HƯ ẢO TÔI : Mục Lục

Trong ” 6 Năm Tình Nghĩa Đôi Lời” nhà phê bình Trần Trung Tá đã viết:
…tập thơ Hư Ảo Tôi, phải nói rằng đây là món quà không chỉ là món quà văn nghệ mà hơn thế nữa, nó là món-quà-văn-hóa. Tôi tin khi cuốn Hư Ảo Tôi đến tay bạn đọc, bạn có một lúc hai món quà;  Một là Tập Thơ…đúng là Tập Thơ, Hai là thấy cái nằm trên tay bạn là Trái Tim của một người Vì Thơ Mà Có, Bởi Thơ Mà Làm, Cho Thơ Tất Cả!…
Và là một tập thơ nặng kí cả nghĩa đen lẫn bóng…

MỤC LỤC:

NGUYÊN SA/2/Hư Ảo Trăng
TRẦN TRUNG TÁ/5/Đôi Lời Thắm Thiết
ÂU THỊ PHỤC AN/9/Phố/Tìm Suối Nguồn
BÙI DIỆP/12/Người Hẹn Trăm Năm/Những Ngày Xưa Thật
Là Xưa
CAO VĂN TAM/15/Chia Tay/Tiễn Đưa
CHIÊU ANH NGUYỄN/18/Những Ngày Không Trở Lại/Giấc

CHIM HẢI/21/Mời/Trả Lời
CHU THỤY NGUYÊN/24/Lúc Tôi Rót Nắng Vào Ly/Đêm
Violin Xanh
DAO LAM/27/Thả Nắng/Rờn Rợn Khóe Cười
DU LÊ HUÊ/30/Huế Say/Ngày Thứ Tám
DU NGÃ/34/Thơ Ngày Cũ/Tìm Nhau
DŨNG KQD/37/Đừng Hỏi Nữa Con Ơi!/Buổi Sáng Đà Lạt
ĐẶNG KIM CÔN/40/Lốc Đời/Những Hàng Ghế Trống
ĐẶNG PHÚ PHONG/43/Đồi Lạc Gió/Đồi Tây Hay Đồi Đông
ĐỖ TẤN ĐẠT/47/Trả/Nợ
H. HIẾU/49/Căn Phần/Trưa Nắng
HẠ QUỐC HUY/54/Lệ Trong Mắt Phượng/Xa Rồi Trăng Lay
Tóc Rối
HẠC THÀNH HOA/59/Điệp Khúc Buồn Trong Quán Cà Phê
Màu Vàng/Ngồi Dưới Trăng Tan
HIỀN MÂY/63/Về Cùng Em/Ngủ Đi
HỒ CHÍ BỬU/66/Lặng Lẽ Mùa Đông…/ Người Sắp Về Chưa?
HỒ VIỆT KHUÊ/69/Sương Khói Đa Mi/Quán Chân Núi
HOA NGUYỄN/72/Lời Tình Vừa Lỗi/Hạt Tai Ương
HOÀI KHANH/76/Sẽ Là Gì Trong Một Kiếp Xa Xôi
HOÀNG CHẨM/79/Lạ Thường/Còn Một Chỗ Trống
HUỲNH DUY LỘC/82/Không Tan Kỷ Niệm
HƯ VÔ/84/Thu Nguyên Màu Bao Dung/Ngày Cũ
HUY TƯỞNG/87/Chim Mùa Xuân Bay Về Lối Thu
Không/Người Yêu
KHA LY CHÀM/91/Tháng Sáu và Kỷ Niệm/Ẩn Dụ Đêm
KHA TIỆM LY/94/Nhỏ Bạn Ngày Xưa/Tình Nhạt
KIM VÔ VỌNG/97/Cau Cay
LÂM HẢO DŨNG/99/Cảm khái khi về núi/Sương Lạnh Miền
Cao Gọi Nhớ Rừng
LÊ HÁT SƠN/103/Chiều Serenade/Riêng Em Ngày Chở Nắng
LÊ PHÚ HẢI/107/Về Phương Nam/Điệu Buồn Tráng Sĩ
LÊ SA/111/Chiều Phan Rang Nhớ Khói Ba Vì/Nhớ Nhớ Quên
Quên
LÊ TRUNG TÍN/114/Sau Cơn Say/Về
LÊ VĂN HIẾU/113/Tinh Khôi
LÊ VĨNH TÀI/119/Không Đề Sáu Chữ/Thơ Bây Giờ Của Con
LINH PHƯƠNG/122/Như Bóng Mây Bay Cuối Trời Thương
Nhớ/Đêm Ngủ Tôi Mơ
LƯU XÔNG PHA/125/Đừng Treo Tim Lên Cành Cây Thương
Nhớ/Ta Ném Hết Đời Thơ Vào Ngọn Lửa
MAI THANH VINH/128/Phía Buồn/Chiều
MAI VIỆT/131/Vô Dinh 1 Nghe Tiếng Lăn Trầm/Gởi Lại Phan

MỘC MIÊN THẢO/135/Vọng/Hỏi
MƯỜNG MÁN/139/Về Bên Cổ Thành/Qua Mấy Ngõ Hoa
NGÔ TỊNH YÊN/143/Những Ngón Tay Ký Ức/Đừng Khóc Tôi
Ơi
NGÔ YÊN THÁI/146/Trăng Rơi Cuối Bãi/Bất Tận
NGUYÊN VI/149/Cõi Xưa/Đà Lạt
NGUYỄN AN BÌNH/152/Tháng Năm Hoa Tím Lại Về/Hạt
Bụi Nghìn Trùng
NGUYỄN BÁ TRẠC/155/Thoại Châu, Tôi Biết Trời Chưa
Sáng/Quê Mẹ
NGUYỄN BẮC SƠN/159/Một Ngày Nhàn Rổi/Nhắc Đến Ma
Lâm
NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH/163/Cuối Năm Chia Tay Huế/Sợ
Một Ngày Mưa
NGUYỄN ĐÌNH BỔN/166/Biền Biệt/Vết Cắt
NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN/169/Cùng chút Bụi Bên
Đường/Hương Cau
NGUYỄN HẢI THẢO/172/Như Khói Sương Bay/Như Lá
Ngậm Ngùi
NGUYỄN HÀN CHUNG/176/Biết/Gió Mồ Côi
NGUYỄN LÃM THẮNG/179/Một Ngày/Sông Trăng
NGUYỄN LIÊN CHÂU/183/Long Đong Y Bát/Trương Chi Dị
Khúc
NGUYỄN MINH PHÚC/186/Bóng Tàn Phai/Bóng Tối Không
Lời
NGUYỄN NGỌC NGHĨA/190/Thu Nào Xưa Hở Em/Mưa
Lập Đông
NGUYỄN NHƯ MÂY/193/Không Đề/Bước Xuân
NGUYỄN QUANG TẤN/196/Dạo Khúc 27/Dạo Khúc 50
NGUYỄN TAM PHÙ SA/199/Hai Nửa Huế/Bài Thơ Thứ Nhất
NGUYỄN TẤN CỨ/202/Niệm/Chia Đời Nhau Nhé
NGUYỄN THÁI BÌNH/205/Mùa Thu/Lục Bát Rơi
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH/210/Đêm/Ngày
NGUYỄN VÂN THIÊN/214/Huế Mười Năm Xa/Tương Tư
Kinh
NHÃ MY/217/Mười Năm/Biển Đêm
NP PHAN/217/Chưa Phai Bờ Áo Nguyệt/Biệt Khúc
PHÙ DU/225/Buổi Phai Sương/Bên Này Bên Kia
PHẠM HỒNG ÂN/228/Dọn Chỗ Cho Phiên Khúc Gãy/Tháng
ba, ký ức Sài Gòn
PHẠM KHÁNH VŨ/232/Tôi Sẽ Là Tôi?/Tôi Nói Với Chiêm
Bao
PHẠM NGỌC LƯ/235/Huế Ngày Về/Thuyền Quyên
PHẠM NGŨ YÊN/239/Viết Cho Tháng Mười Hai Sắp Hết/Tạ
Ơn Một Tình Yêu
PHẠM QUANG TRUNG/244/Trầm/Ghé Thăm
PHAN ANH DŨNG/248/Tiếng Xuân/Quán Không
PHƯƠNG TẤN/251/Ở Huế Nhớ Phương/Chờ Đến Thiên Thu
Một Bóng Người
PHƯƠNG UY/255/Phong Linh Trắng/Thất Lạc Trăng
QUAN DƯƠNG/258/Đêm Trở Nhớ/Chiếc Xương Lá
RÊU/261/Chọn/Chiều Nay Xuống Phố
SƯƠNG NGUYỄN/264/U Uất/Tôi Muốn
TẠ CHÍ THÂN/267/Giang Hồ/Đừng
TẠ VĂN SỸ/269/Gọi
TÂM NHIÊN/271/Nước Chảy Mây Trôi/Mây Trắng Ca
TẦN HOÀI DẠ VŨ/274/Hẹn Về Với Huế/Đêm Giáng Sinh
TÔN NỮ THU DUNG/277/Vọng Âm Buồn/Khúc Tặng Doanh
Doanh
TÔN NỮ THU NGA/280/Ngọc Lan Hương/Niệm Khúc
TÔN PHONG/283/Từ Chối/Không Có Gì
TRÂN SA/286/Dặn Bàn Tay/Nghĩ Tới
TRẦN ANH/289/Nát Mùa Trăng Hung Bạo/Bên Mùa Ve
Năm Cũ
TRẦN BÁ NGHĨA/292/Tà Hoa
TRẦN DZẠ LỮ/294/Qua Đèo Hải/Cà Phê Ở Tôn Nữ Viên
TRẦN HỒ DŨNG/297/Em Và Tôi/Ngủ Bên Chân Mẹ
TRẦN HOÀI THƯ/300/Xa Lạ/Cuối Năm Bên Dòng Sông
Hudson
TRẦN HUY SAO/303/Diều Giạt Gió Đưa/Dẫu Một Đời Phiêu
Bạt
TRẦN HUYỀN THOẠI/307/Lang Thang Khói/Thắp Sáng
Cánh Rừng Thơ
TRẦN NGỌC HƯỞNG/310/Sương Khói Lặng Thầm/Giạt
TRẦN THIÊN THỊ/313/Ngày Thu Cuối Cùng, Chén Rượu Cuối
Cùng/Gởi Cho Thu Thảo
TRẦN THOẠI NGUYÊN/317/Cõi Tàn Phai/Đà Lạt, Hoa
Phượng Tím
TRẦN TRUNG ĐẠO/320/Đêm Ngồi Nghe Tiếng Chim Trên
Biển/Xuân Đất Khách
TRẦN TUẤN/323/Nơi Tôi Ở/Nếu…
TRẦN VĂN NGHĨA/326/Tôi Ngồi Ở Đó/Tháng Chạp, Đà Lạt
Và Em
TRẦN VẤN LỆ/329/Nửa Đêm Về Sáng/Ngủ Đi Chàng Lính
Xưa
TRẦN VIẾT DŨNG/332/Cỏ Xanh/Gái Bình Định
TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG/335/Hoa Cẩm Chướng Trên
Bàn/Lục Bát
TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN/339/Phố Núi Hoài Mây Bay/Câu Thơ
Phượng
TƯƠNG GIANG/342/Ngược Nguồn Nhớ Quên
VĂN CÔNG MỸ/344/Tắm Trăng/Hóa Thân vào ”Tình Nghệ
Sĩ”
VÕ DUY CHUNG/347/Mùa Trăng Sáng/Những Đoạn Rời
VŨ ĐÌNH HUY/350/Doanh Doanh/Đoản Khúc
VŨ NGỌC GIAO/353/Phố Và Trăng/Đâu Đó Một Làn Hương
VŨ TRỌNG QUANG/356/Maria Nguyễn/Cuối Đường
YÊN HỒNG/359/Mật Ngôn/Thấu Cảm

MÙA XUÂN THẠCH THẢO

 

Một chiều phố lạ nhiều sương khói
Viễn du không hẹn giữa ngày xa
Ta bỗng lạ chưa lời sông vắng
Sông chửa mưa về sao mù sa

Sông chưa về lại nguồn thăm thẳm
Rừng ở nơi nào suối tịnh ngôn
Bàn chân bước mỏi trăm miền gió
Rêu bám đời dài nhớ muôn phương

Mùa xuân áo mới chừng thạch thảo
Ta nghe đâu đó tuổi thu về
Tóc dài tà lụa sân trường vắng
Mùa hạ xanh giòn trăm tiếng ve

Mùa tôi tám hướng xa xa lắm
Xuân chẳng còn xuân hạ thôi hồng
Chiếc lá vàng hơn chiều đông nắng
Cội bàng già góc phố bâng khuâng

Mùa tôi yêu quá vòm sao nhỏ
Sao của đêm nào sáng dạ hương
Mùa tôi xuân biếc dài con nước
Qua cầu phố rộng hướng trùng dương

BÙI DIỆP

Lời Cảm Ơn

LỜI CẢM ƠN

Thơ là tiếng nói nội tâm riêng biệt của mỗi người nhưng sự tao nhã và thanh khiết là điều không thể thiếu trong thơ,  dù thế…
… Xin đừng ai khoác vào thơ ( và người làm  thơ) một sứ mệnh lớn lao nào cả! -Theo tôi- Thơ chỉ cần có một nhiệm vụ nhỏ bé duy nhất là làm một dòng suối mát trong veo để người lữ khách lạc loài trong sa mạc cúi xuống, vốc lên một ngụm … thế thôi!

HƯ ẢO TÔI, là tập thơ kỷ niệm TUONGTRI.COM bước vào năm thứ 6 gồm 200 bài thơ của 109 tác giả ” tâm phúc ruột rà” với Tương Tri trên đoạn đường dài gập ghềnh đầy hoa cỏ và nhiều gai góc  đang được các bạn cầm trên tay. Mong rằng nó sẽ đem đến cho các bạn yêu thơ một niềm tin thuần khiết về cái đẹp muôn đời.
Thay mặt Nhóm Chủ Biên TƯƠNG TRI xin gởi đến các bạn thơ của chúng tôi  niềm cảm kích.

HẠT CÁT

 

 

Từ vô lượng biển sông
Đến sa mạc mênh mông
Đâu đâu cũng là cát
Có có mà không không!

Tôi đi suốt cuộc đời
Chân cát bụi muôn nơi
Linh hồn và thân xác
Như phận cát nổi trôi.

Tôi đi cùng biển dâu
Như hạt cát không màu
Sáng mai mặt trời mọc
Đêm tàn vầng trăng thâu.

Đắm trong cõi vô minh
Cát hằng hà lênh đênh
Bão giông chìm đêm tối
Nắng lửa hồng thủy tinh.

Tôi nghe lời cát ru
Cùng sóng biển thiên thu
Đời người như tia chớp
Giữa luân hồi âm u!

Ôi! Cát trắng cát vàng
Hồn vũ trụ mang mang
Thấy trong một hạt cát
Lấp lánh cả thế gian!

Hạt cát ơi hạt cát
Lấp lánh đẹp vô biên
Trong nhiệm màu phép tắc
Có hồn ai nhập Thiền.

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Giả dụ làm sư

 

Chẳng lẽ nhìn em mãi
người ta sẽ nói mình
sư cũng mê gái đẹp
có khác gì chúng sinh

Nhưng không mê cái đẹp
sao con mắt biết nhìn
sao trái tim biết đập
sao bỗng người run lên

Biết cũng là xương thịt
biết sẽ là tro than
biết thì cũng biết vậy
một sát na quên liền

Sáng niệm kinh Bát Nhã
chiều tụng chú Đại Bi
hiểu vị lai quá khứ
vẫn không sợ A tỳ

Không trách người cởi áo
khóc như mưa rời chùa
bởi vẫn còn lục dục
và thất tình như ai

Ông trời sinh nhan sắc
không lẽ để phí hoài
đàn ông mà nhắm mắt
chắc đàn bà giả trai

Nguyễn Hàn Chung

CHIỀU TÊ MỘNG ĐẦU

truongdinhtuan

trẫm nay đà chán làm vua
rời đền đài bỏ lên chùa tu thân
lá đa chúc tụng hạ thần
tung hê ảo tượng chín tầng mẫu nghi

thôi khanh ở lại cung vì
trẫm nâng chén đánh tì tì đầu non
nguyệt tà soi đỉnh phấn son
lửa đâu mà đượm hương còn hóng hơ?

anh nay đà chán làm thơ
tang tình quẳng chữ i tờ xuống sông
cỏ xanh mớ sợi tơ hồng
khói đâu mà đốt cho đồng bốc hơi

thôi em ở lại chợ trời
xôn xao mấy chỗ đứng ngồi u mê
đường xa mây trắng đi về
dừng chân ngó lại chiều tê mộng đầu

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Ðịnh Nghĩa Khiêm Cung Ðời Lính Chiến

 

 

Tặng Hoài Ziang Duy- Còn không chốn quay về

cũng chẳng buồn và cũng chẳng vui
bước đi so lẽ bước chân lùi
ồ không ,thế kỷ thay màu áo
nhịp võng đời quay mặc cứ quay

muốn hỏi một người không thể hỏi
trời cao ,tay với đã bao lần
vết cắt vẫn làm đau thể trạng
hồ như ung nhọt nở trong tim

ma quái chiều nay gây tắt thở
cơn say dật dưỡng,loạn tiền đình
phút ấy bên kia rừng đạn nổ
một người ngã xuống, bao người lên

im lặng, tưởng chừng như tuyệt tích
hôm nay ai réo gọi hồn về?
định nghĩa khiêm cung đời lính chiến
mất, còn: sáng nắng, tối mưa khuya

mang nặng bao năm vai đá tảng
dật dờ thân xác nát thân tâm
có buổi ngồi ôm cây độc lập
súng quên đành mượn mấy dây đàn

những tưởng ngao du miệt Kiến Tường
lạc đường An Lộc ngắm hoàng hôn
nón sắt ủ ê đời trận mạc
mai về Sa Ðéc, mai còn không?

đêm nghe kiến nhỏ đeo tường vách
lê những đường cong rất gập ghềnh
bố khỉ, cuối cùng đo miệng cốc
ngỡ mình lạc bước đến trần gian

trần gian khuyết sử nằm tung tóe
trăm vạn hùng binh vạch thẳng hàng
chỉ một quân cờ đi lộn nước
bao người chít vội chiếc khăn tang

người đứng như cây bàng núi Két
(núi Sam là chỗ để em ngồi)
những mái chùa cong reo mở hội
(về thôi,đâu đó cũng về thôi)

bản đồ tâm trí chia muôn nhánh
tìm mãi không ra dấu địa hình
chỉ thấy hoang vu chiều gọi gió
một mình đay nghiến nỗi cô đơn

chuyến xe dĩ vãng như đinh nhọn
xuyên suốt lộ trình không đến nơi
dấu hỏi phơi bày nguyên dấu chấm
đường xuôi Mỹ Ðức nắng còn tươi?

trang sách bừng lên sáng góc
đời hãy vui con chữ họa hình vui
có ai trên lối mòn Châu Phú?
nhặt lại thời gian,nhặt tiếng cười…

Lâm Hảo Dũng

TÂY NINH MƯA ĐÊM MÙNG 3 TẾT…

 

 

Mưa hối hả – Mưa lạnh lùng trút xuống
Không thể về trong một trận mưa to
Ta ngồi đó – Im lìm như tĩnh vật
Bên hiên đường một kẻ đứng co ro..

Ta cũng biết ở phương trời xa lạ
Tuyết ngoài kia nhưng mưa ở trong lòng
Đang mùa Xuân không phải là mùa Hạ
Sao em hoài nhớ mãi một dòng sông?

Trời đã trót sinh ta tên lãng tử
Em cưu mang chi cho khổ cả đời
Bên ly rượu ta làm người lữ thứ
Thơ viết rồi – cười – xé giấy đốt chơi

Ta là thế – Em thương chi cho khổ
Gã giang hồ lấy trăng gió làm thơ
Ta là thế – Với em ta là nợ
Gã giang hồ – say – ngồi hát vu vơ…

Hồ Chí Bửu

 KHOẢNG LẶNG CHIỀU CUỐI NĂM

 

Tôi trở về tháng chạp buồn sắp hết 
Trời vào xuân chiếc lá xanh mùa
Ly cà phê góc quán chiều se lạnh
Nhớ thương nào đọng lại chỗ ngồi xưa

Khoảng trống vừa lắp đầy nỗi nhớ
Nhìn phía nào mắt cũng đẫm hoài mong
Em ngày đó tinh khôi vầng mây trắng
Áo đầu năm khoe dưới cánh xuân nồng

Và nơi đây chợt thấy mình cô độc
Vuông thềm trơ viên gạch vỡ sau nhà
Cổng rào thấp nắng thưa giàn bông giấy
Còn em thì về một nơi rất xa

Quỳnh mai nở bay hương từ hôm trước
Nên khói sương lãng mạn đến vô cùng
Mảnh vườn nhỏ xanh chiều ba mươi tết
Tiếng chim nào nghe hót rất bâng khuâng

Trong ký ức tưởng quên rồi năm tháng
Chợt nhớ người chừng như vừa chưa xưa
Đêm lộc biếc quanh sắc màu hương tết
Cùng bên nhau đi dưới bóng giao thừa

Mai đây có một ngày nguyên đán
Hồn đá xanh lăn mãi xuống ngọt bùi
Áo trần gian mặc qua đêm trừ tịch
Chút hương đời thêm một tuổi buồn vui.

Mai Việt

Tân Hình Thức, nhịp đập của thời đại!!??

 

Tân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 «chuyển đổi thế kỷ», và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm 1980 – 1990.Thơ Tân Hình Thức có những đặc tính sau đây:
-Thơ không vần, nhịp điệu hoàn toàn khác với thơ cổ điển, nhưng được trình bày trên trang giấy như một bài thơ truyền thống: nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ;
-Mỗi dòng như thơ cổ điển, gồm 5, 6, thường là 7, 8 chữ (âm), có khi là lục bát, có thể xếp thành khổ 4 (hay nhiều) dòng. Cứ đến số chữ quy định là xuống dòng, không cần tôn trọng cú pháp, ý nghĩa của câu nói. Từ khổ trên xuống khổ dưới cũng vậy, và cứ vậy tiếp tục. Khi có, khi không chấm câu;
-Để xâu kết câu nói, các tác giả thường kể chuyện, chuyện nọ xọ chuyện kia, khi có khi không mạch lạc;
-Từ vựng đời thường, thông tục, có khi tục, của người bình thường sử dụng hằng ngày, trong sinh hoạt cụ thể. Không có mỹ từ pháp cổ điển như ẩn dụ, hoán dụ, biền ngẫu, nhưng có luyến láy để tạo nhịp cho câu nói.

Các tác giả tỏ ra hãnh diện về điều này, là đưa cuộc sống vào thơ, làm sống chất thơ trong cuộc sống, như vậy là cách tân, thậm chí là cách mạng. Nếu không mang được những câu nói thông thường vào thơ thì làm sao mang được đời sống vào thơ? Và nếu không thì làm sao chia sẻ được nỗi vui buồn của mọi tầng lớp xã hội, để thơ trở thành tiếng nói của thời đại[1] .

Trong chừng mực  nào đó, họ có lý. Thơ Tân Hình Thức là một loại ca dao tân thời, không phải thứ ca dao đã trở thành văn học được chọn lọc và giảng dạy ở nhà trường qua lăng kính thẩm mỹ trí thức, mà câu ca dao do người dân quê phát biểu trong đời sống, để sống đời sống hằng ngày. Ví dụ câu ru em này có hai thoại:

Thoại A, gần với thơ Tân Hình Thức:

Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao mô thẳng thì thôi
Tao mô dùi thì sửa lại cho cân

Thoại B, gần với thơ truyền thống:

Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng, tao dùi, tao nhớ, tao thương

Thơ Nôm Nguyễn Khuyến:

Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan thu, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Đây là một bài thơ Đường luật chỉnh chu, thậm chí là sắc sảo trong lề lối của nó. Nhưng đặt ra ngoài niêm luật, thì nó rất «Tân Hình Thức», trong lý tưởng thâm trầm nhất: đưa lời thường và đời thường vào thơ. Cụ Tam Nguyên mà sống vào thời này tí toáy nghịch thơ Tân Hình Thức, e các cụ Đỗ Kh., Nguyễn Đăng Thường phải sĩ khí rụt rè, và cụ Khế Iêm khỏi bỏ công viết cả mấy trăm trang dài thoòng biện hộ cho «hiệu ứng cánh bướm» [2] .

Ngoài ra, theo tôi, người làm thơ Tân Hình Thức đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh, khi năm 1914 ông hạ bút viết câu «Ve sầu kêu ve ve», là Tân Hình Thức hết nấc.

Ngược lại, câu vè dân gian: Nghe vẻ nghe ve /Nghe vè đánh bạc /Đầu hôm xao xác… lại là một câu vần vè cổ điển, gần với thi ca truyền thống.

Nguyễn Văn Vĩnh tiết lộ: trước khi dịch bài ngụ ngôn của La Fontaine, «Con Ve và con Kiến», ông chưa hề làm thơ, nghĩa là chưa tập tành. Câu ve sầu kêu ve ve có lẽ đến tự nhiên, theo ý câu tiếng Pháp, ông Vĩnh không có ý đồ cách tân, tham vọng văn học gì. Nhưng vô hình trung, ông đã thay đổi tương quan giữa thơ và cuộc sống, và bẻ một bước ngoặt trong tâm thức văn học Việt Nam, dù rằng, trong thực tế câu thơ ấy không mấy ảnh hưởng vào văn học. Các nhà thơ sau này mới có ý thức và dụng công cách tân rõ rệt hơn.

Kỹ thuật vắt dòng, hay bắc cầu (enjambement) thường gặp trong Thơ Mới, là một kinh nghiệm tiếp thu từ thơ Pháp, làm nổi bật một từ ngữ, hình ảnh nào đó. Đến Bích Khê (1915-1946) thì lối vắt dòng trở thành một thi pháp toàn diện, có giá trị thẩm mỹ riêng (dùng chữ ngắt dòng có lẽ đúng hơn là vắt dòng) như bài «Duy Tân» (1941):

Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái
Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ
Êm biếc  khóc với thu  lời úa ngô 
Vàng… Khi cách biệt  giữa hồn xây mộ 
Tình hôm qua – dài hôm nay thương nhớ…)

Trong bài tựa Thơ Bích Khê (1988), Chế Lan Viên thừa nhận là do ảnh hưởng thơ Bích Khê, ông đã làm bài «Tập qua hàng»:

Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây
Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
Cũng thêm màu trên cánh đang bay [3]

Bài này chưa «Tân Hình Thức» vì còn vần cây – bay, nhưng vần ở đây, không có tác dụng gì. Bỏ vần đi, thay chữ cây bằng vườn, và xếp đặt lại, ta sẽ có:

Chỉ một ngày nữa thôi em sẽ
trở về nắng sáng cũng mong vườn
cũng nhớ ngõ cũng chờ và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay

Bài thơ dưới dạng này, mà gửi đăng Tạp Chí Thơ thì… tuyệt!

Nói vậy để thấy trong thơ, ranh giới giữa trường phái này trường phái khác, cựu nọ tân kia, không phải lúc nào cũng rạch ròi. Trong tinh thần đó Tân Hình Thức là một biến thái của trường thơ dân tộc; và chúng tôi tâm đắc với Khế Iêm khi anh viết «Nhìn lại mọi thời kỳ, từ truyện thống đến tự do và Tân Hình Thức, Thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của thời đại» [4] . Là một trong những người chủ xướng, có lẽ là người tận tụy nhất với Tân Hình Thức, anh tâm sự: «Mỗi thời kỳ văn học đều có quan điểm thẩm mỹ và giá trị lịch sử của nó, vì không ai có thể phủ nhận. Nhưng có điều nghich lý là tiến trình sáng tạo cũng là tiến trình phủ nhận. Những điều chúng tôi nêu ra trong thơ tiền chiến hay tự do cũng chỉ là thể hiện tiến trình phủ nhận chính mình vì chúng tôi đã từng sáng tác thơ vần điệu và tự do trước khi chuyển qua Tân Hình Thức  [5] » (Khế Iêm đã xuất bản hai tập thơ là Thanh xuân, 1992 và Dấu quê 1996, làm theo thể tự do).

Ngay ở Hoa Kỳ, Tân Hình Thức cũng là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thập niên 1980 dưới dạng Neo Formalism. Đến 1996 mới có 25 nhà thơ ra mắt dưới danh xưng New Formalism như hiện nay, với tập thi tuyển Những thiên thần nổi loạn [6] . Nhưng dường như thơ Tân Hình Thức lại bắt nguồn từ Pháp, từ thi phẩm Jean Ristat, Từ khúc giục mùa xuân rảo bước, đăng nhiều kỳ trên báo La Nouvelle Critique giữa 1977-1978. Thể thơ thông dụng ở Pháp là Alexandrin, 12 chân (âm) và tiếng Pháp đa âm. Tác giả cứ mỗi dòng 12 chân thì xuống hàng, bất chấp cú pháp và từ vựng. Đỗ Kh. đã dịch bài thơ dài này, cũng bằng cách xuống dòng, dưới dạng lục bát, có lẽ vì nó «dân tộc»: đến chữ thứ sáu thì xuống dòng tám chữ, cứ như thế… như thế suốt non một ngàn câu [7] . Bản dịch có trích đoạn đăng rải rác trên các báo như Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, số 2 (1994), số 18 (2000). Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường, ở Luân Đôn, hợp tác vào bản dịch, tâm đắc và cao hứng làm một bài thơ dài, 31 khổ 5 câu, cũng theo lối xuống dòng Tân Hình Thức, nhưng chọn thể thất ngôn, là bài «Những nụ hồng của máu», được đánh giá là tân kỳ và đặc sắc. Bài thơ đăng trên báo Thế Kỷ 21 số 27, tháng 7 năm 1991, California, có lẽ là tác phẩm thơ Tân Hình Thức đầu tiên cùng với bản dịch của Đỗ Kh. mà gần đây Nguyễn Đăng Thường đã in lại, theo dạng thủ công nghệ, dưới tên nhà xuất bản Giọt Sương Hoa.

Cuối dịch phẩm Đỗ Kh. đã cẩn thận ghi chú bối cảnh chính trị của bài thơ, Jean Ristat làm để góp phần vào tham vọng «đổi mới» của Đảng Cộng sản Pháp trước thềm Đại hội thứ 22 đầu năm 1977, do đó mà có hình ảnh giục giã mùa xuân. Anh còn nói thêm Ode, dĩ nhiên, còn là một bài thơ tình. Jean Ristat là bạn trai của Aragon, là bí thư và là người thừa kế di sản văn chương của Aragon, và bài thơ có âm hưởng đồng tính luyến ái. Nói rộng ra, phong trào Tân Hình Thức tại Âu Mỹ nằm trong một khí quyển văn hóa đặc biệt, bên cạnh các phong trào nữ quyền, quyền đồng tính luyến ái, phản chiến, thậm chí có cả cao trào Hội chứng (Chiến tranh) Việt Nam.

Cho nên khi Tạp Chí Thơ công bố: «Tân Hình Thức là một cuộc hòa điệu giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và tự do, giữa nhiều nền văn hóa khác biệt, và ở phần sâu xa hơn, hóa giải những mầm mối phân tranh đã ăn sâu vào ký ức, chẳng phải của một dân tộc mà của cả nhân loại từ hàng trăm năm trước. Chúng ta với thời gian hơn một phần tư thế kỷ, có may mắn cận kề và học hỏi những cái hay của nền văn hóa bao quanh, áp dụng những yếu tố thích hợp vào ngôn ngữ, để làm giàu cho nền thơ Việt» [8] , lời văn có vẻ đại ngôn, nhưng là tâm nguyện chân thành. Các tác giả là những người có ý thức sâu sắc về văn học, và trách nhiệm của họ, họ xả thân (và tài chánh) cho thơ mà không có một tham vọng chính trị hay văn học nào. Thậm chí, sau cả thập niên cố gắng, họ vẫn âm thầm làm việc trong đơn độc, có khi là đố kị, không được như những người chủ xướng nhóm Đa Đa tại Âu Châu hồi đầu thế kỷ trước, hay nhóm Xuân Thu Nhã Tập, tại Việt Nam về sau.

Nghiệm cho cùng, thơ và người đều có tử vi. Phan Khôi đã nổi danh với bài «Tình già» đăng năm 1932 trên Phụ Nữ Tân Văn. Ngày nay, e không báo nào đăng một bài gọi là thơ như «Tình già»; mà có đăng thì sẽ không có tiếng vang. Lỡ có tiếng vang e chỉ gây phiền hà cho tác giả. Cụ Phan dù tái sinh, e cũng đành dứt hương thề.

Gần đây, nhà thơ Chân Phương, trước kia cùng lò Tạp Chí Thơ có bài phê bình gắt gao trường phái Tân Hình Thức Việt Nam, cho rằng bắt chước không phải phép, biến trò vắt dòng thành một tiểu xảo máy móc thiếu suy nghĩ [9] . Theo tôi thì các nhà thơ Tân Hình Thức Việt Nam cũng “tôn trọng ước lệ và cách luật” ít nhất là trong tiềm thức. Chỉ lấy ví dụ trên Tạp Chí Thơ số 20 đã dẫn, thì bài «Giữa những dòng thơ» của Phan Tấn Hải cấu trúc chìm là thơ 5 chữ, «Con mèo đen» của Khế Iêm là thơ 6 chữ, «Mưa muộn» của Nguyễn Thị Thanh Bình là thơ 7 chữ. Có người sẽ hỏi: như vậy vắt dòng làm gì. Trả lời: vắt dòng là thành phần hữu cơ trong toàn bộ kỹ thuật Tân Hình Thức. Có khi gây hứng thú, như bài «Nụ hồng của máu» của Nguyễn Đăng Thường đã nói ở đoạn trên; mở đầu như sau:

Mười ngàn lẻ một đêm mưa trước
Ngày chúa bị đóng đinh trên cây
Vĩ cầm buổi trưa hôm đó có
một tia nắng khẳng khiu chiếu rọi
qua khung cửa tò vò rơi trúng…

Hứng thú vì đọc kiểu gì, vắt hay không vắt dòng, thơ vẫn hay. Như vậy, khen tác giả tài tình cũng được, chê tác giả ăn gian, bắt cá hai tay cũng xong. Anh tự sự:

Bài thơ dài (dòng) vì tôi rất mong muốn với vài ba người nó sẽ là một thứ Chanson du Mal Aimé, hoặc Giây phút chạnh lòng hay Le condamné à mortcủa một thời kỳ, thời đại nhiễu nhương. ‘Những nụ hồng’ là một ca khúc đầy ‘âm thanh và cuồng nộ’, là thơ tình, thơ lãng mạn, thơ hài, thơ châm, thơ hiện thực, siêu thực, thơ hạng nhất, thơ hạng bét hay không thơ (tùy người đọc), là tiểu thuyết ba xu, là soap opera, là film noir, cải lương, hát bộ, TV, phim thời sự, là một tranh cắt dán hằm bà lằng, hay đầy nghệ thuật (tùy vào người xem) với những cóp nhặt từ đông tây kim cổ “ [10] (những bài thơ Nguyễn Đăng Thường nhắc đến là của Apollinaire, Thế Lữ và Genet).

Và hứng thú ở chỗ này nữa: Nguyễn Đăng Thường vô hình trung đã đưa ra một định nghĩa linh động và cụ thể về thơ Tân Hình Thức, mà anh không ngờ tới. Ngoài ra Tân Hình Thức không cắt đứt với truyền thống, ngược lại còn đa mang, hỗn mang hằm bà lằng quá khứ.

*

Cao đẹp thay dụng tâm đưa lời thường, và đời thường, vào thơ. Khốn nỗi, đời thường, ai biết là đời nào đây?

Cùng một chuyến Tân Hình Thức, cô Mai Ninh làm thơ trên du thuyền trên sông Nil, cô Trọng Tuyến làm thơ giữa một hội nghị khoa học tại Nhật, cô Thanh Bình ngược con đường gió trên cánh đồng xuân đến nhà ông Đinh Cường, khi ông này làm thơ trong lúc vẽ tranh tại Vỉginia; cô Ngọc Nhung làm thơ khi đi chợ đêm mua băng vệ sinh tại Quận Cam, ông Đỗ Minh Tuấn làm thơ lúc chữa ống nước tại Hà Nội, ông Đỗ Kh. vừa làm thơ, vừa làm tình rải rác đó đây trên thế giới rồi chép miệng sướng cũng chẳng có nhiều… Vậy đời nào là đời thường? Lời nào là lời thường?

Do đó mà thơ Tân Hình Thức ỳ à ỳ ạch. Trong thơ truyền thống, từ Nguyễn Trãi đến Xuân Diệu cách nhau năm trăm năm, câu thơ không khác nhau bao nhiêu. Giữa hai ông Lưu Hy Lạc và Phan Nhiên Hạo, cách nhau vài buổi chiều, vài con đường, sao mà Tân Hình Thức khác biệt nhau quá [11] !

Đó là chưa kể đến chuyện ngăn sông cách núi, rào dậu ngăn sân, tường lửa màn tre. Thơ, đầu tiên là câu hát vui chơi; về sau trở thành khẩu khí, ngôn chí của xã hội, phương tiện của quyền bính và đối tượng của quyền lực chuyên chính. Các bạn Tạp Chí Thơ, chủ yếu là Khế Iêm, trong tay chỉ có một ngọn nến. Mười mấy năm, ngày ngày thắp nến đi tìm hiệu ứng cánh bướm; Khế Iêm ý thức rõ khó khăn của thơ Tân Hình Thức, lớn nhất là không có độc giả trẻ. Lớp trẻ ở hải ngoại không đọc tiếng Việt. Còn người trong nước, ít ai biết đến thơ Tân Hình Thức, không phải vì kém giá trị nghệ thuật, nhưng vì ít được phổ biển trong một xã hội mà văn học không độc lập với quyền lực chuyên chính.

Trong văn chương, nghệ thuật, một xã hội tiến bộ khi chính trị là sản phẩm của văn hóa. Xã hội ngưng đọng, thậm chí tụt hậu khi văn hóa là phương tiện của chính trị. Tương lai của Thơ, trong đó có Thơ Tân Hình Thức nằm ở biên độ giữa hai tình thế này.

Từ Kinh Thi của Khổng Tử, từ Thi pháp của Aristote đến nay, hơn hai ngàn năm qua, chuyện Thơ nói đi nói lại đã nhàm tai. Nhưng có câu này, nghe còn sướng:

«Đụ mẹ, tao với mày cưa đôi trái lựu đạn. Hổng phải ngon lành gì, nhưng mà chuyện Thơ cần có một chút tâm.»

Câu này chỉ có thể là của Đỗ Kh., mà không nhớ chàng viết ở đâu. Tìm chàng mãi không ra để mà hỏi. Vậy Khiêm ơi, câu này cậu (mày) viết ở đâu?

Tết Bính Tuất, 02/02/2006

Đặng Tiến


[1]Tạp Chí Thơ, số 20, tr. 73, 2001, California
[2]Khế Iêm, Tân Hình Thức, tr. 35-74, nxb Văn Mới, 2003, California. Sách lý thuyết về thơ Tân Hình Thức, 180 trang.
[3]Chế Lan Viên, Tuyển tập, tr.282, nxb Văn Học, 1983, bài này trích từ tập Hái theo mùa, 1973-1977
[4]Khế Iêm, Tân Hình Thức, sđd, tr. 19
[5]Khế Iêm, Tạp Chí Thơ, tr.114, số 21, 2001, California.
[6]Mark Jarman và David Mason ấn hành, Rebel Angels, nxb Story Line Press, 1996, Oregon, tái bản 1998.
[7]Jean Ristat, Ode pour hâter la venue du Printemps, nxb Gallimard, 1978, Bản dịch Đỗ Kh. Đoản khúc để mùa Xuân đến vội, nxb Giọt Sương Hoa, 2001, London. E-mail: ndtdel@indirect.co.uk, giá 5 Euro
[8]Tạp chí Thơ, số 20, sđd, tr.75
[9]Chân Phương, Tạp Chí Văn Học, tr. 74, số 226, tháng 7- 8, 2005, California.

[10]Nguyễn đăng Thường, Tạp Chí Thơ, tr. 124, số 18 năm 2000.
[11]Cho đến hôm nay, tôi biết có ba tập Thơ Hình Thức đã xuất bản: Trong nước: Đoàn Minh Hải, Đại nguyện của đá, 2002. Tại Hoa Kỳ : Lưu Hy Lạc, 26 bài thơ Tân Hình Thức (?); Hà Nguyên Du, Gene đại dương, nxb Tạp Chí Thơ, 2003.