ĐÊM MÙNG 6 TẾT.

hochibuu

Sương gió – muôn đời sương khói bay
Chiều Xuân còn đọng lại chút nầy
Em xa vạn dậm- đừng mong đợi
Ta vốn quen rồi – tình trắng tay

Có phải ta là tên lãng du
Tìm quên trong những khói sương mù
Tìm mình trong đáy ly rượu cặn
Hồn rớt trên vành mây viễn du

Em đã xa rồi- quên cố hương
Mùa Xuân hoa dại nỡ bên đường
Bên kia – hoa tuyết rơi đầy lối
Có lẽ em từng thương nhớ thương ?

Ta gã giang hồ – yêu gió trăng
Xác ở trần gian- hồn cung hằng
Lững lơ theo cánh hoa màu tím
Vỡ mộng bên đời- mây xám giăng…

Mùng 6 tháng giêng phải không em ?
Mình ta bên phố nhỏ không đèn
Mình ta đếm gót bằng cô độc
Bất chợt nghe mình thương nhớ em..

Đêm đã khuya rồi- ta nhớ thêm
Choàng vai – sương lạnh – tóc em mềm
Ngày xưa – thoáng đã mười năm chẳn
Xa lắc – chỉ còn ta với đêm

Mắt ướt – bây giờ ta với ta
Xa rồi hương vị của ngày qua
Bao giờ em sẽ về thăm lại ;
Một gã giang hồ – Hay chính ta ?

HỒ CHÍ BỬU

TRĂNG CUỐI MÙA

nguyenanbinh

Vẫn là trăng của ngày xưa
Mang theo nỗi nhớ tôi đưa tiển người
Mỏng manh tiếng hát bên đồi
Ngoài hiên hoa rụng trắng trời bóng mưa.

Vẫn là em của tôi xưa
Bao mùa lá đỏ sao chưa bước về
Ngày đi vàng nụ trăng thề
Long lanh sóng nước vỗ về hồn tôi.

Vẫn là ngày mộng đêm trôi
Nên tình dâu bể không lời thở than
Thôi thì xin hạt sương tan
Để quên một thuở trăng tàn bên song.

Vẫn là tình suối duyên sông
Nên gieo neo mãi tiếng lòng ai đan
Thôi thì buông sợi tơ vàng
Tình tôi nặng nợ giọt trăng cuối mùa.

NGUYỄN AN BÌNH
Tháng 2/2015

BÔNG HỒNG VÀNG CHO KHẢO MAI

buithanhxuan

Cô gái nghiêng người phả khói thuốc. Một vòng tròn màu sương tan nhanh
“ Ừ, thì người ta vẫn thường gọi tôi là con đĩ. Có sao? Khối đứa con gái, đàn bà tự vỗ ngực cho cho rằng mình thuộc đẳng cấp cao còn tồi tệ hơn lắm đứa làm đĩ như chúng tôi.
“ Anh bảo rằng kỷ niệm ngày phụ nữ có ai tặng quà cho tôi không à ? Tám tháng Ba là cái ngày gì ? Tôi mang máng hiểu đó là ngày dành cho phụ nữ. À, có lẽ vậy. Từ lâu lắm rồi chẳng nghe ai gọi chúng tôi là phụ nữ cả thì làm gì có ngày ấy dành cho chúng tôi. Cứ gọi tôi là con đĩ đôi khi thấy nhẹ lòng hơn những lời mỹ miều thô kệch của đám trọc phú , quan lại lắm tiền khi họ muốn lấy lòng . Tôi muốn vậy. Có đĩ thõa tôi mới moi được đồng tiền dơ bẩn chúng nó. Đồng tiền ấy sẽ được rửa sạch khi chúng nó nằm trên bụng tôi rên hừ hự như bầy sói đói mồi. Họ thiếu thốn tình dục, thèm khát cái đĩ thõa, mua tôi trong vài giờ hay vài chục phút. Thậm chí trong nhiều ngày để làm cảnh cho cái gọi là đẳng cấp của họ. Sòng phẳng, đường ai nấy đi, việc ai nấy làm”
“Một lũ khốn kiếp! À, mà không! Không phải tất cả khách hàng của tôi đều là lũ khốn kiếp. “Nhiều năm rồi tôi không gọi đám đàn ông các anh bằng chú, bác hay ông. Tất cả là Anh. Trẻ cũng anh, già cú đế đáng ông tôi cũng bằng anh. Không có danh xưng nào khác khi tôi cần đồng tiền của họ. Mà gọi bằng gì chẳng được. Ông hay chú hay anh cũng vậy thôi. Cũng nhớp nháp, phì phò nhưng khác cái âm điệu chậm nhanh. Tiếng thở hay một âm thanh phát ra từ cổ họng của đám đàn ông khi xong việc mỗi người mỗi khác. Nó như khẩu vị, chẳng ai giống ai”
“Một lần tôi trở về nhà mệt nhoài vào lúc gần sáng, Căn nhà của mẹ tôi để lại trên con đường hoa bằng lăng tím. Tôi mở cửa, ngọn đèn màu đỏ bập bềnh từ bàn thờ Mẹ vừa đủ rọi xuống cho lũ chuột bu quanh ca hát, chợt nhận ra mình là một con đĩ xinh đẹp đắt khách nhưng cô đơn, đau khổ. Tôi đến trước gương, mở to mắt để nhìn mình kỹ hơn. Khuôn mặt bơ phờ sau lần bị dày vò nhưng vẫn nghĩ rằng mình còn dư sức quyến rũ khối thằng đàn ông u mê đầy dục vọng. Tôi vẫn cho mình là con đĩ quá lứa nhưng vẫn xinh đẹp như Thiên nga. Một con thiên nga làm điên dại lũ đàn ông háo sắc. Tôi vẫn cho mình là con đĩ quá lứa nhưng vẫn xinh đẹp như Thiên nga. Một con thiên nga làm điên dại lũ đàn ông háo sắc.”
“Đĩ cũng có nhiều loại. Đĩ trí thức, đĩ nghệ sỹ, đĩ đứng đường, đĩ cao cấp. Loại đĩ nào cũng cần phải trang trí màu sắc, phủ lên thân thể đủ mùi thơm mình đủ để quyến rũ bọn họ như hoa quyến rũ những loài ong hung dữ. Tôi không biết mình thuộc loại nào nhưng tự hào về sắc đẹp và sự nỗi tiếng của mình. Luôn biết chọn lựa loại khách nào mình muốn tiếp. Đó là những tên khốn kiếp lắm tiền, những lão già độc ác. Tiếp càng nhiều tên vô lại nổi tiếng, mình càng nổi tiếng và không bao giờ lo sợ mất khách”
“Người đời lên án, phỉ nhổ con đĩ nhưng họ quên rằng lắm kẻ cao sang cũng nhơ bẩn gấp trăm lần. Việc gi cũng phải trả giá. Cái giá tôi đang trả là cả cuộc đời mình”

“Ly cà phê chiều nay tôi thấy đắng hơn nhưng cám ơn anh đã mời. Buổi chiều khá đẹp. Tháng ba rồi. Nắng dịu dàng như mẹ tôi. Mẹ tôi. Mẹ..tháng ba..Có cái ngày phụ nữ trong tháng ba này thật sao? Nó không dành cho tôi. Không bao giờ!
Cô gái rít thuốc một hơi dài, thả vòng tròn trên mặt bàn
“ Tôi bất hạnh. Ba mươi hai tuổi rồi, chưa biết cảm giác yêu và được yêu như thế nào. Tôi nhận nhiều món quà đắt tiền nhưng hoa thì không.Tôi muốn đúng ngày đó anh đến thăm tôi với một bông hồng màu vàng. Tôi quý mến anh. Nhớ đấy! Một bông hồng màu vàng. Hôm ấy tôi không tiếp khách. Nhất định anh phải đến. Tôi muốn được một lần trong đời nhận hoa ngày tám tháng ba từ một người đàn ông. Nhưng chỉ một cánh hồng vàng thôi. Tôi muốn vậy! Anh đến vào lúc chín giờ sáng. Chìa khóa đây! Anh giữ một cái. Khi đến, trước khi vào phòng tôi anh hãy mang ba cái ly và chai rượu đặt sẵn trên kệ sách ngoài phòng khách. Một cái để cắm hoa, còn hai cái kia, cho tôi và anh..Tôi cần anh ở lại với tôi trong chốc lát. Còn ngọn nến màu trắng nữa. Anh thắp lên cho căn phòng ấm áp. Có điều này phải nhớ, không được thốt lên lời nào. Hãy nhìn tôi, hãy cho tôi một ngày tám tháng ba thật hạnh phúc duy nhất trong đời.
Đúng chín giờ ngày tám tháng ba. Anh làm ơn nhớ đấy!
Thôi, anh có thể tiễn tôi về ”

Người đàn ông tóc đã hoa râm nhưng chẳng màng nhuộm đen thận trọng dìu người phụ nữ trẻ xinh đẹp, tóc ngắn, nhuộm phớt nâu bước xuống thềm tam cấp quán cà phê nơi góc phố ồn ào. Đôi mắt cô ươn ướt. Ông gọi taxi đưa cô về nhà còn mình rảo bước trên hè phố một mình. Đây là lần đầu tiên ông trở về nước sau hơn bốn mươi năm lưu lạc xứ người. Ông là một bác sỹ, giàu có nhưng cô độc.
Lần trở về này ông chẳng tìm gặp ai. Chẳng còn ai cho ông gặp gỡ. Mục đích chuyến đi là tìm lại cội nguồn của mình trong những tháng năm cuối đời với hi vọng còn mang theo được những kỷ niệm thời trai trẻ.
Ông quen Khảo Mai trên một trang mạng xã hội. Cái tên của người phụ nữ chẳng nói lên điều gì nhưng với ông lại khác. Ông đã tìm kiếm cái tên này hằng ngàn lần. Chuyện trò qua mạng với khá nhiều phụ nữ có cái tên kỳ lạ như vậy để hi vọng tìm lại một người. Ảnh đại diện của cô gái có chiếc cằm nhỏ, đôi mắt ẩn dưới hàng lông mi cong vút quyến rũ đã gợi cho ông nhớ về một người phụ nữ khác có cái tên giống cô. Khảo Mai.

Ông ngồi trong quán cà phê Memory trên tầng hai từ sáng sớm. Bình minh lên trên sông. Chiếc cầu bắt ngang qua dòng nước lung linh thật đẹp. Ông nhìn đồng hồ. Chín giờ kém mười lăm. Ông đến quầy tính tiền rồi thong thả bước ra hè phố gọi taxi đến nhà Khảo Mai.
Ông mở khóa cửa bước vào nhà.
Như cô đã dặn, trên kệ sách có ba cái ly và một chai rượu. Trên bàn còn hai cây nến trắng chặn một bì thư phía dưới. Khi ông nhấc nến lên, chiếc bì thư lộ ra dòng chữ : “ Kính gửi Chú Vĩnh Đoàn”. Ông sững sờ khi đôi mắt lướt trên năm con chữ, vội đến trước cửa phòng Khảo Mai rung nhẹ chiếc chuông gió. Không có tiếng trả lời. Ông rung thêm vài lần nữa rồi nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào.
Trên tấm nệm Khảo Mai nằm yên lặng, hai mắt khép kín, tay phải đặt lên ngực Màu đỏ loang phía bên trái tấm nệm vẫn còn tươi. Ông hoảng hốt đặt tay lên khuôn mặt của cô rồi cầm cánh tay trái bóp chặt. Bàn tay vẫn còn chút hơi ấm nhưng trái tim đã ngừng đập. Khảo Mai đã tự cắt mạch máu trên cánh tay trái của mình.
Ông không đốt ngọn nến như Khảo Mai đã dặn. Rót lưng chừng hai ly rượu rồi cắm nhánh hoa màu vàng vào ly rượu thứ ba đã đổ đầy, thất thần ngồi nhìn khuôn mặt thiên thần có đôi mắt khép chặt.

“Chú sẽ bất ngờ khi con biết tên chú phải không?Không còn gọi chú bằng Anh như trước nữa bởi vì con đã nhận ra chú chính là người yêu một thời của Mẹ nhưng vẫn âm thầm giữ kín trong lòng. Những lần chú mời con đi ăn, đi uống cà phê và kể về người con gái chú yêu thương hơn bốn mươi năm trước. Con dần nhận ra đó chính là Mẹ yêu quý của mình.
Chú đến tìm con không như những gã đàn ông lắm tiền khác. Họ cần thân thể con còn chú chỉ muốn biết tâm hồn con nghĩ gì. Chú vẫn trả tiền đều đặn mỗi lần đến thăm. Số tiền đó con đã gởi vào tài khoản của mình trong thẻ ATM gởi kèm theo cho chú với bức thư này. Mật mã của thẻ là MẸ TÔI
Chú Vĩnh Đoàn kính mến!
Con là đứa con gái duy nhất hư hỏng của Mẹ. Tên thật của con là Khảo Mơ. Vì không thích cái tên này nên con đã dùng tên của Mẹ làm nickname của mình.
Trước khi mất, Mẹ đã kể cho con nghe rất nhiều về chú, về mối tình đầu của hai người. Những lá thư chú gởi cho Mẹ, con vẫn còn giữ. Mẹ bảo là kỷ vật, đừng bao giờ đánh mất. Biết đâu một ngày nào đó sẽ gặp chú và trao lại những bức thư này.
Mẹ kể rằng sau cuộc chiến đợi chú trở về trong vô vọng .Trong căn nhà vắng vẻ chỉ còn lại một mình Mẹ nên chiều chiều hay ra ngồi trước thềm nhà có trồng mấy chậu hoa hồng vàng, người ta qua lại, bảo Mẹ còn đầu óc phong kiến, tiểu tư sản. Mẹ khóc nhiều lắm.
À, có điều này có thể chú không biết. Mẹ cũng là một con đĩ. Nhưng Mẹ yêu chú đến khi nhắm mắt. Lời cuối cùng Mẹ gọi không phải tên con mà là Vĩnh Đoàn, mặc dù tay Mẹ trong bàn tay con.
Một tiểu thư đài các không chống đỡ nỗi những cơn sóng dữ cuộc đời. Bà Ngoại mất khi Ông Ngoại trong trại tù. Mẹ làm đĩ nuôi đàn em nhỏ dại cho đến khi con ra đời. Ba của con là một gã đàn ông khốn kiếp và Mẹ làm gái bao cho con người này suốt một thời gian dài. Ông ta đã không nhìn nhận đứa con gái bất hạnh cho đến khi con lớn lên, được học hành, được yêu thương trong vòng tay Mẹ.
Mẹ qua đời trong buổi chiều nắng thật đẹp. Mẹ gọi tên chú, miệng mĩm cười rồi thiếp đi mãi mãi. Có lẽ lúc đó Mẹ nhìn thấy chú, đang cùng chú tung tăng dưới hàng cây dọc bờ sông như Mẹ thường kể cho con nghe. Khuôn mặt Mẹ hạnh phúc. Con tin Mẹ sẽ đem niềm hạnh phúc ấy đi theo. Hôm ấy là 11/3, sinh nhật con mười bảy tuổi.
Con tiếp tục học hành như lời Mẹ trăn trối. Tháng năm trên giảng đường con đã cố gắng rất nhiều. Để có tiền con phải làm nhiều việc nhưng rất khó khăn. Có lúc đói quá chỉ có củ khoai nguội thay cơm. Rồi con làm gái bao cho nhiều gã đàn ông da nhăn nheo tóc bạc. Ra trường, lạị phải đổi thân xác cho tên hiệu trưởng đốn mạt để được đứng lớp. Rồi con bỏ dạy..
Hai mươi lăm tuổi, con nhận ra rằng cuộc đời này quá nhẫn tâm. Người ta sống với nhau dối trá, lừa lọc, phỉnh nịnh. Con rơi vào trạng thái trầm cảm để rồi bước đi trên con đường Mẹ đã đi
Con làm đĩ!
Thì đã sao nào?Không tự hào cũng chẳng xấu hổ, băn khoăn với việc mình làm. Có người hỏi con là giáo viên. Con bình thản trả lời rằng “ Tôi là một con đĩ” Con căm thù người đàn ông mà mình trót mang dòng máu. Căm thù gã hiệu trưởng đê hèn, căm thù những tên đàn ông khốn kiếp đã dày xéo thân thể con. Căm thù tất cả đàn ông trên thế giới này thì việc đi làm đĩ, có gì để mà xấu hổ.
Con làm đĩ để trả thù cho Mẹ con, cho con và hàng ngàn cô gái bất hạnh khác. Con rửa sạch những đồng tiền dơ bẩn trên thân xác mình. Nhiều gã đàn ông đạo mạo, lịch thiệp nhìn thấy trên TV hay nói những câu hoa mỹ, giáo điều đã đi qua thân thể con. Khi cửa phòng đóng lại, họ lột xác nguyên hình là những con quỷ, nói những lời thô tục và hành động như lũ heo đói.
Có nhiều tiền, có đủ thứ nhưng con vẫn là người phụ nữ bất hạnh, cô đơn đến khủng khiếp.
Có lần chú đã hỏi con cần nhiều tiền để làm gi? Biết phải trả lời chú sao đây?Nhiều người, tiền dạy cho họ hai chữ vô ngôn. Họ bất chấp thủ đoạn để có nhiều tiền. Cuốn họ vào thế giới hiện sinh. Con đã tiếp nhiều loại khách sang trọng, nhiều người có địa vị và tiền bạc nên hiểu được nhiều điều. Những khi con ngồi làm nền cho các buổi tiệc xa hoa để xem họ diễn kịch mới thấy được đồng tiền là sợi dây ràng buộc các quan hệ bất chính xuyên thời gian và không gian.
Con lại phải rửa sạch một phần nhỏ nhoi những đồng tiền dơ bẩn của bọn họ, âm thầm giúp đỡ những kẻ khốn cùng. Chẳng nhân danh ai, con lại đến với những cô gái đứng đường cấp thấp. Có người được con cứu vớt ra khỏi vũng lầy nhưng mình lại lún sâu vào vũng lầy ấy
Cho đến khi con gặp chú, đối diện chuyện trò với chú mới nhận ra rằng trên đời này vẫn còn đó những người đàn ông cao thượng đáng yêu. Ban đầu con nghĩ chú cũng là một tên vô lại già nua lắm tiền. Con cần tiền và con đã lã lơi với chú. Nhưng những ngày ngồi bên chú, nghe chú nói, con đã nhận ra rằng mình đang chạm đến một sai lầm. Con chưa yêu người đàn ông nào trên đời này. Con khinh ghét họ nhưng rồi số phận run rũi lại gặp chú. Người đàn ông đáng kính có thể làm cha mình nhưng dại dột đi gởi tình cảm vào chú. Có lỗi với chú và Mẹ con nữa.
Tin chú, con giao hết số tiền trong thẻ ATM. Thay con mang số tiền này giúp cho những con nguời bất hạnh. Những đứa trẻ thiếu ăn, những người phụ nữ bị chà đạp, bị bóc lột thân xác..
Người ta, những “đồng nghiệp”đáng yêu của con sẽ biết con muốn nghỉ ngơi ở đâu. Nơi con an nghĩ cũng là nơi Mẹ Khảo Mai an nghĩ trên một ngọn đồi dưới chân đèo. Chú hãy đến đó. Hai ngôi mộ gần nhau. Mẹ và con.
Hãy đặt lên mỗi ngôi mộ một đóa hồng vàng nhé chú
Vĩnh biệt Chú
Khảo Mơ

Bàn tay người đàn ông run rẫy bốc từng nắm đất ném xuống huyệt mộ. Ông khóc không thành tiếng. Khi nấm mồ đắp đầy, ông cẩn thận đặt lên mộ bó hồng vàng rồi bước qua ngôi mộ bên cạnh.
Trên tấm bia bằng đá cẩm thạch, ông nhận ra di ảnh người phụ nữ giống Khảo Mơ một cách kỳ lạ.
Đặt bó hồng vàng còn lại trước mộ, ông quỵ xuống trước tấm bia, hai vai rung lên bần bật.
Tháng ba mười lăm

BÙI THANH XUÂN

GIẤC MƠ BIỂN

caovantam

Mỉm cười nhìn biển màu xanh
biển bình yên ,
Mịn như dòng chảy của tóc một thời con gái;
Bầu trời ánh sáng chiếu xuyên qua
những con sóng nô đùa và các nàng tiên cá hát,

Mặt trời nhanh chóng ẩn trong những đám mây
Gió sợ hãi bay theo với đôi cánh bão tố,

Và biển trở nên nguy hiểm :
Nếu không thắp sáng được ngọn đèn của biển
Đến khi tia sáng của ánh trăng mờ
vượt qua con đường sương mù nhợt nhạt

Nơi những buổi bình minh
tôi hát bài ca biển đảo
em hong tóc
trong nắng vàng hoàng hôn biển
vị mặn của muối không bằng đôi môi em
bờ cát trắng mịn màng như làn da em

Để dâng tình yêu của em với biển
và dạy cho anh tính cách của biển,
sự quyến rũ, bao dung sâu thẳm,
sự công bằng và bình yên của biển…

Cao văn Tam

ƯỚT CÁNH LAN GẦY

nguyenngocnghia

Sương nhòa
đêm ơi mênh mông
cành lan lả mộng thềm xuân cúi chào

Dâng đời. hương sắc hư hao
treo thân lá
rụng nỗi đau xuống mùa
đợi chờ đã thấm vai chưa?
mà nghe lạnh buốt mấy mùa sương phai

Sương ơi
ướt cánh lan gầy
nhẹ thôi….
thiên cổ đọng vai tình buồn

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

Đánh bạc bằng chữ: Thả Thơ

trinhthanhthuy

Mỗi độ xuân về, Ban Điều Hành Giải Khuyến Học lại rộn ràng gởi thư mời gọi chúng tôi đến giúp cho Quán Thả Thơ ở chợ Tết Sinh Viên Bolsa, Cali trong ba ngày tết. Dù bận rộn đến đâu chúng tôi cũng thay phiên nhau một lòng tình nguyện tới coi Quán từ lúc mở chợ cho đến lúc bế mạc. Lý do chúng tôi đến có lẽ từ nguyên nhân ham vui thì ít mà do cái tình thì nhiều. Đó là mối tình mến chữ, yêu thơ, trọng bạn, và muốn lưu giữ chút gì cổ tục còn sót lại.

Xuân đến, yêu xuân thì ai không yêu nhưng trong lòng chúng tôi xuân mà thiếu thơ như buổi ban mai thiếu chút sương mù, cành mai đầy lộc thiếu làn nắng nhẹ, quả dưa hấu đỏ thiếu đi một huyền thoại Am Tiên. Ngày đầu năm, đi dạo một vòng chợ Tết ồn ào, đông vui, ghé Làng Việt Nam, dừng chân ở Quán Thả Thơ, con tim những người xa xứ từng yêu thơ, ai không khỏi thoáng chút bồi hồi. Trí tò mò con cháu dòng máu Việt chợt nổi lên khi nhìn vào tấm biển với dòng chữ “Quán thả thơ”, một cậu thanh niên tuổi độ 17 nghiêng nghiêng vầng tóc nhuộm vàng hoe, hỏi chúng tôi “What’s that mean?”. Cô bé áo trắng, mắt lóng lánh sáng, đứng bên mẹ hồi lâu chân còn chưa mỏi, cười căng môi hồng, liên tục chơi thả thơ hết câu này đến câu khác. Mặc kệ tiếng pháo ồn ã, tiếng loa thét đâu đó đinh tai, nơi góc quán này vẫn có một đám đông đang say mê trò chơi trí tuệ. Tai phải họ nghe bình thơ, tai trái họ gật gù theo tiếng ngâm đang lên cao vút, óc đung đưa suy luận, tay đặt tấm vé(ticket) của mình vào nơi mà mình muốn đặt. Tháng Giêng là tháng ăn chơi, cờ bạc, tháng đất trời khai hội, tất cả các loài hoa bung nở mừng lễ Nguyên Tiêu. Đâu đó vài ba chiếu bạc “bầu, cua, cá cọp” lai rai người tụ lại đỏ đen, thử thời vận xui hên, năm mới. Nơi đây tiếng rao hàng cho quán thả thơ ném vào không gian dịu dàng như một giải lụa bạch: “Thả thơ là một trò chơi trí tuệ, đánh bạc bằng thơ là một thú đỏ đen tao nhã, đầu năm, mời quí vị ghé Quán Thả Thơ để thử tài đoán thơ của mình có ngang bằng các thi sĩ hay không. Trò chơi này không tốn tiền mà lại có thưởng, mời quí vị ghé vô”

Tốp người này đi nhường chỗ cho tốp người khác, người mới đến mỗi người được phát 5 vé(tickets) màu xanh, mỗi lần chỉ được đặt một vé. Nếu trúng sẽ được chung một vé màu cam. Thua hết 5 vé sẽ được phát thêm, chơi bao lâu cũng được. Nếu trúng khoảng 20 vé màu cam sẽ được chọn một món quà thưởng do quỹ của Giải Khuyến Học cung cấp. Dưới hình thức “đố vui để học”, trò chơi Thả Thơ hợp với mọi lứa tuổi, ai tham gia cũng được. Người dự được giới thiệu từ 2 đến 4 câu thơ viết trên màn ảnh, (sẽ thiếu một chữ), bên dưới là 4 câu trả lời theo thứ tự a, b, c,d để người dự chọn. Sẽ có một người đọc những câu thơ, hoặc ngâm lên như một gợi ý cho người dự nghe. Quán thường có 3 đến 4 người coi và mỗi người sẽ bình các câu thơ theo ý riêng của mình, mục đích để góp ý và đôi khi cũng để bàn ra, đánh lạc hướng, làm hoang mang người tham dự khiến họ không biết chọn câu nào. Tuy nhiên quyết định cuối cùng vẫn là người cầm trong tay tấm vé đặt vào nơi mà mình tin là đúng. Điều hào hứng nhất là người tham gia được trao micro để ngâm hay đọc thơ và thậm chí họ được bình theo ý của mình về lý do tại sao mình chọn chữ đó. Điểm lý thú của trò chơi, trong câu trả lời trúng nhất, có khi lại là một chữ rất lạ lùng, rất quái mà không ai ngờ được tại sao tác giả lại chọn cái chữ vô lý ấy. Thế mới biết, thơ mà, chỉ có người làm thơ mới chính người chọn chữ hợp nhất cho thơ mình.
Đây là một ví dụ: Hai câu thơ trong “Tống Biệt Hành” được đưa ra với một chữ bỏ trống. Người tham dự sẽ chọn một trong 4 câu trả lời mà câu c) là câu có chữ sao đúng theo chữ tác giả đã dùng.

Đưa người, ta không đưa qua sông
(…..) có tiếng sóng ở trong lòng

a)nghe b)ta c)sao d)như

Thơ thường được trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, hay tác phẩm của Đoàn Thị Điểm, Hàn Mạc Tử, Cao Bá Quát, Nguyên Sa, Ngô Minh Hằng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Trần Trung Đạo, Quang Dũng v.v. Ngoài ra còn có hàng trăm câu ca dao, tục ngữ lấy ra từ nền văn học Truyền Khẩu VN.

Trò chơi Thả Thơ ở Quán Thả Thơ này hơi khác với nguyên thủy theo lời kể của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn “Thả thơ”:

– Thầy sẽ viết vào mảnh giấy trắng này một câu thơ bảy chữ mà chỉ… có sáu chữ thôi. Còn một chữ thì để trống và thay vào đấy một cái khuyên tròn. Cái khuyên tròn thay chữ đó thường gọi là chữ vòng. Đây này, chị lấy một câu làm thí dụ thì các em rõ ngay. Các em biết câu: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần” đấy chứ? ừ, thí dụ bây giờ định thả câu thơ ấy. Và định vòng chữ “hướng” ở đoạn dưới. Thầy sẽ viết vào mảnh giấy nhỏ này: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã… Tần”. Và khi ngâm câu thất ngôn có sáu chữ ấy lên thì thường phải ngâm: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã… “vòng”… Tần”; Chữ “vòng” đây thay vào chỗ để trống. Bây giờ mới nói đến những chữ “thả” ra. Thí dụ thầy thả năm chữ: cố, tại, vọng, phản và luôn cả cái chữ hướng trong nguyên văn. Thường chỉ thả có năm chữ thôi.
Tụi trò nhỏ thấy chuyện thả thơ ngộ nghĩnh, nghe lấy làm khoái trí, trố mắt nhìn cô Tú, giục cô nói tiếp.
– Muốn đánh chữ gì thì chọn lấy một trong năm chữ mà đánh. Đánh trúng thì một đồng ăn ba đồng.

Sự khác biệt ở chỗ Quán TT chỉ đưa ra 4 câu trả lời a,b,c,d thay vì 5 như trong trò chơi nguyên thủy. Quán Thả Thơ do Giải Khuyến Học thành lập năm 1999 tại chợ Tết Sinh Viên ở Bolsa, Cali, với mục đích quảng bá và bảo tồn một sinh hoạt truyền thống văn hoá đặc sắc của những ngày xuân. Thưở ban đầu, người tham dự phải mua vé với một số tiền nhỏ tượng trưng và giải thưởng có giá trị theo đúng nguyên tắc của trò chơi nguyên thủy. Sau này vì muốn số người tham dự dành cho mọi lứa tuổi, nhất là các em nhỏ vào lứa tuổi teen trở lên(không có tiền) có cơ hội tham dự và học hỏi tiếng Việt cùng thi ca VN nên ban tổ chức ra quyết định cho free. Quyết định này là một thành công bất ngờ vì chúng tôi thấy số các em tham dự đông chưa từng thấy, vì số người trẻ đi chợ Tết rất nhiều. Các em thường đi thành nhóm, kéo đến Quán, ríu rít hỏi, hăng say bình luận, hùa nhau đặt, tiếng cười nói vang dội khắp quán. Có em hoàn toàn không biết tiếng Việt hay biết lõm bõm nhưng cũng kiên nhẫn nghe, không hiểu thì hỏi, đặt tứ tung theo ý bạn, theo ý người bình thơ, cười tươi hỉ hả khi may mắn được trúng. Không khí quán thơ trong hơn, xanh hơn, mang vẻ tranh đua trong tinh thần học hỏi hơn một trò sát phạt nhau bằng tiền và chữ. Giọng ngâm đưa thơ thanh thoát, thăng hoa vào mây cao khiến khách du xuân dừng chân ngoảnh lại trí bần thần “À thơ”.

Thả thơ (hay còn gọi là đánh thơ), ngày xưa, vào những đêm hội Tao Đàn, các cụ ta xưa thường ngắm trăng, bình văn, và thả thơ. Đây là một thú chơi tao nhã dùng văn chương để giải trí lại khiến người được cuộc vui vì có chút tài lộc và hãnh diện về tài thi phú, vốn hiểu biết sâu sắc của mình. Các nho sĩ, quan lại và hoàng tộc xưa ở kinh đô Huế rất chuộng thú tiêu khiển này. Nó là một cuộc đấu trí đầy cân não, mà những người ít hiểu biết về văn chương thi phú khó có thể tham dự. Ngược lại, “Người cầm cái” cũng phải rất mực tinh thông. Theo giai thoại, thì thú Thả Thơ có từ đời vua Minh Mạng, một ông vua nổi tiếng có tới 142 người con, cả trai lẫn gái. Nổi tiếng nhất là ông Hoàng thứ 10 là Miên Thẩm tức Tùng Thiện Vương và ông Hoàng thứ 11 là Miên Trinh tức Tuy Lý Vương. Hai ông hoàng này văn tài lỗi lạc, thơ phú làu thông. Mỗi dịp xuân về, phủ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương luôn tổ chức mời những văn nhân thi sĩ tới dự cuộc chơi thả thơ. Lâu dần, không biết sao trò chơi này bị mai một.
Năm 1999, Quán Thả Thơ của Giải Khuyến Học ra đời. Năm 2011, trong nước bắt đầu khôi phục tục Thả Thơ trong đêm thơ Nguyên Tiêu bên lầu Tứ Phương Vô Sự (Đại Nội Huế) với bốn bề gió mát trăng thanh cùng nhiều bài thơ bất hủ đã đem đến cho khán giả yêu thi ca thật nhiều cảm xúc khó quên. Trong buổi Ngày Thơ lần thứ ba(2005) ở VN, ban tổ chức đã khai mạc với lễ Thả Thơ nhưng không phải bằng thú đánh thơ mà đem thơ buộc vào những quả bóng bay đỏ do 50 thiếu nữ mặc quốc phục thả, để thơ được bay lên trời cho có vẻ hoành tráng! Cũng là hai từ “Thả Thơ” nhưng nghĩa khác hẳn nhau.
Những Người Xuân xưa, thưở bé chơi trò Thả Đỉa Ba Ba, lớn lên lựa là trí tuệ chơi Thả Thơ bắt chữ. Em ngày nào hái hoa, anh ngày nào bắt bướm, lớn lên nhìn nhau bỡ ngỡ, ngày tàn lạc lối đi về. Xin lấy thơ Nguyễn Chủ Nhạc thay cho một lời kết, thay cho một thời thả thơ yêu em, thay cho một thoáng Xuân nồng.
Một thời thả thơ…

Ta
của một thời
hoang dại
thả thơ
như một đam mê
em vớt thuyền thơ
dạt bến
lôi ta lạc lối đi về…

Thế rồi,
em thành người lớn
mơ hái trăng sao
trên trời
đem tình yêu
cho gió thổi
quên ta thành cọc bến đời,

Trái đất
quay vòng
bé nhỏ
giờ đây
ta gặp lại nhau
em thêm một lần
người lớn
ta già
nên ngại bước mau,

Em
trả thơ
về bến cũ
nào đâu
ta dám nhận về
thơ
có một thời
hoang dại
ta
chỉ một thời
đam mê…

Nguyễn Chủ Nhạc

Trịnh Thanh Thủy

Bốn Mươi Năm Sau

tranvanle

Bốn mươi năm sau / còn gì trong nắng? còn gì trong mưa? Còn những bài thơ / ràn rụa nước mắt!

Bốn mươi năm trước, ai bước qua đây, chặng cuối chông gai / bao người ngả quỵ?

Non nửa Thế Kỷ: Đại Hàn văn minh, Thái Lan trở mình, Mã Lai cường thịnh…

Dân mình câm nín, toan tính chuyện gì? Chân mây đen sì, bóng thuyền vỡ nát…

Hỡi ơi bài hát / nối vòng tay nhau…Hỡi ơi ca dao, máu đào, nước lả!

Chúng ta đi quá / cả tuổi trời cho. Chúng ta nằm co / bốn ngàn năm sử…

Bốn mươi năm đó, chút chớ bao nhiêu! Mắt Mẹ buồn hiu. Mặt Ba héo úa…

Em tuốt cọng lúa / chảy máu bàn tay. Anh một chàng trai / bờ vai gánh gãy…

Bốn mươi năm ấy / thành cổ tích không? Hỡi môi ai hồng, hỡi lòng ai bạc…

Nối tay cùng hát / bát ngát buồn ơi / bát ngát buồn ơi / bát ngát buồn ơi!

Hãy xé giùm tôi / bài thơ mới viết. Những lời hơn thiệt / thả đi gió bay…

Trần Vấn Lệ

Vịn câu thơ mà đứng dậy”

trantrungdao

Những lúc đất nước khó khăn như thế này, chợt nhớ đến hai câu thơ của Phùng Quán:
Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

Nhà thơ Phùng Quán đã kết luận như thế khi nhìn lại quãng đời 30 năm ông đã sống trong bóng tối của bạc đãi, đe dọa, sống trong cảnh lưu đày ngay giữa lòng Hà Nội, nơi đó, từ thuở thiếu thời, ông đã từng đổ máu để giữ gìn.
Những phút ngã lòng là những lúc nhà thơ Phùng Quán phải chọn một trong hai con đường đầy bất trắc đang chờ: tiếp tục chịu đựng khó khăn, đói khát, tiếp tục đi câu cá trộm, viết văn trộm hay nên viết một bản tự kiểm nộp lên Hội Nhà Văn để được trả lại thẻ hội viên, được mỗi tháng mua vài cân gạo và được phép sắp hàng mua một vài nhu yếu phẩm.
Những phút ngã lòng là lúc nhà thơ phải chọn một trong hai thái độ làm người: chịu đựng sự nguyền rủa, sự rẻ khinh, sự hoài nghi, xa lánh của bạn bè, sự lãng quên của bà con thân thuộc, chịu làm kẻ mất quê hương ngay trên chính quê hương mình, hay cúi đầu khuất phục như Chế Lan Viên, Xuân Diệu…tô son điểm phấn cho một chế độ đã phản bội xương máu đồng bào, phản bội ước mơ của dân tộc.
Trong lời tựa của thi phẩm Trăng Hoàng Cung, nhà thơ Phùng Quán đã viết: “Tôi đã trả giá cho Thơ bằng 30 năm tốt đẹp của đời mình. Từ năm 24 tuổi đến năm 56 tuổi, cơ chế quan liêu đã đánh trả tôi đến chí mạng. Tước đoạt của tôi quyền lao động thiêng liêng: sáng tác, xuất bản, quyền được sinh sống cho ra một con người. Và dìm ngập tôi trong bùn nhơ, lăng nhục trước công luận….”. Và ông đã viết tiếp: “Nhưng thơ đã cứu tôi, giúp tôi đứng vững, dạy tôi dũng khí bền gan”.
Nhà thơ Phùng Quán đã vịn câu thơ mà đứng dậy. Đứng dậy để làm một nhà thơ chân thật. Chân thật trọn đời. Vì chọn để làm một nhà thơ chân thật nên trong suốt 30 năm ông đã phải sống trong đói khát, trong cô đơn. Ngày 22 tháng 1 năm 1995, nhà thơ bất khuất Phùng Quán ra đi. Ông ra đi, để lại cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau Lời Mẹ Dặn.

Hơn nửa thế kỷ trước, bên bờ sông Pắc-Nậm chia hai nước Việt Nam, Trung Hoa, một thanh niên Việt Nam khác đã vịn câu thơ mà đứng dậy. “Nước non ta ai ngăn trở ta về!”, chàng thanh niên Việt Nam 22 tuổi thét lên giữa núi rừng khi đứng nhìn về phía bên kia sông Pắc-Nậm. Thấp thoáng trong đám sương mờ là những bức tường vôi, là những làn khói trắng thân yêu. Đó là tổ quốc của ông, là quê cha, quê mẹ của ông. Chỉ cách một dòng sông nhỏ mà xa như nghìn trùng diệu vợi.
Người thanh niên 22 tuổi, tác giả của bài thơ không ai khác hơn là nhà cách mạng, triết gia, và nhà thơ Lý Đông A. Mỗi lời thơ của ông thống thiết như tiếng chim Quốc gọi nửa đêm, như từng mũi kim đâm sâu vào tim, như từng hạt cát rơi vào sâu trong mắt của những người có quê hương mà như mất quê hương.
Một ngày lạnh nước nguời không tri kỷ.
Ta vỗ án thét lời ca chính khí.
Ðông thê thê như gió thổi u hồn,
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Và xa hơn nữa, gần một ngàn năm trước (1077), bên dòng sông Như Nguyệt, danh tướng và cũng là nhà thơ Lý Thường Kiệt đối diện với hàng chục vạn hùng binh của đại tướng Quách Quì nhà Tống. Cuộc chiến đã diễn ra suốt tháng. Quân Nam đang yếu sức. Kinh đô Thăng Long đang bị đe dọa. Giữa lúc nguy nan đó, Lý Thường Kiệt đã vịn câu thơ mà đứng dậy qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà:
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Dịch:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

Ðọc lại dòng sử Việt rạng ngời, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, không phải chỉ những anh hùng dân tộc, những nhà cách mạng đã vịn câu thơ đứng dậy mà ngay cả dân tộc Việt Nam cũng đã hơn một lần vịn thơ đứng dậy trong hai cuộc kháng Nguyên lừng lẫy. Thơ, trong lúc khó khăn đó, đã chuyên chở niềm tin về cho dân tộc như Thượng Tướng Trần Quang Khải dặn dò:
Chương Dương đoạt giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước đó nghìn thu

Dân tộc Việt Nam là dân tộc của thi ca và mỗi người Việt Nam là một nhà thơ. Nhận xét đó không phải quá khoe khoang.
Xin cầu nguyện cho đàn chim Việt trên vùng đất mà nhà văn Phạm Việt Châu, Trung Tá VNCH, tuẩn tiết sau 30-4-1975, gọi là “vùng định mệnh”, qua bao nhiêu sóng gió, cuối cùng sẽ cùng nhau viết nên bài sử thi vinh quang cho một nước Việt Nam Mới tự do dân chủ và thịnh vượng, một nước Việt Nam không còn xiềng xích, hận thù, không còn bị giới hạn bởi các lằn ranh, vĩ tuyến, hiệp định, địa phương, trong nước, ngoài nước, tôn giáo. Tác giả của bài hùng sử thi Việt Nam Mới đó chắc chắn không phải của một ai, một cá nhân nào, một anh hùng nào, một tổ chức đảng phái nào, nhưng của cả dân tộc Việt Nam đang đứng lên để nhận diện chính mình.

Trần Trung Đạo

ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI

linhphuong

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến thắng trận Pleime
Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết
Kỷ vật đây viên đạn màu đồng
Cho em làm kỷ niệm sang sông
Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em- anh cố sẽ quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối

LINH PHƯƠNG
20/02/1970