CHUỘT ĂN CẮP…THƠ!

khuatdau

Chuột ăn cắp trứng gà thì ai cũng biết. Một con nằm ngửa ôm trứng, một con khác cắn đuôi kéo về hang. Tuy là chuột nhà quê, nhưng ăn cắp kiểu ấy kể ra cũng thông minh và không kém phần ngộ nghĩnh.
Mới đây, một clip chuột thành phố New York ăn cắp pizza, trông còn ngộ nghĩnh hơn nữa, gây xôn xao cả cộng đồng mạng.
Nhưng, chuột mà ăn cắp thơ, thì không còn gì vui hơn và ngộ hơn.
Đó là một nường chuột thi sĩ, tuy chân không dài nhưng cũng điệu đà ngúng nguẩy không thua gì các ả chân dài. Nường có chân trong cái gọi là hội nhà ăn (không có vờ), một hội gồm những con chuột ăn hại đái nát nhưng rất giỏi nịnh bợ, được các vua chuột thí cho một miếng bánh to hơn cái pizza. Cái miếng bánh ấy được hội phân chia bằng cách trao giải thưởng. Có nghĩa rằng, con nào mần thơ hay thì được miếng to, con nào mần thơ dở thì đành nuốt nước miếng mà đứng nhìn.
Sau khi mần cả ngàn bài thơ, từ hiện đại đến hậu hiện đại, từ hình thức đến tân hình thức, tất cả đều bay mùi chuột chết, nường nghĩ rằng muốn đoạt giải, chỉ còn mỗi một cách là ăn cắp …thơ của người.
Người, đương nhiên mần thơ hay hơn chuột, cho dù là thơ con cóc. Trong số hàng vạn bài thơ được các thi nhân của cường quốc thơ vừa in trên giấy vừa tung lên mạng, nường nhón hai bài.
Và nường liền được trao giải nhất.
Nường được trao giải, một phần vì thơ có mùi là lạ (mùi của người), một phần vì lâu nay nường cũng khá nổi tiếng, với những cuộc trình diễn thơ vừa bằng mõm vừa uốn éo ba vòng bốn cẳng rất chi là mê ly (nhưng không rùng rợn).
Lễ trao giải hoành tráng sắp diễn ra thì không ngờ, có kẻ la toáng lên rằng, đó là thơ ăn cắp.
Người bị ăn cắp, một nữ sĩ ở trong nước và một nam sĩ ở ngoài nước.
Cả hai đều không đi báo cảnh sát vì biết rằng có đi báo cũng bằng thừa, vì chẳng những đang bận nghênh đón mèo Mao, mà còn vì cảnh sát thì đếch biết gì thơ với thẩn.
Tuy vậy, cái liêm sỉ của hội nhà ăn cũng đã được đánh thức. Bạch đầu ông hội trưởng, sau khi cố cứu lấy đàn em mà không được, cũng đành giựt miếng bánh khỏi miệng chuột.
Nường có hơi mắc cỡ, lí nhí xin lỗi.
Nhưng nếu chỉ có xin lỗi vì sự cầm nhầm không thôi thì cũng chẳng có gì phải ì xèo. Ở một xứ sở mà chuyện ăn cắp là chuyện thường ngày, nào ăn cắp của công, ăn cắp thì giờ, ăn cắp trí tuệ vân vân thì chuyện ăn cắp một đôi bài thơ, hay cả trăm bài, cũng chẳng chết một thằng tây đen nào.
Khổ nỗi, nường vốn chua ngoa đanh đá, nên đã chữa thẹn bằng cách đá giò lái rằng, chẳng qua là tư tưởng nhớn gặp nhau, nường đã mần bài thơ này từ khuya rồi, nhưng vì bận trình diễn nên chưa kịp in. Cái thiếu sót của nường là in sau bài thơ nọ đến những 11 năm, có vậy thôi. Nếu bảo ăn cắp thì chưa hẳn ai ăn cắp của ai!
Thế là chẳng những cộng đồng mạng mà cả giới truyền thông cũng nhặng xị xôn xao cả lên. Kẻ ngoài cuộc này bỗng nhớ tới sự cầm nhầm của đại lão tiền bối thi sĩ. Rằng thì là, trong những ngày nằm trong tù ở Hồng Kông, đại lão vớ được một vài bài thơ rất tâm tư của ai đó bèn đọc cho đỡ buồn, riết rồi thuộc lòng luôn, đến nỗi khi ra khỏi tù, cứ tưởng đó là thơ móc từ ruột già (rà) của chính mình.
Có người bảo rằng, từ ý tứ đến giọng điệu không phải thơ của đại lão, nhưng bọn đệ tử cứ việc in ra hàng triệu bản, lại dịch ra tiếng nước ngoài, nên cái điều đáng tiếc là giải Nobel không trao cho người đã chết, chứ nếu không thì…cũng đã vẻ vang cùng năm châu bốn biển từ lâu rồi.
Thế đấy, ở xứ chuột là vậy, chẳng những vừa ăn cướp vừa la làng, mà ăn cắp cũng phải la làng.

(Mèo chuột ký sự)
Khuất Đẩu

gánh

npphan

cho tôi gánh chút thờ ơ
bỏ sau lưng cả một bờ tử sinh
gom về một chút lặng thinh
cho đêm động loạn mở bình minh say

cho tôi gánh chút rủi may
vung tay quá khứ ăn mày mai sau
ăn đong một chút thu sầu
cho tâm vọng tưởng, bạc màu nhân duyên

NP phan

LỜI YÊU

mocmienthao

Ta vẫn đứng
giữa muôn trùng mộng mị
Lắng nghe lòng
vỗ nhịp sóng trùng khơi
Bước hoài niệm
rêu phong
màu ly biệt
Chợt vọng về
lòng ký ức
xa xôi
Người ngồi đó
thắp lên
màu áo lụa
Nhuộm hoàng hôn
vàng võ
bến sông chiều
Ta níu lại
chút tình xưa
quá vội
Độ thu về
mượn lá
viết lời yêu.

Mộc Miên Thảo
(10/2015)

Tìm hiểu lễ hội Halloween ở Hoa Kỳ

12115591_1649499048652953_727466471959533848_n
Ở Mỹ (và Châu Âu) nhhững ngày cuối tháng 10 dương lịch hàng năm này đang rộn ràng chuẩn bị lễ hội Halloween. Đây là một lễ hội bắt đầu vào buổi chiều tối ngày 31-10 cho tới 12 giờ đêm. Trong dịp này, trẻ em và thiếu niên được mặc “y phục Halloween” để đi đến từng nhà, gõ cửa để nhận kẹo và chúc tụng… Theo tục lệ, các em nhỏ thường cầm theo lồng đèn làm bằng vỏ quả bí ngô được đục theo hình mặt người để ánh sáng xuyên ra ngoài…

Những cuộc hội hè vui chơi trong đêm Halloween thường xoay quanh các đề tài như chuyện may rủi trên đời, các chuyện kể về ma quỷ và phù thủy…
Nguồn gốc chữ Halloween. Thánh Lễ được truyền giảng vào ngày này gọi là Allhallowmas. Thời gian đêm trước ngày “Các Thánh” (hay Chư Thánh) đã được xem như là All Hallows Eve hay Halloween. Nguyên nghĩa chữ “Hallow” là Thánh. Halloween là lối viết tắt của “All halows’ Evening.”

Các tập tục trong ngày Halloween

“Trick Or Treat” Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.

“Trick” nguyên nghĩa là: đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm: “Treat” là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãi. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói “trick or treat.” Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi.” Thông thường những người láng giềng luôn luôn muốn tránh việc “trick” nghĩa là chơi đòn đánh lừa nên thường tiếp đón (treat) chúng bằng kẹo và trái cây (theo tục lệ có nhét đồng tiền ở bên trong).

Biểu tượng chính của đêm “Halloween” là cái đèn lồng của chàng Jack – “Jack-ó-lanterns.” Các biểu tượng phụ là phù thủy, ma quỷ và mèo đen.

Truyền thuyết về Halloween

Theo truyền thuyết của nước Ái Nhĩ Lan (Ireland) thì từ ngữ “Jack-ó-lanterns” đến từ một người có tên là Jack. Jack là một chàng thiếu niên đã chết nhưng linh hồn không được phép vào Thiên Đàng vì lý do: lúc sống, anh ta vốn là một người tham lam, bủn xỉn, thường cất giấu tiền bạc, keo kiệt không hề bố thí cho ai một chút gì. Thế nhưng anh ta lại cũng không thể vào Địa Ngục vì lúc còn sống anh ta đã từng chơi đùa với ma quỷ, nên quỷ không bắt anh.

Chuyện kể rằng: một hôm có con quỷ đến quấy phá một vùng dân cư, chẳng may bị báo động, người ta đến cầu cứu các vị tu sĩ đem các vật thánh đến “yểm” và “khóa các cửa” ra vào. Thế là con quỷ bị bắt… Jack đã nhận ra đó là con quỷ thường vui đùa với mình và Jack đã tìm cách gỡ vật “yểm ma quỷ” mở đường cho quỷ chạy thoát.

Để đền ơn cứu mạng, quỷ hứa với Jack là sẽ không bắt hồn Jack về Địa Ngục. Do đó, khi Jack chết vì một tai nạn, hồn Jack bị Thiên Đường từ chối. Jack liền tìm đến Địa Ngục, nhưng quỷ không cho vào… vì lời hứa trước. Thấy Jack lạnh lùng khổ sở, quỷ bèn lấy một ít than hồng ở Địa Ngục bỏ vào trong ruột một quả bí ngô và đưa cho Jack để sưởi ấm… trên đường trở lại trần gian. Để cho không khí thông vào nuôi lửa, Jack phải đục thủng quả bí ngô.. và ánh lửa từ trong đã chiếu ra soi sáng nẻo đường lang thang của Jack. Có lẽ Jack phải cầm đèn đi lang thang trên mặt đất cho đến ngày phán xét cuối cùng của nhân loại.

Tìm hiểu lễ hội Halloween ở Hoa Kỳ

Ngày Halloween bắt nguồn từ đâu?

Lễ hội Halloween ngày nay bắt nguồn từ dân tộc Celt, là một dân tộc sống cách đây hơn 2,000 năm trên các vùng đất bây giờ là Anh quốc, Ái Nhĩ Lan và miền Bắc nước Pháp.

Dân tộc Celt bắt đầu năm mới vào ngày 1 tháng 11 Dương Lịch. Một lễ hội được cử hành vào đêm trước năm mới để vinh danh vị thủ lãnh đã quá cố là Samhain. Ngày lễ hội này báo hiệu sự bắt đầu của mùa lạnh, của những ngày tối tăm thường được liên kết với sự tàn tạ và sự chết của loài người. Dân tộc Celt tin rằng Samhain cho phép những linh hồn người chết được trở về nhà trên trần gian vào đêm hôm đó.

Vào năm 43 (sau công nguyên), người La Mã chinh phục vùng đất của dân tộc Celt và cai trị khoảng 400 năm (vùng này bây giờ là Anh Quốc). Trong giai đoạn này có hai lễ hội Samhain của dân tộc Celt. Một trong hai lễ đó là FẺALIA được cử hành vào cuối tháng Mười để vinh danh những ngưòi đã chết, lễ thứ hai dành cho Pomona, nữ thần La Mã về cây và quả. Có lẽ vì nữ thần Pomona mà quả táo (apple) đã được kết hợp vào lễ hội Halloween. Sau ngày lễ Chư Thánh, tại Anh Quốc, còn có ngày “Các vong hồn” vào mồng 2 tháng 11. Tại Anh Quốc, Halloween đôi khi được gọi là Nutcrack Night or Snap Apple Night vì mọi người trong gia đình ngồi quanh lò sưởi kể chuyện và ăn đậu phụng rang hoặc nhai “táo”.

Vào ngày “Các vong hồn,” những người nghèo đi “khất thực cô hồn” (went-a-souling) và họ sẽ được bố thí bánh trái gọi là “soul cakes” (bánh vong hồn) để họ hứa là sẽ cầu nguyện cho “các vong hồn.”

Halloween đến Mỹ do những di dân đầu tiên, đa số đến từ Anh Quốc và một số từ các vùng thuộc dân tộc Celt, họ đã đem qua Mỹ khá nhiều phong tục khác nhau. Nhưng vì nhiều lý do, mãi đến thập niên 1800 mới trở thành tục lệ được nhiều người hưởng ứng.

Vào giữa thế kỷ 19, tục lệ “trick or treat” chưa được phổ biến ở các thành phố lớn vì ở những nơi này “hàng xóm láng giềng” hầu như không có; nhiều người ở cạnh nhau mà không quen biết nhau, cho nên Halloween đôi khi gây ra những sự việc tai hại. Ngày nay, nhiều cộng đồng, nhiều tổ chức đã đứng ra bảo trợ các tục lệ vui chơi của ngày Halloween, nên nó đã trở thành một ngày lễ hội rất được chào đón của thiếu niên và một số thanh niên.

996010_470576176390867_2031182622_n

Ý Nghĩa Của Ngày Halloween

-Ý nghĩa giáo dục:
Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:
– Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt
– Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn
– Không nên chơi đùa với ma quỷ.
Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra có khi làm hại đến người, đến xã hội… Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗi
Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là “ân đền, oán trả” và “giữ lời hứa.” Dù rằng sự “giữ lời hứa” này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng. Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa nhân bản của nó.
-Ý Nghĩa Nhân Bản:
Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của “cõi Âm” mà đại diện là chàng Jack?
Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người… mà lại là một người cô đơn. Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân… Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!
Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngày. Một ngày được trở lại với cõi dương. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản của lễ hội Halloween.
Với ý nghĩa nhân bản này, ngày lễ Halloween và Rằm tháng Bảy Âm lịch của nước ta có thể xem như là ngày hai cõi Âm, Dương hội ngộ trong niềm thương cảm bao la…

TRÍCH NGUỒN HOAKY.ORG

UYÊN

tonnuthudung

Uyên của ngày thu muộn
Khúc lạc cầm u hoài
Chìm nổi dòng luân lạc
Chiều Nội Thành mây bay.

Uyên của ngày ly biệt
Chạnh lòng mưa cuối sông
Vỡ toang mùa trăng biếc
Rơi những lời ăn năn.

Uyên của ngày hoan lạc
Khắc khoải rèm mi cong
Uyên của ngày hạnh phúc
Đong đưa tình trăm năm.

Uyên của ngày địa ngục
Tan chảy thành tro than
Lửa hành hình bí ẩn
Đốt một đời tan hoang…

Tôn Nữ Thu Dung

bóng 3

phuonguy

đêm vô thanh không tiếng gọi
tôi nhìn tôi qua lổ ước thề bồi
cánh chim ngày không đập đậy
tôi ruồng rẫy chính tôi

đêm vô âm thăm thẳm
lảng vảng rìa cơn bão vô hồi
trốt gió tung cuộn ngầm xoáy
tôi đày đoạ tôi

đêm vô ngôn sũng màn trời ướt
tôi co ro cuộn thân tôi
hoa mạn đà là ảo ảnh
trăng khuya tử nạn trên đồi
tôi nhìn tôi mùa vô dụng
phế tích thời gian trôi

đêm rỉ hoen ngược tìm bóng
vô thanh vô âm tìm vô ngôn
từ lòng bàn tay héo
tôi thả lên trời những thông điệp u buồn
đáp lại tôi không tiếng vọng
tôi láp dáp tìm mình trong hoang vu

đêm ngóng gió về qua phố
chỉ lặng im sinh sôi
tôi ngược đãi tôi cùng tận
nghe mùa sám hối rối bời

thi hài đêm trổ mộng
sần sùi hạt lệ vô phần
tôi mắc cạn bờ huyễn tưởng,
bóng tìm đêm vô căn

đêm ngưng đọng từng giọt gió
rít thiên hà xa xăm
tôi ngưng đọng tôi vết xước
cào xới những bặt âm
mùa vọng lành níu giữ
đêm vô hình trăm năm…

PHƯƠNG UY

Trầm Cảm

tranvanle

Người cựu binh Việt Nam bụm mặt:
tiếng trực thăng quá ồn.
Biết cuộc chiến không còn,
nghe trực thăng…bỗng sợ.
Một thời “Đường Kiến”(*) đó,
chiến tranh thật đáng thương!

Bầu trời hết ngỗn ngang,
mây lại bay lờ lững.
Người cựu binh ra đứng
trước nhà ngắm mây bay.

Đã bốn mươi năm nay,
tiếng trực thăng không khác.
Và những gì mất mát
quả thật là không còn!

Người vợ mới kết hôn,
ba mươi năm tìm kiếm,
chỉ thấy hoa màu tím
nở hàng rào nhà xưa!

Thế mới biết câu thơ
“không chết người trai khói lửa”,
đeo đẵng hoài như nợ,
bứt không lìa cái quên!

Người cựu binh đứng yên.
Bóng trực thăng đã khuất.
Đưa tay lên giụi mắt
nó lạnh từng ngón tay.

Trên trời mây trắng bay.
Trên trời mây trắng bay…
Người cựu binh gặp đây
với tôi là bạn cũ.

Tôi mời nó ly rượu,
nó uống, phà khói sương.
Một thời ở Cà Tang (**),
tay còn thơm thuốc súng.

Tát cả là ảo vọng
như hơi rượu mới phà…

Trần Vấn Lệ
(*) Đường Kiến, nhan đề một truyện ngắn của Kinh Dương Vương viết trong thời chiến tranh Việt Nam 1960- 1975.
(**) Cà Tang, K’ Tang, địa danh giữa mật khu Tam Giác (Mương Mán, K’ Tót, Tà Dôn), Tiểu Đoàn Pháo Binh 175 ly Mỹ đóng năm 1968-1969, Đại Đội 2/300/ĐPQ từng là đơn vị phòng vệ

Trần Vấn Lệ

THÁNG MƯỜI CÒN MƯA

nguyenanbinh

Tháng mười còn mưa – Mưa giăng đầy trời
Mưa ướt phận người – Giọt mưa chìm nổi
Lá sầu lẻ loi – Con tim bối rối
Nhớ bầy sẻ nâu – ngơ ngác bên đời.

Tháng mười còn mưa- Tiếng mưa bồi hồi
Nắng trốn qua sông – Ngồi trong quán vắng
Tiếng hát liêu trai – ly cà phê đắng
Thương cuộc tình buồn – Môi trầm hương phai.

Còn lại trong mưa – Bóng chim lạc loài
Một đóa phù dung – Nụ hôn say đắm
Dáng em nhạt nhòa – Sau làn mưa trắng
Để lại tội tình – Chìm trong giấc mơ.

Tháng mười còn mưa – Sóng vỗ đôi bờ
Nước trôi về đâu – chia hai nhánh nhớ
Như nỗi tình cờ – Em về phố nhỏ
Tôi nằm trên cỏ – ngủ dưới trăng tan.

Tháng mười còn mưa – Mưa trong địa đàng
Trái cấm đa mang – Nên người đã lạc
Má hồng môi ngoan – Đường xưa quên mất
Một bức thư tình – Để gió cuốn đi.

NGUYỄN AN BÌNH

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ 3 (TT)

 

ledachoanghuu

Trời sụp tối thì ba nó về theo sau là chiếc xe cam nhông giống như chiếc hồi trước đi về. Cả nhà nhanh chóng chuyển đồ lên xe trong tiếng thì thào nói với nhau. Đến nửa đêm là xong, ba nó nói với bác tài xế:
“Anh cho đi liền dùm nghen, đi ra xa xa chỗ này rồi nghỉ bao lâu cũng được”.
Má nó nhìn căn nhà xót xa:
“Công sức, tiền của biết bao nhiêu đổ ra mà ở mới được mấy bữa”.
Ba kéo má lên xe:
“Thôi đừng tiếc rẻ làm gì, mà để đó chừng ông nội sắp nhỏ về ở hương khói mồ mả Tổ Tiên”.
Tiếng xe cam nhông xịch xịch nổ máy, xe lăn bánh. Vậy là năm tháng sau khi trở về, nhà nó lại ra đi rời xa dòng sông Thu Bồn trong cảm xúc buồn vui lẫn lộn.
Chiếc xe cam nhông giống y chiếc gia đình nó đi ra, chầm chậm đều đều chạy, một lần nữa nằm trong cái gác lúc nào cũng thấy màu hoàng hôn và đêm tối, cũng chẳng xác định được thời gian chỉ cảm giác xe đi rất xa. Có lẽ hai ba ngày đêm gì đó, nó mặc kệ, ngủ thức dậy ăn cơm rồi lại ngủ. Một buổi chiều xe ngừng lại, tiếng ba nó cất lên:
“Ghé đây chơi chút, đây là đồn điền ngày trước của chú Năm, ông nội tụi nó có ké làm ruộng vườn ở đây”.
Chú Năm là chú ruột của ba nó, vậy là ông chú của nó. Ông chú và người con mất hai năm trước khi lái máy cày cày đất trên cánh đồng lúa vừa xong, băng tắt lên đường lộ để về, vừa ra mép đường thì cán phải trái mìn và nổ tung, không ai biết mìn gì và của ai đặt hay bỏ đây. Đồn điền từ đó giao cho người làm quản lý, mấy người con ở thị xã không ai ở đồn điền nữa, lâu lâu mới lên thăm thú một vòng. Ba nó chỉ ngôi nhà xây khang trang bên vệ đường:
“Đây, nhà chú Năm đây” – Nói xong ba nó kéo cả nhà đi vô.
Có người trạc tuổi ba nó chạy ra:
“Anh Hai hả, vô đây vô đây”.
Ba nó hỏi lại:
“Chú Chín khỏe không? dạo này làm ăn ra sao?”.
Chú Chín rót trà:
“Dạ khỏe anh, làm thì cũng bình thường nhưng sắp tới nghe nói căng đây chưa biết sao?” – Chú nhìn qua má nó: ” Chị đây…”.
Ba nó cười:
“À, quên, bà xã tui với mấy đứa con”.
Chú Chín nói tiếp:
“Chị Hai qua đây ngồi trò chuyện luôn”.
Má nó đang ngồi với mấy chị em nó trên tấm phản bên góc nhà đi qua bên bàn tiếp khách ở giữa ngồi với ba nó và chú Chín:
“Chú chín bà con ra sao?”.
Chú Chín cười cười:
“Dạ, hông có bà con gì chị, tui làm cho chú Năm từ nhỏ, giờ mấy đứa con chú kêu trông coi dùm, chẳng đứa nào chịu lên đây, tụi nó ăn học đỗ đạt theo nghề chữ nghĩa chớ đâu có theo nghề nông này nữa, ủa mà anh chị về đây ở hay đi đâu ngang qua?”.
Ba nó thuật lại câu chuyện về quê, rồi trả lời:
“Giờ trở lại Sài Gòn thôi chú Chín à, mà hổng biết trong đó ra sao nữa?”.
Chú Chín trợn mắt:
“Anh hông có nghe tin tức gì hả?”.
Ba nó đáp:
“Về lo làm ăn đầu tắt mặt tối đâu có để ý gì nhiều, mà tin gì vậy chú?”.
Chú Chín nói nho nhỏ:
“Ý chà, đang có tin đồn râm ran có chính sách mới”.
“Chính sánh như thế nào chú?”.
“Là đánh tư sản, tiểu tư sản và cải tạo công thương nghiệp gì đó, cho về quê làm kinh tế mới, làm ruộng”.
Ba nó hỏi lại:
“Nhưng tui đâu có làm thương gia?”.
Chú Chín nói tiếp:
“Nghe nói ai dính dáng gì với chế độ cũ bị kêu là Ngụy là bị đi hết, đưa về những nơi vùng thiêng nước độc khai hoang làm kinh tế, hồi nãy tui có nói nghe nói sắp tới căng đây đó, tui bàn với mấy đứa nay mai bán từ từ hết đàn bò gần trăm con nè, đất cát ruộng vườn hông biết có bán bớt được hông”.
Má nó thở dài:
“Vậy là mình cũng bị rồi, giờ tính sao đây?”.
Ba nó suy nghĩ một hồi rồi hỏi chú Chín:
“Hồi trước ông già tui có miếng đất, miếng ruộng gì ở đây phải hông chú?.
Chú Chín gật đầu:
“Phải, có mẫu đất với lại chừng năm sào ruộng phía bên kia đường, xéo xéo đây chừng hai trăm thước. À, bác Hai khỏe hông anh?”.
“Ông già cũng khỏe, mà mẫu đất đó giờ có ai làm gì hông chú, có bị ai lấy chưa vậy?” – Ba nó sợ như hồi ở quê.
Chú Chín cười:
“Đất cát giờ ai lên đây mà lấy, cho còn hổng có người ở”.
Ba nó gục gật:
“Hay mình ở lại đây đi bà ơi, chớ vô Sài Gòn lại bị đi nữa mà chưa biết đi đâu lại khổ, họ đưa tới thăm thẳm rừng sâu có chết chắc”.
Má nó thấy có lý:
“Chắc vậy là hay nhứt”.
Chú Chín nói vô:
“Anh chị tính vậy tui thấy được, bên đó còn có sẵn cái nhà gỗ nhỏ nhưng gói ghém chắc không đến nỗi”.
Vậy là đậu lại trên mảnh đất của ông nội, cả nhà dỡ đồ đạc xuống hết thì đêm đã buông xuống tối mịt, ba nó phải đốt đống lửa để thắp sáng màn đêm.

***

Một mẫu đất của ông nội nó thiệt quá rộng lớn so với miếng đất ở quê. Năm sào ruộng cũng gấp mấy lần ruộng ở ngoải. Ở đây một sào tính tới một ngàn mét vuông chớ không như ngoài đó chỉ có năm trăm mét. Xung quanh nhà ông nội trồng mỗi loại vài cây như mít, xoài, mận, ổi… nhiều nhứt là mảnh vườn chuối, sau nhà có cái giếng to có nước đầy. Phía cuối mảnh đất còn những hàng tre cao to xanh um. Đứng ngay nhà nhìn thấy như sát bên mặt là cái núi Đất cũng cây cối um tùm, nhìn xa xa là những dãy đồi dãy núi trải dài chập chùng, giống nơi nó sanh ra là không có con sông chảy qua, nhưng chú Chín nói gần gần có những cái bàu đọng nước quanh năm, có con suối có nước vào mùa mưa còn mùa nắng thì khô cạn. Ở đây sáu tháng mưa sáu tháng nắng, mùa mưa thường bắt đầu vào đầu tháng tư và dứt vào cuối tháng chín.
Ba nó mời chú Chín qua nhà nhâm nhi ly rượu, mồi là mấy con cá khô má nó mua dọc đường đi, ngồi trên tấm phản dưới gốc mít trước nhà dưới ánh đèn hột vịt, cây đèn thắp bằng dầu lửa, tấm phản nhỏ này cũng của ông nội để lại, ba nó hỏi:
“Tui hông có rượu gì, chỉ còn dấu chai rượu Tây chưa dám đem ra, hổng biết uống thứ này ở đây có sao hông, có ai dòm ngó gì hông?”.
Chú Chín cười hà hà, tiếng cười của chú vang xa giữa trời thanh vắng:
“Ở đây còn ít người lắm, nhà cửa còn thưa rỉnh anh thấy hông với lại cũng chưa có gì xảy ra kiểu như anh nói ở quê, hông sao đâu”.
“Vậy tui với chú uống hen”.
Ba nó vào trong lấy chai rượu rót ra ly cụng lốp cốp với chú Chín:
“Chú có quen ai trên xã hông?”.
Chú chín trả lời:
“Quen sơ sơ, mà hông có gì, anh cứ lên trình diện đưa giấy học tập là xong chớ chi”.
“À, tui định làm cái đơn xin về đây làm kinh tế mới, làm ruộng làm rẫy chú thấy được hông?”.
“Vậy hay đó, anh đi trước một bước cho dễ dàng”.
Ba nó cụng ly tiếp rồi uống khà một tiếng:
“Tui mới về đây lạ nước lạ cái có gì chú chỉ bảo cách làm ăn”.
Chú chín cũng khà tiếp theo:
“Có gì khó đâu anh, giờ vô mùa nắng hông làm ruộng rẫy gì thì đi làm củi. Rừng sát bên nách, đủ mình chụm cả năm còn dư đem bán kiếm tiền chợ. Ờ, giờ gần Tết bắt đầu trồng ít bông quanh nhà đưa xuống thị xã bán kiếm chút đỉnh thêm cũng được. Làm cái dàn cắm dây bầu giây bí, trồng ít rau củ, dễ ợt hà mai tui mang giống cho. Đất vườn dãy cỏ rồi chờ mùa mưa xuống trồng bắp trồng khoai, ruộng cày ải rồi cứ vậy bừa mà gieo lúa, mần cỏ bỏ phân là có ăn chớ khó gì đâu”.
Ba nó nhẩm tính mớ lúa và bắp làm được ở quê đem theo chắc cũng xít soát đủ mùa tới, vậy là không đến nỗi nào, ba nó cười:
“Chú nói tui mới sáng ra chớ đâu có rành, cảm ơn chú nhiều, tui theo vậy mà làm”.
Ba nó với chú Chín chuyện trò cách mần ăn rôm rả thêm một chập nữa rồi rã sòng.
Sáng hôm sau ba nó mang giấy tờ và cái đơn lên xã, chút sau là về. Má nó thấy nhanh quá hỏi:
“Ủa ông quên gì hà?”.
Ba nó tươi cười:
“Hổng có, họ chứng xong rồi, họ nói cứ ở làm ăn, không làm khó dễ gì, xã cách nhà chừng hai cây số, phía dưới đó dân ở khá đông có cái chợ với trường học, sẵn tui hỏi luôn nhưng họ nói bây giờ trễ quá rồi nên để sang năm cho mấy đứa đi học lại”.
Má nó mừng quýnh:
“Vậy cũng đỡ, để tui xuống chợ coi cá mắm gì hông mua chút đỉnh”.

***

Từ hạt giống của chú Chín cho rất nhiều loại, từ rau cải, cà chua cà pháo và bông vạn thọ bông cúc… ba má nó xới đất trồng mỗi loại mấy luống sau nhà gần giếng nước, chú chín còn cho mấy gánh phân bò trộn chung vào đất nữa, mấy chị thay phiên nhau sáng chiều trên vai cặp thùng gánh nước có cái ống, cuối ống giống như vòi sen nghiêng thùng phun tỏa nước ra mà tưới, hạt giống nức, nảy mầm lên ngay xanh tốt cho tới bầu bí, mướp, khổ qua… làm cái giàn cho nó leo, làm dàn cũng dễ xèo, tre sau nhà đầy nhóc, chỉ có đi xa xa chút vô trong rừng chặt mấy cây lớn làm bốn cây cột bốn góc. Ba nó sắm thêm một loạt dụng cụ ngoài cuốc xẻng là bồ cào, cuốc chỉa và cưa, rựa, búa chẻ củi…
Những ngày rảnh rỗi ba nó đi vô rừng lấy củi. Một bữa hai anh em tụi nó xin đi theo và được cho đi. Rừng không xa, qua nửa cây số hết làng tới cánh đồng mùa nắng còn trơ gốc rạ với những đàn bò thả rong gặm dưới đó, hết đồng chừng nửa cây số nữa tới một con suối hai bên bờ có tre mọc dày đặc dọc theo, suối không có nước nhưng đất còn ẩm ướt, vài hòn đá và những mảng sỏi nằm lộ ra, qua con suối với không khí mát mẻ này là tới rừng. Rừng thưa chớ không dày, nhiều nhứt là những cây dầu thân thẳng băng cỡ bắp vế người lớn lá to gần bằng cái quạt đan bằng lát nhưng dài hơn, ba nó chỉ cái lá:
“Tụi con biết lá đó hông?”.
Tụi nó đâu có biết nên lắc đầu:
“Dạ, hông biết”.
Ba nó trả lời:
“Thiệt ra thì các con thấy rồi nhưng hông có để ý, đó là lá dầu lông còn gọi là lá loan, người ta hái về để bán gói đồ ở chợ”.
Hai anh em nó à ra:
“Mấy bữa thấy gói cá gói rau má mua ở chợ về”.
Rừng còn nhiều loại cây khác nhưng nhỏ như căm xe căm liên, dầu sao lá nhỏ xíu chớ không lớn như dầu lông. Dưới đất rừng cỏ khô cháy đen còn trơ gốc, lửa lém ra làm đất cũng đen nhẻm và còn vương vãi tro tàn, nắng lên mùi nghe hanh hanh hăng hắc xộc vô mũi, vài con chim bay nhảy trên cành cây hót chuýt chuýt như bù lại cái mùi khó chịu này. Những tàn cây không còn lá cháy xém nằm chõng chơ bên cạnh gốc cây, thân cây lớn người ta đã cưa lấy gỗ và chủ yếu là hai loại căm xe và căm liên. Ba nó gôm những nhánh cây này to cỡ cùm tay chặt thành từng đoạn cỡ năm tất chất thành đống, anh em nó cũng phụ gom cành cây lại một chỗ. Lâu lâu gặp những khúc cây rất cứng đủ hình thù cong cong quẹo quẹo uống lượn tùm lum là những lõi cây to đã mục nát hết phần giác bên ngoài, gõ vào nghe bon bon, ba nó rất thích nói chụm tốt lắm và cũng cưa từng đoạn cây bẳng củi chặt, lưỡi cưa đi qua lại nghe rọt rọt đã lỗ tai. Anh nó nhìn thấy dưới tán cây um tùm có những hột màu trắng bóc giống và to cỡ con hến, lượm lại hỏi ba nó:
“Ba ơi, hột này là hột gì”.
Ba nó lấy coi rồi đáp:
“À, hột này là hột chum chúm, vỏ cứng lắm phải lấy đồ đập ra mới có ruột bên trong, ăn ngon và béo”.
Hai anh em lượm mấy cục đá, cục để kê cục để đập, sau khi nghe lời ba nó dặn phải đập cẩn thận hông là vô tay, đập bể ra ăn thử thì thiệt là béo, béo như hột đậu phộng. Nó kêu anh nó:
“Mình lượm một mớ đem về nhà”.
Hai anh em cùng đi lượm được một bọc. Ba nó chặt, cưa được khá nhiều củi, đem loại cũi lõi về trước, chất đầy gióng gánh về còn dư để tiếp cho những ngày sau. Về tới nhà nó lấy hột chum chúm ra khoe, cả nhà cùng xúm đập lụp bụp ai cũng khen ngon.
Chiều chiều chạng vạng là chú Chín hay ghé qua nhà lúc nhâm nhi với ba nó xị đế lúc uống trà, có bữa đang khề khà chú nói:
“Anh thấy hông, bên tui có ít người lại nhiều chuyện lu bu thảy đại hột giống xuống còn có cái ăn huống hồ bên anh chăm sóc kỹ càng, phân nước đầy đủ, mấy đứa nhỏ lại siêng năng nhổ cỏ nên rau củ lên xanh tốt, sợ gì hông có”.
Ba nó gục gật:
“Thì cũng nhờ chú hết chớ đâu ra”.
Chú Chín cười hà hà:
“Bậy nà anh ơi, tui nói sơ sơ còn chủ yếu là anh, à mà mai tui nghỉ buổi chiều, tui anh xuống bưng tát mớ cá về lai rai”.
Ba nó đưa ly cụng:
“Tui theo chú”.
Chiều hôm sau ba vác cuốc quẩy cái thùng gánh nước cho hai anh em nó chạy lon ton theo sau. Chú Chín cũng quẩy cặp thùng cầm thêm mớ dây thừng giống như dây cột mũi bò, nó không biết chú cầm dây theo để làm gì. Bưng đi về hướng sau nhà chú Chín, đối diện nhà nó phía bên kia đường lộ, ngược hướng với hướng đi rừng lấy củi, cũng không xa lắm, chừng gần hai cây số. Bưng là một dải cỏ mọc trên đất sình lầy ngang chừng vài trăm mét rồi tới một vồng cát trên có rừng cây còn chiều dài dải cỏ và rừng cây thì hút tầm mắt nhìn không có kết thúc. Chú Chín chỉ về phía rừng cây:
“Phía sát rừng có con sông nhỏ nhưng nước nhiều chảy quanh năm, chảy về thị xã nhập với mấy con sông lớn. Sông tuy nhỏ nhưng chịu thua, dễ gì chặn nước mà tát, tui dẫn anh và mấy cháu xuống đây coi cho biết thôi, giờ mình đi ngược về một chút có con suối chảy xuống sông bưng cạn nước còn những vũng nước đọng, mình tát ở đó”.
Chú Chín dắt đi ngược nhưng xéo xéo chớ không trùng con đường đi ra, một chập là tới con suối cũng có tre mọc hai bên bờ, đi men men bờ suối một hồi chú Chín đứng lại:
“Chỗ này rồi”.
Phía dưới suối là một vũng nước sâu cỡ ngang bụng chú. Con suối này nước còn chảy rỉ rả nhưng xâm sấp dưới bàn chân. Chú Chín và ba nó đắp hai cái bờ cao hai đầu vũng nước, phía trên nước chảy xuống nên đấp cao hơn nhiều để ngăn nước chảy xuống tiếp. Đắp xong chú lấy dây thừng cột vô cái thùng chừa bốn sợi dây dài, ba nó cầm hai sợi, chú hai sợi hai người hai bên bờ suối cái thùng ở giữa, thả xuống rồi giựt nước lên đổ qua bên này bờ. Tới lúc này thì nó hiểu ra chú Chín cầm theo dây là để làm gì. Tát nước còn cỡ một gang tay là đã thấy cá quẫy tung nước, lúc chú Chín và ba nó nghỉ xả hơi, hai anh em nhảy xuống lấy cái thùng không dây tát phụ, tát kiểu có dây đâu có được.
Nhưng nước đã tát cạn mà hai anh em lại không thấy cá đâu, làm tiu nghỉu bởi chờ đợi mấy tiếng đồng hồ. Hút hết điếu thuốc chú Chín và ba nó đi lòng vòng xục xục cho nổi sình lên, cá bắt đầu nỗi lên quẫy tứ tung, sình văng tứ phía, thêm một lần sáng mắt ra, cá quá chừng là cá, hai anh em nhảy xuống lượm mấy con nhỏ bỏ thùng, ba và chú Chín bắt những con lớn cỡ bắp tay, rất nhiều loại, cá trắng cá rô, cá lóc cá trê, cá chạch trơn nhớn khó bắt phải hớt từ từ, có thêm cả tôm tép và cua, nó mò gặp một con định tóm thì bị chích một phát đau điếng, nó la làng hông biết con gì:
“Ý dà, con gì chích đau quá”.
Anh nó giải thích:
“Cá trê đó mày, hổng biết bắt bày đặt xớ rớ”.
Bắt cá xong gần đầy hai thùng gánh nước, xả bờ xuống như cũ rồi quẩy về. Về tới nhà đã chập choạng tối. Ba nó nói:
“Chú Chín xách thùng này nè, thùng này nhiều con bự hơn”.
Chú Chín lựa lựa một hồi, mà không phải lựa con to, lựa đủ loại bỏ vô một thùng rồi đáp:
“Tui xách về chừng này đủ rồi”.
Ba nó giãy nãy:
“Đâu có được, chú lấy phần nhiều đi”.
Chú Chín xách thùng vừa lựa quẹo vô nhà:
“Anh cứ xách về đi, bên tui có ai, có mình tui với hai bà sồn sồn, với lại đồ tiếp tế dưới đó lên còn nhiều lắm”.
Ba cha con nó đành nghe theo xách hết cả về. Về đổ ra có mấy con cá lóc to bằng bắp chân, má nó chỉ mấy con cá giãy đành đạch:
“Cũng giống cá ở ngoải quá hen, được đó mai nấu mì Quảng cá lóc” – trong giọng nói còn chút lưu luyến xứ sở quê nhà.

***

Trời chuyển se se lạnh, sáng sớm có những màn sương mù mỏng bay lơ lững như những làng khói lam chiều. Mấy luống vạn thọ và bông cúc cao chừng ba bốn tất lá to tươi rói bắt đầu ra búp, vậy là sắp Tết, gần ba tháng trôi qua lẹ làng kể từ lúc bánh chiếc xe cam nhông ngừng quay để cả nhà bước xuống chỉ là thăm vùng đất này.
Một buổi sáng có chiếc xe lam đậu trước nhà, ba người một đàn ông và hai đàn bà bước vào. Ba má nó ngạc nhiên và e ngại chẳng biết có chuyện gì, người đàn ông cười cười:
“Thấy anh chị có bông đẹp quá, bán hông tụi tui mua hết”.
Nó nghe rõ tiếng thở phào của ba má:
“Dạ, bán anh, anh coi mua sao?”.
“Tui mua hết rồi tự nhổ cho vô giỏ và chở luôn”.
Sau một hồi trả giá, ba má nó đồng ý bán, trong tích tắc ba người bứng sạch mấy luống bông. Mấy chị và hai anh em nó vừa mừng nhưng cũng vừa tiêng tiếc cho những luống hoa đẹp bây giờ chỉ còn trơ lại đất. Thấy má thì mừng rơn:
“Chà, hổng ngờ được giá quá, vậy là ăn Tết đỡ khổ rồi, hổm rày tui lo quá”.
Nó thấy ba nó quẹt quẹt sống mũi có lẽ bị cay cay.
Và đúng như lời đã nói, má nó sắm sửa Tết khá nhiều. Mỗi người đều có bộ đồ mới, bánh mứt trái cây cúng kiếng, chưng bàn thờ đầy đủ, thịt thà cũng đầy ắp xoong, còn kho một nồi măng khô thịt mỡ to tổ chảng để cuốn bánh tráng. Ba mươi Tết cúng rước ông bà mần hai con gà bự luôn. Đêm ba mươi hai anh em cùng thức bên bếp lửa bập bùng trong màn đêm tối thẩm nấu nồi bánh tét với ba nó chờ giao thừa, đêm yên ắng lắm, lâu lâu mới vang lên tiếng pháo lụp bụp, đì đùng, tới giao thừa thì nhiều tiếng pháo nổ vang, nhà nó cũng đốt phong pháo trung.
Ba ngày Tết ba nó đi đây đó, nhà những người gần gần mới quen, qua bên chú Chín rồi chở má nó về thị xã một ngày thăm thú bà con vào ở đây. Hai anh em thì chạy ra vô từ nhà cho tới lộ, mấy chị lẩn quẩn trong nhà hết ăn lại ngủ, cắn nẻ hột dưa tí tách.
Cái Tết đầu tiên ở vùng đúng là thôn quê đúng nghĩa cũng qua.
Ra giêng má và mấy chị dãy cỏ vườn, cỏ khô lấy bồ cào gom lại từng đống đốt đi cho sạch đất. Đôi khi cùng ba nó vô rừng gánh củi về, niềng lại thành từng bó chất đống rồi kêu xe lam chở về thị xã bán. Mỗi lần đi như vậy má nó mua về rất nhiều đồ biển, mực sò tươi, cá nục cá mòi, cá ngừ cá thiều hai loại này giống giống nhau con nào co nấy to bự và kèm theo một hai bao phân hột như đường cát, kêu phân urê.
Ba tháng mùa nắng nữa tiếp theo trôi qua. Cuối tháng ba bầu trời chiều chiều có nhiều mây đen. Buổi chiều một ngày đầu tháng tư, mây kéo che phủ đen kịt, trời chuyển lành lạnh thì có rắt rắt hột, chập sau thì cơn mưa ào ào đổ xuống. Mưa lớn và lâu hơn cả tiếng đồng hồ. Sau bao ngày nắng nóng cơn mưa trút xuống đất mềm ra, cảnh vật xung quanh như rũ đi cái áo khô héo bừng bừng sống dậy, trời dịu mát vô cùng. Buổi tối chú Chín chạy qua nhà uống trà với ba nó:
Ba nó hỏi:
“Bữa nay hông nhâm nhi chút rượu hả?”.
Chú Chín lắc đầu:
“Thôi anh, vô mùa mưa rồi đó, để sức mai bắt đầu mần việc”.
Ba nó hỏi lại:
“Vậy là chín thức vào mùa mưa?”.
Chú Chín gật đầu:
“Đúng rồi đó anh, cơn mưa như vậy là mùa mưa chính thức rồi đó, mai anh xuống lỗ bắp giống là được”.
Ba nó nói tiếp:
“Tỉa bắp trước tiên hen xong rồi khoai lang khoai mì, còn lúa tính sau hả chú”.
Chú Chín trả lời:
“Khoai mì trồng sau cùng đó anh, lo bắp tới khoai lang rồi lúa trước hết”.
Ba nó gục gật:
“Nghe theo lời chú”.
Chú Chín uống hết ly trà rồi về trước khi nói câu nữa:
“Cây mưa đầu mùa lớn như vầy, mưa gần chục thùng phuy nước báo hiệu một mùa mưa tốt lắm đó anh”.
Ba nó nói với theo:
“Cầu trời cho mưa thuận gió hòa, bà con làm ăn”.
Nó không biết thùng phuy nước là thùng gì nên hỏi:
“Thùng phuy là thùng gì hả ba?”.
Ba nó nghe chú Chín nói nên đang vui, vừa cười cười vừa trả lời:
“À, thùng phuy làm bằng sắt mỏng để đựng xăng dầu, cái thùng bự có hai cái ngấn lồi lên đó con, bà con mình dùng trữ nước để xài, một phuy đúng mười đôi nước. Ở đây nói chuyện với nhau về cơn mưa lớn nhỏ người ta tính bằng phuy nước hứng được từ mái nhà lớn lợp tôn, mưa năm phuy là vừa, trên nữa là lớn đó”.
Nó gật đầu hiểu rồi, nó nhớ nước mưa trong veo, tắm mát lạnh, có khi nó còn len lén hớp một miếng thấy ngọt lịm nữa. Đêm đó trời cũng lành lạnh cho nó một giấc ngủ đã đời.

***

Nó thức giấc trời đã sáng bạch, ngó qua nó lại nhà không có ai, chạy ra sau vườn ba nó đang cuốc lỗ còn má và chị cùng anh bỏ phân bò, phân bò chú Chín chia lại xài, rồi tỉa hột trồng bắp như hồi còn ở quê Quảng Nam. Nó cũng chạy theo phụ bỏ hột bắp giống, mỗi lỗ ba hột cho ra ba góc, người đi sau lắp đất là xong. Đang tỉa bắp nghe tiếng rét rét của con dế trống gáy một tràng dài từ phía ruộng đất cày ải, nhìn qua đó thì có mấy đứa trạc trạc tuổi nó đang dò dẫm theo tiếng gáy lật đất dưới đó, nó len lén phóng đi nhập bọn cùng và bắt được con dế than to bằng ngón út trên lưng có vân tròn tròn rất đẹp, mấy đứa kia đứa bắt được một hai con, dế than dế lửa rồi xúm lại bứt tóc quay dế mòng mòng cho hăng lên mà đá tới tấp, con dế của nó có lúc thắng lúc thua, mấy đứa kia cũng vậy, có con dế ban đầu hùng hổ phùng cánh gáy vang trời, xáp lại mới đọ càng là quay đầu chạy mất tiêu, có con nhỏ xíu kêu dế ốc tiêu mà lỳ đòn bị con lớn đẩy lui miết nhưng không buông mà nghiến càng, nghiến riết làm con kia cuối cùng phải bung, mấy đứa nói bị ê càng rồi, vậy mới biết đâu phải nhỏ thua và hùng hổ hù dọa là thắng hết đâu. Buổi trưa nghỉ hai anh em đi bắt dế đá tiếp. Vừa bắt nó vừa hỏi anh nó:
“Anh ơi, ủa dế ở đâu ra vậy, sao mới hôm qua chưa mưa có thấy gì đâu?”.
Anh nó lắc đầu:
“Tao cũng hổng biết nữa, chắc dế là loài lớn nhanh như thổi, qua một đêm có nước là lớn lên”.
Nó gục gật:
“Chắc vậy quá, chớ ở đâu”.
Đá dế vui thiệt là vui, thắng thua đứa nào cũng hớn hở bình phẩm con này bình phẩm con kia.
Năm ngày chẵn mới xong tỉa bắp tính ra được năm sào. Trong năm ngày có vài cơn mưa nhỏ. Năm ngày sau nữa cũng có xen kẽ mưa rỉ rả. Cả nhà trồng khoai, ba má nó vun vồng, mấy chị xẻ rãnh trên giữa vồng bỏ phân và trồng từng khúc dây khoai lang đã bức trụi lá xuống chừa một đoạn ngóc đầu để nức lên, dây giống khoai lang phải chạy xuống chợ mua. Năm ngày nhưng chỉ được một sào đất, vun vồng khoai lâu hơn nhiều cuốc lỗ tỉa bắp.
Một cơn mưa lớn nữa đổ xuống, đất ruộng nổi nước ngập mắt cá chân. Ba nó ngừng trồng khoai, đi mướn người về bừa ruộng cho bằng phẳng, bừa đất nổi sình hai ngày là xong, trong khi đó ba nó lấy lúa giống ngâm nước rồi vớt ra ủ cho lúa nức mộng, mất ba ngày, rồi đem ra vừa đi quanh ruộng vừa bốc từng nắm lúa bung tay rải đều khắp mặt đất, kêu là sạ lúa. Gieo lúa thì đất khô và bừa lại lần nữa cho đất lấp lúa. Và làm mấy cái bệu giả người bằng rơm trên đội cái nón lá hư rách để đuổi chim ăn lúa, hai anh em bắt chước làm thêm mấy cái cho mặc thêm áo quần rách bay phần phật trong gió cắm dọc dọc dưới ruộng.
Sạ lúa xong quay lại tiếp tục trồng khoai lang và trồng khoai mì. Hai sào khoai lang nữa còn lại hai sào khoai mì. Khoai mì cũng vun vồng nhưng không xẻ rãnh, cuốc lỗ khoảng cách bốn năm tất trên giữa vồng bỏ phân và trồng hom mì xuống, hom mì là thân cây khoai mì chặt từng khúc cỡ gang tay, trồng lấp đất hơn nửa hom còn nửa hom lồi lên trên, nhánh nức từ hom bên trên thành thân lá, hom dưới đất ra rễ sau một số rễ lớn thành củ, hom mì khô đét tưởng như đã chết vì để mấy tháng nắng vậy mà trồng xuống vẫn sống ngon lành. Trồng khoai lang khoai mì đợt sau phải kêu thêm nhân công nên nhanh hơn. Đến lúc này bắp đã lên được gần gang tay, khoai nức nức lá non. Hết trồng khoai thì tiếp tục dãy cỏ bắp. Vừa dứt tay làm cỏ bắp dây khoai lang cũng vươn bò bằng gang tay phải xới vồng cho tơi đất để dây bò tươi tốt. Làm cỏ bắp, xới vồng khoai xong nó tưởng là được nghỉ nhưng đâu có, lúa lên cao và cỏ cũng theo lên vậy là làm cỏ lúa, dặm lúa, nhổ những chỗ lúa dày dặm lại chỗ thưa.
Một bữa chú Chín ghé chơi, hổm rày chú ít ghé như hồi mùa nắng, cạn chung rượu với ba nó, chú cười khà:
“Đi ngang thấy bắp lúa khoai gì của anh cũng xanh tốt, mừng cho anh lắm”.
Ba nó gật đầu:
“Cảm ơn chú, nhờ chú chỉ bảo với nhờ trời thương, hy vọng có cái ăn”.
Chú Chín tiếp:
“Trời này tui bảo đảm là trúng, dư dả, à mà anh nghe gì chưa?”.
Ba nó hỏi lại”
“Bữa giờ đâu có ngơi tay, lo đất cát đâu có để ý vụ gì, tin gì vậy chú”.
Chú Chín chậm rãi:
“Cũng hông có gì ghê gớm, lâu rồi hồi tháng hai lận mà giờ tui mới biết, giờ nhiều tỉnh gộp chung lại với nhau, như Thuận Hải là từ Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy làm một”.
Ba nó nói có vẻ ngạc nhiên:
“Gộp chung nhiều hén, rộng dữ ha”.
Chú Chín Gật đầu:
“Rộng dữ à, có tỉnh trải dài hơn hai trăm cây số gần ba trăm cây dọc theo quốc lộ, chưa tính chiều ngang”.
Ba nó đưa ly cụng tiếp:
“Mà thôi kệ, mấy ông lớn tính gì làm gì là việc của mầy ổng, mình lo ruộng rẫy”.
Chú Chín đồng tình:
“Anh nói đúng, nghe chơi vậy thôi chớ, mình lo mần ăn là chính”.
Đêm sáng trăng vằng vặt, vang vang tiếng gõ đì đùng của những người tranh thủ làm nhà ở gần kề, cách độ chừng một tuần hay nữa tháng là có gia đình chuyển về, xung quanh mọc thêm rất nhiều nhà, ở cạnh mặt đường như nhà nó và cả bên trong, kêu là xóm trong. Cạnh bên khoảng năm chục mét là nhà dì dượng Ba Ninh, có đứa con trạc tuổi nó, bên này cũng khoảng năm chục mét là nhà chú thím Bảy Hảo làm xong nhà có treo lủng lẵng đồ tạp hóa để bán, mua gì ít ít xài liền như mỡ heo chiên cá, tiêu ớt, bột ngọt, bịch xà bông nhỏ giặt đồ… thì má nó sai nó qua nhà thím Bảy mà mua. Chú Bảy người mập mạp, da trắng kêu có gốc người Tàu ở thị xã mới lên. Thím Bảy Hảo có hai đứa con gái cùng trạc lứa, bữa nào mua đồ vắng chú thím nó ghẹo hai đứa này theo cách nói tốt tốt của người Tàu, đưa ngón tay cái lên, “hảo, hảo” làm hai đứa tức anh ách nhưng không làm gì được.
Bắp được hơn tháng lên cao sáu bảy tất là đến lúc cho phân u rê vô gốc và vun gốc để chống úng nước và cũng chống đỡ ngã khi bắp lớn. Độ gần hai tháng bắp trổ cờ trên ngọn rồi vụt lớn nhanh thấy rõ, cao ngang người lớn sau đó chỗ bẹ lá sát thân và ở khoảnh giữa cây ra bông chàng màu trắng trắng pha xanh xanh non mướt như những sợi tơ. Thường mỗi cây cho ra hai bông chàng nhưng cũng có cây ra một hay ba, bông chàng là phần trên đầu của trái bắp khi bắp trái lớn dần bông chàng cũng dần khô chuyển màu nâu thành râu bắp, râu bắp nấu nước uống rất mát. Bắp trái tượng hột ăn được cỡ chừng hai tháng rưỡi, già dần dần cho tới khi khô là ba tháng chẵn. Khoai lang thời gian cũng ngang ngang vậy, hai tháng rưỡi là củ ăn được, lớn hết cỡ là ba tháng. Còn khoai mì thì dài ngày hơn nhiều, gấp đôi lận, sáu tháng luôn nhưng muốn để lâu nữa cũng được. Lúa ba nó chọn giống dài ngày Nàng Yếu và Nàng Sậu cũng sáu tháng đúng mới cho lúa chín bởi ai cũng nói hai giống này thơm ngon hết ý. Lúa thì rải phân bò trước tiên rồi tới hai lần phân u rê, lần cuối là lúc lúa sắp trổ đòng đòng.
Bắp trái chín ăn được, kêu là bắp tươi thì ba má nó chặt cỡ một nửa, hai sào rưỡi, chặt đổ một đống to tổ chảng trước sân rồi kêu người vô bán, phần còn để lại cho khô lấy hột ăn dần. Bắp tươi sáng sáng luộc một nồi to ăn thay cơm, bắp hột dẻo và ăn liền nên rất ngon và ngọt sớt. Có những bữa trời mưa dầm dề không ra đồng ra vườn làm gì được thì đội mưa bẻ mớ bắp vô nướng lửa than lăn nước mắm mỡ hành thơm phức, nóng hổi và béo béo vừa gặm nhai sột soạt vừa ngắm mưa ấm lòng và sướng rơn. Bắp khô lẩy lấy hột rang trong cái trả bằng đất với cát nổ bung lốp bốp rồi lấy cái rổ lỗ nhỏ sàng cho cát rớt hết, cũng rưới nước mắm mỡ hành nằm ngửa người múc nhai rọt roạt cũng đã đời những ngày mưa. Bắp hột còn hầm ăn thay cơm cũng ngon chán, hầm mắc công hơn, nước đầu hầm bắp với một chút vôi sống, mấy tiếng đồng hồ bắp nở toe toét thì cho ra rổ chà cho tróc mày, tróc lớp vỏ ngoài, còn hột bên trong trắng bóc, nấu tiếp vài tiếng nữa bắp ra nhựa dẻo và mềm là ăn được, bắp hầm ăn với muối mè muối đậu thì khỏi chê và còn ăn cả với cá kho. Cá tôm, đồ biển thì có quanh năm nhưng trúng mùa thường cũng vào mùa thu hoạch vụ đầu của nhà nông, cá nục cá mòi, cá trích cá ve… ê hề dưới thị xã chở xe xe lên bán nườm nượp, những chiếc xe lam chạy giòn tan không nghỉ, cá rẻ như cho thì mua tạ tạ mà muối mắm. Cây bắp không có bỏ, cây bắp tươi bò rất thích ăn, nhiều quá thì đào cái hố rộng dồn xuống cùng cỏ lá cho mục tơi hết làm phân xanh bón lại đất trồng, cây bắp khô chất đống đốt lấy tro trộn chung phân xanh phân bò làm phân rất tốt.
Bình thường chẳng thấy đâu, tới mùa bắp chín thì bỗng xuất hiện từng đàn chim két ào ào kéo về, chim két màu xanh lá cây lấp lánh mỏ vàng, đàn hợp đông không đếm nổi tạo thành một mảng xanh điểm vàng rất đẹp mắt nhưng chỉ cần sà xuống một chút là y như rằng cả một đám bắp còn xơ xác cùi bắp liền, trái bị đàn chim mổ te tua, mổ thiệt là lẹ làng. Anh em nó trở thành… “hiệp sĩ” đuổi chim, la hét khản cổ nhiều ngày liền, lúc không thấy bóng dáng đàn chim thì tìm cào cào châu chấu bắt để nướng nhâm nha cũng ngon lành.
Dây khoai lang độ hai tháng là bò dài sải tay, tẻ nhiều nhánh kín mít hết vồng, phải cắt tỉa bớt chớ không khoai nó hức cứ bò nuôi dây mà chẳng thèm ra củ. Cắt từng đoạn chừng một thước bó thành bó vừa cầm, chiều chiều má nó lấy xe Mobylette chở cỡ hai chục bó xuống chợ bán vậy là có tiền chợ, dây khoai người ta mua về cho heo ăn. Nhà nó lúc này cũng nuôi một cặp trong cái chuồng hình chữ nhựt gát cây cỡ bắp chân chồng qua gối lại để có thịt ăn Tết, thêm hai bầy gà, cho gà ăn bắp hột và nó tự bươn chải bươi móc kiếm côn trùng ăn thêm. Khoai lang có cũ ăn được thì đào nấu ăn dặm buổi sáng, bán củ tươi, nhiều quá thì làm cái bàn xắt, xắt thành lát mỏng như đồng tiền phơi khô để dành hầm ăn sáng, khoai lang khô hầm với đường tán.
Cuối tháng sáu tính theo lịch Ta, bắp và khoai thu hoạch xong hết, ngoài tiền bán ra bắp khô được năm tạ hột, khoai lang khô được hai thùng phuy. Ba má nó làm một bữa tiệc kha khá, mời bà con lối xóm và mấy người xóm trong mần công phụ, dĩ nhiên có mặt chú Chín. Má nó mua được cái đùi nai to và hai con thỏ rừng mỗi con cỡ tới bốn ký lô thêm mấy cặp chim cu đất mập ú của mấy người thợ săn. Thú rừng còn nhiều vô kể, bước tới bìa rừng là đã có gà thỏ sóc nhím… khỉ thì đi thành đàn leo trèo chạy nhảy trên những cây cao to như cây thị, cây da… mùa nắng đi lấy củi dọc đường có khi thấy dấu chân còn in của con trút (tê tê) lần theo một hồi là bắt được, bắt trút dễ như chơi, chỉ cần cành cây cứng chắt chọt vào giữa mình là nó cuộn tròn quanh cây cứng ngắt vậy là xách về, trút thịt ăn là loại nhứt, muốn săn heo nai, bò đỏ* (*đỏ – mang, mễnh) thì đi xa hơn một chút, có người còn đi săn cả cọp beo trong rừng già cách làng chừng chục cây số.
Mấy cặp chim nhổ lông rồi ướp muối ớt nướng thơm lừng, thỏ rô ti còn đùi nai má nó nấu cà ri. Bà con lối xóm đến đông đủ. Đàn bà con gái tới rất sớm phụ nấu nướng. Những người đàn ông tề tựu trên bộ phản, nâng ly rượu nếp ba nó nói:
“Nhờ Trời, vụ vừa rồi cũng thu được kha khá, tui trước nhứt cảm ơn chú Chín rất nhiều, sau cũng cảm ơn bà con cô bác đã giúp đỡ, bữa nay mời anh em bà con làm bữa thoải mái, không say không về”.
Ai nấy hà hà cười, cụng ly côm cốp, chúc mừng ba nó rôm rả. Người nói trúng mùa quá, dư ăn dư để là cái chắc, người nói Trời không phụ lòng người siêng mần ăn… Chú Chín đại diện cảm ơn lại ba má nó đã mời bà con. Nhâm nhi một hồi thì chú Tư râu rót đầy ly đưa lên rồi nói với ba nó:
“Tui mời anh ly này, cảm ơn anh nhiều, gia đình tui lùm đùm lề đề vợ con mới lên không còn đồng bạc dính túi, may nhờ có anh chị giúp làm công lại được anh chị cho mượn trước tiền nên không đói chớ không biết ra sao, mong anh chị kêu tụi tui nữa nghen”.
Chú Ba bừa cũng nói:
“Anh cũng đừng quên thằng em này hén”.
Mấy chú nữa cũng nói giống giống vậy.
Ba nó phẩy tay:
“Có gì nhiều nhặn đâu chú Tư, mấy chú, lối xóm bà con giúp nhau là thường tình, còn chuyện công cán, mấy chú phải giúp tui tiếp chớ, hổng giúp ai giúp tui đây” – Ba nó cười hề hề rồi tiếp: Qua bữa nay là tiếp tục, đất trồng bắp thì giờ trồng khoai, còn trồng đậu xanh đậu đen, còn đất trồng khoai thì trồng đậu phộng như ý chú Chín làm quân sư”.
Chú Chín cười hà hà:
“Biết chút gì nói chút đó chớ quân sư gì anh”.
Nghe ba nó nói mấy chú mắt sáng lên, mừng rỡ, hết lo sợ thất nghiệp. Ba nó nói tiếp:
“Phía xóm trong tui thấy đất cát cỏ lau còn ê hề, rảnh rỗi mấy chú nên khai hoang, mùa tới có cái mà mần”.
Chú Tư râu gật đầu:
“Tui cũng tính vậy, có gì nhờ anh chị hỗ trợ thêm cái ăn” – Chú cười.
Mấy chú kia gật gù theo, ba nó cũng gật đầu:
“Thì mấy chú giúp tui, tui giúp lại chớ có chi”.
Cạnh bên thì má nó và các dì các chị cũng xào xạc vừa cầm đũa vừa trò chuyện trên chiếc chiếu trải giữa nhà, con nít tụi nó sáu bảy đứa cũng có một mâm riêng ăn căng đầy bụng, còn xôi gà và chè đậu xanh đánh không đụng tới nổi.

***

Ngay ngày hôm sau, sau bữa tiệc, cả nhà và mấy chú làm công mướn tiếp tục vụ tiếp. Đất trồng bắp thì tém nhưn thành hàng dài rồi vun vồng trồng khoai lang, trồng ba sào. Phần hai sào còn lại dãy cỏ bang đất vun gốc bắp cho bằng phẳng rồi cuốc lỗ bỏ phân tỉa đậu xanh và đậu đen. Đất trồng khoai lang thì bang cho bằng phẳng rồi cuốc lỗ bỏ phân tỉa đậu phộng. Lưỡi cuốc lỗ tỉa đậu nhỏ chỉ bằng nửa lỗ tỉa bắp, đậu xanh đậu đen cách khoảng chừng hai ba tất, đậu phộng thì kề bên nhau.
Tỉa đậu phộng cuốc lỗ sát bên nhau mà một lưỡi cuốc nhỏ thì quá nhẹ, ba nó sáng kiến đặt chú thợ rèn làm cái cuốc có ba lưỡi, cuốc một lần được ba lỗ nhanh gấp ba lần cuốc một lưỡi. Chú Tư râu cầm cái cuốc vừa tay rất ưng ý:
“Anh Hai sáng kiến ghê, cầm cái cuốc nhẹ hều một lưỡi khó làm quá, cuốc này đầm mới đã lại nhanh nữa, chắc mai mốt anh có nhiều sáng kiến nữa đây”.
Ba nó cười:
“Tui nghĩ rồi, mần ăn khấm khá tui có thêm vốn liếng sẽ sáng kiến thêm máy móc cho bà con ta đỡ cực, khai hoang đất cát làm nhiều thêm”.
Chú Tư gật gù:
“Anh nói chí phải”.
Nhờ có mấy chú làm công nên lúc này má nó và các chị chỉ làm những việc nhẹ, bỏ phân, tỉa hột, trồng dây khoai lang… Đậu cũng cỡ như bắp, một tháng sau lên độ gang tay là dãy cỏ, vun gốc. Đậu xanh và đậu đen cao hơn đậu phộng, cây đậu đen là cao nhứt, trung bình cao bốn năm tất, rồi tới khoảng tháng rưỡi là trổ bông bắt đầu kết trái, hai tháng rưỡi ba tháng là trái chín cho hột, cũng là đậu nhưng đậu phộng ra bông vàng dưới gốc và cho củ dưới đất.
Mấy sào đậu nhà nó trồng cũng lên xanh um, đẹp hết biết.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

TÔI THẤT BÁT NÊN GIEO LỤC BÁT

truongdinhtuan

chầm chậm lại có chi mà vội
cỏ nương thơm còn nấn ná bóng chiều
giấc tục tử bên triền mơ mây ngũ sắc
tỉnh lại rồi khố rách vẫn ngạo khinh

hãy ve vuốt nhánh trần ai quá đổi
vết roi mưa quất mặt lạnh như tờ
mảnh trăng thượng nâng nguồn lên chót vót
thân ngựa về ngậm tăm đêm mơ

chầm chậm lại hơi đâu mà vội
giấu chiều vào đâu hoa cỏ đong đưa
dòng sông đẹp còn làm tình làm tội
giấu vào đâu ướt át những cơn mưa

tâm tưởng nọ mơ hồ nơi khởi sắc
vẫn chân trời lạ quá mùa hoa
tôi thất bát nên gieo lục bát
xuống đồng xưa rơm rạ dấu ai qua

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN