Mưa ngày cũ

nguyendinhbon

Chiều đó cũng một lần mưa lớn
Hạt mưa quất thẳng trái tim mình
Em ở sau lưng ngày bão rớt
Sài Gòn đường phố ngập mông mênh

Phố ngập như lòng đang ngập lụt
Chỉ một đêm rồi mai sẽ xa
Em đếm thời gian từng ngõ hẻm
Từng những con đường ta đã qua…

Chiều nay mưa quất làm đau nhói
Nhớ mưa ngày cũ đến muôn trùng
Người ở bên kia bờ biển lớn
Nhắn gửi nắng về sao mắt rưng?

Nguyễn Đình Bổn

THỜI CŨ

tranvannghia

Phố rêu gọi là phố cổ
Người xưa tiếc gọi cố nhân
Tình xa gọi hờn tình cũ
Còn ta, mãi gã cù lần

Cù lần yêu , cù lần nhớ
Cả đời lẩn thẩn lơ mơ
Chỉ biết làm thơ …rất dở
Nên không ai đợi ai chờ

Cam đành nhìn mây nhìn gió
Gửi về nơi đó có em
Người xưa, nay là thiếu phụ
Ôm con ru mộng bên thềm

Ngậm ngùi than thân trách phận
Giữa đời thao thức đợi nhau
Mơ hồ bóng mây dáng khói
Rưng rưng đuổi gió qua cầu

Phố cũ và người đã cũ
Lang thang mòn lối vĩa hè
May còn trời xanh nắng biếc
Để lòng sóng sánh cơn mê

Em ngày xưa , giờ xa lắm
Vẫn hương ngát gió trữ tình
Ta vẫn cù lần mơ mộng
Một thời tóc bím, mắt xinh

Những lá thư chưa hề gửi
Nên mang nỗi nhớ về mình…

TRẦN VĂN NGHĨA

THỦY TINH TAN VỠ ( Hết)

tonnuthudung

CHƯƠNG CUỐI :

Trong giấc ngủ muộn và mệt nhọc, Cao lay tôi vội vã :
– Diệp ơi, Diệp ơi …
Tôi bàng hoàng mở mắt chưa ý thức được mình đang ở đâu, tôi chống tay ngồi dậy Cao nói :
– Bây giờ Diệp ở lại đây với Sư bà , anh về trước, chiều cô Diệu Hải sẽ đưa em về .
-Không, Diệp muốn về với anh.
Cao lắc đầu :
– Không được đâu, sau chừng ấy biến cố??? Chúng đang truy nã anh dưới kia… Anh phải theo đường núi để về. Ở lại tối nay chúng sẽ lục tung Tịnh Xá .
Tôi níu tay Cao, từ bao giờ tôi vẫn có ý nghĩ tôi luôn được một thiên thần che chở, chuyện gì xảy đến cho tôi cũng dễ dàng vượt qua hơn người khác, tôi muốn đi cùng Cao để san sẻ với anh những khổ nạn…
– Anh cứ ở đây , Sư bà sẵn sàng che giấu mình mà .
– Không được đâu, rất phiền cho Tịnh Xá… Chúng ta đã ở đây ba ngày rồi… Diệp thử tưởng tượng nếu chúng bắt anh tại đây .
tôi nhìn thấy một thứ ánh sáng khác thường trong đôi mắt Cao. Mới ba ngày thôi mà tôi có cảm giác hơn một trăm năm sống… Cao đứng thẳng, chiếc áo lính bạc thếch làm anh cao lớn và phong trần quá… Anh sẽ là người tôi muốn yên ổn tựa vào những lúc yếu đuối lẻ loi. Tôi không muốn nhắc những điều đã trãi qua dù những cơn ác mộng vẫn thường xuyên ám ảnh…
– Ba ngày rồi anh vẫn chưa thay áo .
Anh cười,(để tôi không có cảm giác cái không khí bi thảm của một cuộc chia tay?)
– Cái áo sô xanh của anh khô rồi đó, anh thay đi cho mát. Anh mặc áo sô trông nhẹ nhàng dễ thương lắm
– Dễ thương là nhờ mấy cái hình Diệp vẽ
– Sao anh ít khi mặc nó ?
– Bởi anh lớn rồi, anh đâu muốn Diệp nhìn anh qua hình ảnh trẻ thơ! Và anh sợ rằng mặc nhiều lần nó sẽ phai cái hình bàn chân người đi qua đời tôi Diệp vẽ !
– Không sao đâu, rãnh Diệp sẽ vẽ lại nhiều cái khác đẹp hơn!
Cao gạt những sợi tóc tôi lòa xòa trước trán :
– Thôi , anh phải đi đây Diệp .
Tôi cắn môi, tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, mọi người vẫn cứ chọc tôi giòn cười tươi khóc… chẳng ai mau nước mắt bằng tôi.
Cao thay chiếc áo sô màu xanh nhạt… tôi đã vẽ lên đó một bàn chân trong những hình lập thể tím than . Rất ấn tượng ( Cao từng nói )
– Đừng khóc, Diệp , anh về trước, chiều nay cô Diệu Hải về Nhatrang mua thực phẩm cô sẽ chở em về tận nhà.
Tôi nức nở :
– Đừng nói với Diệp như dỗ con nít, anh cứ giả vờ thản nhiên hoài, anh đã thấy trước những gì nguy hiểm sao không cho Diệp biết ?
Cao lại ngồi xuống, để tay lên vai tôi, dỗ dành :
-Nghe anh nói đây, không có gì nguy hiểm cả, hay nếu có thì rất ít. Anh điều tra kỹ rồi. Họ đang phong tỏa khu vực dưới Quốc Lộ chặn xét các xe cộ về Nhatrang vì họ nhận dạng được anh. Nhưng Phi đã có một chỗ quen đưa anh theo đường núi về ga Đại Lãnh… Đi ngược phía Bắc, Diệp yên tâm về trước vài ngày yên yên anh lại về… Mùa này thiên hạ vượt biên ào ào, tụi nó canh me lấy vàng chứ hơi đâu đi tìm anh.
Tôi vẫn linh cảm một điều gì bất ổn… Sẽ có một nguy hiểm nào đó mà không ai lường trước được, mọi việc không thể nào đơn giản như lời anh nói. Cao đứng lên, ngần ngại nhìn tôi:
-Nói cái gì đi Diệp, đừng im lặng như vậy.
Tôi có thể nói được gì? Ngăn không cho anh đi? Đòi đi theo anh? Tôi đứng lên, tôi đi chân không nên chỉ cao ngang vai anh, tôi dúi mặt mình vào ngực anh để lau nước mắt, như úp mặt vào ngực ba tôi ngày nào đi thăm ba giữa những ngày ông đi cãi tạo… Cũng như ba tôi, mùi khói thuốc từ anh bao bọc tôi êm ả… tôi cũng hít hà đánh hơi như con chó con ngày nào… Anh ôm tôi , môi anh ngậm những sợi tóc tôi chắc mặn mùi nước biển. Tôi không khóc được nữa, chỉ muốn nhắm mắt chết thật bình yên trong giây phút này thôi.

Rồi như cơn mơ, khi hơi ấm từ ngực anh trở thành lạnh lẽo, tôi cũng lạnh điếng người dù hơi thở anh vẫn ấm áp trên mặt tôi, nhưng cái lạnh từ đâu sâu thẳm trong tim đang dâng lên… dâng lên… tôi thấy trong phút chốc, hình ảnh tôi trên đồi cát, áo trắng, tóc bay, ôm trong tay xác một con hải âu loang máu… Tôi cũng đang như con chim hải âu đó, run rẩy, thoi thóp những sinh khí cuối .

Rồi như cơn mơ, tôi thấy mình tựa cửa nhìn theo bóng Cao đi men theo con đường mòn dẫn lên đồi… Chiếc quần jean bạc và chiếc áo sô màu rêu đang xa dần… khuất trong bóng lá. Như lần nào tôi thầm thì: quay lại nhìn Diệp đi, quay lại nhìn Diệp đi… nhưng anh không quay lại, Sư bà đứng bên cạnh tôi cũng nhìn theo hướng Cao đi :
– Chiều nay Diệp về với cô Diệu Hải, xe Tịnh Xá về Nhatrang chở gạo và thực phẩm… Ơ kìa, sao kỳ vậy…
Tôi hốt hoảng nhoài người ra, Cao lăn xuống đồi trước khi tôi nghe tiếng súng hay gần như tôi không hề nghe tiếng súng. Bằng một phản xạ không ngờ được, tôi chạy bay về hướng đó, các cô chạy theo níu lại, thảng thốt :
– Không được, Diệp ơi, nguy hiểm lắm…
Nhưng không còn một nguy hiểm nào đe dọa tôi được nữa… Tôi đã chia chung với anh những giờ hạnh phúc và tôi phải chịu chung cùng anh cả những phút nguy nan… Tôi không để ý đến hai chân không vấp vào những cạnh đá xanh rướm máu, Tôi không còn sức để chạy nên lết đến bên anh, một tên du kích quay lại khóa chặt tay tôi… Tôi ngẩng đầu lên hất những sợi tóc bay phủ mắt, tôi không nghĩ là mình đã bị bắt. Phút này đây, chân trần và tay không tôi đã đến với Cao, tôi khụy xuống cạnh anh nhìn chăm chú vào những hình lập thể tím than trên ngực áo. Sao lại có màu đỏ này nhỉ? Tôi chúa ghét màu đỏ, và tôi nhớ tôi không pha màu đỏ bao giờ… Vệt đỏ loang rộng từ từ, từ từ, hình như vệt máu, Tôi lại nhớ tới vệt máu trên chiếc khăn quàng cột chặt tay anh ngày nào trên bãi Xuân Ninh… Tôi lại nhớ vệt máu trên đôi cánh con hải âu bị thương tôi nhặt được trên một đồi cát ở Cà Ná.
Khuôn mặt Cao hơi ngước lên, đôi mắt anh mở hé… Mẹ tôi thường nói đó là đôi mắt của những người đang chiêm bao trong giấc ngủ… Tôi cúi xuống, nước mắt tôi nhỏ trên mặt anh… Không có ngón tay anh xoa dịu dàng lên mặt tôi, không có tiếng nói anh dỗ dành tôi quên lãng. Một người nào đó níu tôi đứng lên:
-Chị Diệp về lại Tịnh Xá đi, em sẽ đưa anh Cao về NhaTrang
Tôi quay lại, cũng Minh, nó đó sao? Sao nó lại vừa cứu tôi vừa giết tôi như thế. Nó biết tất cả và nó để chúng tôi loay hoay trong cái vòng tròn nó vẽ. Tôi không còn đủ thì giờ để suy nghĩ, nó giục giã :
– Em sẽ nói hết sau. Chị về ngay đi, tụi nó ào xuống bây giờ thì em chẳng làm gì được nữa…
Sư bà cũng vừa đến ôm tôi, mấy cô vừa khóc vừa dìu tôi đi. Thấp thoáng tôi thấy trước mắt dáng Cao in sừng sững lưng đồi. Anh cười với tôi, môi nhếch lên vừa đủ thấy cái răng khóe nhọn, nụ cười nửa miệng đểu giả một cách dễ thương… Nắng sớm rơi trên tóc anh sao vẫn vàng trong buồn bã… tôi nghe tiếng anh dịu dàng hơn bao giờ hết : nói cái gì đi Diệp , đừng im lặng thế !
Tôi vuột khỏi tay Sư bà, chạy vội theo anh, tôi sẽ ngã vào tay anh, tôi sẽ úp mặt vào ngực anh thơm mùi khói thuốc, tôi sẽ nói: Cao ơi, cho Diệp theo anh, cho Diệp đi với mà anh …

Tôn Nữ Thu Dung

Đã Mấy Mùa Thu Bay Trước Sân

tranvanle

Những chiếc lá vàng những chiếc lá vàng
Em ơi ngày xuống nắng vừa tan
Em ơi Thu mới mùa Thu tới
Mình gặp đây mà đâu Cố Hương?

Với anh, em vẫn là Non Nước
Sông núi người ta cũng bốn mùa
Cũng có vầng trăng như dĩa ngọc
Sắp bày trên đó một cành hoa…

Là em trước mặt mà nhung nhớ
Có phải nhà bên rụng lá vàng?
Có phải những chùm bông giấy đỏ
Vô tình bất chợt gió bay sang?

Em ơi lá rụng sầu không rụng
Những trái sầu riêng còn lửng lơ
Non Nước là em đôi mắt đẵm
Vô tình chao động ánh trăng xưa…

Những chiếc lá vàng trên áo Ngoại
Bây chừ là áo của em, mô
Gặp nhau đây vẫn là cơn mộng
Xao xuyến vì sao mặt nước hồ?

Anh nhớ mặt em như mặt Nguyệt
Bình minh còn giọt lệ sương khuya
Còn ngày tháng cũ ngày xa nước
Chưa hẹn ngày mai một buổi về!

Đã mấy mùa Thu bay trước sân
Em ơi anh nhớ quá bàn chân
Của em… hoa nở hồng năm ngón
Em có bao giờ ngó xuống không?

Những chiếc lá vàng những chiếc lá vàng
Cuối trời em hứng nhé chiều tan
Vén mây cho sáng hành lang gió
Anh ở cuối trời thấy bóng trăng…

Trần Vấn Lệ

Gởi mưa về bên ấy

phamthicucvang

Một mình em trong mưa xám Saìgòn
Chiếc dù nhỏ không đủ che áo ướt
Thiếu hơi ấm mà mưa dư dả thiệt
Em một mình lượm hết giọt nhớ nhung

Gói những cụm mưa gởi qua đó cho anh
Như anh gom nắng gởi về cho em vậy
Không có lá sen em gói mưa bằng giấy
Sợ mưa đến rồi hạt vụn vỡ trong tay

Trong lòng mưa thấy sợi nắng lung linh
Anh đâu đó, anh trong vùng nắng lụa
Có biết đâu em một mình trăn trở
Chờ tạnh mưa chờ không biết bao lâu

Nhận được mưa anh nhớ trả lời mau
Em đâu đó, em trong mùa mưa bão
Hạt mưa con luôn làm em ướt áo
Huống chi là cơn giông bão tình em

Muốn em ấm lòng, xin anh gởi nắng thêm…

phạm thị cúc vàng

TÍNH CHUYỆN PHẢI QUẤY(thụyvi)

11910623_891595764229131_429398460_n (1)

…Đọc hết tập sách… nói chung là thật buồn. Cuốn sách không phải loại giải trí, không cổ điển, chẳng hậu hiện đại, nhưng rất ư là hiện thực… xã hội chủ nghĩa. Buồn, rất buồn như uống cà phê thay vì bỏ đường mà bỏ lộn muối. Muối với đường hai thứ đều như nhau, cùng màu trắng…
Nhưng thôi, Tương Tri chỉ xin có vài câu thơ tặng chị để tỏ lòng thấu cảm:

Mở,
ngại ngần trang sách.
Sợ,
nỗi niềm xót xa
Đóng,
nghe lòng hoang lạnh.
Buồn,
tình người phong ba.
Phải ,Quấy …làm sao tính
Khi đời chỉ…sát na!

TƯƠNG TRI

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, HẬU TỪ

nuocmattruocconmua
nguyenbatrac

HẬU TỪ
Vài lời ghi chú cuối cùng của người dịch vào tháng 4-1995

(1)

Về bối cảnh quyển sách

Tác giả quyển sách này bắt đầu các cuộc phỏng vấn từ mùa Xuân 1985. Nguyên tác Anh ngữ xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt ngữ xúc tiến từ tháng 2/1993, nhằm xuất bản vào tháng Tư 1995: Đúng 20 năm sau biến cố miền Nam sụp đổ. Trong thời gian qua, thế giới đã đứng trước một bối cảnh hoàn toàn khác biệt.

Các nước Cộng sản Đông Âu sụp đổ. Liên bang Sô Viết tan rã. Một số nước hậu Cộng sản lâm vòng rối loạn, phân ly. Tại Trung quốc, đảng Cộng sản vẫn độc quyền lãnh đạo, nhưng cơ cấu kinh tế biến đổi, lại đang tiếp tục hưởng quy chế nâng đỡ mậu dịch của Hoa Kỳ.

Riêng trường hợp Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng sản đưa ra các biện pháp đổi mới, manh nha từ 1986, rõ nét hơn vào năm 1987, đến nay vẫn đang tiếp tục dồn cố gắng trong việc phục hồi kinh tế. Mặt khác, Hoa Kỳ tháo bỏ cấm vận từ tháng 2/1994 sau mười chín năm phong tỏa. Trong tháng Giêng 1995, hai văn phòng liên lạc ngoại giao vừa được thiết lập tại Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn. Các nước Tây phương, Úc Đại Lợi, kể cả Hoa Kỳ, nhưng nhiều nhất là Đài Loan, Tân Gia Ba, Nam Hàn, Nhật đang tiếp tục đầu tư vào Việt nam. Đó là một số sự kiện tính đến khi bản dịch Việt ngữ này chuẩn bị ra đời.

Sau một cuộc chiến dài, hai miền đất nước đã bị tiêu hủy về nhiều mặt. Việc thi hành chế độ kinh tế theo mô thức Cộng sản sau gần bốn thập niên tại miền Bắc, hai thập niên tại miền Nam, cộng mười chín năm phong tỏa kinh tế, làm cho Việt Nam lâm phải tình trạng đói nghèo.

Mức nghèo đói ấy dường như có phần giảm thiểu trong các điều kiện sinh hoạt mới.

Tuy vậy, nhiều vấn đề khác đang được đặt ra: Sự xác định chỗ đứng của Việt Nam trên thế giới, trong khung cảnh chính trị địa lý vùng, giữa các khối, các nước lân bang. Dự phóng về đối giá phải trả cho đầu tư ngoại quốc. Thể chế và cơ cấu chính quyền Việt Nam thay đổi gì trước các đòi hỏi Dân chủ Tự do hiện nay và tương lai. Có thể nào có một phương thức dung hóa giữa nền kinh tế thị trường và tổ chức guồng máy chính quyền theo tư tưởng Mác xít-Lê Nin Nít? Nhu cầu cấp thời phục hồi kinh tế mâu thuẫn với nhu cầu công bằng xã hội? Chế độ bao cấp, hệ thống phân phối kiểu Cộng sản đang được bãi bỏ, nhưng một hệ thống an sinh xã hội kiểu Tây phương chưa thành hình. Sự phát triển kinh tế thị trường đang tạo ra những cách biệt lớn lao giữa các tầng lớp dân chúng, tại các khu vực khác nhau. Và trên hết, là sự tha hóa con người.

Một cuộc chiến đã chấm dứt, nhưng các cuộc thảo luận mới đang mở ra.

(2)

Về quyển sách này

Sử liệu khẩu vấn “Nước Mắt Trước Cơn Mưa” gồm 71 câu chuyện do 65 người kể. Có sáu người trình bày hai đoạn chuyện, trong đó gồm năm người cuối của chương hai mươi, chương kết thúc. Những người phát biểu trong sách đã được tác giả phỏng vấn rồi ghi ra. Trong phần cảm tạ đáng lưu ý, tác giả liệt kê một danh sách những người đã được phỏng vấn, cho biết trên 300 người.

Xem danh sách ấy, người ta thấy một số khá đông các yếu nhân đã được phỏng vấn, nhưng ý kiến phát biểu hoặc bài viết của các nhân vật này không xuất hiện trong cuốn sách. Có thể tạm kể: Các tướng lãnh Mỹ như William Westmoreland, Richard Baughn, Charles Timmes… Các tướng lãnh Nam Việt Nam như Cao Văn Viên, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Cao Kỳ, Ngô Quang Trưởng… Chưa kể nhiều yếu nhân Mỹ Việt trong những lãnh vực khác, như học giả về Đông Nam Á Douglas Pike, dân biểu Tom Hayden, các ông nguyên Tổng trưởng Nguyễn Xuân Oánh, đại sứ Bùi Diễm, đại sứ Trần Kim Phượng v…v… Họ đều được phỏng vấn, chuyện kể của họ được góp nhặt nhưng không sử dụng trong cuốn sách với lý do tác giả cho biết vì “giới hạn của kích thước cuốn sách”.

Độc giả có thể hỏi: Nhưng trong giới hạn ấy, tại sao tác giả lại loại bỏ những người này, mà không phải là những người khác trong tổng số hơn 300 người đã được phỏng vấn? Vì nhu cầu bố cục? Vì tính lý thú của các câu chuyện? Vì quan điểm người được phỏng vấn? Vì quan điểm tác giả?

Phương pháp khẩu vấn có thể khách quan, nhưng việc lựa chọn là chủ quan hay khách quan? Nếu có vấn đề quan điểm tác giả – quan điểm nào? Tả? Hữu? Quan điểm người Hoa Kỳ? Quan điểm Sử học? Quan điểm của nhà văn nhìn đời sống theo chiều rộng, nhìn lịch sử theo chiều dài? Quan điểm như lời trích dẫn Abraham Lincoln, Graham Greene, những câu thơ Walt Whitman ghi ở đầu chương thứ nhất?

Mỗi độc giả Việt Nam nếu cần kết luận, đều đã tự có một kết luận sau khi theo dõi cả ba phần, từ Lời Mở Đầu đến Lời Cảm Tạ.

Tôi tin độc giả Việt Nam là những độc giả tinh tế.

Tôi tin độc giả Việt Nam thường phân tích từng lời từng chữ khi đọc sách, đặt câu hỏi, thói quen của những người đã trải qua một cuộc chiến tàn khốc với một khối lượng đồ sộ của đủ thứ sách báo với luận điểm tùy từng phía, chưa kể các loại văn chương tuyên truyền.

Sự nhạy cảm ấy càng bén nhọn hơn đối với bất cứ cuốn sách nào của người ngoại quốc viết về những vấn đề liên hệ đến Việt Nam.

(3)

Ý nghĩ của cá nhân người dịch

Trong lúc người Việt không đủ phương tiện thực hiện một quyển sách với phương pháp tương tự, cá nhân chúng tôi thiển nghĩ: Quyển sách này dù có được sắp xếp, lựa chọn, trình bày cách nào – cũng vẫn đưa ra một kích thước tương đối phong phú, với nhiều cảm nhận và cách diễn tả khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau.

Dù người ta có thể cho là bất cân xứng hoặc hãy còn thiếu sót, nhưng cá nhân người dịch và mọi độc giả khác đều không bị đặt trong vị thế thụ động. Người đọc có thể lượng giá cuốn sách, lượng giá từng lời phát biểu của mỗi người được phỏng vấn trong góc độ chủ quan của họ. Và ngoài ra, câu hỏi cuối cùng là nếu toàn bộ quyển sách có tạo ấn tượng gì về một quan điểm nào thì điều ấy vẫn đáp ứng vào nhu cầu thảo luận, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay: Chúng ta tin ở tinh thần thảo luận. Một cuộc thảo luận tốt là một cuộc thảo luận ôn hòa, với nhiều quan điểm trái ngược để chuẩn bị cho việc tìm kiếm ý chí chung, góp phần vào lời giải cho bài toán Việt Nam. Cũng góp phần vào lời giải bài toán con người trong thế giới mới mẻ ngày nay.

Riêng cá nhân chúng tôi khi làm công việc phiên dịch cũng đã có dịp suy nghĩ ít nhiều về những gì chứa đựng trong cuốn sách. Tôi không chăm chú tìm kiếm bí mật lịch sử. Tôi nhìn vào những nỗi đau thương.

Quyển sách bắt đầu mở ra ngay từ chương thứ nhất với một nỗi đau thương lớn, nỗi đau thương của những người lính thất trận trong cơn hoảng hốt, cay đắng, đã mất lý trí khi bỏ lại gia đình, bắn loạn cả vào chính đồng bào, chiến hữu mình.

Khi chăm chú nhìn, có lẽ tôi cũng chăm chú tìm hiểu lời giải.

Có lẽ, tôi đã tình cờ nghe được một lời bình phẩm hữu ích khi làm công tác xã hội vào năm 1987 tại trại tỵ nạn Pulau Bidong: Nơi ấy, bấy giờ hơn mười ngàn con người sống lây lất chen chúc trong những điều kiện căng thẳng, thiếu thốn. Trên hòn đảo, họ đã đâm chém, trộm cắp, hãm hiếp nhau. Những người đến trước cướp cả những thuyền của những người đến sau. Khi tôi tỏ ra áy náy với một công tác viên xã hội khác đã chứng kiến những việc ấy, bạn tôi, một bác sĩ Phần Lan giản dị nói: “Nếu nhốt mười ngàn người Phần Lan hay mười ngàn người Mỹ vào chính hòn đảo này trong những điều kiện tương tự, họ sẽ tệ hại hơn. Họ sẽ giết nhau và đốt hết ngôi trại này trong vòng ba ngày”

Lời bình phẩm ấy có thể là một lời an ủi. Nhưng mặt khác, nó vẫn nêu ra vấn đề điều kiện. Phải chăng trong những điều kiện khắc nghiệt của hoàn cảnh, nếu hoán đổi vị trí, nhiều người đều có thể phản ứng giống nhau hoặc tương tự với hình thức này hay hình thức khác?

Sự tương tàn của những người lính miền Nam khi bắn cả vào đồng bào, vào chiến hữu mình trong cơn hoảng hốt… Phải chăng cũng chẳng khác gì cuộc tương tàn của quân đội hai miền cùng một dân tộc khi đối mặt trên chiến trường? Phải chăng đều do hoàn cảnh, do điều kiện khắc nghiệt của đất nước Việt Nam?

Đêm qua khi viết đến đây, tôi đã thức một đêm trắng để kể các bi kịch thảm khốc trong cuộc chiến của chính gia đình tôi: Một nửạ ngoài Bắc. Một nửa trong Nam. Chú tôi chết trong trại cải tạo Cộng sản. Em họ tôi chết dưới bom Mỹ trong Nam. Chuyện người em họ ở Hà Nội chết vì nhiễm độc chì khi làm công nhân xuất khẩu bên Nga. Chuyện đứa em họ và con trai chết trong cuộc vượt biên, sau khi cha vừa chết trong trại cải tạo ngoài Bắc. Chuyện cô chú tôi tự tử vì bị truy bức sau vài năm Việt Minh tiếp thu Hà Nội. Và người con gái mồ côi của cặp vợ chồng bất hạnh này đã quyết tâm lìa bỏ thế giới Cộng sản bằng cách vượt qua bức tường Đông Bá Linh sang Tây Đức, để rồi sắp bị Thế giới Tự do trả về… Ở Hồng Kông, người ta đang trói tay những người tỵ nạn để đưa lên máy bay như những con vật… Kể sao hết?

(…….)

-Hôm nay tôi xé bỏ 20 trang giấy đã viết. Có lẽ tôi không nhất thiết phải bám chặt những cảm xúc ấy để bắt đầu một quyển sách mới sau khi vừa bỏ ra chín tháng để chuyển dịch và ấn hành quyển sách này.

Mỗi gia đình người Việt ở bất cứ đâu đều đã chạm mặt với quá nhiều đau thương trong cuộc chiến vừa qua.

Và như thế đối với tôi, giá trị quyển sách này không nhất thiết chỉ là những gì đã nói đến. Đã nói thế nào. Mà còn là những gì gợi ra. Những câu chuyện không kể hết.

Tôi tin vào sự hữu dụng của quyển sách. Tôi tin khả năng đóng góp của nó.
Về phần cá nhân tôi, vào ngày 30 tháng Tư 1975 tôi đang ở Hoa Kỳ: Quyển sách giúp cho tôi hiểu được những gì gia đình tôi, bạn hữu tôi và đồng bào tôi đã trải qua. Quyển sách giúp tôi hiểu thêm các tâm trạng khác nhau của những người Mỹ liên hệ vào cuộc chiến, sự lúng túng của kẻ thắng, nỗi đau đớn của người bại. Đôi lúc tôi không ngăn được xúc động khi dịch thuật lời kể của nhiều người Việt trong quyển sách này.

Sau hết, một vài người phát biểu trong sách là những người tôi quen biết. So sánh việc biết họ ngoài đời, cùng với những lời kể được thuật lại trong cuốn sách này: Tôi hiểu tác giả đã biểu lộ một tinh thần khá khách quan trong việc viết một cách tương đối trung thực các câu chuyên của họ.

(4)

Cảm ơn

-Tôi xin cảm ơn nhà văn Giao Chỉ, tác giả “Chân Trời Dâu Biển”, “Cõi Tự Do”, tức ông Vũ Văn Lộc, nguyên Đại tá Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hiện là Giám Đốc Hội Quán Việt Nam, người chủ trương cơ sở Tin Biển tại San Jose. Ông rất thích quyển sách này, đã nhiệt tình trong việc xuất bản và giới thiệu với cảm xúc, suy nghĩ riêng tư của ông. Cảm ơn ông đã tín nhiệm khả năng Anh ngữ và Việt ngữ của tôi. Trong gần hai mươi năm qua ở San Jose, chúng ta không nhất thiết phải đồng ý với nhau về tất cả mọi vấn đề, nhưng rút cục chúng ta vẫn làm việc rất gần nhau.

-Tôi xin cảm ơn chị Đặng thị Hòa đã kiên nhẫn giúp chúng tôi đánh máy, sửa chữa bản dịch trong gần ba tháng cực nhọc. Xin thành thật cảm ơn chị.

-Cảm ơn Phạm Việt Cường đã đọc qua bản thảo, đã dịch hộ mấy câu trích dẫn của Graham Greene, Abraham Lincoln, những câu thơ Walt Whitman mà Larry chọn ghi đầu cuốn sách.

-Cảm ơn bạn mới của tôi, anh Văn Thanh (Lý Kiệt Luân), một nhà văn đến từ miền Bắc, đã nhiệt tình góp ý, sửa chữa bản thảo, đặc biệt những ý kiến của anh trong việc chuyển dịch cho chuẩn xác hơn những ngôn từ của phần phát biểu thuộc chương 18 “Những Người chiến thắng”.

-Cảm ơn người bạn từ thuở nhỏ của tôi, nhà văn Phan Nhật Nam, đã đọc kỹ từng trang sách, đã sửa chữa bản thảo, đặc biệt phần từ ngữ quân đội. Là một sĩ quan miền Nam, trải qua một trận chiến dài, đã trực tiếp đối mặt các thảm kịch của đất nước và của chính gia đình anh, rồi ngay sau khi đất nước Việt Nam vừa ngưng tiếng súng, lại phải chịu thêm gần mười bốn năm trong cảnh tù đày tại các trại cải tạo do chính quyền Cộng sản Việt Nam thiết lập: Trại Long Giao (miền Nam); Trại 12,10, 8 (Đoàn 776 Hoàng Liên Sơn); Trại Lam Sơn (trại 5); Thanh Cẩm (Thanh Hóa); Ba Sao (Hà Nam Ninh) và cuối cùng, Z30D (Hàm Tân, Bình Tuy). Anh đã chịu hai đợt kiên giam, lần thứ nhất (từ tháng 2, 1979 đến tháng 8, 1980); lần thứ hai (từ tháng 9, 1981 đến tháng 5, 1988) với 24 hầm cấm cố, tử hình, ở các trại nói trên. Việc giúp tôi đọc lại bản thảo tác phẩm dịch thuật này chắc chắn gợi nhiều đau thương mà anh đã trải qua. Mong anh sẽ có một cuộc sống tốt đẹp tại đây, nơi chúng ta có dịp nhìn thế giới một cách toàn bộ hơn để cùng chia sẻ ước mơ: Quê hương chúng ta sẽ không còn ai gánh chịu những đau thương như Nam đã trải qua.

-Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình tôi, đặc biệt vợ tôi Elina Marjatta Nguyễn đã hy sinh, trong lúc tôi dành thì giờ vào việc viết sách. Là người dạy học các trẻ em Việt tỵ nạn tại Phần Lan, người dạy nhạc cho một số trẻ em Việt tại San Jose, California… Gần gũi cuộc sống của nhiều gia đình Việt Nam trên các đất nước khác nhau, vợ tôi hiểu tâm tình của người Việt đối với quê hương đất nước Việt Nam – cũng như người Phần Lan đã yêu đất nước mình, một đất nước nhỏ bé cùng một diện tích với Việt Nam, đã chiến đấu một cách dũng cảm và khôn ngoan để sinh tồn trong suốt lịch sử đầy khó khăn của Phần Lan, giữa Đông và Tây, giữa một bên Thụy Điển, một bên Nga, và sau này, một bên Cộng sản, một bên Tư bản. “Elina, Minâ rakastan sinua. Kiitos”.

(5)

Về một lời đề tặng

Quyển sách này khởi dịch vào tháng 2,1993. Trước khi bắt tay vào việc dịch thuật, tôi đã có lần viết một lời nói đầu. Nay in thành sách, tôi vẫn xin giữ nguyên những lời đã viết ấy để ghi vào phần cuối cùng này.

“Năm nay, 1993, một trăm bốn mươi sáu năm kể từ khi các chiến thuyền Pháp bắn vào Đà Nẵng, một trăm lẻ chín năm sau khi hoà ước Patenotre thiết lập chế độ bảo hộ ở Việt Nam. Một trăm năm đúng kể từ Phan Đình Phùng khởi sự kháng Pháp ở Hà Tĩnh. Lịch sử cận đại của Việt Nam trong một thế kỷ rưỡi nay là một chuỗi những biến cố đau thương đã dẫn dắt từ cố gắng giành độc lập tự chủ đưa đến cuộc tranh chấp Quốc Cộng, đưa đến việc: “Chỉ còn thuần túy là người Việt Nam giết người Việt Nam – với một bên là Mỹ, bên kia là các nước thuộc khối Cộng sản cung cấp các phương tiện cần thiết để đánh nhau và chết” (Larry Engelmann, Lời mở đầu Nước Mắt Trước Cơn Mưa).

Việc phiên dịch cuốn sách này là một đóng góp nhỏ bé của chúng tôi trong việc cùng nhau nhìn lại những đau thương đã qua với hy vọng rằng ý chí vận chuyển đất nước Việt Nam trong thời gian tới đây phải được hướng dẫn bởi trí tuệ và lương tâm con người.”

Tôi xin kính tặng bản dịch Việt ngữ này cho tất cả người Việt, người Mỹ, tất cả những người của mọi phía đã bỏ mình trong cuộc chiến Việt Nam.

Nguyễn Bá Trạc
(San Jose, 21 tháng Tư, 1995)

Ừ THÌ DẪU RẰNG EM ĐÃ HẾT YÊU ANH

letrungtin

Ừ thì dẫu rằng em đã hết yêu anh
thì cũng xin nói với nhau bằng những lời tử tế
Mình từng đã có cùng nhau những ngày cuồng say như thế
tàn tệ nhau chi cho đau thắt tim người…

Giờ thì đã qua bên kia con dốc cuộc đời
Cũng không cần biện minh oan ức nữa
Chỉ còn mong khi đời mình tàn khô, héo úa
Có một bàn tay đưa, cho anh nắm, run run…

Để anh vui trong hơi thở hắt cuối cùng
Để anh mang theo về chốn mông lung
Chút tin tưởng vào tình người cõi thế
Vậy,
em nhé!
Vậy đi,
em nhé!

Lê Trung Tín

Ngó lại quanh mình

truongdinhtuan

bất kham ngựa bỗng hiền như lá cỏ
quay về gặm nhấm yên hoa
dòng lạ quá chảy ta hoài lạ quá
nỗi đường xa thấm mệt bụi tung hoành

ngó quanh mình khói vòng mộng mị
cuối đường bay xa sót tiếng ai cười
nhật nguyệt rụng sông trời chới với
trăm sớm mai vây khổn một chiều

bất kham anh bỗng hiền như luống đất
chờ tay em gieo hạt tạ ơn người
mắt đừng hái nghìn sao lấp lánh
mà cháy lòng rơm rạ khôn nguôi

ngó quanh mình vòng hoa mọc dại
anh hoang vu mà anh cũng bội phần
xanh rêu mốc hồi sinh cổ tháp
tự nồng nàn thắp lửa ngón chiêm nương

trương đình tuấn

LẶNG IM BIỂN. NGƯỜI VỀ

nguyenthikhanhminh

Khóc Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, mất ngày 13.9.2014

Tin gió đưa về với mênh mông
Biển rất xanh và chân trời hư ảo
Sao ai trả lời kia sóng như bông*

Nở một đoá xôn xao chín suối
Tóc như mây trăm ngả sông về
Biển hò hẹn chắt lòng bông hoa muối

Động lòng câu hỏi ai xưa
Trời không im đất cũng vừa lên tiếng
Nghe thì thầm. Thì thầm… hãy lặng im như biển**

Biển mở ngàn tay tung nghìn bước sóng
Ai vừa đến hát mừng a cõi mộng
Hỏi một câu giờ trời đất mới hay…

Tan với cỏ cây một hồn sương sớm
Gió nghe không. Hạt lệ đó vừa khô
Mây nghe không. Bay vừa lên cánh mỏng

Tan với lòng xanh nhánh hồn như mộng
Hồn sóng dạt dào ôi biển nghe không
Biển thấy hết, nghe hết, hiểu hết, và biết hết…**

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Sep. 14, 2014

* Chữ Nguyễn Lương Vỵ
** “Biển, nghe không” thơ Nguyễn Xuân Hoàng