NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, BỤI ĐỜI

nuocmattruocconmua

nguyenbatrac

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

LILY
“Cháu đã phải chứng kiến nhiều chuyện xảy ra trong đời”

Tên cháu là Hương, người ta vẫn quen gọi cháu là Lily. Dạ, Lily thôi (chứ không có tên họ gì khác). Cháu mười bảy tuổi. Cháu không rõ ai là cha cháu. Cháu cần phải đi Mỹ. Ở Việt Nam này cháu không được đi học, cháu chỉ đến trường có ba năm rồi phải đi làm.

Ở ngoài phố ngày nào người ta cũng kêu cháu: “Hê lô, Mỹ!” Thấy mặt cháu, người ta biết cha cháu là người Mỹ. Lúc đi học trẻ con trong trường không ưa cháu, chúng cứ bảo: “Mỹ lai không tốt”. Nghe thế cháu buồn lắm.

Cháu nói được tiếng Anh là nhờ tập nghe những người nói tiếng Anh đến đây, nên bây giờ cũng nói được. Cháu làm cho du khách; cháu thông dịch cho họ, đưa họ đi xem thành phố. Cháu muốn đi Mỹ, muốn được đi học, sau này làm họa sĩ. Bây giờ làm sao mà vẽ, cháu phải bận đi làm. Cha cháu ở Mỹ tức là theo đạo Chúa, còn mẹ cháu là người đạo Phật. Cháu muốn vẽ các thứ tranh ảnh đạo giáo, mấy tranh ảnh này làm cháu nghĩ đến những chuyện tốt lành, chứ cháu đã phải chứng kiến nhiều chuyện xấu trong đời rồi. Cháu chịu khổ nhiều rồi nên cháu không muốn nghĩ đến nữa.

Cháu thích nhạc Mỹ. Cháu nghe nhạc Mỹ, nhờ thế cũng học được tiếng Anh.

Chuyện chiến tranh, cháu cũng biết chút ít. Cháu có đọc chuyện ấy, nhưng cháu mong không ai nghĩ xấu cho cha cháu vì chuyện chiến tranh cả. Cháu rất mong có một tấm ảnh cha cháu để nhìn cho biết cha cháu thế nào. Cháu không muốn sống với cha cháu. Cháu chỉ muốn gặp cho biết vì hiện giờ cháu không biết gì về cha cháu cả.

Tương lai, sau này cháu muốn có một vài đứa con. Nhưng cháu mong con cái của cháu đừng phải khổ như số cháu, đừng lâm vào cảnh con không cha.

Sau này cháu sẽ dạy cho con cháu kinh nghiệm đời cháu để hiểu cuộc đời khó khăn mà cố làm cho nên người, đừng lâm vào hoàn cảnh cháu bây giờ.

Không, cháu không có gì vui. Cháu cười đây là vì cháu đang nói chuyện, chứ có gì vui.

Cháu hay nghe bài “We are the World” (Chúng ta là thế giới). Nghe bài này cháu thích lắm. Bài này nói về người trên các nước ca hát, họ chẳng có vấn đề khó khăn gì. Cháu thích mọi người đều được như thế. Nghe người ta hát thích hơn là chiến tranh. Những người sung sướng thường hay ca hát.

 

MỸ LINH

“Cuộc sống khó khăn”

Tên cha tôi là Isaac. Má tôi có cho tôi xem ảnh cha tôi. Bây giờ tôi đã có chồng Việt Nam, sắp có con tôi, như thế ông Isaac sắp làm ông ngoại rồi. Tôi mong có thể báo tin cho cha tôi biết như thế.

Tôi đã học lớp Sáu rồi ở nhà phụ má tôi buôn bán lặt vặt ngoài đường thành phố Hồ chí Minh. Tôi muốn đi Mỹ vì cha tôi ở bên ấy. Tôi muốn học nghề may. Cha tôi có viết thư bằng tiếng Mỹ, kể chuyện nước Mỹ.

Cuộc sống khó khăn lắm. “Tôn giáo” là gì vậy? Không, tôi không có đạo nào.

Tôi hy vọng năm nay được đi Mỹ. Tôi đã xin đi từ năm tám mươi mốt đến giờ nhưng người ta không cho tôi đi.

 

NGUYỄN THỊ DIỆP TRANG, “Ở đây rất khó khăn cho tôi”

Tôi mười chín tuổi. Tôi không được biết gì về cha tôi cả. Cha tôi người Mỹ. Tin tức cha tôi thì không có, nhưng tôi có một tấm ảnh của người bạn cha tôi. Bạn cha tôi là người mối lái cha tôi cho mẹ tôi.

Tôi đã học xong Trung học hồi năm ngoái. Hiện nay tôi đang phụ với mẹ tôi, mẹ tôi làm nghề đở đẻ. Mẹ tôi thường may quần áo cho tôi, nhiều bộ mẹ tôi may giống quần áo Mỹ lắm.

Tôi muốn đi Mỹ vì trông tôi không giống người ở đây, tôi nghĩ tôi giống người Mỹ hơn, sang Mỹ tốt cho tôi hơn. Tôi cũng tự biết khổ người tôi cao lớn hơn các bạn, tôi cảm thấy khác người ta, ở đây khó cho tôi.

Tôi biết được về người Mỹ là nhờ xem hình cha tôi, với lại nhờ các du khách. Tôi cũng có đọc qua báo. Tôi muốn được sang Mỹ đi học Đại học ở bên ấy, để trở thành hóa học gia.

Tôi không biết gì về chiến tranh. Không biết gì cả.

Tôi đoán cha tôi là người cao lớn, vì khổ người tôi cao lớn. Nếu cha tôi biết được tôi ở đây, chắc cha tôi thương tôi lắm. Mẹ tôi bảo hồi xưa cha tôi thương mẹ tôi thật tình. Nhưng họ đứt liên lạc với nhau.

Tôi mong ngày sau có con, tôi sẽ kể chuyện đời tôi, chuyện tôi sang Mỹ như thế nào.

Một ngày kia tôi sẽ lập gia đình, có hai đứa con. Nhưng bây giờ, trước hết tôi mong được sang Mỹ cùng với mẹ tôi và hai đứa em cùng cha khác mẹ của tôi.

 

MINH
“Thằng lai”

Cháu không có tên nào khác, tên cháu là Minh thôi. Cháu mười sáu tuổi. Cháu sống ở Tây Ninh. Cháu chăn bò cho gia đình cháu. Cháu ở với họ từ lúc nhỏ nên cháu gọi họ là chú thím. Rồi cháu lên Saigon, bây giờ cháu làm ở một quán cà phê.

Có người đưa cháu lên Saigon, cũng không biết người ấy là ai. Bây giờ cháu đang ở với một gia đình mở quán cà phê, cháu ăn ở luôn tại đây. Cháu chưa đi học bao giờ. Cháu không biết đọc.

Hồi ở nhà quê người ta đối với cháu không được tử tế. Cháu lai Mỹ, họ gọi cháu bằng đủ thứ tên. Họ gọi cháu là : “thằng lai”. Nhưng ở quán cà phê này người ta đối xử với cháu tử tế hơn.

Cháu không biết gì cha cháu cả. Chẳng hiểu ai là cha mẹ cháu. Cháu chẳng biết gì hết. Cháu nghĩ cháu thương cha mẹ cháu mặc dầu cháu cũng chẳng biết cha mẹ cháu là ai, cha mẹ cháu ở đâu. Tình thương cha mẹ, cháu nghĩ là vẫn ở trong lòng người ta.

Bây giờ cháu cũng mong được đi Mỹ tìm cha. Cháu thấy người ta đi Mỹ, cháu cũng muốn đi. Cháu không biết gì đất Mỹ, chỉ nghe người ta nói chuyện thôi.

Cháu không biết gì chiến tranh cả. Khi sang Mỹ cháu sẽ làm bất cứ nghề gì. Cháu không có đạo. Chẳng biết là gì. Cháu là người Mỹ. Ở đây người ta bảo cháu là người Mỹ, vì thế cháu biết cháu là người Mỹ.

 

VÕ THỊ QUAN YÊN “Cháu biết cháu là người Mỹ”

Cháu mười lăm tuổi. Lúc đầu cháu tưởng mình là người Việt, nhưng rồi cha cháu liên lạc được, nên bây giờ cháu mới biết cháu là người Mỹ. Trước cháu không biết tên cha, bây giờ mới biết. Cháu học đến lớp Bảy rồi nghỉ để bán chuối ngoài đường. Hiện nay cháu ở với chú thím. Chú thím cháu nuôi cháu. Mẹ cháu cũng có liên lạc. Nhưng cháu không thấy gắn bó gì vì mẹ cháu đã bỏ cháu từ năm lên sáu.

Cha cháu muốn cháu sang Mỹ, nên bây giờ cháu muốn sang bên ấy. Cháu muốn được đi học lại. Ở đây khó sống quá. Cháu mong có ngày trở thành bác sĩ như cha cháu. Cha cháu trước là Bác sĩ ở bệnh viện Grall, bệnh viện Pháp ở đây. Cha cháu đi từ hồi 1973. Cháu không biết gì về chuyện chiến tranh. Nhưng có xem chiếu bóng, cháu nghĩ chính phủ Mỹ đối xử không đúng đắn vói người Việt. Họ đã làm nhiều chuyện khủng khiếp cho người Việt Nam.

Cháu sống thời nhỏ bình thường cho đến năm lên sáu. Nhưng bây giờ ở với chú thím, chú thím nghèo nên cháu phải làm việc. Cháu là người Phật giáo vì chú thím đều theo đạo Phật. Nhưng cha cháu là người đạo Chúa, khi sang Mỹ cháu sẽ theo đạo Chúa. Từ lâu lắm cháu chẳng có thể tưởng tượng mặt mũi cha cháu thế nào, đến khi nhận được ảnh thì bây giờ mới biết cháu giống cha.

Ngày nào cháu cũng phải làm việc. Cháu thích đánh banh và đi bơi, nhưng không được vì cháu phải đi làm. Bây giờ cháu rất mong đến ngày gặp cha, cháu hy vọng cuộc sống cháu sẽ khá hơn.

Cháu muốn đi mà rồi cũng buồn vì phải xa chú thím với đứa em cùng mẹ khác cha. Còn mẹ cháu thì chẳng cần, không ăn thua gì đến cháu. Khi sang Mỹ, cháu sẽ đưa chú thím và đứa em gái cùng mẹ khác cha của cháu sang.

 

NGUYỄN NGỌC LINH “Cuộc sống sẽ khá hơn”

Cha mẹ cháu bỏ cháu từ nhỏ. Năm 1972 họ có quay lại tìm, nhưng lúc ấy cháu không muốn đi. Cha cháu tên John Small.

Cha mẹ cháu liên lạc được với cháu rồi là mất Saigon, họ lại liên lạc được lần nữa. Cháu đi học đến lớp Sáu thì nghỉ, không thích đi học nữa. Bây giờ cháu không làm gì. Chỉ ở nhà. Cha mẹ cháu ở Mỹ có gởi tiền sang cho. Cháu không nói được tiếng Mỹ. Khi sang Mỹ cháu sẽ học. Cũng chẳng biết khi đến Mỹ cháu muốn làm gì. Cháu nghĩ có lẽ cháu muốn trở thành cầu thủ bóng đá.

Cháu không biết gì về chiến tranh cả.

Cháu muốn đi Mỹ vì cha mẹ và các anh chị em đều ở bên ấy, có lẽ đi thì sống khá hơn.

BÀI CHO NGƯỜI TRỞ VỀ

maiviet

(Tặng anh chị Lan Mai)

tờ lịch đâu chờ người ở xa
nên mỗi ngày cứ rơi vào quãng vắng
tôi quanh chiếc bóng đời cô quạnh
ngày theo gót ngày se sắt những buồn vui

hơn nửa đời đi qua – hơn một lần nhìn lại
dòng sông trôi chảy mãi mạch nước buồn
và sợi tóc cũng qua mùa ngả bạc
thời gian đâu còn giữ lại một làn hương

nên khi trở về sao người không nói trước
để lòng tôi rung theo tiếng điện thoại ngân dài
và hồi chuông nào réo lên đầy cảm xúc
thoáng ngợp qua hồn một ngọn gió ban mai

ba mươi năm gom lại một ngày
biết bao nỗi niềm chất kín ở trong ta
ngày trở về từ trời tây lạnh giá
biển chợt chiều nay ấm lại nắng quê nhà

chợt buổi chiều nay không chờ mà hội ngộ
cùng niềm vui trên từng khuôn mặt thân quen
ngày tháng nào chợt về trong câu chuyện
có mái trường xưa vừa nghe lại một tiếng ve

có quán hàng nào nhắc tôi cùng kỷ niệm
có buổi chiều nào ngồi cạn hết hoàng hôn
có một Vũng Tàu đêm cùng anh với biển
mà tiếng sóng nào còn vọng mãi ở hồn tôi

có trở về rồi cũng có ra đi
bèo hợp rồi tan, trùng phùng rồi đưa tiễn
mai này người trên đường bay hải ngoại
có trái tim bạn bè gửi đến một bình yên …

MAI VIỆT

(Phan Thiết, tháng 7.2015)

HIÊN NGƯỜI

nguyenlienchau
Gởi Betty Nguyễn

Tội nghiệp
Những giấc mơ tôi
Xám màu thu chia biệt

Tội nghiệp
Những ước mơ tôi
Hoang tưởng loanh quanh những thềm đá lạnh
Sương quê nhà nhểu giọt khóc tha hương

Tội nghiệp
Tình yêu của tôi
Mèo hoang ốm trên mái nhà rêu phủ
Tiếng kêu đêm xé hoác những lời thiêng

Tội nghiệp
Ngày của tôi
Mở mắt ra thấy khép một chân trời
Nhắm mắt lại mở bao điều xa đợi
Thời gian đóng đinh giữa trái tim chiều

Tội nghiệp
Tôi
Kẻ mộng du những vầng trăng cao ốc
Luôn thèm khát hờn ghen một tiếng đàn bầu
Ngụp lặn bể dâu
Thiên sứ bay cao ngang tầm khát vọng
Giấc mơ con lẩn quẩn mái hiên người

NGUYỄN LIÊN CHÂU

TỪ “DẤU CHÂN TRÊN CÁT” ĐẾN “TRO BỤI TRẦN GIAN”

DSC00010

1. Không phải ngẫu nhiên, trong âm nhạc Trịnh Công Sơn nỗi khắc khoải phận người với những ám ảnh về Cái chết – Tình yêu và Nỗi Cô đơn lại luôn bàng bạc trong ca từ của ông với những nỗi niềm mà mỗi khi cất lên tiếng hát ta không khỏi thấy se lòng…
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi phận này…. (Cát bụi – Trịnh Công Sơn)
Sự ám ảnh về Cái chết – Tình yêu – Nỗi Cô đơn của phận người trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng là điều ám ảnh trong tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân mà hành trình sống của Gấm – nhân vật chính trong tác phẩm là hành trình đi từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi trần gian”. Cuộc đời của Gấm là cuộc đời của một số phận mà sự ám ảnh về Cái chết, Nỗi Cô đơn cùng với những đớn đau, hạnh phúc trong Tình yêu luôn là một tâm thức hiện sinh dằn xé, cào cấu số phận của nàng. Không những thế, đây còn là triết lý sống, quan niệm sống chi phối sâu sắc ưu tư của nàng trong cuộc đời từ khi đặt dấu chân nhỏ nhoi của mình trên cát bụi phận người cho đến lúc trở về cùng “tro bụi trần gian”. Và chính điều này luôn đặt Gấm trước những lựa chọn khốc liệt, nghiệt ngã của số phận với những hạnh phúc / khổ đau, vinh quang / cay đắng, cao cả / thấp hèn… mà sự lựa chọn nào cũng có cái giá của nó. Ta hãy lắng lòng chia sẻ cùng Gấm khi nàng kể về cuộc sống của mình: “Cắn răng nuốt những hạt cơm tủi nhục ăn đậu ở nhờ trong nhà cô út, chị em chúng tôi dần dà khôn lớn rồi cắt đi cuống rốn với họ hàng thân tộc. Mỗi đứa tự bươn chải vào đời theo cách của mình. Và kể từ lúc đó, những bước chân của chị em tôi chông chênh, dò dẫm đi vào đời và cứ vật vờ trôi.” (tr.39)

2. Để bớt đi phần nào sự nghèo khổ và có một chỗ dựa trước những mất mát của gia đình, Gấm chấp nhận lấy người đàn ông đầu tiên mà không hề có một chút đồng cảm kể cả khi ái ân, để rồi trước khi vĩnh viễn rời xa người đàn ông ấy, nàng phải chịu cảnh bạo dâm của cuộc hôn nhân không tình yêu mà cảm giác như mình bị cưởng bức với những đau đớn đến ê chề khi một đêm người đàn ông ấy trở về trong cơn say: “Tôi chưa kịp phản ứng thì anh ta đè ngửa tôi xuống sàn nhà, tụt quần áo thô bạo và phủ lên man rợ…” (tr.29).
Song bi kịch tình yêu và hôn nhân của Gấm không dừng lại ở đấy mà càng khốc liệt và tàn nhẫn hơn khi gặp người đàn ông thứ hai, một con người nhu nhược, hèn đớn và ti tiện để rồi nàng cũng lại rơi vào bi kịch của một cuộc hôn nhân với những ái ân không hề có cảm xúc ái tình mà đó chỉ là những hành động bản năng của một con đực háo đói và khao khát nhục cảm đang khẳng định quyền “làm chồng”, để rồi một lần nữa biến nàng trở thành nạn nhân của nạn bạo hành tình dục: “Lần cuối cùng, để tránh có thai tôi đã mua sẵn và yêu cầu hắn dùng bao cao su. Khi thấy chiếc hộp giấy, hắn ta tức giận, la lớn “Tao làm tình với vợ chứ có phải chơi gái đâu mà xài bao!” Hắn ném chiếc hộp vào mặt tôi. Những chiếc bao cao su rớt xuống, vương vãi trên giường ngủ.
Trong khi tôi tấm tức khóc vì nhục nhã, hắn lột nhanh quần áo và đè ngửa tôi xuống nệm. Trận làm tình, không, phải nói là cuộc hiếp dâm, diễn biến nhanh chóng và kết thúc cũng nhanh chóng trong tiếng thở hổn hển, có pha nước mắt của uất nghẹn.” (tr.64)
Và chỉ đến khi gặp “Người hàng xóm” tốt bụng đã vô tình hay cố tình theo dõi và chứng kiến cảnh Gấm bị bạo hành trong gia đình chồng mà sau nầy nàng mới biết đó là một nhà báo, Người mà Gấm xem như thiên sứ mang đến cho mình những phút giây huyền diệu và nhiệm mầu của Tình yêu thì nàng mới biết thế nào là sự diệu kỳ của ái ân nồng nàn, điều mà Gấm tưởng đâu đã khô cạn ở người đàn bà bốn mươi tuổi sau hai lần dang dở đường tơ như chính nàng đã thú nhận một cách thành thực: “… Thể xác tưởng đã ngủ yên, thế mà khi anh khẽ chạm bỗng cồn cào đói khát. Anh đã giải thoát cho tôi khỏi những mặc cảm, xoá bỏ mọi ức chế tâm lý và đẩy cảm xúc thăng hoa.” (tr.66)
Đây cũng là kết quả của sự chọn lựa nhưng là chọn lựa của một Tình Yêu đích thực, tận hiến, dấn thân sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc đời nàng trong những tháng năm dài “sống trong một cõi ao tù nhỏ hẹp… Anh đến, chẳng những chỉ lối mà còn nắm tay tôi dắt lên cõi thiên đường, đóng lại cánh cửa thông ra địa ngục.” (tr.66)
Song những ngày tháng hạnh phúc này suýt biến tan thành mây khói, khi một lần nữa những khuôn phép phi lý của những thứ đạo đức và dư luận xã hội lạnh lùng, công thức buộc Gấm phải chọn lựa một cuộc hôn nhân hợp pháp về mặt pháp lý nhưng lại không hề có tình yêu và một tình yêu vĩnh hằng với tất cả sự kỳ diệu nhưng không có sự hợp pháp về pháp lý, khi Gấm đấu tranh đòi Người đàn ông thứ ba trong đời mình một tờ giấy đăng ký kết hôn để hợp thức hóa cuộc sống chung của họ… Và điều này khiến hạnh phúc của họ có nguy cơ vỡ tan như bong bóng xà phòng sau những tháng ngày mà họ tìm kiếm bằng tất cả sự cảm thông và chia sẻ. Nhưng may quá, Gấm đã nhận ra chân giá trị của hôn nhân và tình yêu khi nàng hiểu rằng: “Quan hệ lớn nhất là tình thương dành cho nhau chứ không phải miễn cưỡng có nhau. Tình yêu của mình phải được nuôi dưỡng bằng sự trân trọng quý mến chứ đâu phải ràng buộc bằng tờ hôn thú” (tr.167) Bởi “Không có luật nào bắt người ta phải thương yêu nhau. Phải sống hạnh phúc… Hạnh phúc có hay không còn tùy thuộc vào sự vun xới hằng ngày, tùy vào cách sống và tâm hồn của mỗi cá nhân chứ đâu phải cứ ngồi vào mâm cỗ hôn nhân là có được mái ấm” (tr.153)
Đúng vậy! sự kỳ diệu của tình yêu và hôn nhân là một phép màu mà chỉ có sự tận hiến và sẻ chia của những người yêu nhau tự kiếm tìm và bồi đắp chứ không bao giờ là kết quả của một thứ ràng buộc nào, dù đó là những phép tắc của lễ giáo, phong tục tập quán, của những định chế xã hội, giai cấp, lý tưởng nào cả, kể cả quyền uy của thượng đế. Bởi quyền uy lớn nhất trong tình yêu phải chăng chính là tiếng gọi thao thiết của trái tim… Và ở những trang viết về tình yêu và hôn nhân, Trương Văn Dân tỏ ra là một nhà văn có bản lĩnh, có khả năng phân tích tâm lý nhân vật tinh tế và sâu sắc. Những lý lẽ của anh đưa ra trong cuộc tranh luận giữa Gấm và Người tình về hôn nhân và tình yêu khá thuyết phục. Anh đã rất có lý khi đẩy tình huống đến cao trào rồi cũng để cho logic của tình yêu và cuộc sống tự hóa giải mâu thuẩn ấy khi Gấm nhận ra đâu là giá trị của tình yêu và hôn nhân và đâu là những thứ nhãn hiệu dán lên những cuộc hôn nhân đầy tính thực dụng của một xã hội được xem là văn minh, hiện đại nhưng cũng rất lạnh lùng, vô cảm qua lời tự thú của Gấm: “Tôi hiểu ra rằng…cái mà tôi thật muốn chính là cùng anh sống trọn đời trọn kiếp, dù bất cứ hoàn cảnh mù loà bất hạnh nào. Và tôi không cần gì nữa. Ngay cả chuyện hôn nhân. Hôn thú. Vợ chồng. Con cái. Gấm ơi! Thời gian qua sự bình an luôn ở bên ngươi. Sao mi ngốc thế. Tia sáng tâm tưởng đó làm tình cảm và lý trí của tôi thôi không giằng kéo nữa. Mọi cái trở nên tĩnh lặng. Tôi như người mê muội bỗng tỉnh ra.” (tr.166 -167) Và lần này, sự chọn lựa của Gấm đã đúng. Đây là sự chọn lựa của một quá trình nghiệm sinh với những đắng cay phận người mà không có nó chưa hẳn Gấm có thể vượt qua những rào cản thường tình của cuộc đời, để chọn cho mình một bến đỗ tình yêu đã giúp mình vượt qua tất cả, kể cả cái chết khi nàng biết mình đã mang căn bệnh ung thư…. Nhưng có hề gì, ý nghĩa cuộc đời của mỗi người đâu phải đo bằng độ dài của thời gian vật lý. Bởi có biết bao con người kéo dài cuộc đời qua hàng thế kỷ nhưng họ chẳng làm gì có ích cho cuộc sống, thậm chi còn gieo rắc cho nhân loại bao nỗi khổ đau!? Thế mới biết để sống đúng nghĩa ở đời không phải là chuyện giản đơn… Và Trương Văn Dân rất có lý khi anh chia sẻ quan niệm sống của mình qua lời trần tình của Gấm: “Dù nếm trải thất bại, tôi vẫn không từ bỏ giấc mơ về một tình yêu đích thực. Tôi thường nghĩ, nếu sống mà không còn mơ tưởng, không còn chút ngây thơ, lãng mạn thì mới là thua thiệt trong đời. Tôi tin người ta chỉ thật sự hạnh phúc khi được tự do lựa chọn, tự do vươn tới con người mà mình muốn trở thành và sống thật sự với bản ngã của mình, không che đậy.” (tr.202)

Khi con người càng hiện đại, văn minh thì những ứng xử văn hóa mang tính nhân văn cũng hư hao dần. Vì vậy, có khi người ta không phải sống mà đang “diễn” trên sân khấu cuộc đời với hàng trăm thứ mặt nạ đến nỗi không còn nhận ra đâu là mặt nạ của chính mình. Thế nên, cái khát vọng thành thực của Gấm về một tình yêu đích thực ở đời là một điều đáng quí và có thể nói đó cũng là một hệ giá trị có tính nhân văn sâu sắc. Phải chăng, đây cũng là một trong những thông điệp mà Trương Văn Dân muốn gởi đến người đọc trong Bàn tay nhỏ dưới mưa.
Nói về sự sống cũng chính là nói về cái chết. Bởi tiền đề của cái chết bao giờ cũng là sự sống. Cái qui luật sinh sinh diệt diệt này là cái lẽ vô thường mà nhà Phật đã quán chiếu cho nhân loại bằng cái vòng đời sinh – lão – bệnh – tử. Và chính nó là khởi nguồn cho sự chọn lựa và dấn thân của Đức Phật trong hành trình đi tìm chân như, đi tìm con đường giải thoát cho chúng sinh khỏi bể khổ cuộc đời. Ở điểm này triết lý Phật giáo lại có sự gặp gỡ với chủ nghĩa hiện sinh. Đây cũng là điều mà ta bắt gặp trong tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân khi anh luận bàn về cái chết qua những ưu lo của Gấm khi biết mình mắc bệnh ung thư và phải đối diện với cái chết bất cứ lúc nào. Để rồi, có lúc mềm lòng cô đã toan tự vẫn để chạy trốn cuộc đời. Nhưng rồi chính tình yêu cùng với những giá trị cao đẹp của nó đã giúp nàng sức mạnh chống lại cái chết và song hành cùng cái chết như sự đặt để của số phận. Ta hãy nghe Gấm chia sẻ:“Anh ơi, cái buồn đang làm cho em mỉm cười. Em sẽ đón nhận nó một cách điềm nhiên rồi sẽ vùi lấp nó dưới đáy đại dương… Suy cho cùng, đời người tựa gió thoảng mây bay. Chẳng ai biết được mình sống bao nhiêu. Em chỉ cần tình yêu của anh. Dầu là em đang bệnh nhưng chưa chắc người khác đã có được hạnh phúc như em” (tr.235) Và khi đã nhận thức được qui luật của sự sinh diệt này, Gấm thật thanh thản: “Trong cuộc sống, con người không có cách nào tránh được những bất hạnh. Còn cách đón nhận nó là tùy thuộc ở mình.
… Bởi vì, chỉ khi nào bị dồn đến tận cùng con người mới nhận ra là “biến cố quan trọng nhất…” của đời người chính là cái chết. Nó luôn luôn hiện hữu, và khi cuộc sống không còn, tất cả sẽ biến mất và cái còn lại chính là những rung cảm và thái độ của con người trước sự thách thức tận cùng của sự tồn sinh.” (tr.236). Và lúc này, cái chết cũng là một phần của sự sống nên chúng ta không thể chạy trốn mà phải đối diện với nó, từ đó hiểu được giới hạn tất yếu của phận người để làm thế nào sống ý nghĩa hơn, nhân văn hơn, biết yêu thương con người hơn, biết sẻ chia với tha nhân nhiều hơn, biết từ bỏ cái ác, cái xấu để vươn tới cái chân, thiện, mỹ. Đó cũng là những suy tư về phận người mà Trương Văn Dân muốn nói đến trong tiểu thuyết này trên hành trình từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi trần gian” mà anh đã nâng lên như một biểu tượng của cuộc sống: “Tôi đi như thế khá lâu. Đến cuối bãi thì quay lại. Nhưng mãi đến vòng thứ ba tôi mới phát hiện ra những vết lõm. Sức nặng toàn thân làm cát lún xuống thành những dấu chân. Khi sóng trào lên, bọt biển rút xuống thì những dấu chân không còn hiện hữu. Nhìn sự xuất hiện và biến mất tôi mường tượng đến phận người: sống, để lại những vết lõm nhỏ to trong một quãng thời gian dài ngắn, rồi biến mất như chưa từng bước qua cuộc đời. Như thể trong những dấu chân đều có mang theo sự sống và cái chết. Tất cả đã đến, đã hiện hữu, rồi ra đi. Tự xoá nhoà theo tiếng thở rì rào của biển cả.” (tr.9) Và trong cảm thức của Trương Văn Dân, cái chết bao giờ cũng song hành cùng tình yêu nên nó là một phần không thể thiếu của sự sống: “… Âm thanh vang lên như chỉ có cái chết mới làm nổi bật lên giá trị vĩnh hằng của tình yêu. Chỉ trong tình yêu con người mới tìm ra lẽ sống của mình. Bởi chết vì tình yêu thì đâu có nghĩa là chết. Mà chỉ là hiến dâng. Là cái chết trong muôn lần chết. Và tình yêu sẽ đi vào cõi vô sinh vô diệt.” (tr.12)
Có thể nói, trong tác phẩm này Tình yêu là trục tâm thức chính và xoay quanh trục tâm thức này, tác giả giãi bày những ưu tư của mình về sự sống, cái chết, về nỗi cô đơn phận người trong xã hội hiện đại khi còn người phải đối mặt với vô số những vấn đề mà vấn đề nào cũng có mặt tốt và xấu đòi hỏi con người phải có sự chọn lựa thật văn hóa thì mới mong cứu vãn sự tồn sinh quá mỏng manh của trái đất này. Nếu không thì “Ngày tận thế” sẽ không chỉ là một huyền sử !?. Vì vậy, những trang viết về Tình yêu trong Bàn tay nhỏ dưới mưa cũng là những trang viết giàu cảm xúc, giàu chất triết luận và cũng giàu chất thơ có khả năng neo đậu trong tâm thức, tâm cảm của người đọc sâu sắc nhất và để lại nhiều dư ba nhất…
Ta hãy lắng nghe tác giả luận giải về sự mầu nhiệm của tình yêu qua lời của nhân vật Người đàn ông – Nhà báo khi hồi tưởng về những ngày sống trong sự ấm áp của tình yêu: “Tôi xin cám ơn đời đã cho tôi và nàng có một sự hoà hợp vẹn toàn, về thể xác và tâm linh, đã nâng tâm hồn chúng tôi đến cõi huyền bí. Đã cho chúng tôi thăng hoa trong lúc cận kề giữa hai bờ sinh tử mà vẫn còn nắm bắt được chiều kích vĩnh hằng: Phút giao cảm đó chính là sự tái hợp của hai – phần – người bị tách đôi, mải miết kiếm tìm nửa phần còn lại… Đó là đỉnh điểm của những gì mà con người có thể hy vọng nhận được trong cuộc tồn sinh.” (tr.12),
Song trong quan niệm của Trương Văn Dân, Tình yêu không chỉ có sự hòa hợp của tâm hồn mà còn có sự hòa hợp diệu kỳ của thể xác như một thứ ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa chỉ có thể lý giải bằng chính sự hòa hợp của một thứ ngữ pháp thân thể linh động và diệu kỳ: “Sự vẹn toàn của hai thân thể chúng tôi tuyệt vời đến nỗi khi đi vào trong nhau, tôi cảm giác như mình là chiếc rễ bám sâu vào lòng đất, nóng và ẩm của nàng, để tình yêu lớn mạnh, vững chắc như cây cổ thụ trong vườn địa đàng…
Và tôi nghĩ không có niềm đam mê nào mạnh hơn sức mạnh của tình yêu và niềm tuyệt vọng. Nó có thể thiêu huỷ con người trong khoái lạc hân hoan của nỗi khát khao dâng hiến. Vì yêu có nghĩa là muốn chia sẻ và dâng hiến trọn vẹn với một người điều không thể và không muốn chia sẻ cùng một ai khác.” (tr.13)
Có thể nói, những trang văn luận về tình yêu của Trương văn Dân là những trang văn đẹp nhất, thánh thiện nhất, vì thế, nó cũng hấp dẫn và quyến rũ nhất. Đọc những suy niệm của tác giả về tình yêu cũng như những miêu tả sự ái ân trong tình yêu, ta thấy tác giả là người có ý thức nâng niu những giá trị cao quí của tình yêu con người và không sa vào lối miêu tả tình yêu một cách rẻ tiền với những trang viết đầy nhục cảm bản năng của những cuốn tiểu thuyết diễm tình hạ đẳng. Trái lại, những trang viết về tình yêu trong tiểu thuyết của anh là sự kết hợp hài hòa của những giá trị văn hóa vừa truyền thống lại vừa hiện đại, vừa phương Đông lại vừa phương Tây, luôn ám ảnh người đọc, đem đến cho họ những cảm xúc nhân bản của một tình yêu cao đẹp, rất CON và cũng rất NGƯỜI. Đó là một thứ mật ngọt rót vào lòng ta ấm áp và nồng say như chính sự cảm nhận của Gấm lúc ái ân:“Khi anh đặt nhẹ tôi trên giường thì tôi vội ôm chầm lấy anh… Môi anh mơn man trên khuôn mặt tôi đầm đìa nước mắt. Tôi hớp lấy từng giọt, từng giọt, tham lam nuốt chửng như sợ phí phạm những giọt tình yêu đang chảy trên má mình… Cảm xúc của tôi tăng dần khi toàn thân cảm nhận những nụ hôn cháy bỏng từ đôi môi thèm muốn của anh… Đất trời vần vũ, chuyển mình trong lôi cuốn huyền hoặc của tình yêu. Ngọn lửa đam mê trong lòng như đốt tôi thành hơi nước, thăng hoa trong tiếng rên rỉ và giãy đạp của cảm xúc… Trong khoảnh khắc, mọi phù phiếm của đời sống đều bị chìm đi, mất hút, cái còn lại là cảm giác đê mê của sự hiến dâng, cho và nhận, vút bay lên chín tầng trời.”. (tr. 94, 95, 96)
Và sự lên ngôi trong cảm xúc Tình yêu thật sự là một hạnh phúc viên mãn của đời người mà không gì thay thế được, ta có thể chia sẻ điều này qua tâm sự của Gấm: “Tôi sung sướng lắm… Tôi khóc. Tình yêu của anh làm tôi khao khát cuộc sống biết bao. Tôi muốn hét to lên cho mọi người biết là tôi đang hạnh phúc.” (tr.99) Và “Gần bốn mươi tuổi nhưng chỉ có lúc này tôi mới thấy mình thực sự sống. Mới hiểu rằng yêu thương không phải là có một người để cùng ăn, cùng ngủ, mà là phải tìm được một người, rồi không thể sống khi thiếu vắng người ta. Anh chính là người mà tôi không thể thiếu…. Vì với tôi, điều kinh khủng nhất là khi cái thế giới mênh mông này không còn anh nữa. (tr.121)
Song tâm thức hiện sinh của hành trình từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi trần gian” trong tác phẩm không chỉ thể hiện ở suy niệm về cái chết, về sự sống, về tình yêu mà còn là sự ám ảnh về nỗi cô đơn phận người. Dường như trong suốt tác phẩm, cuộc đời của các nhân vật luôn chìm trong biển cô đơn này: “Thuở đó trong cuộc tồn sinh…. chúng tôi phải mang trong lòng một trái tim côi cút….” (tr.39) Và nỗi cô đơn ấy như sự tất yếu của định mệnh từ thuở hồng hoang của kiếp người mà nhân loại không thể nào chối bỏ được. “Có lúc tiếng hát vọng về như một lời cầu nguyện, như nỗi sợ hãi cô đơn giữa mênh mông sâu thẳm (…) Tiếng hát vang lên như một nỗi ám ảnh khôn nguôi, như tiếng sóng vỗ bờ, miên man, miên man, không dứt…và cuối cùng hòa quyện vào hư vô. Âm thanh lụn dần như đã vượt qua những đớn đau thân xác để đến với sự khổ não của cô đơn vô cùng vô tận trong kiếp người… Tôi đứng trên bãi biển như một con thuyền cô độc.” (tr.13)
Và nỗi cô đơn định mệnh ấy bao giờ cũng là điều khủng khiếp nhất, đáng sợ nhất. Bởi lẽ “nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời người chưa hẳn là sự mất mát, mà là không có được sự sẻ chia từ ai đó thật sự hiểu mình trong cuộc đời này”. (tr.135) Đây cũng chính là bi kịch của sự cô đơn phận người trong hành trình từ sự sống đến cái chết, từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi thời gian” trong cuộc tồn sinh này.
3. Hành trình đi từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi trần gian” của đời người dù phải trải qua bi kịch của sự sống và cái chết, của sự cô đơn thân phận và tình yêu, thì cái nhìn của Trương Văn Dân trong Bàn tay nhỏ dưới mưa, cũng không đắm chìm trong bi kịch của một thứ hiện sinh yếm thế mà trái lại nó thể hiện một tâm thức hiện sinh tích cực của một cây bút luôn dấn thân và trăn trở trước những hệ lụy của cuộc sống mà con người đang phải gánh chịu như sự đặt để của số phận. Với một tinh thần nhân văn sâu sắc từ trong tâm thức và tâm cảm của mình, ngòi bút Trương Văn Dân luôn hướng đến ánh sáng của lòng yêu thương con người với một cái nhìn và một niềm tin ở tương lai tốt đẹp của cuộc sống mà muốn thế, theo anh“Cách duy nhất để loại một kẻ thù là biến kẻ đó thành bạn; Mỗi người chúng ta đều có thể mang nhân quả, liên kết với nhau từ bao kiếp trước, hãy lấy tình thương mà bước qua những khổ đau và oán hận…”(tr.112). Và đây cũng là cái đích đi và đến của mỗi con người từ khi sinh ra cho đến khi trở về cùng cát bụi, từ sự sống cho đến cái chết. Nói như Trương Văn Dân trong Bàn tay nhỏ dưới mưa là từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi trần gian” mà hành trình của nó luôn phụ thuộc vào sự lựa chọn và dấn thân của mỗi con người. Song dù sự chọn lựa nào thì điều con người cần hướng đến là tinh thần vượt qua những bất hạnh để vui sống một cách an nhiên, tự tại. Bởi: “Trong cuộc đời, ít hay nhiều ai cũng gặp phải một bất hạnh, nhưng điều quan trọng là đừng tự xiềng xích mình vào nỗi bất hạnh đó. Em hãy vui và sống.” (tr.37) Vì : “không có nơi đâu đẹp não nùng và đáng yêu bằng cuộc sống trên Trái đất” (tr.412). Thế nên nhà văn rất tâm đắc với ý tưởng của Hermann Hesse: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này” (tr.412)
Phải chăng, đây cũng là một thông điệp văn hóa đầy tính nhân văn chúng ta có thể chia sẻ với tác giả Bàn tay nhỏ dưới mưa trong hành trình từ “dấu chân trên cát” đến “tro bụi trần gian” của phận người trong cõi

TRẦN HOÀI ANH
Chú thích:
* Những trích dẫn trong bài viết được trích trong tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011

Gần mực thì đen

phamhoainhan

Như 30 triệu người Việt Nam, Ba Trợn tham gia chơi Facebook. Như 41 triệu người Việt Nam, Ba Trợn sử dụng Internet để đọc tin tức và các loại thông tin khác. Oái oăm thay, chính những tin tức, thông tin trên Internet ấy lại tố khổ rằng Facebook là một chốn tệ hại nhất thế gian, chẳng nên giây vô làm gì!

À há, trên mạng Internet nó nói Facebook tệ như thế nào:
Đó là một chốn nhảm nhí, nơi để khoe mặt mốc, khoe đồ ăn, khoe con cái, có khi còn… khoe thân nữa. Chỉ tổ làm mất thời giờ, chả ích lợi gì.
Đó là nơi lan truyền những thông tin thất thiệt, nơi các thánh chém gió. Chẳng nghĩa lý gì!
Đó là nơi lừa đảo nhau bằng đủ thứ cạm bẫy.
Vv và vv…
Chính vì đọc những thông tin như thế mà Ba Trợn đâm ra hoang mang, không biết có nên tiếp tục xài Facebook nữa chăng. Mang nỗi niềm ấy, Ba Trợn tìm đến chuyên gia tâm lý và cũng là nhà đạo đức Hai Ẩu để nhờ tư vấn. Hai Ẩu “lên lớp” ngay với cậu em của mình:
-Người xưa có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Chú chơi với người tốt thì chú sẽ tốt theo, còn chơi với người xấu sẽ xấu theo. Facebook là mạng xã hội thì cũng như xã hội thật ngoài đời, phải biết chọn bạn mà chơi. Nếu bạn Facebook của chú toàn là những người đàng hoàng, tài giỏi thì những điều họ cập nhật thể hiện trên dòng thời gian của chú, cũng như những comment của họ với trang của chú đều là những thứ có giá trị chớ làm gì có cái thứ nhảm nhí, thất thiệt, lừa đảo?
Ba Trợn tâm đắc với những điều Hai Ẩu vừa nói, nhưng băn khoăn hỏi thêm:
-Em hiểu rồi. Facebook tốt hay xấu là do mình cả thôi, nói cụ thể là mình chọn bạn là mực hay đèn. Nhưng làm sao em biết ai là đèn để mà kết bạn cho đúng đây anh Hai?
Hai Ẩu ra vẻ ban ơn:
-Chuyện này không khó. Bạn Facebook của anh đương nhiên là tốt rồi, anh sẽ giới thiệu họ cho chú, bảo đảm chú sẽ gần đèn.
Thế là Ba Trợn có được những người bạn Facebook mới nhờ sự giới thiệu của Hai Ẩu.

Một thời gian sau, Ba Trợn gặp lại Hai Ẩu và hân hoan báo cáo kết quả.
-Em đã làm theo lời anh Hai, kết bạn với những người bạn đèn sáng rực rỡ của anh Hai.
-Ừa, tốt đó. Kết quả ra sao? Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng chớ?
-Dạ quá đúng anh Hai, câu tục ngữ của ông bà ta không sai chút nào.
-Vậy bây giờ trang Facebook của chú rất là sáng sủa, sạch sẽ phải không?
Ba Trợn cười hềnh hệch:
-Đâu có! Nó cũng vậy hà, toàn là những thứ nhảm nhí và chém gió phần phật. Mấy người bạn của anh Hai giờ đây nhảm nhí và chém gió đâu kém chi ai!
-Sao vậy? Bạn anh tốt lắm mà. Chẳng phải chú mới nói câu Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng là đúng sao?
Có vẻ rất đắc ý, Ba Trợn cười hí hí trả lời:
-Đúng ở vế đầu đó anh Hai. Mấy người bạn của anh Hai kết bạn với em, gần em. Thế nhưng em là mực, mấy người đó gần mực nên đen thui hết rồi anh Hai à!

PHẠM HOÀI NHÂN

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

THƯA ANH

Cầm tay giây phút. Kiếp mai
Xin quay lại cũng nơi này. Giấc mơ
Giấc mơ gùi một bài thơ
Đi bao nhiêu bước lọt vừa bức tranh
Bích Câu Kỳ Ngộ, thưa anh

HẠT SƯƠNG

Sáng ơi
Nắng ơi
Và tôi ơi
Tan nhau đi giữa mắt người đang xanh
Nghiêng xuống hết ở trên cành
Tròn một hạt sương long lanh cả trời
Còn tìm những ở đâu. Nơi…

LẠ QUEN

Bỗng dưng Ngày lại là Đêm
Cái bóng tối cũng ngỡ quen lâu rồi
Ánh sáng làm mặt lạ tôi
Dường như cả cái chỗ ngồi lặng thinh
Nhỏ to đi lại bóng mình

Nguyễn thị Khánh Minh

CHUYẾN TÀU XUÔI VỀ MIỀN KÝ ỨC

nguyenanbinh

Mỗi chúng ta là một sân ga nhỏ
Cuộc đời là những chuyến tàu đi xa đôi lúc dừng lại sân ga mà chúng ta không nhớ rõ
Những chuyến tàu băng qua bao chiếc cầu, những khu chợ khuya, thảo nguyên nắng, thảo nguyên mưa
Mênh mông những núi đồi trùng điệp, những rừng cây lá úa đổi mùa
Những chuyến tàu kể cho ta nghe điều mới lạ ở nhiều vùng đất mà nó đi qua
Mỗi ngày hồi hộp chờ đời tiếng còi tàu từ xa xăm đưa về mỗi lúc một rõ đổ lại sân ga
Tiếng bánh sắt rít trên đường ray nghe rợn người nhưng từ lâu không làm ai khó chịu
Tiếng thở phì phò mệt nhọc nhả ra từng sợi khói mỏng manh của con ngựa sắt già tội nghiệp
Ta chú ý chờ nghe những điều hắn kể trong gió.
*
Mỗi chúng ta là một sân ga nhỏ
Nơi lưu giữ những gì bỏ lại của người lữ hành
Khi hắn vội vã bước lên tàu viễn du khám phá vùng đất mới
Bỏ lại sau lưng hơi thở, mồ hôi và những mối tình tạm bợ qua đêm trong làn tóc rối
Người đàn bà u buồn nhìn vào đêm tối
Mơ một giấc mơ kì lạ lạc loài
Mà người khách trọ vô tình hay cố ý bỏ quên trong một cơn say
Không nhớ.
*
Mỗi chúng ta là một sân ga nhỏ
Chứng kiến những chuyến tàu đi và về, tất cả đều hướng về hiện tại, tương lai
Nhưng chưa bao giờ có chuyến tàu nào lui về quá khứ đủ để chia tay
Nơi có những ký ức mong manh đang từng ngày dần tan trong sương khói
Nơi có bàn tay giữ lấy bàn tay ấm áp trong cơn bối rối
Rồi lại rời xa nhau khi tiếng còi tàu đưa một người đi xa
Mãi mãi không về
Khu vườn mộng mơ lóng lánh giọt trăng thề
Không còn chuyến tàu nào xuôi về miền ký ức
Để tôi tìm lại tuổi thơ tôi và mối tình đầu xanh thẳm?

Nguyễn An Bình
Tháng 7/2015

CƯỠI NGỌN SẤM 17

richardbotkin

Chương 12

“Đề Lô” Đại đội Bravo 1/26

Ngay từ lúc đầu, khi các lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ tham gia vào Thế Chiến Thứ Hai thì sự lệ thuộc vào sức mạnh vật chất của các ngành kỹ nghệ dân sự để sản xuất ra những khối lượng chiến cụ khổng lồ đã tác động rõ ràng lên phương cách chiến đấu của họ. Các ứng dụng về hỏa lực hùng hậu và tinh vi bất kỳ khi nào làm được nhằm thay thế nhân sự đã được ứng dụng rộng rãi trong mọi trường hợp cho phép. Binh đoàn TQLC Hoa Kỳ đã đi tiên phong trong việc cố gắng áp dụng và phối hợp các phương tiện hủy diệt khác nhau có trong tay – hải pháo, phi pháo, pháo binh – và hội tụ sức tàn phá của các vũ khí này xuống một vùng thật nhỏ mà họ vẫn kiểm soát được.
Tất cả các sĩ quan TQLC đã tham dự ở trường huấn luyện TBS đều được học qua về lý thuyết phối hợp tác chiến với hỏa lực yểm trợ. Khi các Trung đội trưởng mới đến nhận nhiệm vụ tác chiến tại Việt Nam, họ phải có khả năng gọi và điều chỉnh hỏa lực yểm trợ súng cối và pháo binh, cũng như phải biết gọi không quân yểm trợ ở khoảng cách gần.

Một khi anh đã nắm quyền chỉ huy một đại đội bộ binh, anh phải có thể làm chủ được khả năng gọi và phối hợp mọi phương tiện hủy diệt người ta dành cho anh. Sự lanh lợi của một cấp chỉ huy để có thể sử dụng các phương tiện này một cách khéo léo và quản lý được chúng là một trong số vài ba tài nghệ anh không được phép để sơ sẩy. Toàn bộ sự sống còn của đại đội thường tùy thuộc vào những phương tiện này.

Để trở thành sĩ quan đề lô giỏi, một sĩ quan trẻ cần phải làm nhiều chuyện cho thật đúng và cùng một lúc. Đề lô sắc bén lại cần phải hiểu và đoán trước hướng suy nghĩ của vị chỉ huy mà anh đang làm việc chung. Trong tình huống đang đụng độ hay có thể sắp đụng độ, đề lô cần phải biết ý định của chỉ huy khi ông ta đang tính kế hay khi ra lệnh.

Đề lô phải nhận thức được phong thái chỉ huy riêng của từng Đại đội trưởng. Anh cũng cần phải hiểu thấu đáo nhiệm vụ của mình – ngày cũng như đêm – và phải lưu tâm đến nhiều tình huống bất ngờ khác nhau. Anh cần phải nắm vững địa hình, độ cao thấp của mặt đất thuộc khu vực mà đơn vị anh đang hoạt động và di chuyển, cũng như hiệu quả của hỏa lực sẽ ra sao. Đề lô còn phải có kỹ thuật di hành giỏi và trong mọi lúc, phải nắm chắc vị trí chính xác của đơn vị mình để đến khi gọi tác xạ yểm trợ thì đạn rơi trúng kẻ thù chứ không phải là phe ta. Ngoài ra anh cần phải đi trước hai hay ba bước trong đầu Đại đội trưởng để khi các TQLC bị cú bất ngờ, hỏa lực yểm trợ sẽ nhanh chóng, chính xác và áp đảo.

Khi đại đội thiết lập hệ thống phòng thủ cho buổi tối, sĩ quan đề lô cần phải xây dựng một bức màn thép theo nghĩa đen – gọi là lưới lửa ban đêm – chung quanh vị trí của đại đội để phòng hờ trong trường hợp kẻ thù tấn công.

Thường thì cũng hữu ích nếu biết tính toán và xác định – tức bắn thăm dò – mục tiêu từ trước. Khi các pháo thủ phía sau đã có sẵn các dữ kiện kỹ thuật rồi thì việc bắn đi những quả đạn trúng mục tiêu dễ dàng hơn khi có yêu cầu. Việc chuyển nòng bắn qua các mục tiêu lân cận cũng nhanh hơn nếu tọa độ các mục tiêu đã được xác định sẵn, trước khi đụng độ thật sự xảy ra.

Trong vấn đề nhân sự, sĩ quan đề lô cần biết chắc là nhân viên truyền tin được chỉ định đi chung phải là một người giỏi và có đầy đủ khả năng. Một đề lô biết lo xa còn phải bỏ thời gian để chỉ cho truyền tin cách gọi hỏa lực yểm trợ càng kỹ càng tốt để phòng hờ trường hợp anh bị trúng đạn, truyền tin vẫn tiếp tục thi hành được công tác. Trong chuyện này George cực kỳ may mắn có được tay truyền tin đã từng làm việc chung tại Khe Sanh với tay sĩ quan đề lô đã tử trận gần đây. Đó là Binh nhất Tom O’Grady. Anh chàng này đã chăm sóc cho George để bảo đảm viên sĩ quan đề lô mới được nhập cuộc và sẵn sàng. Hai người sau đó đã hết sức gần gũi với nhau trong điều kiện cấp bậc cho phép và họ trở thành một toán đề lô làm việc rất hiệu quả.

Một sĩ quan đề lô pháo binh tài ba là một kỹ thuật viên khéo léo trong lãnh vực khoa học pháo binh. Nếu anh càng giỏi chừng nào trong cái nghệ thuật “hủy diệt” đó thì nỗi lo lắng của sĩ quan chỉ huy càng ít đi chừng đó khi bước vào chiến trận.

Theo quân số thì mỗi đại đội bộ binh TQLC ra chiến trường tại Việt Nam đều phải có một sĩ quan đề lô pháo binh tốt nghiệp từ trường Ft. Sill. Tuy nhiên thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Cũng theo cấp số thì mỗi đại đội bộ binh TQLC đưa vào chiến trường Việt Nam đều phải có một đại đội trưởng hoàn toàn sẵn sàng nhập cuộc và đầy đủ khả năng trên mọi phương diện. Trên thực tế cũng không phải lúc nào cũng vậy.

Đại đội Bravo tại Khe Sanh đã từng được chỉ huy bởi Đại úy Ken Pipes. Giống như John Ripley, Kenny Pipes là một chiến binh lão luyện và hết sức nhiệt tình với lòng trung thành mà các thuộc cấp dành cho anh. Các TQLC dưới quyền đều tôn thờ và yêu mến vị chỉ huy của mình. Trong mọi hoàn cảnh có thể tưởng tượng ra được, thời chiến cũng như thời bình, Đại úy Pipes có lẽ là một mẫu người chỉ huy rất khó mà ai bắt chước nổi. Đại úy Pipes vừa hết quyền chỉ huy Đại đội Bravo thì George Philip đến và huyền thoại của vị Đại đội trưởng cũ vẫn còn sống mãi trong những câu chuyện truyền tụng lại bởi các binh sĩ và sĩ quan của đại đội.

Tay Đại đội trưởng mới thay thế Đại úy Pipes chứng tỏ cho George Philip thấy là ngay cả binh đoàn TQLC cũng có những người không giỏi lắm. Đại đội trưởng mới này xuất thân chỉ là trưng tập, còn gọi là “ngựa hoang” (mustang) và không thể nào sánh nổi bằng Đại úy Pipes. Những lời nhận xét thừa thãi và mang tính chỉ trích của anh khi nói chuyện trước toàn thể đại đội hay từng toán nhỏ chỉ làm bực mình thêm các TQLC, ngựa hoang hay không hoang cũng vậy. May mắn là cái nhóm nhỏ Trung đội trưởng từng được Pipes huấn luyện đã bổ sung cho các thiếu sót từ cấp chỉ huy ở trên. Do đó Đại đội Bravo vẫn duy trì được sức chiến đấu hữu hiệu.

Thiếu úy Philip trên thực tế đã trình diện Đại đội Bravo tại thôn Mỹ Thủy, nằm trên bờ gần cửa biển của sông Cửa Việt. Toàn bộ Lục Quân, Hải Quân và TQLC đã gầy dựng nên một hệ thống tiếp vận gần bờ, gọi là LOTS (Logistics Over The Shore) nhằm đón nhận các đồ tiếp viện sau đó được chuyển bằng tàu đổ bộ ngược dòng sông cho đến Đông Hà. Với một cái tên như thôn Mỹ Thủy thì chẳng bao lâu sau những người Mỹ không nói được tiếng Việt phải chế ra một cái tên khác dễ đọc hơn.

Trung tá Charles Sunder nắm quyền chỉ huy Tiểu đoàn Chuyển Vận 159 của quân đội, đơn vị chính lo chuyện tiếp vận tại đây. Thuộc cấp của ông tự nhận là “các ông thần của Wunder.” Từ đó địa danh Mỹ Thủy được đặt thêm tên là “bãi biển Wunder.” Nghe không hợp lý lắm nhưng rồi cũng chết cái tên luôn.

Bộ đội Bắc Việt và quân Việt Cộng thường không ngần ngại xâm nhập vào những vùng mà quân Hoa Kỳ quan tâm nhiều nhất thành thử do vị trí chiến lược cộng với lưu thông đường thủy và đường biển nơi sông Cửa Việt đổ vào Biển Đông đã tạo cho “bãi biển Wunder” trở thành một vùng tranh chấp. Tuy nhiên đối với các TQLC của Tiểu đoàn 1/26 thì công tác giữ an ninh tại “bãi biển Wunder” tuy không hẳn là một cuộc dạo chơi nhưng cũng thoải mái hơn mặt trận mà họ vừa trải qua.

Đại đội Bravo hiện được giao trách nhiệm trong vùng bãi biển Wunder đã may mắn có các Trung đội trưởng, chỉ riêng chuyện họ sống sót qua trận Khe Sanh, đã trở thành một nhóm chiến binh dày dạn và đầy kinh nghiệm chiến đấu. George Philip ngay lập tức cảm thấy thoải mái như người nhà khi được đón tiếp bởi những người như John “Matt” Dillon, Pete Weiss, và Charlie Sharples. Cả ba đều là những sĩ quan TQLC tích cực, có khả năng, chuyên nghiệp, giỏi về chiến thuật và lúc nào cần thiết cũng tỏ ra có óc khôi hài một cách ồn ào. Trong ba người thì “Matt” Dillon, giống như nhân vật trong tập phim truyền hình Gunsmoke mà anh được gán cho cái tên, thật sự là sếp sòng trong nhóm và khi nào Đại đội trưởng đi vắng là anh sẽ dẫn dắt Đại đội Bravo theo phong cách mà thần tượng và ông thầy Đại úy Pipes hẳn sẽ rất hãnh diện.

George Philip được nhập cuộc vào các hoạt động của Đại đội Bravo 1/26 ngay lập tức. Cũng may là anh có tay truyền tin là Binh nhất O’Grady đã có chút vốn liếng kinh nghiệm trong túi rồi và những tay Trung đội trưởng thì có vẻ có thiện cảm với anh. Cùng với sự huấn luyện về kỹ thuật đã được học qua, chỉ riêng lời khuyên của người bố dượng trước khi anh lên đường, “Liệu mà cúi đầu cúi đít thấp xuống con ạ” đã chứng tỏ rất chí lý ngay từ đầu.

Một buổi trưa trong tuần lễ đầu tiên tại đơn vị mới lúc còn đang đóng tại bãi biển Wunder, George và Binh nhất O’Grady lên nóc chót vót của một cái lô-cốt cũ từ thời Pháp, phơi mình ra tứ phía với sự tin tưởng là không có kẻ thù chung quanh. Họ làm công tác đề lô và đánh dấu các mục tiêu một các thong thả, cứ như trong thời bình vậy, chẳng dè bị sơ suất. Lúc đó Thiếu úy Philip đang ở trần và đang tập trung vào một mục tiêu cách đó vào khoảng một ngàn thước. Anh mải ngắm ống kính nên thoạt đầu không thấy cái tên VC lẻ loi mặc áo bà ba đen đang mò ra khỏi hàng cây ngoài tầm ngắm của anh. May là Binh nhất O’Grady lại vừa nhìn về hướng đó.

May mắn cho anh là tên VC có lẽ được trang bị một khẩu súng nào đó không phải là loại cực mạnh chuyên để bắn sẻ. Hắn bắn vội vàng vài phát trước khi O’Grady bắn trả lại. Không biết những viên đạn bắn hụt qua anh vài phân hay vài gang tay nhưng George Philip cũng cảm thấy cái áp lực và luồng không khí xé ngang khi những viên đạn gần như là sượt qua tai. Anh rất bực với chính mình vì đã quá cẩu thả và đáng lẽ phải biết chuyện này rồi. Tuy vậy ngay sau đó anh cũng cảm thấy biết ơn về bài học đầu tiên và duy nhất ngoài chiến trường đáng giá này. Anh sẽ không bao giờ mắc phải cái sai lầm này nữa. Anh tự nhủ, “Con biết rồi, bố ơi.” Trong nháy mắt, tên VC biến mất vào trong bụi rậm nơi hắn vừa chui ra, làm như không có chuyện gì xảy ra vậy.

Trường đời thực tế trong chiến đấu luôn luôn mở rộng ngày và đêm trong suốt quá trình chu kỳ nhiệm vụ của một quân nhân tại Việt Nam. Chỉ một vài ngày sau sự việc xảy ra trên nóc lô-cốt cũ thời Tây, Đại đội Bravo cho bố trí canh phòng đêm quanh vùng bãi biển Wunder. Như đã được huấn luyện và lần này thì làm thật ở Việt Nam, sĩ quan đề lô George Philip sửa soạn các mục tiêu có thể phải tác xạ ban đêm. George báo về pháo đội tọa độ các mục tiêu phải yểm trợ cho Đại đội đêm hôm đó. Sự chọn lựa các mục tiêu phòng thủ ban đêm tương đối dễ và dựa vào sự suy nghĩ thông thường, khác với việc bắn pháo binh thực thụ đòi hỏi sự tính toán nhiều hơn.

Trường hợp này, đề lô chỉ cần đoán kẻ thù có thể tấn công từ đâu, và đặt súng chỗ nào v.v… Sau đó thì cố gắng “sơi” chúng trước khi chúng bắn phe ta. Việc nhận dạng các mục tiêu hiển nhiên và mơ hồ như vậy đã được thảo luận trong lớp học và trong những buổi thực tập tại Ft. Sill. Không có chuyện đúng hoặc sai trong việc lựa chọn mục tiêu để bắn khi phòng thủ ban đêm. Sau khi chắc chắn là những mục tiêu không nhắm vào thường dân vô tội, tất cả những gì thực sự quan trọng còn lại là giết được kẻ thù và không cho chúng hại phe ta.

Trong lúc George và truyền tin đang lập danh sách mục tiêu thì họ thấy có một vị trí quá rõ không thể sót được. Đó là một con đường đất trải dài vài ngàn thước qua một cánh đồng trống trải và chấm dứt nơi một rặng cây. Đúng là một chỗ lý tưởng để đặt súng cối. Trong ba hay bốn mục tiêu đã chọn, George còn báo cho pháo đội bắn thử trái khói vào những chỗ đó cho chắc ăn lúc trời còn sáng. Bây giờ nếu thật sự cần thiết chỉ cần gọi điện đàm báo cho pháo thủ bảo bắn vào mục tiêu số mấy, số mấy là xong. Mọi chuyện sắp sẵn cả rồi.
Khuya hôm đó, George thấy một điều tưởng chừng như không bao giờ thấy được và khi thấy rồi thì sẽ nghĩ là chắc không thể xảy ra thêm một lần nào nữa. Trong bóng đêm xuyên qua lỗ châu mai anh thấy những tia chớp không thể lầm được và vài giây sau đó là tiếng “đề-pa” đạn súng cối rời khỏi nòng… ngay từ chỗ mà anh và Binh nhất O’Grady đã đoán trước và sửa soạn sẵn rồi.

Ngay tích tắc sau đó, George gọi điện về pháo đội yêu cầu bắn yểm trợ: “Yêu cầu bắn yểm trợ… Mục tiêu Alpha Tango…” Một lệnh yêu cầu hoàn hảo nhất. George hết sức phấn khởi vì anh nghĩ rằng nếu mọi chuyện y như trong trường huấn luyện thì pháo binh trả đũa sẽ xảy ra ngay tức khắc và sơi được vài tên gian ác. Nhưng đây là Việt Nam. Và họ không còn ở Khe Sanh nữa. Bãi biển Wunder gần khu đông dân cư và có nhiều dân thường thật sự người Mỹ không thể sát hại được.

Thay vì xác định đã nhận được yêu cầu và cho bắn rồi thì pháo đội trả lời: “Chờ một chút… over.” “Chờ một chút” rốt cuộc thành “nhiều chút.” Lúc này thì viên sĩ quan đề lô thực sự đã bị tạt gáo nước lạnh vào mặt vì thực tế các quy tắc giao tranh trong những vùng mà người dân sinh sống gần đó hay những nhu cầu về chính trị đã vượt qua cơ hội có thể tiêu diệt các mục tiêu bất ngờ.

George được ai đó báo cho biết là trước khi bắn phải xin phép ông xã trưởng tại địa phương và “chờ một chút” trở thành nửa tiếng đồng hồ. Đến khi lệnh bắn được chấp thuận thì dĩ nhiên là khẩu bích kích pháo của địch đã cao bay xa chạy mất rồi. George than thở với Binh nhất O’Grady: “thằng khốn nạn giờ này đã chạy về núp váy mẹ nó rồi.” Anh bực dọc hủy bỏ lệnh bắn. Chào mừng đã nhập cuộc. Chào mừng đến Việt Nam. Liệu mà giữ cái đầu và cái đít thấp xuống con ạ…

Những gì mà mọi người cho là bình thường, ghê gớm hay khôi hài sẽ trở thành những điều hoàn toàn khác hẳn nếu đem vào hoàn cảnh tàn bạo của chiến tranh. Đối với những người chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam thì sự chết chóc hay bị cụt tay chân luôn luôn là bạn đồng hành với họ, cho bản thân họ hay cho đồng đội. Phương thức mà mỗi người tự chọn để đáp ứng lại, tùy theo tính khí của người đó đối với sự khốc liệt của chiến tranh và các tình huống đưa đến sự khôi hài đen chính là khả năng thích ứng và kiên trì của họ.
Chưa đầy một tuần lễ sau biến cố pháo kích ban đêm từ rặng cây thì Đại đội Bravo được điều đi hành quân trong một vùng rừng sâu. Địa thế hiểm trở muôn thuở đã khiến họ phải đi hàng dọc theo con đường mòn trong rừng. Như thường lệ sau mỗi giờ di hành, đại đội được dừng quân để nghỉ trong vòng 10 phút. Lúc này cơ thể Thiếu úy Philip vẫn chưa quen nổi với khẩu phần C-rations và uống nước suối rừng nên anh khập khiễng lê bước, thỉnh thoảng lại bị những cơn tháo dạ hành hạ.

Vào sâu trong lòng vùng địch, các binh sĩ Đại đội Bravo buông mình xuống tạm thời nghỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi trong lúc vẫn phải canh chừng an ninh chung. Đi gần đầu hàng quân, George vượt qua trinh sát và lặng lẽ ra hiệu cho biết anh muốn đi đâu và định làm cái gì. Từ con đường mòn, George tạt khoảng 15 độ vào khu rừng, bước thêm chục bước rồi sụp xuống tụt quần ra. Mải cởi quần để giải quyết vấn đề, anh chưa kịp ngồi một cách ngay ngắn thì chợt nghe một vài tiếng vọng rõ ràng không phải là của phe TQLC.

Thấp thoáng qua bụi rậm từ vị trí ngồi xổm, anh trông thấy bóng dáng bốn tên bộ đội Bắc Việt. Chúng có lẽ thuộc vào một toán súng cối hay gì đó.

Ngay lập tức cơn đau bụng biến mất. Anh rút khẩu .45 ra và không kịp kéo quần lên, vội vã lom khom mò về vị trí của Đại đội Bravo. Cái mông trắng như hoa lily vẫn còn lồ lộ ra đó, anh thảng thốt thều thào, khá giống nhân vật Paul Revere (thời nội chiến Hoa Kỳ lúc báo sự xuất hiện của quân Anh tại Lexington), cố gắng nói đủ lớn cho phe ta nghe mà không đánh động đến kẻ thù: “VC! VC!”

Các TQLC gần anh lập tức truyền tin xuống hàng dưới. Ngay lúc George vừa nhập bọn và mặc quần lại, các TQLC lập tức nhả đạn ra từ tất cả các loại vũ khí có sẵn theo một phong cách hoàn toàn đặc trưng của người Mỹ. Bốn tên VC vội vã vọt chạy trên con đường mòn với hy vọng sẽ thoát khỏi hàng ngàn và hàng ngàn viên đạn súng trường M.16 và súng đại liên M.60, bồi thêm bốn hay năm phát súng lục mà Thiếu úy Philip nhả ra một cách chính xác nữa.

Với số lượng đạn dược bắn ra như vậy thì Đại đội Bravo sau cùng cũng hạ được một tên bộ đội Bắc Việt. Xác hắn bị đồng bọn bỏ lại đằng sau. Chẳng rõ còn có tên nào trong số ba tên còn lại bị trúng đạn hay không, nhưng không thấy có vết máu để lại phía sau.

Chiều hôm đó, lúc Đại đội Bravo thiết lập vị trí phòng thủ ban đêm và các sĩ quan túm tụm lại tán dóc tại ban chỉ huy thì câu chuyện cuối cùng cũng lái về tên VC bị giết. Với gưong mặt tỉnh bơ, tuy không nhìn thẳng vào mặt George nhưng cố ý cho anh nghe được, Matt Dillon nói với Weiss và Sharples: “Hê, tụi bay có thấy thằng VC không? Nó có ba hay bốn viên súng lục .45 trong mình là cái chắc!” Tất cả đồng loạt quay đầu lại ngó George, các khuôn mặt nghiêm trang bấy giờ trở thành méo mó vì cố nhịn cười. George chắc chắn đã được nhập bọn rồi.

Ngoại trừ những lúc giỡn chơi và khôi hài, mọi chuyện bắt đầu với George là một giai đoạn hành quân liên tục mà không xảy ra biến cố gì quan trọng lắm, ít nhất là dưới khía cạnh tác chiến và chiến thuật đang ngày càng tiến bộ của anh. Đại đội Bravo có thể di chuyển chiến đấu tại những vùng có các địa thế khác nhau nhưng tựu chung đối với mọi người, một ngày trong rừng rậm là một cơ hội để họ có thể bị mất mạng hay bị thương. Các cuộc đụng độ với đối phương không khác nhau mấy. Mỗi lần đụng trận họ thường không thấy tận mắt kẻ địch đâu cả. Chiến tranh cứ thế mà diễn ra, ngày nào cũng như ngày nấy. Họ ra đi trong hai tuần, về lại để nghỉ vài ngày rồi lại đi tiếp. Cứ thế mãi, trừ phi họ tham gia vào một cái gì đó lớn hơn, một chiến dịch có “tên” đàng hoàng và trong trường hợp đó thì họ có thể ở lại lâu hơn. Không có ngày nghỉ cuối tuần, không có giờ hạnh phúc tan tầm, không có tiền lương giờ phụ trội. Suốt các tháng Năm, tháng Sáu, tháng Bẩy, tháng Tám qua đến tháng Chín chỉ là những chuỗi ngày chiến đấu vất vả. Giống như trường hợp các trinh sát của Ripley, cái ngày đánh dấu một tuần là ngày Chủ nhật khi tay thường vụ đại đội phân phát thuốc ngừa sốt rét.

Bưu tín và tin có thư là biến cố thật lớn và quan trọng. Các em gái Jody và Betsy của George rất siêng năng viết cho ông anh về mọi chuyện xảy ra trong gia đình, các vấn đề mà các cô thiếu nữ thường để tâm đến, và những lời khuyên theo lối dễ thương và ngây thơ của các cô gái mới lớn là ông anh ráng “núp cho kỹ vào.” Ngoài ra các cô cũng tiếp tế cho ông anh thật đầy đủ bánh sô-cô-la, cứ mỗi lần nhận được là chia hết cho mọi người và tiêu thụ lập tức.

Thư của George gởi về nhà thì kỹ lưỡng và vô thưởng vô phạt. Ông bố dượng Will Helmer rành sáu câu lắm rồi trong khi những người khác thì không cần thiết phải biết hết mọi chuyện. Mấy cô em còn quá trẻ và anh không muốn mẹ anh phải lo lắng vì chắc chắn bà sẽ đọc những lá thư đó và tìm mọi lý do để mà rầu rĩ.
Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

Một Mai Ngựa Xé Khu Rừng Cũ

tranvanle

“Thương mà biết nói sao cho hết?
Lậy Chúa! Cho con giữ được Nàng!”.
Tôi nghĩ tôi người luôn có Đạo…
nên đang ngước mặt nói cùng Trăng!

Em là Trăng đó, Trăng Mồng Tám,
mai mốt Mồng Mười, mai mốt Rằm.
Trăng khuyết, trăng đầy, em chỉ một:
Em Là Thương Mến mãi ngàn năm!

Em ơi tôi nói như tôi khấn,
em, Chúa Trời, em cũng Quận Nương!
Chữ Quận tự dưng nhìn ngộ ngộ, n
hắm nghiền mắt lại thấy Quê Hương!

Em kia, bờ sông, em kia, đầu non,
đêm nay trăng khuyết, mai trăng tròn,
hai chữ Sơn Hà thay chiếu trải,
bạc đầu tôi chỉ…tại trời sương!

Em nghe ngựa hí bên sông Dịch?
Em nghe quốc kêu trong rừng không?
Đừng nhé đa đa đôi cánh mở
che mờ mà mất biệt phương Đông!

Ôi tôi yêu nàng tôi yêu nàng,
đêm nay trăng xanh mai trăng vàng,
em là duy nhất, em là Nguyệt,
nghìn đóa bình minh một nhớ thương!

Người ta còn nói: Trăng Ngà Ngọc
– em trọn đời tôi – Một Bóng Trăng!
Em trọn đời tôi là đại hải,
là con thuyền đưa tôi vào mênh mông!

Em ơi đêm nay đêm tuyệt vời,
đêm nào thì cũng thế mà thôi…
Mới hay sông chảy ra ngoài biển,
tôi có em, sông ngược lại đời!

Tôi có em nên tôi được nói:
“Tôi yêu nàng, yêu lắm Nước Non!
Một mai ngựa xé khu rừng cũ,
tôi hứng em về một nụ hôn!”

Trần Vấn Lệ

tuổi mười ba

10735644_826194720769236_378143114_n (1)
nếu cởi
đôi giầy
ra
bờ chân em trắng lắm
nếu lội xuống qua khe
xin em ngày suối vắng

em nói

đi em
trên môi hồng mắt ướt
ờ mắt biếc mầu tuoi
chết vì em
cũng được

một chút bụi em khoe
đường qua ngang chút gió
anh chỉ thấy mùi hương
rừng lá xanh bỏ ngõ

nếu cởi xiêm áo ra
ối trời
anh nhắm mắt
sợ lúc thấy thiên đường
đứng tim là cái chắc

nếu em biết tuổi anh
lúc xoè tay ra đếm
khi em tuổi mười ba
tay cầm hoa
anh đến

quì xuống nơi rừng thưa
có ai thấy mà sợ
nhắm mắt dùm đi em
để nghe mầu sóng vỡ

Ngô Yên Thái