Xin Chào Ðà Lạt

hoaikhanh

tặng Bùi Giáng và Phạm Công Thiện

em ở đó với bầu trời mây núi
mùa đông sương rờn trên má hoa đào
linh hồn ta mấy mươi mùa của suối
lạnh vô cùng không biết tự phương nao

chân ta bước trên con đường trở lại
một lần xưa vi vút gió đầu cành
sâu dưới đó lối mòn khe suối vắng
bóng của mùa khẽ động tiếng lanh canh

ôi đồi thông những chiều nghiêng nhớ nắng
lòng ta trôi chiều cũ dưới chân đèo
gió heo hút dường nghe niềm u hận
em đi rồi ta vẫn đứng nhìn theo

màu áo đó phất phơ màu vĩnh biệt
bay về đâu xin còn lại linh hồn
để ta giữ những chiều sương ám phủ
của một đời luân lạc kiếp tha hương

rồi thôi hết đất sẽ là vĩnh viễn
bông hoa kia nở trên xứ điêu tàn
tay yếu đuối ta sẽ còn nắm lại
những lời gì xưa đã hết âm vang …

HOÀI KHANH

Đọc “Ráng Chịu” của Trạch Gầm

dinhlamthanh

Đối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh: Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Đức, rồi theo chân anh trên khắp các nẻo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Đọc “Vụn Vặt” những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là “tình huynh đệ” của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản “Vụn Vặt” là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.

Trạch Gầm dùng chữ “Vụn Vặt” làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim… vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường…
Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ “Ráng Chịu” để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lãng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Đặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Đề – Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 – Viết Từ Lai Khê)… không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.
Ta có một ngày… một ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa
… …
Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng…rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn…điếng ngắt cô đơn
… …
Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồi…mất dễ như chơi
Lịch sử sang trang…sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi

Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm: Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :
Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậu…ngon ơ !

Bốn câu thơ trên trong bài “Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượu’”mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anaheim. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ “ngụm rượu tình nghĩa” với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc…
Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à…mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình…tung tóe
Khi quay về lại chan chát…cụng ly

Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt
Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau

Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương

Đã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành cho… thân phận ngậm ngùi.

Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :
Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình… để lấy sự bình yên
… …

Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Đăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Được
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng
Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù, người ra đi…
Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù…
Hai chữ “Ráng Chịu”, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê người…rồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :
Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồi…cũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần…níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu
……
Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng…đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu
……
Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
…đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời

Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy…còn ráng chịu nổi không
…..
Và “Ráng Chịu” cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màu… thôi thì đành “ráng chịu” !
Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tội…
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu
Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Đời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khê…

Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêu…Cho đến một ngày :
Đêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn…giấu đi
… …
Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Như…một chuyện hoang đường

Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :
Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Đốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đời…vượt suối trèo non

Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :
Sáng vào trường…
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà…
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình…
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Đất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơi…
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con…
Vẽ vời trăm điều mơ ước
Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đời…
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Đầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản
Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Đổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con…
Có triệu người đang khóc
Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình…
Thành những kẻ lưu vong

Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Đặt “Ráng Chịu” lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.

ĐINH LÂM THANH
(Paris)

Số mạng.

trachantranhuuhoi

– Chú Trứ có tin con người ta sống hay chết đều do số mạng không?
Tiếng gió rít từng hối trên ngọn dương liễu bên ngoài cùng với cơn mưa rã rich giữa khuya, trong biệt giam tối và lạnh làm cho câu hỏi của Tưởng như có gì huyển hoặc xa vời.
Tưởng lớn hơn Trứ chừng sáu tuổi, bị tội buôn, trộm và mổ bò lậu, lãnh án ba năm, ở trong Trại giam Phan Thiết hai năm nay rồi. Gần đây, bắt được một vụ trộm bò ở Ninh Thuận, khai ra có lên can với Tưởng trong những vụ trước. Anh lại bị đưa về Ninh Thuận để làm việc.
Tưởng không hề trộm bò, anh chỉ chuyên mổ bò và là bò của Hợp Tác Xã. Trong căn phòng nhỏ cỡ bốn mét vuông, một đêm anh có thể mổ sáu con, các mối chở xương và thịt đi, sáng ra là đã được dọn sạch phi tang. Tưởng ở chung phòng biết giam với Trứ cả tháng nay.
– Ý anh là sao?
– Nghĩa là khi cái số mình chưa tận, thì cho dù có bỏ trong lu, lấy búa tạ mà đập thì cũng không chết!
Trứ cười, anh cũng thường nghe nói đến số mệnh, không riêng gì chuyện sống, chết, mà giàu nghèo, sang hèn, sướng khổ…đều có số định sẵn. Nghe thì nghe thế nhưng do tuổi tác còn trẻ, anh ít quan tâm. Giờ đột nhiên nghe hỏi, chẳng biết sao mà trả lời:
– Tôi có nghe nói nhiều nhưng vu vơ, mơ mơ hồ hồ, bản thân thì mới hai sáu tuổi đầu chưa có gì gọi là kinh nghiệm về chuyện này nên nói không tin thì không phải, mà tin một cách chắc chắn cũng không!
– Tôi thì tôi tin vì ngay chính bản thân tôi, mấy lần tưởng tiêu đời rồi nhưng cuối cùng vẫn cứ sống nhăn!
– Có ai đó bỏ anh vô lu mà đập bằng búa tạ à?!
– Hà hà, bỏ vô lu thì chưa, nhưng bắn và bỏ cho chết đói thì có rồi!
– Anh Tưởng kể đi.
– Ừ, thì kể.
oOo

– Chừng hai mươi ngày sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi mới hai mươi hai tuổi. Hồi tới tuổi lính, tôi vào Địa Phương Quân, binh nhì, bốn năm lính, tôi trình diện ủy ban quân quản với cấp bậc hạ sĩ. Không biết chọn lựa theo công tội thế nào mà có một sồ cho học tập tại nhà, một số phải đi tới trại.
Hôm tập trung trình diện, cán bộ quân quản thông báo đi cải tạo, học tập chính sách và đi ngay, ai cũng hoảng là lo. Cán bộ nói là trại gần, thân nhân sẽ đem đồ dùng đến sau. Hai bộ đội chính quy cùng hai thằng du kích, người trong xã, dẩn đám ngụy quân, ngụy quyền chúng tôi chừng ba mươi lăm người lên trại, cách nhà chừng mười cây số, đi hàng một. Lính gồm những thằng tre trẻ như tôi, một vài người hơi lớn chừng bốn mươi, bồn lăm. Các bác được gọi là ngụy quyền thì lớn hơn, già không hà, gồm trưởng thôn, mấy ông trong ban đại diện xã…
Đi được chừng năm cây số thì bác trưởng thôn quay lại xin nước uống. Anh lính đi sau bác không có, tôi may có cái bình hai lít mẹ tôi đưa cho hồi sáng, tôi đưa cho anh lính chuyền cho bác. Uống thì phải dừng lại, bác ấy đang dốc cái bình lên miệng thì thằng du kích, nó cũng là người trong xã nhưng thoát ly đâu từ lâu nên lạ, tống một báng súng ngay bụng làm bác ấy gập người xuống, cái bình rơi ra xa, tôi bước tới cúi xuống đinh nhặt thì bị nó cho một đá ngay mông chúi người tới trước. Tuy là lính Địa Phương Quân, một binh chủng thuộc loại hiền nhưng tôi ba gai cũng chẳng thua ai. Máu bốc lên đầu, định chụp cây súng của nó nhưng Bác trưởng thôn và mấy anh em ôm tôi lại…Tụi tôi đi tiếp nhưng nó cứ hầm hè, còn tôi thì chẳng ngán, lườm lại nó. Một bộ đội chính quy đi lên ngang nó rồi bảo nó đi lùi ra sau, anh ta đi vào vị trí của nó. Chiều thì đến trại. Rất đông người đến trước đã dựng lều lán lúc nào rồi, vùng này mất an ninh từ lâu, thỉnh thoảng đơn vị tôi có vào hành quân và choảng nhau nơi này.
Chúng tôi được chia ra, chiều tối, khi các tổ đến trước đi lao động về, sắp hàng điểm danh rồi chúng tôi cùng theo họ vào lán trại, tôi cùng hai người nữa, vào một tổ mới mà tổ trưởng là một người cao to, da đen, có vẻ là sĩ quan chế độ cũ. Mấy người mới chúng tôi được nằm gần nhau, Bác thôn trưởng cũng được chia ở cùng tôi. Lán vẫn còn rộng rinh, chắc là còn nhiều người sẽ đến.
Sáng ra, tôi cùng những người mới đi làm việc với những anh em đến trước. Chiều về, lúc sắp hàng điểm danh trước khi vào lán, tôi thấy thằng du kích hôm trước đi nhìn từng người, hắn thấy tôi và bác trưởng thôn đúng gần nhau, mắt hắn trường trừng nhìn tôi rồi lặng lẽ đi về cuối trại.
Tối lại, nằm bên tôi, bác thôn trưởng, lúc này tôi đã biết tên bác vì khi điểm danh nghe hô Trương Quang Cần. nghiêng qua thì thầm:
– Cháu nên tách xa bác ra, bác sợ cháu bị liên lụy!
– Sao vậy bác?
– Thằng du kích đó, nó thù bác, sẽ kiếm cách trả thù.
– Vì sao nó thù bác?
– Nó là cháu bên vợ bác, cha nó chết sớm, lêu lỏng ăn chơi chẳng chịu học hành làm ăn gì. Cách nay chừng hai năm, cảnh sát bắt nó vì tội đánh lộn, phá phách trong quán bida. Mẹ nó đến khóc lóc nhờ bác, bác đến Cuộc cảnh sát khuyên lơn nó, cũng hăm he cho nó sợ rối bảo lãnh cho nó về. Mấy ngày sau, nó cùng hai thằng bạn giữa đêm vào nhà đánh bác rồi phá phách lung tung. Bác chưa làm gì thì cả ba thằng biến mất. Nó nghỉ là bác đã cho cảnh sát bắt nó!
Cuộc cảnh sát cho biết là chúng vào rừng theo Việt Cộng.
Tính tôi ngang, đã vậy tôi cũng không ngán, cứ ở gần bác Cần. Gia đình thăm nuôi có gì chúng tôi gom lại ăn chung. Bác nhắc lại hoài chuyện tách xa bác nhưng tôi gạt ngang:
– Ngán gì bác, chẳng lẽ nó bắn chết mình!
Tưởng đâu chừng một tháng hay tháng rưỡi chi là được về, ai dè hơn hai tháng vẫn chưa nghe động tỉnh gì. Vài ngày lại có một số lên xe đi đâu đó, phần nhiều là sĩ quan, công chức cấp cao. Bác Cần nghe nói là những người đó bị đưa ra Bắc.
Một hôm đi lao động về, bác Cần ham hái rau sam nên tụt lại sau, tôi ngờ ngợ có chuyện nên quay lại tìm, đúng lúc thằng du kích chận bác lại, nó ngó trước ngó sau rồi thoi vào bụng bác làm bác gập người xuống, mớ rau văng tung tóe. Tôi chạy nhanh đến, không thấy nó cầm súng nên lao vào đạp nó một đạp từ sau lưng, nó ngã chúi lên người bác Cần, thì ra nó bỏ cây súng xuống gần đó để đánh bác Cần bằng tay, nó lăn qua chụp cây súng nhưng bác Cần kịp ôm chân nó hét:
– Chạy lên ban chỉ huy trại đi.
Tôi chạy nhưng nó vùng dậy được, vừa bắn nó vừa hô:
– Trốn trại, trốn trại…
Chỉ cách không đầy mười lăm mét, nó vừa chạy vừa nhắm thẳng vào tôi mà bắn, tôi cắm đầu chạy về phía trại chỉ huy. Cả tràng đạn AK đi đâu mất tiêu, tôi chẳng bị gì cả. Trong lán chỉ huy chạy ra mấy bộ đội chính quy, gọi là cán bộ quản giáo, người có súng, người tay không. Tôi đưa hai tay lên trời, dừng lại trước họ. Bác Cần cũng vừa chạy đến, bác cũng đưa hai tay lên đầu. Thằng Du kích chạy đến chỉ vào tôi
– Báo cáo thằng này trốn trại.
Trại trưởng, một bộ đội lớn tuổi, lệnh đưa hai chúng tôi và cả thằng du kích vào trại chỉ huy.
Mấy bản tường thuật, kiểm điểm của tôi và bác Cần giống nhau. Chúng tôi được cho về trại. Nhưng ba ngày sau, tôi được gọi lên rồi bị dẫn ra ruộng dưa. ở đó có một cái chòi trơ trọi. Tôi hơi lo, không biết họ định làm gì!
Một thằng du kích và một bộ đội, cả hai đều có súng, không có thằng du kích thù tôi nên cũng hơi yên tâm.
Chờ một lúc lâu, có hai thằng du kích nữa, vác đến một cái gì bằng gỗ, lần này thì có thằng du kích đó. Tôi được đưa vào lều, bên trong tối om. Một tên du kích bảo tôi nằm xuống, tôi nằm sấp úp mặt xuống thì nghe bảo nằm ngửa ra. Tôi nằm ngửa ra, một thằng kéo khúc gỗ tới bỏ hai chân tôi vào hai lỗ hai bên, thằng kia bỏ một khúc gỗ khác chồng lên hai chân tôi khít vào hai lỗ, một thanh sắt thọc ngang bên trên rồi khóa lại bằng ổ khóa to. Tôi đoán đây là cái mà các anh em ở trại thường gọi là cùm.
Trước khi đi, tên bộ đội nói:
-Anh bị kỷ luật, bỏ ý định trốn trại đi, cứ chấp hành cho tốt sẽ được tha.
Tôi hoang mang, băn khoăn, lo đủ điều. Tôi không mang theo được gì kể cả tấm chăn!
Tôi thử uốn người ngồi dậy nhưng hai lỗ cùm cao quá, hổng hai chân lên nên chỉ gồng người được một lát là phải nằm lại. Sau này tôi biết là cái cùm, mới được toán thợ mộc làm và tôi là người đầu tiên bị cùm!
Trưa hôm đó, không có ai cho tôi cơm nước gì, chiều tối, có người đem một túm cơm gói trong bịch nilon, miếng cá khô và một chai đựng nước đến. Tôi đói, ăn hết túm cơm mà vẫn còn đói. Ngày sau, khoảng trưa thì người đó mang cơm đến, anh ta bỏ túi nilon cơm và một can chừng hai lít nước xuống sát bên hông tôi rồi nói:
– Ông Cần chuyển trại đi nơi khác rồi!
– Đi đâu?
– Không biết!
Vốc cơm ăn, lòng băn khoăn không biết bác Cần chuyển đi đâu, có bị như mình không?!
Ngày sau, không có ai đem cơm đến cho tôi và những ngày sau nữa, tôi đói lả người. mắt tôi hoa lên, chập chờn nhiều ý nghỉ và hình ảnh trong đầu. Tôi thấy mẹ tôi, chị tôi vừa chạy vừa la “ Tưởng ơi Tưởng, con đâu rồi, con đâu rồi!!!”.
Thỉnh thoảng tôi tỉnh lại, với lấy cái chai nước dốc vào miệng, cái chai không còn giọt nào, cái can nhựa còn một ít, tôi uống cầm chừng, không nhớ được là mấy ngày như thế. Đến khi cái can cũng hết nước, tôi đái vào can rồi uống từng ngụm nhỏ, không hề thấy khai, cứ ngậm cho thấm từ từ…
Tôi không còn phân biệt được ngày hay đêm và không ăn mấy ngày rồi. Có lần tôi tỉnh dậy vì như có ai cào vào chân tôi, ngay giữa háng. Nằm một lát tôi nghe tiếng gà gáy rồi tục tác. Trong đầu tôi thoáng qua ý nghỉ là con gà hoang nào vào đẻ ?!.
Con gà bươi một hồi rồi nằm im, đúng là con gà đẻ, ngay giũa háng tôi. Khi nó bay đi rồi, tôi sờ xuống, một cái trứng mềm còn nóng. Muốn lấy ăn ngay nhưng tôi nhớ lại, người ta nói là con gà khi vào đẻ lại, thấy trong ổ không có trứng thì đi tìm ổ khác hoặc không đẻ nữa. Người nuôi gà khi nào cũng chừa một hoặc hai cái trong ổ, tôi cố nhịn không dám ăn, rồi mê đi…
Con gà lại vào đẻ, khi sờ xuống thấy hai cái trứng tôi biết mình mê đi một ngày. Tôi thò tay lấy một cái trứng đưa lên miệng, gỏ vào răng rồi hút, cả cái trứng tót vào họng,chỉ còn chút nhầy nhầy tanh tanh ở lưỡi!
Con gà đều đặn đẻ như thế, tôi không đếm được là bao nhiêu ngày.
Cho đến một hôm, tôi mơ hồ nghe tiếng người xôn xao, hình như nhiều người, đỡ tôi dậy, tháo cùm rồi khiêng tôi đi…Tôi phải vào trạm xá vì lưng tôi đã bị lầy, da tróc từng đám!
Tưởng kể đến đây thì ngồi dậy, anh lấy cái ráy tai tự chế mà trong tù ai cũng có, xoáy tai mình kêu rồn rột. Tôi hỏi:
– Anh có biết vì sao họ bỏ đói anh không?
– Họ không bỏ đói mà là họ quên !
– Tôi bị kỷ luật, phần cơm của tôi vẫn chia về toán, bác Cần lấy cơm rồi nhờ người đưa đến cho tôi, khi bác chuyển đi, không còn ai nhớ đến tôi! Lúc mẹ và chị tôi lên thăm, trại mới nhớ lại. Nếu mẹ và chị tôi không lên thăm hoặc thăm trể đi vài ngày, chắc là tôi tiêu rồi vì con gà đã ngưng đẻ hai ba ngày trước! Sau này mới biết tôi không ăn cơm mười một ngày, trong thời gian đó, con gà cho tôi tám cái trứng!
Tôi tin vào số mạng là vậy, nếu con gà không vào đẻ, hay đẻ xa tôi chừng mét rưỡi thì tôi không sống nỗi tới ngày mẹ tôi vào thăm. Số tôi chưa tận!

oOo
Ngoài biệt giam vẫn mưa, gió vẫn thổi, thỉnh thoảng lùa vào phòng từ ô cửa trên cao, tôi nằm im ngẩm nghỉ về sự trùng hợp lạ kỳ của chuyện con gà đẻ.
Hồi lâu, anh Tưởng lên tiếng hỏi:
– Chú ngủ rồi à?
– Chưa!

Sài Gòn, tháng 9 năm 2015.
Trạch An – Trần Hữu Hội

SUY NIỆM TRẮNG

truongdinhphuong

Có lẽ người không biết
Nỗi buồn sinh ra trước tôi một ngày
Hôm ấy trời đầy gió
Lũ lá cúi đầu xếp hàng đưa tang mùa thu
Tôi rời bụng mẹ
Vừa lúc gã mùa đông đặt chân vào thành phố
Hôm ấy trần gian co quắp
tinh người nép sau những tà áo ấm…
Cha tôi vốc yêu thương thả vào nồi cháo cám
Đôi tay gầy khuấy loãng âu lo
Tôi nằm trên manh chiếu chằng chịt vết sẹo thời gian
Toe miệng cười
Mẹ tôi gom muôn nỗi đắng cay
Chôn vào mắt bão đáy lòng
Dùng những sợi tơ từ trái tim đằm thắm
kết nên những mầm xanh về một mùa xuân xa vợi xa vời
Ầu ơ ru tôi…
Ba mươi năm bao chuyến tàu chở tôi đi qua những sân ga vui buồn/được mất
Mẹ tôi còng lưng
cho đời tôi đứng thẳng
và cha tôi đã nhập vào đội ngũ những vì sao trên bầu trời xa tắp
tài sản để lại cho tôi là những bài học làm người…
Chiều nay trời đầy gió
Tôi và nỗi buồn tương ngộ
Hai đứa ngồi trên tháp chuông cuộc đời
Gom những giấc mơ vẽ hình hài cổ tích
Có lẽ người không biết…

Trương Đình Phượng

MẮT XƯA

vungocgiao

ta về tìm lại người
phố xưa đầy xác lá
nắng xưa vẫn vàng hanh
nghe sầu dâng tê giá

ta về tìm lại ta
ngõ xưa mờ sương khói
vườn xưa chim đã bay
nửa đời chừng mê mỏi

ta về nhìn lại người
tóc xưa chìm bóng lá
tình xưa mòn mỏi mong
mắt chôn cùng cõi lạ

ta về nhìn lại ta
rong rêu đầy thân thể
trái tim héo trên môi
và , nỗi sầu ngạo nghễ

ta về thấy lại người
mắt xưa đầy bóng tối
hồn ủ ê héo hon
thở hương mùa hấp hối

ta về thấy lại ta
là người trên thánh giá
cô đơn – và , cô đơn
trong tận cùng nghiệt ngã
…….
thôi , người hãy ngủ đi
ta về cùng ngày tháng
một đời có hề chi
trong thinh không lãng đãng

vũ ngọc giao

MÈO MAO VÀ CÁI TPP

khuatdau

Hơn 6000 năm trước, tổ tiên của mèo Mao chỉ rình bắt chuột ở hai bờ sông Hán. Cho dù rất thèm cá, nhưng chưa bao giờ dám mò ra biển lớn. Loài mèo vốn dĩ rất sợ nước.
Ngày nay, khi đã biết ăn bánh bao nhân thịt người, uống rượu mao đài (có pha máu) thì sợ gì nước. Mao tân vương liền hạ lệnh cho miêu dân xuống biển bắt cá.
Nhưng thuyền thì bé chỉ như chiếc lá tre, lưới thì nhỏ như chiếc mùng rách, không cách gì bắt được cá lớn. Đó là chưa kể tàu thuyền đánh bắt xa bờ của mèo Đôrêmôn và mèo Tom đi lại như mắc cửi. Chưa nói tới gió bão, chỉ cần tàu thuyền của chúng lượn sát bên hông là cũng đủ chìm rồi.
Muốn ăn cá đâu có dễ! Thục đạo nan! Thục đạo nan! Còn khó hơn đường vào đất Thục.
Vậy thì phải sắm tàu to và lưới rộng. Rồi vẽ ra đường chín đoạn và cái lưỡi bò, coi biển đông như cái ao nhà, luyện tập thuần thục trước khi ra biển lớn. Kế sách bày xong, Mao tân vương bèn nằm duỗi cẳng trên giường nệm lò xo, cùng với các miêu nữ chân dài mà lắc lư con tàu đi.
Có biết đâu rằng, mèo Tom sô cô la cũng đang xây mộng big cat, muốn trở thành vua sư tử. Suốt 5 năm qua, mèo Tom vừa rửa xong cái nhục tháp đôi, vừa âm thầm tính kế cắt bớt nanh vuốt của mèo Mao.
Thế nên, vừa qua tại Atlanta, mèo Tom và Đôrêmôn cùng với sư tử biển Singapore, hổ Mã Lai, chuột túi kanguru, gấu trắng bắc cực và nhiều loài giống khác trong đó có chuột Á Nàm, tung tấm lưới cực kỳ lớn rộng có tên gọi là TPP. Lưới giăng từ bắc xuống nam, chạy dọc suốt hai bờ đông và tây của biển Thái Bình, sát ngay cửa ngõ nhà Mao, cứ như thiên la địa võng.
Bảo rằng tạo điều kiện thuận lợi để cùng nhau đánh bắt tôm cá, kỳ thực là chúng hợp tung liên hoành để nhốt Mao vào rọ. Từ đây chúng mặc sức vẫy vùng, chia chác nhau nguồn hải sản vô tận.
Mao tân vương đấm ngực gào rú trên sóng truyền hình. Thế này thì đường chín đoạn nát bét ra rồi, còn cái lưỡi bò vừa mới thò ra cũng bị cắt cụt, giờ chỉ còn lại cái lưỡi mèo nhỏ xíu!
Chẳng lẽ mèo lại hoàn mèo?!
Trước đây, Mao tiên vương, tự xưng là người cầm lái vĩ đại, nhưng cũng chỉ lái tàu gỗ trên đất liền; mấy lần cố sức đại nhảy vọt cũng đâu nhảy bằng kanguru; tự cho là đã lên mặt trăng cả ngàn năm trước, nhưng cũng chỉ là trong mộng, trong khi mèo Tom bay lên đó cắm cờ. Từ dưới đất nhìn lên, dù không có gió, cờ của mèo Tom vẫn hiên ngang kiêu hãnh, khiến Mao tiên vương tức muốn hộc máu như Chu Du. Cái nhục đó Mao tiên vương di ngôn đời con đời cháu phải trả. Thế mà, giờ đây lũ mèo Tom lại rào kín biển, loại mình ra khỏi cuộc chơi, cái nhục này xem ra còn to hơn cả nhục cắm cờ.
Ngó tới ngó lui, nhìn trước trông sau, Mao tân vương quả là tứ bề thọ địch. Ngoài biển lớn thì bị cái TPP vây ráp, trong đất liền thì gấu Misa, khỉ Anan và sói đồng hoang rượt đuổi. Lại thêm lũ nội thù, nào là chuột khổng lồ ở Tân Cương, vây cánh của Giang, Hồ ở Bắc Kinh, Thượng Hải. Ngay cả thằng chuột chù Á nàm, bao nhiêu năm rét run bò lê xin tha tội chết, nguyện đời đời làm tôi tớ cũng đâm ra trở cờ, theo bám đuôi mèo Tom và Đôrêmôn mà giở giọng hỗn láo. Giờ chỉ còn mỗi con chuột Un ăn củ sâm béo trục béo tròn là tâm phúc. Nhưng nó cứ “em chả” “em chả” đòi cho bằng được cái bấm ngòi nổ bom nguyên tử như bấm game, không khéo rồi chết cả lũ.
Cái giấc mộng đại miêu của Mao tân vương khi mới lên ngôi to là thế, giờ bỗng xẹp lép như bong bóng xì hơi. Vương chỉ còn biết nói cứng: “Thì hãy đợi đấy!” Và tự nhủ rằng, quân tử trả thù hai mươi năm cũng chưa muộn (tăng gấp đôi).
(Mèo chuột ký sự)
Khuất Đẩu

THU HÁT CHO NGƯỜI

phamkhanhvu

Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim ta nhớ người vô bờ …
(Thu Hát Cho Người – Vũ Đức Sao Biển)
Từ mùa thu năm ấy, đến nay cũng đã nhiều năm. Tôi một mình trở lại Shenandoah, vùng đồi núi yên tĩnh của tình yêu. Tôi bước đi, hát nhỏ cho tôi, và cho anh nghe bài hát ấy, bài hát mà Duy đã hát những ngày chúng tôi lang thang với nhau trên vùng đồi núi này. Bây giờ, một mình tôi bước đi.
Tôi yêu Duy ngay từ những ngày đầu tiên bước vào ngưỡng cửa đại học. Anh học năm cuối, và học rất giỏi. Một năm sau Duy đã xác định tình yêu của chúng tôi bằng một nụ hôn nồng nàn, ấm áp trong một góc vắng của quán cafeteria trong trường. Anh là con một của cha mẹ anh, và là niềm vui duy nhất của mẹ anh, khi cha anh qua đời lúc anh còn rất nhỏ. Bà yêu anh đến nỗi có lần tôi đã nghĩ rằng bà ghét tôi, ghen với tôi, và sau này chắc là tôi sẽ phải gặp khó khăn nhiều lắm để trở thành con dâu của bà. Thật sự thì ngày đầu tiên khi Duy dẫn tôi đến nhà giới thiệu, bà đã lịch sự chào tôi với một vẻ mặt nghiêm nghị, không cười.
Sự thu hút của Duy nằm trong đôi mắt, đôi mắt đen, sâu thẳm và như biết nói, khi anh nhìn tôi. Lớn hơn tôi chỉ 4 tuổi, nhưng Duy có cái vẻ điềm tĩnh và xử sự như một người lớn chững chạc, trái với tánh tình hơi bồng bột và lãng mạn của tôi. Duy yêu thích cảnh thiên nhiên rừng núi và đặc biệt là Shenandoah, một tặng phẩm của trời đất ban cho Virginia, thung lũng núi đồi với rừng cây bạt ngàn bát ngát khi vào thu, những con đường ngoằn ngoèo xuyên qua rừng cây rực rỡ sắc mầu, đẹp như một bức tranh, anh nói vậy. Chúng tôi thường lái xe chạy vào vùng rừng núi này những ngày nghỉ học hay những ngày lễ, vì nhà của chúng tôi chỉ cách nơi đây khoảng hơn 1 giờ đồng hồ.
Có một lần nghỉ học Duy chở tôi đến Shenandoah. Hôm ấy Duy mặc quần short xám và áo T shirt Polo màu vàng nhạt, đeo mắt kính đen vì trời nắng, khi bước lên xe anh tôi đã cảm giác một cái gì đó rất lạ trong lòng tôi. Tôi có cảm giác Duy đã là của tôi, chỉ một mình tôi, và trong giây phút tôi có ý muốn chiếm đoạt anh cho riêng mình, tôi không thể nào rời mắt nhìn anh và tay tôi trên cánh tay trần rám nắng của anh. Duy không tỏ ra một thái độ gì khác. Tôi cố ý nhẩn nha chỗ này chỗ kia cho tới chiều, càng gần buổi chiều lòng tôi càng xúc động. Tôi thì có tà ý, còn Duy thì trong sáng, sự trong sáng hấp dẫn như một trái cấm. Tôi ôm anh trong rừng thu vàng úa và gió lộng, tôi nhắm mắt lại, thì thầm:
– Duy ơi, em yêu anh.
Duy hôn lên tóc tôi:
– Anh yêu em, bé con.
Nhưng tôi không chịu ngừng ở đó. Bóng chiều đã dần tàn phai trong khu rừng vắng, người qua lại cũng vắng vẻ, và chúng tôi đang ở giữa một khoảng rừng dày, tôi nhìn xuống tấm đệm chúng tôi mang theo để trải ngồi. Tôi vít đầu Duy xuống và hôn lên môi anh, đôi môi Duy ấm và ngọt như một quả táo, hơn thế nữa, tôi kéo anh ngã xuống tấm đệm. Duy ngã theo tôi, anh ôm tôi trong vòng tay rắn chắc, nhưng khi bàn tay tôi mò mẫm kéo chiếc áo T shirt của anh ra, thì anh nắm tay tôi lại:
– Như Ý, đừng em, phải giữ…
Tôi vừa giận vừa xấu hổ, tôi khóc:
– Em yêu anh, em không muốn giữ gìn với anh, có gì là tội lỗi đâu, rồi mình cũng cưới nhau mà.
Duy kéo tôi nằm ngửa ra trên tấm đệm, thì thầm vào tai tôi:
– Mình nằm chơi thế này là được rồi, đừng khóc.
Anh xoay người lại, quàng tay ngang người tôi, hôn tôi. Tôi cảm thấy miệng mình đắng, tôi hờn giận quay mặt đi tránh cái hôn của anh. Duy điềm tĩnh nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời chiều, những con chim thinh lặng của núi rừng đang chập choạng gọi nhau về tổ. Khi anh gọi tôi đi về, tôi im lặng đi bên cạnh anh không nói một lời, trong lòng ngổn ngang những suy nghĩ. Hai ngày sau đó tôi không gọi, mà anh cũng chẳng gọi, đến ngày thứ ba chịu không nổi, tôi gọi:
– Em muốn nói với anh là em không cố ý hôm đó, em không phải như vậy.
Duy cười trong điện thoại:
– Anh hiểu mà, anh không nghĩ em vậy đâu.
Tôi hiểu Duy từ đó, và không dám có ý định tái diễn lại điều đó một lần nữa. Nhưng Duy cũng rất tế nhị, anh không rủ tôi đi đâu vào những khung cảnh vắng vẻ trong những thời gian tăm tối. Những khi cần anh chỉ giúp thêm về toán, tôi lại nhà anh, tôi và anh ngồi trong căn phòng nhỏ dưới lầu, mở cửa. Và tôi cẩn thận, ý tứ vì biết là đâu đó, trong nhà, đôi mắt của mẹ anh vẫn âm thầm theo dõi tôi. Nhưng tôi yêu và kính phục Duy hơn. Tình yêu của chúng tôi lớn dần theo ngày tháng, tôi cũng dần lớn lên, cũng bớt dần những tính khí ngông cuồng, bồng bột của tuổi trẻ.
Thời gian qua, tôi ra trường, và đi làm. Có nhiều ngày tôi nhận thấy Duy có những sự thay đổi. Anh có vẻ mệt mỏi, ngơ ngác, im lặng nhiều hơn, không hoạt bát như mọi khi, anh gầy đi. Anh không đi cùng tôi đến những phòng tập thể dục nữa. Ngồi bên tôi, đôi khi anh chìm vào những suy nghĩ miên man rất lâu. Tôi lo lắng, tôi hỏi:
– Anh có bệnh gì không”
– Thường nhức đầu, cảm thấy mất sức. Duy trả lời. Có lẽ anh hơi bị pressure vì công việc bề bộn và khó khăn ở sở thôi.
Tôi cũng không chú ý nhiều lắm. Có một ngày, tôi không nghe anh gọi. Duy có thói quen gọi cho tôi sau khi đi làm về. Thường anh muốn gặp tôi một chút ở quán cà phê trước khi về nhà. Nhưng hôm đó tôi chờ cho đến tối. Đến tối thì tôi gọi anh, cell phone của anh off. Tôi gọi số nhà. Khá lâu tôi nghe tiếng người ở đầu giây bên kia, mẹ của anh:
– Duy nó đi làm về và bị mệt, bác đang nấu cháo cho nó, cháu có thể đến chơi.
Khi tôi đến thì Duy đang ngồi trên chiếc ghế rộng vành ở phòng khách. Khuôn mặt anh hơi xanh nhưng bình thường. Tôi hỏi:
– Anh bị bệnh sao vậy”
– Khi lái xe về gần nhà anh tự nhiên thấy choáng váng phải lấy qua lane emergency ngồi nghỉ mệt một lát. Vừa thấy đỡ anh vội lái về nhà nhưng vừa về đến nhà lại bị choáng lần nữa, bây giờ thì đỡ rồi.
Tôi nắm tay anh như để chia xẻ. Anh cũng siết chặt tay tôi. Chúng tôi ngồi cạnh nhau. Thấy anh có vẻ mệt tôi khuyên anh vào phòng nghỉ và từ giã. Tôi đi vào phòng anh, kéo mền đắp lên ngưòi anh, hôn lên trán anh, nói nhỏ:
– I love you, sweetheart.
Duy chỉ mỉm cười và nhắm mắt lại.
Ngày hôm sau anh nghỉ làm một ngày đi bác sĩ, và trong khi chờ đợi kết quả thử máu anh đi làm lại. Tôi nghĩ là anh bị mệt bình thường. Một tuần lễ sau ngày đó, mẹ anh gọi tôi, tôi hơi ngạc nhiên vì bà rất hiếm khi làm điều này:
– Như Ý, bác muốn gặp riêng cháu, hơi gấp. Bác có chuyện muốn nói với cháu.
Bà hẹn gặp tôi ở nhà, hôm ấy bà nghỉ làm. Tôi phải xin phép nghỉ làm để đến gặp bà. Bà là một người phụ nữ mà tôi kính mến, mặc dù thời gian đầu yêu Duy tôi đã có một cái nhìn không thiện cảm về bà. Bà lịch sự rót nước mời tôi, và khi bà quay lại trên ghế, tôi nhìn thấy vẻ bất an trên khuôn mặt bà:
– Gần đây Duy nó có nói chuyện gì với cháu không”
– Thưa không, tôi đáp. Đó là chuyện gì vậy bác”
Bà nhìn thẳng vào mắt tôi:
– Nó có bao giờ nói với cháu về chuyện cưới hỏi hay là bệnh tật …
Tôi cũng nhìn thẳng vào bà:
– Thưa có, cách đây khoảng 3 tháng Duy có nói ý định đó với cháu và cháu đồng ý, nhưng ảnh còn một môn cuối để xong cái Master, và hẹn sau khi ảnh thi xong sẽ bàn chi tiết hơn … Còn bệnh thì ảnh nói không có gì, chỉ pressure thôi …
Bà đứng dậy, đi chậm trong phòng, như cố dằn những xúc cảm mà tôi có thể nhìn thấy, đang biến chuyển trên khuôn mặt bà. Tôi cảm thấy sợ hãi một cách mơ hồ:
– Thưa bác, có chuyện gì vậy”
Bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi, hỏi từng chữ rời:
– Cháu có biết nó bệnh gì không”
– Thưa không. Sự sợ hãi trong lòng tôi tăng dần.
Bà bước tới, nắm tay tôi. Tôi biết có chuyện chẳng lành. Tôi đứng dậy, nắm tay bà:
– Sáng hôm nay văn phòng bác sĩ gọi lại cho bác, nói về kết quả thử máu của Duy. -Bà ngừng lại mấy giây, cố nén xúc động.- Bác rất thân với bác sĩ, ông ta nói với bác trước khi báo cho Duy biết. Nó có những triệu chứng của bệnh … ung thư máu.
– Trời ơi. Tôi kêu lên, cảm thấy khó thở.
– Bác đã nghi ngờ, và sợ hãi, nhưng sự thật vẫn là sự thật.
Bà khóc, những giọt nước mắt lặng lẽ chảy xuống má. Tôi đứng chết lặng, trong giây lát không biết mình phải làm gì, hầu như tê điếng… Mãi một lúc sau, tôi mới cất tiếng được, nhưng vừa mở miệng là nước mắt tôi chảy ra, tôi nghẹn ngào:
– Duy có biết kết quả thử nghiệm chưa bác”
– Chưa cháu à, và đó là lý do mà bác muốn gặp… con trước.
Bà thay đổi cách gọi tôi, và tôi đủ thông minh để biết rằng bà cần nơi tôi một sự giúp đỡ:
– Bác cần con làm gì cho Duy không” Con sẵn sàng làm, con yêu anh ấy.
Chỉ cần nói đến đó là tôi bật ra khóc nức nở. Bà mẹ cũng òa lên khóc. Chúng tôi ôm nhau khóc, tuyệt vọng, không biết mình phải làm gì. Khi cơn xúc động vơi bớt, chúng tôi ngồi xuống và nói chuyện với nhau.
Chiều hôm sau đó, tôi gọi cho Duy và nói rằng sẽ đến nhà thăm anh. Anh có vẻ vui vẻ hơn:
– Very good. Mẹ anh đi thăm dì Tâm ở Richmond đến chiều mai mới về. Anh đang ở nhà một mình cô đơn đây. Anh sẽ nấu cái gì cho em ăn.
Tôi cảm thấy muốn khóc:
– Anh có khỏe chưa mà bày đặt nấu ăn” Để em ghé tiệm mua đồ đem đến ăn luôn.
Duy vui vẻ:
– Không sao, hôm nay anh thấy khỏe hơn. Đồ ăn chuẩn bị hết rồi, em đến là có ăn ngay.
Khi tôi đến, Duy đã chuẩn bị sẵn. Trên cái bàn ăn nhỏ thường ngày của hai mẹ con hôm nay có thêm hai cây nến mầu tím và bình hoa với hai đóa hồng vàng đơn giản. Đứng trong bếp, Duy nháy mắt:
– Sao, romantic không” Phụ anh mang đồ ăn ra bàn đi cưng.
Tôi cố gắng để giữ thái độ bình thường, tôi cũng vui vẻ:
– Nghe anh nói em cũng vội ghé chợ mua một chai champagne để uống chút chút cho romantic đây.
Bữa ăn chưa xong, tôi lấy tay nhấn nhấn vào hai bên thái dương, nói nhỏ:
– Tự nhiên em cảm thấy chóng mặt quá, có lẽ vì uống champagne không quen. Em có thể vào phòng anh nằm nghỉ mệt một chút không”
Duy hơi ngần ngừ, nhưng anh nói:
– Được, để anh vào dọn lại giường một chút. Phòng anh bê bối lắm, đừng có cười nghe.
Anh đỡ tôi vào giường, kéo mền đắp cho tôi và kéo cái ghế ngồi bên cạnh. Anh nói:
– Có cần anh giúp gì không”
Tôi nhắm mắt lại, một giọt nước mắt lăn ra:
– Nằm xuống đây với em.
Duy nhìn tôi chăm chăm:
– Sao em khóc, em có chuyện gì buồn” Có buồn gì anh không”
Tôi run rẩy:
– Nằm xuống đây, đừng hỏi gì cả.
Duy ngoan ngoãn nằm xuống bên cạnh tôi. Tôi đưa tay lên tắt ngọn đèn vàng trên cửa. Căn phòng rơi vào bóng tối mờ, chỉ còn một vệt sáng từ hành lang hắt vào. Như Ý, Duy kêu lên nho nhỏ. Tôi khóa miệng anh lại bằng đôi môi tôi đã ướt đẫm nước mắt, tôi ôm siết lấy anh, siết chặt.
Cho đến bây giờ, tôi cũng không biết lý do vì sao mà hôm ấy Duy đã không từ chối. Có lẽ là định mệnh. Anh hơi chậm chạp nhưng ôm choàng tôi lại, quấn tôi lại trong vòng tay rắn chắc của anh, trườn người lên, và đôi môi anh bắt đầu di chuyển trên mặt tôi và từ từ xuống dưới cổ. Bàn tay anh cũng di chuyển trên thân thể tôi, tôi đáp ứng anh bằng tất cả tình yêu và sự mong đợi, và anh đi vào trong tôi một cách vụng về, nhưng sôi nổi, mạnh mẽ cho đến khi chúng tôi tan vào trong nhau. Trong giây phút hoan lạc ấy, nước mắt tôi tràn ra ướt đẫm cả gối. Tôi thì thào: Duy ơi, em yêu anh. Và Duy cắn chặt vành tai bên trái tôi…..
Khi nằm trở lại trên giường, Duy nắm chặt tay tôi, nói rất nhỏ:
– Anh xin lỗi…
Tôi nắm bàn tay rươm rướm mồ hôi của anh đặt lên ngực:
– Đừng xin lỗi. Chính em muốn điều này mà…
Một tuần sau, mẹ Duy gọi tôi đến. Tôi biết việc gì. Khi tôi đến, Duy đang nằm trên giường, nhìn trừng trừng lên trần phòng, khuôn mặt trắng bệch như sáp. Bà mẹ khóc, tôi khóc, và tôi thấy nước mắt Duy trào ra. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh khóc. Bác sĩ nói là anh chỉ còn vài tháng … Đây là chứng ung thư máu cấp tính hiếm hoi.
Ngay sau khi bác sĩ báo tin, thì sức khỏe Duy xuống thật nhanh. Anh phải vào nhà thương. Tôi xin nghỉ làm việc để chăm sóc anh. Tôi nói rõ cho ba mẹ tôi biết, ba mẹ tôi đồng ý để tôi làm việc đó. Có khi tôi, có khi mẹ anh, có khi cả hai, chúng tôi cố làm mọi thứ để Duy vui, nhưng khi anh quay đi thì chúng tôi khóc, khóc não nề, không thể kìm chế được.
Tôi thường ngồi im lặng bên anh hàng giờ khi anh mệt mỏi nhắm mắt sau những thử nghiệm, nước mắt chảy ra như không bao giờ ngưng lại được. Người ta cố gắng chạy chữa nhưng Duy như một ngọn đèn tàn dần.
Hai tháng sau anh chỉ còn là một bộ xương, điều duy nhất còn tinh anh trên khuôn mặt hốc hác là đôi mắt, đôi mắt sâu thẳm như biết nói mà không nói gì nữa. Duy nhìn tôi với ánh mắt câm lặng mà điều đó càng làm cho lòng tôi tan nát.
Buổi chiều hôm đó trước khi vào nhà thương, tôi ghé nhà để đón mẹ anh, và cũng để báo một tin cho bà. Tôi nắm bàn tay gầy xương xẩu của bà, đã ốm hơn rất nhiều từ ngày anh ngã bệnh, bà chỉ còn là một chiếc bóng:
– Mẹ, lần đầu tiên tôi gọi bà. Mẹ cho phép con gọi là mẹ. Mẹ ơi, con đang mang trong lòng giọt máu của anh Duy.
Bà ôm tôi, lặng lẽ khóc. Tôi cũng khóc lặng lẽ, đó là điều mà chúng tôi đã nói chuyện với nhau ngày ấy. Bà nói:
– Bác chỉ nói ước vọng của bác, còn thì tùy con. Con còn một đời sống, con hãy tự quyết định. Duy thì không còn thời gian nữa. Nếu như Trời thương, thì …
Tôi đã quyết định, một phần vì bà, nhưng phần lớn là cho tôi. Vì tôi yêu Duy hơn cả cuộc sống, nếu mà tôi có thể chết thế cho anh, tôi cũng sẵn sàng, thì có điều gì không làm được. Tôi đã hồi hộp khi tháng đầu trôi qua mà không thấy gì, rồi tháng thứ hai, tôi đến bác sĩ. Ông nói với tôi: chúc mừng cô khi thấy tôi cười mà nước mắt chảy ràn rụa trên má.
Tôi hỏi bà:
– Mẹ nghĩ rằng con có nên báo cho anh Duy biết tin này không”
Bà cũng suy nghĩ:
– Để xem, rồi mẹ cũng phải qua nhà để xin lỗi ba mẹ con.
– Không sao đâu mẹ, con đã nói với ba mẹ con rồi. Ba mẹ con rất thương anh Duy. Ba mẹ con chấp nhận hết.
Những ngày cuối cùng của Duy là những ngày thật đen tối. Sự biết trước càng làm cho lòng đau đớn hơn, như người tử tội chờ đợi ngày hành quyết. Buổi sáng hôm đó, anh mở mắt ra, rất tỉnh táo, anh nắm tay tôi, nhìn vào mắt tôi, thì thào:
– Hình như em có điều gì dấu anh phải không” Hãy nói cho anh biết.
Mẹ anh cũng đang ngồi đó, bà gật đầu. Tôi run rẩy:
– Anh, em có thai, anh có một đứa con …
Đôi mắt Duy sáng lên, từ trong hốc mắt chảy ra một giọt nước mắt, chỉ một giọt nước mắt, anh siết bàn tay tôi lúc nào cũng nằm trong lòng tay anh:
– Vợ của anh …
Tôi cúi xuống trên ngực anh, nước mắt tôi chảy ướt chiếc áo bệnh viện anh đang mặc.
Anh dần dần rơi vào cơn hôn mê. Tôi, mẹ anh và cha mẹ tôi ngồi bên cạnh cho đến khi anh ra đi một cách thanh thản. Người y tá giữ tôi lại không cho tôi ngã nhào vào người anh. Mẹ anh thì quỵ xuống đất, mẹ tôi phải ôm bà lại, cả hai khóc thổn thức.
Tôi bình tĩnh hơn ngày đưa anh ra nghĩa trang. Tôi biết tôi có bổn phận giữ gìn giọt máu của anh. Tôi sinh cho anh một đứa con trai, và dọn vào ở chung với mẹ anh để cho bà gần gũi với cháu nội, ở ngay trong căn phòng của anh, như một người vợ không bao giờ cưới. Chúng tôi ra mộ anh hàng ngày, hàng tuần, rồi hàng năm qua…
Tôi ít khi nào dám trở lại Shenandoah, nhưng hôm nay tôi đã trở lại một mình. Mùa thu Shenandoah đẹp và buồn như một giấc mộng. Toàn khung trời nhuộm vàng bao la xa khuất.
Tôi đậu xe ở nơi trước kia Duy đã từng đậu khi chở tôi đến, tôi đi lại nơi mà có lần tôi muốn cám dỗ Duy rơi vào cơn mê tình ái. Tôi ngỡ như Duy đang đứng đâu đó, quần short, áo T shirt mầu, trẻ trung, khỏe mạnh và trong sáng như một thiên thần không có cánh. Tôi hát thầm bài hát mà anh từng hát cho tôi nghe. Tôi nhớ Duy chảy nước mắt, tôi nói với anh:
– Anh ơi, em trở lại đây, để nói với anh rằng tạm biệt anh, sáu năm đã qua rồi kể từ ngày ấy. Ngày mai em sẽ từ giã tiểu bang này để theo người chồng mới đi về một tiểu bang khác. Tiểu Duy sẽ ở lại với bà nội cho bà còn thấy anh. Rồi em sẽ trở lại đón con ngày nào đó. Tha thứ cho em vì em không thể nào sống mãi với hình ảnh anh trong lòng, em sẽ héo mòn mà chết.
Tôi quỳ xuống, thổn thức khóc. Lá vàng bay trong trời.
hoàng hạc bay
bay mãi bỏ trời mơ
về đồi sim
ta nhớ người vô bờ

thu hát cho người,
thu hát cho người,
người yêu ơi …
Khi cho xe chạy trở ra, tôi nói thầm trong dòng nước mắt: Shenandoah, tôi sẽ trở lại. Shenandoah, chờ tôi …

PHẠM KHÁNH VŨ

XIN LỖI,

tonnuthudung

Xin về tạ lỗi cùng trăng.
Một mi ngoan
một môi gần
thế thôi.
Xưa làm mây dạt cuối trời.
Lỡ nghiêng xuống
nhận
…một lời đong đưa.
Xin về tạ lỗi cùng mưa.
Hiên người lạnh quá
gió lùa thênh thang.
Xin về tạ lỗi
…đa đoan.
Đưa nhau nghìn dặm…
trần gian
mịt mù…
Xin về  tạ lỗi mùa thu.
Chiếc xương lá mục còn ru tình buồn…

Tôn Nữ Thu Dung

BUỔI SÁNG ĐÀ LẠT 1

dungkqd

Giấc mơ chưa kịp bay đi
Màn sương nhón chân níu lại
Nắng chạm vào em thủy tinh
Mặt trời hình như ái ngại.

Con ngựa ăn cỏ trên đồi
Thời gian dừng chân đứng đợi
Con chuồn chuồn nhỏ ngủ quên
Trên cành thông khô năm ngoái.

Gió là một lượt ngàn thông
Giọt sương vỡ trên lá biếc
Đà Lạt choàng chiếc khăn voan
Hoa dại cài trên áo cưới.

Những đóa hoa quỳ tàn vội
Nhường bước cho mặt trời lên
Núi đồi vẫn cứ ngủ yên
Kéo cho dài giấc mộng đẹp.

DŨNG KQD
Đà Lạt 1988

NGƯỜI ĐỐT SÁCH

tranthitrucha

Thuyên cố leo lên các bậc cấp ở tháp canh thứ năm của Vạn Lý Trường Thành, trời se lạnh nhưng mồ hôi cô túa ra như tắm. Những người đi cùng tour với Thuyên đã dừng lại ở tháp canh thứ ba và đi xuống, chỉ còn lại anh hướng dẫn viên, Thuyên và một ông lão. Ông lão vừa đi vừa tâm sự với Thuyên :
“Bất đáo trường thành phi hảo hán, con à! Ông phải đi để biết sức mình tới đâu. Con là con gái mà cũng giỏi nhỉ?”
“Dạ, con cũng nghĩ như ông, phải ráng đi cho biết.”
Ông lão cười khà khà:
“Ông già vậy chứ chưa bao giờ đau ốm con à. Mỗi bữa ông ăn ba bát cơm đầy, ngủ một giấc đến sáng rồi ra đồng. Cả đời ông chưa đi đâu xa, đây là lần đầu, cũng nhờ thằng con làm ăn khấm khá cho ông được đi.”
Lên tới tháp, hai ông cháu không còn sức để nói nữa, chỉ nhìn nhau thở dốc và cười ngầm ý như muốn đầu hàng. Xuống tới mặt đất, mọi người đang đứng chờ, những người bạn của Thuyên cười toe toét:
“Thuyên cố trèo lên cho cao mà thua bọn này, bọn này đã có huy chương công nhận là anh hùng chinh phục Vạn Lý Trường Thành nè.”
Cô bạn của Thuyên đưa ra chiếc mề đay nhỏ xíu kèm theo giấy chứng nhận bằng chữ Trung Quốc, rồi cả bọn rũ ra cười trước con mắt ngơ ngác của Thuyên và ông lão nông dân:
“Muốn có huy chương chứng nhận là anh hùng chinh phục Vạn Lí Trường Thành phải tốn hai trăm tệ đó bạn ạ, thích thì lại đằng kia mà mua về loè thiên hạ.”
Ông lão lắc đầu ngầy ngậy:
“Ông cháu ta không cần con ạ, đừng để nó lừa lấy tiền của mình…”
“Dạ, con cũng nghĩ như ông. Dù sao đi nữa ông cháu ta vẫn là người chinh phục được Vạn Lí Trường Thành cao nhất trong đoàn này ông ha?”
Ông lão cười khà khà, thật sảng khoái. Mọi người chuẩn bị lên xe để đi đến địa điểm mới. Bỗng chuông điện thoại của Thuyên rung lên, tiếng anh Hàn như nghẹn lại:
“Thuyên ơi! Đăng mất rồi!… Em đang ở đâu?”
Tự dưng Thuyên không thấy buồn mà thấy thật chán nản. Cảm xúc đau buồn của mình đã chai cứng rồi sao? Mình nhẫn tâm vậy sao?! Anh Đăng có phải là người thân của mình không?!…Con người ấy đã gắn bó với mình cả một thời thơ ấu nghèo khổ, vậy mà giờ đây đã trở thành xa lạ với mình đến vậy. Kí ức chông chênh, hụt hẫng lại trở về với Thuyên.

Ngày đó, bom đạn chiến tranh đã tàn phá khốc liệt quê hương Thuyên. Chẳng có đêm nào anh em Thuyên được trọn vẹn một giấc ngủ. Mỗi đêm khi chìm trong giấc mơ ngọt ngào cũng lúc ba me Thuyên đánh thức mấy anh em và đưa xuống hầm ẩn nấp. Sáng thức dậy mắt vẫn cay xè vì giấc ngủ không tròn. Sân trường im vắng, thầy cô không đến, vài đứa học trò chân đất ngồi trong hiên trường dõi mắt ngóng trông, tiếng chiêm chiếp của bầy chim sẻ rời rạc, u buồn.

Cuối cùng, ba me đành mua một ngôi nhà nhỏ ở thị xã cho anh em Thuyên ra đó ăn ở học hành, còn ba me vẫn ở lại quê. Anh Hàn là con trai lớn trở thành quyền huynh thế phụ. Tất cả em út răm rắp nghe lệnh anh như lệnh lính. Công việc bếp núc có người dì bà con xa với me lo.
Mỗi tuần, cứ chiều thứ bảy ba lại chở me trên chiếc xe Honda dame 50 ra thành phố thăm con với lương thực và tiền bạc.
Anh em Thuyên đã có đôi mắt biết đợi chờ, mong ngóng từ ngày đó. Ánh mắt ấm áp của cha, bàn tay dịu dàng của mẹ và những món quà đơn sơ như bát đường đen, đậu đỏ, con gà , con vịt, trái bí , bó rau… được ba me thu hoạch được từ ngôi vườn cũ quê nhà là nỗi khao khát của anh em Thuyên.

Vậy mà anh Hàn lại dắt về hai anh em người bạn, cùng ăn, cùng ở với anh em Thuyên trong những ngày thiếu thốn đó. Anh Hàn chỉ giải thích với ba me: “Đăng học cùng lớp với con, nhà Đăng ở xóm nhà chồ ngoài biển, đã bị bão lũ cuốn sạch. Ba me Đăng đã về lại quê. Hai anh em Đăng không thể bỏ học dở chừng…”. Me chép miệng lắc đầu: “Anh em con đã đông rồi, ba me lại không thể ở gần các con…Thôi thì khéo ăn no, khéo co ấm, biết làm sao bây giờ…”

Tuổi thơ của anh em Thuyên là những chiều buồn thức dậy sau giấc ngủ trưa, them thuồng những món quà vặt mà trẻ con hàng xóm chán chê. Sự thiếu thốn làm những đứa em trai của Thuyên ủ rũ trong góc nhà, ít cười ít nói.
Mấy anh em chỉ còn tìm kiếm niềm vui trong những cuốn sách. Thói quen đọc sách đến đam mê này được thừa hưởng từ ba. Tủ sách khổng lồ của ba được chuyển từ vùng quê bom đạn về ngôi nhà nhỏ ở thành phố. Ba đọc sách và giữ sách rất kĩ. Ông luôn uốn nắn con cái từ tư thế ngồi đọc, cách đọc đến cách chọn sách để đọc… Riêng những cuốn sách tiếng Pháp ố vàng được ông giữ gìn cẩn thận là anh em Thuyên không được đụng đến (đụng đến cũng thua vì đứa nào cũng dốt đặc tiếng Pháp, trong khi ba nói tiếng Pháp như…Tây). Trong khi mấy anh trai ngày đêm nghiền ngẫm Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử thì Thuyên thì đắm mình trong sách Tự Lực Văn Đoàn với những Khái Hưng, Nhất Linh… Quà sáng ít ỏi được anh em Thuyên chắt chiu dành dụm để mua sách. Hạnh phúc nhất là lúc chờ đợi ở nhà sách vào những ngày cuối tuần, giữa tháng, cuối tháng để cầm trên tay tờ tuần báo hoặc bán nguyệt san còn thơm nồng mùi giấy mực in. Hình vẽ của ViVi, Đinh Tiến Luyện… rạng ngời ở trang bìa làm Thuyên nhìn như bị thôi miên. Thuyên sống trong thế giới lung linh của thơ văn và bắt đầu mơ mộng, tập sáng tác… Thế giới của sách đã giúp anh em Thuyên quên đi những thiếu thốn cuộc sống tình cảm và vật chất, giúp Thuyên vơi đi nỗi buồn nhớ quê nhà, làm nên tiếng cười rúc rich của bầy em khi chúi mũi vào các tập truyện tranh Thạch Bích Sơn, Tintin, Chú Thoòng.

Trước ngày kết thúc chiến tranh, anh Đăng biệt tích.
Cái xóm nhỏ của Thuyên đã hoàn toàn thay đổi, những người giàu có chức quyền bỏ nhà cửa, tài sản chạy và trở về với mất mát buồn phiền, những người nghèo khó ở lại thì bỗng dưng giàu có, hớn hở… Cuộc đời đã thay đổi… nhưng trong ngôi nhà của Thuyên vẫn thế… vẫn u buồn, cô độc và thiếu vắng…
Và chuyện buồn hơn là người chồng của dì từ Bắc trở về sau hai mươi năm xa cách. Ngày đầu tiên khi ông xuất hiện với bộ đồ bộ đội bạc màu, chiếc ba lô xộc xệch thảm hại, nước da xanh tái, không một chút oai hùng của người chiến thắng, dì khóc nức nở… Đêm đó, đứa em trai áp út (vốn được dì cưng chiều nhất và thường ngủ với dì như mẹ) khóc vì không có dì bên cạnh. Nó nhìn gườm gườm ông ấy như nhìn kẻ thù.
Ông ấy với dì một tháng rồi ra Bắc. Đứa em trai của Thuyên thở ra nhẹ nhõm…Tội nghiệp nó, ba tháng sau ông ấy trở lại, không phải một mình mà với một bầu đoàn thê tử. Một cô vợ trẻ măng như con gái ông ấy và bốn đứa con lóc nhóc, ba trai một gái… Nhà Thuyên chật ních người, ba đứa con trai chen nhau ngủ với anh em Thuyên, còn cô vợ trẻ và cô con gái ở chung trong căn phòng nhỏ của Thuyên. Cô ta không ngủ, cứ ngồi bên bàn học của Thuyên và khóc suốt đêm. Lần đầu tiên Thuyên cảm nhận về nỗi đau của người đàn bà lâm vào cảnh lấy chồng chung. Không khí trong nhà như ngạt thở. Có hai người mắt lúc nào cũng đỏ hoe là em trai của Thuyên và cô vợ trẻ. Rồi bầu đoàn thê tử kéo nhau đi, kéo luôn cả dì…
Dì rất khó tính thường hay bắt ne bắt nẹt Thuyên vì tội không chịu phụ với dì trong việc bếp núc, vậy mà ngày cuối cùng dì cầm tay Thuyên khóc: “Dì đi rồi, Thuyên đi học về chịu khó cơm nước cho mấy anh em, Thuyên sẽ vất vả đó! Nhưng con gái lớn rồi phải quán xuyến việc nhà nghe con!”
Đứa em trai của Thuyên khóc ri rỉ bỏ ăn bỏ uống gầy rộc người.

Vậy là hết những buổi chiều mơ màng với sách, bài vở chồng chất, cơm phải nấu, nhà phải quét, chén bát phải rửa, áo quần phải giặt… Lúc đó Thuyên mới thấy nhớ và thương dì. Anh em trai Thuyên chẳng ai giúp được gì cho Thuyên, chỉ có người em trai của anh Đăng phụ giúp với Thuyên công việc nhà, chẳng những thế hắn còn giúp Thuyên làm bài, vẽ bản đồ địa lí, giải những bài toán khó… Hắn học hơn Thuyên hai lớp, học không giỏi nhưng chịu khó. Những quyển sách cũ của Thuyên hắn tỉ mỉ ngồi đóng gáy lại rất đẹp. những bộ tập san Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Thằng Bờm… hắn ngồi xếp lại theo số thứ tự và đóng thành bộ.
Thuyên bắt đầu vào tuổi dậy thì con gái, những buổi trưa ngủ dậy, má tự nhiên ửng hồng, môi mọng đỏ và mắt trong veo… bọn con trai liệng thư vào sân nhà như lá rơi, sợ anh trai la mắng Thuyên nên sáng nào hắn cũng dậy sớm nhặt vội vàng đem vào cho Thuyên. Hắn trung thành và tận tuỵ, Thuyên nhờ gì cũng làm tới nơi tới chốn. Thấy Thuyên cười là mặt hắn rạng ngời.
Một ngày chủ nhật, Thuyên về quê thăm ba me và xin tiền, lương thực cho tuần tới. Ba me bận nên đã hai tuần không ra thăm con cái, nhà hết veo gạo và tiền chợ. Thời đó, từ thị xã về quê có hai chục cây số mà đi rất vất vả, Thuyên phải đi bộ gần năm cây số ra bến xe, chen lấn để trèo lên được chiếc xe lam hoặc xe buýt. Tuy vậy, niềm vui được trở lại quê nhà làm tan biến bao nhiêu nhọc nhằn. Rồi chuyến trở về thị xã thì càng nhọc nhằn hơn với gạo khoai sắn rau bí lỉnh kỉnh cộng thêm tâm trạng buồn bã tiếc nuối khi rời xa ba me.
Khi Thuyên về đến nhà, trời đã nhá nhem. Trong bóng tối của hoàng hôn, Thuyên nhìn thấy hắn đang ngồi gục mặt bên hiên nhà với những bao tải đầy giấy vụn. Hắn nhìn Thuyên với đôi mắt sợ hãi:
“Thuyên ơi, anh Đăng…”
Thuyên xáo tung những bao tải đựng cả một tủ sách được gia đình tích góp từ lâu đời giờ đã tan nát thành giấy vụn, rồi oà khóc tức tưởi. Hắn ngồi im như thóc nhìn Thuyên, khổ sở như chính hắn là người gây ra.
“Thuyên à, anh Đăng nói đây là văn hoá đồi truỵ, phải đốt đi! Ngày mai ảnh sẽ đem đến cho Thuyên những quyển sách có nội dung lành mạnh, trong sáng.”
Thuyên không kìm lòng được nữa, hét lên:
“Anh em nhà ông biến hết đi, tôi không cần nữa gì hết! ”
Những ngày sau đó thật buồn, Thuyên lặng lẽ làm công việc nhà sau giờ những giờ đi học về. Em trai Đăng len lén nhìn Thuyên với đôi mắt buồn rầu e ngại.
Rồi một ngày hắn bỏ hết sách vở , áo quần vào ba lô dọn đến ở nhờ nhà một người bạn chờ kết quả thi đại học.

Nhưng ngôi nhà của anh em Thuyên vẫn là nơi hò hẹn của Đăng và cô bạn gái, con của một ông tướng, từ Hà Nội vào. Cô gái đó có đôi mắt to trô trố và giọng nói lảnh lót như sáo, chưa bước tới ngõ đã nghe tiếng cười. Họ hẹn hò, trò chuyện, tự tình trong ngôi nhà chỉ toàn trẻ con rất thoả mái tự nhiên như nhà của họ. Không những thế thỉnh thoảng cô gái ấy còn dắt về một nhóm bạn gái có giọng nói ríu rít y chang cô ta, rồi gán ghép một cô trong nhóm ấy cho anh trai của Thuyên. Ông anh Thuyên từ nhỏ học trong ngôi trường chỉ toàn con trai, con gái chỉ thấy từ xa, lỡ thích một bóng dáng áo dài trắng nào ở trường nữ, chỉ biết lặng lẽ lẽo đẽo theo saunhững buổi tan trường mà chẳng dám nói một lời. Bây giờ lại có một cô gái dạn dĩ bên cạnh, anh trai Thuyên như trúng mũi tên của nàng bắn ra rất nhanh, nàng gia nhập vào cuộc sống của gia đình như một thành viên chính thức…
Nhưng rồi một ngày nàng cuốn tất cả những bộ áo quần còn mới của Thuyên và tiền chợ một tháng của mấy anh em cất trong tủ nhỏ và biến mất…Thuyên lại thêm một lần khóc tức tưởi. Đứa con gái nào lớn lên trong thời buổi khó khăn, áo quần, vải vóc thật khan hiếm thì mới hiểu được tâm trạng Thuyên lúc đó. Rồi tiền chợ cho cả một tháng của mấy anh em biết giải quyết làm sao?! Anh trai của Thuyên buồn bã an ủi: “Thôi em, đừng tiếc làm gì, quên cô ấy đi!”

Cuộc sống trôi qua thật nhanh trong khốn khó!
Anh em Thuyên cũng lần lượt lập gia đình và rời xa ngôi nhà của thời thơ ấu.
Nhưng đã thành thói quen cứ chiều 30 tết là tự tìm về ngôi nhà để quây quần bên nhau. Không biết có điều gì níu kéo mà lúc nào có mặt Đăng, dù bây giờ anh ấy đã thành nhân vật quan trọng có chức quyền.
Bao giờ Thuyên cũng cố ý ngồi ở góc khuất và tránh mặt Đăng.
Có lần Đăng cầm ly rượu đến bên Thuyên cười nói :
“Anh mời Thuyên để anh em mình xoá bỏ giận hờn cũ.”
Thuyên lạnh lùng:
“Tôi không có gì để giận hờn với anh.”
“Thôi bỏ qua chuyện cũ đi em, Nga Mỹ còn bắt tay nhau, vậy mà anh em mình cứ chiến tranh hoài.”
“Tôi đã cố quên nhưng không quên được. Điều duy nhất mà tôi nhớ là trên thế giới này có hai kẻ đốt sách, đó là Tần Thuỷ Hoàng và anh!”
Đăng tái mặt , lặng lẽ đi ra hiên nhà ngồi hút thuốc.
Kể từ đó không bao giờ anh quay về ngôi nhà của anh em Thuyên.
Thuyên được biết qua bạn bè, anh được đề bạt một chức vụ cao trong nghành thông tin văn hoá ở Sài Gòn và đưa vợ con vào đó sinh sống.

Buổi trưa im vắng bên đồi cỏ khô cháy, trời xanh đến nhói buốt, một đàn bò gầy gò gặm ngon lành từng vạt nắng, Thuyên và hắn lặng ngồi bên nấm mộ của Đăng mới đắp còn nồng mùi hương khói. Giọng hắn buồn buồn kể lể:
“Anh Đăng đã nhờ anh đưa đi chợ sách cũ để tìm lại những quyển sách ngày xưa anh ấy đốt của Thuyên, chưa thực hiện được điều đó thì anh mất, mỗi lần nhắc đến Thuyên anh ấy buồn và ân hận lắm, Thuyên à!”
Mắt Thuyên cay xè
“Sao anh ấy mất đột ngột vậy?”
“Anh ấy chẳng sung sướng gì đâu, tự vẽ bùa cho mình đeo và chiếc bùa ấy đã thành nỗi bi kịch cho chính anh.”
“Vì sao? Anh ấy cưới được cô gái anh ấy yêu và có địa vị, giàu sang kia mà?”
“Cô ấy và lý tưởng mà anh ấy theo đuổi là nỗi đau khổ dằn vặt anh ấy cho đến phút cuối cùng. Cô ấy và những người bạn hành hạ anh ấy đến điêu đứng vì thói học làm sang, đua đòi rượu ngoại, nhà hàng, vũ trường… Anh ấy không phải chìu một cô vợ mà chìu luôn năm cô như vậy, nếu không về nhà khó mà sống yên. Ngày cuối cùng anh Đăng đi công tác xa, cô ấy cũng giận dỗi làm mình làm mẩy. Trên đường đi anh ấy ngạt thở vì suy tim, tài xế đưa vào một bệnh xá địa phương gần nhất và gọi điện cho cô ấy bằng máy của anh Đăng, cô ấy giận dỗi không thèm bắt máy. Anh ấy tái tím và tắt thở ngay ở đó không kịp cứu chữa, tài xế phải gọi cho con trai anh ấy. Khi con trai khóc: “Mẹ ơi , ba mất rồi!” . Cô ấy vẫn tưởng anh doạ nên hét lên: “Ba mày làm sao mà chết được, ổng phải sống mà trả nợ cho tao!”

Thuyên bật khóc.
Nước mắt thật nhiệm mầu, nó cuốn trôi tất cả giận hờn, oán trách.
Thế hệ chúng ta đã sinh ra trong một thời điểm đáng thương nên trái tim chúng ta có quá nhiều mảnh vá, phải chăng vì vậy mà chúng ta biết bao dung trong đau đớn?!…

Trần thị Trúc Hạ