Ru tình

tranngochuong

Ầu ơ cơn ngủ đi đâu
Để em chong sáng đêm sâu một mình
Bỏ rơi gối lẻ lặng thinh …
Anh gom thơ hát lời tình ru em

Đây cơn gió mát bên thềm
Cuốn trôi hết nhé, ưu phiền ngày qua
Cho đêm đen bỗng thật thà
Đong đưa nhịp vỗ hiền hòa giấc ngoan

Say bên cánh mũi nhịp nhàng
Sao Hôm nhìn bóng anh choàng bóng em
Nét mày như lá cỏ nghiêng
Mơ anh còn thoảng hương mềm tóc thơm

Ngủ đi em, giấc bình thường
Môi cong vẽ nét dỗi hờn, hư sao!
Thương lắm nhé, ngủ say nào
Thơ anh trải lối em vào đêm nay

Ru em ngủ giấc căng đầy
Cho tan dông bão bao ngày gió mưa
Buồn em từ thuở xửa xưa
Anh gom nhận hết cho vừa tim yêu

Trần Ngọc Hưởng

CHUYỆN HÀM ÂN

truongnghi

Cả xóm bỗng đồn rùm lên là nghe đâu Ông Chài ở chòm trên “được hàm ân”.

Nói là xóm chớ thiệt ra trảng đất nằm kề con suối Co Co, cái trảng nông nổng này gần như góp đủ hết mặt mày dân các xóm Tiên Thái, Tiên Bình, Tiên Thạnh bên kia sông tản cư qua đây, cùng chen chúc sin sít ở bên nhau. Chừng mươi gia đình của xóm Tiên Trị bờ đối diện cũng kéo qua dựng lên mấy cái lều. Chỉ trong một thời gian ngắn, thốt nhiên nơi đây lều tranh trại lá mọc như nấm, trải dài từ Tiên An, Tiên Hòa xuống tới tận Tre Đôi, Soi Nổ. Mấy cái nhà lá mái, trính cối, cột to đùng ở bên kia sông Việt Minh đã cho đốt sạch. Toàn quốc phải tiêu thổ kháng chiến mà. Có riêng gì đất Bình Định nầy đâu. Lính Tây trên An Khê, Tú Thủy có mò xuống cũng sẽ chỉ gặp vườn không nhà trống. Tây có vượt sông đuổi theo dân, con nước sông Côn vùng đầu nguồn nơi đây đủ hung hãn làm chậm chân bọn chúng, dân sẽ kịp chạy lên Lỗ Trâu Nằm ở trên Hòn Dồ. Tây nó càn rát quá thì hè nhau theo đèo Bồ Bồ thoát qua Thuận Ninh. Chạy giặc mệt đủ điều, nhưng có mấy khi cả làng được túm tụm ở bên nhau, cùng gánh cùng gồng vui buồn sướng khổ với nhau như vầy đâu.

Nói đồn rùm lên có nghĩa là gần như bất kỳ lúc nào, ngồi chỗ nào cũng đều nghe người ta bàn tán chỉ mỗi một chuyện của Ông Chài. Thời buối súng đạn, hình như chẳng ai còn đủ sức chăm chút chuốt lại chuôi cày, rong từng bờ ruộng, nhưng thường người ta lại dư hơi tụm năm tụm ba kháo chuyện của thiên hạ. Lại nữa Ông Chài lại là người mà bấy khi nay áo chẳng đủ mặc, cơm chẳng đủ ăn, lâu lâu mới có được miếng thịt là nhờ “đi hờ” hoặc “la quợ quợ” đuổi cheo đuổi nai vô lưới cho ông bầu săn Chín Đi. Nay Ông Chài bỗng nhiên đổi đời.

Ông Chài được vô dân quân, được phát cho cây súng calip vắt vai vênh vênh cái mặt. Chỉ là chuyện nhỏ. Chẳng biết sao, tháng rồi cả xóm thấy Ông Chài tự dưng đi săn chỉ một mình mà hai lần đâm được hai con nai nhung. Rồi cũng liền đó hai lần ông mổ heo bày biện cúng bái ngoài cái miếu đã đổ nát nằm bên gốc me to. Đấy mới là chuyện động trời. Thời buổi mà mỗi tuần ai cũng nhín nhịn một ngày phải ăn cháo, để gạo lại góp lương nuôi bộ đội đánh Tây, Ông Chài dám mổ heo thì tránh sao khỏi tiếng ra tiếng vô, lời đồn lời đại. Khổ thế, người đời được mời ăn cúng, thịt thà dầu mỡ trơn cái lỗ miệng nên mồm của họ cứ ngứa chẳng chịu im, chẳng chịu thôi cái tật xoi mói đời tư của người đã cất công đi mời mình ăn cúng…

Còn “Được hàm ân” nghĩa là sao ! Đây là lần đầu tiên được nghe nói tới, Thằng Đực tìm đến Thầy Bốn Rượu để hỏi. Chẳng để đợi lâu, Thầy Bốn sốt sắng cắt nghĩa cho nó nghe:

-Được hàm ân có nghĩa là được nhận ân điển của trên trước. Ông Chài chắc đã được trên trước bày cho bùa chú. Khi đi săn, thấy thú rừng có ở tít trên dông cao hay trên sườn núi đi nữa, chỉ cần lấy giáo vẽ bùa dưới đất rồi trở ngọn giáo mạnh tay dộng xuống bùa, âm binh của trên trước sẽ giúp đuổi con thú tuôn ra đồng chui vô lưới. Chẳng tốn sức nhiều mà bỗng dưng được thịt, đấy gọi là được nhận ơn của trên trước.

-Có thịt thú rừng rồi mà sao Ông Chài lại phải mổ heo nữa vậy Thầy!

-Đó là mổ heo dâng tạ ơn trên trước, cũng như cúng cho âm binh của trên trước. Phải có qua có lại chớ. Thường tình của cuộc đời, thần thánh hay ngưu đầu mã diện gì cũng đều như nhau cả. Có ai đâu tự dưng lại đem của đưa không cho ta. Khi được hàm ân là phải lo cúng kính trả ơn. Được hàm ân là có được thịt ăn, nhưng cũng chẳng hay ho gì đâu. Xưa giờ mấy ông thầy pháp luôn kề cận trên trước, nhưng đã mấy ai có hậu vận suông sẻ đâu. Nhận hàm ân là phải kề cận trên trước. Cả làng sẽ phải khổ thôi. Để rồi coi.

* * *

Thầy Bốn Rượu là người mà thằng Đực hằng ngưỡng mộ. Bấy lâu những gì Thầy Bốn nói đều làm cho nó thêm sáng óc ra. Nhưng lần nầy thằng Đực cứ ngờ ngợ, có cái gì đấy trong cắt nghĩa của Thầy nó chưa hiểu rõ được.

Thầy Bốn vốn là con ông Phụng tế trên Tiên Hòa. Làm phụng tế lo cúng bái cho đình làng, ít nhất trước kia cũng phải là chức sắc của làng, huống hồ gì ông Phụng tế lại từng là tướng trông coi kho lẫm bên Đồng Trại, Đồng Hào cho Mai nguyên soái thời Cần Vương. Nghe đâu tiên tổ của Phụng tế chính là người xưa kia đã xin quan trên đặt tên cho 6 xóm ở đây, thứ tự đọc lên thành câu là An- Hòa-Thái- Bình -Thạnh -Trị. Vậy đó, cái tên của làng nói lên được tri thức của người ở trong làng, nói lên được ước muốn của dân làng. Tên chữ của Thầy Bốn cũng vậy. Ông Phụng tế đã đặt tên cho Thầy là Dự, có nghĩa là yên vui. Có lẽ ông Phụng tế mong muốn con cháu ông sống yên bình như xóm làng ở đây vốn đã yên bình. Thiệt ra anh em Thầy Bốn hồi nhỏ người có tên là Trà, người có tên là Tửu. Dân trong xóm lấy thế cứ nôm na gọi Thầy là Thầy Bốn Rượu. Cái tên nôm na nầy đã vần xoay trầy trụa cả cuộc đời của Thầy.

Thầy Bốn hẳn là con giòng cháu dõi. Cuộc đời của Thầy thật là lãng tử. Hồi cưới vợ, chưa kịp tới ngày hồi dâu, Thầy đã liền thục mãi đám soi của hồi môn lấy tiền dẫn bạn bè ra Huế. Cả tháng trời mới trở về. Người làng nói Thầy Bốn đàn đúm bạn bè đi lắc đò sông Hương. Có hay không chẳng biết. Nhưng chắc có là Thầy đã từng đánh bạc với Phụng Hóa Công, người mà sau đó ít lâu được đưa lên ngôi vua là Khải Định. Được chơi với người có tiếng có tăm, mà lại là người có quyền uy tột bực, ai lại chẳng đồ đi đồ lại cho thiên hạ lác mắt, ai lại chẳng nghe bạn bè của Thầy hùa nhau nói tốt cho cái nghề cờ gian bạc lận: “Thời nào chẳng vậy, ít ra cái nghề đánh bạc thấy vậy chớ nó giúp cho con người ta kề cận được với giới quan quyền dư tiền dư của. Giống như Thầy Bốn làng ta đấy”…

Đi chơi Huế trở về, chẳng bao lâu sau thì bị vợ để. Từ đó Thầy Bốn chẳng chịu lấy ai nữa, khỏi có ai cằn nhằn bên tai, vướng víu tay chân. Từ đó Thầy đầu húi cua giống như thời cả làng cắt bỏ búi tóc dài, theo Chánh Tổng Kham đi xin sưu kháng thuế. Thầy Bốn du Bắc du Nam, đi rong chơi khắp chốn. Mặc cho mấy ông già bà cả nhăn mày nhăn mặt sao lại phải mặc đồ của Tây, bắt chước kiểu sống của người Tây.

Nhưng kể ra những cái gì của Tây mà Thầy Bốn mang ra dạy cho trai trong làng, phải nói là cả làng như được của mà chẳng bỏ ra một đồng xu bát gạo nào. Cái mặt thằng Đực mấy khi nay thấy sáng sủa hẳn ra là nhờ những ngày nó cần mẫn ở bên cạnh Thầy Bốn Rượu. Thầy Bốn lúc thì lên Công Tum, Ban Mê Thuộc…, lúc thì vô tít tận trong Gia Định, Đồng Nai…, lúc nào về tới nhà là Thầy gọi trai làng lại để kể chuyện đi một ngày đàng Thầy đã học được một sàng khôn như thế nào. Riết rồi Thầy trở thành người dạy chữ quốc ngữ, dạy làm toán cho trai làng lúc nào chẳng hay. Người làng gọi Thầy là Thầy Bốn, bắt đầu kể từ những ngày ấy.

Thầy Bốn dạy học kiểu chẳng giống một ai. Thật ra Thầy có học sư phạm sư phiếc, trường lớp nào đâu. Thầy cất công xuống thăm Trường Ông Phàm ở Phú Phong đâu vài bữa. Trở về, Thầy biết được cái gì Thầy gò cho trai làng cái ấy. Cả lũ trai làng, đứa nào học được tới đâu, Thầy truyền liền cho cái kế tiếp, chẳng phân biệt lớp bậc gì ráo. Mới rồi Khu 5 đã cho mở trường công lập hệ 9 năm tới từng huyện, học trò khỏi phải tốn kém đi học xa tận dưới Qui Nhơn như hồi xưa nữa. Được nhắc khéo là việc học nay đã có chính phủ lo, Thầy Bốn vui vẻ không gọi trai làng tập trung lại nữa. Gọn ghẽ, chẳng vướng bận gì. Lâu nay cũng chẳng gọi là Thầy mở trường mở lớp. Nhưng những gì lâu nay nhận được từ Thầy Bốn, Thằng Đực tin rằng nó dám đứng chung lớp với thằng Kim trên Định Xuân, đang học trường Cấp II Bình Khê của chính phủ vừa mở ở dưới Mỹ Thuận. Hiện giờ thằng Đực viết đã thông, đọc đã thạo chữ quốc ngữ là chữ của nước nhà. Không những nó làm được phép tính Hàn Tín Điểm Binh, mà nó còn sành sõi sáu câu Bảng cửu chương “thất thất tứ cửu…, cửu cửu bát nhất…”. Thằng Đực còn giải được phép tính hóc búa:

“Vừa gà vừa chó ba sáu con
Trói lại cho tròn đếm đủ trăm chân
Hỏi bao nhiêu gà, bao nhiêu chó…”

Nói chẳng quá, nếu bây giờ mà cất lại cái miếu Tiên Thạnh bị đốt, Thằng Đực sẽ tính cho làng biết là cần bao nhiêu cột, bao nhiêu ruôi mè, bao nhiêu tranh ngói… Thằng Đực đã học được cách tính toán mà bấy khi Thầy Bốn đã giúp Xã Khuê làng Thượng Giang cất cái đình to đùng, mặt ngó lên Hòn Bà Phù bên Đồng Phó. Thằng Đực còn biết cả cách đạc điền mà ngày xửa mấy ông lý hương thì thào bảo nhau sao Tây nó giỏi thế, vẽ trích lục địa bạ đám ruộng nào ra đám ruộng ấy, rành rành hình dạng từng thửa trên giấy trên tờ.

Thầy Bốn có nói với thằng Đực là Thầy đã truyền cho nó kiến thức của người Tây nhiều hơn là của Ta. Nhưng với mớ kiến thức của dân Tây mà lâu nay học được, thằng Đực không thể nào dùng nó để cắt nghĩa cho thông chuyện “được hàm ân”, chuyện được trên trước cho bùa chú của dân Ta.

Từ ngày nghe đồn là Ông Chài “được hàm ân”, điều trước tiên thằng Đực thấy rõ là cái trại của Ông Chài lúc nào cũng nghìn nghịt người ra vô. Người ta nói nghèo mà ở ngay giữa chợ cũng chẳng có ma nào thèm tới, người giàu có dù ở tít tận trong rừng sâu cũng sẽ lắm kẻ mò đến thăm. Ông Chài chưa gọi là giàu có, nhưng cũng đã lắm kẻ tìm đến. Sướng thế đấy. Chẳng kể gì Trùm Sẽ, thằng Nần hay thằng Bụng… những người mà khi nhà nào có mổ thịt là thường chạy đến phụ giúp cho một tay, ngay cả ông Phụng Thủ bấy lâu chẳng qua lại gì với ai, nay cứ năm ba bữa là thấy ông có mặt ở trại của Ông Chài.

Lẽ thường chỗ đông người bao giờ cũng sinh ra chuyện ăn uống. Vậy thế mới có chuyện các cụ ngày xưa muốn con cháu thường xuyên tập trung lại, cùng về với nhau để lo việc họ tộc… nên phải bày ra chuyện ruộng hương hỏa từ đường. Nay người làng xúm nhau đến với Ông Chài, chung quy cũng chỉ từ chuyện ăn uống mà ra. Ông Chài giờ đây thỉnh thoảng có được thịt rừng, rồi lại phải mổ heo, có khác gì mật ngọt rủ rê cả đàn ong lũ bướm. Huống hồ gì khi có được nhung nai, Ông Chài đã biết gì đến việc phải bán cho ai, bán chỗ nào cho được giá đâu. Trong số đông người đến, ít ra cũng có người rành rẽ giúp cho ông buôn bán cái của hiếm lâu lâu mới có nầy chớ. Lại nữa ở cái thời giặc giã, biết lúc nào sống lúc nào chết. Nói dại, lỡ có bị tên bay đạn lạc cũng khỏi phải làm con ma chết thèm. Đâu như đỗi trước, cây cà nông nòng bạc Tây nó đặt trên đầu đèo An Khê, chiều nọ bắn hú họa qua đây chỉ năm ba trái, lại rớt ngay giữa mâm cơm nhà bà Niễng, tội nghiệp cả nhà chưa kịp ăn.

Đừng trách chi chuyện quanh cái miếng ăn thời bom đạn. Nhiều khi, lúc Tây càn phải chạy, ai mà để sót lại con gà con vịt cũng gọi là vướng lấy cái tội cung cấp lương thực cho Tây. Nhiều khi, như bà Bồng nghe hô Tây đã xuống tới Định Nhì, liền chạy thục mạng, chạy đến Soi Nổ mới ngớ ra mình chạy chỉ với cái chày cùng cái cối đâm tiêu trên tay…

Người ta từng nói giàu có mới sinh ra phú quý, có phú quý mới sinh ra lễ nghĩa. Thằng Đực thấy Ông Chài thốt nhiên gần đây lại sinh ra sính chuyện lễ nghĩa, quỳ lạy cúng bái. Trong khi đó nó rõ mười mươi ông cũng giống như người làng ở đây đang bở hơi tai mới có ngày hai bữa, không tính buổi sáng lúc thì nồi củ mì lúc thì rổ khoai lang. Đâu phải ngày nào cũng săn được thịt. Thời súng đạn, hươu nai nghe rền tiếng nổ thường rúc tận trong rừng sâu. Lửng thửng ngoài gò chỉ vài ba con chồn con nhím, bõ bèn gì mà phải dùng đến bùa chú hàm ân.

Ông Phụng Thủ thường nói khi đã cúng trên trước thì phải thành tâm, phải thực hiện đúng nghi thức cúng bái, trên trước mới thương tình mà ban lộc. Chắc vì lẽ đó mà thằng Đực thấy thỉnh thoảng ông Phụng Thủ tập cho Ông Chài bái lạy, đứng lên quỳ xuống. Nó nghe nói hồi Ông Chài mượn cái áo dài khăn đóng của ông Bát Tuyển đi cưới vợ, không chịu tập lạy nên lúc làm lễ gia tiên, lớ ngớ thế nào mà ông dậm phải cái vạt áo cắm đầu vô bàn thờ. May mà chẳng đổ ngã đèn nhang, bể vỡ chén bát xảy ra ngay trong ngày trọng đại. May mà bà con họ hàng thương nhau nên bỏ qua chuyện không rành lễ nghĩa. Giờ đây với trên trước, chắc là trên trước không thể nào thương tình cho cái chuyện đi xin lộc, cúng tạ ơn mà không biết lạy quỳ. Ông Chài phải ra công luyện tập cho đúng phép. Chịu cực nhọc với trên trước, có gì đâu mà phàn nàn…

Ông Chài chỉ đi xin có thịt ăn mà còn vậy, trách chi ngày xưa mấy ông đi làm quan lúc nào cũng phải biết nói cho trơn tru câu cửa miệng là “vạn vạn tuế đã ban ơn”.

Kể ra cũng lạ thiệt, từ khi Ông Chài rành rẽ chuyện lạy quỳ, ngày nào bầu bạn của ông mà vác lưới đi là ngày đó có thịt khiêng về. Có bữa khiêng về con Heo Một nanh dài cả gang tay làm ai cũng hãi. Lâu nay các bầu săn đều sợ gặp phải heo rừng đi một mình không sống theo bầy. Cọp trong rừng mà còn phải né mặt ngữ ấy nữa kìa. Nếu trên mà cho phép sử dụng súng ống để đi săn, cây calip của ông Chài cũng phải lẩy bẩy, run rẩy trước nanh heo một.

Thằng Đực nay thấy cả làng vây quanh Ông Chài với những bộ mặt tươi rói. Kháng chiến đã đi đến hồi quyết liệt. Tây trên đồn Tú Thủy thỉnh thoảng nống xuống tới Định Quang, Định Nhì. Cả làng đã mấy phen phải chạy lẩn lên Hòn Dồ. Có cực nhọc thiệt. Mùa màng thất bát, bữa đói bữa no. Nhưng khi về lại làng là mọi người như tìm lấy lại sinh khí, gõ chén gõ bát lung tung xèng trong những ngày Ông Chài mổ heo. Giờ đây Ông Chài trở thành một bầu thợ săn có tới mấy tay lưới. Dưới trướng của ông gom lại có tới mấy đàn chó, bạn săn hội đủ hết những tay “đi muông” sừng sỏ của làng. Ngay cả bầu săn trước đây của ông là Ông Chín Đi, nay cũng phải vác lưới đến nhập bầu với Ông Chài. Mỗi lần Ông Chài phát lệnh tù và gọi bạn săn, gần như đủ mặt cả làng rần rần chạy đến bên ông chờ lệnh lên đường. Nai nịt gọn gàng đứng giữa rừng giáo mác, Ông Chài giống như một vị tướng đứng giữa ba quân. Thấy mà phát thèm.

Mỗi khi tiếng tù và của Ông Chài rúc liên hồi trong mỗi trận săn, hầu như ai cũng nôn nao, miệng ứa nước miếng, thấy miếng thịt dường như đã sờ sờ trước mắt. Bữa đói bữa no mà ăn lại có thịt có cá ngót tận cái cuống họng, đố ai dám nói là không ham. Nhưng tiếng tù và giờ đây đã lần lên tới hòn Da Két, có bữa lấn tới tận hòn Bong trên Vĩnh Thạnh, điều nầy làm cho ông Chín Đi thấy lo.

Mở rộng được khu vực đi săn, ông Chín Đi không lo. Bằng với cả quan hệ rộng rãi đã từng có, ông Chín Đi lâu nay còn giúp thay Ông Chài qua tận bên Thuận Ninh, xuống tận dưới Suối Bèo tìm heo mua về cho Ông Chài cúng tạ. Heo mấy làng chung quanh gần như chỉ còn loe ngoe mấy mống vừa bỏ bú. Ở vùng giáp ranh chỗ Tây đóng đồn, lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chạy giặc, tay nải, tay ruột nghé mấy ai dễ gì nuôi được con heo. Thế thì lấy đâu có đủ heo để cho Ông Chài cúng tạ. Trong trận săn bận trước, thấy con nai sải lên dông hòn Ngăn, chó ăng ẳng đuổi theo như bầy rùa đang chạy thi với thỏ, hăng máu thế nào mà Ông Chài lại mắt nhắm mắt mở, tay vẽ bùa miệng niệm chú. Con nai quay đầu tuôn xuống nhào vô lưới bị Trùm Sẽ lụi một giáo vào mông. Té ra đó là con nai chà chớ không phải nai nhung. Vậy là lỗ nặng. Săn được chỉ con nai chà mà cũng phải cúng con heo. Thịt chỉ đổi lấy thịt. Thịt nào rồi cũng phải chia năm xẻ bảy. Chẳng kiếm chác được thêm gì. Điên tiết, Ông Chài bận đó lệnh chỉ cúng con heo cắp nách, xách bằng tay được.

Ông Chín Đi lo. Chính là lo cái chuyện cúng kính, tạ ơn cho trên trước ấy.

* * *

Thằng Đực không hiểu bùa hàm ân là cái quái gì mà sao lại khiển được âm binh, những tay săn thịt cũng sẵn sàng nhào vô chịu sai khiến. Thiệt lạ kỳ. Thằng Đực theo sát Ông Chài, nó quyết coi cho biết Ông Chài vẽ cái bùa ấy ra làm sao. Là thằng sáng dạ lại có ý để tâm học hỏi, chẳng bao lâu nó thuộc lòng từng nét Ông Chài đã vẽ ngoằn ngoèo dưới đất. Chữ Nho chẳng ra chữ Nho, chữ Quốc ngữ chẳng ra chữ Quốc ngữ. Thằng Đực chạy tìm gặp Thầy Bốn Rượu.

Mọi khi Thằng Đực tìm đến Thầy Bốn, Thầy Bốn đều ân cần giảng giải những gì nó muốn biết. Không ngờ lần nầy thằng Đực bị Thầy Bốn to tiếng quát cho một trận:

– Quên phứt nó đi. Ngữ ấy không được nhớ. Trút chúng ra khỏi đầu ngay. Đấy là cái thứ làm hại đến sinh linh…

Thằng Đực hoảng hồn chạy một mạch ra bờ suối Co Co. Ngồi trên nhánh cây sung, nó lặng nhìn con nước êm đềm chạy quanh quanh dưới chân. Vì để sống mà con người bằng mọi cách cướp về cho mình cái miếng ăn, không cần biết là đã làm hại đến ai. Hàm ân ư, đi kèm với bùa còn phải có chú. Nó sẽ quên hình dạng cái bùa thôi. Nó không thèm để tâm, học cho biết chi câu thần chú gọi âm binh, gọi ngưu đầu mã diện trói cẳng hươu nai…

Nhưng rồi thằng Đực chả cần vướng bận chi chuyện không thèm học bùa chú hàm ân nữa. Sau đó ít lâu Ông Chài chết. Bầu bạn của Ông Chài tan đàn sẻ nghé.

Bầu bạn của Ông Chài đã tan đàn sẻ nghé. Không riêng gì đâu. Cả mấy bầu săn ở Vĩnh Thạnh cũng đều bị trên ra lệnh cấm. Nay không ai được tụ tập đông người, lục lạo vào rừng như trước nữa. Bộ đội đã tập kết về đây chuẩn bị tiến công lên Tây Nguyên. Đợt đánh đấm nầy phải giấu chỗ đóng quân. Không như bộ đội của trung đoàn ông Vi Dân năm về đánh lên đồn Tú Thủy, chưa áp sát vào đồn đã gọi loa thách thức lính Tây. Đồn đã không lấy được mà ông cùng với đội quyết tử không một ai trở về. Thằng Đực nghe Thầy Bốn nói là đợt nầy trên đánh đấm thiệt ra trò. Phối hợp các chiến trường, bộ đội âm thầm chia cắt, cầm chân lính Tây ở đây không cho ra cứu viện đâu tít tận ngoài Điện Biên Phủ.

Còn Ông Chài chết. Cái chết sanh nghề tử nghiệp. Sau bận cúng con heo cắp nách được, chẳng biết trên trước có đổ giận hay không mà từ đó bùa hàm ân hết linh. Đã mấy lần gặp được nai nhung, dộng giáo niệm chú mấy đi nữa nai cũng cứ nhởn nhơ trên sườn núi. Ông Chài đổ khùng. Một bữa ông ra ngoài bờ soi bủa lưới hờ sẵn. Bầy bò của ông đang gặm cỏ dưới triền sông. Bầy bò mà lâu nay ông sắm nên là nhờ vào tiền bán nhung nai săn được. Ông hươi giáo vẽ bùa, gọi âm binh thúc bò của ông vào lưới. Ông muốn thử xem lệnh lạc của ông có còn hiệu nghiệm nữa hay không. Nhưng bầy bò của ông vẫn cứ trơ trơ ra đó. Ông gào thằng Nần xách roi lùa chúng qua đây. Bầy bò lùng nhùng, sừng ngoắc qua ngoắc lại, muốn xé cả tay lưới đan bằng gai bố chắc nụi của lính Tây. Ông Chài trở cán giáo tiếp tay với thằng Nần quất như điên vào bầy bò. Ông không để ý tới con bò cầm chuồng mắt đỏ lừ, từng bước một đang tiến đến sát một bên ông. Ông Chài bị đổ ruột.

Bầy bò của Ông Chài quặt quẹo chẳng cày bừa gì được nữa. Mà cày bừa gì đâu khi cả làng lâu nay chỉ chăm chăm chạy theo miếng thịt. Thiếu người chăm sóc, ruộng để khô, đất để cứng như đá, cả làng lơ thơ chỉ mấy con bò mà con nào con nấy bụng tóp teo trơ rõ mấy cái xương sườn… Ông Chài đổ ruột chết ngay chiều hôm đó. Không biết có ai trong bầu bạn học được cái cách gọi âm binh của ông không. Cái cách mà muốn có thịt ăn chỉ cần bắt quyết, tay vẽ bùa, miệng niệm chú, nhưng mỗi lần bắt quyết, nhất thiết sau đó phải cúng tạ một con heo.

Thằng Đực giờ đây đã hình dung ra được những trật trìa trong chuyện nhận ơn và phải trả ơn. Nó nhớ lại lời nói của Thầy Bốn Rượu ngày nào: “Nhận hàm ân là phải kề cận trên trước. Cả làng sẽ phải khổ thôi. Để rồi coi…”.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ
Tháng Một Năm 2016

LỤC BÁT MƠ MÒNG TRÊN MÂY

nguyenvi

Bay qua non biếc sóng trào
Xuyên mây vẫn đó ngọt ngào quê hương
Ngàn năm linh khí quật cường
Trăm năm đất ủ vết thương da vàng
Lén lau nước mắt hai hàng
Đang khi khóc mếu mơ rằng, mốt mai…
Ta về nguyên vẹn hình hài
Núi cao biển rộng sông dài xưa xa.

NGUYÊN VI

THÁNG GIÊNG TÍM

vungocgiao

gửi theo thi sĩ Joseph Huỳnh Văn

tháng Giêng đi biệt một người
tháng Giêng khép một điệu cười mắt ai
tiếng chuông nào rụng xuống vai
và, tôi- chiếc bóng đổ dài mỏi mê
tháng Giêng đi biệt không về
cho môi ngậm chút buồn tê điếng hồn

tiếng chim nào gọi về chôn
bài thơ lau lách bên cồn đá đen
tháng Giêng chiều chợt đỏ đèn
níu con gió lạnh về quen chỗ ngồi
ngật ngừ thuốc đốt khô môi
và, ly rượu cạn nhìn tôi hững hờ

khuất trong mưa nắng ơ thờ
một bài thơ lạc bến bờ nhân gian!

vũ ngọc giao

MƯA MẶT NẠ

nhatchieu

Chiều hôm ấy, gió không chỉ đưa lá về làng, không chỉ đưa mây về làng, không chỉ đưa chuồn chuồn về làng, nhưng dẫu sao đi nữa, chiều hôm ấy lá bay linh loạn đủ màu sắc, lá bạc lấp lánh, lá đỏ hừng hực như lửa, lá vàng như cá lượn, lá xanh như én bay, một trận mưa lá.

Tiếp sau trận mưa lá ấy, chiều hôm ấy, là một trận mưa mặt nạ, những chiếc mặt nạ bay tứ tung, làm bằng chất liệu gì không rõ, trông tựa như da người, mà có thể đó chính là da người, một cầu vồng muôn màu đang vỡ muôn nghìn mảnh và bay tứ tung, xé không gian làng ra thành từng phiến màu nhỏ xíu.

Mặt nạ đủ loại đang bay, đang nhảy múa, đang chơi đùa, đang cười, đang khóc, đang hóa trang cho gió, cho nắng, cho cát bụi, cho vận mệnh chiều hôm ấy, cho linh hồn xa xưa, cho linh hồn sắp tới.

Có những chiếc thuần màu mốc, thuần đỏ hay thuần trắng hồng, có những chiếc nửa xanh nhạt, nửa trắng hồng, phân đôi bằng một lằn dọc từ chóp trán đến tận cằm, có những chiếc đa sắc hơn với da mặt tím, đuôi mắt xanh, miệng đỏ, mày đen và những nét viền vàng.

Dân làng tranh nhau nhặt mặt nạ và biết đâu, mặt nạ cũng đang tranh nhau nhặt con người, dưới cơn mưa ảo, dân làng tranh nhau nhặt cái ảo như thể đang nhặt vàng, nhặt bạc, như thể đang nhặt lên những giấc mơ, những khát vọng, những mảnh vụn của bóng tối trong đáy sâu tâm thức, hoặc đang nhặt những cơn điên, những phiêu lưu vô định.

Có vô số mặt nạ, nào giai nhân, anh hùng, yêu ma, nào ác bá, chồn cáo, công hầu, nào chim, cá, bướm, nào bé con, lão tiều, hề, nào người hầu, gian thần, đạo tặc, nào thiên nữ tán hoa, nào ca diếp vi tiếu…

Có cả mặt nạ của trinh tiết, mặt nạ của ái ân, mặt nạ của từ bi, mặt nạ của cứu rỗi, có cả mặt nạ của mặt nạ, mặt nạ của hư không, mặt nạ của chân lý, mặt nạ của giải thoát…

Liệu có mặt nạ của nửa này nửa nọ, mặt nạ của cả này lẫn kia chứ, liệu có mặt nạ của sắc và không chứ, có chứ, mặt nạ của nửa mê nửa tỉnh, nửa thiện nửa ác, cả cười lẫn khóc, cả yêu lẫn hận, mặt nạ mà, trong siêu thị của mặt nạ cái gì cũng có nhưng mà người mua là bạn thì người bán cũng là bạn.

Vậy là, chiều hôm ấy dân làng bội thu và thay vì bội thu lúa vàng thì bội thu mặt nạ, có người ướm mặt nạ lên mặt và đeo ngay, mặt nào cũng vừa vặn như được đo sẵn, chẳng lẽ khuôn mặt ta sinh ra là để cho mặt nạ, và gió định mệnh sẽ thổi mặt nạ ta cần đến cho ta như thổi phấn hoa đi, và đeo mặt nạ là thụ phấn sao, đeo mặt nạ có phải là tự đốt sáng mình lên như đom đóm để từ chối làm côn trùng sâu bọ, hay từ chối làm con người bản nhiên thì cũng vậy chớ gì, có người không đeo ngay mà đem mặt nạ về nhà, không chỉ một chiếc mà nhiều chiếc, cả mặt nạ tốt lẫn xấu, nhưng mặt nạ là mặt nạ, làm gì có tốt xấu kia chứ, mặt nạ là vô sai biệt mà.

Rõ là mặt ấy mặt này chứ ai (Nguyễn Du)

Ai cũng tươi cười như ngày lễ hội, tưởng như họ trở lại thành trẻ thơ khi đeo mặt nạ vào, lạ thật đấy, thường ngày thì hầu như không ai biết cười.

Đó là thôn làng không biết cười.

Thôn làng ấy không biết cười đâu, hoặc có khi biết nhưng đã quên rồi, đó là thôn làng đã lãng quên nụ cười, mỗi trú xứ trên thế gian này đều lãng quên một vài thứ, và ở đây người ta quên mất nụ cười, có thế thôi.

Tôi tình cờ có mặt trong làng từ mấy hôm trước, đến làng theo lời mời của một chàng trai mà tôi tình cờ gặp bên thác T.

Đến làng tôi chơi đi, Man nói làng của Man rất buồn và Man là người rất trầm lặng, làng của tôi buồn thật đấy nhưng anh đến đi, biết đâu làng sẽ thay đổi, tôi chẳng có khả năng thay đổi điều gì hết, tôi là một con người tưởng tượng, đó là điều chúng tôi cần, làng chúng tôi thiếu cái ấy, cái gọi là tưởng tượng ấy.

Có một thành phố buồn, buồn thảm đến nỗi nó quên mất tên mình rồi, S.Rushdie mở đầu một quyển sách như thế, làng của Man buồn hơn thế nữa, nó không có tên để mà nhớ hay quên, ở đó, người ta đặt tên cho mọi thứ, trừ quê quán của mình.

Tôi hỏi Man, làng của anh buồn quá, tại sao vậy, Man im lặng hồi lâu mới đáp, hình như buồn là điều tự nhiên, đứa bé ra khỏi lòng mẹ không cười bao giờ, cười phải học, phải được sáng tạo, dân làng tôi không sáng tạo điều gì, lần đầu tiên tôi nghe một điều như thế.

Chiều hôm ấy, tôi đang đi lang thang trong làng thì gặp trận mưa lá và mưa mặt nạ, tôi giơ tay hứng lấy hai chiếc mặt nạ, trắng và đen, trên nền mặt nạ thuần trắng, chỉ vẽ một giọt lệ hồng, long lanh và đẹp mê hồn, tôi chỉ cầm mà ngắm giọt lệ hoàn hảo ấy, không hề ướm lên mặt mình, nhưng làm sao tôi biết thế nào là một giọt lệ hoàn hảo chứ, thật rõ vớ vẩn.

Chiếc còn lại thì có màu nền đen huyền và trên đó chỉ vẽ một nụ cười trắng, một nụ cười tuyệt vời tinh khôi, thì cứ cho là như vậy đi dẫu ta không biết thế nào là tinh khôi, nhưng tôi hy vọng có lần nào đó trong đời tôi sẽ đạt đến nụ cười này, trong đời sống chứ không phải là trên mặt nạ.

Cả hai chiếc là một loại mặt nạ kép, áp vào nhau mà bay, tôi tách một chiếc đưa cho Man, Man không nhặt một mặt nạ nào, tôi cảm thấy lo sợ, anh nói.

Tôi ở nhà Man, tối hôm ấy, chúng tôi uống rượu, nhìn hai chiếc mặt nạ khóc cười treo trên vách và trò chuyện.

Chưa từng thấy mặt nạ ở đâu mà đẹp đến thế, đẹp thì có đẹp nhưng tôi không hiểu mặt nạ dùng để làm gì, vô dụng, trái lại, nó được dùng rất ưu ái mọi lúc mọi nơi, xưa cũng thế mà nay cũng thế.

Có lẽ vậy nhưng không phải ở làng này, làng này buồn ủ buồn ê có lẽ vì nó không biết nói dối, không biết phát minh ra cái thực nào khác ngoài cái thực mà nó nhìn thấy, tôi e rằng trận mưa mặt nạ chiều nay sẽ biến cải làng tôi.

Tôi cảm thấy nỗi âu lo của Man lây sang tôi, tình bạn chúng tôi vừa mới gặp đã vô cùng thân thiết.

Có một cô gái trong làng Man rất yêu, mười sáu tuổi, tên là Hồ.

Nàng là Hồ, anh biết không, là nơi tôi có thể tắm những giấc mơ, nỗi buồn, cái nhìn, niềm đam mê, lời ca hát, nàng là Hồ, nhỏ bé mà mênh mông, trong trẻo mà sâu thẳm, mơ hồ mà hiện tiền. Hồ, không thanh âm nào đáng yêu hơn, nàng là Hồ, và tôi là cơn gió thổi qua lòng nàng.

Bài thơ tình của anh tuyệt diệu, tôi làm thơ sao, đó chỉ là cảm tưởng Hồ, thì thơ là cảm tưởng mà.

Sáng hôm qua, Man vào rừng lấy củi, tôi có đi theo.

Dù hẹn hò với Hồ, anh vẫn để tôi bên cạnh, cứ như tôi là cái bóng của anh, hai người hôn nhau trước mặt tôi.

Hồ là một cô gái duyên dáng, nhẹ nhàng như lá, nàng gợi lên trong tâm tưởng ta một cái hồ trong vắt, có lẽ do đôi mắt nàng quá trong. Có một suối nước trong gần đó, em vào suối đi, Man bảo nàng, và nàng khỏa thân, vào suối, nằm trôi trên suối như một dáng thuyền trắng mộng.

Nhớ lại cái đẹp mà tôi được dự lãm hôm qua, tôi lo ngại nhìn Man qua ánh nến,

Hồ có nhặt một chiếc mặt nạ nào không, không biết nữa, cô ấy quá ngây thơ, có thể không biết mặt nạ là gì, và có thể đã nhặt phải một chiếc ghê gớm nào đó, có quá nhiều mặt nạ, nào là hồ mị, nào là hoa yêu, nào là thị mầu, nào thị hến, nào là người điên, rồi kỹ nữ, rồi đạo cô…

Hồi chiều, tôi thoáng nhìn thấy Hồ, nhưng rồi sau đó nàng biến mất, khó mà tôi có thể tự tha thứ cho mình nếu như điều gì đó không hay xảy đến cho nàng, không có gì đâu, có lẽ ở nàng, mặt nạ chỉ là mặt nạ.

Người phát minh một gương mặt cho chính mình/Phía sau nó/ Người sống, chết, và hồi sinh/ Bao nhiêu lần/ Gương mặt người ngày hôm nay/ Có nhiều vết nhăn của chính gương mặt ấy/ Còn những vết nhăn của người thì nào có mặt mày.

Có tiếng bước chân trên lá ngoài ngõ, Man đứng phắt dậy, bước nhanh ra cổng, tôi đi theo anh.

Trước mặt chúng tôi là một cô gái đeo mặt nạ hồ nguyệt cô cực kỳ xinh đẹp, có thể nhận ra hồ nguyệt cô vì hai vành tai nhọn mượt lông của loài hồ và đôi mắt sâu thẳm như đêm. Man và cô gái nhìn nhau, cả hai đều ngượng ngập, bối rối.

Cô là, em là Hồ đây mà, em gỡ mặt nạ ra đi, không được, từ khi đeo mặt nạ rồi, em không tài nào gỡ ra được nữa, nó dính liền da mặt em và trở thành làn da em mất rồi.

Trời ơi, em có sao không, không đau chứ, không đau gì cả, thế còn những người khác, hình như ai đeo mặt nạ vào thì cũng vậy, các bạn em đều như em, đều trở thành người mặt nạ, biến thành vượn trắng, rắn xanh, hay yêu cá, hàng xóm có kẻ thành ma cà rồng, thành hề, có người thành người dơi, cô gái mèo, tôn ngộ không…

Gương mặt Man vốn trầm tĩnh giờ đây đổi màu, tái xanh và bồn chồn, tuy mặt nạ của em rất đẹp, nhưng em có còn là em nữa không, em sợ lắm nên chạy vội đến đây, em không biết đang đeo phải mặt nạ gì. Man cũng không rõ, tôi bảo họ đấy là mặt nạ hồ nguyệt cô, là ai vậy, một con cáo tu luyện ngàn năm ngậm ngọc mà hóa thành một cô gái đẹp, rồi bị lừa tình mà mất ngọc, phải trở lại kiếp hồ xưa, vậy đây là một mặt nạ hồ ly, thì đã sao, nhưng Hồ của anh thì không phải là hồ ly, nhìn cô ấy xem.

Man nhìn Hồ như lần đầu tiên anh nhìn thấy nàng, Hồ à, em có chắc là em vẫn cảm thấy bình thường chứ, thì em vẫn thế thôi, có phải mặt nạ này đẹp hơn gương mặt cũ của em không, ai cũng nói là nó quá đẹp, một tuyệt thế giai nhân, còn em thì chỉ là một cô gái bình thường.

Đôi mắt em tuyệt đẹp, sáng lấp lánh, anh khen đôi mắt em hay một đôi mắt hồ, em ghen à, nhưng ghen với ai, ghen với chính em ư, mặt nạ là mặt nạ, không phải là em, em là em, và anh chỉ nhìn thấy có em mà thôi, nhưng từ đêm nay, giữa chúng ta bao giờ cũng là một mặt nạ xinh đẹp, anh biết không.

Hồ nói đúng, vẻ đẹp siêu phàm của mặt nạ đã hoàn toàn che lấp nhan sắc thuần hậu của nàng, ánh mắt của Man từ đây chỉ còn tiếp xúc với cái lớp mê hồn ấy, cái ảo ảnh rất thực ấy, gương mặt xưa của Hồ chỉ còn lại trong ký ức, nhưng Man ơi, ký ức liệu còn lại bao lâu, gương mặt mới của Hồ không thể chê được, mơn mởn, gợi tình, tỏa ngời một ánh hồng như đang chiếu dọi một ánh lửa thu hút thiêu thân, một khi đã quen rồi, có lẽ Hồ sẽ tự hào với nhan sắc mới này, khi đã quen rồi, có lẽ Man sẽ say sưa với nhan sắc mới này, còn xuân thu cũ ai hay làm gì.

Dưới ánh trăng, ngõ trúc bỗng xuất hiện anh hề, một gương mặt nhiều màu nhất thế gian, với cái cười vô tận. Hồ nói, anh hàng xóm của em đấy, từ khi mang mặt nạ hề, cứ ca hát suốt, trước đây thì ngay cả nói năng cũng lười, quả nhiên anh hề vừa đi vừa hát.

Trăng là mặt nạ của đêm ư/ hay đêm chính là mặt nạ/ ư ư ư ư/ Trăng là mặt nạ của hồ ư/ hay hồ chính là mặt nạ/ ư ư ư ư,
Mưa là mặt nạ của mây ư/ hay mây chính là mặt nạ/ ư ư ư ư,
Khóc là mặt nạ của cười ư/hay cười chính là mặt nạ / ư ư ư,
Xác là mặt nạ của hồn ư/ hay hồn chính là mặt nạ/ ư ư ư ư,

Tôi bắt chuyện với anh hề, chào anh hề, bài hát của anh hay quá.

Chào người xa lạ, ư ư ư ư/ư nghĩa là gì/ hư hư hư hư/ ư là hư ư/ hư là ư ư và anh hề bỏ đi, lại hát.

Mặt nào mặt thật/ hê hê hê hê/ Mặt nào mặt nạ/ hê hê hê hê/ Mặt trái mặt phải/ hê hê hê hê/ Mặt ấy mặt này/ hê hê hê hê…

Hồ đặt một bàn tay lên vai Man mà lay mạnh, anh ta đã xúc phạm đến em mà anh không làm gì ư. Nét mặt Man lộ vẻ ngạc nhiên thấy rõ, sao cơ, anh ta chỉ hát thôi mà, anh không nghe rõ lời hát của anh ta sao, lại hát nữa đấy, nghe đi, trăng là mặt nạ của hồ ư, hay hồ chính là mặt nạ, chẳng phải là anh ta đang réo gọi tên em ra mà mắng ư.

Nếu em bắt bẻ một bài ca thì tất cả bài ca trên thế gian này đều xúc phạm ai đó, nhưng Hồ ơi, trước đây em đâu có như thế, là do em đeo mặt nạ ư, cái mặt nạ xinh đẹp khốn kiếp này đã đốt cháy mặt thật của em rồi, nhưng kệ nó đi, em vẫn là Hồ, anh biết không, sao anh lại phải hồ nghi, hở em, nhưng mà, anh ơi, em bắt đầu không tin mình lắm nữa, có gì đó trong em đang bắt đầu vỡ vụn, anh phải canh chừng em đấy, phải sẵn sàng cứu giúp em, em sợ lắm.

Khi chúng tôi vào trong nhà thì không còn cháy ánh nến nào, nhưng trong bóng tối có hai vật sáng lấp lánh lượn bay, đó là hai chiếc mặt nạ khóc và cười mà tôi và Man đã treo trên vách, giờ đang rập rờn nhảy múa và tỏa sáng trong bóng đêm. Nhìn thấy chúng tôi, chúng đồng thanh nhao nhao lên tiếng, hu hu, ha ha, vừa kêu khóc, vừa cười ran, vừa ca hát.

Mặt nạ khóc
Ta chờ ta đợi
ta chờ ta đợi
giọt giọt nóng hổi
không có người chơi
lang thang đêm tối
ta thèm sinh sôi,
mà hoan lạc đời,

Mặt nạ cười
Các bạn ta ơi
các bạn ta ơi
oang oang ca hát
sóng trào biển khơi,
Ta là mặt nạ
Ta là mặt nạ
bay mưa vào đời,
đi tìm người chơi
thèm dâng cuộn sóng

Lượn lờ bay nhảy một hồi, chúng chập vào nhau làm một, bất ngờ bay vút qua cửa sổ trong đêm tối mà biến mất.

Dường như Hồ đang lao vào Man, ôm ghì lấy anh như chụp lấy con mồi, tôi nghe những tiếng hổn hển, rên rỉ lạ thường của cô gái, tôi cảm thấy không gian có mùi xạ hương nhưng không chắc, biết đâu chỉ là tưởng tượng.

Không biết chuyện gì đang xảy ra và sẽ xảy ra trong làng này với những người mặt nạ, tôi sẽ ở lại với họ hay là cao chạy xa bay, nhưng trước hết, tôi nằm xuống giường cố dỗ giấc ngủ.

Mà sao khó thế, liệu có ngủ được không trong tiếng kêu gào cuồng dại của Hồ, đó là tiếng kêu của ái ân hay của một điều gì khác.

Không biết.

NHẬT CHIÊU

THÁNG GIÊNG

lephuhai

Tháng giêng chân trần ra phố
Phố ơi buồn tự bao giờ
Dáng ai ngày xưa nho nhỏ
Bây giờ xô dạt về đâu?

Gió thổi giọt mưa rơi mau
Nghe như giọt buồn nước mắt
Quê hương không còn chia cắt
Sao hồn cứ mãi ngóng trông

Gác vắng chiều nay còn không
Tiếng đàn rơi trong lặng lẽ
Người ơi ru đời đi nhé
Bao giờ cho hết thương đau

Ta hứa sẽ về tìm nhau
Leo lên đồi cao đàn hát
Đừng buồn chi sênh phách lạc
Miễn là mắt biếc còn đây

Lưu lạc đã mờ chân mây
Sá gì đường xa vạn dặm
Phương nam thương người lắm lắm
Cầm bằng không biết thì thôi

Có chiếc lá khô mồ côi
Của ai ngày xưa còn đó
Ta để dành đây nè nhỏ
Nhớ về phương bắc xa xôi

Lê Phú Hải

Giấu một niềm riêng

nguyenminhphuc

Một niềm riêng giấu kín
Trong cõi tình mưa bay
Một đời riêng câm nín
Trong bóng chiều tàn phai

Nằm nghe sầu cất tiếng
Chim vỗ cánh muôn trùng
Mới hay lời của biển
Tạc vào ngày vô chung

Niềm riêng nào ai biết
Chìm nổi đời sóng xô
Có một lần ly biệt
Mới hay mình hư vô

Niềm riêng sầu mê mải
Tạc vào ngày gió giông
Hình như ngày hấp hối
Đi về phía muôn trùng…

Nguyễn Minh Phúc

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ(TT)

ledachoanghuu

Hợp tác xã oánh kẻng họp tối.
“Họp hành hoài hoài” – nhiều người ngán ngẫm. Bà con tới đông đủ chú Tư râu thông báo:
“Ngày mai bà con đi làm đông đủ và phải làm thiệt hăng say, đi làm ngày mai được chấm hai công điểm, ai không đi bị trừ năm công, đi làm cũng nên ăn mặc đẹp chút” – Buổi hợp chỉ thông báo vậy thôi.
Có người thắc mắc: “Ngày mai là ngày gì mà lạ vậy”.
Chú Tư nhắc lại:
“Bà con cứ theo vậy mà làm, mai biết, thắc mắc làm gì, ở trên hợp tác xã thông báo xuống thì nghe”.
Sáng hôm sau tập hợp điểm “quân số” xong chú Tư đưa ra dãy ruộng lúa tốt nhứt, hiếm có của đội. Lúa non xanh mơn mởn tạo sóng trong làn gió nhè nhẹ. Dì Tư Thể gục gật:
“Chắc dự báo thời tiết bữa nay trời đẹp, có chuyện gì vui đây”.
Chú Tám Phèn tằng hắng:
“Dự báo xấu thì có chị ơi, báo mưa là nắng báo nắng là mưa mà”.
Dì Tư hỏi chú Tư:
“Làm gì ở mấy miếng ruộng này ông, mới làm cỏ mà?”.
Chú Tư trả lời:
“Thì làm tiếp, cứ thắc mắc hoài, tìm cỏ diệt cho sạch, đàn ông làm cỏ bờ cho rát vô”.
Dì Tư chưa tha:
“Ông này ngộ chưa, chưa biết thì hỏi, còn hỏi nữa nè, sao hông làm mấy chỗ cỏ đầy nhóc đó, quởn quá lại đám lúa xanh um tươi tốt mà lội chơi”.
Chú Tư bỏ đi, anh Hải cười he he:
“Gặp chị tuổi cây tre rồi cưng, mắc nhặc lắm, thắc mắc hoài cho chết”.
Dì Tư cũng cười:
“Mày cũng vậy hơn gì tao, mày còn cà khịa dữ”.
Lát sau đúng là do trời đẹp, có một đoàn người ăn mặt chỉnh tề, áo trắng bỏ trong quần đầu đội nón cối, vài người ôm cặp táp, vài người cầm tập ghi chép, có người vác cái máy quay phim xuất hiện. Đoàn người được ông chủ nhiệm giới thiệu là trên có trên tỉnh, trên huyện, có đâu trên trung ương nữa, cười cười nói nói, chỉ chỏ gục gật gục gật liên hồi, chú Tư râu lăng xăng chạy đầu này đầu kia, cũng chỉ chỉ trỏ trỏ.
Anh Hải đất ngó rồi ngẫm nghĩ một hồi sau lên tiếng:
“Đoàn quay phim bà con ơi, mình được quay phim”.
Anh Hải tặc quay qua anh Hải đất:
“Quay cái đầu mày chớ quay phim, đoàn kiểm tra đó mày?.
Anh Hải đất ngờ ngợ:
“Nhưng họ vác máy quay làm gì?”.
Anh Hải tặc ký anh Hải đất cái cốc:
“Mày dốt vừa thôi, họ quay phim phát trên tivi, chắc nói mần hợp tác xã hay lắm, đồng lúa xanh rì, bà con chăm chỉ, hăng hái thi đua”.
Anh Hải ấm ức:
“Nhưng có tivi đâu mà coi”.
Chú Tám phèn bật cười:
“Mày đúng là dốt, bộ người ta quay phát cho mày coi à?”.
Anh Hải vẫn ngơ ngơ:
“Chớ cho ai coi?”.
Dì Tư Thể không chịu được dừng tay đang dặm lúa:
“Mấy ổng phát mấy ổng coi, mấy ổng sướng, hổng lẽ tao nói mày là con…”.
Anh hải thật thà:
“Ờ hen, đầu tui y như bò, ờ mà chắc có phát ô bặc lưa”.
Anh hải tặc bực mình:
“Ô bặc lưa, bặc lưa, từa lưa thì có, mày khoái lắm hả, mấy cha nói xạo xự mà tưởng hay à, báo cáo thành tích là hay chớ có thiệt đâu, có vậy mới dẫn ra đây chớ đầy ruộng cỏ úa ai đếm xỉa tới đâu”.
Anh hải tặc gãi đầu gãi tai:
“Tại tui thấy vui vui”.
Dì Tư Thể cũng bực mình:
“Vui cái nổi gì, đói tới nơi”.
Ngoài đường lộ đã dựng trụ kéo dây, vài trăm thước trên cột gắn cái ô bặc lưa truyền thanh đài phát thanh của tỉnh. Ngày ba bữa sáng trưa chiều phát chừng đâu nửa tiếng, nói tin tức, thời sự xen kẽ ca nhạc… vui nhà vui cửa vui đường xá. Một bữa đang đi học về chợt nghe loáng tháng rồi dừng lại nghe kỹ, nó kéo thằng Hào:
“Ê mậy, nghe gì hông?”.
Thằng Hào vừa đi vừa giỡn với mấy thằng nữa nên nó trả lời:
“Nghe gì đâu mậy, nghe nhạc teng tèng teng”.
“Lắng nghe đi tụi bây, nãy tao nghe nói tới đội mình”.
Thằng Cu anh hỏi lại:
“Vậy hả mậy, mà nói cái gì?”.
“Tao chưa biết mới nghe tới trường mình, tên đội xã rồi nghe nhạc”.
Tiếng nhạc dứt, tụi nó hóng nghe, loa phát ra gương người tốt việc tốt, nói bạn ấy tuy rất vất vả, một buổi đi học một buổi phải chăn bò và phụ giúp thêm việc gia đình lại còn trông em nhỏ, nhưng bạn luôn cố gắng hết sức, chăm chỉ siêng năng nên việc học lúc nào cũng đạt thành tích tốt, không những vậy, bạn còn luôn luôn giúp đỡ bạn học tốt như mình, bạn là tấm gương cho tất cả các em nhỏ… Thằng Hào phá lên cười:
“A, thằng Ân xóm mình”.
Thằng Cọt chưng hửng:
“Ủa, nhà thằng này có bò đâu tụi bây?”.
Thằng Cu anh gãi đầu:
“Làm gì có bò, thằng này học thì được nhưng giúp gì cho ai, nhà khá lắm chớ bộ, còn nhà ở thị xã”.
Nó lắc đầu:
“Thua luôn, hông biết ai nói vậy, hay hay chú Tư râu ta?”.
Thằng Hào cãi:
“Thôi mày ơi, cái này dính gì ông Tư, cái gì cũng đổ ổng, chắc ở trường mình mày ơi”.
Mấy thằng gật đầu, thằng Cọt tiếp:
“Thằng này mới oánh lộn với thằng Học con dì ba Ninh”.
Thằng Hào hỏi:
“Oánh lộn vụ gì?”.
Thằng Cọt đáp:
“À, bữa hai thằng chọc ghẹo nhau, thằng Ân này hát chọc thằng Học, ông Nang ý a ông Ninh, ông ra đầu làng ông gặp ông Ninh, thằng Học chế lại bởi ba thằng Ân tên ông Đình, hát ông Nang ý a ông Đình, ông ra đầu đình ông gặp ông Đình, bị thằng này chế có hơn chữ Đình thằng Ân tức quá gây sự nói thằng này hát bậy, hai thằng cự cãi rồi oánh nhau luôn, hổm tao hông can hông biết oanh tới chừng nào”
Thằng Hào cười khặc khặc:
“Thằng Học hay ta, thằng kia bị gậy ông đập lưng ông hen”.
Thằng Cu anh lè lưỡi:
“Vậy mà sao nó được nói trong ô bặc lưa ta, độc quá?”.
Mấy thằng tụi nó đâu giải thích được chỉ biết lắc đầu. Nó nói:
“Giống mấy người lớn nói đó, báo cáo thành tích thành tung gì mày ơi, mà chẳng có thiệt, vụ này đáng lẽ phải đưa thằng ông kẹ Hào, Cọt đúng là chăn bò có anh đi bộ đội, ở nhà coi em, mỗi khi em khóc thì… oánh em”.
Nghe nó nói oánh em thằng Cọt nói thêm:
“Nói thằng Hào cà xấc, cà xược, ba gai, ghẹo Ba Lễ tối ngày luôn hen”.
Cả đám gục gật cùng cười ha hả.

***

Mỗi tuần ít nhứt hai bữa thanh niên nam nữ trong đội tập hợp quây quần sinh hoạt văn nghệ, tập hát tập hò, lúc ở nhà ông Sáu Hoàng, lúc đi nhà khác, chủ yếu những nhà có sân và nhà cửa rộng rãi, còn có cái ăn, có cái chiêu đãi chút chút. Nhà nó là một địa điểm. Đội sinh hoạt này đã tới nhà nó mấy lần rồi, vui thì có vui nhưng tiêu tốn không ít cho đoàn mấy chục người, khi thì nồi chè to tổ chảng, khi nồi xôi nếp chấm muối mè muối đậu… Buổi chiều ở ngoài đồng đội thông báo lại đến nhà, nó chạy nhanh về nhà báo trước cho má, má nó nhăn mặt:
“Cái gì cũng cạn gần hết biết sao giờ đây ta”.
Nó nói:
“Hầm đại nồi khoai lang đi má”.
Má nó ngần ngừ:
“Hầm khoai lang… hông được đâu con, khoai lang củ luộc chấm muối đậu còn may ra, khoai lang hầm giờ ai cũng ngán tới cổ rồi, mà khoai lang củ mới có hai tháng…” – Má nó chặc lưỡi một hồi rồi tiếp: “Hay con ra vén dây, moi có củ lớn bứt vô đi”.
Nó dạ rồi xách rổ chạy đi, kèm thêm cái rổ nhỏ:
“Con tìm thêm mớ ổi chắc đã chua”.
Má nó ừ:
“Leo trèo cẩn thận”.
Năm nay nhà nó chỉ trồng nửa sào khoai lang. Moi vồng ra khoai dãi rất nhiều nhưng lớn thành củ mới được rất ít, to nhứt bằng ngón chân cái, họa hoằng lắm mới có củ bằng cùm tay, cỡ ngón tay cái nó cũng bứt luôn, moi mấy vồng nhứt rát mấy đầu ngón tay mới đủ, phải moi nhẹ nhàng bằng tay chớ đâu đám lấy cuốc lấy dao, lỡ đứt dãi thì toi, moi xong đấp đất trở lại cho dãi lớn tiếp. Vô vườn cây ổi, mấy con chim se sẽ đang chuyền cành ríu rít, chim thật dạn dĩ như chẳng màng đến sự có mặt của nó, có lẽ những con chim cũng biết nó đâu có hại gì mình. Lục lọi trong lá um tùm một hồi hái được đầy rổ, ổi vừa già tới chứ chưa chín.
Tối xuống, trời quang mát, đêm có trăng sáng, anh Hải tặc vác cây đờn ghi ta tới đầu tiên, anh vừa đi vừa nghêu ngao, tới nhà anh chào má nó:
“Dạ, con chào Bác Hai”.
Má nó nhoẻn miệng cười:
“Tài tử tới rồi hả, cơm nước gì chưa?”.
“Dạ chưa, nhà con hông có cơm”.
Má nó tình thiệt:
“Vậy xuống bếp kiếm ba hột bỏ bụng”.
Anh Hải cười hề hề:
“Dạ, con nói chơi chớ con ăn rồi”.
Anh Hải ngồi xống dạo một khúc nhạc, nghêu ngao một mình, anh chơi đàn ghi ta là số một hát cũng được, tánh nghệ sĩ lắm và cũng ngang bướng trời thần, mái tóc dài của anh bị chú Tư Râu gặp đâu là nhắc tới nhở lui anh vẫn tảng lờ như không, đôi khi còn cà khịa: “Ông cho tiền hớt đi”.
Dạo chừng vài ba bản nhạc là mọi người lục tục kéo tới, chập sau là đông đủ. Bắt đầu hát những bài ca tập thể, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Kết Đoàn”, “Con Kênh Xanh Xanh”… Hát tập thể xong là tới màn hát đơn, người hát xong chỉ người kế tiếp hát, tới đây nhiều người không biết hát úp mặt trốn muốn chết, có khi bị bắt phạt, ra giữa làm trò nào đó, thụt dầu chẳng hạn.
Nó bưng rổ khoai lang luộc nóng hổi với rổ ổi lên mà thầm nghĩ chắc kỳ này khoai lang ế rồi. Ấy vậy nhưng không, ngồi đông vui thêm vài câu chuyện tiếu lâm từ chàng tài tử Hải tặc rất có duyên, rổ khoai và cả rổ ổi “bốc hơi” lẹ làng trong chốc lát, rồi tiếp tục hát hò.
Về khuya, người lục tục ra về, một số người còn ở lại, anh Hải móc trong túi quần sau ra quyển tập, bên trong những dòng chữ viết tay nắn nón, những tựa đề ca khúc được vẽ bay bướm, những hình vẽ uyển chuyển theo chủ đề ca khúc, nhìn rất đẹp mắt, vậy là chuyền tay nhau tiếp tục ca hát, nhưng hát thật nhẹ nhàng, êm dịu, hát liu riu cho nhau nghe. Đó là những ca khúc tiền chiến, những giai điệu bolero, rumba… những bản nhạc dù là tình ca nhưng sáng tác trước 1975, ở miền Nam thuộc chế độ cũ sẽ bị quy hết là nhạc vàng, văn hóa đồi trụy, bị cấm tiệt.

***

Không còn chăn bò, nó chủ yếu vô rẫy phụ giữ với ba và chú Ba Mạnh, Người lớn thay phiên nhau ở lại đêm mà canh. Bắp đã kết trái đâu có chơi được, đêm liên tục thức giấc để oánh bọ cạp phòng ngừa heo rừng, gặp đàn có con heo độc chiếc dẫn đầu hung hăng húc tung cả hàng rào chớ không có giỡn. Ban ngày thì phòng chim chóc nhứt là những đàng két và khỉ khọt.
Hôm đi ngang nhà hai con nhỏ chằng lửa, hai đứa bẽn lẽn rồi nhỏ chị cũng hỏi:
“Đi vô giữ rẫy hả”.
Nó gật đầu:
“Ừ, đi phụ coi rẫy”.
Nó trả lời mà thầm nghĩ bụng, “Trời! hai con nhỏ này sao bữa nay dễ thương ghê”, nhỏ em tiếp:
“Ở trỏng bọng chim sáo nhiều lắm, anh tìm bắt cho về nuôi với”.
Nó thấy nhột nhột, ý chà con nhỏ này mấy bữa còn thủ võ đòi uýnh lộn giờ còn kêu anh nữa, chần chừ một hồi nó đáp:
“Ừ, để lúc rảnh đi tìm cho”.
Chim sáo dễ thương, chim nuôi từ nhỏ mới lọt lòng còn đỏ hỏn sau lớn lên rất khôn. Chim sáo ngoài nhảy lưng tưng vui vui còn biết nói nếu nuôi dạy giỏi, ít bỏ bay đi như những con chim khác khi xổ lồng và được cho tự do ra ngoài, luôn quanh quẩn bên người chủ nuôi. Sáo làm tổ trong bọng cây. Như lời hứa nó tìm bắt được ổ có hai con cho hai chị em chằng lửa và còn trộm mấy trái bắp trong rẫy vừa chín tới đưa hai chị em sau khi căn dặn phải giữ kín miệng. Có được hai con sáo và mấy trái bắp hai chị em mắt sáng rực lên liền, nó trở thành người anh quý của hai đứa.
Việc trộm bắp nó đắn đo suy nghĩ rất lâu, cái việc mà nó chưa bao giờ làm. Có lúc nó thấy quá xấu hổ cho việc này, rồi có lúc nó thấy chẳng có gì lớn lao bởi liên tưởng tới những việc người lớn, người lớn rồi mà có nhiều việc làm đâu có đúng, nó ngần ngừ từ sáng tới chiều lẫn lộn trong hai ý nghĩ này cuối cùng quyết định trộm thêm chục bắp đem về nhà. Nó vòng ra cuối rẫy bẻ bắp trái rồi nhổ luôn cây, kiếm chỗ vắng vẻ khó có ai tới, đào lỗ chôn cây bắp xuống luôn, chờ trời gần tối mới về, về tới làng là tối thui mặt mũi, không ai thấy gì. Đem về má nó biết ngay, gặp cái trợn mắt:
“Chết nghe con, người ta bắt được là chết cả nhà nghe con, đừng làm nữa nghe chưa, mà cũng không được làm vậy, đói cho sạch, rách cho thơm”.
Nghe má nó nói mới chợt biết sợ, nếu lỡ có ai bắt được thì đâu phải mình nó mà cả nhà mang tiếng xấu, xin lỗi rít rít mới được tha trận đòn.
Bắp chín, trái nào trái nấy to tròn, chắc hột nhờ đất tốt. Hợp tác xã quyết định thu hoạch bắp tươi. Lao động cả đội cùng đi hái bắp với hai chiếc xe bò. Chặt bắp tới trưa, chú Tư râu kêu mọi người được ăn bữa bắp thoải mái, ai nấy hớn hở cất cơm dỡ theo để dành buổi chiều, nhanh chân đi kiếm củi nhóm lửa, không đợi có lửa than, thảy bắp còn nguyên vỏ vào nướng, cháy hết vỏ thành như bắp luộc mà ngấu nghiến, phần lâu ngày mới ăn lại bắp, phần thiếu thốn toàn ăn khoai lang hầm, được bữa nên gặm ào ào, mấy chỗ chưa chín tới còn sực sực cũng gặm và nhai sạch sẽ. Ai nấy ăn cho bỏ, ăn bụng đầy uống nước không nổi. Đêm về bụng bắt đầu trương sình lên, đầy hơi cho tới vài ngày sau, chút chút lại thải ra cái xì, cái xịt, cái bộp. Nhưng có lẽ chuyện để đời về sau là cái tên của chị Tư tĩn, nghe tên của chị nếu chưa biết ai đều nghĩ rằng chắc ngày trước chị ở dốc lò tĩn, cái dốc cua chuẩn bị vào thị xã, có chất rất nhiều tĩn để bán cho bà con, ở đây lò làm tĩn rất nhiều, cái tĩn là cái hủ nhỏ bằng đất nung để muối mắm.
Đó là bữa hôm sau, đội vẫn đi thu hoạch bắp. Anh Hải tặc đang chất bắp lên xe bò kêu chị Tư rồi sực nhớ chuyện lúc đêm qua vui miệng đặt thêm tên cho chị luôn:
“Tư ơi, Tư ơi, Tư ôm mớ bắp cây lại cho mấy con bò ăn dùm đi Tư… t..ĩ…n”
Dì Tư Thệ thấy lạ hỏi:
“Tư tĩn, ủa hồi nào tới giờ mới nghe đó mậy, Tư làm lò tĩn hả?”.
Anh Hải cười khặc khặc đáp lại”
“Tên tui mới đặt làm sao ai biết, nó làm gì ở lò tĩn”.
“Chớ sao, chớ sao?” – Vài người cũng tranh nhau hỏi bởi cái tên ngồ ngộ.
Anh Hải tiếp:
“He he, bà con nghe nè, tui nói thiệt hôm qua cái bụng tui nó sình lên một đống bây giờ còn, nó muốn xả thì tui xả cái ào cho nó ra liền, còn con nhỏ bày đặt mắc cỡ …”
Anh Hòa ngắt lời:
“Nói lẹ đi cha nội, vòng vo hoài làm sốt ruột”.
Anh Hải vẫn chậm rãi:
“Thủng tẳng chớ là gì dữ vậy, nói tiếp nghe, hôm qua nó đi học lớp bình dân học vụ, nó cũng đâu thua gì tui, bụng cũng chướng cũng trương nhưng con nhỏ mắc cỡ tới lúc xì thì lại ém hơi, ém sao được mà ém, hơi nó đâu có chịu nổi vậy là nó phọt ra, bị ép chặc dưới ghế nên thành cái… t…ĩ…n chớ sao”.
Nghe tới đây ai nấy cười rần rật, anh Hải còn chưa tha:
“Nó tĩn một cái mà cái đèn dầu hột vịt người ngồi sau tắt ngúm luôn”.
Thêm một trận cười muốn bể bụng nửa cho bà con. Chị Tư đỏ mặt tía tai:
“Đồ quỷ sứ, ông vừa vừa nghe ông Hải, ông cứ nghe nói lại, ông nhiều chữ có đi học đâu mà biết”.
Anh Hải lúc này mới an ủi:
“Nói vậy thôi chớ có ai mà hông tĩn” – Anh hô lớn: “Đội sáu…t…ĩ…n”.
Lớp bình dân học vụ là lớp học ban đêm dành cho những người mù chữ, gọi là xóa mù. Học được dăm ba bữa phần tốn dầu tốn lửa phần cả ngày đi làm mệt dần dà tan rã, báo cáo của đội một trăm phần trăm đã xóa mù chỉ nhìn mặt chữ thì… đui.
Bắp thu hoạch về đổ một đống lớn sân nhà ông Sáu Hoàng, mỗi hộ được chia hai trăm bắp trái, hết khoảng một phần tư, số còn lại chở về hợp tác xã, chở về làm gì rồi đi đâu tiếp không ai biết và chẳng ai giải thích. Bà con giờ đã chán ngán hỏi, mạnh ai nấy cứ lấy bắp mang về, mọi sự thể ra sao gần như không còn màng tới.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Mùa đông

tonnuthunga

Gió đông hú qua hẻm vực
Căn nhà nhỏ tựa bên đồi
Run rẩy buồn nấp sau cửa
Tiếng buồn vang dội trong tôi

lá xôn xao theo cánh gió
Cây ngất ngưởng trong cơn say.
Dấu cô đơn sau cánh cửa.
Thả hồn mình theo lá bay.

Thảng thốt nghe tiếng nhạc buồn
Chim về ríu rít cành đen,
Âm xưa chợt tràn tâm tưởng
Xóa nhoà một thưở bình yên…

Yên lặng ai nhìn mây xám
Giăng phủ suốt một đời người
Bóng ai vẫn còn lẫn quẩn
Xin người ra khỏi đời tôi.

Lạnh lùng mùa đông đã đến
Giọt mưa lơ lửng ngang trời
Núi che đầu bằng tuyết trắng
Tình yêu cũng giá băng thôi.

Tôn Nữ Thu Nga

RU KHÚC TÌNH NỒNG

tranvannghia

Hãy nằm trên cánh tay anh
Để nghe nhịp đập tình xanh đâm chồi
Tinh mơ thánh thiện nụ cười
Đón em rộng cánh cửa mời ái khanh

Hãy nằm trên cánh tay anh
Để quên đi hết mong manh kiếp người
Dìu nhau qua những ngọt bùi
Chia nhau dù chỉ một lời ru xưa
Thảo thơm vườn cũ gió đùa
Dưới trăng đêm ngước mắt chờ long lanh

Hãy nằm trên cánh tay anh
Để nghe mưa hát dỗ dành đời nhau
Mắt buồn sẵn áo cứ lau
Giữ nguyên giọt lệ ngàn sau mặn nồng

TRẦN VĂN NGHĨA