mùa phế tích

npphan

những giấc mơ hồn nhiên bước ra ngoài giấc ngủ
toan tính một cuộc vui
bằng trò chơi sắp đặt
trống trải hồ nghi
nỗi buồn bỏ túi

những con chữ lặng lẽ rời trang sách
tất tả trên hành trình vô vọng
xuyên qua giao lộ mặc cảm
cân bằng
độ lượng một vòng xoay

sự thật vội vã lánh ra ngoài cái bóng tuyên ngôn
đi bằng đôi chân định mệnh
đã có lúc song hành
cùng chân lý
lửng lơ

niềm vui bất chợt tách khỏi nụ cười
để sửng sốt yên bình
lộng lẫy bao dung
trong một góc khuất lẻ loi
mùa phế tích

NP Phan

NP phan

Chùa Macôi- tình cờ ta gặp lại em

lesa

Hỏi rằng có cuộc lai sinh
Mà em niệm khúc thệ kinh giữa chiều
Nợ tình vay được bấy nhiêu
Nợ đời oan ải thôi liều can qua
Môi thơm ướt sũng một tòa
Mắt người rìn rịn đóa hoa dã ngoài
Yêu nhau từ thưở hoài thai
Để rồi khóc buổi đông đoài ngàn lau
Trăm năm bóng đổ cơ cầu
Những yêu…
Yêu đến bạc đầu người ơi!

Lê Sa

Lời Tình Yêu Nắn Nót…

nguyennhumay
IMG_8700

Nước biển màu gì anh chẳng biết
có thể nâu như mắt em buồn
có thể vàng như nắng chiều hôm
và sẽ tím như áo em hò hẹn

anh chẳng biết vì sao biển tím
sóng đong đưa lời hát muôn năm
cho chúng mình bỗng chốc xa xăm
trong mơ tưởng biến thành đảo nhỏ

anh chẳng biết vì sao biển nhớ
tấm lòng em đắm thắm, mặn mà
cánh buồm ai vời vợi ngoài xa
trăng vừa khuyết trong vòng tay biển!

anh chẳng biết vì sao bờ bến
mỗi hàng dương mang một màu xanh
có phải chăng vì mãi nhớ anh
em gửi biển tấm lòng trai trẻ

anh chẳng biết vì sao như thế
chẳng biết gì ngoài biết yêu em!
biển màu gì, anh chẳng cần tin
anh chỉ nhớ màu hồn em đẹp…

Nguyễn Như Mây

CHUYỆN TÌNH ANH TÔN TẪN

lephuhai

Dĩ nhiên Tôn Tẫn chỉ là cái biệt hiệu chúng tôi đặt cho anh để gọi cho vui thôi chứ thiệt ra không có gì giống nhau cả. Theo điển tích thì Tôn Tẫn là người nước Tề, là một quân sư, một nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc. Tôn Tẫn bị Bàng Quyên, một người bạn học vì ghen ghét tài nên đã mượn pháp luật mà trị tội chặt cả hai chân. Còn anh bạn của chúng tôi chỉ bị cụt một chân tới đầu gối, phải đi chân giả khập khiểng. Chúng tôi quen nhau khi cùng lên vùng kinh tế mới sinh sống theo lệnh của nhà cầm quyền. Cả một khu rừng được ủi thành những đường ngang. Một con đường lớn thẳng góc nối những đường ngang này lại thành con đường giao thông chính. Hai bên đường phân ra thành từng lô gia cư nhìn đối diện nhau, phía sau lô gia cư là lưng của một nhà nào đó khác của đường ngang tiếp theo… và những gia đình sống trong cùng một đường ngang đó gọi là một “đội”. Thôn tôi ở có từ đội 1 đến đội 12, nhà tôi ở đội 4, nhà anh Vinh – Tôn Tẫn – ở đội 10, vậy là gia đình anh lên sau gia đình tôi một hai tháng gì đó.
Những người cùng cảnh ngộ thường dễ làm quen với nhau, nhất là trong cái kiểu hoàn cảnh giống như mình bị hiếp đáp và đe nẹt. Hơn nữa dạo ấy chúng tôi chỉ vừa ngoài hai mươi tuổi, cái tuổi sống rất thật và cởi mở tấm lòng. Tôi làm nghề dạy học, anh Vinh cũng như hầu hết người trong thôn làm nghề nông trên những đồng đất tự khai phá. Ngoài ra anh còn có thêm nghề cưa gỗ, cái nghề nhọc nhằn nhưng kiếm tiền thì cũng sướng. Tôi ngày một buổi đi dạy học, buổi còn lại thường lên rẫy với gia đình. Chỉ có buổi tối thì buồn. Rừng sâu heo hút tối om om, đường sá đi lại thì gập ghềnh mùa khô và sình lầy mùa mưa. Tôi thường hay ra khu tập thể giáo viên ở gần đội 10 để chơi. Nói chuyện tào lao riết cũng hết đề tài, chúng tôi bày ra đánh domino, hết đánh domino lại rủ nhau ra quán cá phê cô Mai cạnh đó uống cà phê nói dóc. Bên ngọn đèn dầu leo lét, chúng tôi gọi mấy ly cà phê và dở bịch thuốc rê ra hút, ngồi nghe lén tiếng hát Lệ Thu hay Khánh Ly từ cái máy cassette cũ rè rè vặn nhỏ. Chúng tôi cảm thấy cuộc đời vậy là vui lắm rồi! Và tôi quen anh Vinh cũng trong một dịp cà phê như vậy.
– Buổi tối ngồi uống cà phê nghe nhạc buồn quá. Mấy ông thầy về nhà tôi chơi không? Về kiếm xị rượu uống cho ấm.
Chúng tôi theo anh Vinh về nhà. Nhà chỉ có anh là lớn, tiếp theo là Mân, đứa em trai cũng trạc tuổi như tôi và hai đứa em gái nữa. Anh kêu hai đứa em gái lấy rượu và nướng mấy con cá khô, gọi thằng em trai cùng ra ngồi chơi chung. Tôi hỏi:
– Ông bà già đâu anh?
– Chỉ có mấy anh em thôi. Bà già bịnh chết gần hai năm nay rồi. Ông già thì đang “cải tạo” chưa về.
Tôi im lặng không hỏi thêm nữa vì nghĩ tò mò chuyện gia cảnh người khác cũng không tế nhị lắm. Cũng may Vinh là người vui vẻ, anh rót rượu ra mời và nói cười một cách tự nhiên, kể về chuyện trồng lúa trồng mì, chuyện cưa xẻ gỗ… Sau vài vòng rượu ai nấy đều cảm thấy ấm lên và câu chuyện trở nên tự nhiên hơn. Anh Vinh nói:
– Chắc là mấy thầy cở tuổi thằng Mân em tôi đây. Vậy là tôi lớn hơn đó. Thôi thì… ngoài công việc dạy học ở trường là vai trò ông thầy thì mình coi như anh em đi, để thỉnh thoảng gặp nhau cho vui ha.
Một người bạn của tôi chợt nói:
– Anh bị cái chân như vầy giống Tôn Tẫn quá, vậy gọi anh là Tôn Tẫn được không?
Anh cười hà hà:
– Giống đâu mà giống. Tôn Tẫn bị cụt hai chân, tôi còn chân rưỡi mà. Nhưng muốn gọi sao cũng được. Cái tên Tôn Tẫn này nghe cũng hiên ngang đó.
Một người bạn khác hỏi:
– Anh bị cái chân lâu chưa?
– Năm bảy ba. Thiếu úy nhảy dù mà…
– Vậy là anh đã giải ngũ rồi, sao lại đi kinh tế mới? Tôi hỏi.
– À, mấy anh em tụi này đi kinh tế mới là theo “diện” ông già. Ổng trước đây làm xã trưởng, có đi cải tạo một năm xong rồi. Về nhà lại tham gia “phản động phản điếc” gì đó nên bị bắt lại. Thiệt là tào lao hết sức.
Nói xong anh lại cười khà khà…

xxx

Kể từ sau cái hôm đến nhà chơi đó tôi bắt đầu quen biết và giao thiệp với anh nhiều hơn. Cái tên Tôn Tẫn ban đầu là do chúng tôi gọi anh, sau rồi nhiều người khác trong thôn cũng gọi, riết thành quen luôn. Ngoài tính cởi mở và vui vẻ anh Tôn Tẫn còn rất tháo vác và giỏi tổ chức công việc. Trong nông nghiệp, anh và đứa em trai làm những việc nặng nhọc như cày cuốc, đào xới, chuyên chở, hai đứa em gái làm việc nhẹ hơn như thu hoạch, gieo trồng, chế biến. Ngoài những ngày chính vụ, anh và đứa em trai còn thường xuyên đi rừng cưa gỗ. Anh nói với tôi nông sản chỉ để làm lương thực phòng hờ chuyện thiếu ăn thôi vì mấy món này mua bán rất rẻ. Gỗ chính là nguồn thu nhập và sắm sửa của gia đình. Anh say sưa mô tả về các kỹ thuật cưa líu cưa lo cưa ngang cưa dọc gì đó mà tôi không nhớ được. Khi đã hơi thân nhau rồi tôi có hỏi anh về thời chinh chiến, anh cười buồn: “Chiến tranh thì có gì vui đâu, chỉ là chết chóc và mất mát thôi mà… chỉ có điều nó kết thúc không có hậu chút nào”

Hai năm sau thằng Mân, em trai anh lấy vợ, anh đứng ra tổ chức lễ cưới, mời mấy anh em trong dàn nhạc đờn ca sáo thổi trong huyện về trình diễn. Năm sau nữa ông già anh được tha về, cũng sống lầm lủi rẫy rừng khiêm tốn vậy thôi, mọi lo lắng giao lưu cũng chỉ từ anh Tôn Tẫn. Ngày chủ nhật nghỉ làm anh thường tạt vào trường học chơi với tụi tôi, đánh cờ tướng, cờ domino hoặc đàn hát. Tôi vẫn thỉnh thoảng cầm đèn pin lội bộ từ đội 4 ra đội 10 ghé trường học rồi ghé nhà anh chơi, tào lao ba điều bốn chuyện. Có lần tôi hỏi anh ngày xưa chiến trận ở đâu, anh kêu con em gái lấy cây đàn ghi ta, từng tưng chỉnh dây rồi hát: “Tháng giêng đưa quân ra Huế, cố đô hoang vu điêu tàn… Tháng ba về trấn ven đô, chong mắt hỏa châu giữ cầu….” Rồi anh kể, có lần hành quân qua một xóm nhỏ vào buổi sáng sớm, tự nhiên có một cậu du kích từ trong một căn nhà chạy ra, lính nổ súng và cậu du kích trẻ kia ngã xuống. Anh tới xem, nhìn thấy trong miệng cậu ta còn miếng cơm nhai chưa nát, nước mắt anh chảy dài… Cũng có lần tôi hỏi anh sao không lấy vợ, anh nói ai thương mà lấy thằng cụt chân kia chứ. Tôi nói anh giỏi giang quá trời thiếu gì cô để ý, anh khều khều tôi ghé đầu lại gần nói nhỏ:
– Cái này nói riêng thầy Tám (anh gọi tôi theo thứ ở nhà) biết thôi, không được tiết lộ nghen ?
Tôi tò mò:
– Chuyện gì mà quan trọng dữ vậy ta ?
– Năm bảy ba anh bị cái chân, cũng có bị tổn thương “hai hòn bi”.
– Chết cha! Tôi la lên.
– Ê, nói nhỏ thôi chứ. Anh chỉ bị đường con cái thôi chứ chiến đấu vẫn ngon đó. Tháng trước đi thị xã mua mấy cái lưỡi cưa anh có “thử” rồi, ngon lành lắm nghen, hà hà…

xxx

Ở cuối thôn, đội 12, có cô Thủy, con của một cảnh sát già góa vợ. Thủy là con gái út, các anh chị ở đâu không thấy, chắc là đã có gia đình riêng đâu đó rồi, chỉ thấy cô ở với người cha trong một căn nhà tranh vách đất. Cô này nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng rất lanh lợi và hoạt bát. Cô thường đi buôn bán nông sản về thị xã, dĩ nhiên chẳng nhiều nhỏi gì nhưng trong cái thời ngăn sông cấm chợ thì đây quả là công việc của một người tháo vác. Thủy không đẹp nhưng có duyên, đặc biệt mắt cô như biết cười. Nói chuyện với mình, trước khi miệng cô nở nụ cười thì dường như đã thấy từ mắt cô có sẵn niềm vui chực chờ đâu đó. Rồi một ngày kia cô Thủy có chửa, cả thôn râm ran bàn tán. Lại càng bàn tán hơn nữa khi đám hỏi diễn ra giữa hai nhà cô Thủy và nhà anh Tôn Tẫn. Ngay sau đó là một đám cưới đơn giản diễn ra. Tôi cũng là một trong những thành viên hăng hái dựng rạp che lều chuẩn bị cho đám tiệc. Cuối bữa tiệc, anh Tôn Tẫn ép tôi ở lại uống rượu, tôi say gần chết, nằm ói trên chiếc đi văng của cô dâu chú rễ, sáng dậy mắc cở chả biết trốn đi đâu. Vài tháng sau cô Thủy sinh một bé gái, tôi từ trường học gần đó ghé qua trạm xá thăm, gặp anh Tôn Tẫn đang hân hoan vui sướng. Anh khoe: “Gần ba ký, đẹp còn hơn công chúa Bạch Tuyết trong truyện bảy chú lùn…”

Tôi sau đó cũng lập gia đình và điều chuyển đi nơi khác, cách chỗ cũ gần mười cây số, nhưng vẫn hay đạp xe về thăm vì ba má tôi vẫn còn ở đó. Thôi nôi rồi sinh nhật lần nào của bé Tiên – con gái anh Tôn Tẫn và cô Thủy – tôi cũng được nhắn về tham dự, dù thường là bữa tiệc chỉ được tổ chức đơn sơ và khiêm tốn. Năm bé Tiên khoảng năm tuổi có một sự cố xảy ra. Hôm đó chủ nhật tôi về thăm ba má xong lửng thửng cuốc bộ ra nhà anh chơi. Đến trước cổng nhìn vào thấy hình như nhà có khách. Đang tính lỉnh đi đâu đó chợt anh nhìn ra kêu lên:
– A ! thầy Tám, ghé vô uống miếng nước chơi.
Tôi còn đang phân vân thì anh khập khiểng bước ra khoác tay qua vai nói nhỏ:
– Vô đây với tôi, thằng này là cha ruột bé Tiên tới xin nhận con đó.
– Ủa, thằng cha này ở đâu ra vậy?
– Nó là cán bộ thuế vụ ở trên huyện.
Tôi cảm thấy có chút lo lắng:
– Bé Tiên đâu rồi?
– Cô nó dẫn qua hàng xóm chơi rồi.
Tôi bước vào nhà, chào quanh quất rồi ngồi xuống cái ghế bên cạnh anh Tôn Tẫn. Xung quanh cái bàn vuông còn có cô Thủy, ba cô Thủy và người thanh niên mà tôi vừa biết là cha ruột của bé Tiên. Anh này khoảng tuổi tôi, người tầm thước, nhìn cũng không đến nỗi khó ưa. Anh Tôn Tẫn giới thiệu:
– Đây là thầy Tám, hồi trước là giáo viên ở đây, cũng là người thân thiết của gia đình nên mình cứ tự nhiên nói chuyện.
Anh thanh niên lên tiếng, như tiếp tục câu chuyện đang dở dang:
– Như đã trình bày với chú Hai và anh Vinh, nguyện vọng của tôi là xin được nhìn nhận bé Tiên là con. Tôi biết mình có lỗi vì đã bỏ rơi “giọt máu” của mình nhiều năm nay, tôi hứa sẽ bù đắp hết sức.
Ba cô Thủy nói:
– Thật là khó cho bé Tiên. Tự nhiên ở đâu xuất hiện một người cha khác, chắc là nó không chấp nhận đâu.
– Từ khi con bé sinh ra tới giờ – anh Tôn Tẫn nói – tôi chưa bao giờ nghĩ nó không phải là con ruột của tôi, và tôi chắc chắn nó cũng vậy. Việc cho anh nhìn nhận nó tôi cũng không bằng lòng nói chi tới việc dẫn nó đi. Bây giờ gia đình ai yên phận nấy rồi, tôi nghĩ không nên làm cho nó xáo trộn thêm.
Chàng thanh niên nhăn nhó:
– Kẹt cái là vợ tôi bị “nâng”, đi khám cùng khắp rồi mà đâu có chữa được. Mà ông bà già thì phàn nàn suốt ngày…
Tôi nghĩ mình cũng nên có ý kiến:
– Về mặt pháp lý thì anh chẳng có lý do gì để nhìn nhận bé Tiên là con mình cả. Việc anh Vinh và cô Thủy đây công nhận mối quan hệ huyết thống giữa anh và bé Tiên đã là một việc tử tế rồi. Giả như cô Thủy phủ nhận bé Tiên là con anh thì anh cũng chịu thôi. Đó là chưa nói nếu ra tòa sẽ không ai xử cho anh được quyền lấy lại bé Tiên đâu.
Chàng thanh niên có vẻ tức tối, anh ta to tiếng:
– Nhưng bé Tiên đúng là con tôi, nó là “mầm sống” của tôi!
“Xoảng” cái ly nước vỡ tan tành dưới nền nhà. Anh Tôn Tẫn đứng lên giận dữ:
– Anh ra khỏi nhà tôi ngay trước khi tôi không kềm chế được nữa. “Mầm sống” cái gì? Xin lỗi anh con chó con mèo ngoài kia cũng có mầm sống đó. Anh không hơn con chó con mèo thì nói gì đến mầm sống mầm chết.
Chàng thanh niên chụp lấy cái mũ trên bàn rồi đi như chạy ra phía cổng. Cô Thủy nhào tới ôm chầm lấy anh Tôn Tẫn, gục đầu vào ngực chồng òa lên nức nỡ…

Lê Phú Hải

TỰ TÌNH MÙA THU

nguyenanbinh

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Ngựa hồng về bãi sông
Chim quay đầu trên sóng
Hót những lời thinh không
Ngại ngần chi em nhỉ
Lá khô giòn nhớ mong?

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Cho mây mãi phiêu bồng
Áo giang hồ đã bạc
Bụi nhuốm đầy thu đông
Em bên triền sương khói
Trôi giữa dòng đục trong.

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Mái ngói đầy rêu phong
Tiếng chim gù thao thức
Theo ai về cuối sông
Một ngày đi không hết
Trong giấc ngủ mênh mông.

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Tình yêu hóa cầu vồng
Con tim màu ngũ sắc
Bám vào hồn rêu rong
Mùa thu không trở lại
Em qua cầu ai trông?

Nguyễn An Bình

PHỐ…KHI VỀ

daolam

khi về phố lấp hàng mưa
chùm bong bóng muộn nở vừa ngón tay
chân qua vĩa phố ai hay
khúc sinh ca gọi mùa phai phớt vàng

gió đồng vọng bước hồng hoang
nên chi ta cứ cũ càng với ta
khi về phố lấp mưa nhoà
tóc lay từng sợi mơn man gọi chào

buồn vui chi cũng mai sau
chân dài phố trượt lòng đau ơi tình!
nhập thân vào cuộc lữ sinh
mắt buồn của Mạ cứ bồn chồn theo

khi về phố lấp mưa reo
gánh thân hoang mục trả treo hai đầu
dặm dài cỏ khuất ngàn lau
từng ấy năm…một vẫy chào…trắng tay!

TA LÊU BÊU MỘT ĐỜI SAY
KHI VỀ …PHỐ…VẮNG..BUỒN …LAY LẮT… BUỒN!

DaoLam

CƯỠI NGỌN SẤM 23

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 18

“Vừa đánh vừa đàm”
Vùng I Chiến Thuật
Mùa Thu 1971

Số lượng người Mỹ còn lưu lại tại Việt Nam cho đến cuối năm sẽ chỉ còn ít hơn con số 160.000. Trong số này hầu hết là những người phụ trách các vai trò về tiếp liệu hay yểm trợ cho tác chiến. Đến cuối năm 1971 thì mọi đơn vị bộ binh chiến đấu TQLC Hoa Kỳ đều đã triệt thoái ra khỏi vùng Đông Nam Á, và trên thực tế quân đội Hoa kỳ chỉ còn rất ít người cầm súng ở lại. Những người ở lại chỉ đóng các vai trò yểm trợ cho Quân Lực VNCH trong chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh.”

Điều duy nhất được coi là kỳ dị hơn cả các quy tắc chiến đấu mà các lực lượng bộ binh và không quân Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tuân theo là cái nguyên tắc rối rắm theo kiểu “lắm thầy thối ma” theo đó đường lối chính trị đã ảnh hưởng vào các hoạt động quân sự. Từ giữa tháng Tư cho đến tháng Mười năm 1968, trong một số các động tác bày tỏ thiện chí một cách ngây thơ đối với phe Cộng sản, Hoa Kỳ trên thực tế đã ngưng tất cả các cuộc không kích Bắc Việt ở phía trên vĩ tuyến 20. Điều này coi như đã bỏ ngỏ 90% lãnh thổ kẻ thù không được đụng đến. Phía Bắc Việt thực tế và quyết thắng hơn đã lợi dụng đúng mức cơ hội này để bố trí lại các phương tiện quân sự chiến lược trọng yếu và xây dựng một hệ thống phòng không tối tân, hoàn thiện hơn do Liên Xô cung cấp chung quanh Hà Nội và Hải Phòng.

Tiến trình hòa đàm tại Paris với bọn Cộng sản cứng đầu và ngoan cố đã tỏ ra là một quá trình cực kỳ khó chịu vì người Mỹ chỉ muốn có kết quả và nóng lòng đạt một sự thỏa thuận nào đó. Phải cần tới chín tháng trời hai bên mới đồng ý xong về hình dáng cái bàn hội nghị và điều này ngầm báo trước những điều chẳng tốt lành gì. Trong khi đó cả hai bên, với bọn Cộng sản rõ ràng là xảo quyệt và nhạy bén về chính trị hơn, đều áp dụng đường lối “vừa đánh vừa đàm” của Mao Trạch Đông, tức đánh lúc không đàm phán và đàm phán trở lại lúc không còn đánh nhau nữa.

Chuyện quan trọng nhất đối với dân chúng Hoa Kỳ, ngoài sự kiện triệt thoái toàn bộ ra khỏi Đông Nam Á là chuyện hồi hương các tù binh chiến tranh Mỹ bị bắt với số lượng ngày càng tăng thêm. Họ đang bị giam giữ trong những điều kiện tồi tệ và bị tra tấn tại những nơi được đặt cho cái tên mỉa mai là “Khách sạn Hilton.”

Mặc dù cuộc đột kích vào tháng Mười Một năm 1970 của người Mỹ vào Sơn Tây, nằm vào khoảng 20 dặm về hướng Tây của Hà Nội bởi một lực lượng đã được huấn luyện kỹ lưỡng và có quyết tâm cao do Đại tá Arthur “Bull” Simons chỉ huy, đã thất bại trong toan tính giải cứu các tù binh chiến tranh bị giam giữ tại đó – họ đã bị chuyển đi nơi khác không lâu trước đó vì nguy cơ lũ lụt – nhưng hành động này đã có một hiệu quả tích cực đáng kể. Hành động Hoa Kỳ dám tung ra một lực lượng biệt kích lớn, can đảm xông vào thẳng sào huyệt của Bắc Việt đã báo lên một thông điệp mạnh mẽ đến tất cả các phe có liên quan. Người Mỹ có thể chịu linh động hay nhân nhượng ở một số điểm nào đó nhưng sự đối xử với những người đã được công nhận là tù binh là một chuyện mà sau này phía kẻ thù sẽ phải chịu trách nhiệm. Sau cuộc đột kích Sơn Tây, điều kiện các tù binh bị đối xử đã được cải thiện khiến tinh thần họ cũng được nâng cao lên. Lực lượng xung kích cũng đã có cơ hội, trong thời gian ngắn tại Sơn Tây, “xơi tái” được một số đáng kể những tên xấu xa. Không có người Mỹ nào bị thiệt hại trong cuộc mưu toan giải cứu tù binh.

Các cuộc thương lượng và chỉ trích lẫn nhau tiếp diễn trong những phiên hòa đàm miệt mài tại Paris. Ngay từ ban sơ, khi các cuộc đàm phán khởi sự vào tháng Năm 1968, thái độ của phe Cộng sản nhắm vào nhiều mục tiêu cùng một lúc: đòi hỏi sự công nhận của Hoa Kỳ và VNCH đối với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (phe Cộng sản miền Nam Việt Nam có đại diện của họ), phân hóa đế quốc Mỹ và “đầy tớ” đồng minh bất chính VNCH, buộc Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về tất cả những đau thương đã xảy ra và phải rút về nước, cũng như cam kết không viện trợ cho phe VNCH nữa.

Trong vòng hơn ba năm, những cuộc đàm phán của các phía đều vô ích. Vào tháng Năm năm 1969, Tổng thống Nixon đã đưa ra đề nghị rút tất cả các lực lượng không phải của miền Nam Việt Nam ra. Điều này có nghĩa là bao gồm các lực lượng Hoa Kỳ lẫn Bắc Việt. Vào tháng Mười năm 1971, người Mỹ lại một lần nữa đưa ra đề nghị tương tự. Chẳng may cho Nixon là Cộng sản Bắc Việt không hề có ý định vội vã triệt thoái ra khỏi miền Nam như Hoa Kỳ. Người Mỹ đằng nào cũng sẽ phải rút về, dù có hòa đàm hay không cũng vậy. Cộng sản vẫn cương quyết tập trung giành chiến thắng bằng bất cứ mọi giá, giá nào cũng được, vượt hẳn quyết tâm của người Mỹ đang trông đợi kẻ thù nhân nhượng.

Vào tháng Bẩy năm 1971, Tổng thống Nixon làm bất ngờ cả nước và thế giới khi ông tuyên bố sẽ ghé thăm Bắc Kinh với ý định rõ rệt muốn bình thường hóa quan hệ với một quốc gia đông dân nhất thế giới. Những lợi ích về mặt chiến lược rất đáng kể. Trong hai năm vừa qua, Liên Xô và Trung Cộng đã tranh dành lãnh thổ với nhau trong một số trận đánh đẫm máu tại nhiều điểm dọc theo đường biên giới dài giữa hai nước. Nếu có thể thúc đẩy được sự tan vỡ của cái khối Đỏ to lớn và lợi dụng sự mất tin tưởng lẫn nhau của hai nước đó thì may ra Hoa Kỳ có thể lấy lại uy tín và xây dựng lại được sức mạnh đã bị chỉ trích là đầu tư quá nhiều mà chẳng lấy lại được bao nhiêu tại Đông Nam Á. Liệu Tổng thống Nixon có thể biến điều này thành một thắng lợi về mặt chính trị và quân sự tại Việt Nam hay không vẫn còn phải chờ xem. Tuy nhiên nhưng tay đầu sỏ Bắc Việt có vẻ đang lo lắng một cách thật sự. Họ hiểu rằng, nhất là sau bài học cuộc đột kích Sơn Tây, yếu huyệt của người Mỹ là vấn đề tù binh. Họ sẽ tiếp tục chơi lá bài đó trong mọi cuộc đàm phán tiếp theo. Trong khi đó thì các lực lượng Hoa Kỳ tiếp tục triệt thoái không gián đoạn ra khỏi Việt Nam.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Lễ mãn khóa
Đà Lạt, Việt Nam Cộng Hòa
Tháng Mười Hai 1971

Đó là một ngày nắng ấm tuyệt vời tiêu biểu của khung trời Đà Lạt, nhiều gia đình, bạn bè và quan khách đã tụ họp nhau lại để tham dự lễ mãn khóa và chúc mừng các thanh niên tân Thiếu úy và tân Chuẩn úy sắp lên đường phục vụ cho một đất nước đang bị tàn phá bởi chiến tranh. Sự kiện Việt Nam Cộng Hòa và khóa 24 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đã tồn tại cho tới nay không phải do phép lạ nào cả. Thật vậy, vào cuối tháng Mười Hai năm 1971, đất nước còn tự hào là đã có được những điều báo hiệu cho niềm hy vọng, thậm chí cả sự chiến thắng nữa.

Năm 1971 sắp chấm dứt và tương lai tuy chưa có gì chắc chắn nhưng đã tỏ ra có những khúc quanh sáng sủa hơn. Chính quyền Sài Gòn đã kiểm soát được nhiều phần lãnh thổ hơn là lúc đất nước mới được thành lập ngót 18 năm về trước. Những công cuộc cải tổ chính đáng đã được áp dụng và mặc dù chưa được nhanh chóng theo mức độ cần thiết để tránh cho chính quyền bị các sự chỉ trích trong nước cũng như từ giới truyền thông Tây phương và các trường đại học tại Hoa Kỳ, nhưng cũng đã đủ để chận đứng tuyên truyền của Cộng sản. Hạ tầng cơ sở của Việt Cộng đã bị thiệt hại nặng nề trong kỳ Tết Mậu Thân, họ vẫn chưa đủ khả năng để chỉnh đốn hay tự vực dậy được. Công cuộc triệt thoái các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ đã được cân bằng lại với lời hứa viện trợ tối đa cho bạn đồng minh và tiếp tục hỗ trợ bằng không lực.

Sắp sửa được mang lon Thiếu úy, Nguyễn Lương đã tốt nghiệp với số điểm đủ cao trong lớp để đạt cái danh dự trong nhóm 14 khóa sinh được khoác bộ quân phục rằn ri của binh chủng TQLC trong ngày chọn đơn vị phục vụ. Người Mỹ bình thường chắc sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Việt Nam cũng có TQLC, nhưng họ sẽ còn ngạc nhiên gấp bội khi hiểu ra là chỉ có những khóa sinh đậu cao nhất, những sĩ quan trẻ xuất sắc và thông minh nhất mới được chọn để phục vụ trong các đơn vị ưu tú như TQLC, Nhẩy Dù và Biệt Động Quân. Do đó sự tranh đua để chọn đơn vị rất là gay go.

Bãi diễn hành cho buổi lễ là một phiên bản thu nhỏ hơn một chút của trường West Point. Tuy nhỏ hơn về kích thước so với mô hình của Hoa Kỳ nhưng hoàn toàn không kém phần trang trọng, tự hào và nhiệt tình cho buổi lễ tốt nghiệp tại Đà Lạt. Trong số 311 thanh niên nhập khóa 24 từ năm 1967, chỉ có 245 người đã chịu đựng nổi quân trường và sắp sửa bước lên khán đài để nhận bằng cấp tốt nghiệp và trách nhiệm của người sĩ quan trước mặt toàn thể các người thân và bạn bè hâm mộ. Sự phấn chấn và lời thề, giống như trong mọi buổi lễ mãn khóa khác, đã được ghi khắc vào trong tâm hồn của những thanh niên lên đường chiến đấu với niềm tin vững chắc là tất cả mỗi người trong số họ đều sắp sửa được chỉ huy binh lính để chống lại kẻ thù Cộng sản.

Ngày 27 tháng Mười Hai năm 1971 là cái ngày cuối cùng mà khóa 24 còn tụ họp lại với nhau như một tập thể đồng nhất. Họ tự nhủ không biết trong những lần hội ngộ sau này, có thể là năm, mười hay 30 năm nữa, sẽ có bao nhiêu đồng đội trong số họ, có lẽ là một con số không nhỏ, sẽ hy sinh đền nợ nước trong cuộc chiến hiện tại vì sự sống còn này.

eric-joseph-hieu

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

Thành Phố Khi Xa

nguyendanhlam

Chào nhé những dòng xe
Những khung cửa lấm đầy bụi khói
Những hàng người kim đồng hồ dồn tới
Những đôi môi tiếng nói cứ thưa dần …

Một người đi thành phố chẳng vắng hơn
Mà ngàn người cũng dễ gì trống trải ?
Phía sau lưng chẳng một người con gái
Phung phí nữa giờ cho nỗi nhớ chiều nay !

Cuộc sống thăng bằng trên những cái bắt tay
Mặt trời và máy lạnh
Cơn khát và nước ngọt
Căn phòng hẹp và chiếc Ti-vi …

Một người xa thành phố chẳng hề gì
Sao quay quắt một người lại nhớ
Không hẳn như thói quen
Mà đó là hơi thở
Dẫu chỉ một lần
Nuôi nhịp đập – Trái tim !

NGUYỄN DANH LAM

này lặng lẽ nhiên hương

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

tiếng hát vừa qua ngang
rớt vô lòng dậy sóng
gió bên nớ bên ni
mơ hồ sao tâm động

ngày em vào đám đông
bước ta lui bỏ phố
vẫn trộm tiếng cười em
lâu lâu ngồi chỉ nhớ

xa xa ngồi một chỗ
nhìn ra tiếng vỗ tay
lúc em đeo vương miện
ta cất chút … vào ngày

em bao giờ ngoảnh lại
thấy ra tiếng nói xưa
dù chỉ là buột miệng
vẫn buồn vui nắng mưa

khi bước lên nhìn xuống
làm sao nếu tìm ta
đêm vẫn từ góc khuất
nho nhỏ tiếng trầm ca

sẽ buồn riêng không nhỉ
lúc moi túi tìm thơ
em có còn muốn hỏi
ta khoe tuổi còn thơ

NGÔ YÊN THÁI

LÃNH TỤ

sonnghi

Thời loạn ly thường sinh những anh hùng. Họ xuất hiện giữa đám đông, làm những việc không ai dám làm hoặc không có khả năng làm. May mắn cho một dân tộc khi có những anh hùng như thế vươn lên đứng sừng sững giữa thời đại nhiễu nhương. Và thật bất hạnh nếu không có họ, vì dân tộc đó sẽ mãi mãi đắm chìm trong nỗi xót xa của một kiếp người.

Cuộc sống hàng ngày cũng sản sinh nhiều anh hùng. Có người xông vào đám cháy để cứu một em bé bị kẹt bên trong. Có kẻ bênh đỡ những người thế cô bị chèn ép, ức hiếp. Họ hành động và bất chấp hiểm nguy cho chính mạng sống mình. Anh hùng thời nào cũng thế, họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Anh hùng xuất hiện ở một thời điểm nhất định, giải quyết xong một mâu thuẫn, rồi lặng lẽ biến trôi theo dòng đời. Hành động anh hùng vẫn được mọi người nhắc nhở nhưng anh hùng thì không màng được gọi tên. Người đời ngưỡng mộ gọi họ là anh hùng vì chứ bản thân họ không hề nghĩ đến việc được phong vương nhận tước hoặc lời khen tặng. Chính tình trạng xã hội hoặc tình huống dầu sôi lửa bỏng xảy ra vào một thời điểm nhất định đã thúc đẩy họ phải làm một cái gì để thay đổi, đem lại một cái gì mới hơn, tốt hơn. Đây chính là ý nghĩa cao cả nhất của nghĩa cử anh hùng.

Thời Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước TCGS – 39 sau TCGS), quan thái thú Tô Định nổi tiếng tàn ác, khiến lòng dân uất ức oán hận. Nhân vì thù chồng, Trưng Trắc và Trưng Nhị nổi dậy cầm quân đánh đuổi Tô Định quyết dành lại độc lập cho nước nhà thoát ách đô hộ của phương Bắc. Hai bà là vị nữ lưu anh hùng đầu tiên của nước Việt. Sau này vì thua quân Mã Viện nên hai bà đành phải nhảy xuống sông Hát giang trầm mình tự tận.

Khi làm xong những việc phi thường, người anh hùng âm thầm quay trở lại nếp sống bình thường nếu có cơ may còn sống sót. Nếu không, sẽ có những ngậm ngùi thương tiếc quyện với khói hương và những khuôn mặt nhạt nhoè nước mắt ẩn khuất sau tấm vải sô màu tang trắng.

Có ai xuôi vạn lý,
Nhắn đôi câu giúp nàng,
Lấy cây hương thật quý,
Thắp lên thương tiếc chàng…

Lê Thương (Hòn Vọng Phu)

Anh hùng đích thực chỉ có thế! Họ xuất hiện để kéo đám mây đen, trả lại cho nhân gian một ngày rực sáng. Hình ảnh dũng cảm của chàng trai áo vải Lam sơn xông phá vòng vây ở rừng Chí linh đánh dấu mười năm gian khổ, để bẻ gãy xiềng xích nô lệ của giặc Minh vẫn còn ghi đậm nét trong sử sách. Anh hùng luôn có những hành động anh hùng. Lê Lai chấp nhận hy sinh để cuộc khởi nghĩa còn có vị minh chủ chỉ huy, giữ lấy chính nghĩa. Cái chết của Lê Lai thật đơn giản; mặc áo ngự bào giả làm Lê Lợi để quân nhà Minh vây giết nhưng để lại một triều đại nhà Lê kéo dài đến 360 năm, đánh dấu một thời nước nhà độc lập. Quyết định tự vẫn để chết theo miền Nam của thiếu tướng Nguyễn khoa Nam sau ngày mất nước cũng là một hành động anh hùng. Cái chết của ông luôn nằm trong tâm tưởng những người lính hy sinh một đời ôm súng bảo vệ quê hương.

Thuở xa xưa, nét phác họa của anh hùng là một chàng trai xếp bút nghiên theo việc kiếm cung , sẵn sàng lấy da ngựa bọc thây, với ý chí sắt đá xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài tan. Chàng đứng hiên ngang, trầm mặc dưới bóng chiều tà, tay nắm chặt đốc kiếm, mắt đăm chiêu nhìn về phía chân trời, mong một ngày quê hương độc lập, hưởng thanh bình. Bóng chàng vẽ lên khung trời đỏ ối như dáng hình một phiến đá đen xám. Trông buồn như thật bi tráng. Thời đại tân tiến này, ở thế kỷ 20 vừa qua và vẫn còn tiếp diễn sang thiên niên kỷ mới, lại có những lãnh tụ tự hào xưng tên nhập nhằng với hai chữ anh hùng.

Thật ra, lãnh tụ là một danh xưng thơm. Lãnh tụ là người đứng ra lãnh đạo một nhóm người, có thể vài người, có thể hàng trăm nghìn người để thực hiện một mục tiêu nào đó. Như Martin Luther King, Jr., vị mục sư da đen dùng phương pháp bất bạo động để tranh đấu quyền bình đẳng cho người da đen. Ngày 28/8/1963, hơn 250 nghìn người tụ họp tại thủ đô Washington, D.C., cùng nhau đi bộ đến điện Capitol để ủng hộ đạo luật bình đẳng (Civil Rights Act). Mục sư King bước đi lẫn trong đoàn người đông đảo, cùng nắm tay nhau, hát vang trên đường phố. Ngày hôm đó, ông bắt đầu bài diễn văn hùng hồn bằng câu: tôi có một giấc mơ. Giấc mơ bình dị của ông là muốn được mọi người bình đẳng, sống an bình trong một quốc gia phồn thịnh.

Không lãnh tụ nào mà không có ước mơ. Họ mơ ước nước nhà độc lập, có tự do và người dân hạnh phúc. Đó là giấc mơ lớn. Nhưng đôi khi lãnh tụ bắt đầu bằng một ước mơ thật bình thường… cho riêng mình. Năm 1911, chàng trai Nguyễn tất Thành xuống tàu Admiral Latouche-Tréville đi Tây để tìm kiếm tương lai. Vốn liếng tiếng Tây của chàng được dăm ba chữ, thế mà cũng cầy cục xin được chân làm việc dưới tàu để bôn ba sang Tây miễn phí. Tài xoay xở, khôn lanh của Nguyễn tất Thành đã lộ ra ngay từ khi mới 19 tuổi (nếu năm sinh 1892 là đúng). Bức thư gửi cho Bộ trưởng Thuộc địa đề ngày 15/9/1911 nói rõ ước mơ của cậu con trai út của cụ Phó bảng Nguyễn sinh Huy. Trong thư cậu nói thẳng là muốn được nhận vào trường thuộc địa để học thành tài phục vụ cho mẫu quốc. Ước mơ của Paul Thành thật đơn giản thế mà lại bị từ chối. Có thể vì lúc đó cậu vô danh tiểu tốt nên không được ai chú ý đến, trừ tên cai trên tàu Tréville nơi cậu giúp việc, hoặc ông Bộ trưởng có chuyện buồn nên chẳng hề đọc hết lá đơn, vung tay phóng bút gạch ngang một cái. Buồn cho cậu Thành lúc đó và khốn khổ cho dân tộc Việt kéo dài cả hơn nửa thế kỷ sau này. Chính vì bị từ chối nên cậu Thành dứt khoát đem hết tâm huyết học hỏi lý thuyết cộng sản, và đem du nhập vào đất nước nông nghiệp lạc hậu Việt nam thời bấy giờ, mở đầu cho những trang sử kinh hoàng triền miên không hề thấy dấu chấm hết.

Thật không ngờ tiền đồ của dân tộc lại tuỳ thuộc vào một lá đơn con con gửi cho ông Bộ trưởng thực dân. Giá hôm đó ông Tây phê ngay cho tiếng “oui” thì đỡ cho hơn 80 triệu người dân biết mấy! Không chừng tiếng “oui” hôm đó lại biến một nước Việt nam thành phú cường, thịnh vượng trong cộng đồng châu Á hôm nay; vì không bị họa cộng sản làm trì hoãn bước tiến của dân tộc. Cái vận mạng của con cháu Lạc Hồng quá xui xẻo nên ông “non, non” luôn miệng rồi xếp xó lá đơn.

Trở lại cuộc tranh đấu bình quyền của vị mục sư da đen Martin Luther King, Jr.. Khởi đầu từ cuộc đấu tranh bất bạo động, các sắc dân da màu gọi ông là lãnh tụ, và sau khi ông bị ám sát chết, người da đen gọi ông là anh hùng. Như thế có những anh hùng xứng đáng làm lãnh tụ, và ngược lại có những lãnh tụ bắt đầu sự nghiệp bằng những hành động anh hùng.

Nhưng cũng không thiếu những tay gian hùng trở thành lãnh tụ. Họ ngoi lên địa vị độc tôn bằng mưu mô quỷ quyệt; bằng máu của bạn bè đồng chí, và bằng nước mắt của rất nhiều người.

Tào Tháo là một tay gian hùng. Nghe ở đất Nhữ Nam có Hứa Thiệu nổi danh là biết người, Tháo đến hỏi vận mệnh tương lai. Thiệu trả lời:

– Thời trị, anh là bề tôi giỏi. Thời loạn, anh là kẻ gian hùng.

Sau này, Tháo tiếm ngôi và trở thành “hoàng đế” nước Nguỵ, mở đầu thế chân vạc chia đều nước Tàu với Lưu Bị của Thục và Tôn Quyền của Ngô. Nguyễn tất Thành sau một thời gian bôn ba, học hỏi và say mê chủ thuyết cộng sản, trở về nước lập phong trào Việt Minh, cùng với các đảng phái khác quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp. Lúc này Nguyễn tất Thành đã cải danh là Hồ chí Minh sau nhiều lần thay đổi tên họ vì lý do an ninh, tránh mật thám Pháp. Có lần đi ngang đền thờ Trần Hưng Đạo (1213-1300), ông Hồ gật gù làm một bài thơ so sánh sự nghiệp đánh đuổi quân Mông cổ của ngài và sự nghiệp chống quân Pháp của ông. Bài thơ mở đầu bằng câu: Bác anh hùng tôi cũng anh hùng…

Mặc dù ông Hồ lúc đó đã trở thành lãnh tụ nhưng không thể so sánh với sự nghiệp quân sự lẫy lừng của viên đại tướng đã từng đánh bại chúa tể miền đồng cỏ Thành Cát Tư Hãn. Trần Hưng Đạo là một vĩ nhân, ông Hồ cũng tự thấy mình xứng đáng là vĩ nhân nên gật gù vỗ vai viên đại tướng họ Trần, cảm khái bằng một bài thơ. Khẩu khí thật cao ngạo và hỗn, quá hỗn. Tôi không dám nghĩ cụ đồ nho Nguyễn sinh Huy quên dạy cho cậu con út thế nào là Lễ trong lẽ cương thường của Nho bản nhưng tôi nghĩ đến lòng tự tôn tự đại đã bốc hào khí của ông Hồ đến tận mây xanh.

Ông Hồ lập lờ quên đi một sự kiện trong lịch sử nhân loại: gian hùng cũng trở thành lãnh tụ. Và ông đã cố tình lạm dụng từ ngữ anh hùng. Danh xưng “anh hùng” phải ở các ngôi vị khác, không thể ở ngôi thứ nhất số ít hoặc số nhiều. Một người có thể nói: “anh là anh hùng” nhưng không thể vỗ ngực tự khoe: “tôi là anh hùng”. Khi vỗ ngực tự xưng tụng, chính người đó đã đánh mất vẻ đẹp truyền thống của “anh hùng” vì đơn giản đó phải là một danh xưng ban tặng chứ không thể là một danh xưng chọn lựa. Và không gì hợm hĩnh cho bằng tự khen chính mình.

Đành rằng làm chính trị phải mưu mô quỷ quyệt, phải lừa đảo, phải gian manh nhưng kiểu làm chính trị của ông Hồ vẫn mang một sắc thái đỏ riêng biệt. Phải nói là đỏ vì nó dính máu của rất nhiều người. Năm 1940, ông bán đứng cụ Phan bội Châu, một nhà cách mạng, cho mật thám Pháp ở Hương cảng để lấy mười nghìn đô-la HK. Cái chết của cụ Huỳnh thúc Kháng (bị máy bay Pháp bỏ bom) cũng là một bí ẩn. Và còn nhiều cái chết của các đồng chí khác đảng phái nhưng cùng một chí hướng đánh đuổi thực dân Pháp dành lại độc lập cho nước nhà.

Phong trào chống Pháp bừng bừng khí thế, nhất quyết đánh đuổi thực dân ra khỏi bờ cõi. Chưa bao giờ toàn dân lại cùng chung một lý tưởng đến thế. Người ta nghĩ đến một Hội nghị Bình than của Trần quốc Toản, một Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, một Hịch tướng sĩ của Hưng đạo Vương. Bên cạnh Việt minh, các đảng phái khác cũng sát cánh chiến đấu bên ông, thế nhưng ông không muốn chia sẻ vinh quang của một nước Việt nam độc lập với một người nào khác. Vai trò lãnh tụ độc tôn của ông cần được đánh bóng cấp bách hơn bao giờ vì vai trò Nhật sắp bị cáo chung ở Á châu khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt. Và đúng như ông mơ ước, ngày tuyên bố độc lập mùng 2-9-1945, chỉ một mình ông đứng ở quảng trường Ba-đình, cất giọng hỏi đồng bào bằng một câu hết sức bình thường: đồng bào nghe tôi rõ không? Tôi không tin ông tình cờ hỏi đồng bào một câu như thế nhưng tôi tin chắc ông đã chuẩn bị kỹ càng từng chữ, từng lời nói, từng hành động… nhất nhất đều nằm trong kế hoạch huyền thoại hóa con người của ông. Vì thế, sau này người ta thấy ông thường cầm khăn tay màu đỏ, và lấy khăn chậm chậm nước mắt vì ông có thể khóc bất cứ lúc nào. Những giọt nước mắt ông rơi rớt trên khuôn mặt gân guốc, khắc khổ đáng lẽ nên khóc thương cho số phận hàng trăm nghìn người chết oan trong cuộc cải cách ruộng đất thì hơn.

Ở chốn đông người, nhất là những lúc quay phim, ông thận trọng về cách ăn mặc – thường một màu chàm giản dị – ngay cả đến đôi dép râu làm bằng vỏ lốp của ông cũng không nằm ngoài kế hoạch bình dị hoá hình ảnh một vị Chủ tịch có nhiều tham vọng, đôi khi cuồng vọng. Vì thế người ta không lạ gì có thật nhiều huyền thoại thêu dệt chung quanh hình ảnh một ông già râu bạc trắng, đôi mắt sáng, trán cao, vươn mình đứng lớn hơn mọi vĩ nhân của nước Việt. Khi một nhân vật có quá nhiều huyền thoại, lẽ tất nhiên mặt trái của “vĩ nhân” rất khó bị lộ tẩy.

Vậy mà mặt trái của ông Hồ vẫn bị lộ tẩy theo thời gian. Và đây là một trong những góc cạnh chân thực nhất của bản chất ông Hồ.

Hãy tưởng tượng đến một ông già ngồi ở căn nhà gọi là Phủ Chủ tịch, khoan thai đốt một điếu thuốc Dunhill, loại thượng hạng của Anh. Ngòi bút của ông phóng xuống mặt giấy, chỉ một loáng là có ngay phần phi lộ của cuốn sách nổi tiếng: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” như thế này; nhiều nhà văn, nhà báo Việt nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn, Chủ tịch Hồ chí Minh không muốn nhắc đến thân thế của mình. Ông thở ra một hơi khói, đọc lại hàng chữ, mỉm cười gật gù thỏa mãn. Nhưng rồi trán ông cau lại, tỏ vẻ chưa vừa ý. Ngòi bút phóng vội xuống mặt giấy, ông có ngay một đoạn phi lộ nữa; một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được?

Mặc dù ông già viết không muốn nhắc đến thân thế của Hồ chí Minh, nhưng sau đó toàn bộ cuốn sách đều nói đến thân thế sự nghiệp của vị Chủ tịch qua lối phỏng vấn. Ở trang cuối của cuốn sách, ông già ký tên Trần dân Tiên.

Và ông già ngồi viết những dòng chữ “khiêm tốn” đó không ai khác hơn là ông Hồ. Vâng, chính ông. Ông tự thuật nhưng lại ký bút hiệu nên ai cũng nghĩ cái khách quan của anh nhà báo Trần dân Tiên. Ngay khi cuốn sách phát hành năm 1948, và nhiều lần sau này, huyền thoại lại càng có dịp vây bủa quanh hình ảnh ông như một đám mây dày đặc. Các chính khách khi về hưu thường viết hồi ký, chuyện đó hiển nhiên. Viết hồi ký chỉ nói đến cái hay của mình và phớt lờ những khuyết điểm đã vấp, điều đó cũng dễ hiểu nữa vì ít ai có can đảm soi bóng mình trong gương. Nhưng lối viết “khiêm tốn” của ông Hồ quả thật có một không hai, không một nhà lãnh tụ nào trên thế gian này có thể nghĩ đến. Tự cổ chí kim chưa có một ai, từ nay về sau có lẽ cũng không thấy một người.

Cái gian hùng của ông Hồ thật hiếm có, có lẽ Tào Tháo phải chào thua, Hitler cũng phải lắc đầu khâm phục. Và chính vì sợ cái gian hùng của ông mà cha mẹ tôi đành phải bỏ mồ mả tổ tiên di cư vào Nam năm 1954. Thế hệ chúng tôi sinh ra trong khung cảnh cha mẹ bồng bế dắt díu con cái, gạt nước mắt bước lên tàu há mồm ra đi. Chúng tôi lại lớn lên trong một cuộc chiến Nam Bắc tương tàn, và rồi sau năm 1975 cũng sợ cái gian hùng của đám lãnh tụ đàn em ông nên đành phải tha phương cầu thực ở xứ người, bỏ lại một nước Việt đầy dẫy hình ảnh ông Hồ qua những hình tượng bán thân đắp nổi, bức hoành tráng treo trong đại sảnh, chân dung lồng khung gỗ trong mọi căn nhà, tượng toàn thân dựng sừng sững ở các công viên.

Saddam Hussein rất giống ông Hồ ở điểm này. Hình ảnh của Saddam được dựng lên khắp toàn cõi nước Iraq: đúc đồng, vẽ tranh, khắc gỗ. Stalin – thần tượng của Saddam – cũng không thoát khỏi căn bệnh tự suy tôn. Một bức tượng toàn thân của Stalin dựng bên bờ sông Volga to lớn đến nỗi chỉ mỗi cái mũ nằm ngửa ông cầm trên tay đủ để lọt 3 chiếc xe hơi. Nghệ thuật đánh bóng lãnh tụ trở thành một căn bệnh liệt kháng trong các chế độ độc tài. Nếu Saddam tự xưng là “cha của dân tộc” (father of the nation) thì ông Hồ cũng tự phong cho mình cái tên tương tự: “cha già của dân tộc”. Ông khôn ngoan thêm chữ “già” vào danh xưng cho trang trọng. Một thời người miền Bắc không ai được dùng chữ “bác” để xưng hô trong sinh hoạt hàng ngày, và chữ “bác” trân quý này chỉ được dùng riêng cho ông Hồ, mặc dù lúc đó ông mới 55 tuổi. Kim nhật Thành, một vị “cha già của dân tộc” khác của Bắc Hàn cũng mắc cùng một căn bệnh kinh niên. Ở đường phố Bắc Hàn, người ta chỉ thấy hình ảnh của vị lãnh tụ họ Kim nhan nhản khắp đường phố, in hệt như hình ảnh ông Hồ ở nước Việt nam khốn khổ. Những bài ca suy tôn, có những lời ca tụng chói tai nghe đến xấu hổ vẫn vang vang trong khắp hang cùng ngõ hẻm. Các trẻ em thiếu dinh dưỡng mỗi ngày vẫn tập đi đứng diễu hành trước bức tượng của vị lãnh tụ họ Kim, miệng không ngớt la to những khẩu hiệu chống đế quốc tư bản. Ông Kim không hề đếm xỉa gì đến hàng triệu đồng bào ruột ruột thịt của ông xanh xao, gầy còm, hàng ngày bị cơn đói hành hạ; thậm chí có người phải ăn cỏ rồi chết, trong khi khuôn mặt của vị lãnh tụ vẫn hồng hào, mỡ chảy quyện thành nọng vấn quanh cổ…

Khuôn mặt ông Hồ cũng vậy, phương phi, hồng hào, chỉ khác với lãnh tụ Mao và Kim là không có nọng.

Bác Hồ cùng với bác Tôn,
Hai bác rất thích ôm hôn nhi đồng
Khuôn mặt hai bác thì hồng,
Khuôn mặt các cháu nhi đồng thì xanh
Giữa hai cái mặt bành bành,
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò.

(Nguyễn chí Thiện)

Trong cuốn phim K-19: The Widowmaker (tạm dịch: K-19: con tàu tạo goá phụ), kể lại một câu chuyện có thật xảy ra năm 1961, thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh giữa Hoa kỳ và Nga sô. Đây là loại tàu ngầm mang đầu đạn nguyên tử tuần hành trong vùng biển thuộc khối NATO, một hãnh diện cho nền kỹ thuật nước Nga thời bấy giờ. Trước khi bắt đầu cuộc hải hành, thuyền trưởng Alexei Vostrikov tập họp tất cả các thuỷ thủ lại và dõng dạc nói: without me, you are nothing; and without you, I am nothing. Qua câu nói này, thuyền trưởng Vostrikov đã thấu hiểu được vai trò của lãnh tụ. Nếu không có lãnh tụ, quần chúng chỉ là đám quân ô hợp. Còn nếu không có quần chúng, lãnh tụ chỉ là con số không, vì lẽ đơn giản một mình không thể làm được việc gì. Chính vì thế, khi đạt được mục tiêu, lãnh tụ cần biết ơn quần chúng, không thể ngồi tự mãn, chỉ lo đánh bóng thân thế sự nghiệp lãnh đạo của mình và quên đi công lao của đám quần chúng đã một thời xả thân vì ngai vàng cho lãnh tụ.

Bất cứ đất nước nào có những lãnh tụ đánh bóng… mình thái quá đều lạc hậu, nghèo nàn, bước chân rùa trên con đường dẫn nước nhà đến ấm no, hạnh phúc. Họ sống trong mộng tưởng chính họ là “vĩ nhân” duy nhất của đất nước và mỗi ngày đứng chiêm ngưỡng bóng mình trong gương, họ tự ban những danh hiệu không tưởng, tự phong những tước hiệu hão huyền. Từ đó sinh ra độc tôn và độc tài.

Đất nước Iraq bị họa lãnh tụ độc tôn ngay từ ngày đầu khi Saddam lên nắm chính quyền, năm 1979. Saddam xây dựng ngai vàng bằng cách khủng bố, ám sát theo đúng chính sách của các lãnh tụ cộng sản. Ngay chính con rể, Saddam cũng không tha. Cái giá đem vợ con đào tẩu là cái chết. Ông dứt khoát bắt đứa con gái phải chịu cảnh goá bụa, và không hiểu khi đứa cháu ngoại lớn lên nghĩ gì về ông ngoại, người đã nhẫn tâm giết bố mình? Và người ta cũng không lạ gì khi Saddam luôn gối đầu cuốn sách về những bài viết của Stalin, người đã đày ít nhất 7 triệu người Nga vào các gulags trong vùng sa mạc tuyết Siberia mênh mông, ở đó nhiệt độ luôn luôn dưới không độ. Vì thế hiếm thấy ai trở về từ vùng đất hoang vu lạnh lẽo chết người đó.

Lãnh tụ cần phải có trái tim bằng sắt. Nước mắt thật hiếm hoi rơi rớt trên những khuôn mặt lạnh lùng, không hề biết thương xót. Ở nước Việt nam hiện nay lại có những ông trời con với khuôn mặt lạnh lùng, không hề biết thương xót; không ai khác hơn là con của những lãnh tụ, một thời là đàn em ông Hồ. Những “thái tử” này vừa giàu có, vừa có uy quyền tuyệt đối, tiêu tiền không hề chép miệng. Một người bạn của tôi quê ở Long-an vừa về thăm nhà cho biết, công ruộng một ngày đáng giá 30 nghìn, nghĩa là được hơn một đô-la. Nói rõ thêm định nghĩa của một ngày công ruộng là phải làm từ sáng đến chiều, dầm sương dãi nắng, chân lấm tay bùn, mồ hôi ướt đẫm. Trong khi các cậu ấm chỉ một đêm thôi, ngồi vung tiền ở các hộp đêm cho các em gái nhảy có thể lên đến cả nghìn đô-la; vì chỉ riêng chai rượu SOP cậu vừa uống vừa đổ đã ngốn mất 250 đô, bằng sức lao động gần cả năm của một người. Những “thái tử” này có thể mua tặng cho bạn gái một chiếc máy điện thoại di động cỡ 20 nghìn đô, chỉ với mục đích phô trương khả năng xài tiền. Còn tầng lớp cha ông của những tay “thái tử” ăn chơi trác táng này hơn hẳn con cháu bằng những lần đánh cá trận bóng đá lên đến mấy triệu đô. Chức vụ của người này chỉ ở cấp cao nhưng chưa nắm trọn quyền hành như một lãnh tụ thực sự. Thế mà đã biển lận và công khai đánh bạc lên đến triệu đô như thế. Từ đó suy ra một lãnh tụ ở nước VN nghèo khổ hiện nay có thể làm bất cứ việc gì mà họ muốn. Cái đám lãnh tụ (12 người) nằm ở Bộ Chính Trị có thể thu vén của công đem về cho mình bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được, miễn là đừng gây mâu thuẫn giữa các lãnh tụ với nhau. Tôi có cảm giác như 12 con kên kên xúm lại rỉa thịt một xác chết. Đau khổ hơn, đây chưa hẳn là một xác chết mà là một nước VN đang còn thoi thóp thở. Thế mà các lãnh tụ vẫn nhẫn tâm rỉa Mẹ VN cho đến tận xương tủy. Đây là sự thật đau xót xảy ra mỗi ngày ở Việt nam. Chưa bao giờ trong lịch sử nước Việt cái khoảng cách giữa các lãnh tụ và con dân lại cách biệt đến thế. Nó còn biểu hiện cái khoảng cách của tình người, của lương tâm và tri thức.

Lại thêm số tiền mà những “khúc ruột ngàn dậm” gửi về hàng năm lên đến cả tỷ bạc. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước VN và Đài Á châu Tự do, năm 2008 Việt kiều đã gửi về khoảng 8 tỷ, tăng 1.3 tỷ so với năm 2007 (6.7 tỷ). Đây là số tiền chính quyền kiểm soát được, còn nếu kể những đồng bạc xanh gói kỹ dấu trong ruột tượng, hoặc gửi lén lút thì số tiền đổ về nước phải gấp rưỡi mới đúng. Làm một con toán nhỏ, cứ tính khoảng 70%-80% tổng số tiền lọt vào tay các lãnh tụ thì con số đã gần 8-9 tỷ. Thảo nào các công tử Bạc liêu tân thời cứ việc vung tiền tiêu pha cho thoả thích.

Để biết thêm gia tài các lãnh tụ hiện nay ra sao, xin trích dẫn một nguồn tin đã được tiết lộ vào năm 2005 từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. (đây là những chức vụ vào thời điểm 2005)

Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.

Đây là con số ước tính vào năm 2005, đến 2015 thì những tài sản này phải tăng lên nhiều lần vì tiền của người Việt đổ về trong nước chỉ tăng chứ không hề giảm. Hơn 10 năm trước, ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.

“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người… Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston.”

Các lãnh tụ lập thành tích thi đua hút máu của dân, miệng đỏ choét nhưng bụng lại xanh lè (đôla xanh). Nhìn quả thì biết cây. Tương lai con cái của họ sẽ thay thế cha làm lãnh tụ, vẫn i tờ không tri thức, cứ hống hách, cửa quyền, tham ô như bố thì thật tội cho nước Việt nam quá, biết bao giờ mới thoát khỏi cảnh diệt vong trí tuệ và nhân phẩm đây.

Hậu quả thảm khốc hiện nay của một nước Việt nam đều bắt nguồn từ việc ông Hồ du nhập cái lý thuyết cộng sản bệnh hoạn không hề suy nghĩ. Ông chỉ nghĩ đến ông, đánh bóng những huyền thoại để ông trở thành một nhân vật như trong chuyện cổ tích. Bởi thế nên mới có bài: đêm qua em mơ gặp bác Hồ. Ở các nước tiên tiến, con nít đi ngủ mơ thấy được quà, hoặc sung sướng hơn mơ gặp được bà tiên có đôi đũa thần như cô bé Lọ Lem thần thoại. Còn những đứa con nít Việt nam, cả tuổi thơ chỉ thấy ông Hồ vì ông hiện diện từ trong nhà cho đến ngoài ngõ, kể cả trong lớp học. Ngay đến giấc ngủ mà ông cũng lững thững bước vào đòi ban phát “mộng lành” cho các em nữa thì quả thật tội cho các cô cậu Lọ Lem ở nước Việt nam quá!

Và điều này giải thích tại sao phần lớn thế hệ sinh sau năm 1975 vẫn nể trọng ông Hồ, mặc dù trong số đó vẫn có người không ưa thích chế độ đương thời. Lý do là với lối giáo dục nhồi sọ trong học đường, cố bưng bít tất cả sự thật nên hình ảnh ông Hồ không lạ gì vẫn chiếm một vị trí đáng kể. Năm 1969, tình cờ tôi thấy hình bìa tờ báo Times của cậu tôi, chụp hình một chị nhà quê tay cầm nón lá khóc nức nở. Chị lả người gần như không đứng vững, nước dãi chảy thành dòng một bên mép. Tôi hình dung được nỗi đau đớn của chị qua những giọt nước mắt lăn trên gò má. Nhìn lên phía trên, tôi thấy dòng chữ: Ho Chi Minh died. Quả thật lúc đó tôi không hiểu ông Hồ chết mà có người khóc thương đến vậy sao? Tôi nghĩ thầm nếu cha tôi có chết ngay bây giờ, có lẽ tôi cũng không khóc lóc sướt mướt đến vậy. Lớn lên một chút tôi chợt hiểu ra cả một guồng máy có hệ thống bóp nặn lên hình ảnh ông Hồ tuyệt vời đến nỗi khi ông chết, cả nước phải để tang, thương khóc. Ông Hồ và đám đàn em ông rất thành công về điểm này. Ôi! Tội cho những giọt nước mắt thật xót xa rơi trên thân xác của một lãnh tụ giả.

Vì thế ông Hồ đi sầm sập vào sinh hoạt của người dân miền Bắc với vóc dáng của một vị lãnh tụ tuyệt luân, một người cha khoan dung, một người ông hiền lành mặc dù cả nước chưa hề thấy ông lấy vợ sinh con đẻ cái. Người ta vẫn tin vào hình ảnh một ông già cả đời hiến thân vì độc lập nước nhà, không màng đến hạnh phúc cho riêng mình (sic!) chứ không ngờ rằng ông vẫn có những đòi hỏi sinh lý như một người bình thường. Những tài liệu khám phá được vào khoảng đầu thập niên 90 đã thổi bay những đám mây huyền thoại của con người ông Hồ, để lộ một ông già thường thở dài nằm trằn trọc mỗi đêm, bứt rứt khó ngủ.

– Ngay từ những ngày đầu bôn ba trên đất Pháp, theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó…

– Trong cuốn hồi ký của Bùi Tín, một nhà báo VC mang quân hàm đại tá hiện đang sống lưu vong ở Pháp, viết như sau: “theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ; ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Vera Vasilieva, một phụ nữ Nga. Chị Sophia kể con gái bà Vera Vasilieva nhớ lại rằng anh thanh niên Quốc (tên ông Hồ lúc đó) ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm… ”

– Thời gian lưu lạc sang Tàu, ông Hồ (lúc này mang tên Lý Thụy) đã chính thức lập gia đình với bà Tăng Tuyết Minh vào tháng 10, 1926. Hoàng Tranh (Huang Zheng) là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” (xuất bản năm 1990) đã kể rõ sự kiện này. Lúc kết hôn, ông Hồ đã 36 tuổi và Tuyết Minh mới 21 tuổi. Họ tổ chức đám cưới ở nhà hàng Thái bình, cũng là nơi một năm trước Chu Ân Lai mời đông đảo quan khách đến dự tiệc cưới của mình. Vợ chồng ông Hồ chỉ sống với nhau đến tháng 4, 1927 thì phải chia tay, ông Hồ phải rút vào bí mật vì Tưởng giới Thạch thẳng tay đàn áp các đảng viên cộng sản. Do cuộc sống hoạt động chính trị của ông Hồ nên sau đó ông không có cơ hội liên lạc với người vợ Tàu nữa. Bà Tuyết Minh cũng không ngờ đó là lần chia tay vĩnh viễn.

Tôi có người bạn Tàu, làm chung sở hơn 10 năm nay, quê cũng ở Quảng Châu. Nhân bàn về chuyện ông Hồ có vợ, anh ta xác định bà Tuyết Minh ở ngay thành phố nơi anh ta cư ngụ. Và chuyện bà lập gia đình với ông Hồ, cả thành phố ai mà không biết. Tôi nói thêm là chính quyền cộng sản Việt nam phủ nhận sự kiện này và cấm trích dịch và lưu hành cuốn “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” của Hoàng Tranh ở trong nước, anh ta chỉ cười cười nói: that’s the truth, man. He’s (Hồ) just an ordinary person, like you and me…

– Khi ở Hương cảng năm 1930, ông Hồ nẩy sinh tình cảm với cô Nguyễn thị Minh Khai, lúc đó cô mới 20 tuổi. Tên thật Minh Khai là Nguyễn thị Vịnh, cũng gốc Nghệ an; một đồng chí, một học trò chính trị của ông Hồ. Năm 1935, lúc đến Moscow dự đại hội đảng cộng sản quốc tế, Minh Khai khai báo đã có chồng tên là Lin (bí danh của ông Hồ lúc đó). Họ đã sống chung ở nhà tập thể trong suốt thời gian đại hội.

– Sau khi ở Tàu một thời gian, ông Hồ về nước cùng với một số cán bộ đã được huấn luyện. Trong số đoàn tuỳ tùng có một người đàn bà tên Đỗ thị Lạc. Về đến hang Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với ông Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm, một làng gần đó. Sử gia Trần trọng Kim cho biết Đỗ thị Lạc có một đứa con gái với ông Hồ.

– Theo Vũ thư Hiên, trong cuốn Đêm Giữa Ban Ngày có viết lại lời kể của bố ông là Vũ đình Huỳnh (bí thư của ông Hồ) một chuyện thật thương tâm. Qua câu chuyện, người ta lại càng hiểu rõ thêm bộ mặt thật của lãnh tụ.

Sau ngày chia đôi đất nước, ông Hồ trở thành lãnh tụ miền Bắc. Để giữ tình trạng tâm sinh lý bình thường cho ông, ban bảo vệ sức khoẻ của các nhân vật cao cấp tuyển một cô gái sắc tộc Nùng, tên Nông thị Xuân quê ở Cao bằng về Hà nội để chăm lo sức khoẻ của ông Hồ. Năm 1955, cô Xuân cùng với người cô em ruột tên Vàng về cư trú ở ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Nhuộm và chính thức ra vào Phủ Chủ tịch (dĩ nhiên vào ban đêm và ra về khi tờ mờ sáng và chỉ bằng xe hơi do Bộ trưởng Bộ Công an Trần quốc Hoàn đích thân đưa đón). Lúc này ông Hồ đã 65 tuổi, cô Xuân 22 tuổi. Ông Hồ rất thích cô Xuân và có một đứa con trai với cô, sinh năm 1956 và đặt tên là Nguyễn tất Trung. Bà Xuân lúc này đòi ăn ở công khai vì đã có con, (giấy khai sinh của con phải có tên cha chứ!) nhưng ông Hồ không chịu viện lẽ phải tuỳ thuộc đảng nữa… Thế rồi một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy xác của một người đàn bà bị xe hơi đụng chết ở Cổ Ngư. Người đàn bà đó là bà Xuân. Theo hồ sơ khám nghiệm tử thi của bác sĩ tại bệnh viện Hà nội thì bà Xuân chết vì nứt sọ; có thể bị búa đánh vào đầu. Ông Huỳnh (bố ông Hiên) còn xác nhận là tên bộ truởng Bộ Công an Trần quốc Hoàn đã hãm hiếp dày vò bà Xuân chán chê rồi mới quăng xác ra ở Cổ Ngư dàn cảnh tai nạn xe hơi. Cô Vàng chứng kiến cảnh chị mình bị hãm hiếp rồi bị đem đi giết nên khoảng 9 tháng sau cũng bị giết chết tại Cao bằng để bịt mệng. Bé Trung về sau được Vũ Kỳ, thư ký của ông Hồ, đem về nuôi và đổi thành Vũ Trung.

Tôi bâng khuâng tự hỏi, ngay đến con ruột mà ông Hồ không hề rơi một giọt nước mắt, lại giao cho người khác nuôi. Thằng bé mới sinh chưa được 2 tháng thì mồ côi mẹ, mà cái chết của mẹ nó không hiểu có bàn tay của bố nó dính vào không? Giọt máu của chính mình, ông cũng không màng, trước sau vẫn chỉ lo đến uy tín của ông, uy tín của đảng. Rõ ràng ông chẳng thương yêu gì bé Trung. Chính con ruột của mình mà không hề yêu thương, thì nói gì đến con người khác. Qua sự kiện này, chưa bao giờ tôi lại ghê tởm những bài hát ca tụng lòng yêu thương của ông Hồ đối với các em nhi đồng đến thế!

– Trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng sản Hà nội đề cử cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, sống chung với ông Hồ. Khi gặp ông Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông nhưng với điều kiện là phải làm lễ cưới đàng hoàng. Chuyện bất thành vì đảng Cộng sản muốn huyền thoại hóa hình ảnh ông Hồ như một nhân vật hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng. Rất may cho cô Mai, chứ nếu ăn ở trước rồi mới xin công khai hóa thì chắc chắn chốn thâm cung sẽ có thêm một xác người đàn bà nữa. Không bằng lòng cưới hỏi danh chính ngôn thuận nên cô bỏ. Sau này, cô Mai du học ở Nga và về nước làm đến chức thứ trưởng bộ Thương binh.

Như thế cuộc đời tình cảm của ông Hồ khá long đong; có tình lớn, tình nhỏ, tình si, tình lỡ, tình hờ, tình chết. Ông Hồ sẵn sàng giải quyết sinh lý ở cửa sau, nhưng không hề muốn đón nhận một người đàn bà nào bằng cửa trước. Đàn bà vẫn là một món đồ chơi để ông thoả mãn những cơn thèm khát nhất thời như những hôn quân trong thời phong kiến.

Đàn bà là một trong những bí mật của các lãnh tụ, nhất là lãnh tụ độc tài. Nổi bật nhất trong các lãnh tụ đỏ trên thế giới là đời sống tình dục của Mao. Theo lời bác sĩ Li, người chăm sóc sức khoẻ cho Mao trong suốt 22 năm, từ 1954-1976, viết trong cuốn: The Private Life of Chairman Mao tiết lộ rằng Mao hàng đêm lên giường với nhiều cô gái trẻ, có thể 2, 3, đến 5 cô cùng một lúc. Mỗi lần đi công tác ở các địa phương bằng xe lửa, Mao dành riêng một toa xe để giải trí tình dục. Đến một nơi công tác, các nhân vật cao cấp địa phương đều dâng hiến cho Mao những cô gái trẻ đẹp để cung phụng. Mao có thể cả tuần không tắm, biếng đánh răng thích nằm dài trên giường để làm tình liên tiếp nhiều ngày. (sđd, tr. 356-364)

Bác Mao cân một tạ hai,
Thịt đùn lên mặt những hai ba cằm
Bà con Trung quốc thì thầm,
Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều.

(Nguyễn chí Thiện)

Điểm tốt trong đời sống tình dục của ông Hồ là không mang tính chất hoang dâm thác loạn như Mao nhưng lại khẳng định rõ ràng một điểm là ông Hồ cũng có những ham muốn đòi hỏi tình dục bình thường như mọi người vậy. Điều này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh thần thánh của ông Hồ mà đảng Cộng sản đã dày công tô vẽ. Thật ra, có một đời sống tình dục như thế là điều bình thường, không có gì sai trái cả nếu không nói là hợp lẽ tự nhiên. Trừ những vị tu hành dâng hiến đời sống mình vào những mục đích cao thượng hơn, còn hầu hết chúng ta đều có một nếp sống gia đình trong khuôn khổ của xã hội.

Ông Hồ trong lúc sinh tiền hãnh diện về con người siêu phàm của mình bằng những cuốn sách tự viết, qua bài vở và những lời lẽ ca tụng thật chướng tai của đám đàn em sẵn sàng lạm dụng chữ nghĩa để suy tôn lãnh tụ. Có thể ban đầu ông không nghĩ mình là siêu nhân nhưng khi đám lãnh tụ đàn em thúc dục cả nước hồ hởi tung hô thì một lúc nào đó ông Hồ cũng ngồi rung đùi nghĩ mình là siêu nhân thật. Nghe mãi đâm quen thành nghiện, nên ông hoàn toàn đắm chìm trong hào quang được vẽ vời một cách vụng về vô liêm sỉ của tầng lớp văn nghệ sĩ nô bộc và bằng lòng với hình ảnh siêu thực đó. Nền điện ảnh Hollywood đã đẻ ra một nhân vật “Superman” trên màn bạc trong khi ở Việt nam đảng Cộng sản đương thời lại đẻ ra một hình ảnh siêu phàm là ông Hồ, và vẫn hì hục đánh bóng hình ảnh một ông già sống mãi trong lòng dân tộc. Nếu Superman của Hollywood vẫn còn ăn khách thì hiện nay hình ảnh ông Hồ đã mất lớp sơn mỹ lệ bên ngoài, và để lộ nguyên hình một con người có đầy đủ hỉ nộ ái ưu ai ố dục, như mọi người bình thường khác trên cõi đời ô trọc này.

Ngày 24 tháng 2 năm 1956, trong Đại hội đảng Cộng sản Nga lần thứ 20, Khrushev đọc bài diễn văn trước một số đồng chí được tuyển chọn. Bài diễn văn nẩy lửa mang tên secret speech (diễn văn bí mật). Qua bài này, Khrushev đã lên tiếng tố cáo Stalin, một kẻ độc tài, ngu dốt, tàn ác đã giết hại hàng triệu đồng chí và đưa Liên bang Sô viết đến chỗ lụn bại. Khi những lời tố cáo của Khrushev vang rền trong đại sảnh thì câu thơ “thương cha thương một thương ông (Stalin) thương mười” của Tố Hữu lại trở nên trơ trẽn và sống sượng hơn bao giờ. Cuối cùng, Khrushev cũng trả lại bản chất tầm thường cho con người Stalin.

Và mới đây, ngày 7 tháng 5 năm 2010, hai ngày trước lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng Đức quốc xã cùng với đại diện của quân đội Đồng minh đổ về Điện Cẩm-linh, Tổng thống Nga, ông Dmitri Medvedev lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ tên đồ tể Josef Stalin. Ông nói, “Cho dù Stalin có làm việc cật lực và tạo được những thành công cho nước Nga, nhưng việc ông ta đã giết hại biết bao nhiêu thường dân là một điều không thể tha thứ được. Ông ta nói thêm, “Sự chiến thắng chế độ Phát-xít là do hy sinh công sức của nhân dân Nga, không phải của Stalin… chế độ xây dựng lên Liên bang Sô-viết là một chế độ toàn trị, trong đó mọi quyền căn bản của con người và tự do đều bị đàn áp.”

Một ngày nào đó, sẽ có một Khrushev hoặc một Medvedev Việt nam mạnh dạn đứng lên nói rõ những công, những tội của ông Hồ và lịch sử sẽ trả lại bản chất đích thực cho ông. Nói cho cùng, cuộc đời của ông có cái hơn người, có cái kém người; và tựu chung ông cũng là một người bình thường như chúng ta. Và việc đầu tiên để phục hồi bản chất đích thực cho ông Hồ là nên trả lại tên Sàigòn cho Hòn ngọc Viễn đông, một danh hiệu đã đi vào lòng người và lịch sử thế giới. Ngày 10/11/1961, thành phố Stalin được hồi phục tên cũ Volgograd (thành phố bên bờ sông Volga). Năm 1991, thành phố Lênin cũng được mang lại tên cũ St. Petersburg. Chỉ còn một thành phố duy nhất trên thế giới mang tên ông Hồ, nằm chơ vơ, lạc lõng giữa những quốc gia tân tiến chung quanh.

Qua tìm tòi và hiểu biết được mặt trái cuộc đời của những lãnh tụ, chưa bao giờ thế hệ chúng tôi lại chán chường hình ảnh của lãnh tụ đến thế. Nó vẽ lên một khuôn mặt sắt máu, háo thắng, tự kiêu, độc ác, có đầy đủ tham sân si, và nhiều cuồng vọng.

Hãy chấp nhận giới hạn của một con người, cho dù là vĩ nhân. Và xin đừng bao giờ lạm dụng hai chữ “lãnh tụ” để lừa bịp chúng tôi nữa.

Xin thành thật cảm ơn.

SƠN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

1. Unmasking Ho chi Minh, Huy Phong & Yến Anh, 1989

2. Mặt Thật (The True Face), Bùi Tín, Turpin Press, Paris 1994

3. Stories about President Ho’s Life, Bùi Tín, Văn-Học, Hà-Nội Publisher, 1969

4. Sự Tàn Lụi của Phong Trào Cọng Sản Việt Nam và Những Di Lụy (The Disintegration of the Vietnamese Communist Movement and Its Consequences), Như Phong (Lê Văn Tiến), Thời Sự magazine February, March,.April, 1995

5. Thế Kỷ 21 Monthly Magazine, Nguyễn Minh Cần

6. Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ 1997

7. Chân Dung Bác Hồ, Kiều Phong, Bất Khuất, 1989

8. Viet Cong Strategy of Terror, Douglas Pike

9. Hoa Xuyên Tuyết, Bùi Tín, Turpin Press, Paris 1994

10. The Private Life of Chairman, Dr. Li Zhisui, Random House NY, 1994

11. http://www.rfavietnam.com/node/30

12. http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Doi-Thoai/Tet-Ky-Suu-Viet-Kieu-Ve-Nuoc-Giam.html

13. http://www.nytimes.com/2010/05/08/world/europe/08russia.html