BỐN MƯƠI NĂM, ĐÔI ĐIỀU NHÌN LẠI.

nguyennhathuy

Có đến cả năm sau sự kiện 30.4.1975, các phương tiện truyền thông của “Bên thắng cuộc”, cán bộ trong những buổi họp dân ở xã phường, kể cả họ khi ở ngoài xã hội đều nói nhiều về sự “Phồn vinh giả tạo” của miền Nam Việt Nam!

Ai cũng biết, hệ thống tuyên truyền cộng sản bắt đầu từ Ban tuyên giáo TW xuống dần các tỉnh huyện, các cán bộ bên dưới chỉ làm công việc nhai lại như một con vẹt, “trên” nói sao, dưới nói y vậy, không kể còn tô son điểm phấn, cường điệu và minh họa thêm.

1.Chuyện tuyên truyền rằng miền Nam “phồn vinh giả tạo” vừa nhằm biện minh và giải thích cho quân dân miền Bắc điều mà khi bức màn sắt còn đang đóng trước 1975, họ ra rả kêu gọi đi B để giải phóng miền Nam, ở đó người dân bị Mỹ Ngụy kềm kẹp không có lấy một cái chén ăn cơm! Không nói thế, hóa ra cán bộ và nhân dân cho rằng chính quyền lừa bịp dầu đó luôn luôn là bản chất cộng sản!. Nó cũng là thứ vũ khí mà cán bộ từ Bắc vào hay người Nam hồi kết đều nói để xóa đi mặc cảm nghèo hèn, dốt nát, bị chế độ lừa gạt như dân gian truyền tụng rằng sau 75, nghề hái ra bạc ở miền Nam là nghề lượm mũ cối! (Những người Bắc vào đều đội mũ cối, nhìn những nhà lầu nguy nga trong các phố phường miền Nam cứ say sưa đếm số tầng đến quên cả mũ cối rớt) và như chính Huy Đức trong “Bên thắng cuộc” cũng đã nhắc lại câu nói dân gian sau 75: “Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”.

Nhà văn nữ Dương Thu Hương, khá nhiều nhà văn tên tuổi của chế độ cũng thú nhận rằng họ mở mắt là nhờ những sách vở còn lại tại miền Nam mà họ được đọc, Huy Đức cũng nói ngay trong lời nói đầu cuốn “Bên thắng cuộc” rằng những bộ đội tập kết về thăm quê miền Nam ra thế nào trong đáy ba lô cũng có dăm ba cuốn sách cũ làm quà và khá nhiều người hiểu thêm thực trạng miền Nam, sự tự do trong sáng tác của văn nghệ sĩ đều từ những nguồn này. Đúng là “phản động”, là đi ngược những tuyên truyền một chiều bịp bợm của họ!

2. Nhiều năm sau, thế hệ những người lớn tuổi nghiệm ra rằng những gì nhà cầm quyền ra rả chống, ra rả nói xấu họ đều làm theo, từ chuyện người vượt biển tìm tự do ở ngoại quốc là “theo địch”, là “phản động” rồi trở thành “khúc ruột ngàn dặm” không xa cách nhau là bao, nói chống Mỹ nhưng con cái cán bộ cao cấp xin đi Mỹ du học tự túc, họ không cần biết hậu quả điều mình nói, việc mình làm miễn là đạt được mục đích nào đó mà suy cho cùng, cái tối hậu là đạt mục tiêu xâm lăng miền Nam và thu vén cướp bóc để hưởng thụ trước khi dâng đất nước này cho Trung cộng!

Bốn mươi năm đã qua, nhớ lại những nội dung này thật thấm thía! Tra vài từ điển trên net, thấy giải thích từ “giả tạo” là “không thật, vì được tạo ra một cách không tự nhiên”, miền Nam phồn vinh giả tạo theo lập luận của cộng sản là nhờ viện trợ Mỹ, Đúng, nhưng là viện trợ của một nước tự do bảo vệ một nước nhỏ trước nạn xâm lăng cộng sản.

3. Với viện trợ Mỹ, một dân vệ VNCH (sau này là nghĩa quân) như du kích có lương tương đương một giáo viên hương sư phụ khuyết (thầy giáo trường làng), thấp nhất trong quân đội và giáo dục là một ngàn năm trăm đồng (1500đ), đủ nuôi sống 1 vợ 5 con và cha mẹ già, thời điểm đó gạo 300đ/tạ. Có tham nhũng không? – Có. Có hối lộ không? – Có! Tham nhũng tiền viện trợ nhưng không tày đình kiểu Vinashin, Vinalines và hàng trăm hàng ngàn vụ động trời khác, không ăn chận vốn ODA dành cho các công trình giao thông quan trọng. Hối lộ ở miền Nam chỉ là của những nhà giàu sợ con đi lính chết trận, những nhà buôn muốn yên thân, ăn hối lộ không cạn tàu ráo máng kiểu công an nhận hối lộ của tài xế xe nghèo xơ xác, kiểu phường khóm nhận của người buôn bán lẻ kiếm sống qua ngày. “Chế độ ta ưu việt” hơn “thằng địch” nhiều, do vậy, hối lộ là cả dây chuyền khép kín, từ trên xuống dưới! Nếu không, Nông Đức Mạnh lấy đâu tiền làm ngai vàng, dát vàng tương Hồ Chí Minh, đồng chí X lấy đâu tiền xây nhà thở tộc >70 tỉ trong lúc phần lớn bộ trưởng, viên chức trung ương kể cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu của đệ nhất và đệ nhị Cộng hòa không có hoặc có nhưng nhà chưa bằng nhà một… chủ tịch phường ở Hà Nội! (http://www.baomoi.com/Chu-tich-phuong-cung-xay-nha-khong-phep/148/15863770.epi).

Cái giả tạo đó vẫn tốt hơn nhiều so với cái ưu việt của chế độ ta khi những viên chức sống chính bằng đồng lương là điều không thể!

Hãy vào trang này: http://dulichgo.blogspot.com/2012/09/nha-cu-cua-ong-thieu-se-tro-thanh-iem.html để thấy nhà của mẹ Tổng thống Thiệu và nhà mát của ông ta ở Ninh Chữ (Ninh Thuận), hãy đến đường Nguyễn Huy Tưởng (Bình Thạnh), nhìn căn nhà ngày xưa của cựu Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ để mà hiểu và nói cho con cháu biết chúng phải làm gì?

4. Cũng ngày ấy, bộ máy tuyên truyền ra rả câu “Tội ác Mỹ Ngụy trời không dung, đất không tha, người người đều căm giận” thì cái gọi là tội ác đó nếu có cũng chưa bằng tội xóa bỏ hiệp định Geneve, gây chiến tranh xâm lăng miền Nam, đẩy hàng triệu người rời bỏ đất nước ra đi, hành hạ hàng trăm ngàn người trong các trại tù, bắt bớ, tù đày hàng chục ngàn người yêu nước và trên tất cả mọi thứ, cắt đất dâng cho Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc! Thử hỏi bốn mươi năm qua, trên giải giang sơn gấm vóc của chúng ta có phải ở đâu cũng thấy nhà cầm quyền cộng sản đã phạm vào đúng điều mà họ lên án Mỹ Ngụy? . Trở lại định nghĩa “giả tạo là không thật, được tạo ra một cách không tự nhiên” người viết tự hỏi, bằng cấp giả là chuyện phổ biến từ trung ương xuống địa phương vài chục năm nay nhưng cái chức danh giáo sư, học giả, danh hiệu do nhà nước phong tặng cho một con người cao quý như ông Vũ Khiêu có phải là “giả tạo” khi mà những gì báo chí phanh phui thời gian sau Tết là điều không thể chối cải, không thể phản bác và như ông Nguyễn Lân cha của 8 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, một gia đình nổi tiếng lại là cha đẻ của Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Từ điển từ và ngữ Việt Nam với quá nhiều sai lầm mà dầu công luận lên tiếng nhiều vẫn không mảy may đính chính, có quyển được tiếp tục tái bản đã để lại cho các thế hê sau không biết bao nhiêu thiệt thòi khi tham khảo và nhất là làm hỏng tiếng Việt!

5. Có phải tất cả những chuyện nói trên có nguồn gốc sâu xa từ một người đã khuất mà đến gần năm mươi năm nay (ai cũng tưởng là) được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới cũng là “giả tạo” vì chưa chắc cái xác ướp nằm đó của người đúng với tên người ta nghĩ mà là của một anh Chệt nhưng nhân dân đất nước này đã còng lưng đóng thuế vì chi phí tạm tính cho việc chăm sóc nơi anh Chệt này nằm trong 40 năm theo một bài báo (*) là 249 tỉ, số tiền đó xây được 12.480 căn nhà tình nghĩa (20tr/căn) giúp được 49.920 hộ dân thoát nghèo!!.

Có bao người dân Bắc thầm hoan hô “sự phồn vinh giả tạo” đó của miền Nam?

NGUYỄN NHẬT HUY

(*) http://xoathantuong.tripod.com/tdbc_langho.htm
Mời tham khảo thêm một số link sau đây:
http://thuguibanta.blogspot.com/2015/02/february-27-2015.html
http://thuguibanta.blogspot.com/2015/03/march-6-2015.html

Phong cách sống cung đình


http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4091&rb=06
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4443&rb=06

HUẾ MƯỜI NĂM XA

nguyenvanthien

Mười năm xa trăm mùa trăng vỡ
Hương giang trôi tóc nữ sinh buồn
Về vườn xưa thềm rêu mai nở
Mơ môi gần đêm Huế chớm xuân

Lụa thơm bay chiều xưa qua phố
Nón trăng nghiêng thơ rớt ven cầu
Tuổi ngu ngơ lần đầu biết khổ
Giọt đàn trầm rụng mắt em sâu

Mắt em sâu – mười đông xa Huế
Ta về tìm chút nắng xuân hanh
Nhánh sứ già rung rinh tiếng sẻ
Thành Nội chiều thoi thóp rêu xanh

Lăng tình đầu em xây đá nhớ
Thơ gọi mùa thông réo hồn thiêng
Thiên An chào người xưa ngờ ngợ
Ta lên đồi đợi Huế ra Giêng.

NGUYỄN VÂN THIÊN

MƯA & ĐÀN

vungocgiao

1.
bàn tay năm ngón ngại ngùng
dạo trên phím mỏi sượng sùng như thơ
tiếng đàn xưa chợt thẫn thờ
khi dòng tóc rối bên bờ hư vô
2.
bàn tay năm ngón ngu ngơ
khóc trên phím mỏng bơ vơ mệt nhoài
giọt đàn đêm giấu trong tay
nhớ môi mềm với cơn say hững hờ
3.
ta còn đây một cơn mơ
khép trong ngày tháng là tờ kinh xưa
rưng rưng mùa hát quên mùa
cuối hồn đàn khóc cùng mưa hiên ngoài

vũ ngọc giao

TIẾNG CHUÔNG NGÂN (PHẦN 6) NGÀY ĐEN TỐI

nguyenthingoclan

Sau nhiều lá thư của ông Giao gởi về thuyết phục, hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp, mẹ buộc cô phải làm đám cưới với ông. Biết không thể nào ngăn cản ý của Mẹ được nữa nên Hải Đường im lặng ra vẻ đồng ý, nhưng trong lòng thì đang tìm cách thoát cho bằng được cuộc hôn nhân này. Đêm đó cô quyết định viết lá thư từ hôn gởi cho ông Giao với những lời lẽ  thật cay đắng và cả van xin. Hải Đường đề nghị  một cách dứt khoát, yêu cầu ông Giao ra nhận lại lễ vật đã tặng  trong lễ hỏi. Một quyết định liều lĩnh đầu tiên trong đời mà cô dám làm để giải thoát cho bản thân. Hải Đường chọn con đường tìm lại tự do cho mình đồng thời cũng chấp nhận một cuộc đời đắng cay, tủi nhục khác.
Nhận thư, có lẽ ông Giao không còn hy vọng gì ở cuộc hôn nhân này nữa nên mười ngày sau, người chú và người em trai thay mặt gia đình từ Bình Định vào xin được nhận lại những lễ vật đính hôn. Chiếc nhẫn bằng kim cương có giá trị lớn cùng những lễ vật khác Hải Đường đã cẩn thận gói sẵn để trong tủ chờ đến ngày trả lại cho nhà trai.

Ngày định mệnh  25/6/1977.
Đang cầm chiếc cuốc xới cho tơi đất để trồng mì, anh trai từ nhà qua báo cho Hải Đường biết gia đình ông Giao đến nhận lại lễ hỏi theo đề nghị trong thư của cô.  Mẹ cho gọi  về ngay. Hải Đường nghe báo tin mà rụng rời cả tay chân. Chiếc cuốc trên tay lúc đó cô nắm chặt không muốn thả ra. Một thời khắc sợ hãi kinh hoàng cô cần phải đối mặt trong lúc này.
Hải Đường biết điều đen tối đang chờ cô trong chút nữa thôi. Sợ hãi tột cùng. Cô điên loạn hay đã chết rồi trong lúc ấy?
Sợ Mẹ, sợ họ hàng ông Giao nên Hải Đường trốn biệt vào một bụi cây rậm bên rẫy. Không ai có thể tìm ra cô cho đến tối mịt. Chung quanh là bóng đêm. Sương bắt đầu rơi xuống trên những tán cây, trên lá và trên tóc Hải Đường ướt đẫm. Lạnh buốt xương và cái đói hành hạ. Nhắm mắt lại cô bắt đầu rơi vào cơn mê loạn.

Có ánh sáng đom đóm bay đêm chập chờn. Tiếng gió rít, ve vuốt, rượt đuổi. Âm thanh răng rắc. Tiếng lá rơi xào xạc, lả lơi. Có tiếng hát ru em của Dì Út vọng về.

 Điệu múa Đêm tàn Bến Ngự. Lượt là trong bộ Hoàng bào vàng óng.

Những hạt sương mong manh trên má. Cái lạnh thấm dần vào thân thể yếu mềm hoà với cái đau bị muỗi đốt vẫn còn đỡ hơn cái đau trong tâm hồn mà Hải Đường đang gánh chịu lúc này. Cô muốn mình được thiếp đi một cách nhẹ nhàng. Thôi đừng đau đớn nữa. Cô muốn bay vào hư vô mãi mãi để không còn phải giáp mặt với những bất hạnh mình đã chịu từ bao nhiêu năm nay.
Sương lạnh thấm vai. Buốt rét mềm đôi bàn tay nhưng con tim nóng hừng hực bừng lên như ngọn lửa hồng đốt cháy.
Tiếng muỗi vo ve hát ca nhảy múa.Tiếng côn trùng ran ran bên cạnh. Có tiếng sột soạt của con thú hoang đói mồi.Tiếng chin chit của lũ chuột tinh ranh.
Có tiếng hú gọi đến như tiếng người. Đen thẫm. Mờ mờ ảo ảo ánh đén hắt sang ..

Hải Đường giật mình bừng tỉnh. Không gian rờn rợn. Chung quanh toàn những cây cao và bụi rậm. Đêm của lũ côn trùng ma quái. 
Đói cồn cào!
Hải Đường muốn nằm yên trong bụi cây này mãi. Mong được khép chặt đôi mắt, thiếp đi nhẹ nhàng và đừng bao giờ thức dậy  nữa. Muốn được bay bỗng lên rồi tan ra, biến vào hư không. Xin đừng đau đớn. Cô đau đớn nhiều rồi. Hải Đường muốn trốn chạy đi đâu đó thật xa cái xứ này. Nhưng trốn đi đâu bây giờ?
Rét run và đói. Hai tay ôm chặt lồng ngực, hơi thở yếu dần. Hải Đường trở mình bên bụi cây gai. Có vết đau trên lưng. Không! Nó nhói từ trái tim. Nắm nhánh cây gai đang đong đưa trước mặt, níu chặt, chập choạng. Có mùi mặn trên đôi tay.
Không còn nơi nào  có thể nương thân. Về thôi!
Lầm lũi  bước cao, bước thấp mò mẫm từng đoạn đường mòn, bước qua con suối lạnh Hải Đường tìm đường về nhà.
Bọn dế giun đang hát khúc hoan ca hay khúc bi ai bên kia bờ suối?

Rồi cũng đến được. Cổng nhà đây rồi! Cánh cửa màu xanh quen thuộc và cây trứng cá của Hải Đường mỗi chiều đứng đợi. Mà đợi gì nhỉ?
Bàn tay chạm vào cánh cửa, Hải Đường run lên bần bật, thân thể co rúm lại, bước chân không còn nhấc lên nổi nữa. Chờ  một lúc lâu, nghe trong nhà im vắng cô rón rén đi vào bằng lối bên hông nhà. Vừa đến sân nhìn thấy Mẹ ngồi trên ghế, nét mặt giận dữ đang chờ. Thân thể mãnh mai tội nghiệp đổ sụp xuống dưới chân Mẹ.

Không còn cảm giác để mà đau nữa.  Không còn đủ sức để van xin. Tê dại. Khù khờ. Có tiếng gió rin rít. Gãy đổ. Lào rào. Rền rĩ. Nước mắt cạn khô rồi. Miệng bỏng rát. Da thịt nham nhám mùi vỏ cây. Hải Đường lạnh!

Đã bao nhiêu lần trong đời sống bên ngoài gia đình. Đó là những đêm đi biểu diễn văn nghệ cùng với bạn bè thời đi học. Những lúc ấy Hải Đường chỉ có niềm vui.
Đêm nay cô cũng có một đêm bên ngoài ngôi nhà của mình. Bên ngoài đúng nghĩa của nó vì Hải Đường đang ngồi dựa gốc cây trứng cá trước nhà mình giữa đêm khuya.Tâm hồn khô khốc, trống rỗng, nhạt thếch. Đã khóc như một phản ứng tự nhiên nhưng không hiểu vì sao mình khóc. Chẳng ý thức được gì, không hiểu mình đang làm gì và chuyện gì đang xảy ra với mình. Sự trống rỗng đến ngạc nhiên.

Lại mơ!

Hoá thân thành con đom đóm nhỏ lập loè bay lên với các vì sao. Sao sáng quá khiến cô sợ hãi,
Mơ bay trên sân trường phủ đầy hoa phượng đỏ có những tà áo trắng phất phơ.
Mơ xoay tròn trên sân khấu với vũ khúc Vọng cố đô trong vai cô Công chúa mặc áo Hoàng bào.
Mơ mình ngồi bên giòng sông tuổi thơ, nước êm đềm cuốn đi chiếc lá khô vừa rơi xuống. Ba  chở đi trên chiếc Lambretta qua cầu Bạch Hổ chiều lộng gió thổi bay chiếc mũ rộng vành.
Mơ được Ba đưa vào Đài phát thanh Huế khi người còn làm việc trong ban văn nghệ .
 
Mơ! Cô mơ nhiều lắm.

Mơ cái êm êm của tuổi thơ bên giòng sông Hương. Mơ con chuồn chuồn ớt đỏ vụt bay trong khoảnh khắc hai ngón tay vừa chạm vào cái đuôi mềm mại, âm ấm của nó. Mơ con đường đất nhiều sỏi đá dẫn tôi đến trường tiểu học và thằng bạn mập xịt, kẻ thù  thời thơ ấu.  
( Xem ” Chuyến Tàu Tuổi Thơ” cùng tác giả)
Mơ tiếng chuồn chuồn chạm nước. Nhẹ nhàng như nụ hôn bất ngờ anh lướt nhẹ trên má.

Nhiều khuôn mặt lướt qua trong trí nhớ vội vàng. Nhòe nhoẹt. Rõ nét. Vui nhộn. Lặng lẽ. Hung tợn. Như có thể chạm được nhưng lại xa vời vợi.
Hải Đường mơ, mơ mãi trong giấc ngủ mê hoảng loạn. Hai tay bó gối. Lưng tựa vào thân cây.
Tiếng muỗi vo ve, tiếng chó sủa trong đêm vắng vẻ. Con đường khuya thỉnh thoảng có ánh đèn vụt qua.
Có tiếng xì xào xa xa. Tiếng chim non gọi mẹ. Thống thiết.
Có cánh tay choàng qua vai ôm chặt . Hơi ấm từ đâu đó sưởi ấm bờ vai gầy yếu của cô  vẫn còn đang trong mơ tuyệt vọng.
Có cái lay nhẹ bờ vai. Lờ mờ Hải Đường nhận ra một giọng nói quen thuộc. Có tiếng âm âm từ rừng núi dội về.
Có tiếng hỏi dồn. Cô bay lên. Nhè nhẹ. Từ từ. Chậm rãi. Hải Đường chạm vào mây. Mềm mại. Âm ấm.
Mây vuốt vào má. Có bàn tay đặt nhẹ lên môi. Có cánh tay dìu  đứng dậy. Lướt hay bay đi. Nhẹ tênh.
 
Hải Đường như vô cảm lúc đó. Bước chân bềnh bồng. Chệnh choạng.
Anh Thọ!
Hình như Hải Đường đang gọi tên ai đó.
Anh dìu cô về căn nhà nhỏ của mình.
Sáng hôm sau, cơn mê bừng tỉnh. Anh nói: “Bây giờ thì em quyết định được rồi đó, em phải tự chọn con đường mình đi, không ai ép buộc em được. Nhìn em như thế này anh cảm thấy uất ức lắm. Anh muốn đưa em thoát khỏi cuộc hôn nhân vô nghĩa này, anh sẽ bất chấp tất cả nếu em đồng ý”.
 
Anh an ủi, dỗ dành, thuyết phục, vỗ về Hải Đường  mãi. Có còn nơi đâu để cô về nữa?.
Cơn gió rin rít thổi qua mái lá. Có tiếng róc rách của con suối chảy qua ngang đây. Bản nhạc rừng líu lo.
Hải Đường  gật đầu đồng ý. Cô cũng chẳng cần gì khác nữa.
Sau này, khi hai vợ chồng tâm sự cùng nhau, Anh hay ôm đầu Hải Đường vào lòng, nói đùa: “Mẹ đã vô tình tặng cho anh món quà vô giá này”.
Một tuần sau Ủy ban xã cấp giấy công nhận kết hôn và cho hai người ở nhờ căn nhà nhỏ vắng chủ. Của hồi môn Hải Đường mang theo chẳng có gì nhiều. Ngoài áo quần, chỉ còn vài ba cuốn sách và những kỷ vật thời học trò.
Hai vợ chồng sống với nhau thật hạnh phúc. Anh rất yêu thương Hải Đường, lo lắng cho cô đủ điều, từ những việc nhỏ nhặt nhất trong gia đình. Kinh tế khó khăn  nhưng không lấy đó làm buồn phiền. Vợ chồng cô chăm lo hạnh phúc gia đình. Quyết định không có con vội trong lúc này. 
Cuộc sống tuy nghèo nhưng thơ mộng. Hai người  thường hay ngồi bên nhau hằng giờ mỗi đêm, chồng đàn vợ hát những tình khúc xưa thật say sưa. Khi chưa vướng bận chuyện con cái, hai người thường hay xuống suối vào những đêm trăng sáng. Đêm trăng bên giòng suối vắng thật huyền ảo, ánh trăng tràn ngập khắp nơi. Trăng như rơi vỡ trên giòng nước.
Hải Đường và anh đi dọc theo bờ suối hoặc ngồi trên tảng đá cùng nhau câu cá. Thường thì anh cầm cần câu còn cô cầm đèn, ngồi giữ chiếc lồng đựng cá và nhai bắp rang cho đỡ buồn ngủ. Nhưng cũng có đôi lúc cô thiếp đi lúc nào không hay. Đến khi anh gọi dậy, cùng nhau trở về trời cũng bắt đầu sáng.
Cuộc sống vợ chồng khi mới lấy nhau thật lãng mạn dù muôn vàn khó khăn phải đối mặt hằng ngày.
Năm 1980 Hải Đường sinh con trai đầu lòng. Cuộc sống bây giờ khó khăn hơn nhiều, với đồng lương của anh làm sao nuôi được vợ con nên anh quyết định xin nghỉ việc ở Uỷ ban xã để ra ngoài làm ăn.
Cuộc sống vất vả hơn nhiều. Anh bươn chãi khắp nơi để kiếm sống.Ở thời buổi này, kiến thức, chữ nghĩa anh học được chẳng giúp gì được cho cuộc sống gia đình.

Vào một buổi sáng thàng hai 1982, đang lui cui làm việc ở nhà thì em gái Hải Đường chạy vào báo tin Ba bị tai nạn bên rẫy. Cô tức tốc chạy băng qua, đến nơi thì Ba đã trút hơi thở cuối cùng. Đau đớn chồng thêm đau đớn, vành khăn tang đầu tiên trong đời lại dành cho người cô yêu thương và kính trọng nhất. Người luôn mong muốn cho cuộc đời con gái được sung sướng, hạnh phúc nhưng lại bất lực nhìn đứa con gái yêu thương của mình chịu hết đau khổ này đến đau khổ khác. Không đủ sức dìu dắt để con được vào đời may mắn hơn.
Hải Đường mồ côi Ba!

Đứa con trai thứ hai ra đời  năm 1983 thì tháng ngày vất vả  bắt đầu từ đây. Anh Thọ tham gia đoàn người đi tìm trầm. Mỗi chuyến đi của anh lặn lội trong rừng sâu nước độc từ nửa tháng đến một tháng đã đày ải thân xác anh.
Căn nhà nhỏ bên cạnh nhà thờ  được Ủy Ban Xã cho ở tạm thấp lè tè và nóng bức vô cùng. Lấy nhau đã năm năm mà tài sản gia đình của họ chẳng có gì. Thậm chí cái quạt máy cho con mát trong những ngày hè cũng không có. Hải Đường phải xin vào làm kế toán ở ủy ban xã với đồng lương èo uột nhưng vẫn cố gắng sống sao cho vừa đủ. Điều này có nghĩa bản thân cô phải biết tính toán và tiết kiệm một cách tối đa. Một đồng quà cho con cũng phải suy nghĩ.
Anh Thọ đi núi vất vả  nhưng không kiếm được bao nhiêu. Lúc trầm khan hiếm thì lại không được gì. Lúc tìm được trầm thì hàng không ai mua phải bán rẻ. Phải nói là số phận gia đình Hải Đường thật bất hạnh. Người ta cũng như mình nhưng lại gặp may mắn còn anh thì xui rủi cứ đeo đuổi mãi .
Cuộc sống khốn khó nhưng hạnh phúc trôi đều theo năm tháng
Và kỷ niệm nhẫn tâm một lần ùa về  thật bất ngờ..

Một buổi chiều, Hải Đường thong thả đạp xe về nhà sau giờ làm việc. Hôm đó anh Thọ không đi núi, thay cô lo cho hai con nên cô cũng không vội vã lắm. Tự cho phép mình hưởng thụ một chút gió chiều, nắng nhạt, cái cảm giác mà lâu lắm rồi có không có được.
Hải Đường nhớ hôm ấy tóc bay sau ngược gió vì cô không kẹp lên. Một chút lãng mạn sau bao tháng năm buồn, hôm nay cô muốn được hưởng một tí.

Khi đạp xe về gần ngôi nhà cũ, quán cà phê Hải Đường ngày trước. Cô giật mình vì thoáng thấy một dáng người cúi đầu lầm lũi bước đi bên kia đường. Dáng ấy quen thuộc đến mức Hải Đường không thể lầm lẫn được. Hai tay cô run run trên ghi đông xe đạp, toàn thân cứng đờ. Chiếc xe vẫn từ từ tiến lên phía trước một cách nặng nề.
Khi đến trước quán cà phê cũ, người ấy dừng lại và nhìn vào trong rất lâu. Hải Đường cũng dừng lại bởi một sức hút vô hình từ phía bên kia đường. Cô ngộp thở, tai ù đi, ran ran tiếng gió.
 
Hải Đường bước ra khỏi xe và nhìn chằm chằm vào con người ấy. Bất chợt người ấy quay lại nhìn cô.
Người bên này, người bên kia đường bất ngờ hoà tan trong  ánh mắt. Hai chân Hải Đường muốn quỵ xuống. Đôi mắt của anh. Đôi mắt u buồn kỳ lạ, xa xăm nhưng lại có ngọn lửa bùng cháy bên trong.
Trời ơi! anh đó sao? Hơn mười năm rồi, anh gầy và đen hơn nhiều. Dáng người khắc khổ. Anh nhìn cô không hề chớp mắt. Hải Đường cũng vậy. Nước mắt cô chảy dài  xuống má tự nhiên không kìm chế được. Hải Đường muốn chạy ào qua với anh nhưng hai chân chôn chặt xuống lề đường. Không được! Không thể được. Cô nhủ thầm như vậy.
Người bên này, người bên kia đường chỉ im lặng nhìn nhau  trong chốc lát, không ai nói một lời nào. Khi anh quay mặt bước đi cũng là lúc Hải Đường ngồi lên yên xe, đạp về nhà. Cô cám ơn anh đã kìm chế được trong giây phút đó. Nếu anh băng qua con đường rồi đứng trước mặt cô liệu điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Hải Đường cũng không biết nữa. Trong khoảnh khắc xảy ra chớp nhoáng ấy, cô tin anh vẫn còn yêu mình. Đôi mắt không giấu được điều gì.
Về đến nhà chồng con  ra đón, hai đứa con bụ bẫm dễ thương ôm lấy Hải Đường. Nhờ vậy cô đã che giấu được cảm xúc bất ngờ với chồng lúc đó. Hải Đường đã quyết định đoạn tuyệt với mối tình đầu từ lâu. Hơn mười năm, đôi lúc có nhớ về anh nhưng với tình yêu chồng con dành cho cô quá lớn không cho phép có những giây phút yếu lòng. Cũng bởi Hải Đường may mắn chưa gặp lại lần nào kể từ lúc anh ra đi. Nhưng chiều nay, gặp nhau trong hoàn cảnh như vậy lòng cô đau xót lắm. Thà anh cứ cúi đầu, đừng nhìn để cô không mang nặng đôi mắt ấy, có lẽ sẽ nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Hải Đường biết phải làm sao bây giờ. Đã là gái có chồng,  sinh được hai cậu con trai, trái tim  mềm yếu vẫn chưa quên được anh sao?
Thật ra  Hải Đường đã tự dối lòng. Cô nghĩ không chỉ riêng mình mà với bất cứ người phụ nữ nào đều không thể quên được tình yêu cũ. Nếu có thể quên, có nghĩa là họ chưa bao giờ yêu và được yêu. Người phụ nữ luôn yếu mềm. Chỉ có thể chôn vùi nó vào trong trái tim để làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ. Coi đó như là một kỷ niệm thiêng liêng. Một tượng đài của ký ức.
Hải Đường cũng chỉ là một phụ nữ yếu đuối.
 Mối tình đầu luôn có một chỗ đứng trong trái tim. Dù đã có gia đình nhưng cô vẫn dành riêng cho mối tình ấy một  giang sơn nhỏ bé trong tâm hồn. Nó mong manh, kỳ ảo vô cùng.
 Sáng hôm sau nhìn thấy Hải Đường xanh xao mệt mỏi, anh Thọ đến bên cạnh, nhẹ nhàng:
– Em đau rồi, hôm nay xin nghỉ một ngày cho khỏe. Để việc nhà anh lo. Em cứ nằm nghỉ.
– Dạ không anh, em mệt một tí thôi, đi làm được mà.
Nói với anh như vậy nhưng Hải Đường rất mệt do cả đêm qua thao thức, nằm không dám trở mình sợ anh lo lắng. Cô hối hận và thấy thương anh. Trong một phút yếu lòng gặp lại anh, Hải Đường trở thành người phụ nữ phản bội chồng mình dù chỉ trong tư tưởng.

 Đôi khi nhiều chuyện cứ tưởng đơn giản nhưng không phải vậy. Ngỡ đã quên được anh rồi, nhưng khi bắt gặp ánh mắt u buồn của anh buổi chiều hôm ấy lòng cô lại vấn vương, ray rứt. Nhiều năm sau này cũng vậy, cho đến ngày chồng qua đời, trái tim héo khô và thân xác gầy mòn sống đơn độc một mình nuôi con, Hải Đường mới thật sự quên được tất cả. Cô quên hết những con người đã từng yêu thương mình. Quên hết. Không có ai, không còn ai trong tâm trí cô nữa. Bởi một điều đơn giản cô không còn thời gian để tiếc nhớ, để mộng mơ, để oán trách.  

Hai con khỏe mạnh, ít đau ốm nên Hải Đường cũng bớt được nỗi lo.Có lẽ ông trời thương cảm hoàn cảnh gia đình cô nên ban cho hạnh phúc như vậy. Niềm hạnh phúc lớn lao nhất là mỗi chiều đi làm về được bồng ẳm, ôm chặt hai con vào lòng. Buổi tối sau khi dỗ hai con ngủ cô tranh thủ làm sổ sách kế toán cho hoàn chỉnh. Những ngày anh Thọ không đi núi sẽ ngồi ôm đàn hát khẽ cho cô nghe hoặc gíup cô cộng những dãy số để làm quyết toán.
Những đêm trăng đẹp, cả gia đình ra ngồi bên bờ suối ngắm trăng lên. Ánh trăng xuyên qua những tán cây hai bên bờ suối trông thật lãng mạn. Trăng rơi xuống mặt nước lững lờ trôi, trăng vỡ từng mảnh nhỏ trên lưng phiến đá. Có khi trăng lại cười với gia đình họ.  Hai con trai tung tăng bên bờ suối, còn vợ chồng Hải Đường ngồi cạnh nhau hát cho nhau nghe những bản tình ca . Ôi, thời gian ấy sao mà đẹp quá!
Có những buổi sáng anh dậy thật sớm chuẩn bị bữa ăn sáng cho công việc đi kiếm củi cách đó gần 10 cây số. Cực nhọc, vất vả là vậy nhưng lúc nào anh cũng tươi cười, ngọt ngào, nhẹ nhàng với Hải Đường và đùa giỡn với hai con.  Trăm ngàn khó nhọc nhưng gia đình cô rất hạnh phúc, đầm ấm, chỉ mong cuộc sống mãi bình yên.
 
Đầu năm 1993 gia đình Hải Đường phải bỏ cái vùng đất oan nghiệt ấy ra đi. Đến vùng đất mới xa lạ ở vùng rừng núi cao nguyên để kiếm sống. Phải vay mượn thêm để có tiền cất tạm nhà mới. Anh Thọ không còn đi núi nữa vì sức khỏe rất kém. Hải Đường mở quán nước giải khát nhỏ trước nhà và anh Thọ nhận dạy kèm Toán, Anh văn cho học sinh cuối cấp nên cũng có thêm thu nhập. Tuy vậy, quần quật quanh năm suốt tháng mà cũng không trả hết nợ. Túng thiếu đeo đuổi gia đình cô mãi.

Năm 1994 anh Thọ phát bệnh nặng, phải vào bệnh viện để điều trị nhiều đợt do xuất huyết dạ dày. Sức khoẻ anh càng ngày càng sa sút. Anh xanh xao, gầy yếu nhưng vẫn phải dạy học để có thêm thu nhập cho gia đình. Hải Đường làm mọi công việc để đủ tiền nuôi hai con ăn học và thuốc thang cho anh. May mắn nhất là hai đứa con  rất ngoan hiền, biết phụ giúp đỡ đần công việc trong nhà nên cô cũng được đôi phần an ủi, yên tâm.
Cuối năm 1994 sức khỏe anh đã kiệt quệ. Thương cho hoàn cảnh, mến anh và thích cách dạy của anh nên học trò vẫn đến học rất đông. Anh ngồi kê gối dựa vào thành giường giảng bài, còn học trò ngồi chung quanh ghi chép. Khi thấy anh mệt thì thay phiên nhau quạt, xoa bóp cho anh, lại còn nấu từ nhà mang đến cho anh những món ăn bồi dưỡng sức khỏe. Cứ như vậy anh cố gắng dạy cho đến gần ngày ra đi.

Anh Thọ mất vào một buổi tối giữa tháng giêng âm lịch tại bệnh viện tỉnh. Trước đó vài giờ, khi anh đang còn nhận máu từ những đứa học trò hiến cho anh thì vị bác sĩ trực tiếp điều trị cho anh đã gọi Hải Đường ra ngoài hành lang hỏi: “Chị đã có con trai chưa?”  Cô gật đầu trả lời “Dạ, tôi được hai cháu trai”. Bác sĩ giọng nhỏ lại: “Vậy là tốt rồi. Bệnh anh nặng lắm, bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối, không qua được đâu. Có lẽ một vài hôm nữa thôi”…
Hải Đường gục xuống hành lang bệnh viện, ôm mặt khóc.
Trở vào phòng ngồi bên cạnh nhìn anh thoi thóp thở, cô cứ ôm lấy đôi chân gầy guộc, xanh xao của anh như muốn níu giữ anh ở lại với mình, với hai con. Hải Đường xin anh đừng bỏ rơi cô và hai con mà đi. Hải Đường yếu đuối quá, cần anh che chở biết bao. Hai con còn thơ dại quá, cần anh nuôi nấng, dạy dỗ mới khôn lớn nên người.
 
Bón cho anh từng muỗng sữa rất nhỏ mà anh vẫn nuốt thật khó khăn. Nước mắt anh chảy dài trên gối và nước mắt Hải Đường thì rơi từng giọt trên ngực anh. Rồi anh sờ soạng, cầm lấy hai bàn tay cô nắm  chặt như muốn dồn vào đó tất cả sức lực còn lại của mình. Giọng anh lạc hẳn đi:  “Em yếu đuối quá! Anh sợ em nuôi con không nổi. Tội nghiệp cho em.” Rồi bàn tay anh lơi dần, mắt khép kín và đôi chân cũng lạnh dần.
Anh ra đi thật lạnh lùng, thật vội vã không chút tiếc thương, mặc cho Hải Đường và hai con đã ghì chặt, đã kêu tên anh biết bao lần.

Hải Đường trở thành  góa phụ năm 38 tuổi…
Đám tang anh thật lặng lẽ. Bà con không có nhiều. Đông nhất là học trò của anh và hàng xóm  tiễn đưa đến nơi cuối cùng.
Sau đám tang anh một tuần Hải Đường lại phải lao vào công việc. Đau đớn và thương tiếc chồng cũng đành nén lòng để kiếm đồng tiền nuôi hai con và trả nợ.  Cuộc đời cơ cực cứ vậy mà lôi cô đi. Con trai lớn tội nghiệp  phải nghỉ học để đi học nghề, đau lòng lắm nhưng đành phải vậy thôi. Làm sao một mình Hải Đường có thể gánh vác được để cho con tiếp tục đến trường. Cô thật sự bất lực để kiếm đồng tiền nuôi con. Nước mắt chỉ biết nuốt vào trong nhìn con mới mười lăm tuổi phải vào đời kiếm miếng cơm.
Từ lúc ấy Hải Đường không còn để ý gì về mọi chuyện chung quanh nữa. Công việc bắt đầu từ sáng sớm và kết thúc vào 9 giờ tối hàng ngày. Ban ngày cô nấu chè bán cùng các loại nước giải khát và đồ tạp hóa. Hàng gì bán được cô cũng gom góp mua về bán. Đêm đến làm nhiều loại bánh để sáng sớm hôm sau đạp xe đi bỏ khắp nơi.
Khổ cực đến nỗi Hải Đường không còn nhớ chuyện gì đã xảy ra trong cuộc đời mình hơn hai mươi năm qua. Không có thời gian để nhớ về thân phận mình, để nhớ về những ngày xưa rằng cô đã có một thời đi học vui đùa cùng các bạn, đã có một tình yêu đầu đời thật đẹp. Thậm chí cô cũng quên luôn mình đã từng có một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Quên luôn những khổ đau đã trải qua, vì chính thời gian này là thời kỳ bi đát nhất, khó khăn nhất trong đời cô.
 
Một điều kỳ lạ nhưng may mắn đã xảy ra. Vào đúng ngày mãn tang anh Thọ, mới sáng sớm, bất ngờ cô em chồng đến thăm, chạy ào vào nhà:
 
– Chị Hải Đường ơi! Em nằm mơ thấy anh Thọ về. Khuôn mặt anh buồn lắm. Anh vừa khóc, vừa nói với em đừng đòi lại số vàng đã cho anh chị mượn. Anh xin em cho chị vì biết chị trả không nổi. Sáng nay em đã ra mộ thắp hương đồng ý rồi. Thôi chị đừng lo nữa, em cho chị để nuôi cháu. Chị yên tâm nhé!
 
Hải Đường mừng rỡ đến nghẹn ngào không nói được lời cảm ơn cô em chồng. Chỉ biết ôm chặt lấy cô ấy mà khóc nức nở.
Vậy là  bớt đi một nỗi lo. Hải Đường biết ơn vô cùng. Tình cảm và sự cưu mang của cô em chồng Hải Đường nhớ mãi mãi.
 
*****
 Thời gian vun vút trôi nhanh. Con trai chị bây giờ đã khôn lớn, bắt đầu kiếm được tiền giúp đỡ mẹ và em. Hải Đường  sung sướng khi con  đem đồng tiền đầu đời của nó kiếm được đưa cho mình. “Con đã trưởng thành rồi, Mẹ mừng lắm!”. Chị xúc động nói với con như vậy. Con trai đã lớn, chững chạc, hiền lành và giống ba như đúc. Hải Đường không phải làm công việc của người đàn ông nữa, không phải leo lên mái nhà để lợp lại tấm tôn tốc mái. Đóng những cây đinh để treo hàng hóa hay cầm cái cưa xẻ tấm ván làm ghế ngồi. Chị sung sướng nhìn con đóng cái bàn, cái ghế, sửa lại hàng rào… Làm những việc mà trước đây chị phải gánh vác thay chồng.
Bây giờ nhà chị thực sự đã có người đàn ông rồi.

Vất vả để nuôi con, thân xác héo hon, nhan sắc cũng úa tàn theo. Hải Đường đóng chặt trái tim mình như sợ ai đó biết được nó đang cô đơn mà gõ cửa. Chị sống an phận, nén buồn tủi với  tiếng thở dài.

Nhiều người đàn ông nhìn ngó, đánh tiếng. Trong số họ cũng có  người không vướng bận gia đình, kinh tế khá giả nhưng chi không để tâm. Lòng đã lạnh nguội rồi. Chị đã có hai con trai và đó là chính cuộc đời của chị. Con  ngày càng khôn lớn và chị cảm thấy mình được bảo vệ, chở che. Còn gì hơn nữa. Ấm lòng, hạnh phúc trong cảnh mẹ góa con côi chị luôn cầu mong sao quãng đời còn lại được bình yên, may mắn.

Cuộc sống cứ trôi đều. Cuốn Hải Đường theo với những tháng ngày cực nhọc, buồn tủi.  Chị không còn nhớ ai và cũng không muốn nhớ về ai. Thật ra cũng chẳng còn ai để cho chị nhớ về. Hải Đường quên hết, sống khép kín trong vỏ ốc cô đơn. Chị biết chẳng ai còn nhớ đến mình. Bạn bè ư ?  Một thời đã xa rồi. Tình yêu ư? Trái tim  héo khô rồi. Nơi vùng đất xa xôi cao nguyên này chỉ còn lại mình chị và hai đứa con tội nghiệp sống trong nghèo khổ mà thôi. Một thời nhan sắc đã qua, cái khổ tàn phá dung nhan chị. Một người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh.

Có những chiều ngồi giặt áo quần bên giòng kênh nhìn nước chảy cuồn cuộn, Hải Đường chợt nhớ đến con suối  năm xưa. Chị nhớ những đêm trăng cùng chồng ngồi trên tảng đá to nhìn trăng lên. Hải Đường nhìn xuống giòng kênh ấy và nhìn  thấy chồng mình ngồi trầm tư nhìn ánh trăng trên giòng nước chảy lững lờ bên giòng suối năm xưa. Nhìn thấy từng mảnh trăng vỡ vụn dưới những bọt nước bên khe đá.

Con kênh đưa giòng nước chảy về đâu? Có đem theo được nỗi lòng Hải Đường về lại chốn cũ. Nơi những đêm trăng chị ngồi bên chồng, tựa đầu vào vai anh nghe hạnh phúc trào dâng.
Có mang dùm tâm hồn nhỏ bé tội nghiệp của chị về đâu đó xa xa, nơi ấy có anh, mối tình đầu vụng dại. Giòng kênh nước chảy ơi! Nước mắt chị lại hoà xuống dòng kênh, trôi đi.
 
Có những đêm mệt lả người Hải Đường ngủ  thiếp đi. Trong mơ màng giấc ngủ hiện về những ngày tươi đẹp hiếm hoi của đời mình.

Chị mơ thấy Ba chở đến Đài phát thanh Huế, nơi Ba vẫn thường làm việc. Cô bé năm tuổi đứng đằng trước hai tay vịn vào ghi đông. Ba ngồi trên xe hai đầu gối giữ chặt, vừa chạy vừa cúi xuống hôn lên tóc cô con gái bé nhỏ .
Chị mơ đang chơi cờ cá ngựa cùng chồng. Khi  bị thua, anh vừa nhẹ nhàng vuốt mũi vừa nheo mắt chọc chị. Tức quá,chị khóc không thèm chơi mặc cho anh năn nỉ.
Chị mơ những đêm trăng lẽo đẽo theo anh đi dọc con suối, tay cầm giỏ đựng cá, hai vợ chồng vừa đi vừa hát nho nhỏ.
Chị mơ về mối tình đầu. Nụ cười nửa miệng và đôi mắt nhìn nghiêng của anh. Mơ thấy anh băng nhanh qua hành lang lớp học, nghiêng đầu nhìn. Bóng anh mờ dần dưới sân trường rồi mất hút đằng sau cánh cổng.
Chị mơ cùng bạn bè tung tăng ngoài cửa lớp, mơ điệu múa  Vọng cố đô với áo Hoàng bào rực rỡ.
.
Chị mơ nhiều lắm để rồi khi tỉnh giấc, những giọt nước mắt lăn dài trên má.
Và như vậy Hải Đường cứ mơ, mơ và mơ. Những giấc mơ an ủi chị, đem lại hơi thở cuộc sống  sau những giờ mệt nhọc. Giấc mơ cho chị thêm nghị lực, dìu chị đi như đứa bé con mới lớn chập chững những bước vụng về.
Hải Đường mơ nhiều lắm. Vì chỉ có mơ mới đem lại cho chị niềm hạnh phúc mà thôi, dù biết rằng đó là hạnh phúc trong mơ.

Ngày cuối thu năm 2000.
 
Có tiếng chuông điện thoại đổ vang, liên hồi.
Tiếng điện thoại reo vang nhiều lần nữa nhưng Hải Đường vẫn ngồi làm việc. Rồi tiếng chuông cũng tắt như mệt mỏi..
Đến trưa, khi chuẩn bị dọn dẹp bếp nướng bánh, tiếng chuông điện thoại lại vang, vội vã, thúc giục. Hải Đường đang đứng gần bên điện thoại nên cầm ống nghe.
– A lô !

-A lô!
– “…Tôi ước ao được nói với kỷ niệm của ngày xưa cũ rằng. Ánh mắt thương yêu và những ý nghĩ trầm mặc đã đưa tôi vào cõi thần tiên. Để tôi lạc bước trên những đường mây rộng thênh thang…”
– Tôi xin lỗi, ai vậy?
 
Làm việc vất vả nhưng Hải Đường không hẳn đã quên cuộc gọi bất ngờ, kỳ lạ đó. Có một điều gì là lạ khiến chị tò mò. Cũng không hẳn vây. Một bản năng trỗi dậy trong chị khi nghe đoạn văn với cái chất giọng vừa lạ, vừa quen kia. Nó thôi thúc chị, nhắc nhở chị quay về một nơi mình đã ra đi. Nó không phải là một vùng đất, một nơi chốn. Nó mơ hồ, mong manh, mờ nhạt. Nhưng nó đã có thật. Nó ở trong sâu thẳm tiềm thức chị. Chắc chắn vậy! Hải Đường cố nhớ!
Cuộc sống không có ngày Chủ Nhật “Một ngày như mọi ngày”, kể cả những ngày lễ tết vẫn thui thủi một mình kiếm tiền để sống, nuôi con. Những ngày này nó đem lại cho Hải Đường nguồn thu khá lớn. Phục vụ cho những người đi chơi. Vậy là chị làm việc đủ ba trăm sáu mươi lăm ngày trong một năm.
Một tuần sau, tiếng chuông điện thoại lại reo trong lúc công việc đang dang dỡ như lần trước. Hải Đường lẩm bẩm ”Ai đó muốn chọc ghẹo sao?” Hải Đường thầm nghĩ vậy. Tiếng chuông thôi thúc rộn ràng hơn, quyến rũ dịu êm hơn. Chị đến bên điện thoại:
– A lô !
Im lặng. Có tiếng thở nhẹ trong ống nghe:
– A lô !
Vẫn tiếng thở nhẹ nhưng nhanh hơn:
-A lô !
Một giọng nói gấp gáp:
-Hải Đường phải không? Có phải em đó không?
Hai chân Hải Đường chôn chặt, toàn thân cứng đờ, mười đầu ngón tay như có giòng điện chạy qua. Chị không  cầm nổi cái ống nghe nữa, bàn tay rơi xuống mặt bàn cùng với nó. Hải Đường nghĩ trái tim mình  đã ngừng đập mất rồi. Giọng nói như xa, như gần. Như quen, như lạ. Âm thanh ấy đâu đó trong tiềm thức vọng về. Khơi gợi, xé toang u mê. Khó khăn lắm chị mới cầm được ống nghe .
– Phải.. không..?
Tiếng nói nhỏ, van xin.
– Anh đây! Đừng bỏ máy! Hải Đường phải không?
Tôi nghẹn ngào:
– Anh.. Anh  phải không? Dạ, em!
Giọng run run:
– Anh gọi cho em đây!.
Hai hàng nước mắt chảy dài, chị nói từng tiếng:
– Sao anh biết số điện thoại của em?
– Anh biết qua một người quen. Anh xin lỗi. Hải Đường đang bận phải không?
– Dạ, cũng bận nhưng mình nói chuyện với nhau được mà anh.
– Vậy giờ nào, ngày nào trong tuần em rảnh? Anh ngại làm phiền em.
– Khoảng 5 giờ chiều, anh.
– Vậy chiều mai, 5 giờ anh gọi cho em nghe. Anh muốn được nói chuyện thật nhiều, thật lâu với em. Được không?.
Hải Đường hốt hoảng:
– Thôi bây giờ nói chuyện luôn đi. Mai em bận rồi.
Thật ra chiều mai chị chẳng có việc gì phải bận cả, công việc hằng ngày cứ trôi đều như vậy. Ngày nào mà không bận. Nhưng có gì bận rộn hơn được nghe anh nói, điều mà chị đã chờ đợi suốt gần ba mươi năm qua. Giọng anh ấm và chậm rãi:
– Vậy thì mình nói chuyện với nhau nhé.
– Dạ, anh nói trước đi. Em không biết nói chi với anh hết.
Anh cười :
– Thì em nói cái chi cũng được mà. Anh muốn nghe được em nói lắm. Anh nhớ em. Nhớ giọng nói của em quá!
Hải Đường thì thầm:
– Dạ.. em cũng vậy.
– Anh cũng chờ em lâu lắm rồi. Anh đi tìm em cả đời mình.
Lúc này Hải Đường đã lấy lại bình tĩnh hơn, chọc anh:
– Mà sao giọng anh nói nghe lạ dữ rứa.
Hình như khi nghe tôi nói, anh có vẻ không vui:
– Họ già rồi thì giọng nói phải khác đi chứ. Lạ lắm sao?
– Không, em nói vậy thôi vì không nhận ra giọng của anh ngay từ đầu. Em xin lỗi.
Giọng anh như chùng xuống:
– Tại em quên anh từ lâu rồi nên mới không nhận ra thôi. .
– Em nói thật mà.
– Thôi, bỏ qua cái giọng nói đi. Em có khỏe không? Chuyện chồng con?
– Anh Thọ mất lâu rồi, anh không biết sao?
– Anh biết! Ngày anh Thọ mất, anh định vào chia buồn với em, nhưng nghĩ lại không hay lắm, mọi người và cả em nữa lại nghĩ không tốt về anh, nên thôi. Anh có lỗi với em. Còn bây giờ thì sao, em sống với ai?
– Sao anh lại nghĩ về em như vậy? Người đàn ông nào có thể đi vào đời em được kia chứ?
– Anh.. xin lỗi em. Nhưng anh tưởng..
– Em vẫn ở vậy từ ngày anh Thọ mất, sống với hai con trai em. Anh đang ở đâu mà gọi cho em vậy?
– Quán cà phê. Một mình. À, Mà không phải dưới giàn bông giấy đâu nghe, anh về quê từ sau 30/4.
Giọng nói anh trở lại bình thường và vẫn cách nói bông đùa:
– Anh đang uống cà phê, nghe nhạc Trịnh. Không thập thò đưa thư như ngày xưa nữa đâu.  Gìa rồi!. Nhưng mà bỗng dưng nhớ em quá. Anh nói thật.
– Còn vợ con anh ra sao?
– Ừ, thì một người vợ bình thường, không đẹp như em nhưng tuyệt vời. Anh có hai con, một trai một gái.
Hải Đường muốn nói chuyện với anh nhiều nữa nhưng e ngại vì thời gian xa cách quá lâu, giữa hai người đang có một khoảng cách hai bảy năm không gặp. Cả hai đều ấp úng không biết nói những gì dù muốn nói mãi.
– Chúc anh hạnh phúc. Lúc khác mình nói chuyện nha anh!
– Ừ, mai anh gọi. Em chờ anh năm giờ chiều nhé.
– Da, em chờ.
Đêm đó Hải Đường thao thức không sao ngủ được, miên man với những kỷ niệm ùa về.

Cậu thư sinh áo trắng ngồi quay lưng lặng lẽ bên giàn hoa giấy đỏ. Có cô gái bên trong của sổ trộm nhìn.  Những mảnh giấy viết vội.
Nụ cười anh, nụ cười của Mona Lisa. Đôi mắt nhìn nghiêng, giếng sâu bên má.
Nụ hôn nhẹ như con chuồn chuồn chạm nước một chiều bên suối.
Buổi nắng sớm bên bờ biển sóng vỗ rì rào. Anh choàng tay qua bờ vai gầy định hôn lên mái tóc . Họ cãi nhau rồi giận hờn. Rồi từ đó không còn nói với nhau một lời nào nữa. Hai mươi bảy năm biền biệt xa.
Màu đỏ hoa phượng ngập bóng anh. Khuất dần nơi sân trường rồi tan nhanh sau cánh cổng màu xanh.
Anh dựa lưng vào tường, hai tay ôm ngực, đầu cúi xuống trong buổi lễ hỏi . Đôi mắt u buồn.
Dáng anh khắc khổ đứng trước quán Hải Đường. Người bên này người bên kia nhìn nhau ngậm ngùi. Buổi chiều nắng đẹp.

Ôi! Biết bao kỷ niệm của hai người hiện về cùng lúc trong tâm hồn Hải Đường  đêm nay. Chị  hạnh phúc quá.

Chiều hôm sau anh không gọi như đã hứa. Hải Đường bần thần trông ngóng tiếng chuông điện thoại. Im lặng. Hôm sau và hôm sau nữa, đến ngày thứ tư, đúng 5 giờ chiều anh gọi. Tiếng chuông điện thoại rộn ràng khiến cho Hải Đường hoảng hốt, run rẫy. Phải anh đó không? Chị vội vã  cầm ống nghe:
– A lô !
– Anh đây ! Em khỏe không?
Hải Đường giận hờn:
– Em bình thường. Sao mấy ngày rồi anh không gọi?
Anh lúng túng:
– Anh muốn lắm. Đêm nào anh cũng cầm điện thoại lên nhưng rồi lại thôi. Anh ngại làm phiền em, sợ em không muốn nghe.
Chị trả lời thật nhanh:
– Không ! Không. Em chờ anh gọi mà.
– Em nói thật chứ?
Hải Đường nghe tiếng anh nghẹn lại bên kia đường dây. Chị im lặng, không nói gì, chỉ thấy lòng mình ấm lại sau câu hỏi của anh. Bất ngờ anh nói:
– Anh đứng ở trước quán Hải Đường của em đây. Người ta xây nhà tầng rồi em. Anh muốn gặp em.
Hải Đường hoảng hốt:
– Anh nói sao? Sao lại ở đó?
– Mấy ngày qua anh suy nghĩ rất nhiều. Anh rất nhớ em. Nếu em đồng ý, vài giờ nữa mình sẽ gặp nhau. Được không em? Chỉ còn vài chục cây số thôi mà.
Chị lo lắng :
– Không! Không thể được đâu anh. Đừng đến. Em sợ lắm!
– Em sợ ai? Em đang sống với người đàn ông khác phải không?
– Không! không . Hải Đường  nói nhanh.  Không có ai đâu anh. Nhưng em sợ lắm!
– Tại sao em phải sợ. Anh chờ ngày hôm nay lâu rồi. Hai bảy năm anh luôn đi theo bước chân em…Dù không gặp em nhưng em ở đâu, làm gì, những gì xảy ra trong cuộc đời em anh đều biết. Em đừng nghĩ rằng anh quên em. Không đâu em.
 (Sau này anh kể cho chị nghe, làm sao mà anh đã biết về cuộc sống của chị như thế nào trong những năm qua).
– Em muốn lắm nhưng mình không thể gặp nhau bây giờ được. Em sợ! Còn nhiều việc mình phải suy nghĩ đã anh. Nếu còn thương em, xin anh đừng đến.
– Anh chuẩn bị cho chuyến đi này lâu lắm rồi em. Một chuyến đi mà anh phải sắp đặt hơn hai mươi năm mới làm được. Em phải tin anh. Anh không thể về mà không gặp lại em.
Có nhiều lý do Hải Đường không muốn gặp anh lúc này. Chị sợ anh thất vọng khi nhìn thấy chị  không như xưa nữa. Nhan sắc tàn phai. Sống trong căn nhà mái tole lụp xụp nghèo nàn. Không có nổi bộ bàn ghế đàng hoàng để tiếp anh. Nhưng điều Hải Đường lo sợ nhất khi gặp anh còn một lý do khác lớn hơn nhiều.
Chị cương quyết:
– Không được! Em không thể gặp lại anh.
– Em khác ngày xưa nhiều quá. Nếu ngày đó em cũng cương quyết như bây giờ có lẽ anh và em không phải khổ sở đến mấy chục năm.
Chị chạnh lòng khi nghe anh nói nhưng vẫn không thay đổi.
– Anh nghe em! Chuyện cũ qua lâu rồi, anh đừng nhắc lại nữa buồn lắm. Mình có thể gặp nhau nhưng không phải là bây giờ. Mong anh hiểu cho em.
– Anh không muốn hiểu gì hết. Anh chỉ muốn gặp lại em thôi. Một lần duy nhất thôi. Anh biết vì sao em ngại gặp anh. Nhưng em đừng nghĩ như vậy. Anh biết em không còn đẹp như xưa nữa. Yêu em không phải vì nhan sắc. Anh yêu mối tình đầu của anh.  Nó đi theo suốt cả đời anh. Em hiểu không?
Anh nói một hơi dài, vừa giận dỗi vừa như muốn kéo Hải Đường lại gần anh hơn. Nhưng chị không thể nào nghe theo lời anh bây giờ được. Dứt khoát là như vậy. Thật sự là chị sợ. Rất sợ. Hải Đường van xin anh:
– Anh! Hãy để cho mọi thứ qua đi. Hãy xem em như một người bạn cũ. Em sợ gặp lại nhau lắm. Chúng ta, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, đã an phận với những gì mình có lâu nay. Em xin anh, đừng đến nếu anh vẫn còn yêu thương, còn nhớ đến em. Em nói thật lòng mà. Đừng nghe anh!
Nước mắt ràn rụa trên hai má, chảy dài xuống nơi ống nghe điện thoại khiến tay chị không cầm chặt được nó.
Anh chưa bỏ cuộc:
– Một lần này đi em. Anh nhớ em! Đã đi năm trăm cây số vào đây rồi. Muốn gặp được em. Gần ba mươi năm anh mới đủ can đảm làm điều này. Em biết không? Chỉ một lần được nhìn thấy em, nói với em vài câu rồi anh trở về cũng được mà.
Hải Đường cương quyết không để cho anh thuyết phục:
 – Em nói rồi. Không được là không được. Anh đến, em sẽ tránh mặt. Hãy nghe lời em. Bây giờ không thể được. Có thể sau này cũng vậy. Chỉ cần thỉnh thoảng nghe anh nói qua điện thoại cũng đủ hạnh phúc cho em lắm. Quay về đi anh.
 
Hải Đường không nghe tiếng anh nói mà chỉ còn những tiếng thở dài. Anh im lặng, lòng chị nặng trĩu nhưng biết làm sao hơn. Không thể được! Dứt khoát  không thể gặp nhau trong lúc này được. Có thể là mãi mãi về sau này cũng vậy. Hải Đường nghĩ bây giờ chị chẳng  còn gì nữa. Cô bé học trò ngày xưa kiêu sa, xinh đẹp của quá khứ rồi. Tình yêu của chị và anh cũng vậy. Đã qua rất xa và nằm sâu trong ký ức mỗi người. Hãy để cho tình yêu ấy đẹp hơn nữa nếu vẫn là kỷ niệm một thời đã xa. Hải Đường không muốn mất đi mối tình đẹp đẽ đó. Không muốn cho những ngày xa xưa với tình yêu đầu đời tan biến đi sau khi gặp lại nhau. Vì nó là một phần của cuộc đời chị. Hải Đường không muốn gặp anh là vì vậy.
Lâu sau anh thì thầm với chị:
– Vậy thôi! Em đã cương quyết, anh không muốn em không vui, khó xử. Anh sẽ đợi.
Hải Đường im lặng.
– Nhưng em hãy biết rằng mấy chục năm qua chưa bao giờ anh quên được em. Hình bóng em vẫn nằm mãi trong tim anh. Sau này có dịp anh sẽ kể cho em nghe anh đã đi tìm em như thế nào trong suốt thời gian ấy. Nhất là cái ngày anh vào tìm em sau khi em về làm vợ anh Thọ. Thôi, anh chúc em mạnh khỏe. Một ngày gần đây anh sẽ gọi lại cho em.
– Em xin lỗi anh.
– Em không có lỗi gì hết.  Anh cũng vậy. Tất cả đều là định mệnh.Trước khi vào đây anh nghĩ em sẽ vui. Anh sẽ được em mừng rỡ đón tiếp. Nhưng không phải vậy, đó cũng là lý do vì sao bao nhiêu năm anh không dám gặp lại em. Anh sợ em từ chối. Anh sợ cái nhìn lạnh lùng, xa lạ của em. Vì trong anh luôn có một ý nghĩ, từ ngày anh bỏ ra đi. Anh chẳng là gì của em. Thôi vậy cũng được. Chiều nay anh sẽ quay về.
-Em xin lỗi!
Nước mắt Hải Đường ràn rụa trên má. Anh dừng lại một lúc lâu vẫn chưa chịu tắt máy điện thoại.
-Em này! Có thật sự em không muốn gặp anh?
Hải Đường ngập ngừng:
– Dạ…không!
– Không…là sao em.
– Dạ… muốn!
– Anh nhớ em. Sẽ chờ em cho anh cơ hội. Thôi, anh tắt máy đây.  Khi nào anh có thể gọi lại cho em được?
Nghe giọng anh buồn mà lòng tôi hiu hắt:
– Lúc nào cũng được. Thuận tiện thì anh gọi.
– Anh mong em luôn vui vẻ và khỏe mạnh. Mong mọi an lành cho em.
– Em cũng mong anh như vậy. Nhớ giữ gìn sức khỏe.
Hải Đường cúp máy và lau nhanh những giọt nước mắt còn lại trên má.

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

THÔI THÌ…

vudinhhuy

Thôi thì
nương náu vào em
Bại tướng ngã ngựa
phải hèn chứ sao
Cúi đầu
tạ lỗi trời cao
Ngoảnh nhìn lần cuối
vẫy chào nhân gian
Em ngồi yên nhé
hồng nhan
Ta xin kẻ lại
đôi hàng mi ngoan
Ô hay
tội lỗi nhân gian
Chúa cõng Thập tự
em mang qua cầu
Mắt em
là đáy bể dâu
Rưng rưng bại tướng
kẻ mầu
rưng
rưng.

VŨ ĐÌNH HUY

Những buổi chiều bình yên ấy

daothithanhtuyen

Trước đó là quãng thời gian đầy sóng gió với gia đình chúng tôi (tôi, Khang và Nhím), đặc biệt là Khang, anh phải gồng toàn bộ gánh nặng gia đình khi ấy. Thế nhưng với tôi, không thể có khoảng thời gian và không gian nào êm đềm hơn thế trong cuộc đời của mình.
Mùa hè năm đó Nhím chuẩn bị vào lớp 9. Chúng tôi dọn về Th. sau khi Khang vấp một cú lừa, gần như trắng tay trong một phi vụ làm ăn, không dính vào vòng lao lý là may! Tôi, cách đó không lâu, một ngày, chợt phát hiện mình không còn khả năng làm mẹ vĩnh viễn bởi một khối u hiện hữu trong cơ thể có nguy cơ chuyển thành K. nếu không phẫu thuật sớm.
Tôi suy sụp nhìn Khang đầu bù tóc rối, ánh mắt vô hồn. Bé Nhím nhìn ba mẹ và mím môi xếp sách vở vào thùng, lấy băng keo dán kín, chờ đợi một chuyến chuyển nhà, quyết không rơi một giọt nước mắt và không bước chân ra khỏi nhà dù bạn bè nó suốt ngày gọi điện thoại rủ đi đâu đó để chia tay.
Đêm trước ngày phẫu thuật, tôi chỉ nói với Khang một câu rằng biết đâu tôi không qua khỏi và Khang hãy gắng nuôi Nhím đến bờ đến bến, sau đó giữa chúng tôi là khoảng không im lặng đến ghê người. Tôi không hiểu Khang nghĩ gì và tôi biết chắc chắn rằng khi ấy, tôi không quan tâm đến điều đó nhiều lắm. Những suy nghĩ trong đầu tôi bị chẻ vụn, xáo lên, trộn xuống lộn xộn.
Đêm dài như vô tận! Ánh đèn néon cùng với màu tường sơn trắng tạo thành một màu chói lóa. Tôi nhắm mắt. Không nôn nao, không chờ đợi. Phía trước mặt là bức tường chắn ngang, không có con đường đi tiếp nhưng cũng không thể ngoái về phía sau, nơi có những con đường đã đi qua nhiều gập ghềnh, xô lấn; vinh quang cũng có mà đắng cay cũng từng.
Thỉnh thoảng có tiếng chuông điện thoại reo lên và giọng khàn đục của Khang trả lời ai đó, rồi mọi thứ chìm vào yên lặng khiến tôi có cảm giác tiếng máy điều hòa dường như to quá, nó vang lên rồi ong ong trong đầu tôi những âm thanh hỗn tạp không phân biệt là của đường phố, hay tiếng sóng biển, hay tiếng gió mưa gào thét. Rồi bỗng dưng những âm thanh ấy chợt tắt ngúm và tôi như người đang chạy nước rút, bị hụt chân, mất thăng bằng ngã chúi nhủi.
Sau này, Khang nói có lúc anh thấy tôi lim dim, lơ mơ, rồi tôi nói thầm điều gì đó, rồi lại mở to đôi mắt nhìn lên trần nhà không chớp và anh bỗng thấy tôi xa lạ, một người nào rất khác chưa hề một lần quen biết!
Sáng hôm sau, Khang tiễn tôi một đoạn ngắn trong hành lang bệnh viện, tôi không quay đầu lại bởi bước chân và ánh mắt tôi phải bám theo tấm áo blouse trắng trước mặt. Mọi thứ sau đó diễn ra rất nhanh cho đến khi tôi thấy lạnh, rất lạnh, run lên từng cơn, lập cập, tôi lập bập trả lời cô y tá những câu hỏi gì đó rồi chìm vào vô thức cho đến khi những cơn đau dồn dập thúc tôi tỉnh dậy.
Những ngày sau đó, tâm trí tôi chỉ chú mục vào cơn đau và cố gắng làm mọi cách xoa dịu nó. Tôi hoàn toàn không quan tâm Khang làm thế nào để có cho tôi những chén cơm mềm, canh nóng hay Nhím ở nhà ăn gì. Mối quan tâm của tôi lúc đó chỉ là nhịp thở. Tôi tập trung vào nó, hít thở và đếm, và cảm nhận được sự huyền nhiệm của thời gian qua từng giây, từng phút, từng giờ đồng nghĩa với cơn đau lui dần từng chút một cho đến ngày tôi đi đứng bình thường và chúng tôi dọn về Th.
Nơi gọi là nhà chúng tôi khi ấy là một dãy nhà cấp bốn, gồm ba phòng mà Khang ký hợp đồng thuê trong thời hạn mười năm của một trung tâm thể dục thể thao sau khi anh trúng thầu quản lý sân quần vợt cũng từng thời gian ấy. Trung tâm có một nhà thi đấu, câu lạc bộ bóng bàn, quần vợt, võ thuật và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn cho những trận thi đấu cấp thành phố. Khang đem tiện nghi về cho gia đình chúng tôi sao cho mọi người không cảm giác đang ở nhà thuê.
Bé Nhím có một phòng riêng đầy đủ mọi thứ phục vụ học tập và giải trí. Kế đó là phòng tôi và Khang, còn lại một phòng dành cho bạn bè thân thiết đến chơi, ở lại. Phòng nào Khang cũng sửa sang thật đẹp, ấm cúng, anh muốn khách đến với gia đình chúng tôi được thoải mái như ở nhà họ. Khang còn chu đáo mang về hai con chó nhỏ đẹp như hai con chó bông, một con Nhím đặt tên là Lu, một con tôi đặt tên là Rem.
Phía trước nhà có cái sân rộng, Khang mua vài cây lớn về trồng tạo bóng mát, trong đó có một cây sa kê. Anh đặt bên dưới gốc cây một cái xích đu, mấy bộ bàn ghế thấp, thế là có ngay một nơi để anh tiếp khách và phục vụ nước giải khát cho khách chơi thể thao.
Từ vị trí giám đốc một doanh nghiệp, dưới tay có vài chục nhân viên, Khang chấp nhận và vui vẻ lui về làm ông chủ hàng nước, chủ yếu có tiền cho tôi đi chợ, cho Nhím đi học thêm. Việc chính của anh là những cú (mà anh gọi là) “áp-phe” anh có được từ sân quần vợt. Với một người chơi quần vợt giỏi và dễ tạo mối quan hệ thì đây rõ ràng là một thuận lợi.
Phía sau nhà là sân bóng đá, cỏ xanh trải dài ngút mắt, chưa bao giờ tôi đi bộ hết một vòng. Tôi thích ngồi hàng giờ ở đó những buổi chiều thả suy tư mình đi từ miền này đến miền khác của ký ức. Tầm năm rưỡi chiều, nắng vừa tắt, trong khi chờ Nhím đi học thêm về và Khang vẫn còn hào hứng với những pha cắt bóng ở sân quần vợt thì tôi lững thững ra sân cỏ. Lu và Rem lũn cũn chạy theo.
Nơi ấy có sẵn hai cái ghế dài cùng một cái bàn và một cái ghế dựa là những thứ phục vụ cho trận bóng đá còn lại chưa dọn dẹp. Đến tối có người mang tất cả vào nhà và sẽ mang ra vào hôm sau để phục vụ các trận bóng đá khác.
Khi tôi ra sân, lúc nào cũng có một nhóm con nít đi học bóng bàn sớm tranh thủ tạt vào chạy nhảy, hay mang banh vào đá, hay chơi với Lu và Rem. Chúng mê hai con chó đến nỗi có đứa sẵn sàng hi sinh gói bánh snack hay ổ bánh mì thịt để dụ Rem chạy theo chúng lòng vòng trên sân cỏ, có đứa thích thú ngã lăn quay theo Rem và Lu khi chúng đùa giỡn nhau.
Những suy nghĩ của tôi cứ miên man, khi thì theo bước chân chạy nhảy của bọn trẻ, khi thì say sưa với trò vật lộn của Lu và Rem, khi thì dõi theo đường lăn của trái banh quần vợt màu xanh mà bọn trẻ quăng ra để nhử Lu. Tôi kéo hồi ức về tuổi thơ, về tuổi dậy thì, về những ngày trong trường đại học và về Khang.
Ngày tôi đưa Khang về nhà, mẹ tôi, một phụ nữ đơn thân, có cái nhìn hơi kỹ tính về đàn ông nói với tôi rằng Khang có gương mặt hiền, nhưng đôi mắt lại đầy tham vọng. Người như thế không bao giờ bằng lòng với những ngày thật bình yên. Với anh ta, đó chỉ là những năm tháng phí hoài hay để dừng lại chờ một cơ hội khác. Khi ấy tôi không quan tâm nhiều đến lời nhận xét của mẹ bằng cái gật đầu của bà chấp thuận cho chúng tôi có một đám cưới.
Rồi Nhím ra đời, lúc nào cũng cười. Mẹ tôi nói nụ cười của Nhím sẽ giúp chúng tôi làm ăn khá, nhưng liền sau đó bà lại chép miệng bảo đôi mắt của Khang sâu quá, khi tối, khi sáng quá!
Quả đúng vậy, Khang làm ăn lên như diều. Một phân xưởng rồi hai phân xưởng, một miếng đất rồi hai miếng đất… Tôi nghỉ việc, về nhà quản lý sổ sách, lo toan gia đình, đưa đón Nhím đi học…
Nghĩ đến quãng thời gian đó, tôi thường phóng tầm mắt nhìn bao quát hết sân cỏ rộng có tiếng cười giòn tan của lũ trẻ. Có mùi cỏ ướt vừa được tưới nước lẫn với mùi đất và mùi nắng nương theo gió lúc nhạt, lúc nồng. Và gió. Gió mơn man, lúc nhẹ nhàng, lúc suồng sã, khi nồng nàn, khi âu yếm, khi phóng khoáng, lúc bao dung… Tôi hít mãi mùi cỏ ướt, ngắm mãi mặt sân cỏ, tâm trạng không buồn, không vui, chỉ thấy lòng rất thanh thản.
Đến khi chiều dần sụp xuống hết, lũ trẻ lần lượt được ba mẹ đón về nhà, Lu và Rem mỏi mệt, lười biếng, nằm phục dưới chân tôi vụt ngẩng đầu, nghe ngóng rồi phắt nhanh phóng ra phía trước khi có tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím đi học về. Tôi trở về phòng chuẩn bị cơm nước cho ba người. Tham gia một chút với Khang cùng bạn bè ngồi uống bia sau trận đấu, chấm hết một ngày. Những ngày có những buổi chiều rất bình yên.
Hè năm sau đó Nhím thi đậu vào trường chuyên. Khang nghĩ xa hơn là Nhím cần nên đi du học sau này và tôi thấy anh có những buổi tối ngồi ở bộ bàn ghế dưới cây sa kê đốt thuốc liên tục. Tôi chợt nhớ lời mẹ tôi đã ra người thiên cổ rằng đôi mắt Khang khi thì tối quá và lúc thì sáng quá!
Hai năm sau, Khang để lại cho tôi sân quần vợt cùng quán nước, anh trở lại S. nói là cần phải gầy dựng lại những gì đã mất.
Những buổi chiều thật bình yên của tôi thưa dần dù sân bóng vẫn còn bọn trẻ chơi đùa với Lu và Rem và mùi cỏ lúc đậm, lúc nhạt phảng phất đến chỗ tôi ngồi trên cái xích đu. Tôi không còn thì giờ ra ngồi trên cái ghế dài trên sân bóng đá, tôi bận thu tiền, tính giờ và phục vụ nước cho khách.
Nhím đi học thêm nhiều hơn, những bữa cơm của chúng tôi hoặc sớm quá hoặc tối quá. Chúng tôi không còn những sinh hoạt gia đình giống như những gia đình bình thường khác. Thỉnh thoảng Khang về, nếu không làm vài set với bạn bè thì anh lại ngồi rất lâu dưới gốc cây sa kê và hút thuốc. Giữa chúng tôi khi ấy chỉ là những kế hoạch cho Nhím, thỉnh thoảng Khang nhắc đến khoản tiền tích lũy để gia đình có thể trở về những ngày xưa ở S.
Tôi nói với Khang rằng tôi thấy mỏi mệt, tôi thích những ngày thật bình yên có Khang, có Nhím và tôi có cái sân cỏ rộng để thả suy tư của mình trong buổi chiều tắt nắng. Khang nhìn tôi lạ lẫm, trong ánh sáng nhập nhoạng chiều chuyển sang đêm, tôi vẫn cảm nhận được những luồng tối sáng hiện ra trong đôi mắt anh, đó là lần đầu tiên tôi lờ mờ hiểu được những điều mẹ tôi đã dự đoán.
Mọi sự trôi đi như thế…
Ngày có tin Nhím đậu vào đại học y khoa thì tôi là người sau cùng biết tin Khang có người đàn bà khác cùng một đứa bé mới sinh. Nhím hình như không còn biết cười từ ngày ấy. Từ một đứa linh hoạt, vui tính, hồn nhiên, sôi nổi, nó bỗng nhiên trầm xuống và ít nói hẳn đi. Tôi đóng cửa quán nước buổi chiều và trở lại sân cỏ cùng với Lu và Rem giờ đã lớn không còn thích thú gì với những trò chạy nhảy của bọn trẻ ngoài mấy gói bánh snack.
Tôi ngồi mãi cho đến khi bóng tối phủ đầy cùng tiếng muỗi vo ve bên tai và Nhím bước ra ôm vai tôi, hai mẹ con vào nhà ăn cơm rồi tắt đèn đi ngủ sớm. Cả Nhím và tôi đều biết chúng tôi sẽ có những đêm rất dài, triền miên không ngủ được!
Khang trở về ngày tôi chuẩn bị đưa Nhím vào trường. Tôi đưa cho Khang tờ đơn ly hôn đã viết sẵn. Khang sang lại câu lạc bộ cho người khác quản lý khi chưa hết hạn hợp đồng. Tôi làm một con tính trừ, những buổi chiều bình yên của tôi chỉ có được hai năm. Quá ngắn cho một đời người, nhưng có lẽ quá dài cho một người như Khang. Với tôi, tôi không biết mình đã thật sự tận hưởng hết những buổi chiều thật bình yên đó hay không, chỉ biết mọi thứ đã chấm hết, một phần đời ngắn trong một đời dài…
Hai năm sau, Nhím có được học bổng đi học nước ngoài. Tôi quay lại Th. mua một miếng đất ở vùng ngoại ô và cất ngôi nhà nhỏ. Tôi tìm lại dãy nhà ba phòng ngày xưa và vòng ra sân cỏ. Mọi thứ vẫn vậy, sân cỏ vẫn êm đềm và mùi cỏ vẫn lẫn mùi đất cùng mùi nắng, nồng nàn. Hết bọn trẻ này lớn lên có bọn trẻ khác tìm đến câu lạc bộ bóng bàn.
Tôi ngồi lại một chút rồi đứng lên khi thấy lồng ngực mình nặng trĩu và mắt cùng sống mũi thì cay quá! Và đêm ấy, tự dưng tôi bật tiếng khóc thật to trong căn nhà còn nồng mùi sơn mới. Tôi, Khang, Nhím, Lu, Rem và sân cỏ… Những ngày bình yên ấy sao ngắn ngủi đến vậy? Tôi tự hỏi nhiều lần câu ấy cho đến khi thiếp đi trong một giấc ngủ đầy mộng mị…
Ba năm sau, tôi nhận được tin Khang bị ốm nặng khó qua khỏi. Báo tin cho tôi là một người bạn thời đại học. Anh nói với tôi rằng Khang bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Tôi nên đi thăm Khang, nếu không còn tình nghĩa vợ chồng thì cũng là bạn bè những năm trong trường đại học.
Tôi sắp xếp mọi thứ, quay lại S. và ở với Khang ba tuần cuối cùng trong bệnh viện. Người phụ nữ sau này của anh cũng là một người quen biết cũ của chúng tôi. Giữa chúng tôi không còn thù hận, hờn ghen khi Khang nằm đó, gầy gò, dúm dó trong những cơn đau. Tôi nhớ lại những chén cơm mềm, canh nóng quãng thời gian tôi phẫu thuật. Đã trải qua, tôi biết chắc chắn giờ đây Khang chẳng nghĩ gì xa hơn đến việc làm sao dứt khỏi sự đau đớn. Trong mắt Khang, bóng tối phủ đầy, thảng hoặc lóe lên vài luồng ánh sáng rất nhạt và yếu ớt!
Có một lần, duy nhất, Khang tỉnh táo sau giấc ngủ dài không bị cơn đau hành hạ, Khang hỏi tôi Nhím sau này sẽ về hay ở lại? Tôi nói không biết. Giữa ba chúng tôi dường như từ rất lâu đã muôn trùng xa cách rồi!
Tôi điện thoại cho Nhím: ba có thể không qua khỏi, con thu xếp về gặp ba một lần cuối. Nhím chưa sắp xếp được ngày về thì Khang ra đi vào một buổi chiều có nắng vàng thật rực rỡ bên ngoài khung cửa sổ. Một chiếc lá chao nhẹ, rơi xuống, sau đó nhiều chiếc lá thi nhau lìa cành bởi một cơn gió ở đâu đột ngột thốc đến. Vợ Khang gào khóc. Tôi không khóc được như vợ của Khang, hình như nước mắt chảy ngược vào trong đã từ lâu lắm rồi!
Nhín nghẹn ngào với tôi qua điện thoại rằng mấy năm rồi con chưa thấy ba, mẹ thì con vẫn thấy hằng ngày qua webcam… Trước khi chấm dứt, Nhím bỗng nói: “Có bao giờ mẹ nghĩ ngược lại rằng mẹ có lỗi với ba?”.
Tôi không có thì giờ suy nghĩ về điều Nhím nói bởi còn phải phụ với vợ Khang lo cho Khang lần cuối.
Đêm cuối cùng ở S., tôi và vợ Khang có một bữa tối cùng nhau trong một không gian thật yên tĩnh, có tiếng nhạc nhè nhẹ, có bình hoa thật đẹp trên bàn và có cả nến. Vợ Khang nói với tôi những điều tương tự như lời của Nhím. Chị nói chính tôi đã đẩy Khang vào cuộc đời chị.
Những ngày đó, khi mà tôi chìm đắm trong khoảng trời bình yên của riêng mình thì Khang đã rất cô đơn. Ở tuổi 45, Khang còn quá trẻ để cột mình vào những buổi chiều nhàn nhạt ấy. Cuối cùng chị nói tôi chưa bao giờ yêu Khang như Khang đã yêu tôi. Tôi chỉ yêu khoảng trời nhỏ bé mà tôi cho rằng đã rất bình yên đó, và ôm một hi vọng hão huyền là có thể trói người đàn ông nhiều tham vọng, không bình thường bằng những điều tầm thường đến vậy!
Tôi trở về Th. và tìm lại sân cỏ ngày trước. Ngồi trên ghế dài, tôi chợt nhớ vô cùng tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím và tiếng cười to của Khang trên sân quần vợt. Chẳng lẽ đời người không có quyền tìm cho mình chốn bình yên? Ngày xưa có lần mẹ tôi cũng nói nhiệm vụ của tôi là phải đi theo những bóng tối và ánh sáng trong đôi mắt Khang, như Rem và Lu luôn phải nghe ngóng tiếng chuông xe đạp của Nhím.
Tôi ngồi mãi không muốn đứng lên dù bóng tối đã phủ đen sân cỏ và những con muỗi bắt đầu bản nhạc rất khó chịu bên tai khi nhận ra một điều, trong những ngày tôi cho là bình yên đó, cả tôi, Khang và Nhím đều cô đơn! Khang đứng trong bóng tối khao khát về ánh sáng.
Nhím cô đơn trên con đường đi tìm tương lai và tôi, tôi cô đơn bởi (vô tình hay cố ý) không muốn nhận ra ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng để hiểu về người đàn ông có một thời là của tôi giờ vĩnh viễn dừng lại trên con đường đi không dài của đời người.

ĐÀO THỊ THANH TUYỀN

GIẤC NGỦ MÂY VÀNG

huytuong

Nằm nghe giấc ngủ mây vàng
Trôi qua ngày xế, vượt ngàn tử sinh
Thăm nhau trong cuộc vong tình
Ngậm ngùi chim hót như kinh triệu hồn
Trăng cầm lệ xuống càn khôn
Ngàn đêm máu chảy vỡ hồn hoa xưa…

HUY TƯỞNG

Mai Chúa Nhật

tranvanle

Bạn tôi nói quán cà phê đó ngon
Mai Chúa Nhật hai đứa mình tới đó
Bạn tôi già mà giống như đứa nhỏ
Một câu mời hai tiếng “đó” giòn tan!

Bạn tôi làm tôi nhớ thuở Việt Nam
Thời đi dạy học trò vui thiệt
Đứa nhỏ nào tóc trên đầu cũng xanh biếc
Và đầu Thầy tóc cũng …rất là đen!

Bạn tôi nói một câu rất là quen
Bao nhiêu chuyện đã quên, bỗng nhớ
Nhớ ngày vào lính xếp hàng ngồi trên cỏ
Như cái thời mình còn là học trò…

Nhớ những ngày mình mất tự do
Làm cúi mặt, mặc trời mưa hay nắng
Với chế độ biết rằng “không ở đặng”
Sống ngày nào thì hận đến muôn năm!

Bạn tôi gặp đây không phải bạn thân
Quen giữa đuờng mà cuối đời xa xứ
Tôi hỏi bạn tôi: “Tại sao ông không tự tử?”
Bạn tôi cười ruồi: “Tôi cũng giống ông thôi!”

Sáng Thứ Bảy hai đứa tôi cùng ngồi
Ở một quán cà phê có hành lang chật chội
Ai cũng hút thuốc nên hành lang đầy khói
Lòng tôi cũng đầy hư ảo ngày mai…

Mai Chúa Nhật, bạn tôi nhắc lại lần thứ hai:
“Mình đến đó, một quán cà phê nhiều gió
Mặc sức thả hồn cho hoa cho cỏ
Mặc sức ngắm nhìn hoa đỏ hoa vàng…”

Hai đứa tôi chia tay ở parking
Bạn tôi về Irvine, tôi về Los Angeles
Một ngày cuối tuần chấm hết
Trời rất xanh. Nhớ quá quê nhà…

Trần Vấn Lệ

Ở Một Nơi Trên Trường Sơn

tranhoaithu

Suốt cả tuần, trận đánh vẫn chưa ngã ngũ. Hết đơn vị này tiếp đến đơn vị khác bị khựng lại khi tìm cách tiến qua mặc dù trước đó bom pháo dọn đường được trút xuống như mưa thác. Những hang đá chằng chịt và kiên cố ở sườn đồi, nhìn xuống con lộ dẫn vào sâu trong rừng đã khiến những cơn mưa bom, và đạn pháo binh phải chịu thua. Và đơn vị đã phải quay lui. Cuối cùng cấp trên điều động đơn vị chúng tôi đến mặt trận. Họ đã hiểu chiến thuật trận địa chiến phải bó tay trước những tên địch ngoan cố, xâm mình. Không dễ gì phải tấn công một cao điểm khi phải bò lên giữa một triền núi trống trải trước những họng súng đại liên đã chực sẵn. Và chỉ còn cách là dùng chiến thuật dạ kích. Chỉ có cách đó mới may ra làm câm họng những ổ súng tàn bạo. Người lính bây giờ là người lính cảm tử. Trước hết hắn phải cố làm sao để nhận rõ nơi trú ẩn của địch, phải gắng định hướng chổ đặt khẩu súng nặng bằng cách nghe tràng nổ cũng như nhìn tia đạn lửa đến từ đâu, sau đó dùng máy nhắm hồng ngoại tuyến, tìm mọi cách bò đến, lao vào, quăng lựu đạn tiêu diệt.

Đêm nay chúng tôi lại thêm một lần nữa, mặc đồ đen, ngậm dao găm, bọc đầy lựu đạn loại lân tinh. Tổ trưởng còn mang theo ống nhắm hồng ngoại tuyến. Giờ G là 3 giờ sáng. Theo kinh nghiệm chiến trường, khoảng thời gian này là khoảng lý tưởng nhất cho cuộc làm ăn đêm. Bởi lẽ bất cứ thằng lính nào cũng đã thấm mệt hay cũng đang mơ màng giấc ngủ. Và mật lệnh cho chúng tôi là hỏi Thần điểu đáp Kình Ngư.
Dĩ nhiên tôi để trung sĩ Thành làm tổ trưởng tiền sát gồm hạ sĩ Nga, hạ sĩ Y Mông và hạ sĩ Phát. Hắn gan lỳ và dữ tợn. Càng nguy hiểm chừng nào, hắn lại càng say mê, phấn khích chừng nấy.
Tôi xiết chặt tay hắn, và hắn cũng xiết chặt tay tôi như chuyền cho nhau sức mạnh. Hắn thầm thì, giọng ngạt mùi rượu đế: Có gì thì nhờ ông thầy giúp đỡ con vợ tôi. Tôi cảm động đến rưng nước mắt. Tôi biết phải an ủi làm sao để hắn cảm thấy tự tin hơn. Mục tiêu không phải dễ gì thanh toán khi kẻ địch có lợi điểm hơn chúng tôi, và nhất là họ đang cố sức bảo vệ cây súng nặng. Tôi nói nhỏ: Đừng nói bậy không nên…

Tôi dẫn một tiểu đội bò lên hướng trái, và thiếu úy Phương, trung đội trưởng trung đội hai, lãnh một tiểu đội bò lên hướng phải. Toán tiền sát của trung sĩ nhất Thành thì trực diện. Chúng tôi không gặp trở ngại nào khi bò qua bãi đất trống trước khi lên đồi. Chúng tôi phải dồn cục nhau. Hạ sĩ nhất Bảy bò đầu. Tôi bò theo hắn, vừa bò vừa quan sát bằng ống nhắm hồng ngoại tuyến. Trên lưng áo mỗi đứa có dấu hiệu lân tinh rất nhỏ để chúng tôi có thể dễ dàng nhận ra nhau. Qua máy nhắm, tôi có thể nhìn thấy mấy bóng đen của toán tiền sát đang lom khom vừa bò vừa chạy.
Bỗng nhiên, một tiếng nổ long trời lở đất nổi dậy, và sau đó là những tràng đạn tiểu liên, đại liên cắt xé màn đêm. Rõ ràng địch đã phát hiện chúng tôi. Tuy nhiên họ dường như không thể biết chúng tôi ở đâu. Chỉ có kẻ lợi là chúng tôi. Bởi vì chúng tôi có thể biết hang đá nào địch đang trú ẩn. Chúng tôi chỉ việc bò đến và quăng lựu đạn xuống hang đá.
Địch không mạnh như chúng tôi tưởng. Chúng tôi đã dễ dàng làm câm ổ súng nặng ngay đêm hôm ấy. Để đổi lại, trung đội phải chịu thiệt trung sĩ Thành, người hạ sĩ quan gan dạ nhất của đại đội. May mắn, hắn vẫn không chết, dù cả người hắn bị banh tơi tả do từ những trái lựu đạn mà địch đã gài trên lối dẫn đến hang đá. Hắn đã dọn đường cho những người lính cảm tử khác tiến lên để tiêu diệt ổ súng.

Xế trưa, các đơn vị hành quân mới thật sự giải cứu được căn cứ. Những người lính địa phương quân từ những công sự ào ra ôm lấy chúng tôi mà mừng tủi. Họ như những người tiền sử, tóc râu che phủ cả mặt, chừa lộ đôi mắt trũng sâu. Họ xin chúng tôi lương khô và nước. Họ vồ chụp từng bao gạo sấy. Có người đi không vững. Có người vừa hút thuốc chúng tôi mời vừa kể lại chuyện chiến trường. Tôi không thể hiểu sức mạnh nào đã khiến họ đứng vững giữa trùng vây như thế, trong khi bộ binh chúng tôi phải khó khăn lắm mới chiếm được mục tiêu mặc dù được phi pháo yểm trợ

Thiếu úy Phương lại thêm một lần bất mãn. Và tôi là nạn nhân để hắn trút cơn phẫn nộ:
– Mày thấy họ đáng thương hay không. Nỗi hy sinh của đám địa phương quân này quả là quá sức tưởng tượng, nhưng bắt họ hy sinh như vậy để làm gì. Bắt họ đóng đồn, đóng bót đêm ngày, rồi đến khi địch tấn công, bắt họ tử thủ để làm gì. Ngày trước thời Mỹ còn tiếp trợ ào ào, thì không nói gì, vì khi địch tấn công, chúng ta còn có pháo binh, có trực thăng, chiến đấu cơ sẵn sàng tiếp ứng họ. Giờ đây, xin một quả đạn yểm trợ cũng không có. Như vậy bắt họ phải có mặt giữa một nơi hẻo lánh, xung quanh không có lối thoát, để làm gì chứ ?
Tôi hiểu nỗi phẫn nộ của thằng bạn. Vâng, cái chiến thuật chiến lược gì mà kỳ lạ. Cái chiến thuật co cụm lại, không chủ động mà bị động. Ngày thì bung ra, mở đường, và đêm thì dồn vào trong, cùng với những hầm chìm hầm nổi. Để trở thành mồi ngon của địch. Tôi biết vậy, Phương biết vậy, những người lính trong đơn vị này biết vậy, bởi vì chúng tôi đã chứng kiến những cảnh tuyệt vọng của những đồn binh, những căn cứ được lệnh tử thủ mà chúng tôi có dịp đến giải vây.
Không phải địch đánh để mà đánh. Địch còn nhử mồi để viện binh đến, mà chơi thêm một lần nữa. Như lần này.
Nhưng chúng tôi chỉ biết im lặng. Chúng tôi dư biết chúng tôi chỉ là lọai tép riu, lọai chim sơn ca, chim sẻ. Chúng tôi không làm gì hết. Nếu có làm, thì chỉ nhắm mắt tuân lệnh để nhổ những bụi gai chó đẻ, rồi có ngày cũng được phong bốn chữ Tổ quốc ghi ơn mà thôi. Chỉ có thằng Phương mới không im lặng. Vâng, nếu đất nước này có những con người như Hà Thúc Nhơn hay Phương nắm quyền, dám ngủ đất, dám đi đầu, dám hứng cái khổ đau của đồng đội làm cái khổ đau của mình, dám làm một cuộc thay đổi cách mạng, dám để những ông lão làng về vườn, để lớp trẻ có nhiệt tình lên thay, thì đất nước chắc sẽ có cơ may…
Phương lại tiếp tục:
– Nếu địch là ma…
Tôi chọc nó:
– Thì ta là quỉ…Mày gắng vài chục năm nữa lên làm tướng thì tha hồ…
Tôi đã nghe cái điệp khúc : Nếu địch là ma ta là quỉ của hắn biết bao nhiêu lần.
Tội nghiệp cho hắn. Tại sao hắn cứ mãi phẫn nộ, bất mãn ở những điều ngoài tầm tay với. Tại sao hắn không chịu yên phận với cái lon thiếu úy tép riu. Hắn là bạn cùng quê với tôi. Tôi biết hắn có bà mẹ già mòn mỏi, có người yêu xa cách, nhưng thay vì những tình cảm dành cho người thân, hắn cứ dành cho đất nước, cho quân đội. Hắn muốn làm một cuộc cách mạng, và cứ ước mơ có quyền hành.
“Địch là ma, thì ta là quỉ”. Rõ ràng, hắn đã mang cái kinh nghiệm của đơn vị chúng tôi để chứng tỏ muốn thắng kẻ thù thì phải áp dụng lối đánh của kẻ thù. Địch đánh ban đêm, thì mình đánh ban đêm. Cứ vũ khí nhẹ, cứ lội bộ băng đồng, cứ ngậm thẻ lao vào cõi tối… Bắt kẻ thù sợ hãi, lo âu thường trực. Đó là lối đánh nhà nghèo. Ngày cho lính về nhà tiếp giúp gia đình vợ con, đêm thì bung ra làm ma là quỉ…
Phương ơi, làm sao tuổi trẻ chúng ta có tiếng nói. Tiếng nói đã bị kẻ khác nhân danh nói hộ rồi.

Giữa lúc ấy tín hiệu bay đến. Nó đến sau khi chúng tôi được tin Mặt Trời sẽ bay đến thị sát chiến trường và gắn huy chương. Cái lệnh được ban từ một trung tâm hành quân nào đó ở rất xa, nghẹn ngào và hối hả xen giữa muôn ngàn âm thanh đàm thoại hổn loạn trong máy khuếch đại, đầy tiếng chửi thề, những lời phẫn uất, những câu hỏi mà không có câu trả lời, những tuyệt vọng nghẹn ngào… Thật sự không ai có thể hiểu. Có lẽ chỉ trừ ông đại đội trưởng. Bởi vì ông bỏ máy ngồi yên như một pho tượng. Đầu bên kia, giọng nói uất nghẹn: Tôi là thiếu úy Minh, sĩ quan trực trung tâm hành quân. Tôi cũng như thẩm quyền, không còn biết ai để xin lệnh nữa. Người ta đã bỏ chạy hết cả rồi. Trong khi ấy ở dưới chân đồi, trên con lộ đã xuất hiện đoàn xe cộ di tản. Tin cho biết Sài Gòn đã ra lệnh bỏ cao nguyên.

Thôi còn gì để mà đánh đấm. Chỉ còn những khẩu súng M16, M60, và lưa thưa những trái lựa đạn còn sót lại. Tôi đợi ông đại đội trưởng để nhận chỉ thị. Chỉ thị gì. Người ta đã bỏ chạy hết cả rồi. Ông nói. Mặt ông đầy những vết xước rịn máu. Sợi dây ba chạc vẫn còn lủng lẳng bi đông nước và khẩu súng colt. Tôi hiểu là lòng ông cũng đứt đoạn. Vợ con ông vẫn còn kẹt ở trong thành phố. Ông họp đại đội còn lại. Trung úy đại đội phó đã tử trận trong một trận đánh cách đây không lâu, nên thiếu úy Hà thay quyền xử lý, trình diện hàng quân trước mặt ông. Giọng nói của thiếu úy Hà như nghẹn trong cổ họng. ” Đại đội tập họp xong, trình diện đại úy.” Rồi anh ôm lấy mặt, nức nở. Ông đại đội trưởng chào tay lại. Cả hàng quân đứng im phăng phắc. Những võng mô mất hết màu sinh khí. Những chiếc mũ rừng chụp lên những đầu tóc rối bù. Những chiếc quần trận mà bụi và đất đã lấy đi hết cả màu xanh, rách toạc lộ cả vải quần lót… Trời đã trở chiều. Nắng còn sót lại làm thắm vàng cả cánh rừng bên cạnh. Ông nói kể từ giờ phút này anh em có quyền ra đi. Trước khi chia tay, xin anh em hãy cùng tôi đứng nghiêm một phút mặc niệm cho những người bạn của chúng ta đã bỏ mình. Rồi ông hô nghiêm, buồn bã. Chúng tôi cùng cúi đầu. Có những giọt nước mắt lăn trên má khô cằn, hóp sâu, bơ phờ của người lính già. Có những giọt lệ vẫn còn long lanh trên tròng con ngươi thất thần, đục lờ vì những đêm ngày căng thẳng trong lòng hỏa ngục. Có giọt lệ chưa kịp lăn, lại thêm những giọt lệ khác trào ra. Có thằng lính trẻ khóc tức tưởi khiến người lính già phải la lên: “Mày làm như con nít lên ba. Làm sao tao gả con gái tao cho mày được”.
Chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy buồn đến độ tê tái, héo úa cả ruột gan như lúc này. Súng vẫn nổ. Tiếng pháo vẫn vang dội ì ầm từ xa… Những cuộn khói vẫn còn bốc lên trên căn cứ. Những người bị thương vẫn rên rĩ. Thiếu úy Phương ngồi ủ rủ bất động, nhìn gì vào trong phía rừng. Hôm nào hắn là con hổ, con hùm, nhưng bây giờ hắn như một con thú tuyệt vọng. Ngoài cái tình đồng đội, tôi và nó còn có tình đồng hương. Tôi biết rõ gia đình hắn. Chỉ còn một người mẹ phía sau. Còn người yêu. Hình như một cô giáo. Ở hắn, là một mẫu người trẻ dấn thân.Tôi không dùng chữ yêu nước ở đây, vì hai chữ này hơi phù phiếm, chỉ từ cửa miệng đầu môi của các vị lãnh tụ hay các cơ quan tâm lý chiến. Trái lại, dấn thân còn ý nghĩa gấp trăm ngàn lần. Hắn nguyên là giáo sư, nhưng không thèm về dạy học trở lại. Hắn là nhà thơ nhưng chẳng cần tên tuổi cho dù những bài thơ của hắn quá hay, rất hạp với tuổi trẻ chúng tôi. Sau vụ y sĩ Hà Thúc Nhơn bị giết, tinh thần hắn sa sút thấy rõ. Luôn luôn chửi thề, luôn luôn phẫn nộ. Luôn luôn bày tỏ bi quan thất vọng trước guồng máy quân phiệt. Hắn cứ kể một cơn mơ. Cơn mơ có trong tay quyền hành, chỉnh đốn lại hàng ngũ quân đội, dẹp trừ lính ma lính kiểng, tăng thêm tiền lương cho lính tác chiến, đổi chiến thuật đánh giặc theo kiểu nhà giàu sang kiểu nhà nghèo. Ngày để lính về nhà giúp đỡ. Đêm họp lính lên đường. “Nếu địch là ma, ta là quỉ. Địch nhờ bóng đêm, ta cũng nhờ bóng tối…”
Phương ơi, bây giờ tao mới hiểu thế nào là nỗi bất mãn của mày. Phải, chúng ta không làm được gì. Ngay cả định mệnh của chúng ta cũng bị kẻ khác quyết định nữa mà. Nỗi mất mát này không phải do mày, do tao, do những người lính đang chờ đợi cái lệnh của đại bàng này. Cái mất mát do từ cấp lãnh đạo, cấp ăn trên ngồi trước, dùng câu “kỷ luật là sức mạnh” để bắt thuộc cấp phải phục tùng tuyệt đối. Không cho chúng ta nói. Không cho mày nói. Hễ nói về bất công thì bị chụp mũ vô kỷ luật. Hễ nói về cấp chỉ huy bất tài thí quân thì bị trù bị ải đến khi xác bỏ ở bìa rừng. Hễ nói đến việc cứu nguy đất nước thì bị xem là điên khùng phản loạn như y sĩ Hà thúc Nhơn ngày nào.
Để rồi, dẫn đến nỗi mất mát vô phương cứu chữa như hôm nay.
Trời ơi, mới ngày nào, chừng như tuần trước, chúng tôi còn lái xe díp trở về, tôi còn ghé vào một động giang hồ, còn ngồi bỏ chân trên bàn cà phê nhìn thiên hạ, còn đêm say rượu trở về hậu cứ nhìn mấy thằng lính nhậu thịt nai với rượu đế, để chúng bắt cóc thêm một lần nữa. Bây giờ, thầy trò thi nhau mà chạy. Tướng cũng cuốn cờ, mà quân cũng cuốn vó. Lúc này là lúc tôi muốn bỏ tất cả. Tôi đã không còn đủ sức để gánh thêm cái trách nhiệm này nữa. Tội này ai gây nên. Lịch sử này ai gánh chịu. Những người lính của tôi, họ ít học, người gốc nông dân, người gốc Thượng, gốc Nùng, người bị bắt đi quân dịch, họ đâu có tội gì để gánh cái khối đá tảng của lịch sử. Những người có trách nhiệm bây giờ ở đâu, sao máy thì bặt tăm không một lời thăm hỏi. Hay họ đã chạy trốn rồi.
Chúng tôi bây giờ chẳng khác đám con lạc bầy. Rừng ơi núi ơi, phía xa, thấy những ngọn núi chìm ẩn trong mây và sương.
Những người lính Thượng thì xì xào với nhau sau đó họ tách rời chúng tôi. Đông, người lính truyền tin rất hiểu tiếng Thượng cho tôi biết là họ muốn trở lại buôn bản của họ. Đông, Tròn đòi theo tôi và Phương. Theo để làm gì. Đi đâu. Về đâu. Giữa khu rừng già bao bọc bởi những tai ách này.
Chính lúc này, chúng tôi mới hiểu thế nào là tình đồng đội. Nó không dễ gì cảm nhận nếu thật sự ta không trải qua những giờ phút nhục nhằn gian khổ bên nhau. Đừng nói đến tình đồng đội tình chiến hữu nếu ngài cứ ngồi chiếu trên, xem lính là nô lệ, chưa bao giờ biết thế nào là nỗi mất mát, nỗi căm hờn, thù hận, đau thương khi một người bạn bỏ chúng ta đi xa… Tình đồng đội đã bắt những người lính thấp nhất như Đông, Tròn vẫn còn theo chúng tôi, trong khi họ có thể tự lo liệu, hay bỏ đơn vị ra hàng phe địch.
Thôi thì nhắm mắt mà đi. Cần gì địa bàn để tìm hướng. Về phương đông, hay về phương tây, thì cũng vậy. Hai chân đã mỏi nhừ. Cổ họng khô đắng. Thuốc lá cũng hết. Đông cố lục trong túi quần, túi áo mới tìm được bao thuốc bẹp dí. Thầy trò chia nhau điếu thuốc quân tiếp vụ. Tròn đi trước dẫn đường. Có lẽ phải đi cả đêm để ngày mai còn phải lẩn tránh những đôi mắt phe địch. Gai nhọn đan nhau, những mũi gai như móc câu, móc vào da thịt Cả rừng vang động tiếng chim và tiếng kêu khỉ vượn. Nhớ lại những lần nhảy toán xuống rừng, đi tìm dấu địch, dù nguy hiểm nhưng cũng an tâm, vì mình biết chắc sau mình có trực thăng tới bốc, có những điểm hẹn để trở về. Bây giờ thì trái lại, không máy liên lạc, không trái khói để làm dấu hiệu cho trực thăng… Chỉ có những bước giày thất thểu lo âu. Kẻ đi trước nín thở. Kẻ đi sau nín thở. Càng lúc rừng càng đen tối hơn. Những tàn cây cổ thụ che cả những vì sao lấp lánh trên cao. Cả bọn dìu dắt nhau mà đi. Nhắm mắt đi bừa.
oOo
Ngày thứ ba chúng tôi mới thoát khỏi khu rừng già. Trước mặt chúng tôi là những rẫy bắp và xa hơn thấp thoáng những ngôi nhà tranh và nhà sàn. Chúng tôi không biết xóm Kinh hay một buôn Thượng hay là một mật khu của phe Bắc. Nhưng dù sao, những rẫy bắp kia là ân sủng sau mấy ngày đói khát trong rừng. Chúng tôi bò vào. Thì giữa lúc đó một bà lão xuất hiện. Bà há hốc mồm bên cạnh bó củi khô. Bà có mặt lúc nào chúng tôi không hề hay biết. Đông nói với tôi. Chết rồi ông thầy. Mình bị phác giác rồi. Rồi nó thì thào: Phải làm bà ta ngậm miệng. Rồi nó nhào tới, chụp lấy chiếc rựa từ bà lão. Nhưng thiếu úy Phương kịp thời ngăn lại, không cho. Hắn gằn từng tiếng: “Đừng. Tao cấm mày đừng. Hãy trói bả lại rồi nhét vải vào mồm bả.” Bà lão rên rỉ: “Lạy các ông tha mạng cho tôi. Tôi là dân vô tội mà.” Đông chồm tới giựt áo bà rồi xé. Hắn nhét vải vào miệng bà ta. Bà ú ớ, kêu oan. Rồi chúng tôi dùng áo bà ta để làm dây, trói hai tay bà lại. Sau đó chúng tôi vào trong ruộng bắp và thi nhau hái.
Lúc ấy là vào khoảng 4 giờ chiều. Chúng tôi lại tìm hướng khác mà đi. Vừa đi vừa chạy. Trời ơi, chúng tôi là dân thám kích nhưng lại không nhớ gì đến bài học của thằng lính thám kích. Chúng tôi vì quá sợ nên quên cả việc phi tang những dấu chân còn in lại trên con đường bùn đất nhão nhẹt do từ trận mưa lớn đêm qua. Kết quả là chỉ một ít lâu sau, chúng tôi nghe vang rền tiếng chân người rầm rập lẫn tiếng nói càng lúc càng gần. Có lẽ là du kích hay là bộ đội địa phương vì tôi chỉ nghe giọng Nam Ngãi. Tiếng nói càng lúc càng rõ, như thể từ bốn phía. Tôi biết là nhiều người lắm. Và hình như họ rất quen thuộc với địa thế khu vực. Tôi như kẻ bị dồn vào cuối đường. Hết rồi, đâu là nhà, đâu là chỗ trở về, đi đâu bây giờ. Tiếng hét hò dọa dẩm càng lúc càng kinh động của đám thợ săn người. Rồi tiếng la rất gần:
“Đầu thì sống, chống thì chết.”
Thôi rồi. Không còn gì nữa. Súng không có. Lựu đạn không có. Còn gì nữa mà không đứng im, giơ hai tay lên trời.
“Hãy nghe lệnh chúng tôi. Bước ra chỗ bãi đất trống. Hai tay giơ lên đầu!”
Chúng tôi làm theo.
Một tên bộ đội nhìn thấy cái hoa mai đen thêu trên cổ áo của tôi và Phương, la lên mừng rỡ: Hai tên này là sĩ quan ngụy, và nó chĩa mũi súng vào màng tang tôi. Tôi nhắm mắt chờ đợi. Tôi bình thản chờ đợi. Hình như con người trong nỗi tuyệt vọng quá sức ê chề thì cõi lòng đâm tê điếng, dửng dưng. Nhưng rõ ràng, một thằng lính khác đã chụp lấy tay thằng cầm súng rồi ngăn lại: “Đồng chí đừng bắn nó phí đạn. Hãy giao nó cho nhân dân xử.”
Bây giờ nhớ lại tôi càng tin ở luật nhân quả. Chúng tôi đã tha mạng bà lão thì cũng có kẻ khác tha mạng cho chúng tôi. Và trong chốn sâu thẳm của con tim, vẫn còn có một hơi ấm của tình người. Có phải vậy không ?
Sau đó họ giải chúng tôi về nhà làng. Dân làng gồm bà lão, con nít, cả đàn bà bồng con đổ xô ra, nhìn chúng tôi như những ác thú. Có lẽ lần đầu tiên họ mới thấy những người lính Nam quân. Họ rủa thậm tệ chúng tôi: Bọn ngụy ăn thịt người, bọn ngụy uống máu người. Vẫn là những lời rập khuôn từ Nam ra Bắc, từ con nít đến người lớn… Ai đã gây cho họ những nỗi căm thù ghê gớm như thế này. Ai đã đầu độc cả tâm hồn trẻ thơ trong trắng bằng những độc tố ác nhơn ác đức như thế này. Nhìn họ, những người đàn bà chân đất, những đứa con nít trần truồng mới hiểu là cuộc đời của họ cũng tăm tối chẳng khác cái bóng tối của khu rừng già… Nên thương họ hay ghét họ ?
Nên thương hay ghét họ, dù họ ném đá vào chúng tôi. Dù bà lão mà chúng tôi đã tha mạng, là kẻ hùng hổ hơn ai hết. Bà ta còn nói thêm. “Chúng nó còn muốn hiếp tao nữa. Chúng cởi cả áo tao. Đúng là quân trẻ nít không tha, bà lão không từ.” Thật sự chúng tôi đã xé áo bà để làm vải nhét vào miệng bà. Thôi thì chấp nhận. Cả người tôi bị bầm dập bởi những đòn thù, bởi những hòn đá liệng tới. Miệng mũi tôi chảy máu. Bên tôi là Tròn, Đông, Phương. Mắt họ sưng vù. Những vệt máu còn đọng trên môi. Ôi, Việt Nam ơi, hãnh diện được làm người Việt Nam của Rồng Tiên Lạc Việt. Chỉ có Việt Nam mới mổ mật mổ tim, moi gan, uống máu. Chỉ có Việt Nam mới nhìn nhau bằng những con mắt chó sói, cọp beo… Chỉ có Việt Nam, mới tru tréo căm hờn, mỗi thằng trẻ bị đè ra cho một bản án tử hình khiếm diện. Sao mà đến thế kỷ 20 này, giữa lúc loài người đang nhìn lên cao, phía mặt trăng mà khám phá rằng, chị Hằng chỉ là huyền thoại, thì ở nơi này, người ta chỉ thấy máu và máu…
Bây giờ bóng đêm đã rủ xuống. Những ngọn đuốc đã được đốt lên. Và tôi nghe tiếng radio phát lớn từ ngôi nhà làng. Những tin tức về một miền Nam đang hấp hối. Các tỉnh và thành phố đã lần lượt bị thất thủ. Trong đêm, tiếng nhạc, tiếng hát ăn mừng từ chiếc loa bắt ở nhà làng, vang dội. Quả thật vậy sao? Rõ ràng thằng Đông đang kêu rên vì vết thương. Cả mặt bị nó bị bầm. Tội nghiệp, nó là kẻ bị đánh đập nhiều nhất trong bọn chúng tôi bởi vì con mẹ già kia chỉ tay vào ngày mặt nó rồi nói như hét: “Chính thằng này đã xé áo tao.”. Nó bị hết báng súng dộng, đến những cú đá, thoi, đánh tới tấp. Thoạt đầu nó còn đứng, hai tay che mặt, sau đó, hai đầu gối quị xuống, rồi máu ộc ra cửa miệng. Nhưng nó vẫn nhất quyết không chịu nhận tội: “Các ông giết tôi thì tôi xin chịu, chứ tôi đâu có hãm hiếp bà lão. Bà đáng bà nội tôi mà…” Tôi nhắm mắt lại, không dám nhìn. Sau này, ở tù, tôi đã nghe bao nhiêu lời tự kiểm từ những sĩ quan, và chính cả tôi nữa, để càng hiểu rằng, thường những tấm lòng vĩ đại cao cả đều ở từ những phận đời thấp hèn. Vua chúa lãnh tụ phải cần bầy tôi trung thành, hy sinh nhưng chắc gì vua chúa hay lãnh tụ có thủy chung hay hy sinh cùng bầy tôi của các ngài? Các ông đơn vị trưởng dùng cấp bậc để tạo quyền uy, khí phách, nhưng khi mất cấp bậc, liệu họ có còn khí phách cao ngạo bất khuất như xưa?
Trời ơi, từ lâu tôi đã nhìn những người lính như Đông là những kẻ thuộc cấp, sinh ra để tuân lệnh. Vị trí của họ là vị trí của một con tốt trong hàng ngũ, trong đám đông. Lưng họ gồng nặng ba lô gạo lương khô và súng đạn. Nhưng bây giờ, họ đã cho tôi nhìn rõ hơn thế nữa. Ai hy sinh nhiều hơn họ, ai chung thủy nhiều hơn họ, ai khí phách nhiều hơn họ. Đông ơi, chắc mày đau lắm phải không. Chúng đánh mày như vậy, báng súng AK mà tộng vào ngực như vậy, một tay lực sĩ quyền Anh hạng nặng cũng phải thổ huyết, huống hồ một kẻ nhỏ con như mày. Chắc mày oán thiếu úy Phương và tao vì không để mày giết bà lão. Nhưng mày hãy hiểu con người khác với con thú. Hắn có lương tâm. Lương tâm không thể giết một người vô tội. Nhất là kẻ ấy là một bà già.
Chừng như hả hê với những trận khảo cung, đám bộ đội địa phương bỏ đi, để lại hai thằng nhỏ chừng 13, 14 tuổi canh giữ chúng tôi. Trong đêm triền sơn, tiếng loa phát thanh từ đài Hà Nội nghe rõ mồn một. Những bản nhạc, lời ca ăn mừng tiếp tục không ngưng nghỉ sau những tin chiến thắng dồn dập. Trên sân rộng trước ngôi nhà làng, dân làng tụ tập thắp đèn, thắp đuốc, và người ta hát hò liên hoan. Thỉnh thoảng là những tràng đạn AK tiếp tục bắn lên không trung. Những tia đạn lửa xẹt đỏ ngang dọc giữa màn đêm, như những tia pháo bông.
Hình như đám bộ đội đã quên chúng tôi. Có lẽ họ đã quá say sưa phấn khích ở cuộc chiến thắng quá sức tưởng tượng đang diễn ra từng phút một. Hay cũng vì chúng tôi chỉ là những tù binh tép riu. Hay cũng vì họ bắt quá nhiều tù binh, không ai canh giữ. Chỉ có chúng tôi, với những quả tim tan nát. Chỉ có chúng tôi nhìn lẫn nhau trong bóng tối. Những trận đòn bây giờ mới thật sự thấm vào tận xương tủy. Răng buốt nhức vô cùng tận. Có lẽ một chiếc răng bị gãy cũng nên. Tôi lại khát. Tôi kêu thằng canh, xin miếng nước. Thằng bé nhìn bạn. Hai đứa xầm xì gì đó, rồi một đứa bỏ đi. Thằng còn lại nói lớn: “Tội của các ông mà còn xin được uống nước à? Cho các ông uống nước để rồi các ông đi hãm hiếp bà lão, có phải không. Lần này, chúng tôi cho các ông ân huệ đó, các ông nghe rõ không ?”
Đông nhìn tôi, lắc đầu, tỏ ý bất mãn. Tôi thấy thẹn với người lính của mình. Trời ơi, cái đau của kẻ thua cuộc, là cái tủi nhục. Hết lớn rồi bây giờ đến thằng thiếu niên mà khẩu súng còn cao hơn người nó. Càng nhục mình mới càng cảm thấy mình quá hèn. Hèn. Mình không thể hèn như vậy. Đông ơi, dù khát bỏng cổ họng, tao cũng không thể hèn như vậy đâu.

Cuối cùng, tôi và Phương được giải vào một trại giam giữa rừng già. Trại nguyên là một căn cứ của lực lượng đặc biệt. Suốt ngày, qua cái loa phát thanh, chúng tôi đều nghe những tin tức về một miền Nam trong những ngày hấp hối. Cuộc chiến trước sau cũng phải chấm dứt, nhưng cái kết thúc kiểu này, quả là một vết ô nhục khó có thể quên. Nó là hậu quả của một quyết định điên rồ. Trong trại tù, tôi có dịp chung đụng với một vài vị sĩ quan cấp cao để biết rõ hơn về nỗi ô nhục này. Tất cả bắt nguồn từ cái lệnh. Và tất cả vì nhắm mắt tuân lệnh. Thi hành trước khiếu nại sau . Không được cãi.
Nói cũng bằng thừa. Những vỏ cây rừng cũng không đủ để viết lên lòng thống hận. Nhiều khi vào buổi trưa trong rừng khổ sai, nghe tiếng chim kêu hoảng hốt, mà lòng đau nhói tận tim can. Rừng ơi. Gốc thân sao quá lớn để vai ta phải chịu như chịu khối đá tảng. Sao cứ ương ngạnh nằm lì. Chỉ tội nghiệp những ông sĩ quan già. Những ông cấp tá, một thời lẫy lừng, nay lưng còng, mắt sâu, đứng nhìn những thân cây đổ xuống. Tội nghiệp cho họ. Họ chưa được huấn luyện để trả cái nợ nhọc nhằn. Bởi vậy, có người bỏ cuộc trước. Gỗ hòm là những miếng ván tạp lấy từ căn cứ, và huyệt không thể đào sâu vì đất đá… Tội nghiệp, người vợ ông sĩ quan Thượng gốc Rhadé, lặn lội thăm chồng, nhưng chồng bà đã mất sau một cơn bạo bệnh. Tiếng khóc trở thành tiếng tru. Như tiếng tru của loài thú bị thắt cổ.
Ôi, khi người ta quá đau khổ, quá tuyệt vọng, khi nỗi đau đã quá sức chịu đựng thì tiếng khóc không còn là tiếng khóc thường tình nữa. Nó trở thành một âm thanh điên loạn, khủng khiếp, khiến người nghe phải đau nhói cả buồng tim.

Năm 1976 thì Phương và một người hạ sĩ quan người Thượng nguyên thuộc binh chủng Biệt Động quân đã trốn trại.
Sự việc này không làm tôi ngạc nhiên. Tôi đã linh cảm được điều này. Vì có lần hắn tâm sự với tôi trong lúc lao động chung, như lời trối trăn:
“Mày đừng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó, nghe tin tao rời bỏ nơi này. Người ta bảo trong rừng mà nghe mùi trầm hương là gặp may. Tao đã nghe rồi.”
Tôi nói, không, tôi van lơn thì đúng hơn: “Mày nghĩ là có thể thoát được hay sao ? Mày nhớ lại có bao nhiêu người đã trốn, bị bắt lại và đã bị bắn. Mày đừng điên rồ. Nhớ là mày vẫn còn mẹ của mày, em của mày. Họ chờ mày.”
Nhưng hắn vẫn bỏ đi.

II
Cuối cùng, tôi cũng được thả sau bảy năm xa cách. Một thiếu úy với bảy năm khổ sai trong khi với cấp bậc tôi, đa số là ba năm! Hai chữ thám kích đã làm cho tôi trở thành một kẻ có rất nhiều nợ máu với nhân dân!
Bảy năm. Từ trại này qua trại nọ, vẫn những ngày đổ mồ hôi, và những đêm giấc ngủ đầy những ác mộng. Có khi nửa đêm, mưa rừng gào thét, tôi tỉnh giấc, nghe cả dường như tiếng hú lanh lảnh cũng như tiếng thét Sát Sát văng vẳng ngoài bìa rừng.. .Rừng. Nhớ ơi những câu thơ của Phạm Cao Hoàng đến thuộc lòng:

đất anh ở và rừng anh thở
sáng anh đi chiều lại trở về
rừng vi vút những đêm gió thổi
bóng anh chìm với bóng hư vô
đôi khi đứng bên triền đá dựng
anh hoang mang sợ núi đè mình
có khi thấy con chồn con cáo
anh giật lùi lòng thoáng hãi kinh
anh đi qua rừng cao quá đỗi
anh đi về rừng quá đỗi cao
anh thu mình như con sâu nhỏ
nằm rung rinh giữa đám lá rì rào
và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ
núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu
núi ngó anh và anh ngó núi
núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu
đất anh ở và rừng anh thở
qúa lâu ngày nên thấy hoang mang
anh sống dở và anh chết dở
giữa núi rừng cao ngất ngàn năm

Anh sống dở và anh chết dở. Bảy năm như vậy, vậy cuối cùng cũng đã trả nợ xong.
Ngày trở về, đến thăm mẹ Phương, thấy Trang, cô em gái của Phương trong bộ quần áo cũ, bạc màu lòng tôi xót xa vô bờ. Ngày ấy, trước 1975, mỗi lần tôi về phép thăm em, em liếng thoắng, em vòi vĩnh. Rồi em lên 16, tôi về phép, em bắt đầu e thẹn, tôi tặng em chiếc còng bạc, chiếc lược ngà voi, chiếc áo đen viền sọc vàng của người thiếu nữ Thượng . Rồi em 17, tôi không trở về, đón Tết trên đỉnh đồi máu. Rồi em bây giờ em 25, tôi trở về đây, thưa bác, thưa em. Anh trở về mà tấm áo của kẻ bị phóng tích chưa rũ hết những nhục nhằn, nhưng tấm áo của em, thì đau xót gấp trăm ngàn lần hơn thế nữa.
Mẹ Phương ôm tôi òa khóc nức nở. Tôi cố nén, nhưng nước mắt cũng phải lưng tròng. Nói gì để khỏi dối lòng, dối bác. Nói gì để mang niềm tin về một bà mẹ tội nghiệp. Vâng, tôi biết, chính tôi mới mang cho bà nỗi đau khổ mới. Bác nhìn tôi để nhớ đến Phương. Bác thấy tôi trở về để héo úa tim gan vì thằng con trai mất tích.
Trang kể từ ngày anh Phương trốn trại, công an khu vực cứ đến tra hỏi làm khó dễ liên miên. Còn mẹ em càng ngày càng tin đồng bóng, thần linh. Thầy nào, am nào, miếu nào mẹ cũng mang hương đèn đến cầu khẩn.
Trang nói đúng. Khi người ta tuyệt vọng, không còn gì để bấu víu, thì chỉ biết tìm đến những điều siêu hình.
Rồi bác bảo tôi:
-Bác mới nghe có một ông thầy rất giỏi. Việt Kiều về vẫn nhờ ông ấy giúp tìm lại hài cốt của người thân. Bác mong cháu đi cùng với bác, để có thể trả lời khi ông ấy hỏi về thằng Phương. Con giúp bác nghe con….
Tôi trả lời:
-Dạ, cháu sẽ đi với bác. Chiều nay cháu đến để chở bác đến chỗ ấy.

Hai bác cháu chúng tôi được ông thầy tiếp vào một buổi chiều. Ông bắt chúng tôi ngồi trước bàn thờ. Căn phòng tối mờ nồng nặc mùi nhang trầm cùng những hình hay những tượng thần và những hình Bát Quái… Sau khi hỏi mẹ Phương về ngày sinh tháng đẻ tên họ của con bà, ngày Phương bỏ trại đào thoát, ở đâu, nơi nào, ông đã ngồi tịnh một hồi, rồi ông bỗng nhiên oà lên khóc. Chắc Thần linh đã nhập vào ông. Rồi ông hét lên: Ta là Sơn thần cao nguyên trấn, ta không tìm ra hồn ma nào như ngươi cầu xin ta giúp đỡ. Ta chỉ thấy những con thú vật kỳ lạ, nửa người nửa vượn miền Tây vực vất vưởng cứ thỉnh thoảng hú lên những tiếng thật thảm thiết…

III

Bây giờ, sau 10 năm ở nước ngoài, tôi trở về chốn rừng xưa. Tôi trở về không phải là một kẻ du lịch, hay là một người muốn nhìn lại một thời tuổi trẻ khốn khó của mình, mà trở về với một người khác, một nghiên cứu gia về nhân chủng học.
Suốt một ngày chúng tôi mới di chuyển khoảng chừng bốn cây số. Người dẫn đường, từng tự hào một thời là lính trinh sát Bắc Việt, trở nên buồn bã thấy rõ. Nỗi ngậm ngùi đọng trên ánh mắt lời nói, dáng bộ của hắn. Mỗi lần hắn dẫn chúng tôi qua một khu vục đầy hoa dại, thì hắn lại nhắc đến những xác bạn bè và đồng chí cũ. Tôi cũng vậy, không có khác gì hắn đâu. Tôi cũng có những thằng bạn bị bỏ rơi, hay thất lạc, hay bị giết, tại chiến trường này. Chúng tôi trở lại chiến trường xưa, trong lòng mỗi thằng một tâm tư khác nhau, nhưng chung qui, vẫn là nỗi kinh hoàng còn ám ảnh từ một cuộc chiến. Chúng tôi qua đây, mới thấm thía được hai chữ phù du của kiếp người trong chiến tranh. Chiến tranh ở cùng khắp. Ngay tại một nơi heo hút như thế này, nó cũng đã có mặt. Mà sao hoa lại rộ nở cả một vùng mênh mông như thế này. Hoa cúc, hoa quì, một màu vàng rực như tấm thảm vĩ đại. Hay là Thượng đế vì động lòng những người trẻ tuổi chết trong oan nghiệt nên đã tạo riêng một nghĩa địa hoa.

Cuối cùng, chúng tôi cũng đặt chân đến khu rừng mà ông tư lệnh quân đoàn BV Hoàng Minh Thảo đã một lần quả quyết là có sự xuất hiện của người rừng.
Người hướng dẫn chỉ tay về phía Tây, nói: Đây là vùng tam biên, nơi giáp ranh ba nước Việt Kampuchia và Lào. Ở đây, ngày xưa, bộ đội chúng tôi đã dừng lại trước khi xuống miền Quảng Ngãi, hoặc về Kontum, Pleiku. Bề kính trên trăm ki lô mét, đầy đường mòn, và những hố bom do B52 trải thảm trước năm 1973. Phía ông tư lệnh nói là phía sâu vào nội địa Lào… Bởi vậy, xin các ngài hãy cẩn thận khi bước đi. Tuyệt đối tránh đụng chạm đến những vật bằng thép, có thể là những ngòi nổ chậm còn sót…
Tôi dịch lại tiếng Anh cho tiến sĩ Mano và tiến sĩ Kenny. Rồi chúng tôi cùng nhìn về hướng người dẫn đường chỉ. Lâu lắm rồi, tôi mới có dịp thấy lại những cánh rừng già bạt ngàn như thế. Cả một màu xanh thẫm, mờ nhạt in trên nền trời mây xám đục, che khuất cả một đường chân trời. Lâu lắm tôi mới bắt gặp những ngọn núi chạm trời, mây trắng như những đàn cừu trở về chuồng, chạm mình trên những đỉnh cao như đụng phải trời. Lâu lắm, tôi mới trở lại một nơi mà ngày xưa, tôi đã từng có mặt cùng bao nhiêu âu lo, kinh hãi. Nhìn thấy nó êm ả, tịch lặng như thế, nhưng thật sự không phải như vậy. Những cây cổ thụ thuộc loại quí hiếm như sao, trắc bá, mun, cẩm lai… cao ngất, thân to bằng cả hai người ôm không xuể, những sợi dây leo chằng chịt rũ xuống, hay bò trên đất như những con trăn u thịt, những đụn gò mối, những tiếng chim kêu thảng thốt vang dậy, những con suối đen ngòm, do từ rong rêu hay lá mục lâu ngày, mà khi lội qua, chúng tôi phải run lên cầm cập, không hiểu vì muỗi rừng, hay vì nước thiếu ánh mặt trời, chất chứa bao nhiêu âm khí độc địa như từ thiên cổ, hay những rừng lá thấp, che khuất cả đất đá không thấy một vết chân người. Lạc vào trong đó, khó mà tìm thấy hướng. Những tàn lá cổ thụ chất chồng nhau, xếp trên xếp dưới, che cả tầm mắt, có khoảng ánh sáng không thể xuyên, như thể chìm ngập trong bóng tối. Ngoài ra, sương mù che phủ dầy dặc. Người ta muốn nhìn hướng phải trèo lên chóp cây, cao đến mấy mươi thước. Thân cây mọc lên san sát, bên những bụi gai um tùm, những sợi dây leo chằng chịt cùng những hốc đá âm u, như toát ra một vẻ thần linh đến lạnh mình. Đó là nơi mà ngày xưa người ta thả chúng tôi xuống, rình mò, để lấy những tin tức từ các đơn vị mới xâm nhập. Chúng tôi phải tự đối phó trong cô đơn. Chúng tôi chỉ biết trông cậy vào địa bàn hay máy truyền tin liên lạc. Qua ống nhòm tôi không thể nhận ra một khoảng nào trống trải, hay thưa thớt để gọi là rừng non, rừng thưa, hay rừng cỏ tranh. Trái lại, chỉ là những cánh rừng già nguyên sơ tiếp nhau như trải dài bất tận. Ở đó máy bay khó lòng nhìn thấy những gì phía dưới màu xanh bạt trùng bất tận.
Tôi hỏi người dẫn đường:
– Anh có bao giờ đến đấy chưa.
– Thưa ngài, chưa. Theo tôi biết, không ai dám vào những khu rừng đấy cả.
– Tại sao?
– Tôi đã nói mà. Chính đại tướng Hoàng Minh Thảo của chúng tôi cũng đã từng đề cập vào năm 1974 mà.
– Tại vì có người rừng, phải không ?
– Vâng. Chúng tôi sợ họ thật sự. Bộ đội chúng tôi đồn nhau, họ là thần linh, họ có mặt cả ngàn năm, không ai có thể tiêu diệt họ được.
– Bộ đội các anh lại tin thần linh sao ?
– Tại sao lại không? Trong chiến tranh, người ta chết nhiều quá. Cả rừng đầy ngập oan hồn. Ngài thấy không, cái bãi trống đầy hoa dại vàng rực kia, trước đây là cả một bãi mồ. Chúng tôi nhớ có những lần phải đạp trên những lối lót đầy xương người mà đi. Còn nữa…
Giọng nói của hắn ràn rụa xúc động:
– Còn những toán thám báo biệt kích của ngụy lúc nào cũng có mặt bên chúng tôi không rời. Mỗi khi chúng phát giác chúng tôi, chúng kêu pháo đài bay B52 bay đến trải thảm. Có khi cả tiểu đoàn không còn một người sống sót.
– Thì đổi lại, các ông cũng đuổi Mỹ cút ngụy nhào.
Tôi trả lời, chua chát. Nhưng tôi hiểu tôi hơi tàn nhẫn. Đáng lẽ tôi sẽ không nói những lời như thế. Với cương vị một người sinh viên tiến sĩ về nhân chủng học, tôi phải dành mọi nỗ lực để tìm tòi, khảo cứu cho dự án ra trường của tôi. Tôi phải cúi đầu, và có thể nuốt cay đắng nếu hắn vô tình xúc phạm đến hàng ngũ mà một thời tôi đã có mặt. Sự thật, qua lời thú nhận của hắn, hắn cũng như tôi. Chiến tranh như một cơn mộng dữ. Bạn bè hắn cũng như bạn bè tôi, hôm qua đã nằm ở đấy, vô danh, lạnh lẽo…
Tôi lại dịch cho hai ông bạn cùng nhóm. Họ có vẻ ngạc nhiên trước những lời tiết lộ của người hướng dẫn.
Tuy nhiên, họ cũng như tôi đều có một công việc chung phải làm. Không phải số tiền đóng góp của hội viên thuộc Hội Bảo Vệ Người Rừng dùng cho nỗi buồn xương cốt này. Chúng tôi bằng mọi giá phải đến những cánh rừng phía nằm sâu trong vùng đất Lào. Chúng tôi phải có bổn phận tìm kiếm một giống sinh vật quí hiếm nhất còn sót lại trên địa cầu. Đó là Forest people, một họ của Hairy Hominids, được gọi chung là Bigfoot. Liệu giống loại nửa người nửa khỉ đột này còn tồn tại không. Liệu những tài liệu, những bản tin liên quan đến những “người tuyết”, “người vượn”, là sự thật hay không. Từ lâu nay, người ta bàn tán hơi nhiều, thậm chí trên truyền hình, người ta còn đưa ra hình ảnh chụp người rừng, trong những chương trình Unsolved Mistery. Tuy vậy, những cố gắng vẫn không thể chứng minh được sự có mặt của giống loại bigfoot, như lời phát biểu của ông Richard Greenwell, chủ tịch Cơ quan quốc tế khảo sát giống người Rừng:
“Vào những ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, tôi mạnh mẽ tin người Rừngl à có thật sau khi đánh giá và đọc các bản tin tức. Vào những ngày thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy, tôi cho chuyện người Rừng là vô lý. Vào ngày Chủ nhật, tôi nghỉ.”
Bởi vậy, sau khi có tin ở Việt Nam, một giáo sư đại học đã chụp được hình những dấu chân khác thường, giống như bàn chân người, nhưng to lớn hơn, để chứng tỏ rằng có một giống vật tiền sử vẫn còn sót lại trong những rừng già, chúng tôi đã tức tốc xin ngân khoản của cơ quan bảo vệ giống vật hiếm quí trên thế giới, và nhiều tổ chức tư nhân hay tôn giáo để bảo trợ chương trình khảo sát của chúng tôi. Họ rất sốt sắng, thứ nhất, sau khi họ nghe tin ở bên Trung Hoa lục địa, người ta đổ xô đi tìm bắt người rừng để lảnh thưởng. Họ lưu tâm đến sự tuyệt chủng của một chủng loại mà đến bây giờ các nhà khoa học vẫn không thể tìm ra hay xếp hạng người hay vượn.
Và nhóm chúng tôi lên đường cách đây một tuần lễ như thể một cuộc ra quân. Những dụng cụ khoa học hiện đại nhất như máy cảm nhận hơi người, máy chụp hình bằng tia laser, máy quay phim, máy truyền tin, cả trực thăng nếu cần, đều được trang bị. Riêng cá nhân tôi, tôi đã hy sinh bỏ công việc hiện tại, để tình nguyện làm một kẻ thông dịch. Hai tiến sĩ của nhóm, một trưởng đoàn, một phó trưởng đoàn đều là giáo sư đỡ đầu cho luận án ra trường của tôi, dĩ nhiên họ rất vui mừng và khuyến khích tôi không ít. Làm sao họ hiểu được tận cùng bề sâu thẳm của lòng tôi, là tôi không thể để một ngày nào đó, đất nước tôi không còn một cái gì hết. Bây giờ, không phải là thời chiến tranh, nhưng từ rừng xuống biển, tài nguyên quí giá nhất của quốc gia đã càng ngày càng vơi cạn bởi mãnh lực đồng tiền. Lại thêm những tay con buôn Đài Loan, Nhật, Hồng Kông, Tân Gia Ba… đang đứng ngoài cửa, sẵn sàng bỏ tiền ra, để gom góp hết những gì quí giá nhất, hiếm hoi quí giá nhất mà mang về nước.
Bởi vậy, chúng tôi phải góp một tay để bảo vệ giống người tiền sử. Chúng tôi phải báo động lên Liên Hiệp Quốc, cùng các nhà lãnh đạo trên thế giới. Chúng tôi phải thuyết phục họ lập một khu an toàn riêng, chẳng những là tài sản của quốc gia, nhưng còn là tài sản chung của cả nhân loại.
Năm ngày đầu tiên khi đến Việt Nam quả hết sức bận rộn cho chúng tôi. Phải gặp các viên chức trung ương, rồi địa phương, phải trao đổi ý kiến với các nhà khoa học Việt Nam, phải đọc rất nhiều tài liệu liên quan đến người Rừng, phải đi phỏng vấn một số dân thiểu số. Dù vậy, chứng liệu vẫn còn mơ hồ. Bởi khi nói đến Người Rừng, người ta chỉ nói đến những huyền thoại như chuyện ma cổ mà tôi đã từng đọc trong tiểu thuyết của Lan Khai hay Thế Lữ ngày trước. Họ nói đến chuyện một người bị lạc vào rừng, và bị một đàn khỉ đột bắt và con vượn cái – một chúa đầu đàn – bắt làm chồng. Họ nói về những tiếng hú lanh lảnh suốt đêm nghe từ xa lắm, và tiếng cây rung chuyển, lá rụng đầy, dù chẳng có một cơn mưa hay gió bão có mặt trên vùng. Một người lính phục viên cũng nhắc lại, anh đã nghe cả tiếng SÁT trong đêm khi đơn vị anh đóng quân dưới một cánh rừng già. Không phải một mình anh nghe mà nhiều người cũng nghe như anh.
Chỉ có bức hình chụp dấu chân người của một chuyên gia đại học mới là một chứng cớ có thể tin được. Bàn chân quá kích thước của bàn chân người. Những ngón chân in trên nền đất rõ nét, rồi mất hẳn về phía Tây. Chính bức hình này đã khiến chúng tôi phải lặn lội tìm đến, hôm nay.

Đêm ấy chúng tôi đóng trại bên con suối. Nhìn bản đồ, không nhận ra nó, nhưng rõ ràng nó là một chướng ngại cho cuộc hành trình của người muốn qua phía bên phần đất Lào. Nước chảy xiết, vang dội ầm ầm vào vách đá phía xa. Không, đúng ra nó là một ngọn thác. Không biết nó bắt nguồn từ đâu và chấm dứt từ đâu. Chúng tôi phải mang áo ấm, vì gió và sương lạnh. Hai ông tiến sĩ đã lo lắng không ít trước khung cảnh lạ lẫm. Các ông thoa thuốc trừ muỗi đầy mình, lại chụp cả cái mùng trùm đầu. Riêng tôi thì quá quen thuộc với những đêm ngủ bờ ngủ bụi như thế này. Từng là một người lính thám kích, tôi đã trải qua nhiều đêm trong rừng, biết phân biệt thế nào là tiếng động của chân người hay của loài thú, biết chỗ nào an toàn nhất khi muốn dừng chân qua đêm. Chúng tôi phải ôm tim ôm ngực chui rúc trong bụi trong lùm, sợ cả dấu chân của chính mình. Chúng tôi phải tự bảo vệ cho nhau. Chỉ có một điều, là bây giờ, không còn người nữa để ta phải bận tâm. Nếu có là những loài thú rừng như cọp, beo, trăn, rắn… Nhất là cọp. Ở xứ này, cọp có tiếng có bộ da đẹp nhất nhì thế giới. Tuy nhiên, cũng vì có tiếng, nên chúng cũng hầu như tuyệt giống.
Chúng tôi đã đốt lên bếp lửa. Máy nghe tiếng động và cảm nhận hơi người cũng bắt đầu làm việc. Vầng trăng đã nhô lên, tròn vằng vặc. Tiếng nước chảy xiết nghe rõ mồn một. Ánh trăng làm một khúc suối sáng loáng như dát bạc. Lâu lắm rồi, dễ chừng hai mươi lăm năm, tôi mới được dịp ngồi lại chiêm ngưỡng một đêm trong rừng mà không còn phải để trí não căng thẳng tột cùng. Tôi lại nhớ đến người con gái Thượng nào đã tắm chung cùng tôi trong một đêm trăng xa xưa. Cả thân hình của nàng lồ lộ ngực vú. Bây giờ nàng ở đâu. Còn thằng bạn tôi nữa. Không biết Phương có tìm được mùi trầm hương giữa rừng già này không. Tôi thương hắn quá. Cuộc đời hắn đáng lẽ phải ở một chỗ khác. Tôi đốt thuốc và rưng rưng cùng kỷ niệm. Kỷ niệm với bạn bè, đồng đội. Kỷ niệm với rừng núi. Kỷ niệm với tuổi trẻ lao lung. Cũng trái giang, trái măng để làm thức ăn tạm trong ngày hết lương thực. Một thời đó gian khổ lắm… Mà hôm nay tôi trở về, âm thầm giấu tông giấu tích.
Người dẫn đường ngồi bên tôi. Tôi mời hắn điếu thuốc. Tôi lại nghe hắn kể về cuộc vượt Trường Sơn, với những đơn vị bị xóa tên, và nỗi kinh hoàng khi từng đoàn B52 xuất hiện. Những hoài niệm của hắn đầy buồn bã. “Ngày xưa, tôi thấy những bãi hoa rừng như thế, và bây giờ, chúng vẫn như xưa. Có lẽ tươi tốt hơn là đằng khác. Các đồng chí của tôi nằm xuống, yên lặng, tức tưởi như thế đó”… “Thú thật với ngài, lâu lắm tôi không dám ăn loại cá trê. Cứ nghĩ đến cảnh chúng thi nhau rỉa thịt người trong những hố bom…” Hắn còn kể về những người bạn của hắn đào ngũ trong chiến tranh. “Ngài không biết, tôi có một đứa bạn rất thân. Nó đào ngũ sau khi đơn vị bị trúng bom. ”
Người dẫn đường run đôi vai, giọng buồn buồn: “Tôi hiểu là những người B Quay này chỉ còn cách là trốn trong rừng già. Bởi vì họ không bao giờ dám trở lại Bắc. Nếu mà họ bị bắt, hoặc là họ sẽ bị xử tử hay là bị chết rục trong trại cải tạo. Không biết đến bây giờ họ có nghe chiến tranh đã chấm dứt chưa?”
Tôi nghe nỗi buồn mang mang. Thì ra, tuổi trẻ Bắc hay Nam đều có chung một mẫu số: vác cái khối đá tảng oan khiên mà từ những tham vọng, quyền lực, chủ nghĩa, trút xuống .

Khoảng hai giờ sáng tôi tự dưng thức giấc. Tôi không thể ngủ được. Sương bốc lai láng trên mặt suối, hòa lẫn cùng ánh trăng, như làm cả khung cảnh phải chìm ngập trong một giòng sữa bạc. Tiếng dội của thác từ xa, vọng về càng rõ. Hàng đàn muỗi rừng li ti trong ánh trăng kêu vo ve. Vâng, cũng con suối như thế này, tuyệt vời như thế, nên thơ như thế, nhưng, nó chính là giòng nước tai họa, đánh gục chúng tôi khi chúng tôi lội qua. Tôi nhớ đến thằng bạn đã dìu tôi đi, có khi cõng tôi, để cố trở lại điểm hẹn. Tôi nhớ đến thằng Phương…
…Và có lẽ mắt tôi hoa lên rồi. Rõ ràng trước mắt tôi, bên kia bờ suối, một đám dã thú đang hiện mập mờ. Trong sương và trong ánh trăng, chúng như những dã nhân với thân hình đầy lông lá. Tóc phủ dài đến tận lưng. Và râu chúng tua tủa. Có con thật cao lớn như Mỹ. Có con nhỏ và thấp như người Việt Nam bình thường. Mỗi con đều mang khố vải. Loại vải rằn Biệt động quân, hay màu tro xám của phi công hay cả vải màu nylong xanh bộ đội Bắc Việt. Tôi cũng thấy cả bộ đồ đen, lọai đồng phục dành riêng cho binh chủng thám kích chúng tôi khi được tung vào mật khu địch. Chúng đứng sắp hàng như một đội quân tập họp. Sau đó chúng vừa đập loạn xạ vào ngực chúng. Bịch. Bịch. Chúng lại nhảy, lại gào kêu the thé. Lọai âm thanh gì mà tôi không thể phân biệt. Có thể là tiếng người. Hay là tiếng thú. Lẫn lộn nhau.
Tôi hối hả chạy đến lều gọi hai ông tiến sĩ trưởng đoàn và phó trưởng đoàn. Họ cùng chạy ra bờ. Nhưng họ không thấy gì. Chỉ có chăng là một giòng trăng và tiếng ầm ầm của dòng thác từ xa dội về. Chỉ có chăng là những thân đại thụ vươn lên như hàng quân bên kia bờ suối. Họ ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi cố gắng thuyết phục họ, nhưng họ vẫn không tin. Ông Mano ái ngại dùm tôi:
– Xem chừng anh bị bệnh rồi đấy.

Có thật vậy không. Suốt cả nửa tháng, đoàn cũng không thể tìm ra dấu vết người rừng. Đại ngàn này quá thâm sâu, quá man dã, và quá sức bí ẩn, để chúng tôi không thể nghĩ là công trình sẽ được hoàn thành trong một tháng công tác. Ít nhất phải 6 tháng, công trình mới may ra có chút triển vọng.
Bây giờ chúng tôi phải trả lại niềm bí ẩn về lại cho rừng. Và như vậy, những câu hỏi lại tiếp tục như ông chủ tịch Cơ quan quốc tế khảo sát về Người Rừng:
“Vào những ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, tôi mạnh mẽ tin người Rừng là có thật sau khi đánh giá và đọc các bản tin tức. Vào những ngày thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy, tôi cho chuyện người Rừng là vô lý. Vào ngày Chủ nhật, tôi nghỉ.”
oOo
Cách đây không lâu, vào cuối năm 1998, tôi được đọc một bản tin ngắn của hãng AFP được đánh đi từ trong nước. Bản tin cho hay chính quyền Quảng Ngãi mới đây vừa bắt giữ một người Rừng. Ông ta tên là Dương văn En, 60 tuổi, nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 70 Biệt động Quân Biên Phòng. Ông và hai người bạn vượt ngục vào năm 1979. Khi bị bắt, người lính VNCH, gốc Hre, đã không còn gì hết, trừ chiếc khố bằng vãi rằn ri. Các phóng viên diễn tả ông như một người tiền sử nửa người nửa vượn, rất khó khăn khi nói trở lại tiếng mẹ đẻ của mình…
Quả thật vậy không? Nhưng làm sao tôi có thể thuyết phục được hai vị tiến sĩ, giáo sư của tôi về một sự xuất hiện của một chủng loại người rừng mới, chỉ có mặt tại Việt Nam, mà người ta đang nói đến ?

Trần Hoài Thư