GÓC PHỐ XƯA NƠI MẸ VẪN NGỒI

Rồi một sáng em tình cờ trở lại
Ðứng bên đường phố cũ nhớ bâng khuâng
Có phải đây góc phố đã bao lần
Giọt nưóc mắt trôi trong thời thơ ấu

Quầy thuốc lá ven đường em đứng đấy
Mẹ đã ngồi nghe muỗi vắt đêm khuya
Ðời cô đơn theo nắng sớm mưa chiều
Chiếc áo bạc mang hàng trăm chỗ vá

Hàng me cũ đã bao mùa thay lá
Nơi em từng che mát chuỗi ngày quên
Mùa đông qua thổi lạnh đến bên thềm
Vẫn khổ cực như từng cơn nắng hạ

Nhà hàng đó em chờ người khách lạ
Chén cơm thừa ai để lại đêm nay
Nuôi thân em một cô gái ăn mày
Mười bốn tuổi đời đen hơn ánh tóc

Công viên lạnh em thường hay đứng khóc
Tuổi nai vàng hay tuổi của vàng phai
Ai dạy em những mánh lới đeo đòi
Cả những chuyện mà em chưa nên biết

Ai mang em trên đường đi vượt biển
Chẳng kịp về thăm góc phố năm xưa
Em bỏ đi như lá bỏ quên mùa
Như giọt nước quên tấm lòng biển cả

Không địa chỉ, không người quen, phố lạ
Mẹ cố chờ con gái trở về đây
Bao mùa đông thương nhớ nặng vai gầy
Mẹ gục chết âm thầm trên góc phố

Em xứ lạ cuộc đời nhiều thay đổi
Tóc nhuộm vàng che những vết thương đau
Mắt em xanh vì nét kẻ thay màu
Bước em nhẹ sợ màu tan trong nước

Ðược gì chăng em mười năm xuôi ngược
Có bao giờ mơ góc phố năm xưa
Bóng me nghiêng theo gió thổi sang mùa
Bóng mẹ đứng đã mỏi mòn trông đợi

Sáng hôm nay tình cờ em trở lại
Ðứng một mình giữa phố lệ như sao
Có phải đây góc phố của năm nào
Mẹ đã sống trong những giờ oan nghiệt

Em là kẻ đã cuối cùng thua thiệt
Kẻ cuối cùng mất một khoảng trời mơ
Chẳng phải tại em mẹ chết không mồ
Chẳng phải tại em làm đời thay đổi

Giữa một quê hương muôn trùng thống khổ
Mười năm trời em làm được gì chăng
Rồi mai đây em sẽ hiểu ra rằng
Ai giết chết cuộc đời em thơ ấu.

Trần Trung Ðạo

 Nhớ Hoài Khanh

“Giật mình sương rụng trên đê, người đi rồi…chẳng thấy về, chao ôi!”.  Thơ Hoài Khanh chẳng của tôi / mà sao tôi nhớ…Ngậm ngùi mười năm!  Gặp rồi quen, gặp rồi thân, Hoài Khanh thiên cổ, biết gần mà xa…Người Phan Thiết, cùng quê ta, một dòng nước chảy sông là Cà Ty…

Gặp nhau, anh nói tôi về, Biên Hòa chỗ hẹn ước thề với ai…Hai bàn tay một nắm tay, gặp nhau đã siết, lần này thì xa…Anh về…rồi hóa bóng ma, tôi ra mặt trận, tôi là chiến binh!  Gặp nhau một chút cũng tình, gần nhau mãi mãi thì mình ra sao?

Một dòng xanh mấy niềm sâu
chợt nghe gió lạnh từ đâu thổi về
Giật mình suơng rụng trên đê
người đi rồi chẳng thấy về chao ôi!

Bài thơ đó, bốn câu thôi, không là Tứ Tuyệt mà vời vợi hay…Nhiều năm, từ đó đến nay, tôi, thân khách lữ, anh, rày chiêm bao!  Nhớ hồi đối diện tào lao, nghiêng ly rót mãi, bọt trào miệng ly!  Trăm phần trăm, nào uống đi – anh ly nốc cạn, tôi thì lưng lưng…

Ngó ra, sông một dòng sông…Ngó xa, thấy một vườn bông hoa tàn…Gần Phan Thiết, có Sông Phan…vào xa hơn nữa:  Chứa Chan Biên Hòa.  Tản Đà nói bông là hoa…Bông tàn, hoa rụng, còn ta còn…gì?  Triệu người bỏ nước ra đi, triệu người ở lại, vân vê áo nhàu…

Một dòng xanh mấy niềm sâu
chợt nghe gió lạnh từ đâu thổi về
Giật mình sương rụng trên đê
người đi rồi chẳng thấy về chao ôi!

Nếu…tay mà che được trời, nắng mưa đâu có ai đời nắng mưa!  Buồn buồn tôi nhớ lại thơ, dựng cây cuốc đứng, tôi chờ thời gian…Mười năm…ồ nhỉ mười năm, chén cơm một nửa ăn nằm Thiên Thu!

*
Khi tôi ra khỏi cổng tù, Hoài Khanh tôi hỏi, anh, chừ khói sương…

Trần Vấn Lệ

BÊN LỀ CHUYỆN NHỚ VỀ THÁNG TƯ ĐEN (4.1975)

Kết thúc chiến tranh Việt Nam, sau 30/4/1975, cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt nói “có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn”. Lời tuyên bố của một quan chức cao cấp cứ tưởng sẽ góp phần định hướng tương lai đất nước, đảng CSVN sẽ hoạch định chính sách từ nền tảng hòa hợp hòa giải dân tộc, hàn gắn vết thương chiến tranh để có hơn “hàng triệu người vui” và không còn “hàng triệu người buồn” nhưng không phải thế!

Bốn mươi ba năm qua, những gì diễn ra trên đất nước này đã làm lộ rõ bản chất gian manh và bịp bợm của những người cộng sản. Hận thù dân tộc ngày càng bị khơi sâu, những người quốc gia và viên chức, sĩ quan chế độ VNCH cùng gia đình họ bị trả thù tàn khốc từ các vùng kinh tế mới đến những nhà tù trá hình mang tên “trại cải tạo”. Điều này dẫn đến việc hàng triệu người bỏ nước ra đi, một số không ít trong số họ chết trên biển, số còn lại, rất may, nhập vào hàng ngũ “hàng triệu người vui” dù cuộc sống quê người không phải là thiên đường.

Càng về sau, kinh tế hoạch định ngày càng thất bại, của cải cướp được từ miền Nam sau 1975, tiền bạc kiếm chác từ thân nhân những người Việt ở ngoại quốc gửi về tập thói quen hưởng thụ cho những quan chức cộng sản. Khi kinh tế suy sụp, họ phải chuyển đổi sang kinh tế thị trường nhưng kèm cái đuôi xã hội chủ nghĩa để bảo đảm sự lãnh đạo của nhà nước.

Càng về sau, niềm tin của đảng viên và dân chúng càng suy sụp, họ bán cả Hồ Chí Minh để bảo vệ đảng. Khi internet vào tận các hang cùng ngỏ hẽm Việt Nam, bản chất gian manh và bịp bợm của họ càng rõ hơn, nguy cơ mất đảng ngày càng cao, họ bán nước cho Trung cộng, Việt Nam lệ thuộc vào phương Bắc ngày càng nhiều nhưng vẫn rêu rao trên các phương tiện truyền thông “mười sáu chữ vàng”. Nhờ internet, dân chúng biết rõ vụ Trường Sa 1988 Hải quân không được nổ súng trước quân xâm lăng Tàu cộng, nhờ internet, dân chúng biết rõ ngư dân bị tấn công, bị cướp nhưng không được quân đội và nhà nước bảo vệ khi chính họ không dám nói thẳng mà gọi là “tàu lạ”. Cũng không lạ gì khi dân chúng truyền tụng nhau câu “Ngư dân bám biển, hải quân bám bờ”.

Chưa hết, chưa có thời nào trong sử Việt đen tối như thời gian cộng sản cầm quyền, khi, để đàn áp tôn giáo, đàn áp phong trào đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, họ đã dùng một lực lượng đông đảo quân đội, công an và cả bọn “xã hội đen” là những phường lưu manh, cặn bả xã hội! Chưa có thời nào mà công dân bị bắt vào đồn công an bị giết chết rồi vu cáo là tự tử.

Chưa có thời nào mọi nền tảng giá trị suy đồi một cách nghiệm trọng, con người đối xử nhau tệ hơn cả loài thú, bọn ăn cướp là đảng viên gộc, là sĩ quan cao cấp của công an và quân đội, nếu không cũng được chúng đỡ đầu, bảo kê, từ cướp đất đai đến việc làm ăn, kinh doanh, buôn bán.

Cũng chưa có thời nào mà thị trưởng một thành phố lớn là thủ đô lại muối mặt nuốt lời hứa trên giấy trằng mực đen (có cả lăn tay điềm chỉ) với hàng vạn dân làng Sềnh và trở mặt đàn áp.

Không có thời nào mà Bộ trưởng Giáo dục xào nấu kiến thức cũ, ăn cắp kiến thức người khác viết luận án để kiếm học hàm học vị cũng là chủ tịch Hội đồng xét duyệt công nhận danh hiệu Giáo sư, phó Giáo sư.

Những ngày cuối tháng tư này, lãnh tụ hai miền Nam Bắc bán đảo Triều Tiên đã gặp nhau tay bắt mặt mừng để ngồi lại với nhau. Chuyện thống nhất đất nước chưa biết có thực hiện được và lúc nào sẽ có kết quả nhưng hy vọng việc phi hạt nhân hóa đảo quốc này có hy vọng đang đến gần. Chúng ta mừng cho họ nhưng cũng những ngày này, các tầng lớp nhân dân Việt Nam hy vọng gì?

Dĩ nhiên, câu trả lời tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, địa vị xã hội, trình độ nhận thức mỗi người nhưng chắc chắn có một mẫu số chung không chối cãi được là, đông đảo mọi người mơ một cuộc sống khá hơn, môi trường, thực phẩm được bảo vệ an toàn, thiên tai (bão lũ, hạn hán), mất mùa được khống chế và giảm đáng kể thiệt hại. Quan trọng hơn là: chính quyền, công an thôi sách nhiễu dân chúng bằng thuế má, cướp đất làm dự án để chia nhau bán kiếm lời cho gia đình, phe nhóm.

Một bộ phận không nhỏ nhân dân thấy chuyện chống tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng lại nhìn thấy đây là cuộc chiến phe nhóm, xa hơn là cuộc chiến giữa phe miền Bắc và phe miền Nam trong đảng cộng sản mơ rằng chúng nó càng giết nhau thì lực lượng ngày càng suy yếu để mở ra một tương lai mới cho dân tộc. Có vậy, khuynh hướng thoát khỏi sự lệ thuộc Tàu ngày càng dễ thực hiện hơn.

Bốn mươi ba năm từ ngày Mỹ phản bội VNCH để Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, những thanh niên ngày ấy đã trở thành những ông già. Những đứa trẻ sinh ra từ ngày ấy thành những trung niên, bị nhồi sọ, lừa gạt một thời gian quá dài, khi nhận ra đã trễ vì có một gánh gia đình nặng để chăm lo và nhiệt tình nhẹ để không còn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Thế hệ kế thừa có lý tưởng, có trình độ nhưng không thể ngồi chung với nhau và mặc khác, chuyện áo cơm, chuyện an nguy của người thân là điều cộng sản dùng để dập tắt ý chí đấu tranh của họ.

Tháng tư, cầu mong cho đất nước thái bình, nhân dân an lạc, những kẻ gieo gió phải gặt bão. Luật nhân quả thể hiện ngay trên những con người đã và đang gây ra đau thương, mất mát cho đất nước này, dân tộc này. Cầu mong cho những cá nhân, những tổ chức đã, đang và sẽ đấu tranh cho một ngày mai tươi sáng của đất nước vượt qua khó khăn gian khổ, vượt qua những đàn áp của chính quyền, chân cứng đá mềm để mau đến thắng lợi.

Nguyễn Nhật Huy

NHẬU VỚI BẠN

 

Ngày hôm qua bạn gọi
Lâu rồi không gặp nhau
Ừ! cũng đà mấy tháng
Chưa tụ tập lần nào

Chưa gặp lâu nên nhớ
Lại đang cơn thèm say
Và cũng thèm được nói
Tịnh khẩu đã lâu ngày

Gặp nhau mày cứ uống
Xá gì rượu đắng nồng
Rượu mà uống với bạn
Ngọt tựa uống nước sông

Gặp nhau mày cứ nói
Chuyện dưới bể trên ngàn
Chuyện thật cũng như bịa
Cho rượu tràn miên man

Gặp nhau mày cứ hát
Khúc trẻ trâu năm nào
Giờ trên đầu mây trắng
Biết mai còn gặp nhau?

Cứ uống, nói và hát
Hãy say như chưa từng
Hãy quên chuyện sướng khổ
Có gì mà bâng khuâng

NHẬU Ở SÀI GÒN

Ta hận nhà ngươi toàn lỗi hẹn
Ly rượu bầm môi uống mãi còn
Sài gòn mấy giờ đường vắng hoắc
Cứ như trêu ghẹo ánh chờ mòn.

Sài gòn đã thích là bất chấp
Nhưng lại cũng thích búng dây thung
Alo! tao lưng chừng Gò Vấp
Đưa lên để xuống hết nửa thùng

Sài gòn vừa nhậu vừa ngồi khóc
Bọt bia buồn bọt biển quê hương
Tướng ngậu xị và hồn dễ vỡ
Như rượu cay, đắng bỗng vô thường

Sài gòn xa lâu thì rất nhớ
Nhưng ở dăm ngay đã muốn đi
Bụi khói phù hoa làm ngộp thở
Say rồi mai tỉnh mộng nhà quê.

Nguyễn Thái Bình

NGƯỜI VỀ

 

(Cảm tác sau khi đọc Ta Về của Tô Thùy Yên)

Người về bóng ngả trên đường phố
Phố đổi màu theo mỗi bước chân 
Mười năm ở lại cùng muông thú
Mây đã thành mưa rụng mấy lần

Chén rượu quan hà chưa uống cạn
Hương nồng ngây ngất vẫn còn đây
Người ơi! trăng vẫn tròn trong mộng
Sao chẳng chờ nhau một kiếp nầy

Người về một tấm thân hoang phế
Ngơ ngác bên đường lạc dấu vui
Chiếc áo phong trần xin gửi lại
Mười năm đi quên mất tiếng cười

Vẫn tạ ơn đời khi sống sót
Mười năm máu chảy đọng thành thơ
Lòng ai muôn dặm còn thao thức
Có biết rằng đây vẫn đợi chờ

Người về thương bóng mây qua núi
Núi đứng muôn đời nhớ tiếc mây
Cứ tưởng một lần quay trở lại
Cùng nhau vui hết cuộc sum vầy

Ngụm khói lam chiều thôn Việt Bắc
Như màu khói thuốc thuở quen nhau
Bài thơ xưa viết mừng em lớn
Vẫn giữ làm tin chẳng nhạt màu

Người về ngồi lại thềm soan cũ
Cỏ mọc điêu tàn trên lối xưa
Xin khóc một lần cho thảm thiết
Cho sóng triều dâng mở hội mùa

Ngôi mộ ven đường ai chết đó
Đi tìm tung tích của cha anh
Đâu những oan hồn xưa lạc bước
Về đây nghe lại khúc quân hành

Người về cúi nhặt bài thơ cũ
Nhặt trái tim mình trong khói tro
Mười năm đá cũng mềm như lệ
Chẳng trách ai quên một chuyến đò.

Trần Trung Đạo

Từ Tháng Năm Một Chín Bảy Nhăm

Thôi, chim bay về núi
Thôi, cá lặn xuống sông
Sao mình cứ trông mong
Mặt trời còn phút cuối?

Kìa, mặt trời chết đuối
Ai cứu được mặt trời?
Ai giữa cuộc đổi dời
Mà sống đời vô cảm?

Ăn, bữa ăn thanh đạm:
Bắp trộn với khoai mì
Người ta đang hát gì?
“Tổ Quốc ơi tôi yêu Người mãi mãi!”

Kìa một bầy trai gái
Nhảy sol đố mì sol
Nhảy quên cả bữa cơm
Lát, ăn khoai cũng được…

Bao nhiêu người chết trước
Còn hơn sống để buồn
Dẫu không còn đạn, bom
Mẹ…cứ còn tựa cửa…

Thằng Hai không về nữa
Thằng Ba cũng không về
Bà còn sống để chi?
Cái gì cũng là rác…

Có một thời ca hát
Theo tiếng chày Bom Bo
Có một thời không no
Bụng sốt rét cứ ỏng!

Tôi cứ ngồi trông ngóng
Một tia nắng cuối chiều
Rồi, thôi cũng buồn hiu
Kiếp tù không có án!

Má ráng sống, quên, lãng
Mấy thằng con lưu đày
“Từ trận thắng hôm nay…”
Mắt Má đầy nước mắt!

Trần Trung Tá

khúc tháng tư


một ngày ta đứng bên sườn dốc
ngắm lối đi gầy theo tháng năm
cơn gió đã ưu tư từ độ
ta chưa hò hẹn, nguyệt chưa rằm

bỗng dưng ta nhớ mùa hoa trắng
trắng mãi cùng ta một nỗi niềm
bước chân lơ đãng, dòng sông trắng
cành lau trắng một giấc cô miên

bỗng dưng đau đáu từng con sóng
biển đã trào lên bọt đỏ ngầu
ngọn gió kinh thiên đùa số mệnh
trên tầng cao và dưới tầng sâu

có không một giấc mơ bong bóng
thả về trời một ngọn hư vô
sẽ về đâu cánh bèo trôi nổi
vết thương câm đau chút mơ hồ

mở ra ô cửa màu xanh lá
không biết có còn ai nhớ không
chỉ biết tháng tư ta từng gặp
dấu chân em trên đồi cỏ hồng

NP phan

ĐÊM THỨC CÙNG TÔ THỨC

 

 

 

Tháp tùng ông tìm phương huyễn mộng
Thơ giăng bàng bạc ánh sơ huyền
Cõi tình hun hút như thạch động
Trải lòng theo mỗi bước truân chuyên

Cuộc lữ tang bồng đâu đất trích
Càng chạm gian nan càng tài hoa
Tiếng thơ đồng vọng vào xa tít
Cúi đầu nhường mây trắng bay qua

Ông dẫn tôi đi đùa tuế nguyệt
Huyễn mộng đùn chất ngất cỏ non
Giũ sạch bụi quan trường không tiếc
Lại tiếc trăng thu bệnh héo mòn

Thời buổi tâm hồn xơ cứng hóa
Lần bước theo ông cứ giật mình
Cánh thơ như cánh chim bạt gió
Điểm xuyết ánh hồng giữa vô minh

Đêm nay thức trắng cùng Tô Thức
Trăng phương huyễn mộng gối ngang đầu
Càng đọc thơ ông càng ấm ức
“Đời trôi xuôi bờ bến là đâu!?”

NGUYỄN LIÊN CHÂU

LÝ SỰ ĐI VÀ VỀ

 

 

Sau 25 năm ta về từ chỗ ta đi
Nơi ta đi giờ không còn về đến
Nếu ai hỏi nơi nào quê hương của bạn
Xin trả lời quê hương là nơi này

Như vậy thì phải xét lại câu thơ
” Quê hương mỗi người chỉ một ”
câu thơ của một nhà thơ trong nước
“Ai không hiểu không lớn nổi thành người”

Ta nghĩ thầm có đúng vậy không đây
Việt Nam ở bên kia nửa vòng trái đất
Khi ta chết xác thân này sẽ lấp
Đất Mỹ này là nơi ta vùi xương

Nơi cuối đời đó chính là quê hương
Nếu nói một chưa chắc rằng đã đúng
Lịch sử sai lầm bởi từ thiên mệnh
Biết bao người quê hương trở thành hai

Giờ quay sang bàn luận chuyện đúng sai
Giữa hai chữ đi và về nhập nhằng chưa rõ
Mấy người bạn nhiều khi hỏi nhỏ
Khi nào thì ông về Việt Nam

Nhà cửa ta trên đất Mỹ rõ ràng
Hỏi ngược ngạo muốn vặn cho trẹo họng
Nhớ uốn lưỡi để hỏi sao cho đúng
Đi Việt Nam không thể gọi là về

Nói rõ hơn nơi đó giờ đã xa
Kể từ lúc chúng tràn vào cướp đất
Nơi không có nhà nên gọi về là trật
Hiểu đúng hơn phải nói là đi

Ai cũng biết quê hương là nơi có nhà
Là nơi mỗi lần chân gối mỏi
Là mái ấm chở che ta quay lại
Là vòng tay ôm chặt lúc ta về

Nói lòng vòng chỉ tóm lại một câu
Đi Việt Nam mà nói về sai bét
Lý sư kiểu này sẽ có nhiều kẻ ghét
Nhưng đâu có lý nào em lại hiểu không ra

11/04/2018
Quan Dương

KẺ CẮM THỀ

“Mi cong rũ xuống rối bời
Mong manh hạt lệ thấm môi vô thuờng…”
(thơ Hạ Quốc Huy)

@

1.
Mai tôi hỏi tội con đuờng
Có hàng dâm bụt, có hương cửa chùa
Tôi đi từ sáng đến trưa
Em vừa ly dị đầu mùa đông qua

2.
Mai tôi hỏi tội đuờng xa
Có cô bán quán điệu đà sắc hương
Tôi đi suốt mấy năm truờng
Ghế bàn thấy tội, đâm thương ông thầy

3.
Mai tôi hỏi tội cỏ cây
Sao không muợn gió lung lay tình nàng ?

4.
Mai tôi hỏi tội lá vàng
Cớ chi bay đậu hiên nàng kế tôi
Luạ hồng áo ngủ em phơi
Tôi qua nhặt lá, đứng ngồi rớt tim

5.
Mai tôi hỏi tội con tim
Vì hương da phấn tim tìm đuờng qua
Hay vì lá rụng xót xa
Mà chân kiếm cớ lạng qua, đảo về ?

6.
Dầu tôi lạy rớt nón mê
Tôi còn sông núi. Ngày về yêu hơn
(Xin em ráng đợi. Tôi thề yêu hơn)
Thiếu phụ khẻ lắc đầu buồn :
Yêu thì suối cạn đá mòn bên nhau
Tay ôm xõa tóc gối đầu
Áo phai vá vạt đêm thâu yếm nhàu

7.
Tôi nào có tính truớc sau
Khi yêu chỉ biết… lao đầu vào yêu
Mai tôi xin lỗi trăm điều
Xin đôi vú xịn mỹ miều tha tôi
Thiếu phụ cuời gập cả nguời
Tràn trề hoa nguyệt núi đồi sơ hoang

8.
Lạy trời lạy đất lang thang
Lạy tình yêu tính chạy làng bỏ tôi
Mi cong rũ xuống rối bời
Mong manh hạt lệ thấm môi vô thuờng…

9.
Mai tôi tính nổ giáo đuờng
Đầy hoa ngày cưới chuông vang nhà thờ…

10.
Tôi chờ từ sáng tinh mơ
Ôm tim. Thút thít, sững sờ trăm năm
Thu tàn, đông lạnh căm căm
Chung quanh tăm tối phủ nhằm điên mê
Nàng không thấy kẻ cắm thề
Thành hai bất hạnh lê thê một đời

11.
Xuân về không lá vàng rơi.
Còn đâu để nhặt ? Sao bồi hồi tim ?

HẠ QUỐC HUY