MỘT NGÀY MÙA ĐÔNG

phamkhanhvu

sergey, chân dung của đứa trẻ
tôi mơ dòng sông volga chưa hề biết
và mùa đông nước Nga có mầu xanh như tuyết
buồn hơn bất cứ nơi nào trên thế giới …..
sergey, sergey tkachenko
và mùa đông nước Nga
vẫn mãi buồn hơn bất cứ nơi nào trên thế giới …

Tôi đọc lại bài thơ đó bằng hồi ức, không thể nhớ tên tác giả. Sergey Tkachenko là ai, đứa trẻ Nga nào có đôi mắt xanh như tuyết đứng bên bờ Volga, như một ly rượu vang đầy ắp, như điệu dân ca và những điệu múa đi vòng” Bài thơ nói rằng mùa đông nước Nga buồn hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Có phải không” Tôi lại nhớ Doctor Zhivago khi ông từ trong nhà nhìn ra một khung cảnh mịt mù tuyết trắng và tiếng chó sói tru trong đêm vắng. Mùa đông nước Nga có buồn hơn nước Mỹ không?
Tôi đọc bài thơ đó khi ở trong xe bước ra, kéo lại zipper khép chặt cổ áo, gió thốc lên từ lòng đường lạnh buốt. Đây là mùa đông thứ 10, nước Mỹ, không có Sergey Tkachenko, không có đứa trẻ Nga nào đưa đôi mắt xanh biếc nhìn xuống dòng Volga lấp lánh ánh bạc, mà là một đứa trẻ Việt Nam mười lăm mười sáu tuổi tóc đen mắt nâu, tóc tai bờm xờm bỏ nhà đi mấy ngày rồi, và bỏ học hơn tuần lễ rồi. Tôi mới ‘chộp’ được nó sau mấy ngày chờ đợi ở một khu apartment dành cho người nghèo, nó đã đến ở với gia đình một đứa bạn mà sau đó cha mẹ đứa bạn sợ liên lụy đã đuổi nó đi. Đây không phải là một tỉnh lỵ thơ mộng nhỏ bé của Nga mà là thủ đô của Mỹ, một quốc gia vĩ đại nhất thế giới, dòng sông Potomac không chảy, lặng lẽ mà kiêu hãnh chia đôi hai tiểu bang, đưa đôi mắt mầu xám nhìn lên những tòa nhà cao vút hai bên bờ. Và những chiếc cầu nối những con đường, xe cộ chạy mãi như không bao giờ chấm dứt. Đứa trẻ đi bên cạnh tôi, mắt nhìn lơ đãng những con chim bay. Chúng tôi bước vào quán cà phê Starbucks, mua một ly capuchino cho tôi, một frapuchino cho em. Ngồi đối diện nhau, tôi lựa chỗ ngồi ngó ra đường nhìn cảnh vật và người ta đi lại, thích hơn là chỗ đối diện ngó vào trong quầy có mấy anh Mỹ đang cười nói đùa với mấy cô Mễ.
“Con hãy cố gắng trở lại trường. Tôi nói. Đừng bỏ học. Cha mẹ con đã rất vất vả đưa con sang đây. Cha mẹ con đặt tất cả hy vọng vào con, nếu con có vấn đề gì, hãy cho bác biết, nếu con tin bác, bác sẽ hết sức cố gắng để giúp con.” Đứa trẻ lắng nghe tôi nói, tay vẽ lên mặt bàn những hình vẽ vô nghĩa, thỉnh thoảng trả lời và góp ý, và cuối cùng, khóc. Đến khi chúng tôi đứng dậy, thì nó đã thỏa thuận với tôi là sẽ trở lại trường, nhưng tôi phải vào phòng giám hiệu xin phép cho nó và nói chuyện với bà hiệu trưởng. Tôi cũng hứa là sẽ nói chuyện với ba má nó. Ngoài quán cà phê không khí lạnh như đông đá, nhưng tôi cảm thấy ấm, chắc không phải vì ly extra hot grande capuchino. “Tiểu Di ”
tôi gọi, đứa trẻ quay lại, lần đầu tiên trong ngày tôi thấy nó mỉm cười.
Tôi chỉ cho nó thấy một người mặc áo có hai mầu xanh đỏ, đầu đội một cái mũ ông già Noel đứng bên cạnh một cái thùng, tay lắc những cái chuông, miệng cười tươi tỉnh, đôi mắt sáng sủa nhìn những người qua lại, trong đó có tôi. Tôi thò tay vào túi áo jacket, móc ra những đồng bạc, bỏ vào cái thùng, và thấy bàn tay mình ấm. Người đàn ông cười thank you, God bless you, have a good weekend. You’re welcome, tôi bước tránh qua nhường chỗ cho một người khác bỏ tiền vào thùng, đó là một bé trai Mỹ, tóc vàng quăn lại trên trán, đẹp và sáng láng như thiên sứ Gabriel, đó là tôi tưởng tượng thôi chứ có bao giờ thấy thiên sứ Gabriel thế nào. Và một bé gái khác đi với mẹ, bỏ vào đó những đồng xu kêu leng keng trong thùng. Người đàn ông mỉm cười nháy mắt với đứa bé. “Thấy không con, cuộc sống có nhiều điều đẹp đẽ đáng để cho mình sống một đời sống thật tốt lành. Tại sao lại uổng phí đời mình như vậy” Nếu có nhiều người đến, góp một bàn tay lại, thì thế giới này sẽ có biết bao nhiêu là niềm vui và hạnh phúc.
Tôi chở đứa trẻ về nhà nó, make sure là nó sẽ ở nhà cho đến khi cha mẹ nó về chiều hôm đó. Khi tôi trở về nhà thì thấy một cái note của vợ tôi để trên bàn: Em đi công chuyện 1 giờ sẽ về, Hải Triều sẽ mang Hải Âu đến khoảng 12:30, chơi với bé một chút em sẽ về thế. Chiều nay anh có hẹn chở bác N. vào nhà thương thăm bác trai. Tin thời tiết nói rằng sẽ có tuyết vài inches chiều nay. Tôi nhìn đồng hồ và thấy đã 12:30. Nhìn ra cửa thì nghe tiếng mở cửa lách cách, một cái đầu trùm kín thò vào, trên tay là một cái giỏ đựng em bé, bên cạnh là lổm ngổm những giỏ xách đựng sữa và tã. Cháu nội đến. Mở cái mền trùm ra thì thấy Hải Âu đưa đôi mắt tròn xoe lên nhìn. Luồn tay vào giỏ bồng bé ra, tay và lòng đều ấm cả. Con đi công chuyện chút xíu, chiều 4 giờ con đón cháu. Chơi với ông nội nghe con. Người con trai cười nói và lại mở cửa đi ra. Tôi bồng cháu lại gần cây thông trang trí đủ mầu. Nó đưa đôi bàn tay bé nhỏ rờ rẫm những nhánh thông xanh. Và quay lại rờ rẫm vào mặt tôi, mỉm cười.
Tôi đặt cháu ngồi lên futon và bắt đầu dọn hàng cho nó, trải hai cái mền che kín tấm thảm cả căn phòng để cho cháu khi bò ra ngoài không bốc lung tung những thứ còn có thể vướng lại trên thảm. Dạo này bốc được cái gì là nó cho cả vào miệng. Ném năm sáu cái gối mầu làm bức tường chắn lối cho nó khỏi bò ra, lôi một đống đồ chơi quăng ra trong bốn bức tường đó. Mà nó đã chơi chán hết mấy thứ đó rồi nên chả thèm rờ tới. Quay lại nhìn tôi, nó bắt đầu ê a lên khóc. Thôi để ông nội bồng, con nỡm. Con dâu than phiền, bố cứ bồng nó hoài, về nhà là cứ đòi con bồng. Chịu thôi, nếu không thích thì đừng gởi, cháu hư tại ông. Nó thích nằm trong vòng tay tôi như kiểu đưa võng, ngửa mặt lên, rờ rẫm cái cằm đầy râu nham nhám của tôi, đôi khi giật mắt kiếng. Tôi cho nó giật tuốt hết. Đó là những giây phút tôi có cảm tưởng mình là một người hạnh phúc nhất thế giới.
Khi vợ tôi về thì bé Hải Âu đưa tay ra đòi bà. Tôi dí tay vào trán nó ‘đồ phản bội’ rồi đi lên lầu thay đồ để chuẩn bị chở một bà cụ đi thăm chồng bệnh nằm nhà thương. Ông cụ bệnh không thiếu thứ gì. Sau gần một tháng đưa vào cấp cứu, ông vẫn nằm ở khu critical care, dời từ phòng này sang phòng kia, trên người ông là vô số những ống nhựa và dây, từ miệng, từ cổ, từ mũi, từ tay, từ chân, hai cánh tay ông đỏ bầm những máu đông. Bà đến bên giường, lấy những chiếc khăn giấy nhúng nước lau trán ông, lau mắt ông, rồi nắm tay ông, hỏi thăm ông, nói chuyện với ông những mẫu chuyện vặt vãnh ở nhà, nào là con gái đã xin được social security card rồi, cháu ngoại đang xin, cháu học giỏi có bằng khen của trường. Ông nằm yên, thỉnh thoảng gật đầu hay lắc đầu. Bà thỉnh thoảng nói, giọng xúc động, đừng lo gì hết nghe ông, ở nhà tui lo được, ông cầu nguyện Chúa đi, Chúa cứu ông đó. Đôi khi thấy bà thoáng buồn, tôi kể cho bà nghe câu chuyện tổng thống Mỹ Reagan bị bệnh vào những năm cuối đời, ông không còn nhận biết bất cứ người thân nào, cả bà Nancy vợ ông, ngay cả ông, ông cũng không biết ông là ai. Sống mà không biết mình đang sống. Bà nói: tôi biết, chúng tôi còn có phước hơn ông bà tổng thống ấy, còn biết mình, còn nói chuyện, còn tỉnh táo, nhìn người ta, nhìn lại mình, thấy mình còn tốt hơn. Tôi có kể lại cho ổng nghe, ổng gật đầu. Những lúc đó tôi nhìn qua cửa sổ, ngó xuống mặt đất, nhìn những con chim sẻ đậu trên những cành cây khô xương xẩu. Mỗi ngày tôi chở bà vào thăm ông một lần. Khi ra về, tôi cúi xuống giường, nắm bàn tay sưng phồng lên của ông, cầu nguyện cho ông. Bàn tay ông run lên, có khi ông cố gắng dơ tay lên, xá xá tôi để bày tỏ sự biết ơn. Tôi ngăn ông lại. Tôi luôn luôn rời phòng với suy nghĩ một ngày nào đó sẽ vào thăm mẹ mình giống như thế, và chính mình ngày nào đó rồi cũng sẽ nằm như thế này. Nhưng tôi cố gắng nghĩ đến điều đó cách tích cực hơn. Tại sao cứ nghĩ đến tương lai với đôi mắt bi quan trong khi hiện tại vẫn còn đó”
Khi tôi trở về nhà thì con trai đã đón cháu về rồi, và vợ tôi cũng đi làm ca tối. Mùa đông làm ca tối vất vả lắm. Con trai lớn cũng đi làm chưa về, cậu nhỏ nhất thì đi học thêm ở trường sau khi ở sở làm về. Tôi vào phòng, ngồi vào bàn, ngồi thừ ra trước computer, suy nghĩ đề tài bài giảng phải soạn cho xong trong tuần này, mà đầu óc trống không như mặt hình phẳng, sực nhớ là có hai ba cái email hỏi công chuyện gấp mà chưa trả lời. Lục tìm, loay hoay một mớ giấy tờ rồi trả lời email. Khi ngửng lên trên mặt bàn, tôi nhìn thấy tuyết đã bắt đầu rơi bên ngoài. Những bông tuyết trắng bay lả tả như những cụm bông gòn bị gió thổi tung lên, bầu trời sáng lên như một bức tranh vẽ. Tuyết thật tuyệt vời khi rơi thật nhẹ, nhưng trở thành một nỗi khổ khi rơi nhiều và kéo dài, và càng cực khổ hơn khi nó đang tan thì thời tiết trở nên lạnh hơn làm cho mặt đường đóng băng. Khi đứng dậy tôi cảm thấy hơi mệt, cái mệt thường xảy ra vào buổi chiều của người bị diabetes khi phải làm việc cách gấp rút, liên tục. Có lẽ sáng đến giờ tôi chưa có một chút nghỉ ngơi nào, sáng sớm đã lái xe đến khu apartment để chờ đợi thằng bé, rồi trở về, tiếp tục làm việc, chưa ăn uống gì hết …. Cúi xuống lấy cái máy One Touch, lôi ra những test strip, alcohol prep swabs, lancet, nhắm mắt lại khi mũi nhọn của cây kim đâm vào ngón tay, nặn máu ra, nhìn vào những con số đang lùi lại, 48. Nguy hiểm, phải đi tìm một lon Coke, hay vài viên kẹo, phải làm cho những con số tăng lên. Nhà không còn một lon Coke nào hết, trong lúc bối rối cũng không nhớ những viên kẹo cất ở đâu. Mồ hôi đổ ra trên sống lưng, tôi phải vịn cầu thang để bước đi. Nhìn ra ngoài trời thấy tuyết đã phủ kín mặt đường, những nóc nhà cũng trắng xóa, một con chim lẻ loi bay đậu trên một cái đỉnh nhọn của hàng rào, khung cảnh trông giống như một đoạn phim trong Doctor Zhivago mà tôi đã xem từ khi còn trẻ. Cơn mệt đột ngột dâng lên, có một cái gì đó chợt hao hụt trong tôi, bước chân tôi chếnh choáng như người say rượu và tôi có cảm giác rất rõ rằng mình đang rơi vào một cơn mê không kìm chế được. Ngủ đi, tôi tự nhủ và ngã mình xuống, và ngủ, như những ngày nào đó trong quá khứ, ngủ trong tiếng nhạc nhẹ phát ra từ cái máy cassette nhỏ bên cạnh giường, trong giấc ngủ có lẽ có một giấc mơ êm đềm thấy mình chạy trên đồng cỏ mênh mông, tay cầm những con chuồn chuồn cánh mỏng, đẹp đẽ như bài hát Greenfield: ta yêu đồng xanh, như đã yêu thương con người. Ta thương đôi tình nhân kia, như gió thương yêu mây trời, nhưng sao giờ đây chẳng có ai chung quanh ta … Một ngày làm việc như thế là đủ chưa”
Tiếng điện thoại reng như xoáy vào trong tiềm thức tôi, trong cơn mê váng vất tôi mở mắt ra nhấc máy và nghe một giọng nói hoảng hốt từ đầu giây bên kia:
– Mục sư ơi, ông nhà tôi đang bị hôn mê trong bệnh viện rất nguy hiểm, Mục sư có thể nào giúp chở tôi vào bệnh viện ngay bây giờ không”
Tôi nhướng đôi mắt mệt mỏi nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn tuyết đang rơi dày đặc thêm, và trả lời như một cái máy:
– Bác chuẩn bị đi, tôi sẽ đến ngay.
Tôi cố gắng ngồi dậy, nhìn thấy một gói kẹo chocolate đặt gần những trái chuối, không biết từ khi nào, có lẽ cơn mệt làm tôi hoa mắt không nhìn thấy chăng, tôi vớ lấy bỏ vào miệng như trong cơn vô thức. Tôi mặc áo coat, quấn thêm cái khăn và mở cửa bước ra, bước chân vẫn còn chuếnh choáng. Chiếc xe vất vả lui lại, trượt những chiếc bánh của nó trên lớp tuyết mỏng. Tôi thấy tội nghiệp cho bà cụ. Tôi suy nghĩ đến những lời sẽ nói với bà khi bà ngồi trên xe, những lời nói nào sẽ khích lệ bà. Bà đang rất lo sợ, lo ông chết, nhưng trông bà có vẻ bình tĩnh hơn khi có tôi bên cạnh.
Khi chúng tôi vào, các bác sĩ và y tá đang đứng quanh giường của ông, chúng tôi phải ngồi đợi trong phòng đợi gần đấy, thời gian chờ đợi ấy là quá dài. Tôi cầu nguyện với bà cụ và xin một phép lạ. Tôi cảm thấy mình đuối sức. Rồi rốt cuộc người bác sĩ cao lớn từ trong phòng bước ra, uể oải tiến lại gần.
– He’s very ill. But he’s fine now.
Khi tôi lái xe đưa bà về nhà, thì màn đêm thật sự đã buông trùm trên mọi vật, từ giã và chạy về nhà mình, chiếc xe phải chạy rất chậm vì tuyết đã rơi rất dày và hầu hết những xe trên đường đều chạy chậm lại. Một sự mệt mỏi lại ùa tới và tôi lại cảm thấy buồn ngủ, một ngày như thế là đủ rồi, tôi tự nhủ, và bây giờ tôi có thể tìm cho mình những giây phút yên tĩnh riêng tư.
Tôi nghe những tiếng kêu phát ra từ chiếc điện thoại bàn khi vừa mở cửa vào nhà. Tôi không muốn nghe chút nào cả, nhưng tôi vẫn bước tới, bấm nút để nghe lời nhắn:
– Mục sư ơi, chúng tôi cần ông bây giờ, Tiểu Di lại bỏ đi rồi, trong trời tuyết thế này, nó đi đâu, Mục sư ơi, gọi lại cho tôi.
Một ngày vẫn chưa qua, một ngày mùa đông.
Tôi lẩm nhẩm lại bài thơ tôi nhớ buổi sáng. Tiểu Di, hay Sergey Tkachenkho, em là ai” Mùa đông nước Nga còn buồn không” Trước khi gọi điện thoại lại cho cha mẹ đứa trẻ có cái tên đẹp, tôi mở cái ví, nhìn tấm hình bé Hải Âu mở tròn xoe đôi mắt nhìn, dường như nó muốn nói (mà không thể nói): ông nội ơi, cháu đây nè, ông nội đừng mệt nữa, ông nội có vui không”
Vui hay buồn, tôi không định nghĩa được. Lòng tôi thấy nhẹ nhàng. Bây giờ thì tôi biết là mình đang sống, đang làm việc, đang làm những việc cần, những việc tốt, cho những người cần mình. Còn người cần đến, tôi còn làm việc. Tôi hôn lên tấm ảnh của cháu.

Trần Nguyên Đán

LỊCH SỬ NGÀY LỄ TẠ ƠN

20131121-thanks_2

Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi và khí trời càng trở lạnh cũng là lúc cả đất nước Hoa Kỳ đang chuẩn bị bước vào những ngày lễ trọng đại và thiêng liêng. Một trong những ngày lễ quan trọng đó là Lễ Tạ Ơn .

Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ… Vào ngày 6 tháng 9, 1620, có 102 người, vừa đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng một số vật dụng bước lên con tàu Mayflower rời Anh Quốc, vượt đại dương để tiến về Tân-thế-giới. Họ ra đi và mang trong lòng một nỗi khao khát: tìm tự do tôn giáo (seeking religious freedom). Họ được gọi bằng tên mới “Những người hành hương” (Pilgrims). Một vài nhà sử học coi đây là Lễ Tạ Ơn đầu tiên mặc dầu không có tiệc tùng, ăn uống, vui chơi…

Mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ. Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ…

Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của “First Thanksgiving” nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự “party” và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ.

Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang.

Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên “Godey’s Lady’s Book”. Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng!

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4. Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dâng lên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sống của mỗi chúng ta trong cộng đồng nhân loại.

Kính chúc mọi người, mọi nhà một kỳ Lễ Tạ Ơn tràn đầy ý nghĩa!

Mục sư Tiến sĩ Christian Phan Phước Lành

THƯA MẸ

phuongtan

10828085_1499685513682813_3225841470185179658_o

Con lột mũ cởi giày và tháo mép
Những chua ngoa xin mắc lại cho đời
Nay trở ngựa rầu rầu qua lưng mẹ
Thân cũng tàn con gõ lấy mà chơi.

Xin đừng hỏi e một lời cũng mỏi
Tương tàn kia bòn mót hết xương da
Con ngồi gỡ trăng phơi trong mắt lạnh
Lấy nắng chiều hong một chút sầu khuya.

Cho được thở hơi bay trong kẽ lá
Chút lòng vui đậu xuống mép sương chiều
Chút gió nổi lay hồn trong bãi đá
Hồn nghêu ngao cùng bầy lệ chắt chiu.

Cho được nói lời bay trong kẽ nón
Lời reo vui lách tách vỗ quanh vành
Chân bập bỗng xin quỳ trong mắt mẹ
Thân đã vàng hay nắng đã vàng hanh.

Con sẽ thở hơi con trong vú mẹ
Tí bi ai khẽ động mé chân đời
Chim lẻ bạn chơi mỗi mình quạnh quẽ
Chạm tiếng kêu ngại Chúa cũng chơi vơi.

Thôi đà mỏi con vui lòng trở ngựa
Tương tàn kia bòn mót hết xương da
Chiến tranh kia vẫn nằm ve vuốt lửa
Vuốt lưng người đất xé vuốt lưng cha.

Thôi đà mỏi con vui lòng trở ngựa
Thân tong teo dắt dạ chắt chiu về
Thêm chút gạo chút lửa cười trong bếp
Chút bao dung lóp bóp vỗ trong con.

Mẹ so đũa gắp lòng reo trong mắt
Gắp một đời rót xuống chén cơm con…

PHƯƠNG TẤN

(1965)

chưa phai, bờ áo nguyệt

npphan

chiều mù sương rất vội
áo nguyệt đẫm hai bờ
em có nghe xa lạ
đôi mùa qua ngõ xưa

em có nghe vô cùng
gọi mây về với núi
gọi suối về với rừng
gọi sông về với biển

em có nghe trong hồn
tóc buồn chia mấy nhánh
hai bên lòng phố lạnh
mưa bay nghiêng tròn vai

bước chân nào đưa anh
vượt qua trời phù ảo
để thắp sáng ngọn cành
trọn những ngày tháng cũ

anh đứng ở bên trời
gọi tên người tha thiết
vẫy đời nhau tiễn biệt
chiều đã vàng dáng hoa

một thuở nào ngậm tóc
vùng tuổi hoa cỏ mềm
chia vùng trời nuối tiếc
về nơi chốn bình yên

ôi, trăm năm lá cỏ
em hãy mang hồn người
chết trên bờ áo nguyệt
một sớm chiều chưa phai…

NP PHAN

Đừng đùa với sự chết

nguyentri

Đinh Tính. Cao mét sáu lăm và nặng năm mươi hai ký. Chiều cao và cân nặng ấy cho Tính một thể hình đẹp. Trước khi vào lính Tính đến võ đường học được một năm võ thuật. Rời quân ngũ, tóc ba phân, uy phong lẫm liệt, Tính ngon lành lắm trong mắt các cô cùng xóm. Cô nào cũng thích anh. Anh lại khỏe như Hạng… vâm. Vâm thôi, không Vũ, bì với Vũ e cường điệu. Ra bến xe làm bốc xếp Tính được tôn làm anh.

Đừng đùa với sự chết – Truyện ngắn của Nguyễn Trí
Tính là gương cho mọi người noi theo. Đàng hoàng một phép, đừng tưởng bốc xếp là tầm thường. Cái thời mà bọn du côn tựa bến xe bằng chiêu mạnh được yếu thua đã qua rồi. Dưới trướng của Tính khách hàng không còn bị câu kéo, đòi thêm tiền như xưa nữa. Ngay cả ăn nhậu cũng chừng mực, thằng nào có rượu khi làm việc là Tính cho nghỉ ngay tắp lự, tái diễn là ra khỏi đội. Tính nói được làm được, anh em nể vì miệng nói tay làm không có trò chỉ tay ra lệnh.

Tính rượu và thuốc lá cho vui chứ không bét nhè. Bao nhiêu tiền làm ra đều đem hết cho mẹ. Gia cảnh khó mà được vậy quả là tiên cảnh trần gian. Mấy em trong xóm nhỏ mỗi chiều đều tựa cửa ngắm anh về. Áo vắt trên vai, nước da rám một màu nhiệt đới. Em nào cũng muốn anh Tính là của mình. Và rồi cả bọn tiếc ngẩn ngơ khi hay tin anh sẽ là chồng của Hoa thịt heo.

Hoa xinh không thua ai, sở dĩ tên kèm cái hậu không nhã này là do cô có một quầy thịt heo. Cái quầy này muốn có phải cây vàng chưa kể thuế. Ngày Hoa bán ngoài tạ thịt, cả nhà cô ai cũng có cửa hiệu trong chợ. Xóm nhỏ Hoa oách nhất. Lúc đầu ai cũng nói Tính theo Hoa là bởi cô giàu, nói vậy là tầm bậy, Tính đâu phải kẻ tham tiền, anh đến với cô là vì trong tất cả, xinh nhất vẫn là Hoa. Nếu Hoa không õng ẹo, liếc mắt đưa tình và ong ve đưa đẩy, có cho vàng Tính cũng không dám mơ.

Gái tuy không thiếu, nhưng người đẹp hiếm lắm, đẹp lại có tiền thì hiếm hơn. Vậy là liền tay cưới. Cưới xong Tính rời bốc xếp, ngày ngày mang thịt ra chợ cho vợ. Sáng nào vợ cũng dúi vào tay anh dăm bảy chục một trăm để anh cà phê cà pháo với bạn bè. Đời bình yên trôi trôi. Hai đứa nhóc ra đời, không biết có phải vì vậy mà vợ chồng thường gây gổ? Cũng dám lắm. Đâu ai son mãi được, với lại sống chung phải có xung xung, đột đột một tí gọi là gia vị cho mặn tình. Nước hồ còn có sóng nói chi chồng vợ.

Nhưng không hiểu sao Tính đi một hơi vô tuốt miền Đông thăm anh rể. Khi đi có cả mẹ ruột mới thật là kỳ.

Anh rể của Tính là Vũ Tân. Tân có hai con trai là Uy và Hậu. Hai thằng cháu tuổi xêm xêm Tính. Uy, Hậu kiếm tiền bằng nghiệp phá sơn lâm. Dân rừng, có rượu vô là coi trời bằng vung. Uy và Hậu thân thiết với anh em Xung và Trận. Cả bốn nổi tiếng chợ Suối Nho về nghệ thuật ẩm thực, đặc biệt khoản không say không về.

Tân rù rì chuyện ông cậu với hai con. Hai ông con rù rì lại với bạn thân:

– Ê – Uy nói – Thằng cậu tao vào đây để cai…

– Cai gì? Đang nói sao yên vậy?

– Phải bí mật, và tao cần anh em mày giúp một tay.

– OK, hai tay hai chân luôn.

– Thằng cậu tao bị nghiện ma túy, bà ngoại đưa vô đây để cai và cách ly với bọn dân chơi ngoài kia.

Xung và Trận ngạc nhiên. Ủa… ngó cao ráo đẹp trai vậy mà dính vô quỷ ma này? Hỏi:

– Thằng cậu mày ăn cái gì mà ngu quá vậy? Cả đứa con nít còn biết dính vô ma túy là con người bị vùi xuống bùn, không còn chi danh dự và nhân cách, lại là gánh nặng cho toàn xã hội… Bà mẹ nó… nghiện thứ này khó cai lắm đó nghe.

– Vậy mới nhờ anh em động viên cho nó qua cơn.

– Bọn mình biết khỉ mẹ gì mà cai với cung. Kêu nó lại đây tìm hiểu để biết mà giúp.

Đinh Tính được triệu đến bàn nhậu. Đã nói cả bọn này đi làm thì thôi, ở nhà là bày sòng, cả Vũ Tân còn uống như hũ chìm. Cha con và bạn con cùng tạc thù như bạn hiền. Làm vài hớp, họ Lâm tên Trận, thằng này mười tuổi nghỉ học, mười lăm tuổi đã bắt đầu nhậu. Mười lăm năm lâm tặc, một vợ hai con. Nó với thằng anh Lâm Xung từng tuyên bố riêng tiền rượu sau chừng ấy năm, anh em nó dư sức cất một căn hai tấm. Danh anh em Xung Trận dân rừng phải chào thua:

– Mày chơi lâu chưa?

– Bảy năm rồi, từ ngày vợ tao có đứa con đầu.

– Mày biết thứ đó giết người mà sao vẫn cứ đâm đầu vô?

Vẻ ân hận, Tính khai với anh em là do cái tự tin thái quá. Một thằng bạn bị lâm chước cám dỗ, thấy nó bị ma túy hành mà tội nghiệp. Tính đang sống một đời nhàn nhã, rượu sớm trà khuya, muốn chi cũng có. Thấy bạn vậy Tính liền vỗ bàn:

– Có gì mà bỏ không được, nó làm chủ mày à?

– Chủ tớ con mẹ gì ở đây, mày bị dính cũng như tao thôi.

– Tao không nhu nhược như mày, chơi được là bỏ được.

– Mày thử bỏ rượu một tuần tao coi thử?

– Tao sẽ không uống một giọt đúng tháng luôn cho mày coi.

Nói xong Tính nghỉ chơi với rượu, tất cả các loại đám không ai mời được một ly, anh em nể lắm. Tính nói:

– Chủ yếu do mình, ba cái ăn chơi mà để sa là không bản lĩnh.

– Mày ngon bỏ thuốc một tuần tao kêu mày bằng ông nội.

Tính trầm ngâm. Gì chứ thuốc hơi khó… Nghĩ một lát Tính quyết định:

– Tao sẽ không hút theo ý mày.

Thật khó chịu. Bấy nay, ăn xong hít một điếu, cà phê không thuốc lá thì chả có chi là thú, đi tiêu không bập phà đúng cực hình… Cố gắng đến hết lực Tính qua một tuần. Bạn nói:

– Mày giỏi thật, nhưng ma túy một nghìn lần hơn.

– Dẹp đi. Một thói quen mà tao còn dứt được thì ma túy là không thể.

– Mày cứ thử rồi biết.

– Tao chơi và sẽ bỏ cho mày thấy.

– Mày bị vợ bỏ thì có.

Nhún vai. Tự tin ma túy không thể giết nổi mình, Tính liền thử một lần cho biết. Nhưng thử làm sao? Tính được thằng nghiện lấy ra một tép. Gã nghiện trút từ trong ống hút ra một viên màu trắng nhỏ như hạt đậu xanh. Gã đưa tất cả vô xi lanh rồi rút nước cất vào, xịt một phần ba thứ nước ấy vào một điếu Jet đưa cho Tính:

– Đợi khô một chút rồi hút, vậy thôi.

Rất tự nhiên, Tính thử. Kéo được mấy hơi lập tức đầu óc đảo lộn như say sóng, muốn ói. Và ói. Màu đen của ly cà phê chưa kịp tiêu hóa vội tuôn ra. Sau đó Tính ngồi ụa khan, dáng vẻ như một gã nghiện thiếu thuốc làm đám bạn trong quán phá ra cười, chúng dìu Tính về. Tính nằm liệt đúng một ngày. Hôm sau:

– Mẹ… có cho vàng tao cũng chả chơi thứ này.

– Lần đầu thôi mày ơi, thêm hai lần nữa mày mà dứt được đem đầu tao chặt đi.

Lần thứ hai Tính lại ói, nói chung cái gọi là ma túy chả cho anh một cảm giác gì ngoại trừ mệt. Nếu ngừng lại và đừng vỗ ngực thì Tính đã không vô cửa tử. Anh dại dột hít cái quái quỷ ấy lần thứ ba, và lần này quỷ vương đưa anh đi gặp thiên đường.

Một mùi thơm của nhãn chín ngào ngạt trong mũi. Mọi thứ trong đầu như đang bay, một cái gì đó lâng lâng đến vô cùng. Tính là dân ăn nhậu. Khi tạm đủ, men rượu cũng cho cảm giác, khi ấy đời thật đẹp, chỉ nói thôi đã vô cùng lưu loát… nhưng so với làn khói trắng này thì rượu không nghĩa chi… Tính tựa người vô ghế, yên lặng nghe và ngắm nhìn hạnh phúc dịu êm lan tỏa trong hồn… Tính về nhà. Vợ rất trẻ, rất đẹp, rất dịu dàng… và trong cái ma mị còn sót lại của ma dược, Tính ôm lấy cô. Trẻ trung và nóng bỏng… Lần đầu tiên kể từ khi cưới, cô gái trẻ biết được thể nào là đỉnh điểm của hoan lạc. Cô không hề biết có được hạnh phúc ấy là nhờ sự phụ trợ của ma túy.

Riêng Tính thì biết vì sao, và anh nghĩ, nếu ma túy tạo được hạnh phúc thì tốt quá.

***

Làn khói ấy cứ vướng vất mãi trong Tính. Xong công việc, và như mọi ngày vợ lại dúi vào tay trăm bạc. Năm mươi nghìn cho một tép, và một tép làm ba lần chơi. Nếu là vậy và chỉ vậy thì cuộc đời làm chi có bi kịch. Vợ Tính thừa hưởng một tài sản rất lớn, nếu chỉ trăm nghìn bạc cho một ngày, cô có thể cho anh chơi hết hai cuộc đời. Nó chỉ bằng một phần mười tiền lãi từ lò heo và quầy thịt của cô mà thôi. Và nếu tác dụng của ma túy cứ mãi đưa cô đến đỉnh của vu sơn trong mỗi lần ân ái thì chả có chi để phàn nàn. Nhưng hoàn toàn không phải vậy.

Một tép làm ba, rồi làm hai đến mỗi lần một, và mỗi ngày ba lần. Kế tiếp Tính phải đốt trên giấy bạc để đưa khói vào mũi rồi hít trực tiếp. Cuối cùng để đạt được mục đích anh phải tiêm. Và Tính biết mình không gỡ ra được. Tính lơ mơ suốt ngày, vật vạ ngủ… Cái bản năng cơ bản thoạt tiên còn bừng bừng, rồi bỗng nhiên anh không thiết tha với nó nữa. Tất nhiên người đàn bà bên anh ngạc nhiên. Cô tìm hiểu và phát giác nhiều ống hút trong sọt rác, cả kim tiêm. Lần đầu bắt gặp, người vợ rụng rời tay chân. Lặng người. Cô hỏi nhưng anh chối biến, bảo mình bị tiểu đường nên phải tiêm insulin. Nhưng ma túy là cái khó giấu nhất. Cô thấy anh tiêm vào tĩnh mạch và vậy là nổ ra gây gổ. Cô không đưa tiền cho Tính nữa.

Tính vẫn có tiền và chơi đều đều. Rất sộp với bạn nhậu và bạn nghiện. Bà xã phải nhờ người phụ trong lò heo đưa thịt ra chợ. Một hôm kia lơ mơ dậy giấc hai giờ sáng, Tính thấy vợ và gã đồ tể đang làm chuyện vợ chồng. Việc này xin tha nhân đừng trách người đàn bà… Và cũng rất hốt hoảng khi bị chồng bắt quả tang, người vợ vội chạy vào phòng, xếp tư trang định về nhà mẹ cho qua cái sắc lạnh. Nhưng khi mở tủ thì phát giác sổ hồng của miếng đất đã không còn nữa:

– Giấy chủ quyền đâu rồi? Ông trả lời không xong là ly dị.

Khi biết chồng đã bán miếng đất, cô cương quyết chia tay vì không ngờ chỉ trong bảy tháng anh ta đã tiêu hết ba trăm triệu bạc.

– Mày làm gì mà tiêu hết chừng đó tiền trong bảy tháng? – Lâm Trận hỏi – Đừng có nói là hút chích hết đó nghe.

– Hai phần ba số tiền ấy tao đã nướng vô ma túy, còn lại là tiêu xài…

– Làm thế đếch gì mà chích hai trăm triệu trong vòng bảy tháng? Tao không tin.

– Tao không ngờ lại bị đuối vô ma túy đến như vậy, có ít chơi ít, có nhiều chơi nhiều. Hễ có tiền trong tay là tao nghĩ đến ma dược. Có ngày tao chơi cả hai triệu bạc cho cá nhân, chưa kể bao anh em nghiện…

– Hai triệu cho thời điểm này là hai mươi tép. Xạo, quá liều là mày xanh cỏ liền.

– Tao đâu có chơi quá liều, một lần một tép, nhưng hễ có trong tay là cứ mỗi nửa tiếng là chơi lại, hễ hết mùi trong miệng là nó bắt chơi, như nghiện rượu vậy, hết mùi men là uống tiếp, nhưng ma túy gấp một trăm lần hơn. Mày hiểu không?

– Hiểu rồi, bảy tháng là hai trăm lẻ mười ngày, ngày chơi một triệu hết là phải. Vợ mày nó ly dị là phải quá. Giờ ly dị chưa?

– Chưa. Tao thương hai đứa con quá…

– Có tiền sao không đi cai?

– Đi rồi, nhưng về là dính lại. Hễ cứ gặp lại bạn cũ là nhớ quay quắt cái đó. Nó xui khiến con người ta dữ dội lắm.

– Trong trại họ cai làm sao?

– Họ cho Sen. Uống xong lăn ra ngủ, bảy ngày là hết cơn. Nhưng ngoài đời không có thứ thuốc đó.

– Không có Sen thì mày dộng rượu cho say thì cũng được vậy.

– Vô đây tao tính cai dần dần.

– Là sao?

– Nghĩa là tao sẽ giảm từ ba xuống hai, từ hai còn một…

– Vậy mày có mang theo thứ quỷ đó vào đây?

– Tao có mang theo năm phân.

Nói xong Tính trút trong túi ni lông ra một lượng mẫu ống hút đã được hàn hai đầu. Tổng cộng hai mươi cái. Lâm Xung tò mò, nó dùng kéo cắt và trút ra tay, một chất bột trắng tinh như hoa bưởi hiện diện. Nhìn một hồi, Xung trút xuống đất, nó quơ sạch mười chín tép còn lại rồi trút vô cái bếp than rừng rực lửa dùng để nướng khô đuối và các loại khô phục vụ cho bữa nhậu. Xung nhanh như tép làm cả bọn trở tay không kịp. Quá bất ngờ, Tính kêu lên:

– Trời ơi… mày giết tao rồi Xung ơi.

– Vợ lấy trai – Xung gằn giọng – con không nuôi, mày nên chết đi là vừa. Đã bỏ là dứt khoát. Để tao lo cho.

Nói xong Xung chơi nguyên ly xây chừng vô miệng, trong khi Tính vò đầu rên rỉ chết tao rồi, chuyến này tao chết thiệt ở đây.

***

Là dân chơi lâu năm, bảy năm ròng, thêm bảy tháng kiểu ông hoàng nên ác quỷ rất nhanh kéo đến hành hạ Tính. Cả bọn gồm Vũ Tân, Vũ Uy, Vũ Hậu, anh em Lâm Xung, Lâm Trận nhìn Tính bị giày vò bởi thiếu thuốc. Thoạt tiên anh ta ngáp liên tục thiếu điều sái quai hàm. Nước mắt, nước mũi ròng ròng chảy, rồi ói mửa… chả còn gì kể cả nước mà Tính cứ ụa khan, anh ta ôm bụng quặn lên từng hồi và hào hển thở. Cả bọn tái mặt, cứ thế này thì Tính chết mất. Cả bọn lôi vào nhà đặt anh ta lên cái chõng tre. Tính nằm rên hừ hừ, co quắp như con tôm vì lạnh. Tay chân và cả người run lên cầm cập. Ba cái vụ sốt rét thì dân rừng quá rành. Xung nói:

– Không chết đâu, qua cơn lạnh là yên.

Đang nằm Tính bật dậy đòi đi tiêu, Uy và Hậu phải kè anh ta ra cuối miếng đất. Chỗ đi ngoài nhà Vũ Tân là một cái hố gác bởi hai khúc gỗ. Thông cảm cho, dân rừng chỉ vậy thôi. Hai anh em bịt mũi đè chặt vai ông cậu, để rơi xuống cái hố đầy dòi bọ thì chỉ có chết. Nhưng vừa ngồi xuống Tính đã phắt dậy vì cơn đau bụng đã tiêu tan:

– Sao vậy?

– Nóng quá, cho tao tắm.

Lôi ra giếng, nhà Vũ Tân tuy nghèo nhưng giếng cũng có thềm xi măng để giặt áo quần. Hai thằng cháu múc nước bằng gàu phục vụ cho cậu. Tính xối nước ào ào, đang xối bỗng mắc cầu lại phải dìu ra hố, vừa ngồi xuống lại bật dậy… Thật kỳ dị. Uy, Hậu và Xung, Trận chả hiểu ra làm sao cái sự này. Nó làm khổ cho cả bọn… Đi tiêu, tắm, ói mửa… liên tục. Cuối cùng vợ Vũ Tân phải chạy đi mua cái bô để sẵn trong buồng, đi kiểu đó khỏe còn chết nói chi người nghiện. Mệt quá Tính nằm như chết trên chõng sau hai tiếng bị hành hạ… Tưởng yên, ai ngờ cái lạ khác ập đến, Tính rên như heo bị thọc tiết. Vũ Tân hỏi:

– Bây giờ cậu thấy sao?

– Trời ơi – Tính thều thào – Dòi, dòi… anh Tân ơi.

– Dòi ở đâu? Cậu mê rồi.

– Không, cả ngàn con dòi đang đục trong xương em… Trời ơi… bây giờ mà có một tép là hết liền… Anh mua giúp em một tép, em lạy anh, thà chết cho rồi, như vầy khổ quá anh ơi…

– Cậu phải ráng lên, ở đây không có thứ này.

– Có, em đảm bảo với anh là có, anh cứ vô chợ thấy thằng nào môi thâm, mắt lim dim là nó… Anh giúp em… em lạy anh…

Lâm Xung cáu kỉnh:

– Tao đá vô mặt mày bây giờ… Hai chục ngàn lít rượu là bọn tao xót ruột rồi, bỏ ra trăm ngàn là không thể, có tao cũng không cho mày chơi… Rượu nè, tu đi, say là qua cơn liền.

Nhưng mùi rượu làm Tính ụa. Vậy là cái liên khúc ụa, đi tiêu, tắm, dòi bò tái diễn không một lúc nào ngơi nghỉ. Cứ thế suốt một ngày, cả ngày ấy chả ai ăn uống được gì. Người dưng như Xung, Trận còn nghe xót ruột gan nói chi người nhà, nhất là bà mẹ ruột của Tính. Thấy con oằn oại như một con giun bà cũng ròng rã khóc theo.

Nhưng đêm đến mới là cực hình cho cả nhà Vũ Tân. Thằng ma túy không ngừng rền rĩ, la hét. Ai chưa thấy con heo bị khè lúc bị thọc dao vô họng, chỉ cần nghe tiếng rền của Tính là thông tình đạt lý, ai chưa từng nghe con bò thét lên não nùng khi bị đập dái để thiến cứ đến nghe con ma túy trong người Tính lên giọng. Rền rĩ suốt đêm, đứng lên, ngồi xuống, đi ra, đi vô, tiêu, tiểu, ụa mửa, dòi bò… cứ thế cứ thế… làm cả bọn xây xẩm mặt mày. Tiếng động ấy vọng đến tận nhà Sok Xanh.

Sok Xanh trang lứa với Vũ Tân. Dân Khơ Me ở Châu Đốc, thời cũ bị bắt đi lính trong quân đội cộng hòa. Sa chân vô ma túy, nghiện cũng tương đối nặng. Sau thống nhất bỏ được là vì chả có thuốc đâu nữa mà hút chích. Sok Xanh nghe đuôi đầu vì sao có một thằng thảm thê như con chó ghẻ đang bò lê bò toài giữa nhà. Còn cả nhà thì mặt tái như chàm đổ:

– Vậy rồi có sao không anh Xanh?

– Không chết đâu. Cai như vầy chỉ mất sức, nhưng nếu chịu được là khả năng bỏ ma túy rất cao. Trước kia tao từng bị hành hạ như vầy.

– Chú cũng biết ma dược này à? – Lâm Trận hỏi.

– Hồi chiến tranh sợ quá, chán nản quá bao nhiêu lương lĩnh ra tao nướng sạch vô cái trò này… Bữa nay là còn đỡ, ngày mai nó hành mới ghê gớm hơn.

– Là sao?

– Thì cứ y như vậy cho đến hết hai ngày nữa mới qua.

Vậy là có thêm một đồng minh từng cai ma túy đến phụ trợ. Đúng như Sok Xanh nói, ngày thứ hai con quỷ hành hạ Đinh Tính dữ dội hơn, anh ta quặn thắt những cơn đau. Đau bụng chẳng hạn, Tính rên siết tưởng như ruột đang đứt từng đoạn, hết đau bụng lại chuyển qua đau lưng… có như thế này mới biết sức chịu đựng của con người thật ghê gớm, tuyệt không một cái gì vô bụng Tính trong ba ngày. Đến chiều ngày thứ ba thì anh ta nằm thoi thóp như một cái xác sắp chết. Tóc tai rũ rượi, mắt thâm quầng và sâu hoắm. Sok Xanh nói:

– Vậy là con quỷ túy đi rồi. Qua khỏi cái tầng cuối của địa ngục này ít có thằng nào dám chơi lại lắm. Nhưng mà cũng không chắc đâu, tốt nhất là thằng này nên ở đây vài tháng, quay lại chốn cũ là ma quỷ bắt nhớ liền.

Đến ngày thứ tư. Tính đã tự động ngồi dậy, anh ta nghe đói bụng và thèm ăn:

– Thời điểm này – Xanh nói – nó thèm ác liệt lắm, nhưng giờ nếu chơi vô là sốc có thể chết tức khắc. Hồi sau giải phóng ba cái tệ nạn bị quét sạch. Mấy thằng nghiện hút như tụi tao vật vã như thằng Tính mấy hôm nay vậy.

– Bây giờ thằng này tính sao chú Xanh?

– Thời điểm này nó thèm ma túy gấp một trăm lần mình thèm rượu sau ba ngày không uống. Trước mắt là không cho nó vô chợ Suối Nho, vô đó gặp mấy thằng đang chơi là dính lại liền.

– Nó quen biết ai ở đây mà có hàng để chơi ông?

– Mày lầm rồi đa con. Ma túy nhận người thân nhanh lắm. Cỡ thằng Tính đây vô chợ đi chưa hết nửa vòng là biết thằng nào chơi liền. Một cái nháy mắt là kéo nhau vô hẻm kết tình huynh đệ.

Nghe Sok Xanh nói cả nhà Vũ Tân canh Tính còn hơn canh tù. Nhờ canh ke kỹ lưỡng, thêm tích cực bồi dưỡng sau những ngày khốn đốn Tính hoàn dần lại hồn.

Tính ở Suối Nho thêm sáu tháng. Ma túy không còn ám ảnh, tự tin mình đã chiến thắng thần chết, tự tin mình sẽ lấy lại nhân cách, danh dự sau chừng ấy năm vùi xuống bùn đen, Tính từ giã anh rể, chị ruột, từ biệt bạn bè. Nhảy lên xe bay một hơi về quê. Khi chiếc đò khuất bóng, Vũ Tân hỏi Sok Xanh:

– Ông nghĩ nó lâm lụy lại không?

– Có thể. Ông biết không, tôi có thằng bạn, sau giải phóng, cai xong nó liền đi kinh tế mới ở Đắk Mil. Được cấp đất làm cà phê, trồng tiêu bề thế lắm, lại là đoàn viên gương mẫu. Sau đó về Sài Gòn công tác, gặp lại bạn cũ vậy là lâm trở lại. Đơn vị phải cho người xuống bắt, cai sống một lần nữa mới được… Thằng em rể ông mới sáu tháng thì tái nghiện rất cao. Nhưng hy vọng hai đứa con là động lực để nó từ bỏ mà làm người…

***

Như lời Sok Xanh nói, di động báo vào Tính tái nghiện. Bên bàn rượu, Lâm Xung thở dài:

– Cứ tái đã đời đi, vào đây cai sống rồi cho định cư ở đây luôn.

– Mày nói tao nghe có lý à – Sok Xanh biểu đồng tình – Cho nó nếm mùi đau khổ thêm lần nữa.

Nhưng bước kế tiếp không cho ai nụ cười. Đinh Tính bị bắt về tội giết người. Kẻ bị giết là vợ của con nghiện. Chuyện lớn đến độ báo chí phải đưa tin. Giết người mà không lớn thì cái chi lớn? Bên bàn rượu cả bọn trầm ngâm:

– Anh Tân và mấy đứa bây không rành ma lực của ma túy đâu, nó là chúa của loài quỷ. Một con người dù dễ thương đến bao nhiêu, nghị lực kiên cường đến chừng nào cũng bị nó đánh đến chết. Khi có ta dễ thương lắm, linh hoạt lắm, nhưng khi thiếu thì nó khiến chúng ta hóa thành quỷ, sẵn sàng làm mọi thứ kể cả tội ác, ba cái ăn cắp vặt, ăn cướp chỉ là nhỏ lẻ… Thằng Tính mới thật sự là thằng đáng tội nghiệp.

– Tội nghiệp chi nữa chú – Lâm Trận nói – Nó ích kỷ, chỉ biết hưởng lạc cho riêng mình, con cái còn không nghĩ đến, thứ đó đem xử bắn là vừa.

– Nói đến đam mê, sa đọa thì mày thua chi nó. Rượu cũng làm mày ích kỷ vậy. Chỉ riêng rượu tao và mày còn không hạn chế được. Tao nói tội ở đây là bình thường thằng Tính rất dễ thương, rất có tình, biết yêu thương con cái và thương vợ có chồng bị nghiện ngập. Giờ đây trong bóng tối của trại giam, không còn bị ma túy hành hạ, con vật đã biến mất, chất người trỗi dậy lục vấn. Nó sẽ khóc và hối hận trong âm thầm bóng tối. Hiểu không?

NGUYỄN TRÍ

PHÙNG

truongvu

Phung Nguyen (Phac hoa 1)

Tôi nghe tiếng Phùng Nguyễn (PN) khá lâu, tuy nhiên chỉ thực sự có giao tình với nhau từ đầu năm 2003. Thời gian đó, tạp chí Hợp Lưu ra chủ đề Yêu với sự tham dự của 27 nhà văn. Trần Vũ nhờ tôi viết Bạt cho chủ đề này. Lúc đó, PN vừa mới nhận chức vụ Chủ Bút của Hợp Lưu, đồng thời đóng góp một truyện ngắn cho chủ đề. Đọc hết 27 sáng tác được chọn đăng, tôi đặc biệt chú ý đến Ca Bin của PN. Tôi đã viết như thế này về truyện ngắn đó:
Ca bin của Phùng Nguyễn được viết với một cấu trúc rất lạ, một phối hợp của tân hình thức và hậu hiện đại. Một bài thơ tiếng Anh với lời chuyển ngữ cố ý làm khác và cả một màn hình điện toán đã được sử dụng thật thành công cho cấu trúc này. Truyện ngắn của Phùng Nguyễn có khả năng mở đầu cho một phong trào viết truyện mới. Ở đây không có thảm kịch. Nó lẫn lộn cuộc đời thực với cuộc đời trong mơ, đuổi bắt lẫn nhau, và người đọc khó phân biệt được cái mơ và cái thực. Đó là cái đẹp tuyệt vời của một tình yêu tự nhiên và rộng mở, không ràng buộc, không tự nhốt mình lại như trong một ca bin.
PN chỉ phụ trách Chủ Bút Hợp Lưu trong một thời gian ngắn. Từ đó, tôi không có nhiều cơ hội liên hệ với PN nữa. Thỉnh thoảng có gặp nhau mỗi khi về thăm California, hay liên lạc với nhau qua email về một số sinh hoạt văn học hay về đời sống của một số bạn văn. Không trao đổi với nhau nhiều. PN rất thâm trầm, ít nói, hầu như chỉ nói những gì cần thiết. Tuy nhiên, theo dõi bài vỡ trên các tạp chí văn học, giấy hay mạng, hay qua những câu chuyện với bạn bè, tôi biết được khá rõ về những đóng góp của PN cho văn học Việt Nam. Đặc biệt, đóng góp của PN vào nổ lực sáng lập tạp chí mạng Da Màu. Những ấn tượng tôi có về PN kể từ lúc tôi viết những dòng đầu tiên sau khi đọc truyện ngắn Ca Bin, càng rõ nét.
Mấy năm sau này, khi Quỳnh Loan nhận công việc mới ở Maryland, vợ chồng dời về đây, chúng tôi mới gặp nhau khá thường xuyên, hiểu nhau hơn, và thân nhau hơn. Nếu không có việc đi xa, PN có mặt hầu hết trong những họp mặt với bạn bè trong sinh hoạt văn học nghệ thuật. Chúng tôi chia sẻ với nhau những ưu tư về văn học Việt Nam, trong lẫn ngoài nước. Chia sẻ với nhau về những đóng góp cần có của người cầm bút, của người làm nghệ thuật, vào những sinh hoạt liên hệ đến sáng tác và phẩm chất của tác phẩm. Họp mặt bạn bè thường bao gồm những nhận định, những bàn thảo, hay những tranh cãi về văn chương. Chẳng hạn, tranh cãi về ảnh hưởng của Gabriel Garcia Marquez trong một số tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam hiện nay. Rất khó quên cách diễn đạt trầm tĩnh và sâu sắc của PN trong những họp mặt như vậy.
Khoảng cuối tháng 10 vừa qua, nhân có các bạn thuộc nhóm chủ trương tạp chí Quán Văn ở Việt Nam, như Nguyên Minh, vợ chồng Trương Văn Dân, Lữ Kiều, Đoàn Văn Khánh, cùng một số nhà văn, nhà thơ từ Boston và San Jose về thăm vùng DC, chúng tôi tổ chức một cuộc họp mặt, khá đông, rất vui và thân tình,. Hôm đó, có cả người bạn thân của tôi, Nguyễn Đình Vinh. Vinh cho biết rất cảm kích về đóng góp của PN trên blog “Rừng & Cây” trên VOA và mong có dịp chuyện trò lâu với PN. Tôi hứa sẽ mời cả hai đến nhà chơi một ngày nào đó rất gần. Ngày đó không bao giờ đến!
Xế trưa ngày Thứ Ba, 17 tháng 11 năm 2015, tôi nhận được báo tin của Nguyễn Quang và Đinh Cường cho biết PN đã qua đời, vẫn còn nằm trong bệnh viện. Tôi bàng hoàng, ngỡ ngàng. Tôi định sau khi đón thằng cháu ngoại ở trường về sẽ chạy ngay vào bệnh viện thì nhận được điện thoại của Đinh Từ Bích Thúy. Thúy cho biết bệnh viện chuẩn bị đưa PN xuống nhà quàng, không ai vào thăm được. Xót xa! Không nói được lời cuối với bạn mình khi còn năm trên giờng bệnh. Buổi gặp gỡ với đông đảo bạn bè cách đây ba tuần là buổi gặp gỡ sau cùng với PN.
Sự ra đi của PN quá bất ngờ với mọi người. Tuy nhiên, trong con người lặng lẽ, tế nhị, sâu sắc đó dường như có một linh cảm nào. Như Nguyễn Minh Nữu đã khám phá từ một bài viết của PN, Xuôi Dòng Ký Ức, viết nhân ngày giỗ đầu của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (NXH). Trong bài, PN ghi lại hình ảnh NXH tại một quán cà phê trong một gặp gỡ năm nào. Rồi, liên tưởng đến một gặp gỡ với NXH trong tương lai. “… Ở đó, ông đặt mua không phải một mà hai ly cà phê, mang đến chiếc bàn nhỏ ở một góc quán rồi bình thản ngồi xuống, không hề bồn chồn, chờ đợi. Bởi vì tôi sẽ đến, như đã hứa. Tôi nhất định sẽ đến, không thể nào khác đi được.” Và, khi tôi báo tin buồn cho Nguyễn Đình Vinh, Vinh xúc động vô cùng, rồi hỏi tôi có biết bài viết sau cùng của PN trên VOA tựa đề là gì không. Tựa đề của bài viết là Mệnh Trời.

Mệnh Trời! Đành vậy thôi. Không thể nào khác đi được.

TRƯƠNG VŨ
Maryland, tháng 11 năm 2015

Phùng Nguyễn, chiếc lá thu bay…

truongvandan

Thật bàng hoàng khi nghe tin nhà văn Phùng Nguyễn vừa giã từ cuộc chơi văn chương và người thân để đi vào cõi vĩnh hằng. Mới đây thôi, bạn bè văn nghệ gặp mặt đông đủ ở phòng tranh của họa sĩ Trương Vũ, anh còn ký tặng tôi và Elena tập truyện “ Đêm Oakland và những truyện ngắn khác”. Nét mực hãy còn hôi hổi, thế mà…
Biết anh qua vài truyện ngắn đăng trên tập san vhnt Văn Học (do nhà văn Nguyễn Mộng Giác chủ biên)… từ cuối thập niên 90 thế kỷ trước nhưng mãi đến 2011 mới gặp anh lần đầu ở quán cà phê Điểm Mới (Phú Nhuận) cùng anh Nguyễn Hòa (chủ biên vanchuongviet.org) và một số văn hữu khác.
Bạn bè ngồi kín quanh mấy chiếc bàn cà phê kê sát nhau nên không tiện nói chuyện nhiều. Chỉ quanh quẩn chuyện thời tiết, cuộc sống và tình hình văn học. Tôi nhớ có một lúc anh bảo là Sài Gòn có nhiều quán nhậu quá, lớp thanh niên lêu lổng ăn chơi mà tại nhà văn hóa thanh niên người ta chỉ mở các lớp dạy khiêu vũ hay luyện chữ đẹp, viết thư pháp…
Tôi gật đầu và mở màn hình điện thoại cho anh xem bức ảnh chụp tấm bích chương quảng cáo trên đường phố: Người ta đang hồ hởi thông tin là sẽ cố gắng phấn đấu để VN tiêu thụ… 3 tỷ lít bia một năm. Anh chỉ kêu lên một tiếng “trời!” rồi im lặng.
Không nói gì thêm nhưng tôi thấy nét ưu tư qua ánh mắt anh như của bất cứ trí thức nào còn trăn trở về hiện tình đất nước. Tôi sực nhớ hai câu thơ của Phạm Cao Hoàng viết về những kẻ ở xa:
Khi về thăm lại cố hương
Thấy quê nhà nghĩ càng thương quê nhà…

&

“Kỷ niệm” của chúng tôi chỉ có thế. Lần gặp đâu chỉ chừng hơn 30 phút vì sau đó anh có việc phải đi, nhưng hơn bốn năm sau, trong lần gặp ở nhà nhà văn/họa sĩ Trương Vũ ở Virginia, giữa nhiều người anh vẫn nhận ra tôi.
Sau cái bắt tay thân tình anh ký tặng tôi tập truyện ngắn và quyển kỷ yếu về buổi triển lãm và hội thảo về một tờ báo thời tiền chiến. Anh còn nhờ tôi chuyển một tập sách của nhà văn Đặng Thơ Thơ cho nhà văn Trần Thị Nguyệt Hồng ở SG. Tôi từ Mỹ mới về lại Việt Nam, chưa kịp giao sách thì trái tim của anh đã ngừng đập.
Sự ra đi đột ngột và bất ngờ của Phùng Nguyễn làm anh em và bạn hữu sững sờ. Họa sĩ Đinh Cường nghẹn ngào, nửa tin nửa ngờ, rồi cuối cùng kêu lên, thảng thốt :

có khi nào tim ngừng đập
rồi đập lại không Phùng
?
&

Chúng tôi , bốn anh em trong nhóm Quán Văn đến Virginia vào giữa mùa thu. Những chiếc lá trên cành từng ngày khoe sắc xanh vàng tím đỏ. Khi chúng tôi chia tay nhau để bay về lại San Jose thì lá đã bắt đầu rơi.
Buổi sáng đó trời mưa. Nhè nhẹ. Nhưng vẫn thấy lòng mình se lạnh. Chia tay với những người bạn thân tình, chia sẻ với nhau bằng tấm lòng cùng tình yêu văn chương và những khát khao về cuộc đời và quê mẹ… thật chẳng chút dễ dàng. Vì nói như họa sĩ Đinh Cường thì” Chúng ta chỉ còn chừng đó niềm vui”.
Ngồi trên xe mà nhà thơ Nguyễn Minh Nữu (*) đưa ra sân bay, tôi nhìn qua khung kính những chiếc lá đầy màu sắc đang lìa cành. Lảo đảo. Khác với cách rơi tự nhiên, thong thả, nhẹ nhàng tự tại như khi trời yên, gió lặng.
Mưa tuy không lớn, nhưng những chiếc lá đang rơi như thể bị cuộc đời vùi dập. Trước khi trở về với hư vô. Khi xe dừng ở cột đèn đỏ, tôi chăm chăm nhìn vào một chiếc lá vẫn còn xanh đang rơi bên lề đừng, chưa chạm đất thì được gió thốc lên, rồi như bị những giọt nước mưa rơi trúng, nặng nề thêm, đột ngột rớt nhanh xuống đất.
Giờ nhớ lại cảnh ấy. Nghe hung tin, tôi giật mình đánh thót. Xương sống buốt lạnh. Chiếc lá còn xanh ấy là anh sao, Phùng Nguyễn?
Hơi ấm từ bàn tay anh như còn đọng đây mà.

Xin thắp một nén nhang tiễn anh về nơi cuối trời….
Và cầu nguyện cho linh hồn anh ra đi thanh thản, Phùng Nguyễn ơi!

Trương Văn Dân
Sài Gòn 18/11/2015

(*)http://phamcaohoang.blogspot.com/2015/11/2102-tho-nguyen-minh-nuu-tan-mua-le-hoi.html

Vô Thanh

phamngoclu

Có tiếng ai kêu tên tôi cuối chân trời tiềm thức ?
Như tiếng uyên xưa âm vang trong rừng sâu ký ức
Rơi xuống giữa vườn trăng
Lan toả trong thinh không
Màu tóc xưa huyền hoặc…

Có cánh hoa nào bay ngậm nỗi tàn phai câm nín
Có con bướm đoạn trường kêu không thành tiếng
Lạnh lẽo một màu trăng
Ngan ngát hương sầu đông
Chờ nhau chờ nhau khắc khoải…

Có tiếng lòng tôi giữa ngàn khơi sóng vỗ
Tiếng gió qua thành xưa
Tiếng mưa về mái cũ
Mà không còn không bao giờ còn nữa
Một tiếng hoàng uyên…

Muôn thuở tình ta vô ngôn
Một phút đời em dâu bể
Nỗi buồn rơi…
Không rơi thành giọt lệ
Sao vỡ nát lòng… tiếng khóc vô thanh !

PHẠM NGỌC LƯ

một giọt đen đen

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

là buồn đó / buồn
đậm đặc
là cafe / nhỏ xuống chút bi ai
là buổi sáng
là có tôi
đâu nhỉ ?
là bay lên dấu hỏi
tôi là ai

là em đó những nhu mì nho nhỏ
cười với tôi có khi khóc cùng tôi
sao em chẳng cho một lần nhìn thấy
lúc hồ như tôi lạc giữa lưng đồi

là tiếng nước / tiếng mưa / xuôi ngược / chẩy
là to be khiêu vũ not to be
những thù hận đôi khi đem ướp muối
lời yêu thương /môi khô có thầm thì ?

là chiến tranh / là hoà bình / là tận thế
chỉ mình tôi / còn sống / có còn không
có được không một lần em chớp mắt
cuốn tôi đi / trôi theo nhánh sông hồng

là một giọt / giọt đen đen
nức nở
nghe ùa ra vũ trụ mới chào đời
tay chấm nước vẽ một vòng bất tận
nghe chiều trôi trên nhan sắc cuộc đời

NGÔ YÊN THÁI

IS TỰ XƯNG và CS TỰ HÀO!

khuatdau

 

Khi trông thấy những đao phủ thủ của cái gọi là các tổ chức nhà nước Hồi giáo IS tự xưng bịt mặt hành quyết những con tin vô tội và cảnh bọn chúng hò reo dưới lá cờ đen của quỷ, tôi biết rằng ngày ấy sẽ tới.

Ngày mà, không chỉ một vài con tin mặc áo màu lửa bị chặt đầu, bị thiêu sống hay bị xe tăng cán qua. Mà có thể là hàng trăm, hàng ngàn.

Ngày mà, không riêng gì ở sa mạc Syria nắng cháy, ở Iraq đổ nát. Mà có thể ở mọi nơi mọi lúc trên khắp trái đất..

Ngày mà sự yên bình, sự ngây thơ và cả sự lãng mạn bị xé toạt, bị giẫm đạp.

Ngày mà cả thế giới sững sờ, kinh hãi.

Ngày ấy đã tới. Đúng vào ngày thứ sáu 13, tháng 11, những con quỷ IS tự xưng đã xả súng vào một nhà hàng, một rạp hát và cả sân vận động (nếu không bị ngăn chặn từ ngoài cổng). Hơn 100 người chết và gấp ba số người ấy bị thương.

Máu đã đổ giữa trái tim hào hiệp và tự do của nước Pháp. Máu tưởng chừng bắn vọt lên đỉnh tháp Eiffel và nhuộm đỏ cả Khải Hoàn môn.

Cả thế giời bàng hoàng, thương tiếc. Hàng triệu ngọn nến được thắp lên trong đêm. Hàng triệu đóa hoa ngậm ngùi tưởng niệm.

Không nghi ngờ gì nữa, IS rất tàn bạo, rất man rợ.

Nhưng CS cũng đâu có thua kém, nếu không muốn nói còn tàn bạo hơn, độc ác hơn. Vì lẽ đã tàn sát những người vô tội, mà những người ấy chính là những người cùng một màu da, cùng một tiếng nói, những người anh em cùng một mẹ.

Hãy nhớ lại những đêm dài 70 năm trước đây. Biết bao người bị đập đầu bằng cán cuốc, bị chém bằng mã tấu hay bị nhét vào bao bố thả xuống sông gọi là cho mò tôm…

Hãy nhớ lại những đêm đấu tố, địa chủ bị bắt quỳ trên ổ kiến lửa, bị nhiếc mắng, bị đánh đập cho đến chết.

Hãy nhớ lại tết Mậu Thân với hàng ngàn người bị dẫn đi trong đêm tối, rồi chết chùm trong Bãi Dâu khi tay và chân vẫn còn bị trói.

Hãy nhớ lại những xác người trên đại lộ kinh hoàng khi cả  vạn người di tản bị CS bắn đuổi theo.

Hãy nhớ lại những học sinh tiểu học ở Cai Lậy bị pháo kích ngay trong giờ học.

Hãy nhớ lại những con thuyền tị nạn rách nát trên biển đầy bão tố và hải tặc.

Hãy nhớ, để thấy rằng khi con người bị đầu độc, bị quỷ ám bỡi những tà thuyết, thì thế giới sẽ chìm đắm trong sợ hãi, trong ngu dốt.

Và nước Việt của tôi chìm sâu tận đáy, mãi đến thế kỷ 21, vẫn còn có những kẻ tự hào về cái gọi là chiến công oanh liệt, vẫn có những kẻ cầm bút tê mê nhớ lại cái phút giây ngồi xe Honda để trái lựu đạn đã tháo chốt trên mu bàn chân rồi hất vào đám đông trước khi vụt chạy. Sau đó tếch vào một quán bên đường gọi la de để uống mừng.

Trái tim hoa lệ của nước Pháp đang nhỏ máu. Và cả thế giới đang tỉnh thức. Những người đã chết dù sao cũng được tiếc thương, ngoại trừ những con quỷ đen bịt mặt, chắc chắn là không một ai không xót xa.

Nước Mỹ, nước Anh, nước Pháp rồi những nước khác sẽ phải đối đầu với cái bóng ma IS tự xưng. Sẽ còn nhiều Paris đổ máu. Sẽ có những siêu thị, rạp hát, sân vận động nổ tung. Những con người tươi tắn, thanh lịch, no đủ ở các nước mà trình độ văn minh đã vươn lên tận đỉnh, những trí thức, nghệ sĩ thường tả khuynh như mốt thời thượng sẽ cảm nhận được thế nào là nỗi kinh hoàng khi nghe những tiếng nổ xé tai, khi thấy máu đổ, thịt nát, xương tan…sẽ hiểu thế nào là nỗi đau khi mất người thân và cũng có thể mất một phần của chính thân thể mình. Cũng tại Paris, những ai đã từng cầm cờ MTGPMN ủng hộ cho những kẻ giết chính đồng bào mình, sẽ hiểu thế nào là mù quáng.

Và sẽ hiểu bất cứ tổ chức nào, chế độ nào tự xưng cũng đều là sản phẩm của những tên giết người. Đã giết người mà  còn tự hào nữa thì quả thực không còn gì để nói.

Hãy nhớ lấy.

18/11/2015

Khuất Đẩu