HOÀI NHÂN

 

tonnuthunga

Ngậm trên môi một nỗi sầu
Em đi vào lòng tình dại
Hái bên đời cọng cỏ khâu
Vất xuống giòng sông ngần ngại

Nuôi dưỡng từng chút ngậm ngùi
Tình nho chưa vừa tay hái
Tóc dài sợi buồn nổi trôi
Gió mùa hạ về rất mới

Tay đếm những mùa thu phai
Ngóng về một phương nào đó
Hình như có cơn buồn dài
Trong lòng reo từng tiếng nhỏ

Đã quên một quãng đời hồng
Có nửa mảnh trăng đầu núi
Xuống tắm lại giòng sông xưa
Kỷ niệm từng giây bối rối

Có còn lại một chút gì
Hương xưa còn thơm mùi mật
Tình yêu như cọng rơm khô
Đã cháy nồng nàn trong mắt …

TÔN NỮ THU NGA

TRUNG BÌNH

nguyenvi

Luôn muốn là người trung bình
Lẩn khuất giữa phồn hoa đô hội
Khốn nạn đời nồng nặc trăm mùi không thể thở nổi
Đành lấn chen để bứt ra thôi.

Giá phải trả của buồng phổi trong lành khí trời
Là vây bủa quanh mình cung nỏ nạnh hẹ nguýt hứ
Chẳng phải rừng Amazon mà đầy thú dữ
Bản sao lục bất trắc thời hỗn mang.

Luôn muốn là kẻ thứ dân
Để khỏi phải thấy điều không đáng thấy
Để khỏi phải nghe những lời búng nhảy
Để khỏi phải nói thay cho ruột già.

NGUYÊN VI

BÀI HOAN CA Ở A 38 ( 20+21)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 20

_______________

Có một chuyện cười ra nước mắt.
Quảng, tên nhân vật chính, biên chế tổ 7, khối 2, khu có cấp bậc từ Đại úy trở lên, trại A.38.
Lý lịch cũng chẳng có gì “ghê gớm”. Học chưa hết Đệ Tam bị động viên, vào Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra trường về sư 23 bộ binh, trấn giữ vùng Cao Nguyên Trung Phần. Qua bao ngày tháng năm, từ thời trai trẻ đến lúc vợ con “đùm đề”, thì được cho về trường Đồng Đế học lớp Sĩ Quan Đặc biệt, đó là vào năm 1973. Ra trường được gắn omega chuẩn úy. Về lại đơn vị được bố trí làm việc ở bộ phận truyền tin sư đoàn. Tháng 2/75 được ít ngày phép về thăm vợ ở Hòa Đa. Tình hình chiến sự biến đổi nhanh không kịp về đơn vị. Ngày 17/4 quân cách mạng giải phóng Tuy Phong, Hòa Đa, Phan Rí. Ngày 30/4 Quảng ra trình diện. Quảng thuộc những người có mặt ở A.38 sớm nhất.
Như đã nói, tờ tự khai phải thông qua tổ, qua khối mới nộp lên Trung Đoàn, một người không được thông qua là cả tổ, cả khối, dừng lại, chờ.
Thường nếu xảy ra như vậy thì cá nhân đó phải tự viết lại cho đến khi được thông qua. Đó là việc nội bộ trại viên, cán bộ quản giáo không can thiệp.
Nhưng khi Quảng cứ viết đi viết lại mãi, khi tổ, khối thông qua thì lần này Trung Đoàn lại không thông qua.
Cán bộ quản giáo gọi Quảng lên trung Đoàn và hỏi:
– Lần này… anh biết là lần bao nhiêu rồi không?
– Thưa… lần… lần…
– Lần thứ 7, cả tập thể chờ anh.
Quảng ngơ ngác:
– Tôi tình thiệt, có gì khai hết trong tờ tự khai rồi mà.
– Anh khai hết hay chưa, chúng tôi sẽ biết… nhưng…
– Nhưng … sao?
– Anh khai gian!
– Khai gian?
– Đúng, anh khai không đúng sự thật.
– Chỗ nào không đúng sự thật? Cán bộ chỉ giùm…
Cán bộ trợn mắt:
– Chúng tôi chỉ giùm thì nói làm gì… Cách mạng yêu cầu các anh phải tự giác.
– Tự giác… thì tôi tự giác hết rồi.
Cán bộ gằn giọng:
– Nhưng có đúng sự thật hay không?
– Đúng, nhất định đúng… vì làm sao che giấu cán bộ được việc gì.
– Anh hiểu được như vậy là tốt.
– Tôi xin thề, tôi khai gian thì cha, mẹ, vợ con tôi sẽ bị trời đánh, thánh đâm.
– Anh thề nghe hay quá.
– Cán bộ nói sao?
– Anh đem hết mọi người ra chết… trừ anh…
– Tôi nghĩ nhiều người chết thì cán bộ mới tin.
– Anh sai rồi. Nhiều người chết chỉ tổ thúi đất. Tôi cần cái chết của anh hơn.
Quảng bỗng cà lăm:
– Thì… thì… tôi nữa…. chế… chết… treo ngành… nếu tôi khai láo.
Không hiểu chữ “treo ngành” mà Quảng dùng là nghĩa gì và lúc nói có ý thức về từ đó hay không. Chỉ biết Quảng, về cuối cuộc gặp gỡ bất đắc dĩ, bỗng ngơ ngơ như người mộng du.
Ba ngày sau khi nộp tờ tự khai mới, anh tổ trưởng tổ 7 lại gọi: “Anh Quảng… Anh Quảng”, và khi Quảng xuất hiện, anh tổ trưởng lập lại như bao lần đã nói… “cán bộ quản giáo gọi lên Trung Đoàn.”
– Lần này là lần thứ 11. Chúng tôi không đủ kiên nhẫn chờ anh giác ngộ.
Quảng rắn rỏi:
– Tôi cũng chịu hết nổi cảnh “gọi lên Trung Đoàn” kiểu này rồi.
– Anh nói chịu hết nổi là ý gì?
– Là “chết sướng hơn” sống…
Cán bộ quản giáo gầm như cọp gầm:
– Chết sướng hơn… được… d/c.L đâu… cho tên cứng đầu này … biệt giam.

Tiếp tục đọc →

MỘ GIÓ

nguyentansi

Mẹ ru cho đến bao giờ
Đồng xanh tháng bảy gió vơ vét buồn
Mơ hồ trăng ấy đã suông
Gió là hội ngộ của cuồng điên xưa

Lạy trời tháng bảy đừng mưa
những ngôi mộ vẫn đong đưa gió trời
Có người áo lính đem phơi
Còn có người nữa rong chơi chưa về

Đừng dừng tao võng chiều quê
Để con nghe được sơn khê gọi mình
Chiến trường lùi tận vô minh
Mà sao ngọn lửa chiến chinh chưa tàn

Nấm mồ, giọt lệ nghĩa trang
Vàng tro thưở ấy mênh mang chân trời
Những ngôi mộ gió không lời
Làm mây vô định giữa đời, lang thang

MỘ GIÓ

NHỮNG GIẤC MƠ BỊ CANH GIỮ

nguyentancu

Chúng ta ngập sâu vào trong
lún sâu vào trong đám cỏ đen u tối
Bùng nhùng sùng sục ùng ục âm ấp những cơn điên dâm dấp
Tràn ngập những môi hôn trong những tiêng kêu than đùng đục
Chúng ta tuyệt vọng gầm gừ như điên bởi những vết thương muối xát
Chúng ta là những con thú hoang quần thảo lặn hụp trong ao bùn mùa hạ
Là những cơn mưa đen kịt đang rùng rùng trong mùa giông bão
Chúng ta quất vào nhau những ngọn roi đau thương tù tội
Hảm hiếp đời nhau cho tan tác nỗi buồn

Là Những giấc mơ bị canh giữ bởi hận thù
Chúng ta bị dẫn dắt bởi đàn chó đen hung bạo
Bị chia cắt bởi những âm mưu của những tên quan binh bạo chúa
Chúng mượn trái tim của chúng ta và nói lời yêu thương cùn mọt
Sau những tiếng tru khan kia là cả một cuộc truy tìm

Chúng ta là hàm răng nghiến chặt bởi những gọng kìm
Chúng ta bám vào nhau
Quằn quại lịm chết vào nhau
Tan loãng vào nhau với quá nhiều hư mộng
Cuộc đời rộng đất nước dài Tổ Quốc mênh mông
Mà sao quá nhiều hung bạo
Ngay cả trong những giấc mơ cũng làm lì bị canh gác
bởi những răng nanh cắn ngập những nghi ngờ

Chúng ta những cánh đồng xanh cỏ non xanh
và những bụi bờ hoang vu cháy khét
chúng ta đẻ ra tất cả những tình yêu
Đẻ ra tất cả những giấc mơ
Không bao giờ thôi thôi chờ đợi
Chúng ta ngập sâu vào nhau
Dầm sâu vào nhau
Mặc cho bầy chó đen dữ tợn
Chúng ta vẫn yêu nhau
Cho dù bị săn lùng

NGUYỄN TẤN CỨ

VÙNG ĐẤT ĐÃ NGỦ YÊN

vukhue

(Ký sự)
Hẹn chị tại quán cà phê Hồ con rùa! Tôi dân Nha trang, mới từ công trường Tây Ninh về. Chị cũng dân ngoài đó, vào Sài Gòn được mấy hôm, thăm đứa con học trong này. Sài Gòn mùa này đầy nắng, nắng vàng choáng. Vừa bước chân ra đường như hớp phải ngụm bia nóng. Tháng mười hai, mới chín giờ sáng! Thành phố đã giãy nãy trong cái nắng .
Hai mái đầu đã lốm đốm bạc. Người ở ngưỡng năm lăm. Kẻ ngưỡng năm mươi. Hai ly cà phê đá, quán cà phê góc phố, hai kẻ lữ hành ngồi khảo chuyện đời. Ngẫu nhiên câu chuyện lại lạc vào đề tài Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Chị bảo: “_ Thôi xuống đó ! Đi cho biết!”. Thế là đi…. Đối với chúng tôi, những người ở lứa tuổi ngũ tuần , cuộc chiến đã lùi xa gần bốn mươi năm!
****
Xa lộ Biên Hòa nay đã mở rộng, nhưng cũng không đủ chỗ cho lưu lượng giao thông dày đặc. Làn xe cộ và dòng người mưu sinh như bất tận. Không gian ồn ả tiếng còi xe, tiếng động cơ, tiếng người…Dư vị cuộc sống chảy tràn trên mặt đường, len lỏi cả vào những ngóc ngách hai bên đường, dồn ứ ở mỗi ngã tư khi ngọn đèn giao thông có tín hiệu màu đỏ. Dưới cái nắng gắt gỏng của buổi trưa, từng cột bụi như được khuấy lên.
Xuống đến chân cầu Biên Hòa, ngược lên lại, chúng tôi rẽ vào con đường nhỏ có tên Thống Nhất. Nhà cửa hai bên đứng san sát. Thỉnh thoảng một nhà cao tầng vụt lên, vẻ sung túc. Phía bên trái có một cơ xưởng lớn của Xí Nghiệp Ô tô Sài gòn. Chị ngồi sau bảo “_ Gần mười hai giờ rồi! Tới thắp nhang giờ này mới linh!” . Tôi cười khì, miệng đắng vị bụi.
Con đường láng nhựa dài khoảng bốn trăm met dẫn đến một ngã ba. Một hàng dài bốn, năm chiếc xe container đang đậu ven lề. Gần như khuất lấp trong những tán lá xà cừ rũ xuống, là mái vòm của cổng Tam Quan với hàng chữ Đền Tử Sĩ, thiếu mất chữ Ư, hiện diện như một định nghĩa của phế tích và thời gian.
Để chị một mình loay hoay với cái máy hình, tôi dắt xe vào cái quán gần đó gửi , tiện thể lấy bó nhang. Khoảng bốn, năm thanh niên; có lẽ là cánh tài xế, đang túm tụm ăn trưa. Thấy tôi bước vào đánh tiếng, họ ngước mắt nhìn. Ánh mắt khác lạ! “ Lên đồi hả?” Anh chủ quán với giọng Bắc hỏi. “_ Dạ, gửi xe đây tí nghe anh?”. “_ Ừ, cứ để đó không sao đâu!” Người chủ quán nói.
1. Đền tử sĩ và thảm lá vàng
Bước qua cổng Tam quan, cái cổng lớn mang lối kiến trúc cổ của những đình chùa Việt, được cách tân bằng những cái trụ vuông vức. Màu sơn hiếm thấy. nâu đỏ, tiệp với màu đất, trông như còn mới. Đọ sức bền bỉ với mưa nắng, thời gian, va chạm.
Không khí mát mẻ hẳn so với bên ngoài bởi tán của những cây xà cừ cao vút, đứng vững chãi. Tàn cây rộng , tỉ mẩn chắt lọc ánh sáng mặt trời để làm nền cho một bức họa u trầm .Trên những bậc cấp dẫn đến đền Tử Sĩ trên kia, là thảm lá vàng, khô ròn. Bước chân chúng tôi, gây nên những âm thanh lách tách, nhè nhẹ. Bao lâu rồi? Bao nhiêu chiếc lá cho tấm thảm dầy thế này. Không ai nói lời nào. Cứ miên man, miên man tựa đang bước lên thời gian…..
Đền Tử Sĩ hiện ra thấp thoáng, sau những tàn lá, như một ngôi chùa cổ. Tuy cấu trúc còn tráng kiện với sứ mệnh gánh vác nhưng không phủ nhận được một vẻ ngoài nhem nhuốc, bỏ phế và đã lâu không được bàn tay con người tu bổ. Một vài trụ bị sứt mẻ do tác động .Những bức vách được xây lên để làm nơi trú ngụ. Sự hiện diện của con người qua chiếc chiếu manh, chiếc võng rách bên ngoài, chiếc nón bảo hiểm chõng chơ cho thấy gia chủ cũng thuộc hạng “tứ cố, vô thân”. Trên bức tường phía ngoài nghệch ngoạc một bài thơ vô đề, như một cảm tác về thân phận, cuộc sống và cái chết.
Qua cánh cửa bằng hẹp bằng gỗ , sơn xanh, có những lá sách xếp chồng_ dạng cửa đã xưa, chúng tôi bắt gặp một chiếc bàn lớn. Trên có một bình bát, chi chút những chân tăm đầy bụi bặm. Sàn nhà trên lớp gạch bông, cũng đầy bụi. Vài mảnh giẻ rách vương vãi. Trong góc , dăm ba cái trang thờ thần tài, ông địa; có lẽ của những người dân địa phương đem lên bỏ đây. Căn phòng bụi bặm đóng dày. Bụi bặm khỏa lấp tất những gì chúng tôi những tưởng háo hức mong gặp. Bụi bặm không lơ lửng . Bụi bặm đã lắng xuống theo thời gian, . Bụi bặm ru ngủ cảm xúc, lý trí. Nơi đây, chúng tôi bắt gặp sự yên ngủ của vạn vật. Không gian tịch mịch_ Không cơn gió thoảng. không một tiếng chim, con sóc…Những chiếc lá vàng chao mình không trọng lượng, mất khoảng thời gian khá lâu trước khi trở về cội đất và những hạt bụi nhỏ nhoi trong cấu trúc tế vi, dường như cũng tìm được sự bình an của mình sau hành trình dài kiếp nhân sinh, đầy sự hỗn loạn của bao biến cố…
Chúng tôi đi loanh quanh ngôi đền một lúc. Tay sờ vào những vết sứt mẻ của từng chiếc cột. Miết đi miết lại dấu vân tay của mình trên những phiến đá mòn lẳn. Chị chỉ lên những chấm tròn đỏ trên trần ngôi đền, hỏi “_ Những chấm này mang ý nghĩa gì nhỉ?”. Tiếng chị nhỏ, nhưng âm thanh vang khá xa. Một thoáng, bài thơ của tác giả vô danh trên bức tường bất chợt quay về :
“ Sinh ra trong đời cùng vạn vật
Tách lìa sao đặng mọi chúng sanh…”
Biết là thế, nhưng tận sâu thẳm, chúng tôi vẫn cầu mong không một sự xáo trộn nào cho vạn vật nơi đây_ trên ngọn đồi cô độc, dường như bị bỏ phế này. Vì cả thế hệ chúng tôi_ những đứa trẻ mới chín ,mười tuổi khi cuộc chiến chấm dứt, cũng hiểu được rằng, tất cả đã quá nhọc nhoài!
….

2. Thanh gươm gãy và ngôi mộ người lính vô danh:
Chị nói linh thiệt ! Đúng mười hai giờ bọn tôi mới có mặt trước nghĩa trang nhân dân Bình An. Chuyện đăng ký rườm rà với tay bảo vệ ngoài cổng, phải mất hơn mười phút sau chúng tôi mới được phép vào.
Một khoảng đường tráng nhựa đưa chúng tôi vào thẳng Nghĩa dũng đài. Quầng khăn tang vẫn còn , hoen màu rêu nhưng thanh gươm đã gãy. Đứng từ xa, thanh gươm còn một nửa, hướng lên bầu trời xanh, mang nỗi bi tráng của kẻ ngã ngựa. Chếch tí về phía tay phải là một tấm bia bằng đá đen khá lớn còn mới, một lư hương cao cỡ tầm người được sơn thếp vàng, một hương án và hai bên là hai bình hoa còn tươi . Mấy bậc tam cấp dường như cũng vừa được trùng tu. Bên trong Nghĩa dũng đài, những khóm cây không tên và loại trâm ổi được trồng, khoe sắc sặc sỡ dưới cái nắng. Chừng như tất cả có bàn tay con người chăm sóc thường xuyên. Lên đến thềm đá, chị dừng lại bảo : “ Thôi, mình đốt nhang đi !”.
Nghĩa trang được chia làm tám khu, theo thứ tự từ A đến I (Không có khu F), chiếm những cung tròn đều đặn, tâm là Nghĩa dũng Đài. Mỗi khu có 5 lô. Mỗi lô có khoảng 500 ngôi mộ.
Những người lính tử trận vào khoảng năm 68- 69 có 8 lô.
Vào năm 70-71 có 8 lô.
Vào năm 72-73 có 16 lô.
Vào năm 74-75 có 8 lô.
Những ngôi mộ nằm san sát theo hàng, dưới tán những cây dầu hoặc xà cừ. Một số được thân nhân xây lại khá chỉn chiu với đá hoa cương. Đa phần còn lại chỉ là những tấm đan đúc bằng xi măng hoặc những ụ đất mới được đắp đỏ hỏn. Một số có bia, số khác đã hoàn toàn biến mất. Ở những ngôi mộ còn bia, chúng tôi có thể tìm thấy những dung ảnh, dòng thông tin về đơn vị, ngày sinh, ngày mất. Đa phần những người lính nằm xuống khá trẻ khoảng hai mươi, hai mấy vào những năm 1968, 1969…Đó là năm tôi mới ra đời. Bốn mươi mấy năm! Thời gian đã làm mờ những ký ức ở một thế hệ về những người cha, người anh đã cung hiến tuổi trẻ của mình cho một cuộc chiến_ dù đó là sự tận tâm hay bất đắc dĩ.
Chúng tôi chia những nén nhang để cắm nơi những ngôi mộ không tên _Những người lính không dung ảnh, không số quân, không đơn vị. Sự hiện diện của một phận người giờ chỉ đơn giản là một nấm đất. Niềm vui còn lại bây giờ chỉ là vài cọng cỏ dại với cánh hoa nhạt luôn lay động . Con rắn mối nằm im lặng sưởi nắng…. Khói nhang quấn quanh những mụm đất đỏ đã rữa màu. Chúng tôi đứng lặng yên. Những lời cầu nguyện không bật nên tiếng nhưng mong nói lên sự thành tâm về một cõi siêu thoát.
Tôi đứng nhìn quanh, chợt nhớ tới ba tôi. Ông mất vào tuổi 63. Ngày trước ông đi lính không quân, đóng tại phi trường Đà Nẵng. Sau 30 tháng 4, ông trở về làm một chân bưu tá tại Bưu điện Nha Trang. Những hình ảnh tôi còn có được ở ông ngày đó là người đàn ông trong chiếc áo Jacket lính rộng thùng thình, đôi giày cao cổ đi lộp cộp, chiếc nón sắt không quai và đôi mắt trẻ trung, sáng rực. Đôi mắt tựa như có một cái gì đang cháy. Dường như có quá nhiều thứ để nuôi dưỡng ngọn lửa đó_ Bao hoài bão, lý tưởng, tình yêu…..Có lần ông nói với tôi chỉ mơ được học tiếp. Ông học chưa xong trung học đệ nhị cấp!….Nhưng sau này về già, mỗi lúc nhìn vào mắt ông, tôi chỉ thấy một nhúm tro tàn, lạnh ngắt. Ai cũng có một thời tuổi trẻ! …Tôi nghiệm vậy.
Nghĩa trang không chỉ có riêng chúng tôi. Một vài người luống tuổi, dân địa phương, đang làm cỏ cho mấy ngôi mộ. Một bác hỏi han vẻ ân cần: “ _ Tìm thân nhân hả con? Tên gì, mất năm mấy để qua chỉ cho?”. Chị lắc đầu “ _ Dạ không! Tụi con chỉ đi thắp nhang ”. Một chị khoảng năm mấy, trong nhóm, sự sành sõi làm tôi ngạc nghiên“_ Có đến mười lăm ngàn ba trăm mười tám ngôi mộ trong này!” … Qua tâm sự, chúng tôi biết họ đến đây, chăm sóc không công và nhận thù lao từ những thân nhân viếng mộ.
Sự năng động của một người dẫn chúng tôi đến một nấm mộ khá đặc biệt. Nấm mồ có tấm bia mang hình ảnh của pho tượng “ Thương tiếc” , của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngày trước đặt trước ngã ba Xa lộ Biên Hòa,. Dù tấm hình không rõ lắm, nhưng cũng khắc lại trong tâm trí chúng tôi một vẻ mặt buồn, đôi mắt đăm chiêu ngó về một nơi vô định của một người lính. Tấm bia chỉ vẻn vẹn vài chữ “ CHIẾN SĨ VÔ DANH” _ Hy sinh: 7-6-1968; An táng: 16-6-1968. Có lẽ trong trận Mậu Thân lần hai!
Chia tay với những người chăm sóc nghĩa trang, chúng tôi quay ra phía cổng. Trong ánh nắng buổi chiều nghiêng vàng, xô cái bóng của thanh gươm trên Nghĩa dũng đài tạo thành một vệt dài trên những nấm mồ . Làn hương nghi ngút từ lư trầm vẫn đuổi theo sau quấn quít. Một cảm giác ấm lòng đến với chúng tôi, khi thấy khuôn diện của nghĩa trang phần nào đó thay đổi, khang trang hơn. Những ngôi mộ dù đã được xây đá hay chỉ là một nấm đất bình dị, cũng đã được bàn tay người chăm sóc sạch sẽ. Dưới những nấm mồ, hẳn những linh hồn đang triền miên trong giấc ngủ , cũng không còn thấy lẻ loi với những cái bóng thỉnh thoảng đan xen của một bà mẹ hoặc người chị . Những người đàn bà đang tỉ mỉ, tẩm mẩn nhổ từng cọng cỏ, thu dọn từng đống lá vàng.
Ra đến gần cuối con đường, điều cuối cùng chúng tôi làm là quay lại, lạy tạ những người đàn bà. Cái dáng liêu xiêu của bà mẹ, người chị Việt giữa những nấm mồ đất đỏ , sau những hàng cây _ qua ngần ấy năm, in lại trong tâm trí chúng tôi với sự khắc khoải.
Và điều đó như còn ám ảnh, day dứt mãi ngay cả khi chúng tôi chạm mặt với không gian sống động, ồn ả phía bên ngoài.
Trời Sài Gòn vẫn còn nắng!….

Sài gòn, ngày 15 tháng 12 năm 2013
VŨ KHUÊ

VÔ CÙNG

voduychung

Kẻng đánh chiều hôm vào với tối
Săn đón đêm khuya quán thắp đèn
Đất với người tranh một cuộc đỏ đen
Vai ta gánh một bóng tà sắp khuất

Bên hướng tây mặt trời thua mặt đất
Trăng theo về thả bóng gọi làm vui
Mây như bông pha máu sót cuối trời
Đường qua núi nước tật nguyền vỡ nát

Quán ngậm gió đèn len trong tiếng nhạc
Rượu tràn ly lúc đói uống bào gan
Ta một mình chết khuất giữa điêu tàn
(Chiều quán vắng cô em ôm ngực thở )

Ta lẻ bóng đứng bên bờ khốn khó
Lạnh vành môi cố uống cạn đời buồn
Áo thu phai có gói nỗi hoàng hôn
Đã chếnh choáng chút tàn phai thuở nọ…

VÕ DUY CHUNG.

NÉN HƯƠNG LÒNG TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN!

tranthoainguyen

Sắp đến ngày kỉ niệm 13 năm ngày mất của Anh TRỊNH CÔNG SƠN (01/4/2001-01/4/2014) lòng tôi bồi hồi nhớ lại những ngày xa xưa nơi phố núi sương mù Đà Lạt thơ mộng!

Ngày ấy,những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế kỉ XX,những năm đầu mới lên ĐH của tôi cùng mấy đứa bạn sống lang thang “điên khùng dễ thương”,”thi sĩ hoang đường” nào Trần Nhơn,nào Nguyễn Quang Huy (Huy Lùn), nào Trần Thoại Nguyên,sau nầy từ 1972 có thêm Đỗ Tư Nghĩa…đã từng được anh Sơn vảy,hú gọi uống café mỗi lần anh từ Sài Gòn lên Đà Lạt,có khi cùng anh Bửu Ý,có khi cùng Sư Chơn Hạnh (Anh Trần Xuân Kiêm),có khi cùng Anh Huy Tưởng,có khi có cả Khánh Ly …
Còn nhớ,ngày ấy anh Sơn đã quá nổi tiếng rồi,đi góc phố nào,xóm quê nào,góc bìa rừng nào cũng nghe vang lên nhạc và ca từ như thơ của TRỊNH CÔNG SƠN. Ấy vậy mà,với bọn chúng tôi,mấy thằng tuổi mới lớn sống lang thang bụi bụi mê đủ thứ,mê nhạc họa,mê thơ văn,mê kinh sách triết học với tôn giáo,mê con gái,mê thiên nhiên…anh Sơn vẫn vảy vẫn hú gọi uống café,có khi cafe Tùng,có khi ngồi nhà hàng Mê Kong hoặc Shangai nhìn ra khu Hòa Bình những sáng mai,có khi cùng lang thang ra ngồi nơi Thủy Tạ lúc chiều tối… và chuyện trò dzui dzẻ thân thương,một đôi khi còn lì xì cho mấy đứa em để nối noi tiếp tục café thuốc lá bánh mì…sau đó!
Tôi nghĩ, SỐNG CHAN HÒA CỞI MỞ THÂN THƯƠNG VỚI LỚP ĐÀN EM VĂN NGHỆ TRẺ ,ĐÓ LÀ MỘT NÉT NHÂN CÁCH RẤT ĐẸP HIẾM CÓ CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA CÓ TẤM LÒNG ĐỘ LƯỢNG BAO DUNG THƯƠNG NGƯỜI TRỊNH CÔNG SƠN!
Và một chiều nọ,đứng trên Đồi Cù Đà Lạt tóc bay bồng bềnh theo gió lộng,dang tay hát nghêu ngao… Tôi đã viết tặng anh Sơn mấy câu:
Đứng nhìn bóng phượng liên chiều
Chiều ơi! Chiều dai! Chiều xiêu ngã lòng!
Chiều vàng,chiều trắng,chiều không!
Ồ. Tôi đứng hát giữa mông mênh chiều!

Sau đó,bài thơ CHIỀU KHÔNG nầy đã đăng trên Tạp chí TƯ TƯỞNG của Đại Học VẠN HẠNH năm 1970.
Tôi còn nhớ, những ngày anh Sơn vừa từ giã cõi tạm, ra đi vĩnh viễn. Trong những ngày vợ chồng tôi từ núi rừng cao nguyên Bảo Lộc,Lâm Đồng về Sài Gòn kiếm sống để nuôi 2 con gái còn nhỏ ăn học,được bạn bè tiến cử và cưu mang,tôi đang giảng dạy văn tại Trung Tâm Luyện thi Đại học CADASA thì nghe tin anh Sơn mất! Ban đầu tưởng là tin vịt, đùa của ngày nói dối 1/4. Nhưng sau đó là nỗi tiếc thương vô hạn,tôi có sốc, ngơ ngẩn hồn mấy bữa,không tập trung giảng dạy được! Tôi đã cho cả hội trường gần 200 sinh viên nghỉ học để đi viếng Nhạc Sĩ TRỊNH CÔNG SƠN. Con hẻm vào nhà anh ở đường Phạm Ngọc Thạch,nơi quàng quan tài Nhạc Sĩ tài hoa,hai bên tường rào ken đầy kín những vòng hoa phúng điếu thành kính chia buồn và vô cùng thương tiếc,liên tục những đoàn người và vòng hoa lễ viếng từ khắp mọi nơi về,nhiều thành phần từ quan chức các cấp nhà nước, đoàn thể đến dân dã bình thường đến thắp hương thương tiếc Nhạc Sĩ tài hoa!
Tôi nhớ,sau lễ viếng của đoàn Quận ủy,UBND quận 4,thì MC đã xướng lên: “Xin mời… Một người em lang thang nơi phố núi Đà Lạt viếng Nhạc Sĩ !” (Tôi đã đăng kí như thế!) Và tôi đã lẳng lặng từng bước chân vào thắp hương và bái cầu nguyện linh hồn Anh siêu thoát phiêu diêu miền cực lạc ! (Gia đình em Anh Sơn còn lưu băng ghi âm ghi hình nầy)
Tôi tưởng là, Ban lãnh đạo TT LT ĐH CADASA sẽ kiểm điểm,khiển trách tôi về tội tự động cho sinh viên nghỉ học để đi viếng NS TCS. Nhưng không! Trái lại,tôi còn được khen:Thầy đã làm cho SV xúc động tưởng nhớ về sự ra đi vĩnh viễn của NS TCS và làm cho Trung tâm CADASA được thơm lây! Mô Phật! Có một cô sinh viên dự bị ngày ấy của tôi, hiện nay đang giảng dạy tại một trường đại học và đang làm luận án tiến sĩ, còn nhắc lại với tôi về kỉ niệm trân quí quá đáng yêu nầy!

Quả thật,những ngày Nhạc Sĩ TRỊNH CÔNG SƠN giã từ cõi tạm,đi về cõi vĩnh hằng ngày ấy đã dấy lên tấm lòng tiếc thương vô hạn trong khắp nhân quần! Và mỗi lần đến ngày kỉ niệm ngày mất của NHẠC SĨ TÀI HOA CÓ TẤM LÒNG ĐỘ LƯỢNG THƯƠNG ĐỜI THIẾT THA TRỊNH CÔNG SƠN ,lòng ta lại bồi hồi tưởng nhớ tiếc thương Anh !

TRẦN THOẠI NGUYÊN

THƠ NGUYỄN NHƯ MÂY

nguyennhumay

CHIỀU HOANG

Lá còn nhộn nhịp tiếng chim
Nắng chiều đã bắt đầu lim dim rồi
Một ngày yên tĩnh trên đồi
Đang theo nước suối thả trôi qua rừng
Tôi nghe suốt mấy từng không
Gió lang thang thổi bập bùng trong mây
Tự nhiên , thèm vút cánh bay
Qua bên kia núi tìm ngày chiêm bao
Nơi hoa lá chẳng phai màu
Cánh chim cứ rẽ sóng vào thời gian…

TRONG THỜI GIAN
(Tặng Lê Trọng Nghĩa)

Lắng nghe từng giọt thời gian
Thắm vào tôi lúc trăng đang sắp tàn
Trời khuya như lá chín vàng
Cho tôi thấy rõ không gian xa vời
Thấy ai rất giống như tôi
Ngồi yên lặng đón giọt thời gian đi
Quên mình vó ngựa khuya về
Thả rơi từng bước xuống khe trăng vàng
Lắng nghe không hết thời gian
Vừa trôi qua , đã phai tàn cõi tôi
Mới hôm qua đứng giữa đời
Đưa tay với cánh chim trời mênh mông
Bây giờ đã thấy vô danh
Như bao lá cỏ mọc quanh tháng ngày
Đó là tôi ! Kẻ thèm say
Giọt thời gian lắng chưa đầy trái tim
Em ơi ! Mai mốt bình minh
Bước thời gian sẽ đưa mình về đâu

NGUYỄN NHƯ MÂY

RỒI CŨNG PHÙ DU MỘT KIẾP NGƯỜI

daolam

(Viết cho Trịnh và ngày kỷ niệm 13 năm ông bỏ đi xa.)

Tháng tư.
Tiếng ve đã bắt đầu râm ran trên những hàng cây.
Những hạt mưa đã kéo ngang qua thành phố.
Trên những con đường xe cộ vẫn ầm ào, người người vẫn tất bật mưu sinh, cuộc sống luôn cuốn con người ta vào những lo toan xô bồ thực tế, đôi lúc tự bỏ quên chính mình.
Tối nay, tình cờ ngang qua nhà hát Trưng Vương thấy hai chữ dập vào mắt tôi
GÓC TRỊNH chương trình đêm nhạc Tưởng nhớ 13 năm ngày mất Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (01-04-2001_01-04-2014)

Có chút xốn xang trong lòng.
Vậy là đã hơn 10 năm Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỏ đi xa, rời cõi tạm này phiêu linh trong thế giới miên viễn.
Nơi không có giận hờn trách cứ, đố kỵ tị hiềm.
Nơi không có những ngày tháng khổ đau trận mạc để ” nơi đây tôi chờ, nơi kia Anh chờ…”
Nơi không có những chia lìa như những dòng sông nhỏ, rời bỏ cội nguồn tìm về với biển rộng bao la…Ông đã đi, một cuộc đi bắt đầu từ thế giới này, thế giới của những ngoa ngôn luôn được đậy che bằng vòng hào quang ảo tưởng, đôi lúc khiến cho người ta mụ mị trong những giấc mơ sãi cánh thiên thần.
Ông đã đi, để trở về nơi chúng ta ai rồi cũng phải đến.
Nơi ấy mọi ngóc ngách chật vật sẽ không có chỗ tồn tại, những chước quỉ ma trận không có dịp thi thố, những oán than thù nghịch không có sân khấu để diễn
Mọi số phận sẽ đồng hoá trong cõi yên bình. Không phải hát lời chia lìa trên những giọt nước mắt trong một ngày mưa biển rộng, không phải tung hô những đày đọa vị vong trên thân phận kiếp người…
Chỉ còn mãi mãi tiếng Tụng Ca vang lên cùng với tiếng Đại Hồ Cầm ngân dài hạnh phúc…
Tháng tư.
Có một ngày để ta nhớ Ông và đối diện chính mình…
Tháng tư.
Trời đất giao hoà, đất đá nở hoa tặng dâng lên Ông, người viết tình ca cho những nhân tình từ thế hệ này nối tiếp thế hệ khác…
Cho dù đâu đó vẫn còn những so đo tính toán hơn thiệt mất còn.
Cho dù ai đó đã bắt đầu lãng quên những khúc ca thơ một thời nuôi nấng, cưu mang như một cứu cánh.
Tháng tư.
Rồi những cây phượng sẽ rãi bông xuống thềm nắng, để áo ai trắng đi về lồng lộng câu thơ…Để bất chợt ùa reo theo thinh không áo lụa, theo những khúc ca tình ru mới mỗi sớm mai…
Giòng sông được sinh ra từ cội nguồn chót vót, rừng rậm đất hoang, để từ đó bắt đầu một cuộc đời có tên có tuổi.
Bài hát được sinh ra từ đau đáu điên mê, từ niềm mõi mong phụng hiến.
Có thể rồi tất cả sẽ vợi xa, ngút ngàn dâu bể, rồi cũng phù du một kiếp người, nhưng tôi tin, vẫn tin lời ông nhắn nhủ…
“Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”…đấy thôi.
Tôi tin điều đó không bao giờ tan mất…

DAO LAM