Ôm đàn hát dạo

tranvannghia

Ta vẫn chân trần đi hát dạo
Bên đời lãng đãng nhớ bóng ai
Tình em như gió đầy vai áo
Thổi suốt mùa bao tiếng thở dài

Nghẹn đứng bờ xa nhìn nước chảy
Sông chiều chở hết nỗi buồn không?
Câu hò khua sóng về bên ấy
Để nắng về say khướt má hồng

Vết xước dậy thì trăng mười sáu
Xao lòng nuối tiếc đắng khổ qua
Dẫu hoa còn thắm vàng lưng giậu
Vẫn ngóng chờ hương chạm ngõ nhà

Ta vẫn chân trần đi hát dạo
Tình tang câu tủi lẩy câu hờn
Phố đời xô lệch chìm hư ảo
Đường về thổn thức tiếng đàn buông

Trần Văn Nghĩa

Kẻ bất tài

phamhoainhan

Tui không phải kẻ bất tài! Chí ít tui cũng là một nhà thơ, vì từ lâu rồi tui đã có thơ đăng trên báo… Nhi đồng. Đại để bài thơ đó như vầy nè:

Con gà nó gáy ó o
Gọi em dậy sớm, đi cho tới trường
Nếu mà ngủ nướng trên giường
Sách buồn, vở khóc, ai thương bé nào?

Sau này lớn lên, tui có gởi nhiều thơ đăng báo, nhưng… không báo nào chịu đăng. Thành thật và khiêm tốn mà nói, chắc là thơ tui không đủ hay và tui không đủ tài hoa. Nhưng không phải tài hoa thì đâu hẳn là bất tài, bằng chứng là tui đã từng có thơ đăng báo. Phải hông nè?

Thây kệ các tờ báo không chịu đăng thơ tui, bây giờ đã có Phây-búc, tui làm thơ xong tự đăng lên đó cũng được thôi. Thế nhưng như đã nói, tui rất thiệt tình và khiêm tốn, nên trước khi đăng thơ của mình, tui cũng coi qua các trang Phây của mọi người coi hoạt động thơ phú nó như thế nào.

Phây-búc quả là bầu trời đầy sao sáng. Nhiều người làm thơ rất hay, được khen ngợi tíu tít. Để góp mặt vào thi đàn (nói vậy cho nó oai), tui nghĩ mình phải góp phần nhận xét vô những bài thơ hay đó. Chết một nỗi, trí tuệ tui hơi kém (trí tuệ hơi kém chớ chưa phải bất tài à nghen), nên đọc thơ thấy hay đó mà chẳng biết bình luận làm sao. Còm-men theo kiểu khen “hay quá!” khơi khơi thì xoàng quá, chả ra vẻ hiểu biết tí nào. Còn bình luận thì, hic, chỉ sợ mình bình luận ngu quá người ta cười cho thúi đầu.

Tui tự nghĩ, thôi thì mình không đủ sức nhận xét thơ của những bậc tài hoa thì mình đọc thơ của những tay ngang vậy. Ít ra tài năng của họ cũng bằng mình trở xuống, như vậy mình mạnh dạn nhận xét hơn.

Tui vô trang Phây của một đại gia chuyên bán cám heo. May quá, đúng lúc anh này tung lên trên trang của mình mấy câu thơ:

Ào ào gió thổi hiu hiu
Trăng vàng chíp chíp, ghập ghềnh bóng mây

Ái chà, gặp đúng chỗ rồi. Thơ gì mà củ chuối vầy, thua mình là cái chắc. Gió hiu hiu mà ào ào. Trăng mà kêu chíp chíp như gà con. Bóng mây mà gập ghềnh như bánh xe bò. Thơ thì không có vần, mà lại còn viết sai chánh tả nữa chớ.

Vốn tánh cẩn thận, trước khi hạ… tay lên phím góp ý, tui thử đọc coi người khác đã còm-men những gì. Ngạc nhiên chưa? Toàn là những lời khen ngợi:
…Ôi, tuyệt vời quá sếp của em ơi!
…Em không ngờ anh giỏi bán cám mà lại còn làm thơ tuyệt tác tới vậy. Đúng là văn võ song toàn!
…Người tài, thơ cũng hay. Thật là GATO quá đại ca ơi.
…Tài năng thiên phú của sếp làm em kính phục.

Ngoài ra còn cả list vài chục câu còm nữa, câu nào cũng khen nức nở, làm tui bàng hoàng tự hỏi phải chăng mình chưa hiểu nổi cái hay trong câu thơ của chàng bán cám heo? Thiên hạ nói rằng: một lời nói sai, không tin!; hai lời nói sai, không tin!;… nhưng trăm lời nói cùng một ý thì ắt rằng đó là chân lý. Vậy đích thị hai câu thơ của chàng bán cám heo là tuyệt tác rồi, vậy mà mình hổng hiểu gì hết, lại cho là thơ dở ẹc! Bây giờ mà mình còm vô phê bình thơ này dở thì rõ là quay ngược bánh xe lịch sử, là bẻ gậy chống trời rồi!

Vậy là hết! Thơ của bậc tài hoa ta không hiểu đã đành, thơ của người bán cám heo ta cũng đánh giá không đúng luôn, vậy ta đâu còn là nhà thơ nữa mà đích thị là kẻ bất tài.

Tui rầu lắm. Tưởng Phây là cái gì hay lắm, dè đâu vô nhởn nhơ trong đó mới biết mình là thằng ngu, là kẻ bất tài. Các bạn chơi Phây có bị giống tui hông?

Pham Hoai Nhan

Bản thân

vienlinh

Ngồi trông từng giọt mưa rơi
Âm âm tiếng vọng trăm trời cổ xưa
Trong tôi chầm chậm phút giờ
Rơi muôn tiếng vọng ơ hờ nẻo thân.

Đời ôi thể phách hao dần
Hoang mang tín mộ, linh thần vụt bay
Ta rơi nằng nặng từ đây
Trong không bụi cũng trôi đầy mộng mê.

Ngoài kia dơi lưới chiều về
Vây muôn vũng lệ trời tê máu hồng
Lưới mau đáy nặng hoàng hôn
Chân tay mỏi rủ tâm hồn mỏi theo.

Ngồi trông cổ tích bay vèo
Muông đi thú lại rừng treo mối sầu
Rụng dần thôi rụng về đâu
Chơ vơ miếu cổ ôm đầu tượng thưa.
Ngồi trông tóc trắng từng giờ
Chân nhang bụi mọc ta thờ một ta.

Viên Linh

BÀI THƠ VIẾT CHO CÂU THƠ (Nguyễn Huỳnh)

CarmenSpitznagelLostChildhood

Tôi có thể làm những câu thơ về một buổi sáng sương tan trong nắng sớm. Những đóa quỳnh nở muộn phía đêm khuya.

Tôi cũng có thể làm những câu thơ về tình yêu nào đó, ngày tháng nào đó khi nhật nguyệt đồng hành, ngày đêm không phân biệt.

Tôi cũng có thể làm những câu thơ nào đó về mùa một đông khí trời se sắt lạnh, bờ lau mặt nước se se gió, anh và em như hai hòn than chờ đóm lửa.

Và tôi cũng có thể làm những câu thơ ca ngợi cả ngày : Buổi sáng sương chờ tan. Buổi trưa mặt trời rạng rỡ. Buổi chiều tà huy ngã bóng lên xóm vắng, nơi khói bếp vươn trời.

Nhưng tôi không làm được.
Tôi không là bạo chúa Nêro đốt cả thành Roma tìm thi hứng.

Tôi không còn phân biệt buổi sớm mai và nửa khuya để đặt vào đâu đúng chỗ giọt sương và đóa quỳnh.

Tôi không còn biết tình yêu là gì khi tất cả sự lãng mạn đã được xem là một loại hàng xa xỉ phẩm. Nhật nguyệt vì thế cũng rẽ đôi.

Những mùa đông vẫn khí trời se sắt lạnh, bờ lau xưa xơ xác gió bạt ngàn. Anh và em đợi hoài không thấy, đóm lửa ai nhen trong đêm tối mịt mù?

Và tôi không thể làm dù chỉ một câu thơ cho buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều. Huống chi một bài thơ cho cả ngày, một trường ca cho cả đời…

Tháng 10 / 2015
Nguyễn Huỳnh

Cú Ngã

trusa

Tặng Người Quen

Hắn ngã cầu thang. Tai nạn năm sáu tuổi. Một cú đau trước ngày vào đời. Hắn vào lớp một. Mẫu giáo cũng là một trường học, thứ biên giới khác nằm ngoài hệ thống gia đình. Mẫu giáo bé, rồi mẫu giáo lớn, những nơi ai ai cũng phải đi qua. Thời con nít của tôi, vì nghịch ngợm nên chẳng bao giờ được phiếu bé ngoan. Cô giáo đã tát tai khi tôi hát sai nhịp. Cái tát không làm tôi khóc dù tôi đã ngã lăn dưới đất. Bàn tay thép cùng khuôn mặt quỷ sứ của cô giáo đã phủ ác mộng lên tuổi trẻ con của tôi. Dấu tát đỏ ửng má là bằng chứng kết tội cô giáo. Cha tôi đã đòi công đạo cho tôi bằng cái tát khiến cô giáo ngã lăn, hộc máu và bất tỉnh. Tôi chẳng thấy cha mình, trước mặt tôi là con quỷ đực đánh gục con quỷ cái. Ấn tượng đầu tiên của tôi với trường học là thế, và điều này đã bám lấy tôi, khiến tôi luôn kiêng dè mọi thầy cô giáo. Tôi không kính trọng một ai, và luôn luôn co mình thủ thế. Với tôi, một giáo viên điển hình là phải biết tát trẻ con ngã lăn dưới đất. Trở lại chuyện của hắn, như tôi đã kể, hắn từng ngã cầu thang. Cái cầu thang hắn ngã là ở nhà hắn. Đấy là một cầu thang dài, uốn nối lên sân thượng. Vốn là kẻ thích leo trèo nhưng kì quặc là hắn chỉ biết leo lên, không biết leo xuống. Cầu thang dựng cũng thế, cầu thang đóng thành bậc trên tường cũng vậy, ngay cả cầu thang bậc, xây cao cũng làm hắn khó xuống. Ngày hôm đấy mấy anh chị, chú bác thì đi làm hoặc ở tầng dưới. Hắn leo lên từng bậc, và khi mãn chí trên tầng thượng thì đòi xuống. Cầu thang chín bậc, bậc trên cao gấp hai bậc dưới, uốn gấp như thân rắn. Hắn kể rằng đã ngồi trên từng bậc thang rồi tụt xuống từng bậc một. Một cái vấp, trơn khiến hắn đổ nhào. Hắn lăn như quả bóng và đập đầu xuống một bậc thang. Hắn bị u đầu. Cục u to như quả ổi. Tiếng khóc đầu tiên của hắn là thế. Trong một cú ngã lộn ngược đập đầu.
Ngày chào đời hắn đã khóc tiếng khóc của mọi thiên thần bị trục xuất. Những lần khóc vì mẹ vắng nhà, vì không được mua quà, không được cho đồ chơi, bị vấp té hoặc do bản tính mít ướt chẳng từ một cơn đau. Đây là tiếng khóc đầu tiên, cú vào đời đau điếng để từ sau đấy hắn mãi chìm vào tiếng khóc.
Tôi nghe nhiều về hắn. Trước và sau, hắn vẫn là con dơi treo mình trốn ánh sáng. Thời bé con hắn hay vẽ vời. Vì vẽ hắn quên tất cả, học hành chểnh mảng cũng vì mải vẽ. Hắn không còn nhớ gì về số tranh vẽ lúc bé, tôi đồ rằng hắn chưa quên, chỉ nhớ không được rõ. Những bức tranh nhem nhuốc chẳng nghĩa lí gì dù được tạo ra từ những giấc mơ, những tưởng tượng, thứ mà mọi đứa trẻ đã bị truất bỏ, bị nghiền nát trong lò đúc tạo nhi đồng miền Bắc. Nát bét. Hắn nói với tôi, nhưng về những bức tranh trẻ con của hắn hay về những tưởng tượng ấu trĩ cũng của hắn. Chuyện về hắn là sự khạc nhổ vào cái đầu ngu si, được cha mẹ chu cấp đầy đủ, trang bị đến chân răng. Hắn học dở và mỗi lần trả bài kiểm tra là một bữa đòn roi. Gia đình hắn mướn gia sư liên tục nhưng chẳng tẩy sáng được cái não bộ ngập ngụa hình ảnh tưởng tượng. Một lần, hắn gom lá cây, rác rến để đốt giữa sân trường. Cô giáo chủ nhiệm lớp hắn đã gô cổ hắn, ném vào phòng bảo vệ và mời cha mẹ hắn đến để trả con. Tội danh phóng hỏa được đóng thẳng lên mình hắn. Ai cũng đều biết lửa chỉ cháy lá cây nhưng việc mang diêm đến lớp đã là vi phạm nội quy. Các giáo bảo kẻ cầm súng rồi sẽ bắn người. Hạnh kiểm của hắn bị đánh tụt xuống âm rồi lần lượt được kéo lên trung bình sau những cuộc hẹn hò lén lút của cha mẹ hắn nơi nhà cô chủ nhiệm. Hắn thường xuyên không đeo khăn đỏ, hễ ra chơi là hắn tháo béng khỏi cổ. Sổ sao đỏ không bao giờ để trống, hễ hắn còn đi học. Trong khi các bạn đồng lứa khéo léo buộc lại khăn thì hắn loay hoay, chỉ vắt được khăn. Mẹ hắn thường xuyên buộc khăn giúp hắn, nhưng tôi được biết cả khi được dạy hắn cũng không thể tự đeo. Hắn quá vụng về để có thể thắt nút đúng, gấp ra hai sợi râu màu cánh hoa hồng phấp phới. Tôi không biết hắn có cố tình làm trò không khi không tháo khăn bằng cách gỡ nút. Hắn kéo hai đầu khăn, cái nút thắt thít chặt vào và thu nhỏ so với ban đầu. Càng kéo, khăn càng sít, và tròng quanh cổ hắn như vòng khóa. Hắn loay hoay, rồi lăn bò dưới đất khiến ai cũng phì cười. Chúng bạn hết cười khi mắt hắn trợn ngược, nằm lịm một chỗ. Cô y tế bảo hắn bị choáng do đói. Lần khác, hắn bị cô giáo bắt đứng lên bục giảng vì dám bôi bẩn vào khăn quàng đỏ. Một cái khăn đỏ tươi màu nhiệt huyết, dù có sờn, bạc vì dùng lâu nhưng đã lem luốc khi hắn chép lên các công thức toán, khái niệm, định nghĩa môn lịch sử hoặc nhiều đoạn trong bài kiểm tra làm văn thuộc lòng. Một tội lỗi nghiêm trọng bao gồm cả gian lận trong kiểm tra, lười học lẫn phạm thượng làm xấu đồ dùng nhà trường. Cô giáo hắn đay nghiến rằng khăn đỏ là màu cờ, trét bẩn khăn đỏ là trét bẩn màu cờ, ném bùn lên tổ quốc. Mày đáng chặt đầu. Đấy là lời hắn nghe từ cô giáo và tôi nghe lại từ hắn. Đứng trên bục giảng, cô giáo mắng hắn té tát, thế rồi cô giáo gọi hết cán bộ lớp cho đến thành viên lớp và hỏi hắn có đáng đuổi học không. Lẽ dĩ nhiên, ai cũng gật, và đợi khi cô giáo nguôi giận thì nói đỡ để hắn không bị đuổi, chỉ kỉ luật, hạ hạnh kiểm, mời phụ huynh, hay đình chỉ một, hai ngày học.
Hắn là cái ách của cha mẹ. Họ đang nuôi một con mèo không biết bắt chuột, chỉ biết ăn, nằm ườn và ỉa đái tứ tung. Học bạ của hắn nhìn bết bát. Cứ học lại quên, bao nhiêu kiến thức vào đầu hắn là nhão nhớt thành nước lã. Người nhà hắn bàn rằng hắn bị đần độn do cú ngã đập đầu lúc bé. Tôi thuộc quá khứ của hắn hơn hắn. Người nhà nhồi hắn uống thuốc bổ não, đi khám thần kinh, mướn thầy giải hạn và ép hắn uống những bát thuốc của lang vườn nhiều đến mức hắn phải nhập viện vì ngộ độc. Khỏe lại, hắn vẫn thế. Vẫn vẽ vời linh tinh và vẫn đội sổ. Mấy ông anh họ hắn bảo Tương lai thằng này là cái sọt rác. Cha mẹ hắn có nói về trí khôn của hắn trước lúc ngã, bảo rằng hắn vốn thông minh. Cái thông minh của hắn là ăn ngon, biết gọi mẹ lúc đói, vòi vĩnh quà đi chợ và không đái dầm. Đôi vợ chồng kể lể, cười cùng nhau và trách cái cầu thang quá cao đã xô ngã con mình.
Bức tranh tay hắn tặng tôi qua đường chim bay đã tan tành. Đấy là khi tôi nhìn mãi không hiểu gì. Tôi gửi thư cho hắn. Một chiều mưa tầm tã, tôi nhận được thư hồi đáp. Trong thư hắn viết một chữ Đốt. Tôi không nỡ đốt, nhưng cuối cùng bức tranh cũng cháy. Lúc tranh cháy, bức tranh như được tái tạo bằng đường cọ sắc. Lửa ăn đến đâu, tranh rõ đến đấy. Trước kia cố nhìn thế nào tôi cũng chỉ nhìn ra một khối thù lù, lem luốc như dấu chân bẩn. Giờ đây, một bản lề khác ngoi lên, chấp chới, uốn lượn như vật sống. Lửa đã dẫn màu tranh và khoác lên chúng thứ nhựa tái sinh. Mọi hình ảnh xối phụt như nhát cuốc cắt trúng mạch suối. Nét tranh cuồn cuộn như thành phố chợt bừng tỉnh. Mắt tôi không rời được ngọn lửa, các hình ảnh như đang bay lượn trong đầu, giắt tôi vào chốn siêu thần. Lửa tàn, tranh chết thành tro. Thành phố lãng quên thức giấc rồi lịm đi, chết vào vĩnh cửu. Tôi thọc tay vào đống tro tàn, cố sục sạo. Không tìm thấy mẩu tranh nào, tôi gục xuống và ôm mặt khóc.
Tôi gửi thư báo cho hắn chuyện bức tranh. Thư trả lời của hắn viết rằng, Mày giết đi cái chết của bức tranh. Trong mày có thánh.
Hắn lại ngã cầu thang. Cú ngã cũng tại cái cầu thang dẫn lên tầng thượng. Hắn quên mọi chuyện kể từ sau lần ngã đấy. Tôi thì nhớ, đúng hơn, tôi thuộc nằm lòng. Mỗi một chuyện trôi đi, mỗi một ngày chết đi sau 24 giờ, sẽ thành quá khứ. Hắn ghét điều này, còn tôi thì thích thú nhai nuốt kí ức của người khác. Hồi ức của người là món khoái khẩu của tôi. Tôi nhai nhỏ, chậm rãi cho đến khi tất cả nhuyễn nhừ, và nhập vào cơ thể tôi. Hắn cho không tôi quá khứ của mình. Lần với đến một mẩu kí ức tròn vo như viên kẹo đường, tôi bỏ vào miệng. Tôi không nhai mà ngậm, lấy lưỡi vờn chơi. Thước phim về hắn. Tôi không nhìn thấy người bạn nào của hắn. Bọn cùng lớp hưởng thụ các trò vui của hắn, tiếc nuối khi hắn không đến trường và vứt hắn vào xó tối khi tìm được một thú tiêu khiển mới. Bài làm văn tả cô giáo, đọc bài nào tôi cũng thấy tiên nữ. Hắn tả cô giáo có bộ mặt choắt, tai dơi cùng mái tóc khô cứng màu cánh gián, lúc nổi nóng cô lấy phấn ném như quăng lựu đạn. Hắn bị tống vào xó lớp, ngồi một mình một bàn, một ghế. Hắn cô độc một cõi, và hắn tha hồ vẽ vời cho đến lần mời phụ huynh cuối kì về điểm học tập. Án lưu ban. Bạn cùng lớp ê ồ hắn, hắn thành nỗi ô nhục của gia đình máu mặt nhất Phố Cổ.
Lí do đần độn từ một cú ngã mất hiệu lực. Người nhà hắn mắng hắn té tát. Mắng chán, họ đánh hắn đến gãy thước kẻ. Cha hắn nhìn hắn như kẻ thù, chửi rằng Đồ quái thai. Mấy người lớn băm bổ vì hắn đã phá hoại danh dự gia đình. Mấy ông anh hắn học giỏi, nhiều bằng khen và đều là cháu ngoan. Hắn ngu dốt và hư đốn bậc nhất. Hắn chỉ ngã gục khi mọi vở vẽ bị đem bán đồng nát. Nhiều trang vẽ của hắn được tìm thấy trong sọt rác nhà xí. Tất cả đều nhăn nhúm, dính bệt những mẩu cứt vàng, đen. Lũ ruồi đánh chén cả lớp cứt bám lẫn giấc mơ hạ sinh trong hình vẽ của hắn.
Hắn tìm lên sân thượng. Đi lại chán chê, hắn xuống nhà. Hắn vấp cầu thang, ngã từ bậc thứ nhất của cầu thang tính từ trên xuống bậc thứ chín của cầu thang tính từ dưới. Lần ngã này hắn không lăn mòng mòng mà ngã thốc một lèo, trượt từ trên xuống. Lúc hắn húc vào bức tường chắn ở đoạn gấp khúc cầu thang thì bất tỉnh. Sau đấy hắn còn lăn thêm vài bậc nữa rồi mới tiếp đất. Cái đầu hắn cũng đập xuống bậc cuối cùng. Cú ngã này làm cơ thể hắn trầy trụa, bầm tím như cạo gió độc. Người hắn bầm máu nhưng đầu không chảy máu. Thời điểm này, cơ thể hắn đã cứng cáp, sẵn sàng cho tuổi trưởng thành nên thần chết đã tay trắng trở về. Người nhà hắn quên hết bực bội, túc trực bên giường hắn. Sau lần ngã này hắn trầm tính đi. Hắn không chào hỏi ai, không nói chuyện với ai. Đi học về, hắn chui vào phòng. Hắn đọc sách. Cái tủ sách từ thời ông nội, hắn lấy làm của riêng. Trong nhà không ai nói gì, trái lại còn mừng vì món gia tài thừa thãi đã có người chịu khuân. Đọc hết sách của ông, hắn tìm đến thư viện. Mắt hắn bớt tinh tường và mãn kiếp núp sau hai mắt kính dày lên theo thời gian.
Hắn ở Bắc, tôi mạn Nam. Tôi kính vua Gia Long, hắn nể đế Quang Trung. Tôi và hắn thư từ qua lại suốt. Chỗ tôi mưa dai dẳng. Chốn hắn ở mưa nắng thất thường. Tôi bảo hắn Nguyễn Huệ không phải chân mệnh thiên tử, đấy là kẻ đồ long. Hắn gật nửa chừng. Trên đời ai cũng là chân mệnh thiên tử. Ai nhận ra mình là rồng thì sẽ đồ sát mọi con rồng. Lời hắn, tôi còn nhớ. Tôi viết thư đến hắn Tây Sơn là phường giặc cỏ. Hắn hồi đáp tôi. Thời chiến, phe ngược chiến tuyến thì là giặc. Xiêm La là giặc, Đại Thanh là giặc, Tây Sơn là giặc, nhà Nguyễn cũng là giặc. Giặc bên ngoài là đại thù, giặc bên trong là cựu địch. Chính quyền không giết chóc là chính quyền rơm. Một lần khác, hắn nói chiến thắng là thứ hào quang càng nhìn càng mù mắt. Một dân tộc chỉ biết ợ nhai lại thì mãi dưới đáy giếng.
Hắn trầm tư, đôi mắt gần đó thôi mà xa xăm đến vô hồn.
Từ bao giờ, cha mẹ hắn luôn khép nép khi thấy hắn. Dường như lúc hắn vắng nhà thì cả gia đình đều dễ thở. Sách vở khiến khuôn mặt hắn sáng láng nhưng cũng khó gần. Tôi còn nhớ lần gia đình hắn đang tiệc tùng, hắn chợt nói to Ai cũng cười thì ai khóc. Gia đình hắn nháo nhác chẳng hiểu. Hắn mở toang cửa, nói to Ai cũng cười thì tôi đi khóc. Tiệc gia đình kết thúc tại thời điểm hắn chạy ra cánh cửa mở toang hướng ra bên ngoài. Một đám cháy đang ngùn ngụt phía xa, dân cư xúm lại xôn xao như ngắm pháo hoa. Bên cứu hỏa không ai nhấc máy. Khắp các cột điện, bờ tường công cộng dán thông báo cảnh giác, lệnh truy nã hoặc tin tìm trẻ lạc. Những cảnh báo leo khắp phố phường, bám nhan nhản muôn nơi như tự nhân bản. Đám trẻ lạc nhà rồi cũng về lại với gia đình, chúng, khi đấy là những cái xác không hồn bị rút mất nội tạng.
Hắn Bắc, tôi Nam. Tôi thư từ qua lại với hắn vào mỗi lúc rảnh. Tôi luôn đói kí ức, còn hắn sẵn sàng hiến cho tôi dù một phần hay toàn bộ quá khứ. Tranh của hắn hoặc sẽ mốc meo trong phòng tối, hoặc sẽ bị quẳng đi nếu treo trong triển lãm. Các bức tranh sệt màu ảm đạm, trắng loãng như con ngươi chết, nhiều khi hắn vẽ một cánh đồng gồm các đốt xương nối lại với nhau, các bàn tay xương dưới đất với tiếng gọi phía trên, mẹ tìm con, con tìm mẹ, đi qua nhau mà không biết, chỉ ngửi thấy hương ruột thịt. Nhiều bức chỉ có thể giải mã bằng cách ném vào lửa. Oái ăm là, thứ tranh hiện hình trong lửa sẽ mất giá trị nếu thâu hình. Máy chỉ rọi ra cảnh giấy tranh cháy trong lửa. Một quang cảnh vô vị, tệ hại còn hơn ngắm bắp ngô chín dần dưới lửa than hồng. Hắn hay ra ngoài, chỉ một mình và trở về nhà, cũng một mình trong căn phòng trống. Quanh buồng hắn cơ man biết bao nhiêu sách. Ngoài việc vẽ, hắn viết bài kiếm tiền. Nhà hắn bao ăn ở, còn tiền nong hắn tự lo, những món tiền đem lại bất an và phiền phức vì mỗi tháng các cán bộ phường lại bấm chuông nhà hắn. Các cán bộ bảo hắn đừng u uất nữa, viết cho đẹp đời. Chừng nào xác người không ngã xuống nữa thì đời đẹp. Lời hắn. Người nhà hắn nói trăn trở tối ngày thì tương lai con ở đâu trong mớ ngổn ngang như bòng bong. Nhìn xem, tuổi trẻ mà thân xác đã hoang tàn như ông già, ăn cũng trầm tư mà ngủ cũng trằn trọc đến mức phải chong đèn đến sáng. Ai bắt tội con nào. Có đáng gì, khi tự hành xác mình vì những chuyện không đâu. Phí phạm cuộc đời thế này thì ai cứu được con. Sau đấy, lời của hắn như chẻ tôi tiếng ruột già Nhìn thấy đồng loại đau, mà không thấy nhói thì loài người tuyệt chủng. Đôi mắt mất tiếng khóc là đôi mắt mù. Con người vốn là lí tưởng của Chúa. Đừng nghĩ rằng Chúa đã đày đọa giống người vì một trái trí tuệ, đấy là thử thách của Chúa. Lí tưởng này sẽ cứu thế giới, đe dọa thế giới hay đồng lõa với thế lực ma để diệt chủng, đưa Văn Minh về Đồ Đá. Tội ác lớn nhất của thế gian là con người. Nếu không chuộc tội, sẽ quay quắt trong ngu muội để rồi chết phí phạm trong tiếng nấc của Chúa. Con cầm bút vì nỗi đau đã gọi con làm thế, nếu con không còn biết đau, nghĩa là con đã chết, khi ấy hãy cho con một dao. Hắn đã nhượng phần kí ức này cho tôi. Và tôi nhai, nuốt trong sự buốt rát cuống họng. Như miếng thủy tinh nhiều cạnh sắc, tôi đã bật máu miệng, rách họng và tan nát ngũ tạng. Chính trong cơn quặn đau vật chất này, tôi nhìn được hắn. Có lần, hắn lấy kéo cắt rách mười đầu ngón tay, và vẽ trong cái đau run rẩy, quyết không đánh rơi bút. Tôi hỏi hắn sao phải khổ thế. Hắn bảo tôi Có đau hơn Chúa Jesu đóng đinh trên thánh giá? Tôi bảo Đâu thể so mình với Chúa. Hắn hỏi Chúa Jesu cũng là người? Tôi gật. Hắn tiếp lời Chúa Jesu là người, tôi cũng là người. Tại sao Chúa có thể chịu đau, mà tôi thì không. Tôi bảo hắn không thể hóa Chúa. Tôi chịu đau để hiểu Chúa. Tôi không là Kitô hữu, tôi là Con Người Hắn nói.
Bức tranh vẽ từ mười ngón tay bật máu được bày triển lãm. Người xem tranh nhìn qua rồi đi hẳn. Hắn khiêng bức tranh ra đại sảnh và châm lửa. Mười con rồng vươn mình trong ngọn lửa như gào thét. Người ở sảnh đường cứng đơ nhìn tranh cháy, và cứng đơ suốt một ngày một đêm cho đến khi ai nấy ngã đo đất vì kiệt sức. Một xe cứu thương được điều đến. Lúc tỉnh lại, họ trốn khỏi bệnh viện, tri hô cứu cái đẹp. Tôi không biết họ còn sững sờ vì bức tranh bị cháy hay vì cách hắn đốt bức tranh.
Cha hắn bảo rằng thiên tài của gia đình là thiên tai của dòng họ.
Mẹ hắn bảo, không phải con mình. Nó là ai chứ không phải con mình. Con mình không thế. Con mình…Con mình…
Sau cú ngã, hắn lạ lẫm với mọi ai từng biết hắn. Tôi bảo rằng, còn muốn về lại không? Hắn bảo rằng đã quên đường hậu. Tôi quên khuấy, quá khứ của hắn đã sạch trắng trong ruột tôi. Hắn quên, còn tôi nhớ. Có lẽ, tôi đã là hắn một lúc nào đấy.
Hắn ngoài Bắc, tôi gần Nam. Chỗ tôi hay mưa, chỗ hắn đang mưa to. Hắn viết cho tôi Chúa đang xót xa cho cả hai miền. Tôi thấy hắn đi dưới trời mưa. Cơn mưa đủ lớn để tạo lụt và cuốn hắn đi. Không ai đánh hắn, hắn tự đánh mình và mượn sự xối xả của trận mưa như cái roi quất vào thân mình bầm dập.
Người ta bảo hắn là quái nhân. Người nhà bảo hắn là quái thai.
Hắn lên cầu thang tầng thượng.
Hắn không cho tôi phần kí ức nào nữa. Mọi lá thứ bay vào khoảng không, liền vô tăm tích. Tôi còm cõi, xác xơ, kiệt quệ như xác khô. Tôi không đói, tôi thiếu thốn và thấy trống rỗng bên trong.
Tôi hướng Bắc tìm hắn.
Nhà hắn đóng dấu niêm phong. Dân quanh đây bảo cả gia đình đã chuyển đi. Cuộc chuyển nhà nhanh chóng, khẩn trương như chạy giặc. Đất Bắc chỉ thế này. Tôi về lại cố đô. Trước lúc đi, tôi nghe thấy tiếng người sau cánh cổng niêm phong nhà hắn.
Tiếng leo cầu thang, vấp ngã. Ai đang sau cánh cổng

TRU SA

Bonjour L’Autumn

tranvanle

Em ạ, mùa Thu tới thật rồi.
Lá vàng đang rụng. Lá vàng rơi…
Vàng rơi hết lá…rồi năm hết
Anh nhớ thương em suốt một đời…

Anh nhớ thương em hồi rất trẻ
Dốc mòn đi mãi dốc càng cao
Rồi anh vào lính anh lên núi
Nhìn mãi…tìm em biết chỗ nào?

Mỗi lần Thu đến rừng xơ xác
Đêm đốt lửa nhìn mưa tỉ tê
Tưởng một đôi năm về trả súng
Ngàn năm không biết bữa nao về!

Bây giờ gặp lại, em xa ngái
Texas, Houston, Dallas ơi
Muốn đến Garland làm lãng tử
Plano nghe nói vắng hoe người…

Gặp lại em mà như cổ tích
Vì mùa Thu đến dịu dàng sao!
Nhớ sông Hương quá, con sông trắng
Trăng ngọt ngào em rất ngọt ngào!

Gặp lại em từ bì thư dán tem
Không mưa không gió…bì thư lem
Bao nhiêu năm nhỉ không xa lạ
Thư gửi từ người: một cái tên…

Thu đến chiều nay, Thu chất ngất
Tên em anh vẫn giấu trong lòng
Tên anh, mai mốt em phơi tuyết
Tình vẫn muôn đời Một Nhớ Nhung!

Em ạ, mùa Thu đến trước nhà
Tại sao em mãi mãi còn xa?
Em còn xa mãi cho anh nhớ
Mỗi bước người xưa một đóa hoa…

Trần Vấn Lệ

THÀNH-BẠI-XƯA-NAY-LUẬN ANH HÙNG

linhphuong

Trường An tăm tắp ngày bôn tẩu
Thất thủ kinh thành ta về đâu?
Biệt Ngu Cơ nước mắt tuôn trào
Uống chén rượu ngất trời khói lửa

Ô Giang – Ô Giang- mùa gió thổi
Mịt mịt sương giăng trắng bến đò
Ngó núi- ngó sông- ta càng tủi
Câu : ” Sanh vi tướng- tử vi thần ”

Thành-bại-xưa-nay-luận anh hùng
Ván cờ thiên cổ hận ngàn năm
Kiếm lệch-cung đè-đôi vai rộng
Ngựa buồn mỏi vó ngã liêu xiêu

” Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi “(*)
Gặp cố nhân lão trượng bật cười
Ngửa mặt đọc bài thơ bi tráng

Chính nghĩa luôn dành cho kẻ thắng
Thua cuộc mang danh lũ giặc chòm
Hạng Võ nhìn đoàn quân thất trận
Nghẹn lòng đau ứa máu rưng rưng

Ô Giang- Ô Giang- nước ngược dòng
Tiễn người hào kiệt lúc lâm chung
Thủ cấp cắt trao cho lão trượng
Hồn thiêng bay theo bóng lá cờ

Bể hóa nương dâu đời thay đổi
Thế sự thăng trầm thêm đảo điên
Kinh thi vạn cuốn ta tìm kiếm
Khắp thế gian hai chữ ” ngụy quyền”

LINH PHƯƠNG

TÔI CƯỚI VỢ

thaiquocmuu

Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa là “Lấy vợ miền quê”, của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia. Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi tây, tức 19 tuổi ta, mà tôi đã…”muốn vợ”! Con trai mà “muốn” chuyện gì thì thường vòi vĩnh với mẹ, như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới, kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy, mà chỉ hàng “thiếu gia”… ở tỉnh như tôi mới có.
Những thứ đó tôi đều manh dạn nói với mẹ, và lần nào cũng vậy, mẹ tôi không cần suy nghĩ mà “ô kê” liền. Còn cái vụ “muốn vợ” nầy, tôi có miệng mà chẳng thốt nên lời! Tôi định bụng lúc nào mẹ vui và khi chỉ có hai mẹ con ở nhà thì tôi “tâm sự” liền. Mẹ lúc nào lại không vui! Vả lại tôi là con một trong gia dình, chỉ cần ba tôi đi uống cà phê hay đi đâu đó thì có biết bao nhiêu dịp… may!
Thế mà khi thấy mẹ ngồi, tôi vừa xề lại thì bao dũng khí đã tiêu tan! Bao lần như vậy, dường như bà để ý, giọng ngọt ngào cố hữu:
– Gì đó con trai cưng? Muốn gì nữa phải không?
Lúc đó tôi chỉ cần một “gờ-ram” dũng khí, thêm một tiếng “vợ” sau tiếng “muốn” của me tôi thì đòn cân cục diện đâu lại vào đấy rồi.
Đàng nầy tôi lại nhút nhát, rụt rè! – Điều nầy, vốn không phải là bản tính của tôi:
– Dạ… có “muốn” gì đâu mẹ!
Trả lời xong tôi thấy ấm ức, giận mình sao quá yếu gan! Thì may thay, vợ chồng anh hai Trân tới chơi. Anh với tôi là chú bác ruột tôi. Hai Trân là con trai trưởng của bác hai, còn cha tôi đến thứ chín, nên ảnh nhỏ hơn cha tôi chẳng bao nhiêu. Anh rất vui tính, cởi mở, lẹ làng, sốt sắng. Cái gì cũng chịu hoạch toẹt, không chịu úp úp mở mở, nên có khi hơi lố lố. Vậy mà tôi lại quý mến anh ở điểm nầy nhất, mới lạ!
Chưa chào hỏi mẹ tôi, anh nhìn tôi bôm bốp:
– Đậu (Tú Tài ) rồi hả mậy? Là người lớn rồi, cưới vợ được rồi đó nghen!
Thuở đó đậu Tú Tài cũng oai lắm, kiếm việc làm dễ như chơi. Trong thân tộc có người đậu tú tài là niềm hãnh diện chung. Nghe anh nói, tôi khoái chí tử, nhưng cũng làm bộ:
– Mới bây lớn mà có vợ gì anh ơi!
– Sao lại “bây lớn”? Hồi tao cỡ mầy là con cu biết gáy rồi. Mầy hỏi chú chín….
Chị hai thúc mạnh vào hông chồng:
– Nói bậy không hà! Thím chín kìa!.. Chú nó còn nhỏ…
– Nhỏ nhỏ cái gì? Cỡ tuổi nó tôi có con rồi!
Tôi mỉm cười, thấy thích anh lạ! Anh hai quay sang mẹ tôi:
– Thím chín! Em lớn rồi nghen thím. “Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương”đó thím. Em nó đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, mà thím không chịu cưới vợ cho nó là có ngày có người bồng cháu nội về cho thím nuôi đó!
Chị hai nạt:
– Nói bậy không hà! Cái tật không bỏ!
Anh hai nói chuyện thường chêm vào mấy câu chữ nho, những lần đó tôi cũng bực mình, vì có câu tôi cũng không hiểu nghĩa rõ ràng.
Câu anh vừa nói tôi hiểu, xem ra nó cũng hay đó chứ! Còn chị hai, là người phụ nữ nết na, đẹp lại hiền, hay kìm chế chồng những khi anh quá trớn. Đặc biệt lần nầy tôi lại thấy chị hơi… quá trớn!
Mẹ mỉm cười:
– Biết nó chịu không mà cưới?
Tim tôi đập thình thịch. Không ngờ diễn tiến lại thuận lợi như vậy. Mẹ nói thế tức là nếu tôi “chịu” thì mẹ cưới chứ gì? Ôi con đường… cưới vợ sao mà hanh thông như vậy!
Anh hai quyết liệt:
– Sao lại hổng chịu thím? Hỏng lẽ nó muốn vợ nó lại la làng lên sao? Hồi trước con muốn vợ, con cũng đâu dám nói cho má con mà phải nhờ chú chín mở hơi giùm. Thím quên rồi sao?
Quay qua tôi, anh dịu giọng:
– Nè cưng, anh hai hỏi thiệt nghen, cưng có muốn cưới vợ không?
Phải nói là nhờ anh hai mà lòng tôi tràn dũng khí. Tôi quyết không bỏ lỡ cơ hội. Chỉ cần tôi nói một tiếng “muốn” là bài toán có đáp số ngay, và bao nhiêu đè nén trong lòng bấy lâu chắc chắn giờ đây tan biến! Nhưng như vậy xem phàm phu quá! Tôi cười cười, đợi cho mọi người chờ một lát, thần khẩu xui tôi phát ra một câu quá tuyệt vời:
– Thì hồi trước anh hai sao thì giờ em vậy thôi!
Mọi người cười rần và mang ý nghĩa khác nhau. Tôi cười cho… đở mắc cở. Chị hai cười xòa góp phần vui; anh hai cười ngất, cười sặc sụa của người thích chí; còn mẹ thì cười hiền hòa, sung sướng, lấy tay áo chậm hai khóe mắt rưng rưng. Tôi thấy thương mẹ vô cùng, sà vào lòng mẹ. Dù là một cậu tú, nhưng với mẹ, tôi vẫn thường thích mẹ vuốt ve như thuở lên ba. Mẹ vò tóc tôi, nói với anh chị hai:
– Bây thấy hôn? Nó làm còn như nhỏ lắm vậy!
Mẹ hỏi tôi:
– Bộ con có để ý bạn gái nào ở trường hả?
Tôi lắc đầu. Mẹ bảo:
– Vậy thì mẹ biết ai mà cưới cho con?
Anh hai nhanh nhẩu:
– Thì làm mai! Hồi trước chú chín cũng vậy, con cũng vậy. Có ai thương yêu ai trước đâu? (liếc sang chị hai) Chừng về ở chung cũng khoái thấy mồ…
Anh phủi bàn tay chị hai định nhéo vào hông anh:
– Vậy chớ hỏng phải sao?
Rồi quay sang tôi, anh lại ngọt ngào và xôm tụ:
– Nè, bây giờ em chưa quen ai phải không? E hèm! Hồi trước anh cũng vậy thôi. Có sao? Nhưng em phải cho thím chín và anh chị hai đây biết mẫu người em ưng thế nào thì ở đây mới kiếm cho em được chứ! Thí dụ, hồi trước anh ra tiêu chuẩn là phải vừa đẹp, vừa hiền, vừa có chút học vấn. Em thấy hôn, chị hai đúng bon tiêu chuẩn đó, Anh thấy là khoái liền. Hề hề…!
Tôi thấy mặt chị hai đỏ lên vì sung sướng:
– Nói không biết mắc cở….
Sẵn đà, tôi tiếp:
– Mà phải ở miệt vườn nữa em mới chịu.
Anh hai có vẻ cụt hứng, còn mẹ thì có vẻ vui:
– Phải đó à bây, con gái ở vườn nó nết na, thùy mị, giỏi giang.
Anh hai cười. lại xông xáo:
– Trúng tủ bả rồi! Mà cũng dễ thôi! Thím bán tạp hóa lớn, mối mang miệt vườn biết bao nhiêu, nhờ họ mối lái giùm.
Chị hai:
– Sao hăng hái dữ! Mai mốt anh hai chịu lạy đó nghen!
– Tất nhiên! tất nhiên!
Thói thường người ta tin tưởng vào những gì mình hy vọng, và sợ mất những gì mình có. Mẹ đã xong rồi, còn ba thì sao? Ba thường hay chìu ý mẹ dù đôi khi ý mẹ có đôi chút ông chẳng hài lòng, nhưng đó là những việc nhỏ đời thường, còn đây là “hôn nhân đại sự”, liệu ba có còn chìu mẹ hay không?
Ngày hôm sau, tôi thấy ba có vẻ khác khác – vậy là mẹ nói với ba rồi! Ba ít nói, có chiều nghĩ ngợi. Khi giáp mặt tôi, ba mỉm cười khó hiểu. Phúc hay là họa đây!
Rồi ngày tôi chờ đợi cũng đến. “Phái đoàn” gồm ba mẹ, anh chị hai và tất nhiên có vai chánh là tôi. Thật khó tả được bao cảm xúc bồn chồn lo lắng, hồi hộp, đủ thứ lộn xộn trong lòng tôi. Mẹ tôi cứ dặn dò đủ mọi việc, hết chuyện nọ tới chuyện kia, đến nỗi khó mà nhớ hết; còn anh hai thì cứ lải nhải bên tai “bình tỉnh, bình tỉnh, đừng có run”.
Nhà ông nhạc tôi (tạm gọi vậy) ở xã Ngũ Hiệp, cách thành phố Mỹ tho 30 cây số về hướng tây. Chợ Ngũ Hiệp nằm bên kia sông, muốn qua phải nhờ một phà nhỏ. Từ chợ, theo lời bà mai, chúng tôi phải đi bộ thêm gần ngàn mét nữa. Nghe vậy anh hai nói với tôi:
– Như vậy là “vườn trong vườn” rồi phải không cưng? Tiêu chuẩn một đạt hai trăm phần trăm rồi hén!
Chị hai cau mặt:
– Cái ông nầy lúc nào cũng đùa được.
Thật vậy, đây là vùng trù phú đất đai, cây lành trái ngọt. không biết cơ man nào là cây trái quả mọng trĩu cành! Cam, bưởi, sa bô, dừa, vú sữa, nhãn, chôm chôm… nhất là sầu riêng cây nào cây nấy chân tay đeo đầy nghẹt quả, theo gió thơm lừng. Bà mai chỉ tay về căn nhà ngói kiểu xưa (kiểu “chữ đinh”) nói:
– Nhà đó đó.
Tất cả dừng lại “hội ý”. Mẹ khẩn trương thấy rõ, lại dặn dò:
– Nhớ những gì mẹ dặn nghen con!”
– Dạ!
Anh hai cũng thì thào:
– Nhà cất kiểu nầy mà gặp ông già củ tỏi thì mệt lắm à nghen!
Chị hai nạt nhỏ:
– Ông lo cái miệng ông đó. Vô đó nói bậy đi!
Bà mai vô trước, mẹ sửa lại áo quần tôi chưa xong thì có người ra mời vào. Giờ phút nầy tôi càng thấy tình mẫu tử bao la như thế nào. Mẹ hồi hộp như sắp bước vào nơi hang hùm nọc rắn không bằng, lại điệp khúc “Nhớ nghe con!” lại phát ra!
Vừa vào cỗng, tôi bị hốt hồn vì hơn hai chục cặp mắt, đủ hạng tuổi, nhiều nhất là trẻ em chăm chú vào tôi, một bà trạc tuổi mẹ có lẽ thông cảm được điều ấy, bèn rầy đám nhỏ:
– Nè, mấy đứa làm gì tụ tập lại đây dữ vậy? Có đi hết không?
Đám trẻ tản đi vài bước rồi bẽn lẽn đứng nhìn.
Phòng khách được bài trí hai bàn. Bàn giữa gồm ba mẹ tôi, bà mai, ông bà nhạc và hai vị cao niên. Bàn bên có anh chị hai tôi và bốn người bên gái cùng trang lứa.
Phần tôi nghe lời mẹ là không được ngồi, mà đứng sau ghế cha mẹ, hai tay xếp lại để dưới bụng (nếu đã mời trà xong), tư thế y như lính hầu ở phủ huyện, hay các thái giám ở cung đình hầu hạ đức vua!
Theo cách nói chuyện… lại có dịp đứng trước nhạc phụ mẫu; tôi biết ông bà là người cởi mở, dễ tính. Câu chuyện của hai “sui” càng lâu càng khởi sắc tốt đẹp. Dần dà khách khí không còn, mà như đã quen nhau từ trước vậy.
Bỗng Ông nhạc gọi:
– Con hai đâu, châm trà mới đi con!
Một tiếng “dạ” thảnh thót không kém Điêu Thuyền thời Tam Quốc từ nhà dưới vọng lên làm tim tôi rộn ràng. “Phái đoàn” nhà trai ai cũng hồi hộp chờ đợi. Bởi ai cũng biết bảo “châm trà” chẳng qua là lời nói khéo cho con mình ra chào để nhà trai “coi mắt” đó thôi!
Mẹ quay lại nhìn tôi mỉm cười, thầm bảo ”hãy xem kỹ vì thời gian không lâu”. Tôi chưa kip mỉm cười với mẹ thì rèm hoa lay động, một kiều nữ vận bộ bà ba, không phấn không son mà má phấn môi hồng.Tóc dài phủ long gọn gàng bởi chiếc kẹp vàng có đính bông hồng chói lọi. Thoạt trông, tôi giật nẩy người, đến nỗi bố vợ nhìn thấy. Đợi giai nhân chăm trà xong, ông vội bảo:
– À quên nữa, cháu qua bên ngồi uống nước, hay cứ ra ngoài dạo cho thoải mái.
Mẹ lại quay ra tôi, nhướng mày, thầm bảo “hãy đi đi con”, vì thực ra, ông nhạc cũng ngầm ý cho tôi và vợ tôi gặp nhau để “tìm hiểu”, dù thời lượng ít oi, nhưng nếu tri túc ắt tiện túc mà thôi! Mọi sự đều được người lớn sắp xếp có bài có bản và, có màn có lớp hẳn hoi!
Không khí bên ngoài thực thoãi mái. Nhiều loại cây trái lớn nhỏ thi nhau che rợp ánh mặt trời làm mát rượi cả một không gian rộng. Vài tia sáng yếu ớt cố gắng chen vào đất tạo thành những đóm trắng lưa thưa đây đó tựa rãi hoa. Mùi sầu riêng thơm lừng. Hàng sa-pô thẳng tắp trái nặng sai oằn. Mấy nhánh ổi cho trái bóng láng no tròn, rục mềm rơi rụng tứ tung, tỏa hương thơm bát ngát. Chim hót líu lo, bướm vờn thẳng cánh. Đàn ong tranh nhau hút mật của trăm ngàn hoa đủ sắc đủ màu. Rõ ràng là vùng đất lành thừa mứa cây lành trái ngọt.
Bên sau một giọng êm đềm:
– Biết người ta ưng hay không mà dám đi hỏi vậy?
Tôi quay lại, thì ra là vợ tôi, (tạm gọi vậy), mà cũng là Vi, người đã làm tôi kinh ngạc đến đánh thót cả người khi nãy!
Vi là bạn học cùng lớp với tôi hồi năm đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ được xem là cái “móc” của sự chia tay. Bởi con trai, nếu thi rớt thì cha mẹ thường cho nghỉ để học nghề, còn thi đậu (cấp bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì cũng mỗi người một hướng đi: Vào sư phạm hoặc ngành nghề nào đó, hoặc học tiếp ba năm nữa để lấy Tú Tài rồi lên đai học. Con gái thì ít người được học đến chốn đến nơi. Rớt hay đậu cũng thường bị cha mẹ cho nghỉ mà lo phụ việc nhà, viện lẽ con gái “học cao” khó có chồng! Vi cũng nằm trong số phận nầy. Bởi vậy cuối năm đệ tứ, chúng tôi thường trao nhau lưu bút, mọi người đều nắn nót tuồng chữ cho trang mình thường tặng cả ảnh, dán vào giữa trang viết, dưới đề:
“Thương nhau mới tặng ảnh nầy,
Để làm kỷ niệm những ngày xa nhau’
Dù cho ảnh có phai màu,
Cũng đừng xé bỏ mà đau lòng người!”

Không biết bốn câu thơ ấy là của tác giả nào, sáng tác tự bao giờ, mà đến nay, thỉnh thoảng tôi lại thấy sau bức ảnh ”tặng nhau” của các em cũng có đề như vậy.
Hơi lạc đề, nhưng nói thêm cho vui: Hồi đó tôi cũng có quyển lưu bút, tất nhiên khi ai nhận thì cũng nắn nót từng chữ và giữ sạch sẽ như nói ở trên. Khi tôi đưa cho thằng Nhứt, ngày sau nó trả (thường thì vậy), nó viết vào trang đôi mấy chữ tổ bố: “Lưu niệm làm cái xê bình phương gì?” (2), rồi láu cá ký tên giáp cả hai trang giấy!
Tôi xem giận run. Cự nó. Nó cười: “Để sau nầy mầy nhớ tao”.
Tôi nghe cũng xìu lòng. Quả thật, đến giờ, nó là người tôi nhớ nhất. Và đến ngày cuối, chúng tôi tổ chức tiệc liên hoan cuối khóa tại lớp. Văn nghệ xung quanh các bài hát về “mùa chia tay”, “tạm biệt”, “nỗi buồn hoa phượng”… Tôi có sở trường ngâm thơ, ngâm hai bài thơ Đường luật, bài đầu của thầy H.C, giáo sư sử địa (3), bài nầy tôi chỉ nhớ hai câu cuối:
“…
Rồi đây nếu chẳng sau mùa phượng,
Tất cũng mai kia ở chợ đời!”

Và bài họa của tôi:
“Việc cũ, ngàn sau vẫn đổi dời.
Chút tình tâm huyết nói sao vơi?
Luyến lưu kẻ ở đôi dòng lệ,
Tiếc nhớ người đi một góc trời
Chín tháng vui buồn trong một lớp,
Vài giây ly biệt rẽ ngàn khơi,
Đường mây một kẻ hanh thông bước,
Một kẻ lang thang giữa chợ đời!
(Thơ Kha Tiệm Ly)

Đám con gái mắt đỏ hoe, có đứa khóc thành tiếng. Chúng tôi lai tặng quà lưu niệm cho các bạn “nghỉ luôn”. Tôi tặng Vi cái kẹp tóc bằng vàng 14 (tôi là… “thiếu gia” mà! Vàng hồi đó rẻ lắm, đàn bà con gái chẳng thấy ai đeo, có đeo thì cũng sơ sài, đeo nhiều mắc cở, bị coi là “quê”; không thấy ai đeo cục cục như giờ. Vi tặng lai cho tôi cây bút Pilot nắp vàng, loại cao cấp nhất thời ấy.
– Sao không trả lời?
Vi nghiêm trang như thuở nào, tôi hơi chột dạ:
– Thật lòng tôi không ngờ mình đi hỏi cưới Vi. Đã bao năm rồi, vả lại lúc đó mình còn nhỏ cả mà!
– Bộ mấy năm qua không nhớ chút gì về Vi sao?
– Vẫn nhớ về người bạn nhỏ hiền lành, nhiều nước mắt.
Vi vừa đưa tay rút cây viết trên túi áo tôi, vừa nói:
– Xin lỗi nghe, cho Vi mượn.
Rồi xoay cán viết, nhìn những dòng chữ khắc trên ấy, Vi có vẻ xúc động:
– Vẫn còn giữ của Vi à?
Tôi không đáp, nhìn hai rèm mi chơm chớp, tôi thấy Vi đẹp não nùng. Tôi nắm lấy tay Vi:
– Không ngờ lại gặp lại Vi. Chẳng phải không có duyên số hay sao? Vi đồng ý nhé!
Vi tủm tỉm cười:
– Nếu em không ưng thì sao?
– Thì anh về, nhưng xin gởi trái tim anh lại.
Lại cười:
– Rõ là thi sĩ! Em đã đồng ý từ khi bà mai nói chuyện với ba mẹ, đâu phải đến bây giờ.
– Không biết mặt làm sao ưng?
Vi kéo mái tóc về phía trước ngực:
– Khờ quá đi! Mọi người ở đây ai không biết con trai một của tiệm tạp hóa Vạn Phát, chứ em thì rành lắm. Vị “công tử” ấy còn tặng cho em chiếc kẹp xinh đẹp nầy nữa phải không?
Trên đường về, mẹ luôn miệng với ba:
– Con nhỏ xem nết na và lịch sự ghê ông há?.
Lại lo ngại:
– Hổng biết nó có ưng thằng con trai cưng tôi không nữa?
Nãy giờ tôi lặng thinh, nhớ lại những lời nói của Vi mà thấy lòng hân hoan lạ. Nhưng thấy mẹ cứ lo lắng mãi, tôi mói nói:
– Chắc ăn rồi mẹ ơi! Mẹ đừng lo!
Mẹ nghi ngờ. Anh hai nói:
– Hồi nãy ngoài vườn tụi nó nói chuyện, chỉ cần khi về, đá lông nheo một cái là kể như xong. Thím lo gì!
Ba châm vào:
– Hồi trước bả cũng vậy, sao bả mau quên quá!
Không biết mẹ đánh hay phủi bụi cho ba::
– Cha già mất nết!
oOo
Thế là chậm lắm khoảng một tuần, mươi ngày tôi đều đến tham nhạc gia, nhạc mẫu. Ba mẹ vợ tôi đều nhân hậu, nghiêm khắc với con cái nhưng xem chừng ”dễ” với thằng rể tương lai.
Trước khi đi, ba tôi dặn. Con đến đó thấy cái gì làm được thì làm, chứ đừng lấy mắt ngó là không được! Ngày xưa trước khi cưới, phải làm rể ba năm: Chẻ củi, vác lúa, cày bừa, làm đủ thứ nặng nhọc, chứ chẳng phải chơi đâu!
Nhưng tôi biết cái gì mà làm, mà phụ? Lần đầu đến, tôi thấy ba vợ tôi đang chài cá, thấy tôi sựng rựng, ông hiểu ý, nói:
– Con đứng chơi, ba vãi vài chài nữa ba vô.
Thế coi sao được! Đợi mỗi khi ba kéo chài lên, tôi phụ gỡ cá, mà có được đâu! Tôi đụng tới con nào thì con ấy giãy rồn rột, rách cả tay, có khi phóng lại xuống mương; trong lúc ông bỏ vào giỏ lia lịa như bỏ đá vào vậy!
Một lần thì thấy ông đang chiết nhánh cây, cái nầy tôi càng mù tịt, nhưng cũng có việc làm là… đưa dây cho ba tôi cột “bầu”; cái công việc không cần người phụ tá!
Ba vợ tôi rất điệu đời, ông thường bảo vợ tôi dắt tôi ra vườn xem có “cái gì nó thích thì hái nó ăn”. Tôi biết ba tạo điều kiện cho chúng tôi chuyện trò. Ông dư hiểu, bởi nói tiếng là thăm cha mẹ vợ, nhưng chủ yếu của chàng rể tương lai nào cũng là thăm… vợ cho đở nhớ mà thôi. Nếu không, tại sao mỗi lần đến thăm mà cha mẹ vợ đi vắng thì chàng rể lại hớn hở trong lòng!?
Vườn nhà vợ tôi đủ loại cây nên có trái quanh năm, chúng chen chút nhau nên chỉ cách hơn mười thước là không thấy dáng người. Tôi có cảm tưởng như hoàng tử gặp công chúa trong rừng vậy! Đến hàng dừa tơ, quày ôn trĩu trái màu vang rực, sai oằn đụng tới mép mương, Vi đưa tôi dao, bảo:
– Chặt dừa uống nhé!
– Trái nào đây?
– Thì tùy chọn
Khổ sở lắm tôi mới đem được hai trái dừa rời quày được. Dùng dao chặt phần đầu có cuống. Dao bén ngót mà tôi phạt năm bảy nhát liền mà vỏ dừa chỉ dập dập, trầy trầy, tung mấy miếng văm! Vi cười khoe hai hàm rang đều như hạt bắp:
– Để nô tì giúp cho, thưa công tử!
Giành lấy dao, Vi chỉ phập ba nhát nhẹ nhàng mà vỏ dừa tách ra từng mảng lớn, nhát thứ tư, nhẹ hơn, chạm vào gáo, Vi thuần thục lách nhẹ lưỡi dao, để lộ phần “cái” trắng bóc mịn màng, bao quanh phần nước sóng sánh trong veo! Một tay đưa dừa cho tôi, tay kia chỉ chỉ vào trái dừa bảo:
– Chặt dừa phải chặt đầu lớn nầy nầy, Lưỡi dao phải để hơi xiêng. Ai đời ở trên bổ xuống… 90 độ. Làm sao đứt được?
Lợi dụng tôi nắm lấy cổ tay tròn trịa mịn màng của Vi, ghé mũi xuống hít một hơi dài. Vi vẫn để yên nhưng bặm môi:
– Có thấy con dao ở đây không thì bảo?
Rồi cùng cười, tôi hít mũi chọc:
– Còn ngọt hơn cả nước dừa!
Đến địa phận chuyên canh sầu riêng. Ôi! hàng hàng thẳng tắp. Không biết cơ man nào là trái đậu trên cành! Toòng teng nhỏ to đủ cở, lủng la, lủng lẳng tầng thấp tầng cao, xem vô cùng ngoạn mục. Tôi hỏi:
– Nghe nói sầu riêng chỉ rụng về đêm, phải không?
– Sao lạ vậy?
– Thì … trời khiến để đừng bể đầu người!
Vi cười ngoặt ngoẽo:
– Sao trái dừa vẫn rụng ban ngày? Bộ trái dừa không làm bể được đầu người? Chủ vườn nòi vậy để cho mấy thằng ăn trộm không dám lẻn vào đó thôi!
Rồi chỉ vào phía trước, bảo:
– Có hai trái rụng kìa! Anh lại lượm đi! Coi chừng nó “bịch” một cái là hết có vợ đo.o..ó!
Tôi nhìn lên, thấy hàng trăm trái lòng thòng, gai tua tủa, giống như những quả chùy của các võ tướng ngày xưa. Nói dại, nếu nó mà”phịch” xuống một cái như lời Vi nói thì dù không bể đầu, thì mặt mũi chắc cũng khó coi! Dợm chạy đi, bỗng luồng gió quái ác từ đâu lùa tới, bèn chột dạ, tôi dừng lại. Vi cười ngất:
– Coi vậy mà cũng sợ mất vợ hén!
Tôi chữa thẹn:
– Vậy chớ vợ như Tây Thi thì chết sao dành!
Má Vi càng đỏ thêm, nắm tay lại giá giá vào tôi:
– Cái tật nịnh…….
Tôi vừa dặt hai trái sầu riêng xuống thì Vi bảo:
– Tách ra đi!
Nói đoạn lại bờ rào tìm hái những nhánh bông. tôi lui cui lấy dao chặt phình phịch vào đầu lớn trái sầu riêng, dao cũng để xiêng một góc mà xem ra vỏ sầu riêng còn dai hơn cả vỏ dừa. Thật tình, sầu riêng tôi ăn có hàng trăm nhưng mỗi lần đều được mẹ bóc sẵn bỏ vào tủ lạnh, nên có biết gì đâu!
Tôi lật qua, lật lại, chợt nhớ tới cái vỏ sầu riêng mẹ bóc xong đâu có trầy trụa, hay mất một góc đàng đầu trái, mà xem ra nó còn nguyên vẹn giống như một chiếc xuồng! Tôi sửa lại rồi dùng dao bổ theo chiều dọc, cũng chẳng ăn thua! Mệt, tôi định gọi cầu cứu, thì Vi đã đứng sát bên tôi bụm miệng cười tự lúc nào…
Rõ ràng là Vi biết tôi không làm được mà cố chọc chơi! Bèn ngồi xuống, lấy dao, vừa làm vừa dạy đời:
– Hồi nãy em bảo công tử “tách” ra chứ có bảo “chặt” đâu mà làm như bửa củi vậy? Đây nè, chỗ nầy lúc nào cũng có một khe hở. Chỉ cần để mũi dao vào đây rồi dùng đòn bẩy Ạc-Shi-Met là xong. Làm rể kiểu nầy mất vợ như chơi.
Tôi bá lấy cổ Vi:
– Giỏi quá, để anh thưởng cho một cái.
Vi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy:
– H..ô..ông..!
Đợi khi tôi “chụt” xong, Vi mới mở mắt ra, chỉ tay vào vỏ sầu riêng, nói:
– Cái vỏ sầu riêng nầy mà vô mặt thì còn hơn té thùng đinh nữa đó!
Lần nào cũng có chuyện tương tự như vậy, thử hỏi sao tôi không khoái về thăm… ông bà nhạc?
Gần tới ngày cưới, tội nghiệp Vi gầy thấy rõ. Sau nầy tôi mới biết, là con gái trưởng trong gia đình, Vi lo lắng sắp xếp mọi thứ, lại nghĩ tới ngày theo chồng, xa mẹ bỏ em nên đủ thứ tình cảm ray rức trong lòng. Vậy mà trò chuyện với tôi một hồi, mặt hoa lại rạng rỡ, nói nhỏ cho tôi vừa nghe, như một chuyện gì quan trong lắm:
– Làm rể mà lỏng nhỏng không động móng tay, cứ đeo sát con gái người ta hoài không sợ bà con họ nói sao?
Ba vợ tôi thường bảo tôi: “Con ở chợ không quen việc ở vườn. Con cứ về thăm, khỏi làm gì hết, đừng ngại, cứ coi như ở nhà con”.
Tôi đem lời nầy nói cho vợ nghe, rồi châm thêm:
– Vậy chứ anh có việc gì để làm?
– Em chỉ cho. Gần tới ngày cưới rồi, phải có củi để nấu chứ! Hay là anh chịu khó ra chẻ một mớ….
– Ở đâu?
Vi chỉ tay về một hàng củi được chất ngay ngắn từng ô một, dài chừng… vài chục mét, khúc nào khúc nấy cở bắp đùi… voi. Tôi chột dạ:
– Chẻ hết sao?
Vi làm mặt nghiêm:
– Ừa!… thì tới đâu hay tới đó! Ngày còn dài mà!….
Tôi xách búa đi mà tác phong rời rã như Hạng Võ tại bến Ô Giang! Nhưng muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn cưới được vợ thì phải bửa củi, cày bừa… Thì ra lời ba tôi nói chẳng sai, bằng chứng là tôi cũng không ngoại lệ!
Tôi cởi áo sơ mi máng trên cành bưởi, còn lại chiếc áo thun ba lổ trắng tinh, vốn là mô đen của con nhà giàu mới có áo lót bên trong. Dù là “công tử”, nhưng tôi thường tập tạ nên bắp thịt coi cũng ngon lành. Tôi đếm thầm: Một, hai, “phập!”; một, hai “phập!” Có cái “phập” làm củi vỡ ra, có cái “phập” thì búa lại dính khắn vào củi, gỡ ra cũng tróc vải trầy vi! Khi độ mệt đã choáng váng mặt mày, nhưng còn đủ để nhận được tiếng ông nhạc ở sau lưng:
– Bây làm cái gì vậy?
Tôi quay lại chào ông bà vừa đi xóm về, rồi trả lời với giọng điệu của người vừa lập nên công trạng:
– Dạ, vợ con biểu chẻ củi để khi đám cưới có mà xài!
– Thôi, thôi! Bây “bị” nó rồi! Đi vô! Đi vô uống nước con!
– Dạ, để con chẻ thêm một mớ nữa, ba!
– Củi nầy ba để bán cho lò bánh mì, đâu cần chẻ! Còn củi dùng cho đám cưới thì để trong nhà kho kia, có xài mười đám cũng không hết!
Bà nhạc lắc đầu:
– Cái con nhỏ nầy…
Vào nhà bà nhạc rầy Vi:
– Chồng của mầy nó không quen làm việc nặng. Xúi dại rũi nó trợt chân trợt cẳng thì sao?
Bà nhạc dùng tiếng “chồng mầy” tôi thấy ấm áp lạ lùng! Còn vợ tôi thì chúm chím cười, còn liếc qua tôi với ánh mắt còn bén hơn… lưỡi búa, lại chu đôi môi đỏ ao chế nhạo.
Thế là bao mệt mỏi trong tôi biến mất tiêu!
Phải nói trong đời thường, về sự thông minh, lúc nào vợ cũng hơn tôi một phép. Khi về làm dâu vợ tôi đã chứng minh đầy đủ điều đó. Ngoài sự hiếu thảo với cha mẹ chồng, vợ tôi còn nhiều đức tính như nhân hậu, cần kiệm…
Thuở đó, ở thành phố “nhà giàu” mới có tủ lạnh (ti vi chưa có), còn dưới quê thì tuyệt đối không, bởi có điện đâu mà xài! Nên những ngày đầu, tủ lạnh đối với vợ tôi là một phát minh khoa học lớn lao, nó đủ công năng, nên có cái gì cũng “thồn” vô trong đó. Có lần mẹ tôi mở tủ lạnh, rồi nói với vợ tôi:
– Tô mắm nêm nầy, con đừng có để vào đây, nếu không tất cả cái gì trong nầy đều có mùi mắm nêm hết.
Chỉ chờ có dịp nầy, tôi cười hí hí:
– Trái cây mà có mùi mắm nêm ăn càng ngon chứ sao mẹ?
Mẹ cười, còn vợ tôi cứ đem cái sở trường là bắn nửa mắt vào tôi.
Tôi khoái chí, nói theo kiểu đá banh thì “gỡ” được một, nhưng dường như chỉ có một mà thôi!
Khi con chúng tôi đã lớn, tuổi có thể về quê thăm ngoại một mình, thế mà một tối cả nhà xem ti vi, không phải nhằm đoạn hài mà vợ tôi cười ngất. Con hỏi, “sao tự nhiên mẹ cười?” Một lát vợ tôi mới trả lời được:
– Mẹ thấy bộ tướng ông thái giám đứng khúm núm kia giống”mấy thằng cha“ lần đầu coi mắt vợ quá!” Hi! Hi!
Biết bị xỏ ngọt nhưng tôi biết gì hơn ngoài làm…thinh! May sao đến chương trình quảng cáo, quảng cáo tủ lạnh, tôi nói tỉnh bơ:
– Tủ lanh đời mới coi bộ tốt à nghen! Nó tự khử mùi, dù “mấy con mẹ” ở vườn có để mắm nêm vô đó cũng không sợ hôi. Ha! Ha!…
Tức thì vành tai tôi bị kéo ra cả thước, tiếp theo là một giọng tru tréo, muốn nổi da gà:
– Trời..u.u..i! Chuyện cũ nhắc hoài! Nhắc hoài!
Vậy đó, “chuyện xưa” thì vợ tội nhắc được, còn “chuyện cũ” tôi nhắc thì như bị muốn nhai xương!
Có vợ miệt vườn, miệt quê là vậy đó!

THÁI QUỐC MƯU

Tối Nhìn Đồng Hồ, Uống Cà Phê Với Học Trò

12122449_10207500141559424_7979557059721741411_n

Đồng hồ con nhanh, đồng hồ thầy chậm
Thời gian còn dài, con thích đi nhanh
Thời gian ngắn dần nên thầy đi chậm
Chậm, nhanh cũng là những chuyến vòng quanh.

Đồng hồ hai kim, chỉ giờ chỉ phút
Con là kim phút quay rất nhiều vòng
Thầy là kim giờ từ từ từng chút
Không còn nhiều vòng cho cuộc long đong.

Đồng hồ của con là đồng hồ mới
Mặt đồng hồ đẹp, sáng bóng như gương
Đồng hồ của thầy hình như hơi tối
Mặt kính mờ mờ như phủ hơi sương.

Đồng hồ của con, thầy nhìn rất thích
Xinh xắn mỹ miều trông rất có duyên
Đồng hồ của thầy kêu đều tích tích
Con muốn nghe hoài điệp khúc bình yên.

Con uống với thầy cà phê buổi tối
Thầy uống với con chén đắng cuộc đời
Hình như ngoài kia đêm về rất vội
Một ánh sao khuya mọc ở cuối trời.

Cà phê của con vừa thơm vừa ngọt
Cà phê của thầy vị đắng không tan
Dù là ngọt thơm hay là đắng đót
Cũng là hương đời, vị của trần gian.

Tách cà phê con vẽ hình rất đẹp
Có lá có hoa và lắm trái tim
Tách cà phê thầy những vòng tròn khép
Như chúng đang chơi một cuộc trốn tìm.

Đứng lên ra về, để quên trên ghế
Vũng tối nhạt nhoà, vết tích thời gian
Cả thầy và con đem gì về thế?
…Đem ánh sao khuya một tối êm đềm.

Quyên Di

12088435_10207438618501386_623427938873182173_n
12088368_10207438619221404_6751875370569637427_n

thân ý

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

tất nhiên là biển xanh
biển xanh như mầu mắt
mầu mắt em nhìn tôi
như nghìn thu trong vắt

em thấy tôi dường như
dường như đùa trong nắng
tất nhiên là tương tư
lúc ngồi trong đêm vắng

tất nhiên lời em nói
tôi nghe trên lá cây
nghe qua ngày cũ mới
gió núi hát trên mây

tất nhiên tôi trộm đạo
ngồi đọc kinh vỉa hè
lại múa khi đứng dậy
tôi mặc những không che

tất nhiên em là biển
bão đến xô đời tôi
tôi nghiêng và tôi ngã
tôi tìm lại thân tôi

Ngô Yên Thái