LỜI RU

phamkhanhvu

Ru làm chi nữa …tình ơi
Những đêm dài,
những đêm rời,
những đêm…
Những đêm thành phố không đèn
Soi mình dưới bóng trăng nghiêng nửa đời
Ru làm chi nữa… tình ơi
Hôm qua
người đã đi rồi
…lại đêm…

PHẠM KHÁNH VŨ

Ngộ sị páo chù

nguyentri

Tiến là bạn của Danh, thân lắm. Nói về gia cảnh nhà Tiến thì ai cũng cám. Cha chết, mẹ lấy chồng khác. Anh chồng nầy không dám ở với anh em nhà Tiến. Ba thằng, mặt mũi bặm trợn, lầm lầm lì lì. Thằng Thanh, anh lớn tham gia trộm cáp điện bị kêu năm năm tù giam. Thằng kế tên Tú lấy vợ được hai đứa con, thằng nầy lười có tiếng, con vợ đi làm công ty lẹo tẹo với tổ trưởng sao đó bị bể ổ. Tú chưa rõ đầu cua tai nheo gì liền xáng bạt tai và đuổi con lăng loàn đi. Con vợ chắc cũng bị thằng kia ngọt nhạt nên bỏ chồng con cuốn gói theo. Ai ngờ thằng tổ trưởng họ Sở, nó quất ngựa dông mất. Con nhỏ ôm gói về má ruột. Ở nhà hai đứa con nhớ mẹ khóc như ri, đổ bịnh cùng một lúc, bà ngoại nghe vậy liền lên bệnh viện thăm cháu. Má vợ rủ rỉ rù rì sao đó Tú đồng ý cho vợ về lại, xem như gương vỡ lại lành, trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Trở lại chuyện Tiến bị tù. Là vầy… Ông Cưng là cha của Danh. Cha nội nầy trên dưới sáu mươi rồi nhưng hư hao lắm. Tục truyền rằng, thuở trẻ Ba Cưng lẫy lừng lên tuổi khoản quậy quọ và rượu trà gái gú. Hôm đó gã bị bắt về tội nhậu xong phá quán. Ngay trụ sở Ủy ban mới tiếp thu từ chính quyền triều cũ có một cái Conex. Cái hộp sắt nầy trước đó quý ông cảnh sát dùng để nhốt du côn và trốn lính. Ba Cưng bị nhốt vô hộp chung với một mớ hàng buôn lậu bị tịch thu. Nào rượu, nào thuốc lá cùng các thứ linh tinh. Nói chung là các món nhậu đủ mặt. Cưng bị tống vô lúc năm giờ chiều. Sáng hôm sau người nhà lên thăm, du kích đập Cưng dậy nhưng say quá Cưng không mở mắt nổi, đến lúc tỉnh thì can rượu năm lít bị tịch thu vơi hết một phần ba. Tội đè tội, Cưng bị phạt hành chánh kha khá tiền. Nhưng tao đâu có tiền – Cưng kể vậy.
– Rồi làm sao qua?
– Con bồ tao nó cho tiền nộp phạt.
– Ông cũng có số được đàn bà nuôi há?
– Khà khà… tao đẹp trai mà mậy. Nhưng mà tao không nộp.
Sau đó Ba Cưng bị lôi cổ đi lao động công ích hết mười ngày vì tội ngoan cố. Cưng kể:
– Con bồ cho tao mười đồng, tao dấu vô lai áo hai đồng. Lên xã tao xin bớt hai đóng tám nhưng xã buộc phải đúng mười. Về, tao vô quán nhậu uống beng hết tiền trong lai áo. Hôm sau tao lên xin đóng sáu đồng… Năm bữa sạch bách… vậy là ôm gói đi công ích.
Đó là thành tích bốn chục năm trước, chả hay ho chi nhưng Cưng kể hoài ra vẻ đây chả sợ ai. Vụ thằng Tú cho con vợ về, chả biết nghĩ sao Cưng xách một chai ba xị ghé Tú lai rai đỡ buồn. Tú không nhà nên Tiến tiếp khách. Thoạt tiên Tiến dạ dạ vâng vâng lễ phép lắm. Nói chung là ba của bạn thân ta phải lịch, hơn nữa khách mang rượu mang mồi đến ta phải kính chớ. Kẹt cái rượu vào nó mau huề đồng lắm. Anh anh tôi tôi rồi mày tao liền một khi. Già Cưng ra cái cha chú bày đặt khuyên răn nầy nọ, Tiến điên lắm nhưng nhịn, đến lúc Cưng lôi chuyện cu Tú bị cặm sừng ra bàn. Cưng nói vầy:
– Cái dòng họ nhà mày ăn cái quần một ống hay sao mà ngu vậy. Thằng cha mày trên bàn thờ che sao cho hết cái nhục cắm sừng? Anh em mày bao nhiêu cái ngu dành hết không chừa cho ai chút nào.
Cái nầy chẳng qua có rượu Cưng nói bậy và Tiến không bị ma men hành thì đâu nên nổi. Điên quá Tiến xách cái chai phang vô trán Ba Cưng một phát. Người ta xách mé nhà mình vậy mà nhịn là phật chớ đâu phải người. Tuy nhiên, đánh người gây thương tích đến chuyển viện thì anh cũng bị chuyển lên tuyến… huyện. Vô nhà đá ngon lành hơn nhà lá nhiều. Tuy thương tích của Cưng chỉ mười mũi khâu, nhưng Tiến bị án là do tiền sự hơi nhiều. Tiến bị kêu đúng một cuốn lịch và bồi thường cho Ba Cưng hết một mớ cơm thuốc nhưng Tiến có chi ngoài cái tút đạn. Toà xử xong Ba Cưng nói với Tú:
– Mày phải lo đền cơm thuốc cho tao à
Tú văng đủ thứ không đáng văng chỗ toà án:
– Có cái củ thìu biu. Ông chờ nó trả cho, mắc mớ chi đến tui.
Danh can thiệp:
– Thôi bỏ đi ba ơi, chuyện nhỏ mà.
– Nhỏ cái bà nội mẹ mày. Tao bị bạn mày đánh cho mẻ trán mà mày còn theo phe nó hả mậy?
– Ai biểu ba nhậu với con nít làm chi?
– Câm họng lại. Mầy là thằng khốn nạn…
Ba Cưng hăm he tao làm đơn xin thi hành án thử coi trả không cho biết. Tú rằng ê già dịch ông làm như thằng Tiến vị thành niên mà gia đình phải chịu dân sự cho nó. Nó hai mốt rồi chờ đến tết cônggô đi há, có về thằng Tiến cũng không trả đâu. Nó cho ông thêm cái chai nữa thì có.
Nói vậy chớ ngày tháng vùn vụt trôi. Nháng cái, Tiến về. Về nhưng Ba Cưng bỏ qua chuyện đền bồi. Không phải sợ chi ai, đơn giãn là nhà Cưng đã đánh sập được cái nghèo. Hên quá, toàn bộ đất đai nhà ở nằm trong giải toả trắng làm cao tốc. Cưng được đền bù hơn tỉ bạc, được cấp một lô tái định cư. Cưng cất cái nhà bề thế hết ba trăm mét vuông đất, có cổng có rào. Vợ Cưng xưa nay buôn bán rau củ quả. Nay có vốn liền ra luôn cái đại lý bỏ mối cho các nơi. Nghiệp nầy phải có cái xe mới mau lên. Vậy là Danh ta ôm vô lăng lên chủ cái xe tải năm tấn.
Ăn nên làm ra nên Ba Cưng quên mất triệu bạc đền bồi toà phán. Tiền tỷ trong tay thì ba cái lẻ tẻ sá gì. Chỉ có một cái mà nếu quên luôn được thì hay quá, nghiệt ngã thay cái nầy càng có tiền càng lâm luỵ. Đó là con ma tên Men, Cưng chuyển tông từ rượu đế sang bia. Cái tủ đá lúc nào cũng chục lon ken ướp lạnh, hể lon nầy bật nắp thì lon kia thế chân. Kệ đi, làm ra không xài thì chết có mang theo được đâu. Có tiền nên Cưng ra vẻ lắm, sáng sáng mang giày đi bộ vòng quanh khu dân cư, hai con chó cảnh cũng lủn củn chạy theo chủ. Đời vậy là đẹp hết thế.
Dãy dân cư nơi nhà Cưng ngự trị áng chừng năm mươi lô thổ, nhưng mới mười căn lộ diện với đời nên hơi thưa thớt. Có một căn sống bằng tạp phẩm. Chủ nhân của nó không phải dân bị giải toả mà là dân có tiền, thấy khu dân cư đẹp nên hắn mua ở cho vui. Tay nầy cũng bảnh. Sáng nào cũng thể thao. Lâu lâu còn na thêm máy ảnh. Ba Cưng ghét tay tạp phẩm nầy lắm, hắn không biết sống. Tha phương gặp người cố cựu mà không chào. Gặp nhau trên đường gã tho lỏ mắt, mặt lạnh tanh. Cưng nói với vợ:
– Nhìn cái mặt thằng đó muốn xịt chó cắn.
– Ông đừng có nhiều chuyện quá ông Cưng à. Thằng Tiến nó nện cho cái chai ông chưa hoảng sao?
Tưởng vậy là thôi. Ngờ đâu chuyện xẩy ra nó kỳ cục một cái hết biết luôn. Sáng đó Cưng dẫn chó đi dạo. Trên đường, dân xe đạp, chạy bộ xôm tụ lắm. Ưng lên một con cún của Cưng lao theo một xe đạp, cái dòng chó cảnh bố láo táp vô gã xe đạp một phát. Gã xe đạp bị dính đòn liền dừng xe, đúng lúc tạp phẩm đi bộ cũng vừa tới. Ba Cưng biết chó mình cắn người, lý ra đứng lại giải quyết sự cố nhưng đi luôn. Xe đạp hỏi nên tạp phẩm trả lời rằng con chó của cha nội đang đi đó. Xe đạp liền gọi:
– Ê… ông già…. Con chó của ông cắn tui nè…. Đứng lại nói chuyện cái coi.
Ba Cưng quay lại. Lý ra cũng nên xoa dịu kẻ bị chó táp đôi câu ngòn ngọt lấy lòng, ở khu dân cư, nói chung, ai cũng kha khá, đâu ai buộc anh đền bồi chi, đằng này Cưng ta gọn lỏn:
– Không sao, chó tui không dại đâu mà sợ.
Kiểu nói của Cưng thằng khùng còn bực nói chi tỉnh. Xe đạp gằn giọng:
– Ai biết dại hay không ông?
– Thì ông cứ chích ngừa, bao nhiêu tiền tui lo cho.
– Ai cần đồng bạc của ông… cà chớn tui đập con chó chết à.
– Mày ngon đập tao coi.
Điên gan xe đạp chạy theo con chó, nhưng con quỷ con nầy nhanh như sóc. Thấy vậy tạp phẩm liền lên tiếng:
– Chó anh cắn người anh nên xin lỗi một tiếng…
Cưng cướp lời:
– Mắc mớ gì tới mày? Đồ nhiều chuyện…
Đến đây thì tạp phẩm rút êm. Mặc kệ đôi bên muốn sao đó thì muốn. Chuyện tưởng qua ai ngờ nó chuyển hướng theo một kiểu xấu xí nhất trần đời.
Đêm ấy, đang mơ màng trong giấc, bổng nhiên cả nhà Cưng đồng loạt thức giấc vì có mùi lạ mà quen. Quen nhưng chả ai dám vơ vào nhận họ. Cái mùi thối um của chất thải loại một, nhà cửa kiếng kín bưng mà nó len vô đến khứu giác từng thành viên thì tưởng tượng nó gớm ghê đến cỡ nào? Vùng dậy. Điện được bật từ trong ra ngoài. Mẹ cha ơi, thằng khốn kiếp nào phang vô ngay cổng rào một chai thuỷ tinh, dấu tích còn vương lại là miểng văng tứ tán. Có thể hiểu là ôn dịch đã cho một chai đầy phân người và nước tiểu tục goi bom bẩn thân ái tặng nhà Ba Cưng. Chuyến nầy chết chắc.
Sân nhà Ba Cưng đầy rau củ quả mà chiều trước đó vừa mới đưa từ Đà lạt về nguyên một tải năm tấn. Nào su hào, súp lơ, cà rốt, khoai tây, cà chua, bắp cải… có cả hoa nữa mới chết. Mùi ăm mô ni ắc vương khắp nơi, đâu cũng nghe. Sự cố được cả nhà Ba Cưng giải quyết bằng cách chửi đổng. Có bao nhiêu từ bụi đời tục tỉu không có trong từ điển được lôi ra mà phang cho nhau nghe. Hàng xóm tuy xa, nhưng nhờ khuya vắng nên lộng theo không khí mà tới. Được một lát dân thể dục chạy ngang, vậy là mớ hàng lê ghim nhà Cưng có nước đổ xuống sông, có cho cũng không ai thèm cái đồ dính “kít”. Kẹt cái xứ này không có sông. Mang đi đâu mà đổ hả trời cao?
***
Cả nhà xúm vô đổ tội lên đầu Ba Cưng. Mấy chục triệu bạc đem quăng thử hỏi ai không tức? Thời buổi kiếm ra đồng bạc chua như chanh… Trời ơi tức quá:
– Cũng tại ông – bà xã lớn tiếng – bày đặt dục với thao, đêm nào cũng rượu bia thì thao dục làm gì… Bữa nay đừng hòng có ken với tai gơ cho ông nghe… tai tai tai vô cái mặt ông.
Cái nầy phải thông cảm cho bà Cưng. Dân chợ búa tất nhiên điên lên trời còn chửi nói chi chồng. Đằng nầy chồng hư quá mà. Chó cắn người ta mà còn nói giọng giàu, nó quăng cứt vô nhà là phải quá. Bầy con cũng bực bội, nhứt là thằng Danh:
– Ba sao mà đủ chuyện hết ba ơi. Ông bỏ nhậu cho tui nhờ được không?
Bà xã còn nhịn chứ con cái mà mè nheo là đâu có cửa với cha. Cưng chửi inh sình trời đất. Chửi lây cả mấy thằng khốn dám chơi ông? Bà mẹ nó thằng nào, thù nầy ông quyết trả? Ai? Thằng bị chó cắn ư? Cũng có thể… nhưng mà… không phải nó đâu. Hôm qua mình đã xin nó cho qua rồi mà. Hay là anh em thằng Tiến Ròm, Thanh Bụi mời tù về? Dám lắm. Dám thằng Tiến trả thù vụ mười hai tháng tù lắm à. Nhưng mà hôm kia thằng Tiến, thằng Thanh với thằng Danh nhậu ngoài quán cầy tơ đây mà. Bạn bè ai chơi dơ vậy? Đúng không? Không phải hai thằng nầy vậy thì ai vô? Ai? Và trong đầu Ba Cưng xuất hiện thằng tạp phẩm lắm mồm nhiều chuyện. Đúng rồi. Hôm qua mình có mắng vô mặt nó. Nó ghét nên chơi trò bẩn. Nó chứ không ai vô… Được rồi… tao sẽ trả thù. Ba Cưng hét lớn bằng tiếng tàu Ngộ Sị Páo Chù… Đang rối bầy con và bà xã tưởng Ba Cưng nổi cơn khùng nên im thít.
Được rồi – bên lon ken ướp lạnh – Cưng trầm tư tính kế. Mày chơi tao sao tao chơi lại vậy cho mày biết lễ độ. Oán lên tận đỉnh và dồn dập bởi cái mùi khốn kiếp nó không chịu hoai. Dù đã bơm, đã xịt cả ty tỷ tấn nước cũng chịu sầu. Vậy rồi làm sao mà ăn uống hả thằng khốn? Mày ác vừa thôi… chơi như vầy thì đừng trách tao nghe… Hãy đợi đấy. Tao sẽ cho mày nếm cái chính mày cho tao xơi.
Kể cũng khá là công phu khi chế tạo bom bẩn. Khu dân cư đời mới kiếm ra cái chất thải loại một ở bụi bờ là không có à. Thiệt đó, Cưng đi cả buổi mà đành phải về và tự mình cho mình cái mình cần. Nói gọn cho nhanh là cho vô tô cả nước lẫn cái, quậy cho đều rồi trút vô chai. Phải gan. Phải can đảm. Phải chó lắm mới mới cho ra một chai ba xị đầy. Và một ngày đâu có đủ, phải hai ngày cơ bạn ạ. Đầy rồi, đủ rồi mới tính đến phương án là quăng bom vào lúc nào. Một hai hay ba giờ sáng. Ba Cưng là dân nhậu, ngủ ít lắm nên biết giờ nào thiên hạ chết trong mơ. Hai giờ, vâng, lúc nầy là lúc giấc say nhất… Nhưng mà khu dân cư điện đường sáng suốt đêm… cha… Cũng hơi ớn à. Đang quăng mà nó bật cửa nhào ra bắt tại trận thì… thì sao hỡi trời?
Ba Cưng lọ mọ thăm dò. Từ nhà Cưng đến tạp phẩm chừng năm trăm mét. Lần thứ nhất tất cả đều yên ắng. Lần thứ hai cũng yên ắng luôn. Lần cuối, thu hết can đảm Cưng xách trái bom vung tay ném mạnh vào cánh cửa sắt rồi quay đầu bỏ chạy. Hồi hộp vì sợ và chạy nước rút nên đến nhà là Cưng hào hển thở. Vừa thở vừa cười, chết mẹ mày nghe thằng khốn, chuyến nầy mày chung với ông một xuồng đi con. Chơi ông thì ông chơi lại. Cưng thú vị khùng khục cười không hay bà xã đang nhìn:
– Ông đi đâu mà sớm vậy.
– Mệt bà quá… thể dục chớ đâu.
– Ông có điên không mà thể dục vào giờ nầy?
Nhưng bà Cưng hết thắc mắc ngay tức khắc vì ồn ào từ nhà tạp phẩm. Bà xã tạp phẩm đang chu chéo lên và tất nhiên là chả ai ngủ nghê gì được. Vợ chồng Ba Cưng cũng lên coi thử chuyện gì vậy kìa? Lại bom bẩn, thiệt là khốn nạn. Bà Cưng nói:
– Thằng nào ác vầy trời không tru đất cũng diệt nó thôi.
Bà con cô bác cũng kẻ đôi câu người nửa chuyện góp vô mà nguyền rủa thằng ác độc, cả Ba Cưng cũng góp luôn:
– Mẹ nó… mới nhà tui bây giờ là nhà nầy… thằng nầy tui mà bắt được tui chặt tay.
Tạp phẩm nói với vợ:
– Em yên tâm, qua bên chị Hai đỡ vài hôm để anh lo xong rồi em về.
– Làm sao mà dọn cho sạch đây anh? Bao nhiêu hàng hoá là xem như xong rồi. Đổ bỏ chứ bán buôn chi được nữa hả anh?
– Anh đã nói là yên tâm. Thằng ném trái bom nầy phải đến dọn cho mình, nó phải dọn sạch, làm cho thơm anh mới chịu, bằng không nó chết chuyến nầy.
Nghe lạ. Một khách quan hỏi:
– Bộ anh biết thằng quăng bom hả nhiếp ảnh gia?
– Lúc hai giờ là tui đang ở bên khóm hoa Quỳnh chờ nở để chốp pô ảnh. Thấy thằng khốn đi qua, tôi nghi nên ém mình xem thử nó làm gì. Nó thăm dò hai lần, đến lần thứ ba thì quăng bom. Tôi chộp được ảnh nó rồi. Nó mà không giải quyết là nó chết.
Ba Cưng nghe qua mà lạnh toàn thân.
***
Chao là gian nan, là khốn đốn cho cả nhà Ba Cưng. Nói chi cho hết đoạn trường hỡi trần gian ơi? Nhục nhã hả? Muốn nhục anh cứ tha hồ nhục. Nhưng phải đền bù thiệt hại cho tạp phẩm quán. Chả có cái món gì mà rửa xong mà không còn mùi. Cái mùi mầy nó ám vô óc chớ đâu phải thường mà gió thổi bay. Cứ thế ghi vô sổ mà quy ra tiền. Rồi lau chùi cho sạch… Bà nội mẹ nó cả thiên hạ. Chúng cứ bu vô mà chỉ trỏ mà bàn tán mà hỉ hả cười.
Và Ba Cưng đúng là một ông chồng một người cha vô trách nhiệm, một thằng hèn không hơn không kém. Thứ gì bày ra rồi phủi tay. Cưng giao vụ dọn dẹp và đền bồi cho vợ con, hắn ở nhà lặn sâu trong buồng, cửa kín mít và điện đóm tắt ráo. Bà Cưng phần nhà mình chưa yên thêm nhà người vây hãm, ngày cật lực lau chùi, cái mùi ám ảnh suốt cả đêm. Có ai bình tĩnh được không? Ai dám nói có tui nè cho người đó triệu bạc xài chơi liền. Bà Cưng hết khóc là quay qua chửi. Ba Cưng nín khe. Âm thầm trong bóng tối Cưng nốc rượu. Thiên hạ chê cười nhục thì chớ, con cái có coi ra chi đâu. Không nhục Cưng đâu có náu mình trong bóng tối. Nhục và đau đớn nữa.
Nhưng mà ai? Thằng nào đã thả bom bẩn vô nhà tao? Thằng tạp phẩm, thàng chó cắn hay anh em thằng Tiến? Thằng nào, ra mặt đi. Dám nhận là tao chơi thằng đó tàn đời liền. Có rượu vô Ba Cưng cứ lẩm bẩm một mình. Bà xã và con cái thôi thì kệ ổng đi bây ơi.
Tất nhiên là cái gì cũng qua. Mùi chi cũng phải bay hết. Mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Có một kẻ không thường được, đó là Ba Cưng. Cưng cứ ngồi bên cái bàn đá và chai ba xi đế mà nhảm. Cứ nhảm miệt mài, lâu lâu vỗ bàn hét lên bằng tiếng tàu rằng Ngộ Sị Páo Chù.
Lũ con nít đi ngang nghe la hỏi:
– Ê… ổng la gì vậy ta?
– Tao đách biết, để tao hỏi anh Thanh Bụi coi.
Thanh Bụi cười mà rằng:
– Ngộ sị páo chù là tao sẽ trả thù… thù cái cù loi tao. Khùng mà thù với oán.
Nguyễn Trí

MELBOURNE,NẮNG MẬT ONG

tranthoainguyen

Melbourne một sáng trời hoa nắng
Nắng ngọt ngào thơm má môi em
Anh nhẹ bước giữa không gian thanh tĩnh
Hoa lá êm đềm xanh tiếng chim!

Trời đất se se lạnh heo may
Amh nhớ em ngắm hoa vàng lay
Trời Melbourne lắm mây nhiều nắng
Thế gian nồng nàn trong nắm tay!

Ôi! Nắng dịu dàng. Nắng mật ong
Trời Melbourne trải nhạc xuống lòng!
Anh về sống lại thời trai trẻ
Đà Lạt xuân hồng nắng mật ong!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

KHUYẾT!

daolam

góc tối ta nằm tay gác trán
nhìn đêm…trăng khuyết nửa vầng trăng
còn đâu đêm trăng rằm tháng chạp
nửa khóc…nửa cười…chuyện thế nhân!

làm sao níu được trời thương nhớ
Níu lại vầng trăng xưa…rất xưa
trong ta dựng cả trời giông bão
vầng trăng đã khuyết tự bao mùa

ta níu vầng trăng xuống trần chơi
cùng ta múa hát khúc bi ai
ta uống nồng say trong ai oán
thế thái nhân tình một chữ bi

có lẽ chừ ta…say mất thôi!
say trời…say đất…ánh trăng sầu!
ta giấu vầng trăng qua khe cửa
ôm trái tim đau úa nát nhàu

ta dắt nỗi buồn đi quẩn quanh
cài thêm thương nhớ ủ tay gầy
nghe thiên thu gọi trời yêu dấu
chiếc lá mồ côi theo gió lay

ta thả vầng trăng xuống biển sâu
cùng ta trôi dạt bến bờ đau!
ngọn sóng chực chờ ta…cuốn hút
cả tháng ngày yêu dấu chìm sâu…

ta…mây của trời…bọt sóng thôi!
trôi theo gió núi với biển khơi
ta tan theo cuộc đời hư ảo
MỘT CÕI VÔ THƯỜNG! LẶNG LẼ… TRÔI…

DaoLam

HUẾ ƠI! KỶ NIỆM…

huongthuy

*Tặng những “Mối tình chiến dịch”

Tâm ngồi trên thanh tà vẹt của nhà ga Thừa Lưu cũ, đưa mắt ngắm chung quanh. Tuyến đường sắt song song quốc lộ I từ những năm 1965 đã không còn được sử dụng do mất an ninh. Nếu cứ đi về phía Nam anh sẽ đến đèo Hải Vân và qua địa phận của thành phố Đà Nẵng.
Quê Tâm ở tận Hải Phòng xa xôi. Năm 1954 gia đình anh theo tàu há mồm vào Nam, lưu lạc nhiều nơi và cuối cùng định cư tại Hóc Môn. Chưa bao giờ anh đến miền Trung nếu không có đợt công tác Chiến tranh chính trị của trường Võ Bị Việt Nam.Từ Đà Lạt, anh và đồng đội được không vận bằng máy bay C130 ra phi trường Phú Bài và lên xe GMC vào đây.
Địa bàn hoạt động của toán anh là vùng Thừa Lưu-Nước Ngọt thuộc quận Phú Lộc, một quận phía nam của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Vùng đất chạy dọc theo chiều dài của bờ biển và dãy núi Trường Sơn. Bên kia là phá Tam Giang với các xã Vinh Mỹ, Vinh Hiền, Vinh Giang…mà anh đã nghe Chi khu trưởng Phú Lộc, Trung tá Tôn Thất Khiêm thuyết trình trên bản đồ ngày qua. Trưởng toán, niên trưởng Nguyễn thái Hằng dặn dò “Đừng đi lờ quờ, coi chừng Vẹm cắt cổ”.
Cái nhà ga cũ tàn tạ, sập mái tạo cho Tâm một cảm giác nao lòng. Anh hình dung đến truyện ngắn “Buồn ga nhỏ” của nhà văn Thanh Nam. Buồn đến thế này là cùng!
Chiều đã về. Ánh nắng hắt hiu trên các mái nhà tranh. Hoa sim tím trải dài ngút mắt che khuất đường ray cũ. Tâm nhớ bài hát quen thuộc mà niên trưởng Bùi Phạm Thành k 25 thường hát vào những chiều thứ bảy ở Hội quán Huỳnh Kim Quang “Những đồi sim…những đồi sim…màu tím hoa sim…màu tím hoa sim…”
Chiều qua,toán của anh đã đến thắp nhang cho niên trưởng K19 Võ Thành Kháng, tử trận ở Bình Giã, quê Phú Lộc. Chiếc kiếm thủ khoa trang trọng đặt trên bàn thờ. Hình ảnh một bà mẹ miền Trung gầy guộc, tóc pha sương, ôm những đứa con Võ Bị trong tay, nhỏ những giọt lệ như sương làm anh xúc động. Anh nhớ đến người mẹ thân yêu của mình ở Hóc Môn. Nếu một ngày kia anh cũng ngã xuống trên chiến trường…
Đoàn công tác SVSQ Võ Bị đóng ở Chi khu nằm cạnh cầu Sắt, chiếc cầu cũ kĩ từ thời Pháp thuộc. Bên cạnh Chi khu là một ngôi trường Tiểu học. Từ trong phòng, mỗi buổi sáng Tâm nghe rõ tiếng bọn trẻ ê a,tiếng thước gõ vào cạnh bàn của cô giáo. Cách đó khoảng 500 mét là chợ Nông, một ngôi chợ nghèo ba ngày một phiên. Chợ chỉ có một quán bán bia La Rue, thứ giải khát duy nhất của Tâm và các bạn sau những chuyến đi xuống địa bàn công tác.
Trung tá Tôn Thất Khiêm, Chi khu trưởng rất chịu chơi. Thoạt đầu mới nghe tên ông, người ta cứ ngỡ ông là anh em chi đó với Đại tá Tôn Thất Khiên,Tỉnh trưởng Thừa Thiên- Huế. Xuất thân khóa V có tên Vì Dân của trường Bộ binh Thủ Đức nhưng ông rất có cảm tình với những chàng SVSQ Võ Bị. Ông đích thân lái chiếc Jeep chở bọn Tâm lên Huế chơi. Lần đầu tiên Tâm biết xứ Thần kinh với sông Hương núi Ngự. Ông còn tếu táo “Chú nào muốn xuống Đệ Thất hạm đội trên sông Hương. Anh chiều .“
Hùng, bạn Tâm than thở: “Cùng ra Vùng I nhưng có toán ở ngay trung tâm tha hồ dắt đào đi giung giăng cầu Trường Tiền.Tụi mình phải về “ hóc bà tó” kiếm đâu ra “tình chiến dịch”. Hôm kia tao thấy niên trưởng TrầnThế Hưng đi với một nường trông thật noble, nghe đâu là sinh viên”.Tâm cười.

*
Nhóm của Tâm có nhiệm vụ qua xã Vinh Hiền trình bày về hiệp định Paris cho dân chúng. Địa điểm được chọn là ngôi trường tiểu học núp dưới những hàng dừa xanh mát. Ở đây nghe nói có một ngôi chùa cổ rất nên thơ.
Các cô giáo đã giúp bọn Tâm chăng bạt, cắm hoa trang trí hội trường. Tâm để ý một cô có cái tên ngồ ngộ: Tôn nữ Thương Nhất.Trên má phải của cô có một cái núm đồng tiền cũng ngồ ngộ không kém.
Buổi thuyết trình diễn ra một cách tốt đẹp. Khi nhảy xuống chiếc đò máy để trở về bên kia Phú Lộc,Tâm nhận ra Thương Nhất cũng đang dắt xe đi xuống. Anh đỡ giúp cô chiếc xe đạp. Cô đỏ mặt lí nhí cám ơn.
Thương Nhất mặc một chiếc áo dài màu xanh da trời, quần đen, tay xách chiếc cặp nhỏ.Trông cô nổi bật giữa đám dân quê lam lủ trên đò.
Những câu chuyện trao đổi ngắn gọn cũng cho Tâm biết một số điểm chính về Thương Nhất. Học Sư Phạm, nhà trên Huế, ở trọ bên Phú Lộc, ngày hai buổi qua đò máy dạy ở trường Tiểu học Vinh Hiền.
Gió lồng lộng trên phá Tam Giang. Mái tóc dài của Thương Nhất bay phơ phất. Một vài sợi tạt ngang mặt Tâm. Mùi hương bồ kết nhè nhẹ lan tỏa. Tâm những muốn ngậm một vài sợi tóc mềm ấy. Hùng ngồi ở băng đối diện nhìn Tâm nháy mắt với một cái cười đầy ngụ ý “Tình chiến dịch có rồi đấy nhé”.
Quen Thương Nhất,những ngày công tác của Tâm trở nên ý vị hơn. Nhà Thương Nhất ở trọ cũng ở gần nhà người mẹ già của niên trưởng Kháng. Ngôi nhà tranh nằm giữa những cây chè Truồi, cây dâu da với những chùm quả treo lúc lỉu. Lần đầu tiên Tâm biết thế nào là vị ngọt đậm của bát chè xanh miền Trung.

Trong cái nắng hanh hao của tháng cuối năm,Tâm ôm đàn Guitar cho Thương Nhất hát bài Chiều trên phá Tam Giang của Trần Thiện Thanh,phổ thơ Tô Thùy Yên. Những câu thơ mơ hồ trong trí nhớ anh ngày học Văn Khoa:
Chiều trên phá Tam giang
Anh sực nhớ em
Nhớ bất tận
Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Những tủ kính tối om
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
Mắt Thương Nhất long lanh, giọng hát cô lan tỏa trong bóng chiều chập choạng .

*
Chiều nay thứ bảy,Thương Nhất đưa Tâm lên thăm chùa Túy Vân. Ngôi chùa cổ nằm trên ngọn núi gần cửa bể Tư Hiền được xây dựng từ thế kỷ XVII. Hằng chục cây thông cổ thụ vây quanh khu rừng tràn ngập hoa dại và tiếng chim hót. Bước lên gần trăm bậc tầng cấp rêu phong, hai người đứng bên bia đá có khắc bài thơ của vua Thiệu Trị nhìn ra đầm phía Cầu Hai. Thấm mệt, má Thương Nhất đỏ au, trông cô thật quyến rũ.Tâm nghĩ thầm: “Cảnh này người ấy thì nên đổi tên chùa là Túy Nhân (người say) thay vì Túy Vân(mây say)”. Anh cúi nhìn tấm bia đá bằng chữ Hán lẩm nhẩm đọc “Vân Sơn Thắng Tích”.
.Thương Nhất tròn xoe mắt ngạc nhiên.Té ra anh chàng Võ Bị này cũng “đa hiệu “ ra phết.
Những chiếc lá vàng rơi. Một vài chú tiểu quét lá.Tiếng chuông chùa ngân nga. Khung cảnh thanh bình quá. Ước gì đừng có chiến tranh…
*
Sang tháng 1 năm 1973, đoàn công tác của SVSQ Võ Bị đóng tại địa bàn Phú Lộc đã non tháng. Mùa Xuân đã về. Sáng sáng nằm ở trên giường,Tâm nghe âm thanh những bản nhạc Xuân vang vang bên ngôi trường. Thương Nhất cũng chuẩn bị về ăn Tết. Tâm trêu bằng giọng địa phương: “Khi mô em cho anh về thăm mạ?”. Màu hồng nhuộm trên gò má Thương Nhất. Cô nói: “Mạ em khó lắm. Đưa anh về em biết nói răng?”
Tâm đưa Thương Nhất ra quốc lộ đón chuyến xe đò về Huế.
Ngày mồng Hai Tết. Sau một vòng kiểm tra cờ xí, nhắc lại âm mưu “lấn đất giành dân”của đối phương cho mấy ngưới lính địa phương quân; từ chối bữa rượu của ông Trưởng ấp,Tâm gãi đầu gãi tai xin niên trưởng Hằng về Huế với lời hứa sẽ về trước 4 giờ chiều.
Qua trường Đại Học Sư Phạm, qua Đập Đá, thôn Vĩ Dạ hiện ra qua lời dặn dò của Thương Nhất: “Nhà em ở gần phủ Tuy Lý Vương phía tay phải”
Ngôi nhà ngói cổ kính nép sau hàng tre trúc với bức bình phong long ly quy phụng chắn phía trước. Mấy chị em Thương Nhất đang đổ lục xâm hường trên sập gụ. Ba Thương Nhất tiếp Tâm trong gian phòng khách treo đầy câu đối hoành phi. Đó là một ông giáo già đã về hưu.
Bây giờ thì Tâm đã biết gia đình Thương Nhất là một nhánh trong dòng họ Tuy Lý Vương, chú của vua Tự Đức. Vốn liếng thời học Văn khoa giúp Tâm có thể nói chuyện với ba em mà không đến nổi mang tiếng “võ biền”. Và khi nghe Tâm bình về bài thơ “Mãi trúc dao” của Tùng Thiện Vương thì ba Thương Nhất đã chắc lưỡi khen và nhất định mời Tâm ở lại ăn trưa cùng gia đình.
Bữa ăn được dọn ở nhà ngang với những món đặc trưng của Tết Huế như dưa món, nem , tré, măng hầm , bánh tét…Tất cả được trình bày một cách mỹ thuật trong những chiếc đĩa sứ mỏng manh, xinh xắn.
Đi từ sớm lại chưa ăn gì, bụng đói meo nhưng Tâm cố ăn một cách từ tốn, nhỏ nhẹ qua ánh mắt quan sát kín đáo, nhẹ nhàng của mẹ Thương Nhất. Và Tâm cũng biết được sự độc đáo trong cách đặt tên của gia đình này. Ba cô gái có tên theo thứ tự Thương Nhất,Thương Hai,Thương Ba…mà Thương Nhất là chị đầu. Đứa em út trai tên Thương Tư cứ sờ nắn cái alfa đỏ một gạch mà xuýt xoa “Lính chi mà cái phù hiệu đẹp ri anh?”.
Thương Nhất đưa Tâm ra chơi sau vườn.Một khu vườn đầy cây lưu niên như mít, thanh trà, cam, quýt…Mùi hoa cỏ thoang thoảng ngất ngây. Em đọc nho nhỏ câu thơ của Huy Cận : “Đường trong làng hoa dại với mùi rơm.” Tâm tiếp lời “Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm”. Hai người yên lặng, trong khoảnh khắc mơ hồ như nghe được nhịp đập của trái tim.
Đến ở cây khế cuối vườn,Thương Nhất đứng lại với tay vít một nhánh. Mùa Xuân, khế chưa có quả, chỉ là những nụ hoa tím rung rinh. Một vài nụ hoa rơi trên tóc em. Tâm cầm tay Thương Nhất. Bàn tay mềm và nóng hôi hổi. Anh nghe lòng rung động một thứ tình yêu thanh khiết , nhẹ nhàng.

*
Mọi chuyện diễn biến nhanh chóng như một cái chớp mắt. Đêm 31 tháng 3 năm 1975,Tâm là một trong những SVSQ cuối cùng rời trường Võ Bị. Qua cỗng Tôn Thất Lễ đằng sau Phạn xá, dù đã nén lòng nhưng mắt anh vẫn cay cay. Anh bỏ lại tất cả vật dụng cần thiết ngoại trừ tấm ảnh Thương Nhất nằm trên ngực trái. Giã từ ngọn đồi 1515 với gần bốn năm lăn lộn thao trường…
Tâm đi tù tại trại Trảng Lớn-Tây Ninh. Nhờ tài tháo vát của thời đi Hướng Đạo, dù không được tiếp tế nhưng anh vẫn được coi là một trong những sư phụ dễ dàng tìm nguồn cải thiện cho mình và các chiến hữu. Nào cóc, nhái, chẫu chuộc dưới đất, nào chim chóc, hoa trái trên cây qua tay Tâm đều trở thành sơn hào hải vị . Đặc biệt những lần trại phát động phong trào làm “Báo Liếp”,Tâm chỉ ngồi một chỗ rung đùi cho các “niên đệ” tự nguyện bổ củi, cuốc đất giùm, cà phê thuốc lá điếu đóm để anh “xuất khẩu”cho bốn câu thơ đi nộp cán bộ “ i tờ rít.”
Tấm ảnh của Thương Nhất sau hơn hai năm cải tạo đã bị mồ hôi của nhọc nhằn gian khổ làm nhòe đi. Nhớ về em, Tâm chỉ hình dung được đôi mắt long lanh và cái núm đồng tiền bên má phải. Anh ngậm ngùi nghĩ tới những câu thơ của Tường Linh trong bài “Nhắn Hoàng thành có người Tôn nữ ”:
Chừ còn gì đâu gởi ra Huế nữa
Mất hết từ ngày đi
Mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ
Đường ra như có lắm biên thùy
*
Vì biết sẽ buồn
Nên ngày xưa anh không hứa hẹn
Vì giông tố nên thuyền không cập bến
Vì em là chim hót giữa Hoàng thành
Vì anh là mây chiều còn luyến trời xanh
Ra tù,Tâm đi kinh tế mới ở Daknong. Bạn hàng xóm của anh là hai ông già Nam bộ chơn chất , hiền lành. Hai ông có đến năm cô con gái. Trong một bữa tiệc thịt rừng do anh săn được, ngà ngà say, một ông lên tiếng “Thôi, cũng lớn bộn rồi. Lấy vợ đi. Anh ưng đứa nào chúng tôi cho một đứa”.
Còn gì nữa đâu.Tổ quốc. Lý tưởng.Tình yêu. Tâm nhắm mắt chọn đại một cô. Ơn trời. Đó là người vợ hiền lành, hết lòng vì chồng con.
*
Năm 2010, kinh tế phần nào ổn định do mấy mẫu cao su thấm máu, mồ hôi, nước mắt đã đến kỳ thu hoạch, Tâm đưa vợ con về thăm quê cha đất tổ Hải Phòng theo lời trăn trối của Mẹ già trước lúc lâm chung.
Xe qua hầm Hải Vân, qua Lăng Cô, vùng Thừa Lưu-Nước Ngọt hiện dần ra trước mắt. Gần 40 năm đã trôi qua. Một khoảng thời gian dài đủ xóa đi những vết tích. Cây cầu sắt và cái ga xép tiêu điều đã trở thành khu thị tứ đông đúc. Những ngôi nhà cao tầng san sát nhau. Tâm không thể nhìn ra đâu là nhà niên trưởng Kháng, nhà của Thương Nhất từng ở trọ…
Tâm bâng khuâng. Giã từ Huế. Giã từ những tháng năm đẹp nhất của đời người. Có những mối tình chỉ là một cái nắm tay nhưng cũng đủ theo ta đi suốt cuộc đời.

HƯƠNG THỦY

niềm hy vọng trong bầu trời mê sảng

nhatphong

chiếc bong bóng vỡ tan trong bầu trời mê sảng
mang theo chút hy vọng dịu dàng
đợi gì
ngày vỡ tiếng
tràn cơn khát viễn du tùy nghi

lời nguyện từ tâm vương chút hương ngọc lan
ướt sũng
trong cơn mưa bất chợt
buổi chiều hẩm hiu
úa màu thiên cổ

niềm hy vọng sẻ chia một mùa trăng hoài mong
trong bầu trời hâm hấp sốt
những vì sao tình cờ đổi ngôi
thầm khóc giao hòa

niềm hy vọng rủi may
trôi thật khẽ trên mơ hồ quá khứ
chiếc cầu vồng đơn sắc
gửi một tín điều về miền hoang tưởng

nỗi sợ hãi nấp trong bóng râm phù hoa
chìm trong nỗi lòng đại dương
ở một góc nào đó của trái tim bị cầm cố
vẫn nhói lên
niềm hy vọng khép nép trong bầu trời mê sảng

Nhật Phong

XUÂN MUỘN

xuanphong

Tết đã qua rồi, qua rất mau
Xuân muộn thì thôi có sao đâu
Sáng nay một đóa mai vàng nở
Đời muộn là do lão sống lâu
Mai muộn cho Mai thêm đằm thắm
Tình muộn thì ta an ủi nhau.

Anh đưa em đi vào mùa Xuân
Hát em nghe khúc nhạc Xuân nồng
Tặng em một đóa mai vàng nở
Trời đất vào Xuân em biết không?

Anh đưa em vào mùa Xuân đầu
Hai đứa nhìn Xuân trong mắt nhau
Nắng Xuân nhè nhẹ rơi trên tóc
Trời đất vào Xuân rất nhiệm mầu

Mồng 10 tháng Giêng Ất Mùi

XUÂN PHONG

MÁI NHÀ ĐÊM BẠCH HẠC

lephuhai

Nói đến nhà thơ Quang Dũng, ai cũng nghĩ ngay đến chàng chiến sĩ vệ quốc và khúc hành ca “Tây tiến”: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Lứa học sinh chúng tôi ở miền Nam trước 1975 cũng có biết đến ông như một “chinh phu” của một thời “Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt” (Chinh phụ ngâm), rất oai phong và cũng rất trữ tình. Bởi, bên cạnh một Tây tiến người đi không hẹn ước lại còn có lúc Thoáng hiện em về trên đáy cốc, Nói cười như chuyện một đêm mơ (Đôi bờ).

Từ sau ngày đất nước đổi mới đến nay, sáng tác của ông đã được nhìn nhận trở lại với sự đánh giá khách quan, chân thật và chính xác hơn. Chúng tôi đã có dịp lật lại từng trang Tuyển tập Quang Dũng (NXB Văn học, nhà thơ Trần Lê Văn tuyển chọn và giới thiệu) để hiểu thêm về đời tư, gia đình và bạn bè ông qua một số bài viết ngắn. Và cũng nhờ đó được biết thêm rằng ông đã thật sự xếp “kiếm cung” tự trước thuở đầu hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954). Trở về ông vẫn tiếp tục sáng tác nhưng trong những bài thơ sau này đã không còn tìm đâu được cái giọng điệu hào sảng của một thời “khoác chiến y phi tuấn mã”. Có lẽ vì ông đã không còn trẻ nữa, không còn là người lính, mà cũng có lẽ vì lịch sử đã sang trang, cả dân tộc đang lao vào một cuộc chiến đấu mới. Một số sáng tác của ông là hoài niệm về một thời chinh chiến cũ như: Đường trăng, Rừng, Gửi Sơn Tây, Nhớ một bóng núi…, một số là nỗi niềm riêng dành cho mỗi vùng đất, tên làng: Hồ Nam, Bố Hạ, Thu quê ai… và một ít dành cho tình cảm riêng tư: Nhớ về mẹ, Nhớ bạn, Không đề…

Tuy nhiên, trong từng tác phẩm, ta vẫn thấy như phảng phất đâu đó cái yêng hùng, cái giang hồ, cái hào hoa của một chàng lãng bạt.

Gần tuổi năm mươi, ông có bài Đêm Bạch hạc viết trong một dịp “lữ hành”. Ngay từ đầu bài thơ, ta đã thấy cái lãng đãng, mơ hồ, cái lang thang trên dặm trường rong ruỗi:

Có những chiếc giường lạ
Nhìn ra mảnh sân nào
Nửa đêm chợt thức giấc
Thấy ta nằm ở đâu

Người đọc bỗng chạnh lòng và cảm thương cho người lữ khách thường xuyên “ăn nhờ ở đậu” đến nỗi thức giấc nửa đêm không kịp nhận ra mình đang ở nơi nào. Không gian và thời gian ở đây như giãn ra, dài ra… bất định. Chàng đã tự ví mình như một cánh chim trời tung bay, bay mãi cho đến khi bất chợt mỏi cánh tự lúc nào không hay. Và như thế cánh chim giang hồ kia không thể và không cần chọn cho mình một chỗ trú ngụ ấm êm, như ý:

Như cánh chim mỏi cánh
Tạt vào rừng không quen
Không chọn cành ngủ đổ
Nào mong gì ấm êm

Để đêm nay bất chợt nhận ra:

Đêm nay đêm Bạch hạc
Ta lại vào nhà ai
Nghe sông Lô cuộn nước
Duềnh lên suốt đêm dài

Đêm trung du như dài ra vì khách lữ hành chợt thức giấc nửa đêm, nằm nghe tiếng sông Lô cuồn cuộn chảy. Dòng sông của một thời kháng chiến vẻ vang đã từng làm nên chiến thắng? Dòng sông có những kỷ niệm êm đềm của một thời đánh giặc ngoại xâm?

Bạch Hạc, tên một vùng đất? Tên một dòng sông? Hay chính là tên của một loài chim đang mãi hoài bay xuôi theo dòng đời chưa mỏi mệt? Đã có một tên đất như thế, tên một dòng sông như thế và chắc chắn rằng đã có tên một loài chim-lữ-khách như thế: Bạch Hạc. Nhưng không phải là “một con hạc trắng bay về bồng lai” mà là một cánh chim bay cô đơn giữa đời, giữa trời bão giông với những hoài niệm dĩ vãng chưa thể nào quên được.

Sớm mai rồi tiễn biệt
Tóc đẹp nhường bâng khuâng
Một đêm dài để nhớ
Những người xa vô cùng

Ai đã và sẽ là “những người xa vô cùng” ấy để chàng lãng tử suốt đêm nằm nhung nhớ? Người vợ hiền thảo ở chốn quê nhà? Cô em vườn ổi ngày xưa? Cô gái tản cư bán quán bên đường hay một người “tóc đẹp” nào miền non nước sông Lô đang chờ nói câu tiễn biệt? Ta như thấy ẩn nấp đằng sau những câu thơ kia có dáng một “bóng hồng”. Nhưng sẽ là điều không phải nếu cứ đi tìm một con người cụ thể. Bởi vì đường đời mà người lữ khách kia đi qua dặm dài nhiều theo năm tháng, chất chứa trong trái tim độ lượng của thi nhân chừng như không mang nổi. Hãy cứ nhìn thấy ở đây một tâm hồn hiệp sĩ vị tha, chan chứa lòng yêu. Dễ thương yêu và khoáng đãng như mây trời đến nỗi chỉ một khoảnh khắc cảm nhận bất chợt dọc đường thôi cũng đủ làm sợi dây hồn rung lên những nốt ngậm ngùi, cảm xúc. Và cũng giống như năm xưa người lính vệ quốc rời quán nước giữa trưa ra đi: Hồn lính vương qua vài sợi tóc, Tôi thương mà em đâu có hay, bây giờ, chàng lữ khách tóc sương lại khăn gói lên đường mà lòng mơ hồ bâng khuâng mãi:

Mái nhà đêm Bạch Hạc
Có nhớ người đi không?

Câu hỏi thể hiện như một tự vấn không đòi được trả lời. Thậm chí câu hỏi không phải là ngụ ý “ai đó” có nhớ “tôi” không mà cái tình riêng ở đây – nếu có – đã đồng hóa vào cái vật chất là “mái nhà đêm Bạch Hạc”, và cái “tôi” ở đây bỗng như lớn vượt ra ngoài cái tôi-bản-ngã để trở thành cái tôi-người-đi. Mái nhà đêm Bạch Hạc, Có nhớ người đi không?

… Và bây giờ người lữ khách ấy đã thực sự đi rồi (1988). “Con hạc trắng” đã thực sự đi vào “cõi bồng lai”, bỏ lại cho đời, cho người một cõi lòng rộng lớn đầy ắp yêu thương. Và chắc chắn rằng những “mái nhà đêm Bạch Hạc” sẽ không bao giờ quên được bóng hình ông.

Lê Phú Hải

Đứa con của biển

trantrungdao

Những đóa hoa trong ngày hôm nay
sẽ
mang ý nghĩa đích thực của nó :
tôn vinh cái đẹp
từ các nối đau
( Tôn-Nữ Thu-Dung)

Sống chết là một định luật, một chiếc cầu mà ai cũng phải đi qua. Giọt sương mai trên thảm cỏ non. Chiếc lá khô rơi trong buổi chiều vàng. Mọi tạo vật, từ con người cho đến một giọt sương, một chiếc lá, đều có sinh và có diệt”. Chị Hà đọc đâu đó. Mới hôm nào đây, chị đã dùng để an ủi ông láng giềng Paul, khi bắt gặp ông cụ đứng ngẩn ngơ bên cửa sổ trong một buổi chiều.
Bà Karen, vợ ông, qua đời năm trước đó. Hẳn nhiên không phải cụ Paul không biết đến lẽ mất còn của tạo vật, nhưng như cụ Paul trả lời chị Hà: “Hiểu biết bao giờ cũng dễ hơn chịu đựng”. Thiếu cụ bà Karen, ông sống như một người mất bóng, suốt ngày lay hoay như tìm kiếm chính mình. Không ai biết ông bà gặp nhau từ bao giờ nhưng không thấy họ có con cái gì. Thỉnh thoảng một người bà con hình như ở xa lắm, ghé thăm. Thế giới của ông bà cụ là căn nhà trệt hai phòng ngủ và khu vườn nhỏ sau nhà. Những bụi hoa huệ vàng được trồng dọc hàng rào. Chiếc ghế dài cũ và những câu chuyện họ thì thầm với nhau, có thể được lập đi lập lại cả trăm lần. Dù sao khi cụ bà Karen mất, một nửa thế giới của cụ Paul cũng chết theo. Những bụi hoa dọc hàng rào không ai chăm sóc. Cụ Paul, từ đó, ít ra ngoài. Thỉnh thoảng, cụ vịn song cửa nhìn ra khu vườn trống, chiếc ghế cũ lẻ loi, những bụi hoa huệ bị mưa xoi bật gốc. Cũng qua cánh cửa đó, có lần chị Hà bắt gặp hai giọt nước mắt già nua lăn trên đôi má nhăn nheo của cụ Paul.
Trong “cul-de-sac” gần biển này chỉ có chừng chục ngôi nhà, nối nhau thành một vòng tròn chung quanh một sân cỏ nhỏ. Từ xóm nhà đi bộ dọc con đường hẹp cắt ngang đồi thông, chừng 5 phút là đến biển. Hầu hết gia đình là người sinh ra hay định cư lâu năm trên xứ nầy, ngoại trừ mẹ con chị Hà, một người Mỹ gốc Việt. Chồng chị thất lạc trên đường vượt biển. Chị sinh đứa con trai đầu lòng ở trại tỵ nạn Thái Lan. Tháng 12 năm 1980, người phụ nữ hai mươi bảy tuổi, ẵm đứa con trai mới sáu tháng bước xuống phi trường quốc tế Logan, thuộc thành phố Boston. Không cha mẹ, anh em. Không bà con thân thuộc. Những năm đầu mẹ con chị Hà sống trong căn phòng do một hội từ thiện thuê dùm ở Dorchester. Nhờ có căn bản sư phạm từ trước, chị học tiếng Mỹ khá nhanh. Sau khi hoàn tất khóa cán sự y tế tại một trường huấn nghệ, chị xin được một việc làm tại bệnh viện thành phố Boston. Chị ít khi ra ngoài. Khi đi chợ mua sắm, chị chẳng buồn trang điểm như cố tình làm cho mình già hơn và xấu đi. Nhưng làm sao che giấu được thân hình thon nhỏ, làn da trắng mịn màng, khuôn mặt tròn và đôi mắt đen nhưng rất buồn của của một cô gái Việt còn trong tuổi thanh xuân. Chị đã đóng cánh cửa sổ nhìn ra khu vườn đời chị, dù nơi đó lá mùa thu vẫn đẹp, hoa mùa xuân vẫn nở, tiếng ve vẫn reo vang trong mỗi độ hè về.
Chị Hà không thích ở thành phố. Khi dành dụm đủ số tiền cần thiết để ứng trước, chị mua căn nhà nhỏ ở quận Plymouth, một vùng ven biển, cách Boston chừng 20 dặm về phía nam. Chị nghỉ việc ở bệnh viện và tìm được một công việc khác tại một trung tâm y tế dành cho người già ở gần nhà. Năm đó, chị Hà ba mươi tuổi. Một phụ nữ trẻ đẹp và đầy sức sống, chị có thừa khả năng để xây dựng cho mình một gia đình mới trong cuộc đời mới. Nếu bảo chị không thích người đồng hương thì chị có thể kết hôn với người xứ khác. Nhưng chị vẫn một mình với đứa con thơ, sống trong tháng năm trầm lặng. Hẩm hiu nhưng ấm cúng. Đứa con trai của chị là niềm vui, là hy vọng, là tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai của chị góp lại. Một ngày của chị bắt đầu với việc đưa con đến trường, đi làm ở viện dưỡng lão, dạy con làm bài tập, dạy con học thêm tiếng Việt và ra biển ngồi đọc sách. Và cứ thế, ngoại trừ những khi mưa bão và mùa đông giá rét, một ngày của chị Hà bao giờ cũng chấm dứt bằng những giây phút rất riêng tư bên bờ biển. Ngay cả những khi không đọc sách, chị vẫn ra ngồi như thế. Im lặng như để lắng nghe tiếng thì thầm vọng về từ một nơi xa xôi.
Chị gần gũi với biển đến nỗi đứa con trai chị cũng được đặt tên là Biển. Hàng xóm gọi nó Ben, theo âm Mỹ không có dấu. Khi mẹ con chị Hà mới đến, hàng xóm láng giềng, vốn quen với sự yên tĩnh, ít nhiều cũng có phản ứng khó chịu, nhưng dần dần họ quen đi. Tiếng khóc, tiếng cười của đứa bé không còn báo động sự ồn ào, không còn mang đến sự phiền toái, trái lại báo hiệu một sự sống đang đâm chồi. Thằng bé mang niềm vui đến thôn xóm nhỏ vốn thiếu vắng tiếng cười.
Lê Văn Biển hay Ben Le, lớn nhanh như thổi, trông kháu khỉnh với nước da ngâm đen và mái tóc phía trước hơi quắn lại. Trong “cul-de-sac” nhỏ này, mọi người, nhất là ông bà Paul, cưng và xem Biển như là con chung. Ngày sinh nhật 11 tháng 6 mỗi năm của thằng bé trở thành ngày hội của xóm. Mỗi người đóng góp một món đồ chơi, một chùm bong bóng. Năm nào cũng thế, bà Karen tự tay làm chiếc bánh sinh nhật thật to cho Biển. Biển học bơi rất sớm và cũng bơi rất giỏi. Bất cứ khi nào rảnh rỗi là cu cậu tuôn ra biển, phơi mình trên cát, trên sóng. Biển học giỏi và rất ngoan. Nếu ai hỏi thằng bé mơ ước gì khi khôn lớn, nó không ngần ngại chỉ con tàu đang chạy ngoài khơi, và mơ ước được trở thành thuyền trưởng.
Năm lên 7 tuổi, lần đầu tiên Biển muốn biết về ba của nó: “Thằng Chris có ba, tại sao con không có?” Chị Hà không dấu con: “Ba của con chết trên đường vượt biên từ khi con chưa ra đời”. Thằng bé thắc mắc: “Tại sao?” Chị không biết phải giải thích sao khác hơn với một đứa bé bảy tuổi, ngoài việc trả lời: “Tai nạn. Ba con chết trong một tai nạn trên biển”. Biển hỏi đuổi: “Tai nạn gì hở mẹ, mấy chiếc tàu tông nhau?” Chị Hà vuốt mấy sợi tóc quăn của con, âu ếm: “Không phải. Con còn nhỏ, mai mốt con lớn hơn mẹ sẽ kể thật chi tiết về tai nạn này cho con nghe”. Chị lấy trong xấp giấy tờ cũ, nhận từ Việt Nam, tấm hình đen trắng của một thanh niên chừng hai mươi tuổi đang ôm cây đàn guitar đứng dựa vào tường và bảo: “Đây là hình của ba con”. Biển nhìn chăm chăm vào tấm hình đen trắng, đưa lên đưa xuống, lật ngang, lật dọc, cố tìm một nét quen thuộc, một chút liên hệ với người trong ảnh mà từ lâu nó không biết. “Con giống ba không?” thằng bé hỏi. Chị lại gật đầu: “Giống chứ, nhưng con giống mẹ nhiều hơn”. Biển không chịu: “Con giống ba nhiều hơn vì da và tóc của ba cũng giống như của con”. Chị Hà cười, định giải thích vì tấm hình đen trắng chứ không phải vì da và tóc, nhưng lại thôi. Thằng bé không hỏi thêm nhưng từ đó, nó cũng dần dần biết buồn tủi khi bọn thằng Glen, thằng Chris có ba đưa đi xem đánh baseball, basketball còn nó thì không. Chị Hà an ủi con. Sinh nhật của Biển, chị mua cho thằng bé hai món quà, thay vì một. Chị bảo món quà sau là quà của ba. Chị đưa Biển đi chơi baseball với đám thằng Glen, thằng Chris. Nhiều khi chị phải ngồi hàng giờ, có khi đến khi trời sập tối, bên sân cỏ để đợi con.
Thằng Chris, đứa bé mà Biển hay đem ra làm ví dụ, là con của anh Brian, người đàn ông góa vợ, ở cách nhà chị Hà chừng hai dặm. Anh tình nguyện giúp chị Hà đưa đón Biển mỗi lần tập dượt vì hai đứa bé cùng chơi chung một đội bóng thiếu nhi. Chị từ chối mặc dù nhiều khi phải xin nghỉ việc sớm để đưa đón con. Ơn nghĩa sẽ dẫn đến lệ thuộc, chị nghĩ thế. Chị biết Brian rất tử tế, lịch sự và dĩ nhiên, có cảm tình riêng với chị. Một lần bên bờ biển chị suýt xiêu lòng khi Brian tha thiết tỏ tình. Nhưng chị đã dừng lại được. Những ngày lễ, Brian thường mời mẹ con chị đến nhà, hay cùng đi ăn với bố con anh, nhưng chị Hà thường tìm cách từ chối. Vợ của Brian, không biết mất vì bịnh gì, để lại cho anh đứa con trai 3 tuổi. Brian là một nhân viên quản trị trung cấp, làm việc cho một công ty tài chánh. Mỗi khi đi công tác xa về, ngoài việc mua quà cho thằng Chris, Brian không quên mua một món quà dành cho Biển. Anh không dám mua tặng chị Hà vì ngại chị lại sẽ từ chối như nhiều lần trước đó. Rồi Brian cưới vợ lần nữa. Vợ anh là một người làm cùng hãng. Đám cưới diễn ra linh đình. Thằng Biển được nhờ làm em bé cầm hoa đi trước cô dâu chú rể. Chị Hà cũng được mời và có mặt. Brian giới thiệu chị Hà với vợ rất ân cần và trịnh trọng. Hai gia đình từ đó gần gũi hơn. Trong những ngày lễ, vợ chồng Brian đến thăm mẹ con chị Hà, và ngược lại chị Hà cũng đáp lễ mỗi khi có dịp.
Sau sinh nhật mười tuổi của Biển không lâu, chị Hà ngã bịnh. Bác sĩ khám phá một cục bướu nhỏ trong tử cung chị và cần phải được cắt bỏ ngay. Khi điền giấy tờ đồng ý giải phẫu, chị Hà mới biết rằng mình không có ngay cả một người thân thích ở Mỹ. Chị không lo đến mình bằng lo cho tương lai của Biển. Chị là chỗ dựa duy nhất của thằng bé. Không có chị đời nó không biết sẽ ra sao. Chị Hà hoảng sợ khi nghĩ đến điều bất hạnh có thể xảy ra. Chị mời vợ chồng Brian đến bịnh viện để nhờ anh chị làm người bảo trợ Biển cho đến khi Biển được mười tám tuổi, nếu chị gặp phải chuyện bất trắc. Vợ chồng Brian xúc động nhận lời. Bịnh của chị không có gì trầm trọng. Mổ xong vài hôm, chị bình phục và tiếp tục cuộc sống với con trong căn nhà nhỏ.
Hai mươi hai năm trôi qua. Chị Hà đã già đi nhiều theo thời gian. Cô gái Việt Nam hai mươi bảy tuổi, mới ngày nào ẵm đứa con còn đỏ hỏn, đặt chân lên nước Mỹ, bây giờ đã là một bà mẹ năm mươi tuổi. Biển cũng thế. Anh chàng không còn là cậu bé suốt ngày phơi mình trên cát nhưng đang là sinh viên năm chót ngành hàng hải của trường đại học Boston. Có lần Biển đưa về nhà một cô gái tóc vàng, giới thiệu với mẹ là bạn gái. Chuyện con trai có bạn gái là chuyện bình thường, chị Hà chỉ mong Biển đừng vì thế mà xao lãng việc học hành.
Vợ chồng anh hàng xóm Brian đã ly dị nhau. Lần nầy Brian không cưới vợ khác, và cũng không tìm đến chị như lần trước. Anh quyết định dọn nhà đi tiểu bang khác. Thằng Chris, con trai anh, vừa học xong trung học thì đăng lính. Anh không có con cái gì với người vợ sau, nên anh chẳng còn gì phải bận tâm lo lắng. Trên đường ra phi trường, Brian ghé nhà chào chị Hà. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm quen biết, chị Hà lịch sự và tha thiết, choàng tay ôm nhẹ Brian. Chị nói nhỏ: “Chúc anh đi bình an và thành công, có dịp nhớ về thăm, tôi vẫn ở đây”. Brian xúc động: “Tôi sẽ không bao giờ hiểu được Hà”. Chị Hà cười nhẹ: “Vâng, anh sẽ không bao giờ. Chúng ta sống trong cùng một xóm nhưng hai thế giới tâm linh xa cách. Tôi chẳng biết nói sao hơn. Xin lỗi anh vậy”.
Cụ bà Karen chết trước cũng đã để lại một khoảng trống tinh thần và cả vật chất, không có gì bù đắp được trong đời sống của cụ Paul. Sức khỏe của cụ, vì thế, ngày càng giảm sút. Chị Hà rất lo cho người láng giềng gần gũi của mình. “Không chừng cụ Paul cũng sẽ ra đi”, chị than thầm. Thật vậy, buổi hẹn với bác sĩ lần đó kéo dài lâu hơn. Buổi chiều, xe cứu thương không đưa cụ trở về như thường lệ. Bác sĩ giữ cụ lại bịnh viện và khoảng tuần sau thì cụ chết. Người bà con ở xa lại đến dọn nhà, cắt cỏ. Vài tuần sau, một tấm bảng “Nhà bán” được cắm trước sân.
Ngày ra trường của Biển đã đến. Trong mọi ý nghĩa, đối với chị Hà, là một ngày trọng đại. Bao nhiêu năm nay chị chờ đợi một ngày này. Chị thầm nghĩ “nếu bây giờ chị có giải phẩu thêm lần nữa, và ngay cả có chết đi, thì cũng không phải lo lắng như mười năm trước”. Chị dự tính rất nhiều ngạc nhiên dành cho Biển. Mẹ con sẽ tổ chức một chuyến đi nghỉ hè xa, Paris hay London chẳng hạn. Anh Brian thường nhắc những cảnh lạ khắp nơi mà chị chưa bao giờ dám mơ tưởng tới. “Bao nhiêu lâu rồi nhỉ?”. Chị nhẩm tính thời gian hai mươi năm mẹ con chị sống hẩm hiu trong “cul-de-sac” vùng ven biển Plymouth nầy. Buổi sáng lễ ra trường, chị đến trường đại học rất sớm và chọn một chỗ ngồi tốt nhất để có thể thấy rõ con mình trong lễ phục tốt nghiệp màu đen, sắp hàng chờ nhận lãnh văn bằng. Chị Hà hãnh diện và cảm động ứa nước mắt. Không ai biết đó là những giọt nước mắt mừng vui hay đau xót của một bà mẹ đã hy sinh cho con suốt hai mươi hai năm. Biển nhận văn bằng xong, chầm chậm bước xuống lễ đài. Chị Hà đứng dậy dang tay chờ, nghĩ rằng Biển sẽ đến trong vòng tay trìu mến của mẹ. Chị mơ một ngày được nghe ba tiếng “Cám ơn mẹ” từ chính miệng Biển cất lên. Một sự trả ơn đơn giản nhưng quý giá nhất mà mọi bà mẹ cần được trả. Ngày đó sẽ là hôm nay. Chị nghĩ thế. Chị vẫn dang tay chờ nhưng Biển đã mất hút trong đám bạn bè nhộn nhịp. Quảng trường vắng dần. Mọi người đang lần lượt ra về. Chị Hà nóng ruột đi về phía cuối hành lang tìm con. Ở đó, dưới chân cầu thang, Biển và cô bạn gái tóc vàng, đang hôn nhau thắm thiết. Thấy chị, họ buông nhau ra. Cô gái tóc vàng vồn vã: “Hôm nay là một ngày đáng nhớ của hai đứa tôi. Tôi muốn bà cùng chia sẻ”. Chị Hà đáp: “Vâng. Tôi biết. Hôm nay cũng là ngày ý nghĩa nhất đối với tôi nữa”. Chị đang nghĩ về ngày tốt nghiệp kỹ sư hàng hải của đứa con trai duy nhất của chị. Cô gái tiếp: “Thế thì tốt quá. Chúng tôi định mùa hè này sẽ cưới nhau”. Chị Hà ngạc nhiên: “Cái gì?” Cô gái đáp: “Xin lỗi. Tôi tưởng là bà đã biết trước rồi. Ben đề nghị sáng nay và tôi đã nhận lời. Chúng tôi chưa chọn ngày nhưng có lẽ mùa hè này thôi. Sau đó chúng tôi phải về miền Nam coi sóc hãng xưởng của ba tôi”. Chị Hà quay sang Biển, hỏi bằng tiếng Việt hơi nặng giọng: “Có đúng thế không Biển?” Biển nhìn xuống chân, không đáp. Không đáp có nghĩa là thừa nhận. Đứa con trai duy nhất sắp sửa cưới vợ mà chị Hà không hề hay biết. Chị giận dữ bước xuống cầu thang không nhìn lại.
Ngồi trên chiếc ghế xếp cũ bên bờ biển, chị Hà ôm mặt khóc. Chị khóc không phải chỉ vì giận Biển nhưng khóc nhiều hơn cho cuộc đời hẩm hiu cô độc của mình. Hai mươi hai năm. Cuốn phim dĩ vãng đau lòng của cuộc đời chị một lần nữa chiếu lại.
Tất cả bắt đầu từ một buổi chiều khi chị Hà nhận được mảnh giấy nhỏ với hàng chữ: “Anh đã trốn trại và đang tá túc tại nhà một người quen ở Chu Hải. Em ra Chu Hải gấp ngày mai. Đừng cho ai biết. Hỏi nhà ông Đản. Khang”. Chị Hà mừng đến phát khóc. Khang còn sống và bình yên. Năm năm dài từ mùa bão lửa 1975, chị Hà thêu dệt giấc mơ đoàn tụ với người yêu bằng sợi chỉ hy vọng vô cùng mong manh. Nhiều lần chị Hà cố xua đi ý tưởng rằng Khang đã chết ngoài mặt trận hay đã vượt biên ra nước ngoài. Dì Thanh, vợ kế của ba chị Hà, thường bảo: “Coi thử trong trường có thầy nào chưa vợ thì cô chọn một thầy, đừng chờ đợi thằng Khang làm gì vô ích. Nó không chết thì cũng có vợ và ba bốn đứa con rồi”. Không. Khang của chị không chết. Khang của chị chưa có vợ và không có ba bốn đứa con. Khang vẫn sống và đang tìm chị. Anh chàng sinh viên khoa học gốc miền Trung, dạy kèm toán lý hóa lớp mười cho chị ngày nào, vẫn còn sống. Anh chàng nghệ sĩ với cây đàn guitar cũ, mỗi chiều dưới giàn hoa giấy bên hiên nhà, đắm đuối nhìn cô nữ sinh Trần Thị Thu Hà mà hát: “Nầy người yêu người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời…” vẫn còn sống.
Sáng hôm sau, như lời dặn trong thư, chị Hà thu xếp vài đồ đạc cá nhân và đi tìm nhà ông Đản ở ấp Chu Hải, ngoài Bà Rịa. Chuyến xe Sài Gòn Vũng Tàu đến trễ vì bị xét nhiều lần. Khi chị tìm ra nhà ông Đản thì trời đã tối. Ông dắt chị Hà đến một chòi lá ngoài ruộng, ở đó, Khang bằng da bằng thịt đang chờ đợi chị. Hai kẻ yêu nhau cuối cùng đã gặp lại nhau trong biển đời dâu bể. Họ trao cho nhau chiếc nhẫn cỏ làm tin trong chiếc chòi lá mục. Không có mặt trời rực rỡ bên sông như ngày xưa Khang thường hát, nhưng ít ra họ đã sống sót. Trong chiếc chòi lá ngoài vườn nhà ông Đản, họ hứa cùng nhau, dù thu vàng hạ đỏ hay nắng dãi mưa dầm, sẽ dìu nhau đi hết cuộc đời còn lại.
Khoảng ba giờ sáng, ông Đản ra chòi gọi hai người dậy, đưa ra ngoài sông và gởi họ cho chuyến vượt biên sắp khởi hành. Ông không đi vì đứa con trai ông, bạn tù của Khang, vẫn còn ở trong tù.
Chiếc ghe vượt biên quá nhỏ. Chiều dài chỉ mười một mét và chiều ngang vỏn vẹn một thước rưỡi. Dù nhỏ bao nhiêu thì đối với Khang, một tên tù trốn trại, không còn là điều chọn lựa. Dĩ nhiên chị Hà cũng thế. Đời của chị đã thuộc về Khang. Dù phải chết trên biển cả họ cũng sẽ không ân hận vì ít ra sẽ được chết bên nhau trong chung thủy vợ chồng.
Tháng Chín bắt đầu mùa biển động nhưng ghe chạy bốn ngày đầu không có chuyện gì trở ngại. Ghe đi về hướng đông. Không còn lo sợ việc tàu công an biên phòng chận bắt. Tuy nhiên, ngày thứ năm thì ghe chết máy. Chiếc la-bàn của hướng đạo sinh thường dùng trong những trò chơi, không xác định được vị trí của chiếc tàu, đang ở đâu và sẽ trôi dạt về đâu. Anh tài công không sửa được máy ghe, đành phó mặc cho định mệnh, đúng hơn là cho gió mưa, đưa đẩy chiếc ghe đến đâu thì đến. Ghe trôi dần về hướng nam. Thực phẩm hết. Nước uống cũng hết. May mà trời không có bão lớn. Nếu không, chỉ cần một cơn sóng mạnh cũng đủ để lật cả chiếc ghe đang chơi vơi trên biển cả. Những người còn sức khỏe thay phiên nhau tát nước. Thỉnh thoảng có một cơn mưa. Những người ngồi trên sàn ghe căng tấm ny-lông để hứng nước và chia nhau thấm giọng. Về đêm, biển đen như chiếc miệng con cá mập khổng lồ chuẩn bị nuốt chửng đoàn người đang trong cơn đói khát. Những đám mây đen đầy đe dọa đang vần vũ bay về. Qua ngày thứ sáu, chẳng còn ai đủ sức dù chỉ để khóc than hay cầu nguyện. Tiếng cầu kinh, tiếng niệm Phật cũng im bặt. Trong những điều im bặt, có cả tiếng khóc của đứa bé bị sốt trong đêm đầu khi ghe vừa ra khỏi cửa. Một người nào đó từ hầm ghe nói vọng lên: “Thôi chị buông cháu ra. Cháu nó đã đi lâu rồi”. Giọng một người đàn bà cãi lại: “Ai bảo thế. Con tôi mạnh khỏe thế này mà nỡ xấu mồm xấu miệng như rứa. Ngủ đi con, mẹ thương”. Tội nghiệp bà mẹ. Đứa bé đã chết từ lâu. Bà mẹ ôm xác đứa con hai tuổi suốt hai ngày đêm mà không nói, đúng ra là không dám nói, một lời. Bà mẹ không muốn nhìn cảnh người ta ném xác con hai tuổi của bà xuống biển. Mọi người đều kiệt sức. Không ai còn đủ sức để chia buồn hay khuyên nhủ bà. Vả lại, lát nữa đây, biết ai sẽ chia buồn ai. Không nói ra, trong lòng mấy chục người trên chuyến hải hành vô định này, cũng đang nghĩ đến cái chết.
Và cứ thế, ngày thứ bảy, ngày thứ tám lần lượt trôi qua trong đói khát và chờ đợi. Vài chiếc tàu biển đi ngang, xa tít ngoài khơi. Những người đàn ông vội vã tẩm dầu vào áo quần đốt lên làm tín hiệu. Không có một tín hiệu trả lời. Những chiếc tàu biển không thấy hay thấy mà không quan tâm cứu vớt.
Ngày thứ mười. Trong lúc chị Hà đang thiu ngủ thì tiếng Khang vọng xuống. “Có tàu đánh cá Thái Lan tới. Mấy bà, mấy cô trốn xuống hầm hết”. Hầm ghe quá nhỏ. Bước đâu cũng đạp phải người. Một số đàn bà lấy dầu máy bôi vào mặt. Cuốn tóc cao để giả làm đàn ông. Úp mặt vào lườn ghe không dám nhìn lên. Những câu chuyện về hải tặc được nghe kể nhiều lần từ những người đi lọt viết thư về, làm mọi người run sợ khi liên tưởng tới số phận mình. Nắp hầm bị ai đó mở tung. Ánh sáng rọi vào, soi rõ những khuôn mặt ngâm đen của đám thợ đánh cá Thái Lan. Chiếc ghe vượt biển bị chúng kéo buột vào ghe đánh cá bằng sợi dây thừng lớn. Từng người, bất kể đàn ông, đàn bà hay con nít đều bị kéo lên khỏi miệng hầm. Tất cả phải cởi áo quần để chúng khám xét. Nữ trang, đồng hồ, tiền bạc đều bị chúng cướp sạch. Chúng khám xét từng ngăn tàu, đâm thủng những thùng dầu, thùng nước uống, chúng nghi ngờ có dấu tiền đô, vàng bạc. Số phụ nữ, khoảng hai chục người, từ các bà mẹ năm sáu mươi tuổi cho đến mấy em bé chỉ hơn mười tuổi bị dồn vào một góc. Đàn ông, con nít bị đẩy xuống dưới hầm ghe. Một tên hải tặc cầm súng đứng trên miệng hầm ghe, trong khi hai tên khác cầm dao chặt cá lớn bảng đứng chặn hai đầu. Khám xét xong. Chúng thảo luận với nhau bằng tiếng Thái. Không hiểu bọn hải tặc bàn nhau những gì, chỉ nghe tiếng chúng cười sặc sụa. Một tên, có vẻ chỉ huy, liếc nhìn về phía đám phụ nữ đang đứng. Hắn chầm chậm bước tới, nhìn kỹ mặt từng người. Mỗi khi hắn chỉ vào ai thì hai tên hải tặc đàn em kéo cô gái bất hạnh đó ra khỏi nhóm. Người thứ sáu và cũng là người cuối cùng là chị Hà. Chị sợ hãi bật khóc. Mấy cô gái kia cũng khóc thét lên. Một bà mẹ bước ra, quỳ xuống sàn ghe vừa lạy vừa khóc, xin tha cho con gái mười lăm tuổi của bà. Nước mắt và những lời van xin của bà mẹ không lay động được tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Bọn hải tặc cuốn dây để kéo chiếc ghe lại gần hơn. Chúng đẩy chị Hà và năm cô gái cùng số phận sang tàu đánh cá. Một tên đưa dao chặt đứt sợi dây thừng. Hai chiếc ghe từ từ xa nhau. Bên kia, chị Hà còn nghe tiếng Khang gào lên, trong đau thương, bất lực.
Sau suốt buổi chiều tàu chạy về hướng nam, nhóm chị Hà sáu người được đưa đến một hòn đảo san hô. Bọn hải tặc ra lệnh họ bước xuống tàu. Hai cô gái không bước nổi. Cô gái nhỏ tuổi ngã quỵ lên một bụi san hô. Những mũi san hô nhọn như chông đâm vào đùi cô, da thịt tướt ra, máu chảy đỏ cả đùi. Chị Hà và những cô gái còn sức, gắng gượng dìu nhau lên đảo. Sáu người ngồi trong một hang đá cách xa bờ, ôm nhau khóc. Một tên hải tặc ghé ngang, ném cho họ một hộp giấy đựng cơm trắng và thùng nước uống nhỏ. Hắn chỉ vào miệng ra dấu. Chị Hà chia mỗi người một nắm cơm và chuyền tay nhau thùng nước. Không ai dám ngủ, hoang mang, lo lắng nhìn nhau, liên tưởng đến một điều bất hạnh không tránh khỏi. Đúng vậy. Khoảng nửa khuya, nhiều tiếng chân nặng nề đi về phía hang đá. Hàng chục tên hải tặc trở lại. Ngọn đèn biển lẻ loi trên đảo soi bóng đám hải tặc đang đi tới như những bóng ma trơi. Chúng vực chị Hà và năm cô gái dậy. Kéo tay từng người ra ngoài bãi cát. Một cô gái vừa cất tiếng khóc đã bị một tên hải tặc đánh mấy bạt tai. Chúng hãm hiếp chị Hà trước. Những mủi kim đâm đau buốt vào da thịt chị. Chị nhắm mắt, không khóc thành tiếng nhưng nước mắt cứ tuôn theo cơn đau đang chạy dài vào tận mỗi tế bào. Bọn hải tặc say sưa, điên cuồng, man rợ trên thân thể của những cô gái Việt Nam yếu đuối. Và cứ thế chúng thay phiên nhau hãm hiếp từng cô gái. Tiếng cô bé mười lăm tuổi bị thương thét lên trong đau đớn. Không ai nghe. Không có Chúa và Phật. Trên cù lao san hô ngoài vịnh Thái Lan chỉ có tiếng khóc của sáu con chim non Việt Nam và tiếng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Sau vài giờ, bọn hải tặc ra đi, bỏ mặc sáu cô gái với thân thể lõa lồ nằm ngất xỉu trên cát. Gần sáng họ cố lê lết đến gần nhau, giúp nhau lau những vết máu còn đọng lại trong thân thể trầy trụa và dìu nhau đi tìm chỗ nằm qua đêm. Đây chỉ mới là đêm đầu tiên trong chuỗi ngày khổ nhục dài vô tận.
> Buổi sáng, chiếc tàu hải tặc lại ra khơi. Chị Hà và một cô gái gắng gượng đi vòng quanh đảo, với hy vọng mong manh tìm được một nơi để trốn. Hòn đảo thật ra chỉ là một cù lao nhỏ trồi lên giữa vịnh, chung quanh toàn là san hô nhọn, nhìn ra xa chỉ thấy mịt mờ mây nước tận chân trời. Không ai biết nơi này là đâu, hòn đảo này tên gì và ngày mai, đêm mai, đời họ sẽ ra sao. Cũng từ những hốc đá đó, chị Hà biết rằng nhóm chị không phải là những người đầu tiên bị bắt vào đây. Rơi rớt trong các hốc đá là những mảnh áo quần rách tả tơi còn dính máu, dấu tích của những chống cự, đấu tranh, cưỡng bức, hành hạ. Nhiều nơi còn có cả tên tuổi, địa chỉ, chuyến ghe, ngày ra đi và bến bãi khởi hành của người bạc hạnh. Một chỗ ghi: “Em là Lê Thị …, phường … thị xã Bạc Liêu, ai đọc được xin báo dùm cho mẹ là bà Phan Thị … biết”. Một chỗ khác: “Tôi là Nguyễn Thị …., địa chỉ ….Cách Mạng Tháng 8, Quận 10, Sài Gòn, bị bắt vào đây ngày 15 tháng 2 năm 1978. Ghe tôi có 74 người, vào đây còn sống được 21 người. Ai đọc được tin này làm phước báo cho gia đình tôi biết”. Và cứ thế, trong mỗi hốc đá, mỗi mặt bằng, đều có dấu vết của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh bị bắt đến trước, bị hãm hiếp trước, và có thể đã chết trước.
Buổi chiều, khi nhóm chị Hà lay hoay chưa tìm ra một cách trốn thì chiếc tàu đánh cá Thái Lan lại trở về. Chúng đem cho nhóm chị một thùng cơm, một ít cá khô mặn và một thùng nước. Chị Hà lại chia thành sáu phần và khuyên mọi người cố gắng ăn để sống. Cô bé mười lăm tuổi, có bà mẹ quỳ van xin bọn hải tặc, không ăn uống được. Sau một đêm bị hiếp dâm tập thể cô bé kiệt sức. Vết thương do mũi san hô nhọn đâm vào đùi cô bé hôm qua cũng bắt đầu nhiễm trùng. Chân cô sưng đỏ. Cô bé sốt. Miệng không ngớt gọi “mẹ ơi” trong mê sảng. Chị Hà ngồi bên cạnh cô bé, thầm nghĩ, nếu đêm nay bọn hải tặc quay lại đây hành hạ lần nữa như đêm qua, cô gái này sẽ chết. Sau vài phút suy nghĩ, đắn đo, chị Hà đứng dậy đi về phía cuối bãi, nơi chiếc tàu đánh cá đang thả neo. Đám hải tặc ngạc nhiên nhìn chị, có tên bật cười hô hố. Chị Hà chỉ về phía hang đá. Đám hải tặc nhìn nhau, bàn tán, cuối cùng một tên đứng dậy đi theo chị. Chị Hà đưa tên hải tặc đến chỗ cô bé bị thương ở đùi và chỉ vào trán cô gái. Hắn nhìn vết thương sưng đỏ và sờ vào trán đang bị sốt của cô bé. Hắn không nói gì, ra dấu cho chị đưa cô bé vào phía trong hang, rồi bỏ đi.
Nửa khuya, bọn hải tặc lại đến. Một tên cầm đèn pin đi trước. Như đêm qua, chúng kéo từng người ra ngoài bãi, tiếp tục hành hạ một cách man rợ. Chị Hà không khóc. Chị nằm im như một xác chết. Đêm nay chị cảm thấy bớt đau hơn bởi vì trí óc chị chỉ tập trung vào cô bé. Chị van vái chúng đừng hành hạ cô. Cũng may, tên cầm đèn pin, chính là tên đi theo chị hồi chiều, đã dặn trước đồng bọn hãy tha cho cô bé. Hắn đem theo đèn pin cốt để nhận diện cô. Và cứ thế, ngày thứ ba, thứ tư, mỗi đêm đều có bọn hải tắc ghé qua.
Đến ngày thứ năm, bọn chúng không trở lại. Nhưng chị Hà cũng hoàn toàn không còn biết gì nữa. Không ai trong sáu cô gái còn ý thức gì về những sự việc chung quanh. Sáu thân thể lõa lồ, nhầy nhụa đang nằm chờ chết. Chỉ có chết mới không biết thế nào là đau đớn. Chết là một lối thoát thanh thản nhất trong lúc này. Chị Hà thiếp đi trong cơn mê.
Khi tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trong một căn phòng bệnh viện. Một bác sĩ người Mỹ, khoảng ngoài 60 tuổi, có đôi mắt hiền từ, đang đứng bên cạnh. Bình nước biển treo trên góc giường. Ông tự giới thiệu bằng tiếng Việt khá thành thạo, tên ông là John Breston, làm việc thiện nguyện giúp người Việt tỵ nạn tại Thái Lan từ hai năm nay. Ông bóc cho chị một múi cam. Chị đưa tay trái cầm lấy. Chỉ khi đó, chị mới biết mình sống sót. Ông biết rất rõ chị từ đâu tới nhưng không nhắc gì về những chuyện đau lòng đã xảy ra. Chị nhìn chung quanh nhưng không thấy có ai quen. Chị hỏi ông về số phận của năm cô gái đồng cảnh ngộ, nhất là cô bé mười lăm tuổi. Bác sĩ Breston cho chị biết sau khi được tàu hải quân Thái Lan cứu vớt, họ đã được chuyển đến nhiều bịnh viện khác nhau. Mọi người đều đang dần dần bình phục. Chị Hà nằm trong bịnh viện gần một tuần lễ, trước khi được chuyển về trại Panat Nikhom để lo thủ tục định cư. Chị hỏi thăm văn phòng Cao Ủy và những chuyến tàu đến cùng một thời gian với chị nhưng không một ai biết gì về Khang, cũng như số phận chuyến tàu khởi hành từ Chu Hải.
Khoảng hai tuần sau khi xuất viện, chị Hà lại phải trở vào bịnh viện. Chị nghĩ có thể chỉ là một cơn sốt nhẹ. Bác sĩ Breston, sau khi khám sức khỏe, thử máu, dặn chị Hà ngày mai trở lại. Sáng mai, khi chị đến, Bác sĩ Bresten mời chị vào phòng riêng. Ông lật hồ sơ bệnh lý của chị, nhìn chăm chú vào mắt chị và nói nhỏ, thật nhỏ, như chỉ để một mình chị nghe. Chị Hà không tin những gì bác sĩ Breston nói là sự thật. Ông đưa chị coi kết quả thử nghiệm. Chị Hà vừa coi xong là ôm mặt khóc. Như một người cha hiền từ, Bác sĩ Bresten bước tới đặt tay lên vai chị và an ủi: “Khóc đi. Hãy khóc nhiều như cô cần được khóc. Nhiều khi không có phương thuốc nào tốt hơn là nước mắt”. Một hồi lâu, khi nước mắt giúp vơi dần cơn đau xót, chị lấy hết can đảm nói: “Phải bỏ nó đi, bác sĩ ạ”. Chị cay đắng nói tiếp: “Đó là di sản của một tội ác”. Chị Hà kể lại một cách chi tiết hành trình vượt biên mà chị và năm cô gái đã trải qua. Bác sĩ lắng nghe một cách trang trọng và cảm thông. Cuối cùng ông chậm rãi: “Vâng, điều đó tùy ở cô. Trong tư cách bác sĩ, tôi sẽ làm theo quyết định của cô, mặc dù như một con người, tôi không hẳn đồng ý như vậy”. Không đợi chị Hà phản ứng, ông tiếp: “Bởi vì, làm thế nào cô biết đó là di sản của một tội ác? Và dù có đúng đi nữa, di sản đó không thể là tội phạm khi nó chỉ là một bào thai”. Ngừng một chút ông giải thích: “Năm cô gái trong cùng chuyến của cô đã được chuyển sang nhiều trại khác nhau để bảo vệ quyền riêng tư và an toàn cho tương lai họ. Chuyện của cô ở đây không ai biết. Chúng tôi, thậm chí, cũng có thể đưa cô ra ngoài trại, sống với một nhà bảo trợ, sau khi sinh xong và nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ giúp cô hoàn tất thủ tục định cư”. Chị Hà thắc mắc: “Còn đứa bé?” Bác sĩ đáp: “Đứa bé vô tội. Chúng tôi sẽ có người lo lắng cho nó. Hội thiện nguyện sẽ tìm cho nó cha mẹ nuôi để nuôi dưỡng nó nên người. Nó có thể không biết quá khứ của cha mẹ đã sinh ra nó nhưng chắc chắn sẽ có một tương lai tốt đẹp như bất cứ đứa trẻ nào khác trên thế giới”. Chị Hà mềm lòng trước sự tha thiết, tình thương người, tính thuyết phục trong lý luận của bác sĩ và bản tánh hướng thiện tự nhiên của chị, nên chấp nhận đề nghị của ông.
Bào thai mỗi ngày một lớn. Đêm đêm chị nằm lắng nghe tiếng cựa của đứa bé sắp chào đời và thương cho số phận bất hạnh của con như thương lấy chính cuộc đời khốn khổ của chị. Đứa bé sẽ không biết cha và cũng sẽ không biết mẹ. Làm sao một con người có thể “sống xứng đáng như mọi đứa trẻ khác trên thế giới”, như lời ông bác sĩ nói, nếu sinh ra không cha mẹ, không quá khứ? Và khi giao nó cho hội từ thiện, chị sẽ làm gì với cuộc đời còn lại của mình? Chị sẽ về đâu trong trái đất nầy? Chị không thể về lại Việt Nam để sống với bà vợ kế của ba. Khang có thể đã chết. Cho dù Khang còn sống đi nữa, chị cũng không nên gặp lại Khang. Gặp lại để làm gì. Bên kia sông không phải là ánh mặt trời như Khang thường lý tưởng hóa mà là bóng tối, là lỡ làng, khinh rẻ. Người duy nhất trên đời này, cùng cảnh ngộ bất hạnh như chị không ai khác hơn là đứa bé đang nằm trong bụng chị. Bác sĩ Breston nói đúng một điều: đứa bé hoàn toàn vô tội. Chị đưa tay vuốt ve chiếc bụng tròn như để xin lỗi và hứa với con: “Mẹ sẽ sinh con ra, sẽ ẵm con đi một nơi thật xa, ở đó sẽ không ai biết đến mẹ con mình. Mẹ sẽ nuôi con nên người. Chúng ta sẽ sống với nhau. Con có thể sẽ không bao giờ biết đến quá khứ của cha mẹ con, nhưng con sẽ có tương lai bởi vì con có mẹ”. Buổi chiều ngày 11 tháng 6 năm 1980, thằng bé cất tiếng khóc chào đời trong một bịnh viện nhỏ ở Bangkok. Mẹ nó cũng khóc, và ngay cả khóc nhiều hơn nó. Bác sĩ John Breston bảo chị đặt tên con. Chị đáp: “Hãy đặt tên nó là Biển, bởi vì nó là con của biển”. Chị giữ lại họ Lê, là họ của Khang để làm kỷ niệm. Sáu tháng sau, đích thân bác sĩ John Breston lái xe đưa mẹ con chị Hà ra phi trường đi Mỹ định cư.
Hai mươi hai năm sau. Hai mươi hai năm chị sống trong âm thầm và chịu đựng. Chị không muốn ai biết về mình. Hai mươi hai năm chị sợ hãi và trốn tránh con người. Hai mươi hai năm, sáng nay là lần đầu tiên chị giận dữ với con ngay trước mặt người vợ chưa cưới của nó.
Tại sao? Chị tự hỏi. Tại sao chị có thể phản ứng như thế được nhỉ? Chị đã hy sinh hai mươi hai năm, tại sao chị lại không thể hy sinh một lần chót vì hạnh phúc của con? Lẽ ra chị nên vui khi thấy con trai duy nhất của chị sắp sửa có một gia đình, một người vợ do chính nó chọn lựa. Lẽ ra chị nên vui khi đã làm xong lời hứa với chính mình hai mươi hai năm trước. Đúng thế. Chị chưa sống trọn vẹn với lời hứa của mình. Chị hối hận về thái độ khắt khe của mình ban sáng. Chiều nay, nếu Biển trở về nhà, chị sẽ xin lỗi con. Biển ngoan lắm, chắc chắc nó sẽ vui và tha thứ cho mẹ. Chị thầm hứa sẽ không buồn, không rơi nước mắt khi tiễn con đi về California với vợ. Còn đời chị? Chị cười chua chát. Chị làm gì có cuộc đời riêng. Cô giáo viên Trần Thị Thu Hà đã chết trong một đêm trăng khuyết trên đảo san hô năm đó. Chị Hà vội vã đứng dậy để về gặp con.
Một người đang đứng chờ sau lưng chị từ lâu. Chị quay lại, thì ra đó là Biển: “Bạn con đâu?” Chị hỏi trong lo lắng. Biển đáp: “Cô ấy về California một mình rồi. Chúng con đã chia tay nhau”. Chị Hà thắc mắc: “Tại sao?” Biển không nói, bước tới ôm chầm lấy mẹ: “Mẹ. Mẹ tha thứ cho con. Con xin lỗi mẹ. Khi mẹ ra về con mới hiểu ra rằng con có thể sống không có Linda nhưng không thể không có mẹ”. Chị Hà cảm động đến rơi nước mắt. Chi vuốt mái tóc hơi quắn của con: “Con tôi thật sự trưởng thành rồi”. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Lần đầu tiên trong đời mình, chị Hà khóc vì hạnh phúc, một khái niệm mà hơn hai mươi năm chị chưa từng nghĩ tới. Tháng sau, Biển được nhận làm kỹ sư cơ khí hàng hải cho một hãng tàu buôn lớn ở Boston. Hai năm sau Biển lập gia đình với một cô gái Việt Nam hiền hậu. Chị Hà đặt tiền ứng trước để mua tặng vợ chồng Biển ngôi nhà của cụ Paul, để làm quà cưới cho con. Và sau đó không lâu, khu nhà yên tĩnh vùng biển, lại lần nữa vang lên tiếng khóc trẻ thơ, báo hiệu một sự sống vừa mới ra đời để nối tiếp cuộc vận hành biến diệt không cùng của thời gian và vũ trụ.

Trần Trung Đạo