THIÊN ĐƯỜNG ĐàXA

Nguyễn thị Ngọc Lan

fehb vnj

Tôi không định viết lại câu chuyện này vì tôn trọng người bạn đã khuất. Cũng là tôn trọng cô em gái của bạn, người đã cho tôi dọc tập nhật ký của bạn mình. Mọi thứ đã an bài từ lâu, bạn cũng đã siêu thoát trên Thiên đường. Ray rứt mãi vì tôi và bạn là hai người học chung cùng lớp và rất thân nhau. Từ những ngày đất nước đổi thay đến bây giờ nhưng chuyện tình đẹp của bạn tôi vẫn hằn sâu trong tâm tưởng. Biết là có lỗi nhưng cuối cùng tôi quyết định viết lên tất cả, mong rằng bạn cũng sẽ được vui như tôi ở trên ấy. Ít ra những tâm sự của bạn mang theo hơn ba mươi lăm năm cuối cùng cũng đến được người con trai ngày trước của bạn.

Người dẫn chuyện.
.

Chuyến xe đường dài cuốn bụi mịt mù theo đường quốc lộ chạy ra miền Trung. Người chật ních. Họ chen chúc nhau tìm một chỗ đứng trên xe là may mắn lắm rồi.

Hàng ghế thứ tư bên phải từ trên xuống có chàng trai ngồi, chân trái gác lên ghế trước. Đôi mắt lim dim như buồn ngủ. Nhưng thật ra anh ấy không ngủ mà đang nghĩ về một chuyện gì đó. Ngay giữa lối đi, cô gái khoảng mười tám tuổi đang chao nghiêng vì sự xô đẩy của hành khách trên xe. Bất ngờ xe thắng gấp, cô gái ngã nhào xuống giữa hai hàng ghế. Chàng thanh niên đứng bật dậy đỡ cô gái.

Họ nhìn nhau. Cả hai xấu hổ vì chuyện bất ngờ xảy ra. Chàng trai bước ra nhường lại chỗ ngồi của mình cho cô gái. Họ không trao đổi với nhau lời nào cho đến khi người khách ngồi bên bước xuống. Phải chăng đó là chiếc ghế định mệnh nhường lại cho hai người. Một định mệnh buồn Tiếp tục đọc

GỌI CỐC CÀ PHÊ ĐỂ NHỚ NHUNG

Một chỗ dừng chân, ngày lãng du
Nơi đây phi cảng trắng sương mù
Một con tàu chớp đèn ra bãi
Những mắt nhân tình đợi ở sau

Gọi cốc cà phê cốc nhớ nhung
Tàu đi , tôi có tiễn ai đâu
( Những người tôi tiễn thì đi biệt
Còn lại mình tôi những chuyến tàu )

Tàu lại xa rồi tôi ở đây
Ngoài kia chiều đã chạm chân ngày
Những người đoàn tụ đang cười nói
Chỉ có mình tôi nỗi lạnh đầy…

Trần Hoài Thư

TRỐN TÌM

Theo ánh trăng tôi đi
Dòng đêm xô sóng ngược
Đi. Đến khi trăng về
Mộng vẫn còn phía trước

Theo mộng hoài tôi đi
Quanh co đêm bịt mắt
Xa gần bóng giấc mơ
Chơi trò tôi cút bắt

Giấc mơ là mặt trời
Mọc đúng giờ giấc ngủ
Giấc mơ ánh sao hôm
Lặn khi bình minh tới

Trăng đùa chơi bóng ảo
Đường mộng khói như tơ
Một hình nhân ngã xuống
Bóng nhập vào . Ngu ngơ

Nằm yên con bóng mệt
Vuốt mặt lạ da quen
Gọi người thêm một tiếng
Nặng thêm, một bóng chìm…

Nguyễn thị Khánh Minh

Người Việt tử tế

Đoàn Thị Lệ Thanh

homndfdk
Trước khi từ biệt quê nhà yêu dấu, tôi thường hỏi những người quen (là Việt kiều ) về cách cư xử của người Việt hải ngoại, với ai tôi cũng được trả lời bằng một cái bĩu môi dài (như vừa được phẫu thuật thẩm mỹ bơm môi) kèm theo nhiều cái lắc đầu ngao ngán, sau đó là vài ba chục câu than thở : “Người ta định giá trị của mình bằng cái xe mình đi, cái áo mình mặc, đôi giày mình mang…”; “ Ở xứ lạ quê người thì phải đùm bọc nhau chớ, như người Tàu đó, đâu cũng có China Town, đố ai mà ăn hiếp được một người Tàu nào. Đằng này, còn lừa nhau, chơi nhau tận cùng bằng số”; “Hãng nào có nhiều  người Việt là lu bù phe phái bè cánh, còn phải biết chị ..chị..em …em, quà cáp sớm trưa mới mong không bị lay off ”. Khi qua Mỹ rồi, lại thêm nhiều răn đe: “Mua xe hử? Nhớ nghen, chớ ..chớ …chớ bao giờ tìm tới body shop của người Việt”; “Mua nhà hử, nè nè, tìm khu Mỹ trắng mà ở, hàng xóm người Việt nó dòm ngó nhiều chuyện lắm…” v.v và v.v……( Chà, lại nghe nói Mỹ trắng thấy người Việt mình dọn tới làm bạn hàng xóm là họ bán nhà chạy trốn, vậy thì ở đâu cho yên thân đây?)

Nghe riết thành nhập tâm, cho nên hành trang tôi đem theo qua Mỹ còn có thêm một cái ba lô  vô hình chứa đầy ắp những thành kiến về người Việt, tự nhiên tôi đâm ra kì thị với ngay cả đồng hương mình.  Những ngày đầu mới định cư, giao tiếp với người bản xứ thì tôi cởi mở thân tình, ra vẻ ta đây là dân Mỹ gốc Việt thứ thiệt, lịch sự dư dả không kém gì dân Tây, nhưng với đồng hương thì “cảnh giác cao độ”, thấy người nào tóc vàng, da vàng, mũi (sửa) cao là …né,  cần thiết thì chào hỏi dăm ba câu trong tinh thần thủ thế. Thời gian đầu, tôi ở nhờ nhà vợ chồng đứa cháu gọi ông xã tôi là bác ruột, các cháu đối xử với chúng tôi hiếu thảo như với cha mẹ ruột các cháu. Dần dà, mối dây liên lạc được nối dài, tôi tìm được bạn Hiền Hậu thời trung học, ông xã tôi tìm lại được một vài đồng đội trong khóa SVSQ Thủ Đức, chỉ biết tên, bây giờ mới rõ mặt, rồi quen biết thêm những anh chị khác trong giáo xứ, trong cộng đồng. Các bạn, các anh chị ấy sẵn sàng giúp chúng tôi – những người chân còn ướt chưa kịp ráo –  nhanh chóng bước kịp với cuộc sống mới, bạn Hiền Hậu giúp tìm việc làm, anh Chinh dạy hai vợ chồng tôi lái xe, anh Liêu giúp khai thuế, chị Duyên chị Hải Triều giúp tôi kinh nghiệm đi chợ, đi mua sắm… Có người sẽ bảo: “ Đã là bạn hữu, tất nhiên phải tốt với nhau, đâu phải chuyện hiếm hoi lạ lùng gì! Còn chuyện cư xử với nhau cho ra một cộng đồng tốt đẹp như cộng đồng người Hoa mới đáng nói chứ! Người Tàu họ tự hào về cái town này lắm đó!”. A, lại có thêm chuyện tự hào dân tộc nữa. Tôi làm trong cafeteria của một trường Tiểu học mà một nửa là học sinh Việt. Vì trường cho phép học sinh Việt chọn sinh ngữ phụ là tiếng mẹ đẻ nên phần lớn các cháu đều nói tiếng Việt rất sỏi. Đứng làm cashier để thu tiền hoặc scan thẻ ăn, tôi phải luôn miệng “ Hi, how are you doing today?” hoặc “Thank you, honey…Thank you, sweety”, và luôn tay bấm nút “account” (nếu thiếu tiền ăn) hay “stend” (nếu có đủ tiền trong account)  để các cháu di chuyển nhanh chóng cho kịp giờ ăn trưa, đâu có thì giờ coi cháu nào người Việt, cháu nào Mỹ hay Mễ để chuyển ngữ. Thế mà có cháu không chịu, lần nào đi ngang cũng hỏi “Bà có biết nói tiếng Việt không?”. Có cháu hãnh diện khoe với tôi “ Con là người Việt, mẹ con là người Việt, ba con cũng là người Việt, bạn con đây nè, cũng người Việt”. Trẻ con thường láu táu nên có lúc cầm nhầm thẻ của bạn, vì vậy tôi gọi tên các cháu để tránh nhầm lẫn “Thank you, Heavenly….Thank you, Mignone…” Tiếp tục đọc

THA LỖI CHO TA

Nguyễn Bắc Sơn

Tiếc mày không gặp tao ngày trước
Tao cho mày say quất cần câu
Rượu bia bốn chục chai đồ bỏ
Uống từ chạng vạng suốt đêm thâu

Thành phố giới nghiêm ta ngất ngưỡng
Một mình huýt sáo một mình nghe
Theo sau còn có vầng trăng lạnh
Cao tiếng cười buông tiếng chửi thề

Thời đó là thời ta chấp hết
Lửng lơ hoài trên chiếc đu bay
Đã biết đời mình ly rượu cạn
Hất toẹt đời đi chẳng nhíu mày

Thời đó là thời ta bất xá
Sẵn sàng chia khổ với anh em
Hơi cay đạn khói dùi ma trắc
Bước cũng không lui trước bạo quyền

Bây giờ ta đã thành ti tiểu
Uốn vào khuôn khổ cuộc đời kia
Loanh quanh trong chiếc chuồng vuông chật
Sống đủ trăm năm kiếp ngựa què.

XIN CHÀO ĐÀ LẠT

(tặng Phạm công Thiện)
Hoài Khanh

Em ở đó với bầu trời mây núi
Mùa đông sương rờn trên má hoa đào
Linh hồn ta mấy mươi mùa của suối
Lạnh vô cùng không biết tự phương nao

Chân ta bước trên con đường trở lại
Một lần xưa vi vút gió đầu cành
Sâu dưới đó lối mòn khe suối vắng
Bóng của mùa động khẽ tiếng lanh canh

Ôi đồi thông những chiều nghiêng nhớ nắng
Lòng ta trôi chiều cũ dưới chân đèo
Gió heo hút dường nghe niềm u hận
Em đi rồi ta vẫn đứng nhìn theo

Màu áo đỏ phất phơ màu vĩnh biệt
Bay về đâu xin còn lại linh hồn
Để ta giữ những chiều sương ám phủ
Của một đời luân lạc kiếp tha hương

Rồi thôi hết đất sẽ là vĩnh viễn
Bông hoa kia nở trên xứ điêu tàn
Tay yếu đuối ta sẽ còn nắm lại
Những lời gì xưa đã hết âm vang…

Anh Chi Yêu Dấu (7)

Đinh Tiến Luyện

girl-with-long-hair-blowing-heart-shaped-bubbles-pink-red-feminine-woman-fine-art-oil-painting-beautiful

bảy

TRƯỜNG NÓI HÔM NỌ NHÌN THẤY TÔI Ở TRÊN phỐ đã định gọi, nhưng không biết tôi đi với ai nên lại thôi. Đám em gái Trường nhao nhao lên, cô ấy xinh lắm hở anh Trường. Tôi vội vàng lên tiếng, em gái tôi đấy. Trường nheo mắt khi cúi đầu trên que diêm mồi thuốc. Liên và Chúc lại được dịp tấn công tôi, người em gái khác họ hả anh Huy. Và bấm nhau cười khúc khích, bọn này biết mà. Tôi chia một điếu thuốc với Trường, hắn lanh lẹ mồi lửa cho bạn. Bạn ta, lạ không ngờ đấy nhé.

Tôi chậm rãi thả những ngụm khói lớn rồi nói với Trường, cậu kể đã nhìn thấy gì nữa, kể kỹ hơn đi. Có phải một cô bé đứng vừa tới vai, đi phố với một chàng trai và  trái bóng đỏ trên tay. Cô bé hiện giờ đang ở trong nội trú, lúc này là mười giờ, chắc em đã bắt đầu ngủ ngon. Liên, Chúc la to lên: dễ thương quá, bao giờ anh Huy cho tụi em gặp mặt chị ấy với nhá. Tôi cười, người ta đứng tới vai tôi, sao lại gọi là chị. Chứ cô ấy bao nhiêu tuổi hả anh Huy ? Mười ba tuổi rưỡi. Ồ. Cả Liên và Chúc cùng kêu lên. Trường chỉ nhìn tôi khó hiểu. Người con gái mười ba tuổi rưỡi, hẳn em đã bị giật mình trong giấc ngủ đêm ấy, khi tôi nhắc tới em với một người khác. Thực sự tôi cũng chẳng muốn chút nào, để ai xen vào khuấy động trong thế giới của tôi và Anh Chi. Nhưng nghĩ rồi cũng chẳng giấu giếm gì được trước những con mắt mở lớn của thiên hạ, tôi cho rằng, biết đâu chả là một điều thú vị. Khi Trường gợi cho tôi nhắc tới Chi trước Liên và Chúc, ở nhà họ về tôi cảm thấy tiêng tiếc như bị mất mát một điều gì mà mình giữ gìn, nâng niu từ lâu. Tôi có bị dằn vặt nhưng cuối cùng chính tôi lại muốn la lớn: Anh Chi dễ thương của tôi cần được khoe cho khắp thiên hạ biết. Tôi đã nhận lời chủ nhật tới đưa em Chi tới chơi nhà Trường, vì chị em Chúc, Liên cứ nhất định đòi xem mặt. Tôi nói, cô ta bé bỏng lắm đấy nhé, hiền như chim, nhát hơn thỏ. Chúc nói, bọn em không ăn thịt mất đâu mà anh sợ. Liên hỏi, cô bé tên gì vậy anh Huy ? Tôi tìm cây viết chì rồi viết lên tờ giấy trước mặt chữ A và chữ C hoa thật lớn rồi thêm vào những mẩu tự nhỏ cho đầy đủ một cái tên. Chị em Chúc, Liên kêu lên: ồ, một cái tên tuyệt đẹp. Cám ơn, cám ơn. Đó là tên một loài hoa, loài cỏ hay tên một loài chim, một vì sao nào đó ở góc trời. Tôi xếp miếng giấy vừa viết lên những mẩu tự yêu dấu ấy thành hình một chiếc máy bay. Nhưng chiếc máy bay bằng giấy hình thù kỳ dị khi được phóng lên không chao lượn mà đâm thẳng xuống chỗ cất cánh. Tôi đưa cả hai tay vội chụp lấy, có lẽ đó là tên một loài chim nhỏ bé đây. Con chim nhỏ bé của đời tôi. Sau đó là Liên và Chúc cứ nhất định đòi xem mặt cho bằng được. Anh Chi chắc phải xinh lắm, anh Huy mà giấu bọn này là xấu. Tôi cười cười, mời người ta tới nhà phải tiếp đãi nồng hậu đấy nhé. Chúc nhổm lên, miệng con nhỏ liếng thoắng, em sẽ trải lụa từ ngoài cổng vào tới tận nhà, rắc hoa kín lối đi. Đừng đùa, người ta hay khóc, nói lớn là người ta cũng khóc chẳng ai dỗ được đâu. Mắt Liên long lanh, cô ta thật dễ thương. Dù sao cũng không dám hứa chắc với các cô chủ nhật tới, phải để “xin phép” người ta đã. Người ta không chịu thì khó lòng chiều được Tiếp tục đọc

DỰA LƯNG NGÀY THÁNG

Không còn đồi cho em về nằm tự tình với cỏ
Không còn cây bạt ngàn thổi khúc gió mừng em

Dưới gốc thông già chôn vùi mười hai cô búp bê nhỏ
Để lãng quên một năm tình mười hai tháng chưa quên

Thả mái tóc huyền trôi trên vai anh trên vai anh em ngủ
Đà Lạt mưa phùn hay bay bay dưới màu nắng hây hây

Đà Lạt cơn gió thả qua thả qua lùa lạnh bờ xuân thì thiếu nữ
Dựa vào lưng anh dựa mãi vào lưng anh tìm một chút bóng mây

Chòng chành trên cao bờ dốc cao cao khiến chân đi mê mỏi
Hoa ôi hoa ngàn hoa tim tím thu hồng vàng rực rỡ nhà ai

Xòe xòe chiếc ô che che vội một nụ hôn quyến rủ
Em khóc vì em thẹn thùng em khóc bởi em say

Thời gian rơi quay những vòng vòng qua miệng vực
Thả con thuyền giấy ước mơ trôi trôi vèo xuống thác ngàn

Đứng không vững nữa rồi thôi chịu hết nổi thời gian
Ngày tháng ơi cho em dựa vào lưng dựa vào lưng ngày tháng ấy.

Âu Thị Phục An.

Nhớ Huế

Nguyễn Hoàng Quý

6373375129_23c66231d5_z

Tôi thuộc lứa sinh viên “tú tài Mậu Thân, cử nhân Nhâm Tý”, nhưng chỉ được vế đầu, còn đỗ cử nhân thì phải đợi đến. …Giáp Dần (1974) !

Có lẽ số tôi lận đận trong học hành, thi cử! Đó là nói vui hoặc là an ủi, sự thực là đậu tú tài ban B hạng bình thứ, nhưng đậu không nổi vào Nông Lâm Súc Sài Gòn bèn phải ghi danh học MPC Đà Lạt. Học cả năm không đậu đành hát bài “quy cố hương”.

Anh chị trong gia đình vẫn muốn tôi tiếp tục ghi danh vào Đại học Khoa học nhưng phần vì khiếp tóan lý hoá, phần vì hồi ở Đà Lạt thỉnh thoảng hay theo số sinh viên sử địa đi du khảo nơi này nơi khác nên thích học địa lý, phần khác là vì mê môn sử từ những thầy dạy hồi trung học, nên chàng ta bèn “dũng cảm” ghi danh học Sử Địa Đại học Văn khoa (Huế). Niên khóa 1968-69, Đại học Văn khoa bắt đầu theo chương trình “niên chế” và tôi vào năm thứ nhất chương trình này.

Là dân Quảng, cha tôi và một anh, một chị đã từng học và làm việc ở Huế nhờ đó tôi cũng đã có vài lần đến Huế lúc còn nhỏ nên vẫn có cảm tưởng thân thiết, hơn nữa khi ra đó lại ở tại Cư xá sinh viên Huỳnh Thúc Kháng của hội Ái hữu đồng châu Quảng Nam, toà soạn cũ của báo Tiếng Dân.

Nhờ những thuận lợi đầu tiên đó, cùng với việc ở cư xá chỉ biết lo học, tôi học hỏi được nhiều thứ, từ cách sống tập thể đến cách tìm tòi tra cứu, cách trình bày một bài làm ở những người anh em học năm cuối Việt Hán, Luật nên ngay năm đầu tiên, kết quả học tập tương đối khả quan.

Hè năm ấy, học quân sự học đường ở Phú Bài một tháng, vì đã có 5 tuần học ở Trung tâm huấn luyện Lam Sơn Ninh Hoà do đại học Đà lạt gửi xuống, tôi học với những sinh viên năm 2 của tất cả các phân khoa Tiếp tục đọc