Lời cuối tiễn anh Chu Trầm Nguyên Minh

Đặng Châu Long

1798027_400135126788677_804826451_n

Anh Tâm,
Vậy là anh đã lỗi hẹn cùng bè bạn, thanh thản ra đi theo lồng lộng mây ngàn
Em thì kịp đúng hẹn cùng anh, hoàn tất ước mơ cuối của anh trong những ngày không còn làm việc cùng máy tính. Em đã đọc cho anh nghe giòng thơ chinh chiến với tất cả sự kìm nén nỗi lòng. May mà anh vẫn vui để nghe trong đêm 17-02 đó, đêm cuối cùng tỉnh táo nhất của anh
Tám năm chống chọi cùng cơn bạo bệnh thật chẳng dễ gì, nhưng với anh chắc chẳng là gì so cuộc đời anh đã trải. Em đã nhiều lần ngậm ngùi khi mở lại bài viết của anh trải cuộc đời mình kể từ lúc anh trao bài gởi gắm cho em vào tháng tư năm ngoái.
Thân phận anh quá nghiệt ngã, năm sinh, họ tên anh, quan hệ chị em đều phải giấu kín để tồn sinh. Cuộc chiến luôn đẩy đưa nhau vào ngõ cụt khôn lường.
Chị Tùng Vân nhắc lại anh rất sợ trực diện cùng đám chết của bất cứ ai. Nỗi ám ảnh về tang thương của những người thân khiến anh không muốn nhìn những hình ảnh gợi lại sự tang thương quá đỗi ở thời thơ ấu điêu linh.
Và bây giờ anh cũng phải tự đối đầu, bước vào vòng sinh tử một cách chững chạc
Tất cả, tất cả mọi chuyện anh đã sắp sẵn từng bước, từng ngày. Cho đến ngày cuối đời, khi ghi chép từng câu viết trên một mớ dày giấy tờ công chứng trong bệnh viện và đặt bút ký tên mình lên những văn bản đó, anh đã hoàn tất thủ tục cuối cùng trong sự bình tỉnh vô song. Sau đó là sự buông tay, thả thân cho tiếng gọi thiên thu.
Những giờ cuối, nằm nghe người thân nói, mỉm nụ cười vô thanh, anh đã sẵn sàng cho chuyến đi vô hạn vào ngàn trùng.
Anh đi, nhưng vẫn còn đó bạn bè một thuở. Bàng hoàng hay tin anh nhưng vẫn biết sẽ không lâu tái ngộ cùng anh.
Cuộc đời là phiến mây trôi, ai qua được mối sầu sinh tử. Có đáng chăng khi mình đã thể hiện con người đã sống hết mình và bằng cả tấm lòng.
Nhắc lại lời anh hôm 11-02, “khi mình cầm viết, phải có trách nhiệm với lịch sử và cuộc đời và chịu trách nhiệm cả với những người cùng giòng sống quanh mình” mới biết cho đến cuối cùng anh vẫn quyết liệt không từ bỏ trách nhiệm mình cùng tha nhân bên dòng sống
Thôi thì anh cứ thanh thản ra đi. Bạn bè không chỉ ngắn dài vài giọt, tâm thế anh sẽ mãi in đậm trong mọi người Tiếp tục đọc →

VĨNH BIỆT ANH – VĨNH BIỆT CHU TRẦM NGUYÊN MINH

“Đêm xuống rồi em buồn không hở
Trời xa mù tầm tay với âu lo”(Lời Tình Buồn-CTNM)

Biết nói gì, khi anh đã… đi?
Về nơi cát bụi cõi vô cùng
Về nơi nẻo ý hồn thanh thản
“Lời tình buồn” để gió ru thương…*

Biết nói gì, trước phút mặc nhiên?
Một chút hồn nhiên gói lẽ thường
Rót chút rượu tình trao tri kỷ
Tiễn ấm lòng, nóng cả cô miên!

Lối ấy, chiều nay sao nhớ quá?
Bao người thân thắp nén tâm hương
“Vĩ Cầm” lướt nhẹ “Hoan Ca” núi**
“Quán Văn” buồn, giờ thiếu một người thương…

Vĩnh biệt anh
Vĩnh biệt hồn thi sỹ!
Anh đi rồi, ai ngồi ngóng chơ vơ?
Vĩnh biệt anh, ly cà phê nát dạ
Nhấp men đời em thả nốt Thơ say…

Thôi anh nhé
Khúc nhạc lòng ai đấy?
Xin hẹn ngày về cùng bên cội đá xanh xanh…

*Tựa tập thơ “Lời Tình Buồn”, cũng là lời nhạc sĩ Vũ Thành An đã phổ nhạc, đọng trong lòng thế hệ gần năm thập niên qua.
**Trích tựa bài thơ “Vĩ Cầm” và tựa truyện dài “Bài Hoan Ca ở A.38” của Chu Trầm Nguyên Minh.

Sài Gòn, 22/02/2014(23/01Giáp Ngọ)
NGUYỄN NGỌC THƠ

*Đây là hai bài thơ, anh Chu Trầm Nguyên Minh đã xúc động làm trên giường bệnh ở bệnh viện Triều An lúc cuối đời, Phạm Nguyễn Anh Thư(con gái anh) ghi lại vào ngày 06/02/2014-nhằm ngày Mùng 7 Tết Giáp Ngọ như một lời chia tay anh em…

TẶNG EM NGÔ QUANG HIỂN

Hiển đến thăm anh thật bất ngờ
Lại còn bắt anh làm thơ
Cảm xúc dâng trào thơ ứ nghẹn
Làm sao làm được Hiển ơi?

GỞI EM NGUYỄN NGỌC THƠ

Thơ là người anh thương!
Từ lâu đã biết đến cõi vô thường
Nhưng lòng anh vẫn cứ nghĩ về em mãi
Tình mình xin giữ mãi nghe Thơ?

(B/v Triều An-Sài Gòn, ngày 06/02/2014)
CHU TRẦM NGUYÊN MINH

NGỒI BÊN SÔNG SÀI GÒN – NHỚ SÔNG QUÊ NHÀ

Ngồi bên sông mà sao nhớ sông !
Nhớ em má thắm chở môi hồng
Cầu qua bao nhịp cầu đâu biết
Có tình nằm khóc phía sau không ?

Ngồi bên sông mà sao nhớ sông !
Nhớ giàn hoa giấy tím ngõ sân
Giấc mơ mười tám giờ xa lắm
Mong gió hồi hương ghé một lần

Ngồi bên sông mà sao nhớ sông !
Nhớ em quê cũ đã theo chồng
Nhìn sông này giống sông ngày trước
Chỉ khác xao lòng nỗi nhớ mong

Ngồi bên sông mà sao nhớ sông !
Nắng về nơi đó tóc ai hong ?
Chao tay ly rượu chiều viễn xứ
Thấy bóng xưa nghiêng chạm đáy lòng

TRẦN VĂN NGHĨA

SÀI GÒN ƠI! HẸN NGÀY TRỞ LẠI

Bao nhiêu năm lạc nhau giữa dòng đời
Chưa gặp lại người em ngày xưa cũ
Saigon ơi! Tình như cánh bèo trôi
Trôi về đâu? Trong dòng thác lũ?
Bao nhiêu năm chờ trong nắng lạnh lùng
Đôi mắt lệ buồn thương tình dang dở
Saigon ơi! Giờ ta biết về đâu?
Ôi tháng ngày dài ta sống không nhau!
Em giờ nơi đâu? Anh ngóng phương trời xa xứ
Anh giờ nơi đây lê gót chân buồn lữ thứ
Chưa gặp lại nhau cho phố thêm buồn hiu hắt
Biết đến ngày nào ta lại gặp nhau?
Em giờ nơi đâu? Mây trắng bay hoài trên phố
Anh giờ nơi đây gom nhớ thương ngày dĩ vãng
Bao giờ gặp nhau nước mắt thôi đừng vương nữa
Lạc giữa Saigon một mối tình đau!
Ta yêu em dài theo tháng ngày sầu
Bao hò hẹn tình ơi về thôi nhé!
Saigon mưa, giọt mưa ướt mùa ngâu
Hẹn hò rồi, người hỡi hãy về mau!
Nguyễn Lãm Thắng

LỜI TÌNH BUỒN – CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Lời ngỏ :
Bài này viết vào đầu tháng 1/2014, lúc anh Tâm (CTNM) nhập viện. Lúc đó đã có 2 bản dịch ra tiếng Pháp và tiếng Ý của Elena. Dù rất mệt nhưng anh Tâm cũng cố gắng viết và gửi cho tôi bài viết về nguồn gốc và những liên quan về “lời tình buồn” để làm tư liệu.
Vừa rồi khi đến thăm anh ở bệnh viện Triều An anh Tâm nói còn thiếu bản dịch sang tiếng Anh. Tôi có nhờ HKO nhưng lúc này chị rất bận. Anh nhờ tôi thay anh viết mail nhờ nhà thơ Đặng Lệ Khánh.Mới đầu chị Khánh cũng hơi ngại việc dịch thơ nhưng khi biết tình hình sức khỏe của anh Tâm đang chuyển biến xấu … thì ngay chiều hôm đó tôi nhận được bản dịch qua mail. Mừng quá, tôi copy vào bài viết và gửi cho anh. Nhưng lúc này anh đã phải thở oxy và không mở mail được.
Hôm 18/2/2014 tôi gọi điện thăm anh nhưng mãi đến chiều mới liên lạc được. Chị Tùng Vân cho hay là lúc đó anh đang ngủ. Chị cho biết là lúc sáng chị có mở mail và đọc lại bài viết này cho anh nghe. Anh rất vui và xúc động.. 16h ngày 19/2 thì nghe tin anh đã từ giã bạn bè…
Tôi xin gửi bài viết này như thắp một nén nhang không màu khói để tiễn anh về cõi vô thường. Và tưởng nhớ những ngày chung sống cùng anh và các bạn văn ở nhà bs Thiện tại Paris..
TVD

“ Lời tình buồn” . Thơ, nhạc
và các bản dịch . Anh, Pháp, Ý.

Trương Văn Dân

Gần 50 năm trước bài thơ Lời Tình Buồn của Chu Trầm Nguyên Minh xuất hiện như một lời chia tay trong tâm trạng bấp bênh, mang đầy nuối tiếc của kẻ ra đi mà chẳng biết ngày về… “Anh đi rồi” vang lên như lời than thở của kẻ đang giã từ đời sống bình yên để bước vào cõi đạn bom. Cuộc ra đi đó là dấu chấm hết của đời thư sinh, xếp bút nghiên để cầm lấy súng. Bản tính hiền hòa, CTNM mang súng mà có lẽ chắc chẳng biết phải dùng súng để làm gì. Trong lòng anh chỉ mang nặng những âu lo, trước mắt anh chỉ có một bầu trời đầy sa mù nên lời thơ của anh âm thầm vang lên như một nỗi buồn thân phận. Cá nhân. Nhưng cũng là tập thể, của những trai tráng cùng thời…

Chỉ với câu thơ đầu : “ Anh đi rồi còn ai vuốt tóc”…. Bài thơ đã ngân lên như một khúc nhạc nhẹ nhàng, nhưng cũng đầy day dứt, xót xa khi phải xa cách trong tình yêu.
Chỉ một từ “đi” thôi nhưng sao nó làm nỗi buồn như kéo dài đến vô tận! Từ “đi ” ở đây không hẳn là chuyển động… mà còn là sự chia ly, là kéo dài khoảng cách không gian giữa hai kẻ yêu nhau, sẽ không còn thấy, không còn gặp, không còn được tình tự, âu yếm nhau nữa.
Một cảm giác cô quạnh khi hai người không được sống bên nhau. Sự chia ly làm kẻ ra đi buồn da diết và tình yêu sâu sắc của anh dành cho người ở lại lúc này đang lớn lên như biển như trời. Những câu hỏi kế tiếp chính là nỗi băn khoăn của kẻ ra đi: “đêm xuống rồi em buồn không hỡ?” Trời sa mù tầm tay với âu lo…
Chắc chắn là chỉ trước lúc xa nhau con người mới cảm nhận hết tình yêu thương, sự mất mát và nỗi cô đơn. Ý tưởng không mới, cũng chẳng lạ… thế nhưng người đọc thơ anh cứ nghe lòng buồn da diết – Có lẽ nó giải bày niềm khát khao hạnh phúc và nỗi đớn đau lúc chia ly trong tình yêu bằng cảm xúc rất thật, rồi ngôn ngữ và nhạc điệu đã làm cho cảm xúc thăng hoa? Đọc thơ anh, không khó nhận ra là lời thơ tự nhiên tuôn chảy, hoàn toàn không cường điệu hay cố gắng tạo ra những tiếng kêu thê thiết… mà âm vang vẫn man mác, trầm buồn.
Anh đi rồi còn ai đưa đón…
Nỗi lo lắng đơn giản mà xúc động. Những câu hỏi sau đó còn được anh liên tiếp, phóng bút đưa ra, dồn dập… như sự hốt hoảng này chính là nỗi buồn/nhớ đang giăng ngập hồn mình. Nó chiếm lĩnh trọn tâm hồn kẻ ra đi.
Bởi ra đi trong thời khói lửa chiến tranh là sự ra đi một đi không trở lại.             

Quá khứ không quay về… Có còn lại chỉ là những kỉ niệm về ngày xưa. Những hoài niệm làm người đi day dứt… nên “đi rồi” mà như vẫn đứng đó, ngẩng nhìn về phía sau, vì, chỉ một chút nữa thôi là không còn chi nữa. Không còn mái tóc xanh “trùng dương sóng lượn” không còn cả ngôn ngữ để “ nói hết yêu thương”.

Đi, mà lòng vẫn ao ước được ở bên em… ở đâu cũng được, dưới thấp hay trên cao, thậm chí lơ lửng giữa bầu trời như một đóm sao…miễn là được nhìn thấy em, chiêm ngưỡng em… chăm lo cho em mọi thứ. Nhưng đi rồi…thì không gian xa khuất… nên lòng “..chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng”

Bâng khuâng. Và lo sợ. Vì ngày mai biết đâu anh sẽ không còn sống, hay sống sót trở về mà một phần xương thịt đã gửi lại núi rừng.
Bài thơ chỉ có vỏn vẹn 112 chữ nhưng chứa đựng bao điều muốn nói. Ngắn, nhưng cô đọng những tâm tình, những âu lo, mất mát, của tuổi thanh xuân chìm sâu hun hút theo dòng lịch sử của một thời chinh chiến.

Bài thơ khi đọc lên, tự nó đã thấy buồn. Rồi qua lời hát nó còn da diết hơn. Thê thiết hơn. Ngôn ngữ trữ tình thanh thoát còn được bay lượn trên làn sóng âm thanh làm lòng người nghe cảm nhận một cảm giác chơi vơi. Đó có phải là kí ức về một thời trai trẻ, về mối tình đầu… mà ai ai trong chúng ta cũng sẽ giữ mãi? Cho dù ngày sau có ra sao đi nữa…có chết đi…thì vẫn hạnh phúc vì đã có được một tình yêu nồng thắm… “Phúc yêu em dấu lần quá khứ ”…Âm thanh du dương cao vút rồi khép lại bằng “ Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô” …
Rồi tất cả chìm vào hư không… Còn lại chăng chỉ là một nỗi buồn, tiếc, nhớ… mênh mang…

&

Thơ là một dòng suối mà ngôn ngữ là con thuyền chuyên chở cảm xúc, nhờ thứ ngôn ngữ cô đọng đó nên “cái bên trong” của nhà thơ… lan ra bên ngoài…tưới mát tâm hồn và chạm đến trái tim người đọc. Thế nhưng xưa nay hiếm có những bài thơ mà âm vang dừng lại thật lâu, đọng lại trong tâm người thưởng thức..
Phần lớn những vần thơ đến với chúng ta chỉ trong một thoáng, nó như bức tranh mây đa sắc xuất hiện giữa bầu trời…và hình như chỉ khi nào có một họa sĩ tài hoa bằng nghệ thuật độc đáo của mình, nắm bắt được hình ảnh bất chợt, vẽ lên tranh thì hình tượng ấy mới trở nên cụ thể, hư ảo và sắc màu cùng hiện thì cảm xúc của nhà thơ mới được hình tượng hóa : và người yêu thơ mới có thể cảm nhận hết sự cộng hưởng của giai điệu và lời ca.
Bài thơ Lời Tình Buồn của CTNM nhẹ nhàng và ngôn ngữ tự nó có mang theo âm tiết như một bài ca. Nhưng phải nói thêm là tiếng vang của nó sẽ vụt tắt nếu không bắt gặp bàn tay tài hoa của Vũ Thành An. Chính có sự gặp gỡ này thì ngôn ngữ và âm thanh mới giao thoa và những cung bậc cảm xúc được vang lên bằng một thứ âm thanh len lỏi vào trái tim người nghe, ngân vang và được lưu giữ mãi.
Bài hát đã chắp cánh cho những vần thơ ngọt ngào, da diết … bay cao, lay động lòng người.

Nhiều năm sau nghe lại Khánh Ly (*)…giọng hát có lúc trầm buồn, có khi cao vút, khơi dậy trong lòng người nghe những nỗi nhớ của một thời yêu thương, lòng vấn vương bao kỷ niệm của hương xưa, của thuở chiến chinh, của trời mây non nước… Lời Tình Buồn cuốn hút, mang tâm hồn tôi bay ngược về quá khứ, hất tung những hình ảnh bị che mất dưới lớp bụi mịt mờ của thời gian…

Trương Văn Dân

Sài Gòn 1/2014

Trong cảm xúc ấy, xin ghi lại ở đây bài thơ Lời Tình Buồn của Chu Trầm Nguyên Minh:

LỜI TÌNH BUỒN

Anh đi rồi còn ai vuốt tóc
Lời tình thơm sách vở học trò
Đêm xuống rồi em buồn không hở
Trời xa mù tầm tay với âu lo

Anh đi rồi còn ai đưa đón
Áo em bay khuất mất thiên đường
Tuổi hai mươi vòng tay chờ đợi
Ngôn ngữ nào anh nói hết yêu thương

Anh đi rồi còn ai chiêm ngưỡng
Cổ em cao tay mười ngón thiên thần
Tóc em xanh trùng dương sóng lượn
Anh chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng
 
Anh đi rồi còn ai tình tự
Đêm đầy trời ru tiếng nhớ bơ vơ
Phúc yêu em dấu lần quá khứ
Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô.

Chu Trầm Nguyên Minh

…và bản dịch sang tiếng Anh của Đặng Lệ Khánh :

Love Blue
 
Once I am away, no one will softly touch your hair
Loving words – sweet as school years – no longer murmured to your ears
Night is falling now, are you feeling heartbroken
Misty fog is dripping down filling your arms with worriment
 
Once I am away, no one will pick you up and see you off
Paradise becomes unreal, so is your fluttering dress
Being twenty something, we are waiting for embraces
No word, nor language can describe my love enough
 
Once I am away, no one will adore your graceful neck
And your fingers so heavenly delicate
Your long hair flows like soft waves in the ocean
Standing here, in sudden sadness, I am longing for none
 
Once I am away, there will be no one to share your love
The night sky is filled with songs of remembrance and sorrow
The joy of loving you will soon be flowing into the past
And our first kiss will be falling into emptiness
 

và hai bản dịch sang tiếng Pháp và tiếng Ý của Elena Pucilo Truong

Les paroles tristes pour un amour     

Je suis parti ….Qui te caressera les cheveux ?
Les mots d’amour parfument encore les cahiers
Tu seras triste quand  tombera la nuit
Et le ciel brumeux te remplira de souci
 
Je suis parti…Qui t’accompagnera ?
Vole la bande de l’ao dai , en voilant le paradis
A vingt-ans , les bras sont ouverts en attendant un amour
Par quels mots je pourrais exprimer  tout mon sentiment?
 
Je suis parti….Qui  adorera
Ton long cou et tes doigts d’ange
Tes cheveux, fluctuants comme une vague de l’océan?
Et le regard se perd dans la tristesse…avec émotion
 
Je suis parti….à qui tu t’es confieras ?
Le ciel nocturne  murmure la nostalgie mélancolique
La chance de t’avoir aimée , maintenant me fait oublier notre passé
Et le premier baiser sombre déjà dans le rien…
 

Bản dịch sang tiếng Ý :

Le parole tristi per un amore

Sono partito, chi ti accarezzera’ i capelli ?
Le parole d’amore profumano ancora i quaderni
Sarai triste quando calera’ la notte
E il cielo nebbioso ti riempira’ di preoccupazione.

Sono partito..chi ti accompagnera’?
Il lembo di ao dai vola, velando il paradiso
a vent’anni , le braccia sono aperte in attesa di un amore
Con quali parole potrei esprimere tutto il mio sentimento?

Sono partito… chi adorera’
Il tuo lungo collo e le dieci dita d’angelo
I tuoi capelli, fluttuanti come l’onda dell’oceano?
E lo sguardo si perde nella tristezza…con emozione

Sono partito… con chi ti confiderai ?
Il cielo notturno sussurra la malinconica nostalgia
La fortuna d’averti amato ora mi fa dimenticare il nostro passato
Ed il primo bacio già sprofonda nel nulla…

Cuối cùng xin mời các bạn lắng nghe Lời Tình Buồn qua tiếng hát của Khánh Ly.

(*) http://nhacso.net/nghe-nhac/loi-tinh-buon.XVpXVkJa.html

EM NHÌN KIA BẦY DI ĐIỂU ĐANG VỀ

Di điểu từng bầy bay trở lại
Mùa Xuân trời xanh mà nắng hồng
Di điểu từng bầy đi trốn Đông
Nay ấm rồi em nhìn đi, vui nhé

Em dễ thương ơi, em là con chim lẻ
Mùa Xuân về em đậu vai anh
Anh đi hái nắng hồng, anh đi mở cửa trời xanh
Em có anh rồi, em thôi buồn bã…

Vườn của anh chừ có hoa có lá
Như rừng kia tuyết rã băng tan
Em thấy không chim vui rộn ràng
Chúng về đậu chắc trên triền núi?

Em hãy đậu trên vai anh tới tối
Rồi anh bồng em đi hái một cành hoa
Và một chiếc lá cho em xuýt xoa:
“Anh đừng làm héo lộc Xuân, tội lắm!”

Anh cảm ơn em, tình em vẫn đậm
Một phần cho anh, một phần cho Trời Phật từ bi
Anh mừng em, em như chim đang về
Anh làm ổ và ru em như đưa võng…

Anh sẽ làm bất cứ điều gì cho em cảm động
Và mình yêu nhau cho tới ngàn sau
Anh sẽ ru em bằng những câu ca dao
Chẳng hạn câu: “Chim xa rừng thương cây nhớ cội!”

Em à em, thôi mình đừng nói
Em nhìn kia: Bầy Di Điểu Đang Về…

TRẦN VẤN LỆ

Ừ! THÌ MÙA XUÂN

Mưa thưa
vườn tỉnh lặng
Mưa thưa
vạt áo em dẫu cố vân vê
rồi cũng bay
trên thoáng gió hoang vu.

Ta thắp muộn tháng ngày
chông nhọn
Ai chơi vơi ?
mảnh linh hồn cội rễ
giữa Sài Gòn bây giờ muôn mặt lạ.

Em Sài Gòn
bẳng quên đi hồn phố
trên từng hàng cây thắp nến
lòng xưa từng mê điên

Lòng nay sao cỏ dại ?
mưa thưa
Ta hay còn ai ?
lạc lỏng đến cả chuông giáo đường
nên vội nép mình
vào vĩa hè
ôm ghì ta
luân lạc …

CHU THỤY NGUYÊN

LY KHÚC

dinhlevu

Người đi, lòng người buồn hay vui
Trong tôi bỗng biết điều đã mất
Con đường tiễn người đi lá xanh ngút mắt
Người có thấy trong mắt tôi một sắc lá hanh vàng?

Người đi, cõi nhân gian chợt rộng thênh thang
Tôi la hét, tôi khóc cười một cõi
Nỗi buồn tôi quẩn quanh như khói
Sao chẳng tan đi như gió cuối ngàn?

Người đi, đôi ngày, nửa tháng hay dăm năm?
Người sẽ về hay không về nữa?
Tôi ngồi đây nghe tiếng đời lăn
Thời gian trôi qua tim như vết cứa…

ĐINH LÊ VŨ

ANH ĐI RỒI CÒN ĐÓ BIỂN TÌNH ANH

Buông điện thoại xuống, tôi chưa kịp nói gì thì Đoàn Nguyên đã hỏi vội :
– Có phải anh ấy đã không ổn !?
– Ảnh không ổn rồi, chị Tùng Vân nói hôm nay phải sắp xếp cho anh ấy xuất viện. Mình đến còn kịp.

Đoàn Nguyên chưa gặp anh Chu Trầm Nguyên Minh lần nào. Trước đây tôi cũng chưa từng gặp được anh Đoàn Nguyên ở ngoài đời. Khi nghe tin tôi vừa về lại SaiGon sẽ đến thăm tác giả của bài thơ Lời Tình Buồn, anh cũng muốn cùng đi. Sáng nay chúng tôi đã gặp nhau trước khi đến với anh Chu Trầm Nguyên Minh.

Vậy thì anh Chu Trầm Nguyên Minh ơi, anh lại là cầu nối cho lớp trẻ chúng tôi, những thằng lang bạt ở đất người gặp nhau, biết nhau để cùng sẻ chia những trôi nổi đường đời. Những người lang bạt chưa già nhưng cũng đã không còn trẻ nữa, những người tìm đến với nhau chỉ với một tấm lòng.

Khoảng mấy tháng trước, qua mạng tôi liên lạc với anh Đoàn Nguyên, lâu nay anh sinh hoạt ở trên sannhac.com. Tôi đang có mấy bản nhạc đã ký âm mà anh Chu Trầm Nguyên Minh gởi cho. Tôi nhờ anh giúp cho việc phối âm, xuất ra file mp3. Một việc nhỏ nhưng lại là lớn đối với người không sành nhạc lý như tôi, lớn vì đây là việc làm mà chỉ những người cùng bắt được sóng của nhau mới xắn tay áo cho nhau. Không những phối khí cho nhạc bản Về Thôi Em Ơi do anh Nguyễn Phú Yên phổ bài thơ Đêm Tạ Từ của anh Chu Trầm Nguyên Minh, anh em bên sannhac.com, anh Vũ Hoành còn tự hát mẫu làm nền cho file nhạc.

Việc làm ấy của những nghệ sĩ không chuyên đã làm rung động cả tâm hồn nghệ sĩ, nhạy cảm của người thơ : anh Chu Trầm Nguyên Minh. Quãng trước Tết anh Chu Trầm Nguyên Minh có thuật lại anh Nguyễn Phú Yên đã tiếc là không kịp sửa một vài chỗ trong bản nhạc trước khi anh em bên sannhac phối âm, nhưng với anh, anh rươm rướm nước mắt, tất cả đã đến với anh chừng ấy là quý giá vô ngần rồi. Trong anh là cả một biển tình.

Tôi chỉ mới được làm quen với anh Chu Trầm Nguyên Minh gần đây qua sinh hoạt anh em Tập San Quán Văn. Thế hệ chúng tôi trước kia sống trong các Ca Khúc Da Vàng. Thấm đau thân phận con người nên chúng tôi đâu có ngỡ ngàng gì trước tâm sự sâu kín của anh :

Đêm xuống rồi em buồn không hở ?
Trời sa mù tầm tay với âu lo

Chu Trầm Nguyên Minh có cách nói thật nhỏ nhẹ, dịu dàng. Trong một lần cùng uống café với tôi và Ngọc Thơ. Anh nhẹ nhàng khuyên chúng tôi :
– Mấy em đừng nên ôm đồm nhiều. Làm ít nhưng phải làm thường xuyên. Mỗi ngày chỉ cần viết một đôi dòng. Nghĩ gì ghi để đấy. Sau góp lại thì có biết bao điều mà các em cần chuyển tải.

Đối với những người khác thì đó là chuyện thường tình. Nhưng với chúng tôi, những đứa tập tành cầm bút, những người mấy mươi năm rồi mới biết tới cây viết, đó mới là những lời khuyên chân tình, thiết thực. Bên ngoài anh như một hồ thu phẳng lặng, nhưng trong anh, kể cả trong thơ anh là biển tình dậy sóng.

Đoàn Nguyên lấy điện thoại mở bản nhạc Về Thôi Em Ơi mà Thy Xuân – bạn đời của Đoàn Nguyên là người hát áp vào tai anh cho anh nghe. Anh đang thở oxy. Anh thở thật khó nhọc, nhưng lúc ấy tôi biết anh đang nghe tấm lòng của người đến với anh. Tôi chuyển cho anh Tập san Tương Tri số 10 mà anh em giao tôi mang đến. Chị Tùng Vân nói sẽ đọc cho anh nghe. Lúc xế chiều Ngọc Thơ điện đến bảo là anh đã đi rồi ! Anh đi, có lẽ Chị Tùng Vân chưa kịp đọc, nhưng tôi biết anh đã nghe đọc vì với Tương Tri :

Mấy lời tâm phúc ruột rà
Tương tri dường ấy mới là tương tri …

Lòng anh là biển tình. Biển bao la dung túng mọi bụi bặm của trần đời. Anh đã từng :

Giữa mênh mông một mình anh đứng ngóng
Gọi tên người sao mải miết vô tăm

Chỉ bao nhiêu đó biển tình của anh đã long lanh nước mắt. Anh đi rồi, nhưng với chúng tôi Anh vẫn còn đó. Còn đó Biển Tình Anh.

Đêm 19.02.2014
TRƯỜNG NGHỊ

Chu Trầm Nguyên Minh Viết Về Chu Trầm Nguyên Minh

biactnm1

Chu Trầm Nguyên Minh
1943- 19/02/2014

Xin công bố tiểu sử anh Chu Trầm Nguyên Minh do chính anh viết với ý nguyện chỉ phổ biến sau khi mất.

ĐẶNG CHÂU LONG

Thời thơ ấu: Phú Bình, Hầm Đá, Ninh Thuận, Rừng Già, Rãy Nổ, khu Lê Hồng Phong, Rừng Tròn, Đá Bàn.

Nguyên quán: Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Sinh 1943 tại Phú Bình, Hàm Liêm một vùng ngoại ô Phan Thiết.

Rồi chuyển về ở Hầm Đá, trên QL8, cách Phan Thiết 6km5, hướng Bắc.

Có 6 chị em: chị hai: Trần thị Sâm [chết khi tròn tuổi], chị ba:Trần thị Nhung, chị tư Trần thị Trung, chị năm Trần thị Hiếu, thứ sáu Trần đức Tâm[CTNM] con trai út Trần hữu Thành.

-Cha theo Việt Minh thỉnh thoảng mới tạt về. Mẹ làm nghề may vá, nuôi 5 chị em.

-Thời gian này, kinh tế gia đình sung túc, gia đình có căn nhà ngói đỏ, kiềng đá xanh 1 trong 2 căn nhà xây ở khu Hầm Đá.

-Bỗng một đêm, người cha về cùng một số đồng đội, đập, phá nát căn nhà thành đống gạch vụn, lý do: “Không để Tây đóng đồn”

-Dòng nước mắt Mẹ rơi, cũng là lúc CTNM nhận cuộc đời nổi trôi của phận mình.

-Ngay đêm đó Cha đưa vợ con vào vùng “Xôi Đậu“ -Tây tàn sát tự do- thôn Ninh Thuận Xã Hàm Chính, gần Chiến Khu Rừng Già, nơi người cha đang ở, thuộc khu Tam Giác Bình Thuận có ba đỉnh là Mường Mán, Ma Lâm, Phan Thiết.

-“ở đậu” sau một trận càn là đổi chỗ ở, ba người chị và mẹ đi gặt thuê, CTNM được đi học “lớp Bình Dân Học Vụ’ của Việt Minh, học ban đêm, mỗi người mang theo đèn dầu “hột Xoài” loại đèn nhỏ, ít hao dầu.

-Pháp treo giải thưởng, ai bắt hay đem đầu Trần Hoành bí danh Tư Úc, cha của CTNM, rồi sau đó đến vợ, con. Một thời CTNM sống trên lưng “đồng chí” của cha, chạy trốn từ Rãy Nổ, Rừng Già, Xóm Rơ, Ninh Thuận, Bàu Sẻ….

-Cha bị Pháp bao vây, không đầu hàng, bị bắn chết khi đơn thân độc mã chống lại cả đại đội Pháp. Mộ chôn tại Chiến Khu Rừng Già. Khoảng 1947.

-Mẹ đem các con lên rừng, cất chòi, sống bên mộ cha -ở đây có điều không quên:

+ Chòi cất dưới cây Cức Mọc, loại cây rất cao, ở cháng 3 trên ngọn, có một tổ chim làm bằng cây khô nhỏ của vợ chồng Đại Bàng, [hay Kênh Kênh, Ó…] sáng chiều chúng gắp rắn, gà, thỏ,… mang về cho con ăn, nhất là rắn, vắt một vệt dài màu đen trên nền trời … và tiếng la.. hoang dã, dị thường.

+ Gia đình: Chị và mẹ không đủ quần để mặc, phải mặc chung, CTNM và đứa em.. ở truồng là chính. Mền đắp hằng đêm là bao bố đựng gạo tháo chỉ, thức ăn chính khoai mì [sắn]

+ Gần chòi là nơi đóng quân của Đại Đội Phạm Hồng Thái, một đêm đánh đồn Ma Lâm, rút về. Lần đầu tiên CTNM thấy người chết và bị thương nhiều như vậy, nỗi kinh hoàng thành ám ảnh.

+Tiếng chim đa đa…

+Hình ảnh Mẹ … chiều chiều ngồi bên mộ Cha.

Mãn tang cha, mẹ đưa gia đình về lại Ninh Thuận, lập lại cuộc đời cũ, gặt thuê, làm mướn, mẹ và các chị chung tay nuôi gia đình, thời này có mấy việc:

+Người chị Cả, Trần thị Nhung, có chồng -một cán bộ Việt Minh – Chị về làm dâu ở Phan Thiết.

+ Em út, Trần hữu Thành bị móc-chê Pháp câu chết.

+ Quân Pháp thua ở Nà Sản phía Bắc, rút về Nam, chúng chọn Tam Giác để báo thù, trận bố kinh hoàng xảy ra, “Trận Bố Ba Ngày”, biết bao xương máu đồng bào Tam Giác đổ xuống trên quê hương này. CTNM ngơ ngác trong nỗi kinh hoàng.

+CTNM và người chị kế Trần thị Hiếu, được “nhà nước Việt Minh” đưa đi học ở trường Trung Bình tại chiến khu Lê Hồng Phong [thời chống Pháp, Việt Minh có ba trường ở Miền Nam, trường ở Đồng bằng Sông Cửu Long [tôi quên tên], trường Lê Khiết ở Quảng Ngãi và trường ở Cực Nam Trung Bộ, ở giữa, nên là Trung Bình] người “trên tỉnh” về đưa chị em CTNM đi là cán bộ nữ tên Nguyệt, phải nhiều lần hẹn giao liên, Chị Nguyệt đưa chúng tôi vượt QL8 vào một đêm tối, có lúc phải nằm mẹp, có lúc bò, có lúc chạy… qua Xoai Quỳ, Sa Ra, Giếng Chanh và đến khu Lê. CTNM học ở đây gần hai năm..thì “má bệnh nặng, hai em về gấp”, chị em chúng tôi lại nhờ “tổ chức” đưa từ khu Lê về Phan Thiết.

Trước khi đến nhà anh Từ Thế Mông, chừng 50m, bên phải, ngày xưa có dãy nhà gạch dài, đó là “nhà thương thí” mẹ CTNM đang nằm ở đây.

Hai chị em, đi như chạy trên hành lang… bỗng cả hai quỳ xuống ôm cứng cái xác chết mà người ta trùm kín, trên băng ca, đem xuống nhà xác… cả hai cùng òa khóc “Má ơi”.

Sau này, tôi hỏi chị: từ đâu chị nhận ra Má, chị nói: “cái mền đã theo gia đình ta bao năm..” Phần tôi, tôi nhận ra má tôi từ bàn tay ló ra khỏi chiếc mền cũ màu xám đó.

Hôm sau, hai chị em CTNM theo xác má về chôn ở Phú Bình, nơi chị em CTNM và người mẹ sinh ra… Buổi chiều đó, mộ chưa đắp xong, thì có tin Tây từ Xung Phong kéo lên, phải chạy, khi mộ mẹ chưa đắp xong.

“ Khi con về đó muộn màng

Mẹ từ dương thế khói vàng lung linh”

[Hành Lang Vĩnh Biệt]

-Trong thời gian học ở khu Lê:

+Lớp học khoét dưới gốc cây Tâm Lan, trong rừng Tâm Lan, nhiều Dông, Thỏ và Cọp, [có nữ sinh tên Hồng, trên đường đến trường, bị Cọp chụp và na đi, ba ngày sau tìm được chỉ còn cái đầu]

+Mỗi học sinh khi đến trường ngoài giấy bút còn cây súng gỗ, ruột tượng gạo, bidong nước… khi chào nhau nắm bàn tay lại đưa lên giữa trán. Đêm còn tăng gia sản xuất rau, củ.

+ 25 chiếc Dakota chở lính “lê dương “ nhảy dù xuống khu Lê, ba ngày sau mới biết ai còn ai mất, và cũng ba ngày sau, cái áo của CTNM mặc còn hôi mùi thuốc súng.

+ Trong rừng Tâm Lan có 12 nấm mộ của các văn công đoàn Sao Vàng, mỗi lần đến đó, CTNM thấy buồn.

-Ba chị em về lại Ninh Thuận, lại tá túc nhà người quen, ở đậu, làm thuê nuôi nhau. CTNM và Chị Hiếu không trở lại khu Lê nữa..

-Tình hình chiến sự nghiêng về địch, Việt Minh không giữ nổi Tam Giác, đã dần trở thành vùng bị chiếm. Có 3 giải pháp, 1 -theo Pháp ở yên tại chỗ, 2 -về thành tức về Phan Thiết, 3 -vượt đường sắt lên Rừng Tròn, Đá Bàn… (giáp Trường Sơn, Lâm Đồng) theo “kháng chiến tức Việt Minh. Ba chị em CTNM chọn giải pháp thứ ba..

-Rừng Tròn–Đá Bàn: cây cao đan dày, ánh sáng chỉ chen qua khe lá “trên Đá Bàn thân trùng lấy bóng”, có con suối, tre lồ ồ ngã che kín, “nước suối thiêng soi đâu thấy mặt mình”… và biết bao chuyện của rừng thiêng, nước độc. Đàn khỉ dễ chừng cả nghìn con, đại bàng, ó. “Bóng ó bay tiếng rớt ngậm ngùi” và có đêm 4, 5 chú cọp nhảy giỡn trăng nơi sườn núi có phiến đá bằng phẳng như cái bàn…và.tiếng hú lúc nửa đêm … của một loài ó hay một linh vật [?]… chỉ biết, khi tiếng hú cất lên thì từ các loài thú trong rừng, đến con ngươi đều… sợ. ..tất cả đều im lặng… tiếng hú dài nhỏ dần rồi chìm mất trong đêm tối. Thời gian ở đây, CTNM nghe tiếng hú thần bí đó một lần và nhiều năm sau, khi nhớ lại còn “ớn lạnh”

-Khi đến đây, CTNM được nhắc để nhớ: không đụng đến bất cứ cây, đồ vật, con vật nào … nhìn thấy… Ớt chín vàng, cây Thị trĩu trái, đu đủ… không biết ai trồng… và, trời ạ, rắn, không biết cơ man nào mà kể, rắn vắt vẻo trên mái chòi làm bằng lá dầu, lểnh nghểnh ngoài sân… dài, ngắn, có khoang đen trắng, đủ loại, đủ cỡ … nhớ không “đụng”đến bằng bất cứ hình thức nào..

-CTNM phạm phải điều kiêng kỵ, suýt chết, [kể ra như chuyện “phong thần’ rất khó tin, nhưng thật hơn 100%] …

-Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Geneve ký kết… hòa bình lập lại, chia hai đất nước. Trong danh sách những người dân được Tập Kết, có tên chị Trần thị Hiếu và Trần đức Tâm tức CTNM. Anh rể -một cán bộ VM cấp cao –nói: “Các em ở lại học tập tốt là được rồi” vì cứ nghĩ hai năm nữa là Thống Nhất, hai chị em không đi.

-Căn nhà ở Hầm Đá chỉ là cái kiền đá xanh, bị cạy lấy đá nham nhở, ba chị em lơ ngơ rồi quyết định về Phú Bình, nơi có mộ Má, ở đây còn bà Ngoại và ông chú thứ Năm, em ruột Ba. Từ đây, một vài lần xuống Phan Thiết, CTNM thấy nhiều điều lạ, người đẹp, nhà đẹp, học sinh đến trường… những cảnh mà trong đời CTNM chưa thấy, và, nghiệm ra một điều, muốn hòa nhập cái xã hội xa lạ này, con đường duy nhất là học, và phải học thành tài… Ở tuổi 12, trên đường về, lúc qua hết cái cầu làm bằng sắt -bây giờ gọi là Cầu Giữa- CTNM đứng lại, nhìn cái château d’eau trong vườn bông, nhìn dòng nước con sông Mường Mán, thề rằng: “không học đỗ tú tài, tôi sẽ nhảy xuống đây mà chết”

Thời niên thiếu-thanh niên: Phan Thiết, Nha Trang.

-Lúc đầu, xin học trường làng, nhưng bị từ chối vì “cộng sản con”, trường xa, trường gần … đều gạt tên cùng một lý do. Hai người chị, nhất là chị Trung, bị bắt ngay sau hòa bình, chị Hiếu cũng không yên. Ba chị em quyết định, thay tên đổi họ để không là “CS con”. Trần Đức Tâm[CTNM] về ở với cậu tại Phan Thiết, làm lại khai sanh tên: Phạm Minh Tâm, chị tư Trần thị Trung, đổi thành: Nguyễn thị Trung, về ở với chú Năm, em cha, tại Hàm Liêm. Chị năm Trần thị Hiếu thành Phạm thị Hiếu về ở với Dì, chị của Má ở Bàn Cờ Sài Gòn… Cho mãi đến bây giờ, về mặt pháp lý, chị em tôi cũng không phải ruột thịt

-CTNM về ở với cậu, tại 45 Lý Thường Kiệt, Phan Thiết học lớp Nhì [L4] trường tiểu học Đức Thắng.

+3g sáng, thức dậy, vớt gạo ngâm, xay thành bột.-đâm lá dứa, – xẻ ớt và đâm nhỏ -xếp chén đĩa vào mâm -bỏ một lò lửa lớn quạt cho lừng lên. -[hai ngươi lớn bợ cái lò lửa đang bừng cháy này để lên đầu CTNM]-đội lò lửa ra bên kia đường, chỗ ngồi bán bánh bèo ăn chén [hai người bợ lên, đi theo, đỡ lò lửa xuống..] rửa mặt, ôm sách, vở và ….… chạy… đến trường..

+2g -17g: dọn cơm cho cả nhà [6 người ăn ], rửa chén, chén bánh bèo [hơn 100 chén].

-Ngâm gạo, luộc ớt, rửa lá dứa, chuẩn bị cái lò …. và ủi đồ cho cả nhà. Hôm nào không ủi đồ, thì làm khuy, đơm nút áo [Cậu làm nghề may]… Hễ thấy tôi cầm vở học là bà Mợ có chuyện để bảo làm.

+ Việc làm vừa nói trên, với CTNM, không nhằm nhò gì, nhưng có điều xảy ra, người Mợ xem cháu của chồng như đứa ở, khai thác tận cùng sức lao động, không cho giờ nào rảnh để học, cư xử không tình người, Mợ muốn không cho tôi đi học…

– Mâu thuẩn giữa Cậu và Mợ, kẻ thương cháu, người thì ghét, Cậu không vui.

– Cậu CTNM, đứng ở giữa, lại có chút sợ vợ, nên bị kich động bởi sự xúc xiềm của vợ. Có một lần, Cậu vừa đánh vừa khóc. CTNM nhìn dòng nước mắt của Cậu khi vung roi lên người đưa cháu. CTNM cắn răng và quyết định ra đi.

“Thôi cậu hỡi thương con đừng khóc”

“ Đời mồ côi con xin sống qua ngày”

[Trong Phận Chàng]

-Bà Mợ kinh ngạc rồi hối tiếc, khi CTNM nói: Con xin lạy tạ Cậu Mợ đã nuôi dạy con lâu nay. Con về lại Phú Bình chỉ vì muốn ở bên mộ Má con…

Khi rời nhà cậu, có hai việc tôi nhớ: dòng nước mắt của Cậu khi đánh tôi và gần như suốt thời gian ở nhà Cậu Mợ, lúc xay bột, khoảng 3g30 sáng, ở ngoài đường vọng vô: giọng đứa con trai cỡ tôi: Bánh mì… Bánh bao… là Bánh chiên Bánh chiên… bánh bao… là bánh mì… âm thanh đó, như một lời nhắc nhở, một động lực cho tôi thực hiện lời thề. Người bạn đó, nay còn cũng 70, như tôi. Bạn không bao giờ biết có người mang ơn bạn và mãi mãi nhớ tiếng bạn cất lên đêm đêm ngày nào. Tôi mong cuộc đời này không đày đọa bạn như đã đày đọa tôi.

Tôi ở nhà Cậu tư lớp Nhì đến gần hết năm lớp nhất, hơn một năm.

-Về ở với chú, về lại Phú bình

Chị tư Trung nói: “Con xin làm mọi việc dù nặng nhọc xin Chú Thiếm cho em con chỗ ở và cơm ăn… để đi học” Chú thiếm chấp thuận. Chú Năm là người em trai kế cha tôi, cha tôi đã đưa chú từ Quảng Ngãi vào, cha má tôi đã dựng nhà cho Chú Thiếm. Chú Nam là nông dân rặt, tính hiền, ít nói.

Lúc này, không nói, nhưng ba chị em tôi, ai có nhiệm vụ nấy: Chị tư Trung lo cho tôi cơm, áo. Chị năm Hiếu lo cho tôi sách vở, còn tôi phải học thành tài.

– Từ Phú Bình đến thị xã Phan Thiết áng chừng 5, hay 7 km, tôi dậy sớm, nhận từ tay chị Tư gà mèn cơm, theo sau những chị gánh củi, vác tre xuống Phan Thiết bán. Họ đi rất nhanh, tôi phải chạy lúp xúp mới theo kịp, treo cơm trên cây Muồng, bên Sân Tennis,trong vườn bông, rồi đến trường. Buổi trưa, trở lại, ngồi ăn trên ghế đá, nhìn đàn én bay quanh château d’eau

Tôi thi đậu Tiểu Học, Đệ Thất, Trung Học, Tú tài 1 ở trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, từ lớp đệ Lục [lớp7], tôi đã đi dạy kèm.

Tôi muốn sống được bằng sức của mình, muốn hai chị tôi không vì tôi mà để tuổi thanh xuân trôi qua. Hai chị từ chối hôn nhân, với lý do phải nuôi tôi đến lúc thành tài. Rồi hai chị có gia đình và tôi có cháu gọi bằng cậu…

Ngày đó, Phan Thiết chưa có trường nào, -kể cả Phan Bội Châu- mở lớp đệ nhất [lớp 12]

Học sinh đậu tú tài 1, có điều kiện thì vào Saigon học tiếp, nhưng học trường tư. Học sinh nghèo thì ra Nha Trang học ở Võ Tánh, trường công. Tôi không có tiền, kể cả tiền xe đò để đi. Tôi nhờ bạn Thừa, Chiếu, Quế… ra Nha Trang nhập học, tìm cho tôi một chỗ dạy kèm, hay một việc gì đó kiếm đủ tiền ăn… tôi chờ tin bạn… Thời gian chờ đợi tin bạn, cứ một tuần tôi viết cho thầy hiệu trưởng Võ Tánh một lá thư, nói hoàn cảnh và xin đừng xóa tên… Chị tôi đã bao lần đòi bán chiếc khoen, nhỏ xíu, ngày cưới, cho tôi làm lộ phí, nhưng tôi cương quyết không chịu, “Chị bán là em bỏ học”, Ông anh rể tốt bụng Lê trung Nhị “ bây giờ cần bán đi… mai kia em thành tài em mua cái khác cho chị”.  Tôi vẫn “không” và dọa “bỏ học”… Nhưng không được nữa rồi, trễ thêm trường Võ Tánh sẽ xóa tên. Tôi đành “chị giúp em,” khi trao cho tôi số tiền, mà chị tính, chỉ đủ một vòng xe và 7 ngày ăn… chị nắm tay tôi… nước mắt nghẹn ngào… và “em à..” rồi không nói thêm được lời nào. Tôi đi mang theo hình bóng chị tôi cùng… một cuốn vở học trò chép những bài thơ đã viết và mối tình đầu, biết bao sâu nặng, kỷ niêm. Tôi và Trần Huyền Sâm, tên nàng, gặp nhau tình cờ, trên đường phố, nàng bên kia, tôi bên này, cả hai như dừng lại nhìn nhau, và chúng tôi yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên ấy, lúc đó nàng mới học lớp Đệ Ngũ [lớp 8] còn tôi lớp đệ Tam [lớp 10], H. Sâm nổi tiếng đẹp, rất đẹp, khi mối tình được công khai, nhiều người nhận xét, chúng tôi xứng đôi và đẹp đôi, [ngày đó tôi cũng được nữ sinh trầm trồ “đẹp trai” ] Tôi đỗ Tú Tài 1, Sâm biết sắp xa nhau, và “anh về thăm Mẹ nhé”. Sâm đưa tôi về Mũi Né, quê Sâm, căn nhà ngói mó, rêu phong, trên một đụn cát cao, trước sân có cây khế đang mùa ra hoa[?]. Khi xa, tôi nhớ mãi người Mẹ, đó là người Mẹ tuyệt vời, rất ít nói. Bà tiếp tôi như đón người con đi xa về… Bữa ăn bà dọn đơn sơ, ít món, nhưng ngon miệng, bà ngồi nhìn tôi và Sâm ăn, chốc chốc lại cười, nụ cười rất hiền, rất nhân từ … và tiếng sóng, nhà nàng chỉ cách biển mươi mét… tiếng sóng của đêm hôm đó theo tôi đến suốt cuộc đời.

Xe Phi Long thả tôi xuống ngã 6, lúc nửa đêm, tôi lần theo tiếng sóng đi về hướng biển. Đêm đầu tiên, tôi khoanh tròn dưới gốc dương, nghe sóng vỗ… [những cây dương cao lớn bây giờ trên đường Trần Phú lúc đó chỉ thấp lè tè ]. Tôi học lớp đệ nhất B4 …, khuân vác ở chợ Phước Hải, dán tem, viết thư thuê ở Bưu Điện… làm đủ nghề trong những lúc có thể, để kiếm sống … Sau chợ Phước Hải có xe cơm, chuyên bán cho người lao động nghèo, tôi ăn ở đây và cũng từ đây quen và được những người cùng khổ chia sẻ việc làm: Ngày học, làm … tối khoanh dưới gốc dương … nghe tiếng sóng đêm đêm thì thầm…. Rồi tôi xin được việc làm: dạy kèm cho hai đứa con ông Hiệu trưởng của một trường tư, và chấm bài lớp tiếp liên môn Toán và Văn.

Tôi được ở cùng đứa con út của thầy Hiệu Trưởng và cũng là học trò tôi dạy kèm -tên N, trên một căn gác nhỏ, lộng gió…  hai người con gái của thầy hiệu trưởng nói yêu CTNM. Hoàn cảnh như vậy “yêu là chết “ vả lại CTNM còn Sâm, đang chờ ở quê nhà …

Tôi đậu Tú Tài 2 ban B, em đã hoàn thành lời hứa với chị -chị ơi- và ta đã giừ tròn lời thề năm xưa với Phan Thiết –Phan Thiết ơi.

Thời Trưởng Thành:Sài Gòn, Qui Nhơn.

Sài Gòn

Tôi ghé Phú Bình chào chị, bà ngoại, chú thiếm và hai đứa em thúc bá. Tôi đi vào Sai Gòn quyết lấy “cử nhân”… lại làm đủ nghề… ngồi ở Thanh Thế… nơi những người cầm viết, cầm cọ thường ngồi… ngồi Ngã Tư Quốc tế … nơi nghệ sĩ cải lương thường đến… quen và biết nhiều người trong giới văn-nghệ-sĩ … có cả dân làm chính trị..

-Có ba người để lại nơi tôi nhiều cảm mến: -anh Văn Lương, tác giả bài hát: “Tía em má em hừng đông đi cày bừa” anh nhận tôi làm việc vặt ở tòa soạn một nhật báo mà anh làm chủ bút, lần lần anh cho viết bài “trang tư”, trang viết những chuyện tầm phào, thỉnh thoảng được chạy một bài thơ… nhuận bút cũng chỉ đủ cầm hơi qua ngày, nhạc sĩ Trúc Phương, anh cho ở ké cùng phòng trọ anh thuê [hẻm Cao Thắng ] anh gọi “em trai” và thường xoa đầu khen“đẹp trai” và Dzũng Chinh, bằng tuổi tôi, tác giả phổ bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”. Mỗi lần gặp: vỗ vai, tạm biệt: vỗ vai. Cái vỗ vai ân tình..

Thời gian này tôi viết nhiều, đủ thể loại mà “trang tư” các báo cần, với nhiều bút hiệu.

Nhưng chỉ được “lắp” khi thiếu bài thôi, ba “cột” là nhiều. Viết, chạy suốt ngày, vẫn phải “nhá” cơm cháy… và, trời ạ, vào giảng đường, quạt máy mát, chỗ ngồi êm… dù cố cỡ nào tôi cũng liền… ngủ khì..

-Thời gian này tôi đã trưởng thành, đã chín đời, viết nhiều, nhưng toàn chuyện tào lao, bá vơ… không giữ lại..

-Và sống, chính thức nhờ thau cơm cháy. Ngày đó ở đường Bùi Viện, Q. Nhì [tên đường này vẫn giữ đến ngày nay, Q1] có quán cơm ANH VŨ, đây là quán cơm, được chính quyền bù lỗ, dành cho sinh viên nghèo. Ở phía vách bên phải, có một hàng lổ tò vò, hình chữ nhật, bên trong là người phục vụ và thức ăn, bên ngoài, cách vách có lổ tò vò chừng 0m8, người ta gắn một thanh sắt hình tròn cao 1m, dài suốt theo lổ tò vò. Sinh viên vào ăn trưa, chiều đều phải xếp hàng di chuyển bên trong thanh sắt tròn này. Lổ 1: thẻ sinh viên, mua phiếu. Lổ 2: lấy mâm. Lổ 3: lấy canh, Lổ 4: lấy món mặn, nước chấm. Lổ 5: lấy cơm và đưa phiếu vừa mua, bước thêm vài bước, ra bàn ngồi ăn … Lổ 5 là lổ to nhất –để “thọt” thau cơm cháy qua- và được CTNM đặt biệt chú ý. Cứ 25-26 Sinh viên đi qua, họ thọt ra ngoài một thau cơm cháy, ai muốn ăn cứ lấy, cho không, khỏi trả tiền. CTNM ngồi, đếm số 1, 2, 3… và vào hàng, sao cho khi di chuyển đến lổ số 5 thì thau cơm không trả tiền “thọt” ra, bợ liền, dấn thêm vài bước, ra bàn và ngồi… nhá.[nhai chậm].

Có lúc đến lổ số 5, thau cơm không chịu thọt ra, lại xếp hàng, làm lại keo khác. Nên nhớ, những sinh viên cần thau cơm cháy như CTNM là không ít, sau này, anh em liên kết lại “tiền hô, hậu ủng” vào hàng là bợ được thau cơm. Anh em thay phiên nhau, không tốn thời gian. Ngồi nhai cơm cháy, đôi khi nghĩ, như đang nhai đời mình..

Qui Nhơn

-Lúc này, Chị tư Trung có ba cháu, một trai, hai gái, chồng chết -Chị năm Hiếu có bốn cháu gái –chồng làm diệt trừ sốt rét. Nhìn các cháu khổ, chị khổ… thôi thì, bỏ đại học, thi vào SP cấp tốc Qui Nhơn -giấc mộng “cử nhân” không thành “ra Qui Nhơn nằm nghe gió thổi đêm”

-Lúc này, CTNM viết thêm kịch –thể loại CTNM thích nhất-, vở “Trước Giờ Chia Tay” in ở đặc san Sinh Hoạt SPQN-1962 là một trong vài vở viết trong giai đọan này và cũng viết những vấn đề xã hội… như “Du Đảng Dưới Mắt Nhà Giáo”..v..v..

-Lần xa xứ này, may mắn tôi được người Cậu ở Phan Thiết, mà tôi nói đến ở phần trên, giới thiệu “Cô Ba”, người Phan Thiết ra Qui Nhơn, bán vải ở đường Gia Long, tôi kèm cho 3 đứa cháu của Cô Ba học. Đây thời gian tôi được ăn đủ, ăn ngon nhất kể từ ngày tự lập nuôi thân -quen ba người: Trịnh Công Sơn, Thanh Hải và Nguyễn Huề. Ngày đó Hải nổi tiếng hơn Sơn… Tôi chỉ nói tên người “vô danh” Nguyễn Huề, anh người gốc Quảng Trị, cân nặng, ngồi cùng lớp Cấp Tốc 2[?]. Tôi chỉ có một bộ quần áo, mặc đi học,… Một hôm cái móc cửa bật của lớp học móc rách một lổ trước ngực, phải vá lại… và từ đó các bạn biết tôi chỉ có duy nhất một cái áo… đây là lời thú nhận, hay bằng chứng…  tôi thuộc lớp “vô sản”… nghèo “rớt mồng tơi”. Một hôm, người bạn cùng lớp, không thân, trao cho tôi môt cái gói, gói bằng tờ nhật báo “cậu mang về… rồi hãy mở ra” và.. “có cái thư mình viết cho cậu”. Tôi mở ra, đó là bộ quần áo cũ, nhưng còn khá mới, quần màu xám đen, áo dài tay màu trắng… nội dung lá thư… Huề viết nhiều về giai cấp “vô sản” …

Từ đó, CTNM chơi thân với Nguyên Huề, [bộ quần áo CTNM giữ đến tháng 4/1975 ]

Huề lúc đó: hoạt động nội thành mảng Sinh Viên, Học Sinh–viết cho báo giải phóng – ký Dương Sử Loan.

Tôi và Huề dự định, cùng viết vở kịch, nhan “Vở Kịch Chúng Ta Đóng” nhưng chưa gì thì xa nhau. Tôi còn gặp lại Huề hai lần, ở Huế – thời nhổ râu Đỗ Cao Trí –và Sài gòn- lúc trái cối 60 từ Bàn Cờ câu vào Dinh Độc Lập… Từ đó bặt tin cho đến nay..

Phan Rang, 19 năm

Tôi đến Phan Rang, nơi trước đây tôi có đến và ngủ ở trường tiểu học Mỹ Hương 5 đêm, để dự thi tú tài 1. Hội đồng Duy Tân. Chỉ biết, chếch bên kia đường có tiệm sách, ở đó có người con gái tuyệt đẹp, tên Hằng Nga, ngoài ra, chẳng biết gì thêm.

Tôi trình diện Ty Tiểu Học Ninh Thuận và được bổ nhiệm “giáo viên trường Tân Thành –Tây Giang”. Đó là trường nhỏ, xây gạch, bên cửa biển, nơi sông Dinh chảy qua. Ở đây tôi nhìn, bên kia là Sơn Hài, chếch phía đông là biển, học trò tôi là cô, cậu bé làng chài, đen nhẻm, đó là năm học 1963-1964. Rồi năm sau, tôi chuyển về Phủ Hà, trung tâm thị xã.

Tình đầu tan vỡ

Khi về nhận nhiệm sở ở Phan Rang, tôi nhận thư Sâm, trước đây nội dung thư Sâm là động viên, an ủi… và những lời yêu thương nhớ nhung, thư này Sâm chỉ viết “em muốn mình cưới nhau” thư trả lời, tôi viết, “chị và các cháu cần anh, em đợi anh vài năm các cháu lớn…”

Những thư sau đó Sâm không nhắc đến việc cưới nhau nữa, và vài tháng sau.“anh về, em muốn gặp anh”. Chúng tôi gặp lại nhau sau thời gian xa cách khá lâu, không nói sao hết hạnh phúc chúng tôi trao nhau. Cũng trên căn gác nhỏ, có cửa sổ nhìn ra bầu trời, có đàn én bay… mà Sâm thuê để đi học. Sâm vùi đầu trên tay tôi, thủ thỉ… rồi hai ngày sau “em phải về Mũi Né” và “anh đi, em không tiễn”… Lúc này tôi mới nhận ra, nỗi buồn lạ trong mắt Sâm..” anh cầm vật này, nếu còn nhớ em thì hãy giữ”. Và… vật này là tấm hình của Sâm mà tôi thích nhất lộng vô khuôn màu đen, trên hình Sâm ghi “trọn vẹn trao anh thủa ban đầu”.

Một tháng sau Sâm lấy chồng, năm đó Sâm học Đệ Nhị [lớp 11]. Chồng là một kỹ sư Điện vừa ra trường, chân đi khập khểnh.

Tôi đau đớn trở về, mang hết kỷ vật của tình đầu: cây viết Parker màu đen, một tập vở chép những bài thơ tôi viết cho Sâm, cho mối tình đầu, khuôn hình “trọn vẹn trao anh thủa ban đầu”… ném xuống sông Mường Mán, chỗ ngày xưa tôi đứng cất cao lời thề..

Sau này, tôi cứ tiếc mãi tập vở chép kín những bài thơ tình yêu ban đầu.

Tôi ghi danh học hàm thụ từ lúc vào Sư Phạm QN, rồi dự thi và đậu Sư Phạm Trung Cấp.

Năm học 1965-1966 tôi được chuyển lên trường Trung Học Duy Tân, dạy môn Toán 1967 -1969. Bị động viên K.25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.+ trường hạ sĩ quan Đồng Đế.

1969 biệt phái về dạy trường cũ Duy Tân -1975.  Trung úy Bộ Binh + giáo sư Toán..

Sau 1975,.

-Học tập cải tạo ở A.38

-Đi vào Sài gòn.

-Sống bằng nhiều nghề.

-Bỏ viết từ 4/1975 đến 7/2012 [Ngỏ /Lời Tình Buồn ]

Thêm một chút…

Về tình Yêu

Những mối tình: Phan Thiết: Huyền Sâm, Kim Minh,Thúy Phượng.

Phan Rang: Thi Phương, Nhị Em, Thúy Loan …một nữ giáo sư cùng trường.

Nha Trang: Thi Ngọc.

Qui Nhơn: Bích Sơn, Ngọc Bích

Sai Gon: Kim Hoa, Hoàng Thiêm ….

Vợ: Nguyễn thị Tùng Vân – ra trường Thủ Đức tôi được về đơn vị không tác chiến, trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, dịp này tôi gặp lại một người bạn, Vân –vợ tôi-là cháu gọi bằng Cậu của người bạn này.

-Tôi yêu ai cũng có kỷ niệm, nước mắt… cũng sâu nặng, say mê, hết lòng… nhưng “nặng” nhất có lẽ là mối tình đầu với Sâm và tình cuối với Vân, vợ tôi bây giờ.

Về Thơ

Đã in 4 tập:

– Trong Mặt Trời Buồn – bìa Trịnh Cung, phụ bản nhạc Vũ Thành An, NXB Văn Học 1967.

– Quê Hương Thơ Và Nước Mắt –bìa Thanh Hồ, phụ bản nhạc Hồ Đăng Kế NXB Mai 1968.

– Cuộc Tình Người -bìa Nguyễn Tài, phụ bản Đinh Cường, Thanh Hồ, Phạm Kim Khải NXB Kỷ Nguyên 1969.

– Lời Tình Buồn -bìa Thanh Hồ, phụ bản Đinh Cường, Thân trọng Minh, Phan Ni Tấn, Phạm cao Hoàng… NXB Thanh niên 2012.

– Có mặt trong Bộ Sách Di Sản Văn Chương Miền Nam [về Thơ]–Thư Ấn Quán, USA.

Thơ phổ nhạc

Lời Tình Buồn –phổ nhạc:Vũ thành An -1967 (nghe ở các mạng âm nhạc)

Năm Mới -phổ nhạc Phan Ni Tấn -1970 (nghe ở ducavn.com )

Đêm Tạ Từ – phổ nhạc Hồ Đăng Kế -1968

Thôi Em Về -phổ nhạc Bảo Chấn -2012

Về Thôi Em Ơi -phổ nhạc Nguyễn Phú Yên -2012

Biển Tình Anh -phổ nhạc Nguyển Phú Yên-2012

Thơ sau 1975:

Thơ Viết Ngày Xa Em [vanchuongviet]

Thơ Viết Trên Cầu Thạch Hãn [blog Pham cao Hoàng]

Người Lính “Ngụy”già viếng Nghĩa Trang Trường Sơn [luanhoan.net]

Vĩ Cầm, Ngày về Đà Lạt [quán văn]……

Về Văn

Trước 1975, có truyện ngắn đăng ở Văn Học, Ý Thức… sau 1975, đăng ở Quán Văn và các trang mạng Văn Học.

Có truyện trong Văn Miền Nam tập 1, Thư Ấn Quán, USA

Hiện cộng tác với tạp chí văn học Quán Văn, xuất bản tại Sài Gòn

Một chút về nội dung đã gởi trong thơ

-Tình yêu Nam Nữ: Lời tình buồn, đêm tạ từ, dấu tình chung, tình yêu của tháp, dự tưởng buổi sáng..

-Tình yêu gia đình: Hành lang vĩnh biệt, thư cho con sắp chào đời[1], Năm mới, Ngày Ca Dao chào đời, khi về Phan Thiết để tang chị.

-Nỗi bâng khuâng về thân phận, kiếp người: Lúc gởi đến, kiếp người, ngẫm mình, ngưỡng cửa hư vô, cuộc tôi, đường hành hương…

-và với chiến tranh: Mùa mưa ở Quân Trường, Việt Nam 1968, đêm dưới chân Trường Sơn, Thơ viết trên cầu Thạch Hãn… [xin đọc những bài này và [1] ở thuviensangtao. wordpress.com …vì những bài viết về nội dung này không cho in trong Lời Tình Buồn]:

CTNM phát hiện U gan vào tháng 5/2012

Hiện vẫn “trụ” được Thơ viết ở phòng MRI, viết tiếp ở phòng MRI, bài cuối viết ở phòng MRI… đang thượng đài đấu với Tử Thần [vanchuong viet, Quán Van…]

Chỉ mong viết xong những điều cần viết, dù ngã đài cũng … vui.

Đó là những hoàn cảnh, những thành tố tác động lên cuộc đời tôi để có cái tên CTNM

Tôi xin gởi những dòng trên cho bạn rất thân của tôi, và bạn chưa thân, nhưng nơi lòng tôi rất quí trọng và nghĩ sẽ thân.

Bài này, xin không phổ biến đến khi tôi không còn trên cõi đời này

Saigon 12/4/2013

CTNM