dù mai lấp nẻo thiên đường
trong hôn mê sẽ miên trường cỏ gai
sầu lên từng giọt sương mai
ngày đi theo những vàng phai kiếp nào
yêu em từng giấc chiêm bao
tóc xanh ngày cũ chào nhau ngỡ ngàng
Lê Minh Châu
dù mai lấp nẻo thiên đường
trong hôn mê sẽ miên trường cỏ gai
sầu lên từng giọt sương mai
ngày đi theo những vàng phai kiếp nào
yêu em từng giấc chiêm bao
tóc xanh ngày cũ chào nhau ngỡ ngàng
Lê Minh Châu
HÀN MẶC TỬ (1912-1940) bậc tài hoa yểu mệnh,thiên tài kiệt xuất của thơ ca hiện đại Việt Nam với một hồn thơ trăng láng lai bất tuyệt rất đặc biệt,hết sức độc đáo,tôi đoan chắc rằng thơ ca nhân loại chúng sinh xưa nay không có một nhà thơ,thi nhân,thi sĩ nào có thể gùn ghè cập kè so sánh !
Ấy vậy mà trong một loại sách văn học lớp 11 của chương trình phổ thông,cái gọi là “Sách giáo viên” được xem như cẩm nang của thầy cô giáo dạy văn,vị giáo sư văn học ở ĐH đã phán về hai câu thơ trăng độc đáo nhứt của bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ như sau:”Có người đặc biệt ca ngợi hình ảnh nầy ở khổ thơ thứ hai “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Có chở trăng về kịp tối nay?”.Đó quả là một hình ảnh thơ mộng và đẹp.Nhưng độc đáo thì không phải.”Thuyền gối bãi”,”Thuyền đậu bến”,”Thuyền chở trăng”,những hình ảnh thơ đó thực ra đã trở thành ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ (thơ Đỗ Mục,Trương Kế,Nguyễn Trãi,Hồ Chí Minh,Quách Tấn,Yến Lan,Thúc Tề v.v…) ”
Tôi thật ngỡ ngàng!
Hướng dẫn NỘI DUNG và PHƯƠNG PHÁP giảng dạy “nhằm hổ trợ trực tiếp và thiết thực cho người dạy” theo lời nói đầu của “Sách giáo viên” ấy mà viết như thế về hai câu thơ trên trong bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ,thật càng làm cho tối và rối thêm! Nhất là đối với thầy cô giáo vốn trước kia chẳng được học bài thơ nầy ở chương trình phổ thông cũng như ở trường ĐHSP ngày ấy!
Người soạn sách đã nhặt từ ra một cách tùy tiện rồi gán ghép nào “Thuyền gối bãi”,Thuyền đậu bến”,”Thuyền chở trăng” đã làm lệch đi hình ảnh thơ của HÀN MẶC TỬ. Do cảm nhận hình ảnh thơ với những chi tiết hiện thực cụ thể như thế nên người soạn sách đã vội phán “độc đáo thì không phải”! Câu chữ trong thơ HÀN MẶC TỬ vốn mơ hồ,chập chờn,hư ảo “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Có chở trăng về kịp…”. “Thuyền ai” thật phiếm chỉ,mơ hồ không xác định,thật mông lung. “Bến sông trăng” đã là bến mộng. Đọc kĩ toàn bài thơ: “Đó” đối lập với “Đây”(Ở đây sương khói mờ nhân ảnh) đã gieo vào tâm trí người đọc về cõi mộng,cõi mơ ước chứ không chỉ là từ xác lập nơi chốn hiện thực cụ thể nào. Và tiếng gọi bi thiết,chới với “Có chở trăng về kịp…” càng thêm phi thực, hư ảo phiêu linh vô cùng. Thử hỏi các nhà thơ từng có thơ về trăng mà người soạn sách đã liệt kê ra như ở trên có tạo ra được hình ảnh thơ nào về trăng lại chập chờn mộng ảo độc đáo đến như thế,gợi cảm đến như thế Tiếp tục đọc
Nhạc: Thảo Trang- Thơ: Văn Công Mỹ – Giọng ca: Nguyễn Cát Tiên
.
Theo chân ngày trăng mọc
Lạ lùng tháng ba âm
Cát vàng hơn bữa trước
Sóng lặng rất âm thầm.
Em níu ngày đến muộn
Anh nắm vội đêm buông
Đôi ta đùa với biển
Tiếng giỡn động muôn trùng.
Trăng của thời năm cũ
Êm ái trườn qua tay
Em của rằm rạo rực
Đắm đuối bờ môi say.
Giữa đôi bờ sau trước
Ngó nhau mà hỏi thầm
Ta. Trời. Trăng. Mây. Nước
Rủ nhau vào trăm năm !
Văn Công Mỹ
Thương bước nắng khẻ về qua sân cũ
Có ai còn ngồi lại giữa vườn không ?
Chợt thấy đắng ngọn gió chiều mê ngủ
Mơ ngày phai heo hút dấu tơ hồng
Mưa có xuống trắng lối đời bỡ ngỡ
Em và tôi ,nay còn được lại gì ?
Nghe lạc bước với muôn trùng cách trở
Một nửa chờ một nửa hững hờ đi !
Mang gió nhớ gửi trời xa ngút mắt
Nhắn tìm đâu hương kiều nữ một thời
Ngó đồi trăng biết suốt đời đã mất
Đớn đau nào bịn rịn mắt ly bôi
Giữa phố vắng ngoái nhìn sương khói phủ
Mà hỏi thăm quê quán ở đâu về
Bụi thời gian hắt hiu thềm rêu cũ
Bàn tay buồn sao xoá trắng cơn mê ?
Đến trăm năm câu hẹn thề vẫn giữ
Thả cuối sông tìm lại ở đầu nguồn
Dẫu có biết ngôi nhà xưa đổi chủ
Tôi vẫn về qua ngõ tắm nhớ thương
TRẦN VĂN NGHĨA
Nguyễn Thị Hải Hà
Bạn có thể nhìn thấy màu sắc thu ở nhiều nơi trên thế giới nhưng bạn không thể ngửi được mùi thu, hay nghe được tiếng thu ở nơi khác. Và tôi sẽ kể bạn nghe tiếng thu ở nơi đây.
Thi sĩ Lưu Trọng Lư đã để lại bài thơ Tiếng Thu bất hủ. Em không nghe mùa thu. Lá thu rơi xào xạc. Con nai vàng ngơ ngác. Đạp trên lá vàng khô. Phân tích từng câu thơ thì thấy chẳng có gì đặc sắc, có thể nói là thơ. Tuy nhiên toàn bài mang lại cảnh thu mà dân thành phố ít người được nhìn thấy. Lá vàng còn có chút ít chứ còn nai thì là con vật hiếm quý, chỉ có một vài con được nuôi để trưng bày trong sở thú.
Tôi ở chỉ cách đường xa lộ 22 chừng 350 mét. Đi bộ năm phút là đã đến xa lộ bốn lane. Thế mà chung quanh tôi cây cối rất nhiều, sau nhà tôi nhiều cây đến độ tôi thường khoác lác gọi nó là rừng và nai thì nhiều lắm. Mỗi tối đi bộ tôi thường nghe tiếng nai chạy rộn ràng sau những rặng cây um tùm của nhà hàng xóm. Nai thỉnh thoảng đứng ngó vào cửa sổ nhà tôi. Có nhiều con rất to, có sừng có gạc. Và trong những blog trước bạn đã thấy có cả những con nai bé vẫn còn đốm sao trắng trắng trên lưng. Nai xinh xắn và hiền. Nhiều khi lái xe về nhà trời tối, nai đứng đầy đường ngó ánh đèn rồi như say đèn không biết chạy hướng nào. Nai vàng xuống suối đứng bâng khuâng. Ở đây, mỗi khi mưa nhiều nước chảy thành những con suối nhỏ thoát ra cống ở hai bên nhà. Cũng nghe tiếng róc rách, đôi khi ồ ạt cuồn cuộn chảy trong đêm. Nhà thơ Lưu Trọng Lư không chỉ nghe tiếng bước chân của nai trên lá ông nghe cả tiếng lòng thổn thức của người cô phụ Tiếp tục đọc
MỘNG TƯỞNG
Người gieo hạt vườn thơ chồi mộng
Tôi vun trồng câu chữ ngây ngô
Qua bao năm chồi vươn lá mỏng
Buồn thơ lòng rơi giữa hư vô.
Bóng tối ngủ tháng năm không thật
Ngày đánh lừa mộng đã rong rêu
Người về đâu niềm tin đã mất
Đêm nhìn trăng có nhớ nhung nhiều.
Đâu dễ biết lòng người vô định
Mộng tưởng hoài nên hoá ngu ngơ
Men rượu đắng nửa đời say tỉnh
Nỗi bơ vơ không bến không bờ
Đêm từng đêm thương câu lẻ bạn
Trăng mồ côi mấy độ chiêm bao
Đời buồn như những dòng sông cạn
Thời gian tàn chồi mộng hư hao.
Người bỏ chồi khô, thơ bỏ ngỏ
Vầng trăng mờ câu chữ ngày xưa
Tình rất nhẹ thoảng như làn gió
Bài thơ buồn tựa nhịp võng đưa.
Người xưa chỉ còn nơi ký ức
Tìm đâu giọt nắng thuở bình minh
Trái tim cựa mình nơi lồng ngực
Buồn nào buồn bằng nỗi lặng thinh.
TRƯỜNG LINH GIANG
Trường Linh Giang tên thật Lê Văn Tường, thường gọi Lê Tường. Trước năm 1975: Giáo viên Nghĩa Thục La-san Nha Trang. Sau năm 1975: Kế toán Cty Môi Trường Đô Thị Nha Trang. Hiện nghỉ hưu. Thơ văn, truyện ngắn đăng rải rác trên các báo, tạp chí Tuổi Ngọc, Nhịp Sống Trẻ, Áo Trắng, Tiếp Thị & Gia Đình.
Ta về sống giữa vườn hoa bưởi
Môi bỗng run lên trong gió nồng
Mắt bỗng mơ phai từng kỷ niệm
Nhìn bầy sáo cũ vừa sang sông
Các em xưa đã xa trường lớp
Bờ cây giậu úa cỏ vàng hoe
Trường cũ đổ xiêu bàn ghế mục
Thở than lũ dế kêu bên hè.
Ta lại về đây niên khóa mới
Bụi phấn đầy tay ta ước mơ
Đem dấu yêu về khung lớp cũ
Chắt chiu chắp vá chút hương thừa
Các em trước nhỏ nay vừa lớn
Cũng hồn mộc mạc cũng đơn sơ
Cũng cúi đầu ngoan trên sách vở
Mái tóc vàng hoe nắng bụi mờ.
Ta đứng mĩm cười trong cửa lớp
Với ngàn cây cỏ với hừng đông
Đợi em đến lớp lòng thơ dại
Khe khẽ chào thầy giọng mến thương
Ta vui như nắng xuân đồng ruộng
Như gió tràn lan cả bốn phương
Ta trải đời mình bao lớp trẻ
Mắt biếc hồn trong dưới mái trường
Bụi phấn bay mờ như chút khói
Quấn chặt đời ta bao tơ vương
Các em giăng lưới, ta hồn nhện
Nên tháng ngày treo mắt nhớ thương
Ta về giữa một hừng đông mới
Tà áo bay mừng trong nắng tươi
Các em tíu tít như chim sẻ
Gởi đến tim ta vạn nụ cười
Tôn Nữ Thu Nga
(Nội san Duyên Hải Nha Trang, Hè 1973)
Bài thơ NHỮNG VẾT CHÂN ĐỜI của TÔN NỮ THU NGA vì lý do kỹ thuật đã bị chia hai và xuất hiện trong 2 tuần khác nhau , Tương Tri chân thành xin lỗi bạn .
Trần Thị Trúc Hạ
Giờ ra chơi, cô bé lớp trưởng thập thò trước phòng hội đồng, mắt dáo dác kiếm tìm. Cô giáo bước đến bên em, nhẹ nhàng hỏi:
– Em tìm ai vậy Thảo Quỳnh?
Cô bé ngập ngừng:
– Thưa cô… bạn Quốc…
Cô giáo hoảng hốt:
– Sao? Bạn Quốc sao? Có gì không?
– Thưa cô, chiều hôm qua, sau khi học thể dục xong, mấy bạn trai lớp mình đè bạn Quốc xuống … tụt quần bạn ấy, rồi gọi bạn Huyền “Ê! Ê! Huyền, xem thằng Quốc nè”, bạn Huyền nhắm mắt bỏ chạy, còn bạn Quốc thì khóc nức nở. Sáng nay, bạn Quốc xấu hổ quá nghỉ học rồi cô.
Trời ạ! Có phải học trò không vậy hở trời? Cứ mỗi ngày một chuyện thế này, cô làm sao chịu nổi. Ngao ngán, cô bảo Quỳnh về lớp , cuối giờ cô sẽ đến.
Tiết cuối, cô giáo mệt mỏi bước vào lớp với khuôn mặt băng giá. Cả lớp đứng dậy, từ cuối lớp một tiếng hô sang sảng cất lên:
“Nghiêm! Chào mẫu hậu, chào! Tiếp tục đọc
Trong sự luân chuyển ngập ngừng mùa xuân
Quanh đầm nước ngọt tĩnh lặng
Mọi thứ trong suốt
Tưởng có thể chạm nhẹ vào
Khu vườn, hoa lá, chim muông, nước và khí trời
Thời gian rung nhẹ, phập phồng hơi thở em
Như gã trai tân
Tôi học cách yêu, lời tỏ tình thì thầm
Trong thế giới bất động
Ánh sáng thân thể em toả ngời
Tôi mải mê tìm kiếm
Chiếc thuyền trôi dạt vùng trời xa xăm
Đánh thức những giấc mơ tăm tối
Lắng nghe tiếng hót ngọt ngào
Của con chim bí ẩn đến từ xứ sở lãng quên.
Trần Hữu Dũng
(Gửi Kim Đ.California)
Vẫn trong tiếng hát nao lòng
Khúc Nam ai lạnh một dòng Hương Giang
Đò chiều khua nước man man
Tôi ngồi buộc sợi tơ vàng Vân Lâu
Em ở đâu!… Em về đâu
Ca Li thăm thẳm nỗi sầu đa đoan?
Đành như nước chảy đá mòn
Lời thề hôm trước có còn nguyên xưa
Em về chưa!…
Em đã về chưa?
Lòng ta quặn thắt đến giờ em ơi
Nằm nghe mưa gió bời bời
Tiếng chuông Thiên Mụ tím trời giêng hai.
Lê Sa