NGÀY CUỐI CÙNG MÙA VỌNG.

chieuanhnguyen

Anh đã lần lượt đốt lên ngọn nến màu vàng chanh
màu xanh lục
màu hổ phách …
Anh đã thắp sáng gian phòng u ám khi em quay về
ngọn nến mùi mật ong ngọt ngào
như miền đất hứa
lặng lẽ mỗi ngày
ở đó
âm thầm, quyết liệt
Gian phòng,nơi em đã chôn tuổi trẻ phù phiếm, quay cuồng
nơi em trồng những chồi hoa không bao giờ nở
nơi hạt không thể đâm chồi
Anh đã bọc em bằng tấm khăn liệm và chôn em ngay tại căn phòng em ẩn náu
kiên nhẫn đợi em mục ruỗng
nảy mầm
Anh
người đã đốt tất cả ngọn nến còn sót lại
chỉ để sưởi ấm thi thể em mỗi ngày
và chờ đợi tái sinh
…..
Em dệt trong cơn mơ từng đêm dải lụa trắng
bịt mắt để bước về phía anh bằng cảm nhận
bằng sự điên rồ của con đàn bà có bề ngoài trầm lặng
không cần biết
bên cạnh là đỉnh núi
hay
vực thẳm
….
( phục sinh của chúng ta )

Chiêu Anh Nguyễn

GẶP HAI ÔNG TƯỚNG TẠI NEW YORK

tranhoaithu

…Như vậy tôi không có một nơi để đốt lại những sợi khói hoài niệm. Nhưng tôi vẫn về cùng Nữu Ước vào những ngày cuối tuần, dù đôi lần, xe tôi phải bị kẹt hàng giờ trên khúc đường Canal dẫn vào khu Phố Tàu, hình như không còn một lối thoát. Tôi đã tự nhủ lòng đừng đi Nữu Ước nữa. Tôi không đủ kiên nhẫn nhích xe từng bước, giữa muôn ngàn âm thanh hỗn độn từ còi xe đến còi hụ, từ chiếc xe sang lane này, đến chiếc xe sang lane khác. Còn nữa. Còn cả đám người đi băng qua đường như lao vào đầu xe, hay những anh chàng lái tắc xi vàng chạy ẩu. Có một điều gì kỳ bí thôi thúc tôi trở lại. Về lại tiệm sách, bước lại vỉa hè, hòa nhập vào cùng cuộc vui khiêu vũ…

Cho đến một ngày tôi không còn dám bỏ xe đậu đại tại khu Tòa Án nữa. Tấm giấy phạt đậu trái phép để nằm trên kính xe. Chiếu luật 45, hay 46 gì đó, tiền nộp phạt 60 đô la. Muốn khiếu nại thì điền đơn gởi về địa chỉ… Tôi chửi thề. Phạt gì mà phạt tàn bạo. Ở quận tôi ở, tiền phạt chỉ tối đa 10 đồng là cùng. Có lẽ chỉ có một nơi trên quả đất này Nữu Ước cái gì cũng nhất. Từ những building chọc trời, những con đường không bao giờ ngớt xe, những bảo tàng viện nghệ thuật, những vở nhạc kịch được trình diễn từ năm này qua năm khác, đến tội ác và cả tiền phạt…

Thằng bạn làm chung một nhóm đã cười khi nghe tôi kể lại cái số tiền khủng khiếp mà tôi phải trả. Hắn giải thích dùm tôi: ” Ông biết tại sao không? Tụi đám phạt là đám thầu, chẳng phải cảnh sát như ông tưởng. Chúng nó phạt càng nhiều thì lấy hoa hồng càng nhiều. Nhiều khi không lỗi chúng cũng gắn lên cái windshield cái vé phạt. Ông khiếu nại à? Thì giờ đâu ông đi khiếu nại. Muốn ra toà ông phải bỏ một ngày làm việc. Ðó là không kể tiền ông phải trả cho luật sư…”
Lời giải thích đã làm một tay bất cần như tôi phải chùng lòng.

Tôi kêu Oanh đi cùng. Và chúng tôi thay phiên nhau canh chừng mấy ông mấy bà tuần cảnh. Tôi để nàng đi mua sắm. Sau đó, đợi nàng về, tôi bắt đầu lê la. Dù không còn được dịp ngồi lại đốt thuốc hàng giờ trong quán cà phê mà mơ mộng nữa. Một ngày, tôi gặp hai người đàn ông ở một công viên bên Tòa Án. Một người dáng thấp và nặng nề. Người kia cao hơn với thân hình cân đối. Hai chiếc áo quân đội bạc màu dơ bẩn đủ cho tôi biết họ là những người homeless thường thấy tại các nơi công cộng như bến xe lửa hoặc công viên. Có điều khác biệt với những người tôi hằng gặp – da trắng hoặc da đen- họ là người Á Châu. Có lẽ họ là người Tàu cũng nên. Nhưng còn hai chiếc áo nhà binh ở trên mình họ ? Hai chiếc áo 4 túi của một thời nào mà tôi đã từng khoác gần suốt tám năm trời làm tôi hơi phân vân. Có lẽ họ xin ở đâu đó, từ một cơ quan từ thiện, hoặc cũng có lẽ là những người cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam nay bị ruồng bỏ. Hoặc cũng có lẽ họ là những tay nghiện rượu và mấy cái túi áo rộng thùng thình là chỗ chứa lý tưởng nhất tránh những cặp mắt của các thầy cảnh sát. Sau đó tôi chẳng còn để ý gì đến hai người ấy nữa. Mắt tôi còn phải láo liên nhìn trước nhìn sau. Cái giấy phạt 60 đô la vẫn còn là ám ảnh.
Chợt một lúc nào đó, tôi thấy hai người đàn ông đứng dậy. Họ cúi đầu cùng đi chung quanh cột cờ giữa công viên. Họ đi thật bình thản, và quá ung dung. Tôi không thể tìm một dấu hiệu gì của một con người không nhà không cửa mà tôi hằng gặp. Tôi lại nhận đôi mắt sưng húp của hai người. Và có cả dấu hiệu quân đoàn IV đen mờ trên cánh tay áo. Có ngọn gió nào làm da thịt tôi phải nổi gai ốc. Hình như tôi đã có lần thấy họ, cũng từng đi cạnh nhau như thế.

…Căn phòng chỉ còn lại một màu tối thẫm bao trùm. Nếu không có tiếng kêu rè rè của những chiếc máy truyền tin, và những ánh đèn chớp xanh đỏ liên hồi cùng chút nắng chiều hắt vào cửa sổ, thì nó chẳng khác gì ngôi nhà mồ. Những tín hiệu cứ tiếp tục đánh về. Những bức công điện màu vàng thi nhau nhả xuống thềm dồn dập những lời kêu cứu, những chờ-lệnh, những tuyệt vọng, những chiến thắng… “Xin thêm máy bay yểm trợ. Xin pháo binh tầm đạn xa… Báo cáo tiểu đoàn đã chiếm được mục tiêu… Báo cáo tịch thu súng phòng không…” Bao ngày nay, tôi đã lắng nghe những tín hiệu, mà rưng nước mắt. Là một phóng viên chiến trường tôi đã có dịp gặp nhiều phóng viên ngọai quốc. Họ đều cảnh cáo tôi về những ngày sắp đến. Quốc hội Mỹ đã giảm viện trợ tối đa. Dân chúng Mỹ theo những cuộc trưng cầu dân ý đã bắt đầu không tin chính quyền Mỹ về chiến tranh VN. Mỹ trước sau cũng bỏ rơi Việt Nam. Họ khuyên tôi nên tìm cách mang cả gia đình lên Saigòn hay ra Phú Quốc, để có cơ hội lên máy bay. Lúc ấy cao nguyên đã bị thất thủ. Dù vậy, miền Tây vẫn yên tĩnh, chẳng có dấu hiệu gì cho một cuộc chuyển quân cấp binh đoàn từ bên kia biên giới. Ông Tư Lệnh vẫn bay thị sát mặt trận suốt ngày trên trực thăng. Ðài phát thanh và truyền hình vẫn tiếp tục loan đi những tin tức từ mặt trận, bằng những trận đụng độ lẻ tẻ tại vùng Ðồng Tháp Mười, hay biên giới Miên Việt. Quốc lộ 4, quốc lộ huyết mạch mang lúa gạo cung cấp cho Saigòn vẫn an toàn. Sư Ðoàn 7 đã tăng viện thêm một trung đoàn về Cái Bè Cai Lậy. Không ai biết được nỗi yên tĩnh này bao lâu. Qua những tín hiệu buồn thảm từ các quân khu khác, người ta nghĩ đến một con bệnh đang hấp hối.

Ngày 20 tháng tư, 1975,

Văn phòng Tư Lệnh gọi qua phòng thông tin và báo chí cho biết ông Tư Lệnh cần gặp các sĩ quan của phòng. Ðiều này làm mọi người kinh ngạc. Bởi vì từ trước đến nay ông chưa bao giờ nhắc nhở gì đến báo chí. Ông cũng chưa bao giờ tiếp kiến bất cứ một phóng viên ngoại quốc nào. Nhiều người cho rằng ông có cái mặc cảm về khoa ăn nói. Nhiều người nghĩ tại ông là một vị tướng lãnh hơn là nhà chính trị. Không ai biết một ngày họ được đứng trước lá cờ hai ngôi sao trắng. Bên cạnh ông là ông Tư Lệnh Phó. Và ông Tư Lệnh nói. Giọng Huế nặng và khó nghe. Ông muốn những người đang ở trước mặt ông phải tìm mọi cách nói lên một miền Tây an toàn. Một miền Tây của niềm hy vọng chớ không phải tuyệt vọng, hấp hối. Nỗi chua xót đã thấy rõ ở trong đôi mắt. Thì ra ông đã hiểu về cái khốc hại khi người ta mất niềm tin. Ông đặt tin cậy lên chúng tôi, may ra mang niềm tin về lại triệu triệu người tuyệt vọng, trong khi những bản tin bi quan cứ tiếp tục phát thanh từ các đài ngoại quốc. Trong khi vợ con sĩ quan không quân, hải quân được bí mật chuyển đến các khu an toàn. “Các em phải tìm mọi cách để mang niềm tin về lại đồng bào.” Ông nói chậm và giọng quá buồn. “Các em cứ vào trung tâm hành quân. Tin tức ở đấy trung thực nhất.”

Nhưng con bệnh đã hết thuốc chữa. Dù lời phê bắn bỏ của ông tư lệnh phó trên tấm công điện đánh về trung tâm hành quân quân đoàn báo cáo có một tàu hải quân bỏ chạy ra hướng cửa biển, mà sau này người ta được biết trên tàu gồm tướng Tham mưu trưởng, cũng như Ðại Tá Tỉnh Trưởng. Những báo cáo bị át bởi tiếng thở hổn hển từ người lính truyền tin phải làm việc quá nhiều: Máy bay lạ xuất hiện ở Phong Ðiền, Phụng Hiệp. Máy bay gì, ai cũng hiểu về những chiếc phi cơ hốt hoảng rời khỏi phi đạo. Nhưng cũng giữa muôn ngàn âm thanh ảm đạm ấy, là tin một chiếc phản lực bị bắn rơi trên vùng giáp ranh Ðịnh Tường, Mỹ Tho và những khẩn cầu tiếp viện hay những tin chiến thắng.

30 tháng Tư, 75. Buổi trưa, 3 giờ.
Văn phòng thông tin quân đoàn nhận lệnh đọc thông cáo đầu hàng.

30 Tháng Tư, 75. Buổi chiều.

Ông Tư lệnh lên xe Jeep chạy về quân y viện Phan thanh Giản. Ðằng sau xe chỉ có một người lính gốc Miên đen đúa cầm khẩu M16. Ông đi đến từng giường thăm hỏi thương binh. Người lính cụt một chân, còn băng khúc đùi, ráng đưa tay chào ông. Ông dừng lại. Cặp kính đen che đôi mắt, không hiểu ông có khóc hay không.

30 tháng Tư, 75. Hoàng hôn.

Trời vẫn còn đủ sáng để thấy ông Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó chắp hai tay sau đít, đi bách bộ quanh cột cờ. Hai vai cúi xuống. Lần này ông Tư Lệnh không còn mang cặp kính đen quen thuộc nữa. Ðôi mắt hai người sưng húp. Tuy nhiên, họ vẫn cười, dáng bình thản lạ lùng.
Cả bộ chỉ huy quân đoàn vắng hoe. Thông cáo đầu hàng đã được đọc trên đài phát thanh và đài truyền hiình. Ngoài đại lộ Hoà Bình, thỉnh thoảng vài chiếc xe quân đội chạy vút qua trên mặt lộ vắng tanh. Người lính Quân cảnh vẫn còn đứng gác ngoài cổng. Người tài xế già và người lính hộ vệ đen đúa vẫn còn ngồi trên bực tam cấp hút thuốc.

…Tôi muốn bỏ xe chạy lại công viên. Rõ ràng tôi gặp lại hai ông Tướng cũ. Nhưng con mẹ tuần cảnh đã hiện ở đầu đường, cắm cúi ghi ghi chép chép. Tôi rồ lại máy. Ðường lại một chiều. Tôi chỉ biết nối đuôi theo giòng xe cộ. Ðến đầu đường Canal cả đoàn xe bị kẹt. Trăm ngàn xe thi nhau bóp còi. Không còn ai nhường nhịn ai. Rồi chửi thề. Rồi văng tục. Ðầu óc tôi muốn nổ bùng. Từ hình ảnh hai ông tướng cũ. Từ đoàn xe hình như bám cứng không chịu nhúc nhích.
Khi trở lại công viên, thì đèn đường đã sáng. Oanh chờ bên một lô thực phẩm. Tôi thì bỏ mặc nàng nhảy ra khỏi xe, chạy mau vào công viên. Nhưng hai người đàn ông ấy đã không còn ở đấy nữa. Tôi trở lại xe. Oanh hỏi: “Anh có chuyện gì xảy ra mà chạy như ma rượt?” Tôi nói: “Anh vừa thấy hai ông Tướng Tư Lệnh và Tư Lệnh phó. Rõ ràng là hai ổng. Mắt hai ổng sưng vù. Có cả huy hiệu Quân Ðoàn 4.” Và tôi lấy bàn tay quơ quơ trước mặt tôi. “Anh bị ai nhập rồi.”

Hôm ấy là ngày thứ bảy. Tôi lại lái xe về Chinatown. Vẫn một chỗ ngồi trong xe để nhìn những con bồ câu rạp cánh trên công viên, những đứa bé nô đùa cùng những người đàn ông đang ngồi bu quanh bàn cờ tướng. Ngoài hàng rào sắt sơn đen là vài người đàn bà Tàu đang ngồi xem bói. Buổi chiều 30 tháng tư, tôi vẫn còn nhớ. Thì hai người cũ lại hiện ra, vẫn cái dáng đi hơi khom xuống đất, vẫn hai chiếc áo cũ màu xanh ô liu, trên vai là huy hiệu QÐ 4. Tôi bỏ xe chạy vào công viên, miệng lập cập nói: “Thưa thiếu tướng, thưa chuẩn tướng. Tôi là sĩ quan báo chí của quân đoàn 4.” Mắt tôi nhòa nhạt. Ông Tư Lệnh lặng yên nhìn tôi. Gương mặt ông vẫn còn trầm mặc như lúc ông ngồi trên trực thăng, nhìn xuống chiến trường, hay những lần ông ngồi yên lặng trên chiếc ghế bành trong dinh tỉnh trưởng bên chiếc dĩa đựng những trái bắp luộc.
Ông Tư lệnh phó nói:
– Ta nhớ chú em rồi. Ngày xưa chú em cũng đã từng bay chung với ta mà.
– Thưa chuẩn tướng, ở mặt trận Mộc Hóa Kiến Tường. Tôi cũng đã từng bay với Thiếu Tướng Tư Lệnh. Tôi nhớ buổi trưa Thiếu Tướng ghé dinh Tỉnh Trưởng ăn trưa với những trái bắp luộc… Thưa Thiếu Tướng, tôi nhớ chiếc trực thăng Mỹ bay cả buổi trên dinh Tư lệnh.
Bây giờ ông Tư lệnh mới nói:
– Viên lãnh sự Mỹ đã chờ ta. Ông ta dù sao cũng là người tốt. Ông không bỏ ta vào giờ phút cuối. Nhưng ta làm sao mà can đảm bỏ đi. Ta nhắc lại cho chú em. Con người phải sống cho đúng đạo làm người. Ta ở trong quân đội ta phải tuân phục quân đội, nghĩa là thượng cấp. Ta là tướng ta phải làm tròn bổn phận tướng. Ta là tín đồ ta phải làm tròn những điều răn dạy dành cho tín đồ.
– Buổi chiều cuối cùng, tôi thấy thiếu tướng lên xe về quân y viện Phan thanh Giản.
– Phải. Cả cuộc đời ta vui buồn với họ, chết sống với họ, làm sao ta quên được. Ta không biết sau khi ta bỏ họ đi, họ còn nơi nương tựa nữa không. Ta đã đến bên giường họ, họ đã nắm tay ta, khóc với ta. Họ không thể đi được. Nếu họ có thể đi, thì họ đã đi rồi. Chân họ bị cưa chưa lành. Bụng họ bị mổ, vết thương chưa khô. Có người bị mù cả hai mắt không nhận ra ta. Có người vừa nhìn ta vừa mếu máo. Nếu tôi biết Thiếu Tướng kêu gọi đầu hàng, tôi chẳng cần đánh giặc làm gì. Bao nhiêu điều ta gặp, ta nghe trong buổi chiều hôm ấy. Công lao và sự hy sinh của họ, và gia đình họ đã bị phản bội. Chú em không biết, khi trở lại văn phòng, ta nghe lời khẩn cầu của viên lãnh sự trên trực thăng: Chúng tôi chỉ còn 5 phút nữa là bay ra hạm đội. Ta và tướng Tư lệnh Phó nhìn nhau. Ta muốn chú Hưng đi. Chú Hưng muốn ta đi. Cuối cùng ta và tướng Hưng đi ra ngoài sân cờ.

Lần đầu tiên ông Tư Lệnh nói chuyện nhiều với tôi như thế. Tôi chợt nhìn chiếc áo lính cũ của ông. Chiếc áo sờn hai vai. Lưng áo thì vá chùm vá đụp. Nhưng tôi không dám nói lên ý định mua tặng ông một chiếc. Ðôi mắt ông vẫn còn sưng.
– Thiếu tướng, đôi mắt thiếu tướng…
– Ta hiểu điều chú em hỏi ta. Ta không thể nào không đau khổ khi nhớ đến cả một tập thể quân đội bị bội phản. Ta không thể nào không đau khi những người nguyên là cựu quân nhân trở về quê nhà, ung dung hưởng thụ trong khi đồng đội của họ, lính tráng của họ, người bị thương tật, người sống đầu đường xó chợ đang cần năm mười đô la. Bây giờ ta không nhà không cửa, bởi vì miền Nam mất, ta đâu còn nhà còn cửa. Chỉ tội những người như những thương binh ta thăm chiều ngày 30 tháng tư 75…
Ông Tư lệnh phó nói thêm:
– Ta có đọc bài chú em viết về ta. Chú em thắc mắc về chữ Bắn bỏ mà ta phê trên tờ công điện năm xưa phải không?
– Tôi có đọc tờ công điện và lời phê của chuẩn tướng.
– Chúng ta đã đi một nước cờ sai. Chúng ta vẫn tin tưởng mọi người chung một lòng một dạ với đất nước. Chú em hẳn biết trận An Lộc ghê gớm đến như vậy mà ta còn chịu nổi huống gì quân khu 4, chưa thấy một bóng dáng xe tăng đại pháo của địch ở đâu. Ta không ngờ những người mà ta trông cậy nhất cũng bỏ chạy. Chẳng những họ chạy, họ lại còn gọi máy về đơn vị kêu gọi đồng đội họ tử thủ để họ bình yên chạy. Ta đã ra lệnh bắn bỏ nhưng cũng vô ích. Không thể thay đổi được thế cờ. Ta tiếc là tiếc cái vùng đồng bằng màu mỡ, cái quốc lộ bốn đến ngày cuối cùng vẫn yên tĩnh. Ta thương những người lính đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. Ta biết họ giận chúng ta. Họ đã nằm xuống ngay vào giờ thứ 25. Có người còn hy sinh sau ngày 30 tháng 4 như Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn…
Bây giờ, ông tư lệnh phó cầm lấy vai tôi. Ông nhìn tôi bằng đôi mắt đầy vẻ uy quyền:
– Bây giờ ta và thiếu tướng phải đi. Chúng ta sẽ trở lại quê nhà, dù sao tình ở đó cũng ấm áp hơn tình xứ Mỹ này. Anh em ở bên đó rất đông, khiến chúng ta đỡ cô độc hơn. Chú em nhớ hứa đừng cho ai biết có ta và thiếu tướng ở Nữu Uớc này. Thôi chúng ta đi.
Tôi cúi đầu khóc như đứa con nít.
– Tôi xin hứa với thiếu tướng và chuẩn tướng.

…Bây giờ, Oanh đã chạy đến bên tôi. Nàng hớt hải:
– Anh làm gì mà như bị ma nhập. Em từ xa thấy anh cứ làm bộ tịch như thể nói chuyện với ai. Coi kìa, anh lại khóc. có sao không anh? Coi chừng đất đai thổ thần linh hiển…

TRẦN HOÀI THƯ
NJ, Tháng 7, 1995

(trong “Ra Biển Gọi Thầm”, xuất bản 1995)

PHAN TẤN HẢI, NGƯỜI TỚI NHƯ MỘNG

nguyenthikhanhminh

Người Tới Như Mộng. Là tựa một truyện ngắn của Phan Tấn Hải. Tôi mượn để làm đề cho bài viết này. Những truyện ngắn và tản mạn của ông tôi đọc qua báo giấy và các web Việt Báo,Thư Viện Hoa Sen, khi gặp tựa đề này thì thốt nhiên tôi nghĩ rằng, A, đúng rồi, Phan Tấn Hải, Người Tới Như Mộng… Tôi nói thế có gì sai với một người tu hay không tôi không biết, nhưng tôi thấy yên tâm. Vì trong một e-mail gửi cho tôi và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, ông có nói, “… Cho nên rồi cũng phải bỏ hết tham sân si (hiểu là sẽ tới lúc bỏ hết truyện, thơ?) để về ngồi tụng kinh, thí dụ ngồi uống café với hai bạn sáng mai cũng là tụng kinh vậy…” Vâng, lúc tôi tập trung nghe ngóng cảm xúc từ không khí lời của ông, tôi thấy mình thật sự lọt vào tợ thiền cảnh. Tôi tan nơi riêng bặt của tâm mình, như thể từ những lời những hình ảnh kia là một tấm gương phản chiếu cho tôi thấy tường tận hơn, cảm xúc sâu thẳm của tâm hồn vắng lặng. Hình ảnh ấy nó thiện mỹ làm sao, ý tứ ấy nó đánh thức cái tâm ban sơ người ta đến vậy. Và lời ấy chính xác là phản xạ của nhịp trái tim, không chút nào là sản phẩm của lý trí. Thế mới nói cảm động được người đọc, như tôi đây. Đó không thể nói được là tôi cũng đang tụng kinh hay sao? Nếu lỡ có gì sai phạm với Chánh Pháp, xin dành cho tôi chút suy nghĩ rằng tôi là người đang chập chững theo ngón tay soi sáng chỉ đường kia…
Tôi không thể cắt nghĩa thật rõ, vì sao tôi gắn cái hình ảnh Người Tới Như Mộng với Phan Tấn Hải. Chỉ trực nhận như thế khi tôi đọc một loạt những truyện ngắn, tản mạn của ông, ở đó chữ ông lấp lánh cái nhìn tinh khiết, những hình ảnh thoắt ẩn thoắt hiện, những con người đến đi như sương khói, rồi tất cả nhập vào phút giây khép nhẹ viền mi, để nhịp tim lắng theo trầm trầm tiếng cầu nguyện, ngày và đêm. Rất đẹp. Nên là Mộng. Đến nhanh. Thiết tha. Tan mau. Ung Dung. Nên là Mộng. Là ông, hay văn ông. Cùng là Mộng. Cái dáng ấy lừng lững đến, ngồi đấy, và như những nhân vật của ông, sống với từng phút giây, rất thực, nhưng rồi sau đó khi ông đứng dậy đi, thì như thể một ảnh ảo xóa nhòa, đến nỗi tôi bâng khuâng, có thực có người ấy đã đến và ngồi đấy không, và những lời của ông đã như nắng biến mất trên mặt thềm, chỉ ly café óng ánh một màu đen có thực. Cảm giác ấy nó tự nhiên mà có, nên mới nói Người Tới Như Mộng. Đúng như ông đã viết “Những người như mộng, như thật. Những người đã tới để cho tôi thấy đời này như mộng, như thật. Họ tới để nói rằng cõi đời này là bất khả nghĩ bàn, nói mộng cũng hỏng, mà nói thật cũng sai.”
Thế nên đầu tiên, tôi xin cảm ơn ông với nghệ thuật ném tất cả vào mộng để nhắc nhớ phù du.
Nhà văn Phan Tấn Hải, cũng là cư sĩ Nguyên Giác. Với tôi, những tác phẩm của cư sĩ Nguyên Giác, tôi chỉ biết dựa cột mà nghe, mà học hỏi. Những tác phẩm ấy đã chứng tỏ được giá trị và lợi ích của nó về cả hai mặt Phật Học cũng như Văn Học. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến một Phan Tấn Hải, người nhìn cuộc đời qua lăng kính trái tim mẫn cảm của một nghệ sĩ. Nên những trích dẫn chỉ là bước chân của tôi đi theo những mũi tên chỉ đường của cảm xúc, để tìm đến, có thể là một kho báu, hay một khu vườn có phép mầu của những loài hoa, hoặc giả chỉ là hư ảo một chân trời bao la đang tan dần theo ánh mặt trời lặn…

Phan Tấn Hải có lối cấu trúc truyện hư hư thực thực, không gian lẫn thời gian, cái hấp dẫn của nó là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man đi vào mơ, rồi tan như ảnh ảo. Một bút pháp không bút pháp, chỉ giản dị như nghĩ tới đâu thì kể tới đó, không kỹ xảo, không hoa mỹ, nhưng văn có hấp lực ở chỗ chữ vô cùng bình thường nhưng sức chở thì sâu xa, độc đáo. Nhân vật “Tôi” của ông, nhìn, nghĩ, phản ứng, như có gì ngây ngô, (có một anh bạn của tôi đã dùng chữ này khi nói về ông “ngây ngô một cách khiến người ta phải nhìn lại mình”) Tôi cũng đồng ý cái nhân chi sơ ấy ở ông. Một ngây ngô không dễ gì mà có nếu không có tâm thiện, một tính lành, một nếp nghĩ, biết trong sáng, một lối hành xử của người có trang bị cho mình một sức mạnh của tu tập. Một Ngây Ngô viết hoa mà nghĩa của nó đẹp như nghĩa của Ban Sơ. Cái ngây ngô để chống đỡ với vô cùng giảo hoạt nhiễu nhương cảnh đời. Phải tập vứt bỏ thế nào để có được cái ngây ngô ấy? Thế mới nói Người Tới Như Mộng.
Đọc những truyện như thế của ông, chắc không chỉ mình tôi, đều có cảm giác hoang mang tự hỏi, chuyện đó nó có xẩy ra không trên chính những trang chữ ấy? nói chi đến có thực không ở đời. Giống như thể ông đang vẽ hình trên cát, mỗi hình vừa xong lại xóa đi, rồi lại tiếp một hình khác. Rồi chính người vẽ cũng tự xóa mình, để người xem ngẩn ngơ với cảm xúc, buồn đeo mối cảm hoài, cho nên ngẫm ra đâu cần thiết phải hỏi, có thực chứ? Vậy mà theo thói thường, tôi đã hỏi ông một câu ngu ngu buồn cười như thế. Ông trả lời như có như không, Người Tới Như Mộng…
Ở đây không dính chút gì gọi là “đọc sách” cả, tôi chỉ muốn nói cảm xúc của tôi trước một cái nhìn nhân bản về nhân sinh, những khắc họa rất lạ về hình ảnh, những lời văn đẹp của ông -cái đẹp mặc khải bí ẩn của những vân gỗ không tô chuốt, của cảnh vật hoang sơ, của khuôn mặt mà ánh sáng được tỏa ra từ hòa ái ánh mắt và nụ cười giản dị-. Chính vì thế mà những chuyện, như ông nói là chuyện tình, thì đó dường như là những chuyện tình đẹp nhất máy động đến mấy thức của tâm linh. Mặt khác, nó là một thông điệp về giá trị thực của hạnh phúc, về quí báu phút hiện tiền, phải chăng nó được nhìn, được hành xử bởi tâm của một người tu? Điều này tạo nên một nét khác biệt lạ lẫm ở truyện của Phan Tấn Hải. Đối với tôi, còn có thể học thêm từ đó nghĩa rất gần gũi của Phật Pháp, không phải là điều gì cao xa, là từ chính tâm mình.
Trong giới hạn của một người đang từng bước lẫm chẫm học Phật, tôi giản lược mình chỉ với tư cách một người đọc bình thường để được tung hoành với cảm xúc riêng khi đọc truyện của ông.
Sáng nay, trong cái vươn mình khoan khoái của cây lá sau trận mưa, trong nỗi phơi phới của tấm lòng chờ đón, tôi trang điểm. Đầu ngày mở ra bằng nụ cười có màu son, mẹ tôi bảo, môi con nhợt nhạt lắm, nhớ tô chút son. A, màu son, nó làm mặt mũi phụ nữ tươi tắn, và không ngờ nó là một vệt sáng lung linh trong dòng sông tâm hồn của ai đó, như trong câu truyện này,

VẾT SON ƠI, QUÊN NHAU LÀ CHUYỆN KHÓ

Có thể nói, kiểu gió thoảng của mối tình -nếu có thể gọi như thế- hai nhân vật trong đó là ngọn gió đầu mùa chứa đầy năng lượng của sự bắt đầu và thốc tới tâm hồn ta với vận tốc ánh sáng. Tôi không nói quá đâu, đó là kinh nghiệm tôi có khi đọc xong đoạn cuối, nỗi cảm động như tiếng chuông ngân nga trong lòng tôi khi tôi tưởng tượng một người ngồi cầu nguyện trong ánh nắng sớm mai. Cái buồn, mất, xa, không tồn tại trong tâm người viết, chỉ là tự nhiên nói về một tâm trạng hiện hữu. Nhưng sao đọng trong tôi một man mác không rời được của nỗi mơ hồ.

… Tôi không nhận được tin gì về nàng nữa, từ đó. Tôi vẫn cầu nguyện cho nàng khi bắt
đầu các buổi thiền tập hàng ngày. Và biết rằng, sẽ rất lâu, sẽ còn rất lâu, hình ảnh nàng mới nhạt đi trong tâm mình. Kể cả vết son.

Chuyện của vết son kết thúc như vậy. Nhưng hãy nghe cái ban đầu của họ.

Hình ảnh cô bé chân trần nhảy cò cò ngoài sân cũng hiện lên trong đầu tôi. Tôi tự nhủ, có lẽ, người ta không cần tới thuyền để qua dòng sông sinh tử đâu, cứ mãi nhảy cò cò trong chiếc sân cát tuổi thơ cũng sẽ qua bờ. Tôi nghĩ thế, nhưng không chắc là Phật pháp có ý nào như thế. Chỉ có điều khó hiểu, vì sao những bước nhảy cò cò cứ mãi in sâu trong hồn mình như thế.
… Thực ra, hễ nghĩ tới Mai, tôi vẫn tự nhiên nhớ mơ hồ rằng hồi nhỏ, từ khi còn rất nhỏ, nàng đã ưa đi chân trần … Suýt nữa là quên nói bí mật này: tôi thích nhất là nhìn thấy hình ảnh “con bé Mai” khi làm xong các thứ, là đứng dậy nơi sàn xi-măng, nghiêng người, một tay túm nơi đầu gối hai ống quần, và tay kia cầm chiếc thau nhỏ múc nước tưới vào hai bàn chân rồi chải hai bàn chân vào nhau cho sạch cát đất.
… Sau này đọc Kinh Phật, tôi nghĩ ra rằng chuyện mình ưa ngó hình ảnh nhỏ Mai nghiêng người rửa chân được sách gọi là “tùy phiền não” – nghĩa là, niệm cứ khởi đi, khởi lại về một thứ gì đó. Những khi nhớ ra như thế, tôi lại như mỉm cười, khi nghĩ rằng, có thể, và có lẽ, nếu một hôm nào đó, tôi đưa tay nắm lấy bàn chân của nàng, và khi tay nhận ra bàn chân nàng đầy xương xẩu gầy gò, hẳn là sẽ không bao giờ khởi lên các thứ hình ảnh như thế nữa. Cũng chẳng biết nữa.

Dường như cũng bằng những bước cò cò ấy, nàng gặp lại chàng. Quá khứ và hiện tại nối nhau chỉ vài bước nhẩy cò cò con trẻ, nắng thời ấy đem cái trong suốt đi theo, cổ tích hóa mọi điều, kể cả không gian một tiệm kem ở Pasadena,

Thời đó, cũng cần nói rằng, chưa hề có smartphone gì cả, cho nên mọi thứ bấy giờ đều đơn giản như cổ tích. Đúng vậy, chuyện y hệt như cổ tích: hình ảnh cô nàng ngồi với tôi trong một tiệm kem ở Pasadena, vào buổi chiều vừa nghe pháp từ ngài Đạt Lai Lạt Ma. Tôi nghĩ, chỉ thiếu lá vàng rơi thôi, là thành một cuốn phim lãng mạn…
… Từ pháp hội Pasadena tới khi tôi viết những dòng này cũng đã mười mấy năm rồi, nhưng hình ảnh nàng vẫn đôi khi thoang thoảng hiện trong mơ, trong trí nhớ tôi mơ hồ như khói, phả lên một cặp môi son không đầy đặn, và đôi mắt nàng đầy các nỗi xao xuyến về cuộc đời … Chưa thấy cái nghe nào đẹp từ một đôi mắt như vậy.

… Tôi chợt thấy một sợi tóc bạc bên viền tai bên trái của nàng … Tôi nhìn vào mắt nàng, nói như thì thầm rằng đây là thơ Neruda nhé, “Tình yêu thì quá ngắn, quên nhau lại quá dài … Love is so short, forgetting is so long.”… Tôi lại thấy vài sợi tóc bạc trên đầu Mai. Tôi tự thắc mắc, không lẽ chỉ trong vài phút, tóc bạc mọc nhanh như thế; hay hồi nãy, mình nhìn nàng không kỹ…

Ngẩn ngơ, tự hỏi có không thời gian họ ngồi với nhau, và chỉ trong chớp mắt hay dài theo thời gian để sợi tóc bạc đi? Hồi nãy là hồi nào… Chi tiết mang mang vô vi này khiến cả câu truyện lãng đãng mơ hồ như sóng vừa tới xóa những vết chân. Thôi hãy nói về vết son.

… Tấm thiệp chỉ có hình một dòng sông, và chiếc ghe không người đang neo nơi bờ.
Tôi nhìn dòng sông mở ra trên tay nàng. (hình ảnh đẹp, rất lạ trong mô tả này)
Mai đưa tấm thiệp lên môi nàng, in làn son trên môi vào trang trắng trong thiệp, rồi đưa cho tôi. Tôi cầm thiệp, chưa kịp nhìn kỹ, đã thấy nàng quay lưng, bước vội ra ngoài cửa tiệm sách. Tôi nói vói theo, để anh tìm tập thơ cho Mai đã… nhưng nàng đã mất hút ngoài cửa. Tôi cầm tấm thiệp có vết môi son, tới xếp hàng nơi quầy, chờ trả tiền. Khi bước ra, nàng đã như biến vào hư vô.

… nàng đã mất hút ngoài cửa… nàng đã như biến vào hư vô…, không gian ấy chỉ còn là ẩn hiện của màn sương, và thời gian chỉ còn thỏ thẻ sự hiện hữu của nó nơi vết son…, nhưng tôi biết nó sẽ theo con thuyền trôi dần vào con sông hư ảo kia, … Tôi đặt tấm thiệp môi son, dựng đứng trên bàn, nhìn thấy vết môi son mở ra. Gió từ phố Bolsa tạt từ cửa sổ vào. Người tôi run rẩy, cái lạnh này còn hơn là cái lạnh trăm sông nghìn núi, tôi nghĩ.

… chờ em, chờ em son nhạt môi, ta lạnh buốt bên sông … Hình ảnh nàng hiện lên trong dòng chữ đó. Hiện lên trên vết son môi nàng để lại trên tấm thiệp, trên đó chiếc thuyền không người lặng lẽ bên sông. Và để lại trong hồn tôi. Ngày và đêm.

Câu chuyện luôn gây cho tôi mỉm cười, nhưng cuối cùng, đọc xong tôi chỉ biết ngó lung vào ngõ nhỏ đang cong lên theo con gió lạnh cuối mùa. Cơn gió đầu mùa của họ cũng dường như tiên cảm một điều, tôi và Mai hệt như các nhân vật trong cuốn truyện cổ tích nằm ở các trang cách biệt, khi trang sách này mở ra, là trang sách kia khép lại, nhưng tiếng động những trang sách là âm vang của đời người, và lặn vào trong lời cầu nguyện tĩnh lặng của thời kinh sớm…

MÀU NẮNG RỰC SÁNG

Một ngày chan chứa nắng sau ba hôm mưa dầm, nắng, trông lại càng mới dù lúc nào nó cũng mới, trong một tản văn tôi viết năm 2012 về nắng ở miền nam Calif., “cái mùi nắng ấy như ngọn rễ non cho tôi bám vào vùng đất còn đầy xa lạ này… ngày đầu tiên tôi đến đây tôi nhớ mình đã thốt lên, y chang nắng ở nhà, vàng mật trưa Sài Gòn, thơm mùi biển Nha Trang, màu và hương của quê nhà cùng rưng rức trong óng ả mùa hè Calif. hỏi sao mà tôi không ngất ngư bởi cái ấn tượng giữa quen và mới mẻ ấy? Rồi khi đi trên phố Bolsa với những bảng hiệu chữ Việt của hàng quán hai bên đường thì nỗi e dè của tôi đã trở thành một niềm vui rộn ràng, con đường mình đang bước tới là một nối dài từ nơi mình đã chia xa. Và, tâm trạng bỡ ngỡ đã được điểm thêm lòng háo hức của kẻ đang dọn đến một ngôi nhà mới, với những tất bật dự tính, lo toan. Thế có phải nhờ cái buổi ban đầu bén hơi mùi nắng thấy quen quen?”
Thật là đồng điệu làm sao khi tôi đọc Màu Nắng Rực Sáng của Phan Tấn Hải, lòng tôi vui kể gì. (mượn câu của ông, cái duyên của chân chất nằm trong những câu kiểu này). Mở đầu chuyện là, Tôi đã ưa thích màu nắng ở quê nhà từ những ngày thơ ấu… Màu nắng Sài Gòn đó vẫn còn rực rỡ mãi trong tôi… Tôi vẫn nghĩ trái tim phải đầy thiên nhiên tính thì mới cảm được trọn vẹn ý tình của nắng mưa trời đất.
Giờ ta theo giọng văn óng ả nắng ấy mà đi,

Tôi vẫn nhớ màu nắng như dường nghiêm trang hơn trong sân trường, như dường
ngả nghiêng đùa cợt trên các lối đi xe đạp chen nhau khi tan trường, như dường loang vữa tường rêu ở các hẻm Phố Tàu gần nhà tôi, và cũng như dường nhảy múa dịu dàng trên mái tóc mấy cô nữ sinh trường Bác Ái đi xe đạp trên đường Nguyễn Trãi.
… Tôi ngây ngất nhìn màu nắng, và rồi nhìn thẳng vào mặt trời – chói kinh khủng, chẳng thấy gì … Lúc đó mới biết, tôi chỉ có thể nhìn được màu nắng trên mọi thứ khác. Lúc đó, tôi đã thấy rằng có một cái không thấy được, nhưng nó là cái làm cho mọi thứ hiện lên. … tôi thấy nắng chói thật đẹp trên các tường vôi ngả vàng của tường phố, và thấy lòng mình như chết trong màu nắng. Không hiểu sao lại thấy thế.
… Nghĩa là, một tuổi thơ của tôi ngập nắng, lòng cực kỳ hồn nhiên, và các phố Tàu Sài Gòn -nơi vẫn quen gọi là Chợ Lớn- là một phần đời của tôi, một mảng da thịt tim óc của tôi. Đó cũng là lý do sau này, khi từ Virginia về thăm Quận Cam, nhìn thấy màu nắng trên các hè phố Bolsa, … tôi biết ngay là bằng mọi giá là phải dọn về Quận Cam định cư. Không hoàn toàn vì sợ tuyết lạnh tiểu bang Virginia, nhưng khi tôi nhìn thấy màu nắng nơi này, tia nắng hắt trên những pho tượng nghiêm và buồn kiểu Chợ Lớn như thế, chân tôi đã đứng khựng lại nhiều phút sững sờ.
Tôi biết rằng, tôi yêu màu nắng này. Tôi thấy ngay lúc đó, rằng tôi sẵn sàng ngồi trên ghế đá ở phố Bolsa, chỉ để suốt đời ngồi nhìn nắng thôi.

Giống y cảm giác của tôi lần đầu nhìn nắng ở Bolsa này. Tôi hiểu thấm cái chết trong màu nắng, cái khựng lại sững sờ, nỗi ngây ngất, sẵn sàng suốt đời ngồi nhìn nắng, và tôi bâng khuâng, với ông, có phải trong màu nắng ấy âm ba tiếng guốc lấp lánh nắng tuổi thơ, tiếng chân nhảy cò cò thánh thót nắng? Có lẽ…, nên, lòng cực kỳ hồn nhiên…

… Một lần, tôi có làm một bài thơ, kể về những âm vang tiếng guốc của một cô bé theo tôi vào giấc ngủ, những âm vang này ru tôi ngủ, y hệt như lời ca dao mẹ ru con…

Những âm thanh mà, Không phải tôi nghe bằng tai đâu. Tôi nghe bằng cả da thịt, nghe bằng mắt, nghe bằng mũi, nghe bằng trọn cả gân xương tóc tai da thịt. Có những khi học thi với mấy tên bạn ở sân Chùa Xá Lợi xong, là đi xe đạp về Chợ Lớn, và cứ mải mê thấy cuộc đời ngấm lạnh vào da mình, mà lòng như say hương đời. Tôi yêu thích cuộc đời này biết là bao nhiêu.

Ôi, Người Tới Như Mộng, yêu đời như mộng. Tôi cảm động trước trái tim nghệ sĩ tận hiến này. Tôi mừng kể gì -câu của ông- khi tim mình nhảy lên nhịp đồng điệu, Lúc đó, tôi say mê đọc sách Krishnamurti. Dĩ nhiên là đọc bản dịch Việt ngữ. Thấy khó hiểu kinh khủng, chỉ lờ mờ thấy rằng ngôn ngữ Krishnamurti đầy sức mạnh như Kinh Phật, nghe âm vang như Thiền Tông khi nói rằng chân lý là mảnh đất không có lối đi. Chắc tôi và ông chênh nhau đôi ba tuổi thôi, vì thời ấy tôi cũng đọc Krishnamurti, cũng thấy khó hiểu, điều duy nhất tôi nhớ là hình Krishnamurti in ở bìa 4, một khuôn mặt chở đầy sức nặng của suy tư phiền muộn, và phả ra cái ánh sáng tự tại của cô độc, luôn làm tôi xúc động mỗi lúc nhìn. Suýt nữa là tôi quên kể câu chuyện tình. Vâng xém quên, và đây, xin bạn cùng tôi xem một khúc phim trên tường nắng,

Một phụ nữ trong trang phục kimono bước ra từ chiếc bàn trưng bày hoa, đưa tay
chào trước mắt tôi. Tôi không thể nhớ được rằng đó là ai, chỉ nói một chữ “Hi” để chào.
Tôi thấy ngay hình ảnh như từ thơ cổ Đường thi…

Sao tin là thật được nhỉ. Con người xương thịt đi ra từ trang thơ cổ. Và là nắng trong phút diện bích…,

tôi mở mắt ra, nhìn thẳng vào vách tường. Chặp sau, bức tường trong phòng tối có lúc như bật sáng. Tôi nghĩ, đây là màu nắng quê nhà. Nắng hiện rực rỡ trong tâm tôi. Những lúc đó, tôi bật đèn sáng, lấy sách ra đọc, có khi lấy giấy mực ra vẽ. Lúc đó, niệm gì cũng biết là hỏng, niệm thân thọ tâm pháp… niệm gì cũng thấy màu nắng hiện ra trước mắt… Đức Phật đã dạy rồi, khi thấy màu nắng, chỉ là màu nắng thôi… Thế nhưng, bây giờ tôi biết mình bị vướng. Tôi lấy tạ ra, tập thể dục nặng… tới khi mệt thì nằm ngủ.

Ôi, người mà đường tu chỉ mới mon men bên lề như tôi đây, thật khó thấy nắng chỉ là nắng thôi.

… Đúng vậy, tôi sợ. Cô là màu nắng hiện ra trên vách tường, khi tôi ngồi thiền mấy hôm trước. A. Trang thơ cổ hắt ra vạt nắng chiếu lên tường thiền định. Và khi trang thơ khép lại, người cũng biến theo, thì, May quá. Tôi bật cười khi nghe ông nói như một tiếng thở ra nhẹ nhõm, nhưng nhịp tim kia còn rộn rã? … May quá, một chặp sau, cô đứng dậy, nói thôi em về, để anh làm việc. Tôi mừng kể gì.

Chỉ đoạn sau này là kéo tôi về phút của hiện tại, là chi tiết nên thơ nhất của một chuyện tình,

Tôi vẫn ngồi dưới sàn, liếc thấy mắt cô như buồn ngủ, trong khi bàn tay cô nắm tay tôi, dịu dàng nồng ấm … Tôi siết nhẹ tay cô, rồi đọc tiếp, thật chậm, những trang kinh.
Trong khi lần giở từng trang, tôi thấy rực rỡ màu nắng trên từng trang Kinh Pháp Cú, và rồi tay cô buông tay tôi … Đêm phủ khắp nơi, trên người cô, đang nằm trên giường, và trên cả người tôi, kiệt sức vì đọc kinh và đang nằm gục trên sàn. Đèn nơi cửa sổ vẫn bật sáng.
Và lòng tôi rực sáng, một màu nắng chưa bao giờ tắt.

Câu chuyện tình dài theo con đường nắng từ Sài Gòn về đọng lại trong chớp mắt của giấc ngủ, và lòng “tôi” kia ngân nga từng giọt nắng tỏa ra từ hạt kinh. Điểm bắt đầu rực rỡ nắng khua tiếng guốc trẻ con để rồi lần theo từng câu kinh Pháp Cú mở ra cho người vĩnh viễn ánh sáng Chánh Pháp. Đọc xong tôi thấy màu nắng mình vẫn thích giờ mang một ánh khác nữa, con đường dẫn mình đến tu tập là con đường của nắng soi rọi cho mình thấy tâm mình. Màu Nắng Rực Sáng.

Và, NGƯỜI TỚI NHƯ MỘNG,

Tôi đã gặp những người như thế. Những người như mộng, như thật. Những người đã
tới để cho tôi thấy đời này như mộng, như thật. Họ tới để nói rằng cõi đời này là bất khả nghĩ bàn, nói mộng cũng hỏng, mà nói thật cũng sai.

Mở đầu câu chuyện là, … Tôi còn đứng ngẩn ngơ với mùi hương tóc rất lạ còn phảng phất, nhìn Diệu My bước hẳn vào sương mù nơi chiếc cầu trên đường State Street… Khởi đi đã là một mơ hồ, mùi tóc lạ, và bóng nàng khuất trong sương. Là một cổ tích. Không khí cổ tích làm trôi đi hay ngưng đọng thời khắc hiện tại, hay xóa hết thời gian? Tất cả. Ai biết thời đại bùng nổ internet (cũng là một cái ảo) này cũng có một cổ tích kiểu Bích Câu Kỳ Ngộ, người đẹp bước ra từ trong tranh, hay từ trái thị tỏa hương thơm ngát bếp nghèo? Người đẹp trong truyện này của Phan Tấn Hải bước ra từ điệu vũ của đàn chim sẻ khi nghe Bát Nhã Tâm Kinh.

… khi tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh, giọng của nhỏ út Diệu My nghe như tiếng nhạc trong âm vang hội chúng chỉ mươi người, và ngó ra sân thì thấy đàn chim sẻ sà xuống, nhảy múa hay tụng đọc gì theo kiểu riêng của loài chim. Tôi chợt nghĩ ra một câu thơ, kiểu như hẳn rằng kiếp trước em là chim, hát theo một câu kinh giữa sân chùa, nhưng rồi cũng không dám viết xuống cho thành trọn bài. Lúc nào tôi cũng sợ nghiệp. Nhất là cứ nhớ mãi lời Thầy dạy là hãy như chim bay, không để lại hình ảnh nào trên không.
… Đàn chim sẻ, lung linh trong nắng mặt trời. Sắc bất dị không, không bất dị sắc…

Âm vang lời đọc kinh của nàng từ một ngày xửa ngày xưa, bước thẳng vào thời gian của chàng, hôm nay, với vận tốc của ánh nắng, của giấc chiêm bao, hay của thời gian đời người ngắn quá, cứ ngồi dúi đầu vào đọc sách, viết sách, ngẩng đầu lên là thấy tóc trắng rồi?
Và những dâu biển nào xô đẩy hai điểm của họ gặp gỡ,

… Tôi không dám hỏi những chuyện đời, kiểu như nàng làm việc gì, lương bao nhiêu… Có vẻ như, tôi sợ những chuyện như thế làm rạn vỡ đi bầu không gian đầy sương khói giữa chúng tôi … Tôi muốn nói một câu, nhưng rồi ghìm lại, rằng sẽ có lúc anh bật khóc vì nhớ em … Tôi nói, tôi muốn thời gian ngừng hẳn lại, muốn điạ cầu đừng xoay nữa, muốn nắng chiều đừng tàn thêm. Nàng cười và hỏi, sao vậy. Trời ạ, tôi muốn ngất đi khi nhìn thấy nụ cười của nàng, y hệt như thời trẻ dại… Trời ạ, đây là nụ cười thỉnh thoảng hiện về trong giấc mơ của tôi, mà tôi không bao giờ nhận ra là ai và từ đâu. A. Mấu chốt là ở đây, cái mốc hư ảo của câu chuyện này là giấc mơ…

… mùi hương tóc nàng vẫn còn theo tôi, về tới Little Saigon. Vào cả giấc ngủ đêm hôm đó. Bàn tay tôi run rẩy, cảm xúc khi ôm nàng nơi bờ biển Santa Barbara vẫn còn mãi, còn nơi hai bàn tay tôi kể cả khi tôi gõ email hỏi Sơn về chuyện các bạn ở quê nhà.
… Còn nhỏ út Diệu My thì đã xuất gia từ lâu, bây giờ là một ni sư, trong hơn hai thập niên không hề bước xuống phố chợ… Tôi kinh ngạc khi đọc như thế…

Trời ạ, nàng đã đi tu và không vào cõi nhân gian đã hai năm. Thế vừa rồi? Santa Barbara ấy ở đâu? Họ là hai cơ thể có thật để nhận cái cảm xúc run rẩy của vòng ôm trao? Chiếc cầu sương mù xóa bóng nàng đi đâu? Hay tất cả chỉ là những hình ảnh hiện lên khi chàng ngồi ngắm nắng và tan hết khi đàn chim bay xa?
Cũng có thể. Họ gặp nhau trong không gian của một vũ trụ bốn chiều như Einstein nói chăng, có điều là làm sao để họ lọt vào cùng lúc cõi thời gian -chiều thứ tư- ấy để được gặp nhau, chắc chắn không phải ngẫu nhiên, phải có sự đồng thanh tương ứng của cái nghĩ về nhau, mới có được phút gặp gỡ diễm ảo ấy: … Những khi bước dọc theo phố Bolsa buổi trưa, dưới nắng ấm mặt trời, lòng tôi lại nhớ tới những tia nắng lung linh với đàn chim sẻ ở sân Chùa Tây Tạng Bình Dương… Cái nhớ đi mãi đi mãi thì ắt một ngày nó bất chợt nghe âm ba phản hồi của tiếng chuông ai gõ từ xa lắm…
Chúng ta có thể chạm vào ảo bằng cảm xúc thực? Người ta có thể đi tới một nơi khác, gặp người khác bằng cái hồn nhẹ tưng, cảm nhận được cảm xúc của hơi thở, của làn da, của nắng gió nơi mà họ bay tới? Tôi có nghe lõm bõm một thứ Thực tế Ảo mà người ta đã áp dụng: “Thực tế ảo hay còn gọi là thực tại ảo (virtual reality, viết tắt là VR) là thuật ngữ miêu tả một môi trường mô phỏng bằng máy tính. Đa phần các môi trường thực tại ảo chủ yếu là hình ảnh hiển thị trên màn hình máy tính hay thông qua kính nhìn ba chiều, … Hệ thống này mô phỏng các sự vật và hiện tượng theo thời gian thực và tương tác với người sử dụng qua tổng hợp các kênh cảm giác. Đặc điểm: Tương tác – Đắm chìm – Tưởng tượng.” (Theo Wikipedia)

Hai nhân vật gặp gỡ trong truyện không thông qua máy tính, họ Thấy nhau qua kênh giao cảm của trái tim. Chỉ có thế tôi mới hài lòng với thắc mắc về sự có xảy ra không buổi họ gặp nhau cho tới khi bóng nàng tan vào cầu sương mù…
Và … Bên tai tôi, vẫn còn âm vang bài Bát Nhã Tâm Kinh nàng tụng đêm qua… nghe như đêm qua ấy là từ bậc thềm chùa nơi đàn sẻ đã cắp những hạt nắng bay đi khi nàng ngưng tiếng đọc kinh. Mỗi người chúng ta dường như ai cũng có hạt nắng ấy, âm thanh ấy cho riêng mình để khi nó vang vọng sẽ đồng thời mở ra cho mình một cõi khác để mình sống. Sống thực như mơ. Một kinh nghiệm, nên ông mới nói, Tôi đã gặp những người như thế. Những người như mộng, như thật. Những người đã tới để cho tôi thấy đời này như mộng, như thật.

Tôi thích đọc những chuyện như vậy của ông. Nhưng ông đã nói thế này,

Tôi ngạc nhiên, tự nghĩ, sao lại có ai mê đọc mình như thế.
… Tôi đáp, như thế cũng là cái nghiệp. Cô hỏi, sao là nghiệp hả anh. Tôi đáp, không nên như thế, vì mê văn, đọc văn, quyến luyến văn là sẽ ở mãi cõi này; chỉ nên đọc cái gì làm mình không dính vào chữ nào nữa.

Vì mê như tôi thì e … lại bận rộn thêm một đời tương tự… (Đuổi Bắt Một Mùi Hương). Nhưng tôi không biết sao một khi chưa đạt đến trình độ đọc cái gì làm mình không dính vào chữ nào, trong khi những truyện như vầy của Phan Tấn Hải thì đang làm mình rất vướng víu như mùi hương kia, làm mình thấy cuộc sống này quá đỗi đẹp, trong khi một đời tương tự kia thì còn mơ hồ quá, … làm sao được, vì mùi hương vẫn bay quanh tôi, thoang thoảng… -mùi hương của cuộc sống này-. Đuổi bắt hay trốn chạy đều sai, đều trật. Thôi thì, hơi thở vào rồi ra, tự nhiên với chuyện đến đi, như câu cuối của Đuổi Bắt Một Mùi Hương, … các pháp tự thân đã là vắng lặng, dù mùi hương có đến hay đi…
Trong truyện Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó, ông nói, … vì với người phát tâm xuất gia như nàng, có khi chỉ một nụ hôn cũng có thể kéo nàng đi chệch thêm nhiều kiếp sau, tôi chợt nghĩ, với tất cả lòng chân thành, tôi cầu nguyện, nếu vô tình điều tôi viết khiến người tu kia tạo nên nghiệp, có làm chệch đi thì xin chệch một chút xíu thôi ở ngay kiếp đang sống này, là người Mộng chuyện Mộng sẽ thành Thực đôi ba lúc, để ai đó, như tôi bây giờ, được nương náu chút bình an, được hít thở vẻ đẹp thực trong cõi ta bà đang chìm nổi này …

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Santa Ana, 24.3.2016

BÀI 211 : CHIẾC BÓNG & TÔI.

huytuong

Đuổi theo trăng sáng trước nhà
Đâu hay chiếc bóng thật thà theo sau
Tôi nhìn tôi.thấy gì đâu
Tôi và bóng nhập quá lâu.trên trời ?
Tôi nhìn lên.tôi ngóng lời
Chỉ nghe trăng sáng.vàng rơi cuối vườn…
Tôi
cúi xuống.nhặt
cành hương!

HUY TƯỞNG

mấy nẻo bềnh bồng

npphan

bây giờ đã đủ an vui
nhắc chi mắt trắng bùi ngùi tha nhân
đãi bôi một chút ân cần
về thôi, buông bỏ phù vân dặm hồng

bước qua mấy nẻo bềnh bồng
mặc nhiên về ngủ giữa đồng cỏ xanh
chỉ còn lại một tờ kinh
vỗ yên tâm thức một mình tiễn đưa

rụt rè cất tiếng gọi thưa
có ai giữa cõi thờ ơ giãi bày?
về thôi, cơn gió nào hay
tâm vô ngại, chút tỉnh say chạnh lòng

NP phan

IM LẶNG CỦA THIỀN SƯ

phantranghy

1. Trời vần vũ. Bao tinh cầu xoay chuyển. Chỉ gió, chỉ tiếng gầm rú của chúng sinh. Không thể nhìn thấy mọi vật. Chỉ một màu đỏ ối trên trời. Mặt trăng biến thành quả cầu lửa.
Ađam lăn lộn trong cõi hỗn mang. Bỗng hai thằng người tách ra từ Ađam. Chúng cãi nhau giành phần thắng.
Nhiều con thú cười nói như người. Rồi tất cả thú hóa người nhảy múa vui mừng tru lên những giai điệu cuồng mê trong cõi vô minh. Những gương mặt thú biến mất trong phép của quỷ thần tích tụ. Chỉ có người và người.
– Hoan hô! Hoan hô! Đánh nữa đi!
– Đả đảo! Đả đảo!
Đám đông cuồng loạn. Vang trong cõi vô minh tiếng hò hét ầm ĩ điệu nhạc chiến tranh.

2. Bên gốc đại thụ, ánh hào quang tỏa sáng. Tưởng chừng như các thiên thần đang chào mừng ơn phước đến với thế gian. Thiền sư đang kiết già. Ngài dùng điển quan sát ba ngàn thế giới. Đâu đâu cũng thế!
Bên tai vọng lên giọng của hai thằng người giành phần thắng, Thanh Văn bạch với thiền sư:
– Thưa sư phụ! Có chuyện không hay.
Thiền sư hỏi:
– Ông xem họ đang làm gì vậy?
Cung kính, Thanh Văn bạch:
– Thưa sư phụ! Nếu dùng thần lực của con tính đếm trong nghìn kiếp mới có thể biết bọn họ làm gì.
Thiền sư bảo:
– Ông hãy tính đếm đi!
Nói xong, ngài nhắm nghiền mắt.

3. Âm nhạc. Tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng kèn đồng, tiếng tù và, tiếng đàn, tiếng sáo… Vũ điệu. Tango, chachacha, lambađa, hiphop… Ánh sáng. Xanh, đỏ, tím, vàng, đen… Tiếng la hét hòa nhịp nhàng với ngàn âm vũ điệu:
– Hãy lên án tên giết người!
– Hãy giết hết bọn khủng bố!
– Hãy bắt tên tội phạm chiến tranh!
– Giết nó đi để trừ hậu hoạn!
– Hoan hô! Phe ta đã thắng!
– Đả đảo quân khát máu!
Đám đông hò hét ủng hộ. Đám đông hò hét phản kháng. Hỗn loạn! Hỗn độn cảnh hỗn chiến!
Thiền sư thiền định.

4. – Bạch sư phụ! – Thanh Văn hốt hoảng gọi thiền sư.
– Gì thế?
– Thưa sư phụ! Bọn người mê loạn trong cảnh đánh nhau.
– Theo ông, chúng ta phải làm gì?
– Theo con nghĩ chúng ta phải dùng phép màu tiêu diệt bọn họ.
Nụ cười hiền hậu nở trên môi, thiền sư ôn tồn nói:
– Đức háo sanh là căn nguyên tạo nên trời đất, muôn vật. Kể cả tính Phật cũng bởi đức háo sanh mà ra. Ta nhân danh Phật mà tru diệt chúng sinh ư? Không! Ta phải dùng pháp mà giải thoát chúng sinh.
– Thưa sư phụ! Người dùng pháp gì?
Thiền sư im lặng.

5. Eva múa khúc nghê thường. Nàng mơ màng hát khúc tình ca bất tử. Nàng trút bỏ xiêm y. Nàng khỏa thân khoe vẻ đẹp diệu kỳ của tạo hóa ban tặng.
Những cô gái bắt chước Eva.
Eva cùng những cô gái xuân trẻ tắm mát cơ thể trong các dòng sông. Các cô khoe thân thể. Các cô đến giữa bầy người cuồng loạn.
Đám đông im bặt. Hai thằng người trở thành Adam như lúc mới sinh. Bọn đàn ông làm theo Ađam.
Mặt trăng dịu dàng tỏa sáng.
– Bạch sư phụ! – Thanh Văn mừng rỡ thưa – Chúng sinh chung sống
hòa bình rồi!
Thiền sư im lặng…

Phan Trang Hy

NGÀY NÀY, BỐN MƯƠI MỐT NĂM TRƯỚC.

nguyenhoangquy

Giữa tháng 4.1975, tôi về đến Sài Gòn. Quân giải phóng tiếp quản Nha Trang, Cam Ranh từ 02/4. Những ngày này ở Sài Gòn, tôi và người em họ xách xe đi khắp nơi, phần lớn để hỏi thăm gia đình, người thân và bạn bè ở Huế, Đà Nẵng, ai vào được, ai kẹt lại.

Hồi ấy Bộ Giáo Dục VNCH mở Trung Tâm Liên lạc Giáo chức di tản ở cuối đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần để biết ai đã về đến, trả lương 6 tháng liền và chuẩn bị bố trí công việc mới. Chúng tôi cũng hay tới đó gặp gỡ bạn bè.

Một buổi sáng, ghé Trung Tâm , TN đến tìm tôi, lúc đó em đang học năm 3 ĐHSP ở Huế. Hỏi chuyện, biết cả nhà em đã về đến Sài Gòn khi Huế sắp mất và hiện đang tá túc ở một căn nhà trống do bà con cho mượn. Em bảo tôi: “Chiều nay anh ghé nhà, có chuyện quan trọng TN cần nói với anh. Anh không đến thì sau này đừng ân hận”. Nhìn nét mặt và thái độ nghiêm túc của em, tôi biết TN không đùa. Theo địa chỉ em cho ở đường Bà Hạt trong Chợ Lớn, chiều đó tôi đến, em tiếp tôi tự nhiên, bình thường rồi lát sau bảo rằng: “Anh ạ, ngày mai TN lấy chồng. mẹ đã đồng ý để người ta đem lễ vật tới nhà đám hỏi và xin cưới em sau đó ít ngày, chuyện rất gấp”. Tôi khá ngạc nhiên và sững sờ dầu rằng vài ngày trước đó cũng từng nghe nói đã diễn ra ở thành phố những đám cưới kiểu này.

Hỏi chuyện, biết chồng sắp cưới của em là một thẩm phán, hai gia đình trước đó có quen biết nhau: “Mạ em bảo nên cưới gấp nếu không mai mốt VC chiếm thành phố sẽ bắt con gái lấy thương binh”. Tôi ngớ người nên chả biết nói gì với em ngoài câu hỏi, tại sao lại như thế, tại sao lại gấp gáp thế, tại sao em lại quyết định nghe lời mạ vội vàng đến thế? TN lặng buồn nhìn tôi và trả lời chỉ câu đầu trong bài ca dao rồi bỏ lững: “Ba đồng một mớ trầu cay…”. Nói thêm vài câu rồi tôi lấy xe ra về, trên đường, nhìn thấy ai cũng như thù địch.

Khi TN học năm nhất và tôi học năm ba thì tôi quen em, tôi ủng hộ liên danh tranh cử Ban Đại diện SV ĐHSP của vài người bạn năm cuối. Họ không thuộc đảng phái chính trị nào mà chỉ thuần túy tôn thờ lý tưởng Quốc Gia. Em là thành viên trong đó. Liên danh này thắng cử, tình thân của chúng tôi về sau lớn dần.

Rất khó quên những buổi sáng đi học cùng qua cầu Trường Tiền trong cái lạnh ngọt ngào của mùa đông Huế, những buổi trưa cùng ăn ở Quán cơm Sinh viên ngay thư viện Đại học có gió mát thổi từ sông Hương lên, vừa nghe nhạc hòa tấu Paul Mauriat vừa bàn kế hoạch kiếm phiếu, nghe chừng như rất lãng mạn!.

Lại có một buổi trưa em và tôi học cùng môn nhiệm ý, giáo sư Sài Gòn ra chưa kịp, hai đứa rủ nhau đi ăn chè Chùa. Chè Chùa và chè Cồn như một thú thời thượng của SV ngày ấy với món chè bông cau ngọt và thơm nổi tiếng. Khi ăn xong, em tế nhị lấy cặp sách đưa tôi và bảo “Anh lấy tiền trong cặp mà trả, mạ vừa cho em trưa nay”. Nếu coi em là “người đi qua đời tôi” như lời một bản nhạc của Vũ Thành An thì trong số những người đã, em là người có đôi mắt đẹp, đôi mắt luôn cười và biết nói. Chuyện chúng tôi không đi xa hơn khi tôi ra trường, em tiếp tục học cho đến khi gặp lại em ở Sài Gòn lần này.

Đó là lần gặp cuối cùng giữa chúng tôi. Sau này, nghe bạn bè kể chàng thẩm phán chồng em vốn “là người không ra gì”, tôi thấy xót xa và buồn, cho dầu không là gì của nhau thì tôi vẫn luôn mong em có một cuộc sống gia đình êm ấm vì cuộc hôn nhân của em không bắt đầu như em mong ước. Năm năm sau, nghe tin người anh của em là bác sĩ làm việc ở một bệnh viện khu vực cách trường tôi dạy chừng ba chục cây số, tôi đến tìm, anh đã chuyển đi xa. Từ đó tôi bặt tin em dầu rất nhiều lần hỏi thăm bạn bè, không ai biết.

Bốn mốt năm đã qua, số phận mỗi người có lúc điêu linh theo vận nước, nếu em không yên ổn trong cuộc sống gia đình riêng thì tôi nghĩ, ít nhiều em cũng là nạn nhân của thời cuộc. Rồi lại tự nghĩ rằng trong cuộc đổi đời khắc nghiệt năm 1975, biết bao người dân miền Nam phải chịu những hoàn cảnh éo le hơn nhiều thì sá gì chuyện cỏn con đó.

Tôi đặt tên ở nhà cho con gái đầu lòng của tôi theo tên gọi ở nhà của em. Cũng là một cách nhớ về và cám ơn một cô bạn thời đi học có đôi mắt biết cười mà chắc chắn ngày ấy đã dành cho tôi những tình cảm nhiều hơn tôi nghĩ.

QUY.NGUYENHOANG.

Thương Lắm Mà Tổ Quốc

tranvanle

Tôi đang ở Bắc Phi? Thưa không! Trên Đất Nước…trên những vết chân trượt về cõi đời u minh. Tôi đang tìm lại mình cái bóng hình rất cũ. Tôi đang tìm chỗ giấu trái tim thời ước mơ…

Không gì nữa, bây giờ: một sa mạc hoang địa, không thấy tình thấy nghĩa, thấy…đá vàng gió bay! Ô hay! Ôi ô hay! Gió mà bay vàng đá…những thứ gì nặng quá mà sao gió cũng bay?

Tôi ôm gì trong tay? Chữ Tình đang ràn rụa. Chữ Tình, tình-muôn-thuở ai vác nỗi giùm ai! Hỡi ơi những dấu hài của Nam Phương Hoàng Hậu bây giờ cỏ hoang bấu, bây giờ…mây khói tan!

Tôi đi tới ngai vàng…Cái ngai vàng trống vắng. Huế đây à? Yên lặng. Cau Nam Phổ long lanh…Mây trên núi Ngự Bình bỗng hiện hình vân cẩu. Tôi nếm chút mật gấu Trời ơi đắng ơi cay. Dòng sông Hương nước đầy hay mắt tôi đầy nước?

Ai…áo dài tha thướt đi kìa…trong khói sương? Ai như là Nam Phương? Em? Con chim xanh, đó! Sóng đuổi nhau vì gió, anh đuổi em, kịp không? Con ngựa hí trên rừng, tiếng lòng anh tan nát…

Ngày tôi về đất nước, cúi đầu nghe gió mưa…Tôi khóc bao giờ chưa hay hôm nay tôi khóc? Thương lắm mà Tổ Quốc! Ghét vô cùng Việt Nam!

Trần Vấn Lệ

niên

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

ta ở lại và mùa xuân đi trước
sờ vết nhăn và áp má lên đường
tiếng chân ngựa thồ trăng khuya vác bóng
và tiếng em đổ lụa nhánh sông hương

ngày sắp tận trên nóc nhà mái ngói
tiếng kêu đêm tiếng mèo gọi trên rêu
tiếng chân ngã tiếng than dài im lặng
tiếng thiếu gia quanh hơi thở nàng kiều

tiếng câm nín tiếng nghiến răng , tiếng nói
tiếng con nguòi lạc mất tuổi thanh xuân
tiếng bé thơ sợ ngày mai vác gạch
tiếng mẹ cha nhớ lúa thóc ngoài sân

tiếng sóng biển tiếng máy thuyền tầu lạ
tiếng xác nguòi đập ghềnh đá bơ vơ
tiếng lụa xé tiếng tụng kinh ,tiếng khóc
tiếng cười đêm tiếng đôi mắt trơ trơ

tiếng em gọi đã quên mầu lịch sử
tiếng phu xe di tản phế hoang buồn
ô tiếng khóc thấy nơi hồn di cảo
tiếng của ta tiền kiếp đã bi thương

ta ở lại em đợi mai về nhé
này vết nhăn đã lấm tấm trổ hoa
ừ kiếp trước đã muôn trùng nghiệp tội
nên mất em như lạc suối quên nhà.

NGÔ YÊN THÁI