. Qua bên kia cầu Tràng Tiền là phố, có nhà sách, có chợ Đông Ba, tiệm kem, tiệm chè nhưng không sầm uất như chợ Đầm. Tôi nhớ Nha Trang nên chưa mấy yêu Huế, quả là ở quê hương mà nhớ quê nhà. Thương tôi không bạn bè, lại xa gia đình, nên cả nhà ngoại chìu chuộng tôi đủ cách. Trong nhà, người ít chất Huế nhất là Cậu Hoàng. Cậu đang chờ ngày nhận nhiệm sở nên khá rảnh rỗi. Tôi ngưỡng mộ cậu lắm, đối với tôi, cậu là một nghệ sĩ, không chỉ ở ngón đàn Flamenco hoặc cổ điển tuyệt hay- nhờ cậu mà tôi được thưởng thức những bản nhạc bất hủ như “Jeux interdit” (Romance), “ Rain and tears”, “Granada”– mà còn ở tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, lại dễ dãi xuề xòa. Nhưng với ông bà ngoại, cậu là đứa con có máu “nổi loạn” mà bà ngoại hay dùng từ “ bất trị” mỗi khi la rầy cậu. Tôi nghe kể năm cậu 17 tuổi, sau Tết Mậu Thân, cậu trốn nhà đi mấy ngày, tình nguyện xúc cát vô bao để người ta xây hầm trốn pháo kích. Mấy ngày liền bà ngoại đau khổ ngồi ở hiên nhà ngóng cậu về. Sau này, khi nghe tin Ban Mê Thuộc thất thủ, tôi tận mắt thấy dáng vẻ còm cõi rũ rượi chờ đợi của bà ngoại. Bà không ăn, không ngủ, ngồi bên cửa sổ, tay cầm cái radio nhỏ để nghe tin tức. Hễ bản tin đã hết, thì bà lại quay sang hỏi ông ngoại về tình hình chiến sự. Nhiều lúc tôi tưởng như bà ngoại bị mất trí. Trở lại chuyện cậu Hoàng . Cậu mê âm nhạc hơn ngồi chăm chỉ “tụng” bài, cậu lén ghi danh học thêm vào buổi tối ở trường Âm Nhạc Huế, rồi thành lập ban nhạc. Ngoại rầy la dữ lắm mới bỏ ban nhạc trở lại học hành tử tế, đậu Tú tài, rồi đậu vô ĐHSP khoa sử địa, ra trường đậu cũng khá nên được chọn nhiệm sở ở Ban Mê Thuột, thành phố gần Huế hơn cả trong danh sách lựa chọn. Cậu lại có trí nhớ đặc biệt, sách truyện thơ, đọc qua một vài lần là nhớ làu làu. Mỗi bữa cơm hay lúc rảnh rỗi, cậu kể chuyện Tam quốc, Thủy hử, Tây du….. rành rọt như cầm sách đọc. Vì vậy cậu khá đào hoa, nhiều cô viết thư tán tỉnh cậu (Tôi không nghĩ rằng con gái Huế thì nhút nhát và kín đáo đâu ). Có lần, cậu kêu tôi và hai dì vô phòng, trải hai lá thư ra bàn, cười hì hì biểu ba chúng tôi đọc. Lạ một điều là hai lá thư của hai cô không quen biết nhau, mà viết cho cậu tôi lời lẽ y khuôn: “ Anh đến với em nhẹ nhàng và êm đềm như bướm lượn trên hoa”. Dì Trà và dì Thanh cùng cười phá lên: “ Sến dễ sợ, không biết chép chỗ mô ra rứa”. Hiện nay cậu sống ở Na Uy và đang chống chọi những cơn đau đớn của bệnh ung thư. Dù đối mặt với tử thần, cậu vẫn cười giỡn mỗi khi gọi cho tôi : “Ê con, Noel vui không? Cậu đi nhậu mấy bữa nay….” ( Cậu không uống được bia rượu, nhưng hay dùng từ “nhậu” để thay từ “ ăn”). Gần đây, cậu đã phải dùng morphin liều cao, nhưng giọng vẫn cứ vui: “ Ê, con…Phục sinh có chi vui không? Cậu bị shock thuốc phải vô nhà thương, uổng quá, mất mấy chầu nhậu! Mấy bữa ni cậu đau dữ dội lắm, con nhớ cầu nguyện cho cậu nghen”. Rồi cười hà hà…Tôi nghe cậu cười mà chảy nước mắt Tiếp tục đọc →