Mưu Cao

diemchaunguyen

Thế rồi ngày vui trong gia đình cũng đến. Hôm nay, Tú hẹn cha mẹ sáu giờ chiều ra nhà hàng Panata, một nơi sang trọng lịch lãm, thực đơn có đầy đủ các món ăn Mỹ và Á Đông, để gặp mặt mẹ con người yêu, cô Thương và bà “cựu hoa hậu” cộng đồng Việt Nam hải ngoại của mấy chục năm về trước.
Tú cẩn thận dặn dò mẹ:
– Nhớ ăn mặc sang sang một chút nghe mẹ…
– Được rồi… mẹ sẽ mặc cái áo kim tuyến vàng Noel năm ngoái…
Nghe mẹ nói, Tú vội vã căn dặn:
– Thôi thôi… I “can” you, mẹ mặc áo màu bình thường được rồi… đừng có loè loẹt diêm dúa quá…
– Loè loẹt cái gì? Không phải áo đó là do con tặng mẹ năm ngoái sao?
Tứ ngớ mặt ra:
– Nhưng giờ đâu phải mùa lễ!
– Tao tưởng mày khen áo đó đẹp thì tao bận… nếu không thích thì thôi… Vậy mà hồi đó mày cứ khen mãi, làm tao tưởng thiệt, không dám mặc sợ hư!
Thấy mẹ giận, Tú vội giả lả:
– Thì con có nói là xấu đâu… nhưng kiểu đó giờ xưa rồi, mà màu sắc thì chỉ hợp với ngày lễ lạy, đêm đen…
Bà Hoan quay lại, nghiêm giọng:
– Vậy từ nay đừng có “đãi bôi” với mẹ mày nữa nhé!
– Con có đãi bôi hồi nào đâu… Tại mẹ cũng hay nói vậy cho người khác vui mà!
Cái thằng nầy, nói gì nó cũng lèo lái lẽo lự được! Rốt cuộc thì cuối cùng cũng “tại mình”! Đấu khẩu với cha con nhà nầy quả thực bà thường thua cuộc! Đôi khi bà nghĩ lẩn thẩn:
– Chắc tại ở cùng chung một nhà lâu ngày, cuối cùng “họ” biết được tẩy mình để mà lật ngược thế cờ!
Không muốn đôi co thêm chỉ tổ bực mình, bà xua tay:
– Thôi được rồi cậu ấm… tôi sẽ chọn cái áo nào màu nhu thô sơ và kiểu cọ đơn giản nhất… nhưng lại đẹp nhất nước cho cậu vừa lòng, được chưa!
Thằng con gân cổ:
– Không được… mẹ nói vậy là không đúng rồi! Làm gì mà lại có chuyện áo “nhu nhược” lại đẹp nhất thế giới được!
– Áo màu “nhu” thôi, mày thêm chữ “nhược” vào làm gì! Đúng là chữ với nghĩa!
– Con thêm vào cho có cặp mà mẹ!
Nghe con cà rỡn, bà Hoan biết nó đang chọc mình, bà đuổi thẳng cánh:
– Thôi, đi chỗ khác chơi cho mẹ làm việc! Mẹ sẽ nổi bật đêm đó cho mày hãnh diện với đàng gái!
Tuyên bố mạnh miệng như thế… Và thực ra bà Hoan cũng đã suy nghĩ đến chuyện ăn mặc nầy nhiều hơn thằng con bà lo. Bà làm gì không biết mẹ của Thương, bà Tracy Minh Thanh là người nổi tiếng trong cộng đồng, báo chí đăng hình mãi. Bà ta ăn mặc thời trang, vóc dáng vẫn còn đẹp, giao thiệp rộng, lại ở trong thế giới thượng lưu… chắc chắn rằng khi đối diện, bà chỉ là một nhân vật tầm thường không đáng nói.
Nhưng không vì thế mà bà Hoan chịu lép vế để mặc kệ thân mình ra sao thì ra. Cho dù bà ta có là hoa hậu đương thời, thì bà cũng không “care”, phải ăn diện lên cho đối phương nể, nhất là đối với ông chồng “đang âm mưu bước vào hoạn lộ với gái trẻ” của bà phải dương con mắt hí ra mà nhìn, mà kinh ngạc… còn bà “sui” tương lai thì phải phục trong lòng!
Lúc suy nghĩ thì hùng hổ, nổ bôm bốp như thế… nhưng càng gần tới ngày hẹn, thì bà Hoan càng bối rối, lo lắng! Bởi vì xưa nay tính bà ít khi ăn diện se sua! nhất là không hay ra ngoài, nên áo quần không nhiều, làm sao mà ganh đua kiểu cọ với đời! Bà chỉ có tính “tự cao” không chịu thua ai, mà kinh nghiệm về “fashion” thì non nớt!
Bà thở dài thườn thượt! Ngay đến mái tóc của bà cũng chỉ ngắn ngũn một kiểu từ xưa đến giờ, vì bà có biết chải chuốt kiểu cọ gì đâu! Con người bà không phải khéo tay, nghệ thuật… mà chỉ giỏi làm lụng chân tay!
– Thế nầy thì lại phải gọi bà Thu vấn kế!
Bà không thích lúc nào “đụng chuyện” một chút là phải gọi hỏi bà Thu! Con mẹ Thu cái gì xảy ra ở nhà bà nó cũng biết vanh vách… vì chính miệng bà khai cho nghe chứ nào ai khác! Bà Hoan sợ bà Thu cười thúi đầu! Nhưng… bà Thu có cười thì mặc kệ, vì không nói bả cũng biết bà Hoan coi vậy mà quê quê, có biết sửa soạn là gì đâu!
– A lô…
Tiếng bà Thu nhỏ nhẹ:
– Bà đang cần tui chỉ mánh phải không?
– Sao bà biết hay vậy?
– Chứ gì nữa… Mỗi lần gọi tui là bà hay hỏi nầy hỏi nọ… có khi nào tui nghe bà gọi để hỏi thăm tui đâu!
Con mụ Thu đang trách móc bà!!! Nhưng mụ ấy nghĩ cũng không sai!
– Ờ há… sao bà nói trúng quá… Thôi để lần sau nhớ bà, tui sẽ gọi và nhất định là không “quét sân, quét siếc” gì hết… được chưa?
– Được, thôi muốn hỏi gì thì hỏi đi!
Bà Hoan tiếp tục:
– Tui thấy bà hay thiệt, lúc nào ăn mặc “fashion”, ra đường ai cũng nhìn…
– Đi thẳng vào nội thành đi bà… Bộ bà tính khen nịnh tui hả?
– Không, tui nói thiệt mà.
– Câu nầy tui nghe chín trăm chín mươi chín lần rồi… Bà muốn gì đây?
– Thì cũng không ngoài vấn đề thời trang, ăn mặc…
– Tiếp đi…
– Tui sắp đi gặp một nhân vật quan trọng?
– Ai? Tổng Thống hả?
– Không, còn quan trọng hơn?
– Ai mà ghê vậy?
– Bà xui gia của tui!
Bà Thu cười ré lên:
– Trời đất, có vậy thôi mà làm dữ! Rồi sao?
– Bà đó là cựu hoa hậu…
– Hoa hậu gì?
– Tracy Minh Thanh, bà biết không?
– Tên nghe lạ hoắc… tui không biết… bả là hoa hậu bên đây hay Việt Nam? Thời tiền sử hay thượng cổ?
– Giởn hoài… Hoa hậu bên đây, mà hai mấy năm trước rồi…
– Vậy cũng nói… coi như là hoa hậu “tiền chiến”!
– Nhưng bả còn đẹp và thành công lắm, nếu bà làm địa ốc thì biết bả…
– Giờ bà muốn gì?
– ThằngTú khoái con gái bả nên hai gia đình hẹn gặp nhau… Bà nổi tiếng biết cách thời trang ăn mặc… tui muốn bà giúp tui.
Bà Thu thở ra:
– Chuyện đó dễ như trở bàn tay… nếu bà chịu bỏ tiền ra… có tiền mua tiên cũng được mà…
– Bà nóí rõ thêm chút nữa đi.
– Rồi, tui chỉ bà đi tới mấy cái Shopping, vô những tiệm lớn, thì sẽ có người giúp bà cố vấn nên mặc thế nào cho ngon lành… càng chịu chi tiền mua những bộ áo đắt giá, thì sự cố vấn càng tinh tế… đến ngày hẹn thì đi ra ngoài tiệm chải tóc và “make-up” là xong.
Nghe những lời bà Thu nói, bà Hoan như mở đầu óc ra… Phải, dễ dàng có thế mà bà không nghĩ đến… Lần nầy, bà sẽ bỏ một số tiền lớn cho sự ăn mặc, để còn nở mày nở mặt với người đời…
Tú mở to mắt nhìn mẹ mình, anh chàng không tin là mẹ có thể trở nên sang trọng như thế trong bộ đầm đen, đơn giản nhưng lịch sự, đeo chuỗi hạt trai trắng và mái tóc được chải phồng lên trước trán thật là điệu nghệ.
Chiếc khăn quàng mỏng màu rêu khoác hờ hững trên vai làm cho bà Hoan thêm phần dịu dàng nữ tính… trong lần gặp gỡ đầu tiên của hai gia đình, bà Tracy đã có ấn tượng tốt về bà Hoan là Tú vui rồi.
– Không ngờ mẹ mình cũng sang ra phết…
Bà Hoan hãnh diện về điều nầy khi nhớ lại sự tròn mắt ngạc nhiên của Tú và Thương trong ngày hôm đó. Thương đến nhà chơi có gặp bà vài lần thấy bà rất bình dị… Bà Tracy thì xuýt xoa:
– Bà chị đẹp quá… nghe cháu Tú và Thương nhắc mãi, hôm nay mới được hân hạnh gặp anh chị…
Bà Hoan hãnh diện vì bà Tracy đẹp nổi tiếng mà còn phải mở miệng khen bà. Bà khoái chí nhất là khi ông chồng nhìn bà với ánh mắt ngạc nhiên. Ông không khen nhưng lại phát ngôn có vẻ như bắt bẻ:
– Làm gì mà điệu dữ vậy?
– Điệu gì, đơn sơ mộc mạc thôi, tui “nhà quê” mà…
Ông chưa ngừng lại, môi trề ra:
– “Nhà quê” mà lại còn bày đặt đeo chuỗi hạt trai!
Nghe cách ông nói, bà biết là ông “ngưỡng phục” bà lắm rồi! Thiệt ra thì chuỗi hạt trai thời bây giờ đâu có còn quý giá như xưa! Đây lại là thứ hạt trai do người cấu tạo mà thành, không như ngày xưa nên giá cũng bình thường.
– Bà mặc đồ đen đeo chuỗi hạt trắng là sang nhất…
Tiếng người nhân viên bán áo quần trong shop cố vấn còn trong đầu… “Ừ, màu mè mà chi cho chúng nó khi!”. Bà bật cười khi nghĩ vậy! Nếu cho phối màu, chắc bà cũng chẳng biết nghệ thuật để mà phối!
Cũng may, khi đi xuống cầu thang, ngang qua chỗ bán khăn quàng, tình cờ bà nghe được hai bà nói tiếng Việt với nhau:
– Cái khăn màu rêu nầy đẹp quá… của Ý… khoác lên với áo cụt tay thì hết biết… nhìn sang nhưng giá hơi mắc… thôi chắc để tui nghĩ lại… có gì trở lại lấy sau…
Bà Hoan nhìn chiếc khăn quàng họ vừa tiếc nuối bỏ xuống… Ôi trời, nó đẹp thiệt, bà chưa từng thấy loại lụa nào mà mềm mại óng ả như vậy. Chiếc áo đầm bà vừa mua đúng là đẹp, nhưng tay ngắn, bà đang muốn có cái gì che hai cánh tay trần cho đỡ trống trải, chiếc khăn nầy thật là hợp thời hợp cảnh.
Thế là bà ướm cái khăn lên người nhìn vào trong gương, quá đẹp… sau đó bà nhìn giá tiền, xót ruột khi thấy đến gần hai trăm đô!
– Cái áo hơn ba trăm, cái khăn nữa là gần năm trăm… đúng là tụi ăn cướp!
Nhưng rồi cuối cùng thì bà cũng đành ngậm ngùi cầm chiếc khăn ra trả tiền cho… quân ăn cướp, vì nhìn tới nhìn lui chẳng còn chiếc nào có màu đẹp như chiếc nầy nữa! Không mua rồi khi về đến nhà nhớ, lại tiếc hùi hụi!
Nhưng dù tốn tiền, bà Hoan cũng cảm thấy vui quá là vui. Có tới hai niềm vui lận, thứ nhất là bà Tracy và Thương cũng như thằng Tú đều hài lòng về bà, hai nữa là ông chồng bà hình như dạo nầy hay để ý “theo dõi” bà, chứ không phớt lờ như trước. Vì sao thì bà chưa biết! Có lẽ thấy bà “đẹp” nên “sợ mất” chăng?
– Mấy ông đang tòm tem bên ngoài, họ như vậy thành ra nghĩ vợ mình cũng như vậy… khi thấy vợ ăn diện, đẹp lên… thì họ sợ bà vợ có tình nhân, rồi bị xuí bẩy chia chác gia tài…
– Bà cứ nói lung tung… Tui với ổng giờ sống như bạn cũng quen rồi…, và tui chỉ muốn ngăn chận ông già nhà tui mê gái, rồi làm ra những điều xấu hổ mà thôi!
– Thì cứ cho thằng chả mơ mộng đi… mấy em sau khi nạo hết của thì tự động gài số de… lúc đó mấy ông chồng vừa tỉnh ngộ, lại có kinh nghiệm đau thương, nên tử tế với vợ nhiều hơn!
– Thôi đi! Đừng quên là nhiều ông cũng vì mắc cở nên nhất quyết ly dị vợ, xa con… biến đi ở một nơi sơm lâm cùng cốc… tui không muốn đi đến trường hợp đó!
– Thì bà phải canh chừng ổng thôi!
– Canh cách nào?
Bà Thu tự nhiên quạu:
– Sao cái gì bà cũng hỏi tui vậy! Bà phải tự nghĩ ra chứ…
Tự nghĩ ra? Bà Hoan thấy mình nổi cơn tự ái khi bị bạn phê bình! Đây là hạnh phúc đời mình, dù ông bà giờ đây hết tình còn nghĩa, nhưng vẫn còn thằng con trai, cũng là một gia đình gia giáo… chẳng lẽ gần cuối đời lại để cho chuyện tồi tệ xảy ra, rồi một mình bà sống đơn côi chắc chán lắm!
Chưa kịp nghĩ ra kế, thì một hôm ông chồng bà Hoan nói:
– Anh phải về Việt Nam có chuyện gấp!
Đối phương đã lò mặt ra rồi!
– Có chuyện gì mà về vậy ông?
– Má Hai bịnh, muốn gặp anh lần cuối…
– Má Hai bịnh gì? Mới mấy tháng trước còn mạnh mẽ lắm mà?
– Người già mà… Tui với bà mạnh hay bịnh còn không biết, huống chi là má Hai…
Tự nhiên trong đầu bà Hoan loé ra một kế… Mình phải tự giải quyết lấy chuyện của mình, cho bà Thu lé mắt!! Bà nói:
– Vậy ông có muốn tui cùng đi không?
– Mình mới đi chung tốn tiền quá, không lẽ bây giờ bà đi nữa thì tốn chịu gì nổi… với lại bà nên ở nhà lo tiến tới vụ thằng Tú lấy vợ… người ta nói “lấy vợ thì lấy liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”!
– Chuyện đó xưa rồi… không cần áp dụng cho ngày nay… tụi nó đâu cần tui lo!
– Thì nói là vậy… với lại cũng chưa biết bịnh má Hai có nặng không, nếu không sao thì tui sẽ trở về ngay…
Giọng bà Hoan chợt ngọt ngào, dịu dàng như Thánh Mẫu:
– Thì ông đi một mình, tui không muốn về theo đâu, ngồi máy bay lâu mỏi giò lắm… Nói với má Hai tui gởi lời thăm…
Ông vừa hồ hỡi lên đường, thì ngày hôm sau bà cũng đếm số tiền để dành mang về theo, nhất quyết tiêu cho đã vào chuyến đi nầy, chẳng hơi đâu mà tiếc rẻ như trước… Có tiền không tiêu cũng uổng!
Lúc trước bà đã tính khi thằng Tú làm đám cưới, sẽ cho nó năm lượng vàng ròng. Bà mua vàng khi còn giá tám trăm một lượng. Bây giờ thì vàng leo lên tột đỉnh… đắt hơn gần gấp ba lần khi xưa, làm quà vậy cũng được rồi… Nhưng thằng Tú nhất định từ chối, lại còn bảo:
– Thôi thôi… Mẹ giữ mà xài… tụi con sẽ chi tiền đám cưới hết, bố mẹ đừng lo…
– Đây là quà của mẹ…
Thằng Tú nhăn mặt:
– Mà con lấy vàng làm gì? À, hay là mẹ bán đi, rồi mua sắm áo quần cho đẹp để đi dự đám cưới tụi con!
– Cha mày!!!
Đã vậy thì bà xài cho sướng thân! Tụi trẻ thời nay nó ăn nên làm ra, đâu có cần đến tiền của ông bà cha mẹ! Chẳng bù với bên Việt Nam… chia gia tài không đều là có chuyện!
Bà Hoan khôn khéo mướn khách sạn Mini ở ngay đầu ngõ nhà má Hai để dễ bề quan sát. Không những thế, bà còn mua chuộc được một anh xe ôm khôn lanh làm “thám tử” cho bà, với giá ba trăm ngàn đồng Việt Nam một ngày, tức là khoảng 15 đô la.
Anh ta chỉ việc ngồi đó không chở ai cả. Khi thấy bóng dáng chồng bà, thì lập tức chạy theo coi ông ta đi đâu, rồi gọi phôn báo cáo cho bà biết. Mỗi lần gọi 1 cú phôn cho bà Hoan, thì được trả thêm 20 mươi ngàn.
Ông chồng bà đâu có biết vợ đang theo dõi mình, ông cũng không thể ngờ là bà Hoan dám làm vậy, tức là bỏ nhà đi theo để rình mò ông! Và ngày đầu tiên, bà biết chắc là má Hai chẳng có bịnh hoạn gì, vì chính mắt bà thấy má ra cửa kêu cả gánh bánh canh giò heo vào nhà với âm thanh còn lanh lảnh chói tai!
Đêm thứ hai ở Sàigòn, thì chính anh xe ôm chở bà đến cửa quán cà phê ôm ngồi chờ đợi phía trước, gần hai tiếng đồng hồ mới thấy ông chồng bà đi ra cùng với một em tuổi đáng con cháu, tay trong tay họ tình tứ ôm nhau sát rạt…
Bà Hoan quay video hết tất cả những cảnh nầy trong sự bình tĩnh khiến anh xe ôm cũng ngạc nhiên! Chính bà cũng không ngờ là mình đã đứng yên mà hành động như thế! Lẽ ra khi thấy chồng phản bội ngay trước mắt, bà phải ghen tức nhảy chồm lên mà túm lấy ông xỉ vả, cấu xé, lăng nhục… cho thoả tâm hồn!!!
Nhưng sau đó, bà yên lặng về phòng, coi lại đoạn phim trong Video bình thản như chuyện của ai đó… Chắc bà đã hết “tình” với ông rồi? Vợ chồng già chỉ còn “nghĩa”?
Luôn suốt một tuần, đi theo ông và người tình bé nhỏ, bà đã có nhiều tài liệu “ăn vụng”, “ăn chả”, “ăn phở”… của ông. Lâu lâu bà cũng giả vờ gọi phôn hỏi thăm, thì ông nói má Hai bịnh thấy ông về thăm cũng đang dần dần bình phục…
– Ông ở bên đó đừng có làm gì bậy bạ mà mang tiếng nghe… Con mình sắp đám cưới rồi…
– Tui chán cái lũ con gái bên nầy lắm rồi… lúc nào cũng chỉ biết có tiền… ai mà không biết! Bà đừng có vớ vẩn!
– Thì tui dặn phòng hờ… Nếu ông biết rồi thì tốt!
Bà còn hăm:
– Ông mà làm gì vớ vẩn là hối hận không kịp… tui nói trước rồi đó, ráng mà nhớ lấy…
Bà Hoan cười nửa miệng khi thốt lên câu đó. Nhờ anh xe ôm điều tra phụ giúp, bà biết tỏng tại sao ông thốt nên câu đó.
Bởi vì con nhỏ bia ôm nó đang xin ông năm ngàn đô để mua xe xịn, ông còn chưa cho vì tiền mặt mang theo giới hạn, mà mua bằng Visa thì sợ lộ… với lại ông đâu phải là người hào sảng mà cho gái một lúc năm ngàn!
Anh xe ôm trẻ có khuôn mặt dễ coi, mới vào quán để dò hỏi “con đó” theo lịnh của bà Hoan, thì cô ả đã xà tới làm quen. Khi nghe anh buông vài câu tán tỉnh, cô đã bóc lột hết tâm sự cuộc đời mình, dĩ nhiên là khoe khoang về ông bồ già Việt Kiều kẹo kéo đang “bám” lấy cô… và cả trăm điều kể xấu khác nữa… dĩ nhiên đều được thu vào cái máy ghi âm nhỏ giấu trong túi quần của anh ta.
Qua cuộn băng thu lén, bà Hoan an tâm khi biết ông chỉ muốn đi chơi kiểu “ăn bánh trả tiền”, không di hậu về sau! Cũng đỡ tức vì chính miệng cô bia ôm “bồ nhí” đương thời lại chê bai “bồ già” hết lời… kiểu nầy ông nghe được chắc sẽ “độn thổ”! Để đấy, rồi có ngày rồi bà sẽ cho nghe!
Bà thích nhất là câu:
– Trời… em coi lão ấy như ba em, nói thiệt nhìn ổng đã xấu trai mà còn già hơn ba em nhiều… làm sao xứng với em được, đụng vô là rùng mình nổi gai ốc!!! chẳng qua ổng tự xưng là Việt Kiều, thì em tử tế để được “boa” nhiều… vậy thôi…
Đúng là không có cái ngu nào bằng cái ngu nào! Dù sao chồng bà cũng chưa đến nỗi ngu lắm để đánh đổi cả gia đình cho gái như một số người khác! Bà có nên tha thứ cho ông không?
Đã lên kế hoạch với anh xe ôm, bà biết là từ ngày hôm đó, ông không thể nào gặp được cô gái ấy nữa, vì bà sắp đặt cho anh ta một số tiền, hẹn hò rủ cô gái đi Vũng Tàu chơi một tuần, cũng như giả vờ ghen tuông, không cho cô gặp mặt ông bồ già nữa… cho đến khi bà về Mỹ.
Biết được điều mình cần biết, một buổi chiều bà bốc phôn gọi cho ông:
– Ông mạnh giỏi? Má Hai sao rồi?
Đang bực mình vì “bồ nhí” trốn đi với nhân tình trẻ như lời mấy cô trong quán nói lại, nghe vợ gọi, giọng ông bỗng dưng chùng xuống bất ngờ:
– Má ngồi dậy được và bắt đầu ăn cháo!
– Má còn yếu lắm hả ông?
Lúc bà hỏi câu đó, má Hai đang ở phòng khách cười nói oang oang, và bà còn ra sức bóc vỏ trái sầu riêng to đùng để cả nhà ăn. Ông vội đưa ngón tay lên miệng suỵt nhỏ ra dấu bảo im, vừa trả lời:
– Tui đang đỡ má ngồi dậy cho má ăn cháo…
– Ông thiệt hiếu thảo… tốt quá…
Tiếng nói sau cùng nghe có vẻ như vang lên ngay sau lưng. Ông quay lại và tái mặt khi thấy bà đang đứng chình ình ở trước cửa phòng khách!
Mặc cho ông và cả nhà sững sờ, bà tươi cười tiến vào:
– Nghe ông nói má Hai bịnh nặng, tui sốt ruột nên bay về thăm…
Rồi quay qua má Hai và ông chồng:
– Má khoẻ lại rồi mà ảnh không nói cho con biết… Tụi con sẽ ở đây ít lâu nữa để săn sóc má, nghe ông…
Giọng má Hai tự nhiên “yếu” hẳn đi:
– Ừ… bây nói vậy má mừng lắm…
Khỏi nói thì hai tuần ở lại Việt Nam của bà Hoan rất ư là thoải mái, vì ông chồng bà không dưng tính tình bỗng “nhũn như con chi chi”, ngoài sự tưởng tượng của bà… tỏ ra là người đàn ông “Việt Kiều” sống ở ngoại quốc rất mực ga lăng và lịch sự với vợ… chưa từng thấy.
Ai nhìn thấy cảnh ông bà đưa nhau đi du lịch nơi nầy nơi khác, ông tỏ ra đằm thắm săn sóc vợ… cũng tấm tắc khen đôi vợ chồng “già” hạnh phúc…
Họ đâu biết rằng khi ở trong khách sạn Mini, ông đã ngồi im với gương mặt ỉu xìu sau khi được bà cho coi những tấm hình của ông cặp kè “gái…, cũng như sôi sục giận dữ cuối cùng vỡ mộng… khi ông coi những hình của anh xe ôm và cô bồ nhí mùi mẫn với nhau, được chính anh xe ôm chụp bằng “cell” phôn, mà không còn tâm trí nào để nghĩ rằng: tại sao thằng đang ôm bồ mình lại tự chụp, rồi vợ mình có mấy tấm hình? Khi nghe vợ hăm:
– Ông đã sáng mắt ra chưa? Nếu ông không biết điều tu tỉnh lại, tui sẽ nói cho thằng Tú biết hết chuyện ông làm…
Chỉ nhẹ nhàng vậy thôi… cũng may mà ông không có ý định “trả thù dân tộc”… lại ngoan ngoãn gậm nhấm, hối lỗi những sự việc đã qua…
Bà Hoan mỉm cười khi thấy mình xử sự đúng… Từ nay thì không sợ ở một mình khi về già… Thà lui một bước còn hơn “vỡ bờ”! Cám ơn “anh xe ôm”, tốn có năm trăm đô mà xong việc, chỉ bằng giá của một bộ đồ thời trang… Còn bà Thu, chắc khi nghe chuyện sẽ phục bà sát đất!

DIỄM CHÂU

Thư Cho Mùa Xưa Cũ

nguyentancu

Chuông rung lên trong những tờ thư cũ
Cuối năm vui trong một giáng sinh buồn
Chuông reo lên trong những tờ thiệp cũ
Cuối năm buồn trong một giáng sinh vui

Tuyết có bay trong những mùa xanh bụi
Cây có cao thông buốt ngọn lá lưng trời
Em có mỏi mệt quá chừng vì hạnh phúc
Đời có tươi không trên bờ vực không lời

Anh mỏi mệt vì những ngày dài ngóng đợi
Ngoài hiên mưa một tiếng vọng con người
Thư cuối năm đây kỉ niệm buồn trong mắt
Vẫn rưng rưng vang những tiếng ngân dài.

NGUYỄN TẤN CỨ

CUỐI NĂM CHIA TAY HUẾ

nguyendangtrinh

mai xa Huế xa nụ tình mới nhú
mùa sắp xuân sao cứ buốt trong lòng
ngoài đêm gió hình như chưa muốn ngủ
lay nhánh bàng nhã nhạc tiễn mưa đông!

chưa rời Huế mà nghe chừng đã nhớ
chiều hoàng cung bảng lảng khói vương triều
đêm Đại Nội lờ nhờ thành quách cũ
gót công nương lởn vởn ngọ môn rêu!

sắp xa Huế thấy có gì tiêng tiếc
chưa cùng em run rẩy tối sông đò
chưa cùng em liêu xiêu đêm rượu tết
lời tình thầm lịm ngất giữa môi thơ!

đêm ơi đêm! xin đêm chầm chậm thức
để ta ôm gọn lõn Huế vào lòng
ôm luôn cả những gì không ôm được
từ vạt tóc Trường Tiền đến tà lụa Hương giang!

chưa rời Huế mà trái tim rối rảo
xin đừng ru chi mái đẩy mái nhì
và đừng nép bên hàng cây long não
để ta còn nhấc nổi bước ra xe!

phải xa Huế xốn xang lòng ta lắm
cứ như đang níu áo mối tình đầu
Huế thầm kín Huế bốn mùa lăng tẩm
khép cổng thành lén vá trái tim đau!…

nguyễn đăng trình

rời rạc 10

phuonguy

này đêm ơi
tôi gọi mình rã giọng sương mù
nghe thời gian khát tràn giọt khóc
gió lay đọt giếng mù u
trên đôi tay chưa từng ngà ngọc
chỉ còn chát đắng sương mù

này đêm ơi
tôi nhớ mình lòng sâu hầm mộ
ban công hoa hồng thuốc đắng
khoác trời mây lạnh buốt đêm thu
khoác trời mây lạnh buốt đêm đông
lạnh buốt lòng sâu hầm mộ

này đêm ơi
tôi khát mình đêm tràn nguyệt thực
nao nao trăng máu vỗ về
âm u khúc mù diễm tuyệt
bên thềm sương nhập lam khê
tròng mắt đỏ dọc đêm nguyệt thực

Này đêm ơi
khi chữ nghĩa đã sức cùng lực kiệt
lối cỏ tranh theo dấu máu hoen về
lối cỏ tranh đêm ngày xưa mưa ướt
tôi gọi mình trong ám chướng hôn mê

khi đã vãn
đêm ngày xưa cũng khóc
máu đã hoen
trên dấu ước thề bồi
đêm nhập mộng
đêm xưa
tràn vị đắng
tôi gọi mình
từ rời
rạc
đêm ơi

PHƯƠNG UY

Tháng 12, đàn bà

tuankhanh

Tháng Mười Hai năm nay, xuất hiện nhiều câu chuyện về những người đàn bà trên thế gian này – có những người lừng danh, và cả những người vô danh – khiến mọi thứ lại càng đáng nhớ hơn.

Tháng Mười Hai, nhắc nhiều người yêu nhạc ngồi nghe lại bài Woman của John Lennon. Bài hát ngợi ca về đàn bà của ông như một định mệnh thôi thúc, ông viết ra, kịp hát ghi âm lầm cuối cùng trước khi ngày định mệnh 8/12 đến: một kẻ tâm thần đã bắn ông chết ngay trước cửa nhà.

Trong Woman, chàng ca sĩ mắt kính tròn hát rằng “Woman please let me explain. I never meant to cause you sorrow or pain. So let me tell you again and again and again” (Tạm dịch: ôi Nàng, xin cho tôi giãi bày. Tôi không bao giờ muốn đem đến cho nàng nỗi đau hay muộn phiền. Xin cho tôi nhắc lại muôn lần điều này…) Người đàn bà rất chung và rất riêng của bài hát đó, muốn giới thiệu rằng mỗi bước đi lên của nhân loại, luôn có lời ngợi ca và trân trọng.

Tháng 12, trên trang Twitter của tổng thống Mỹ Barack Obama cũng nhắc về một người đàn bà: Rosa Parks, mà ông trân trọng ghi là “đấng anh thư đã đứng lên tranh đấu cho công lý và bình đẳng”.

Rosa Parks (1913-2005) được lịch sử hiện đại của nước Mỹ gọi tên là “đệ nhất phu nhân của dân quyền” và là “người mẹ của phong trào tự do”. Ngày 1/12/1955, khi bà Rosa Parks lên chuyến xe bus ở bang Alabama, bà bị tài xế trên xe buộc phải đứng dậy để nhường ghế cho một người da trắng – theo luật lúc bấy giờ của bang này. Rosa Parks đã phản đối và biến chiếc xe bus đó thành nơi tố cáo sự kỳ thị chủng tộc, chấp nhận cho việc cảnh sát dừng xe áp giải bà đi. Nửa thế kỷ sau, tất cả những đứa trẻ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đều được học về Rosa Parks và tự hào về người đàn bà đã đứng lên cho nước Mỹ hôm nay. Thậm chí, ở các bang như California và Ohio, ngày 1 tháng 12 là ngày lễ ghi nhớ Rosa Parks Day.

Tháng Mười Hai còn một điều đáng ngưỡng mộ khác: là thời điểm mà lãnh tụ Aung San Suu Kyi, người đàn bà lừng danh của nền dân chủ Miến Điện tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực từ chính quyền quân sự sang dân sự, đồng thời tuyên bố sẽ luôn cân nhắc, thận trọng trước mọi lời mời giúp đầu tư từ Trung Quốc.

Có những người đàn bà trên thế gian này có thể khiến trái tim của chúng ta phập phồng kiêu hãnh. Nó mở ra những chỉ dấu kỳ diệu về con người và sự văn minh.

Nhưng cũng có những người đàn bà, với câu chuyện của họ khiến trái tim chúng ta quặn thắt, đau hơn nữa khi nghĩ về tương lai, giống nòi và tổ quốc.

Chị Mai Thị Long – có thể nói đến đây vẫn không ai biết – vợ của ngư dân Trương Đình Bảy bị “kẻ lạ” bắn chết ngay trên biển Trường Sa của Việt Nam vẫn chưa được cơ quan nào giúp xác định rõ ai đã giết chồng mình. Lẽ ra, sau cái chết oan khiên và đầy ngụ ý trên biển đó, Bộ Ngoại Giao Việt Nam phải gửi thư đến các sứ quán có tàu trong cùng khu vực, yêu cầu cùng phối hợp điều tra xem thủ phạm là ai. Lẽ ra, chị Long cũng còn được thấy tổ quốc gọi tên chồng mình, sau khi đã hối thúc chồng mình ra khơi, bám biển, thể hiện chủ quyền thay cho Nhà nước. Ngày 2/12, đưa chồng về đất mẹ, đối với chị Long, biển bây giờ không những là nỗi đau mà còn nhắc nhở về dối trá.

Tháng Mười Hai, công an Đà Nẳng cười tươi và trao cho bà Nguyễn Thị Khả, 57 tuổi, số tiền gần 2 triệu đồng để bồi thường cho việc bà bị công an khu vực vung gậy đánh đến mang thương tích, vì tưởng bà là gái mại dâm. Rất nhiều người đã thảng thốt hỏi rằng ở thành phố đáng sống đó, ngày thường đã có bao nhiêu gái mại dâm bị đánh đập mà không thể nói với ai? Và cũng có rất nhiều người nói rằng chỉ cần một điều rất nhỏ, bao nhiêu những vàng mã về nhân quyền phụ nữ, về bình đẳng và quan hệ giữa công an địa phương và phụ nữ đã lộ ra. Mọi thứ trần trụi và tàn nhẫn như trên chuyến xe bus về tương lai của bà Rosa Parks, nhưng khác ở chỗ là thân phận người phụ nữ Việt Nam thậm chí vẫn còn chưa có được một khoảng trống cho mình.

Câu chuyện cóp nhặt cuối, tạm thời, của tháng Mười Hai, là chuyện cô gái Việt tự mình đi và đoạt giải hoa hậu ở Philippines, nhưng bị gọi là thi “chui” và bị đòi phạt 30 triệu đồng. Có cái gì đó vẫn còn chưa giải thích được cho một văn bản quy định đầy tính phản bội lại quyền con người trong hiến pháp, khi tự cho mình có quyền kiểm soát sự tự do và quyền của người khác mà không rõ lý do. Đây không phải là chuyện mới mẻ tại Việt Nam, vì từ năm 2013 đến nay, theo đoàn luật sư Việt Nam cho biết thì đã có tới 90.000 văn bản trái hiến pháp, trái luật mà vẫn áp đặt lên con người.

Con số phạt 30 triệu đó của Bộ TT&TT, chợt làm nhớ đến hình ảnh trên báo chí Trung Quốc khi rao bán công khai con gái Việt về làm vợ với giá 1500 USD. Đàn bà Việt hôm nay không thể tự vinh danh mình trên diễn trường quốc tế, nếu không có Cục, có Bộ xốc nách đưa vào. Nhưng bị bán đi, bị làm nhục ở sát biên giới của “nước lạ” thì không thấy ai ra văn bản hay lên tiếng. Cục và Bộ rầm rập vào cuộc với những người đàn bà sáng danh Việt Nam với thế giới nhưng lãng tránh, ngó lơ khi thấy đàn bà Việt bị làm nhục khắp thế giới, từ đường biên hữu nghị.

Đàn bà, nếu như bạn vẫn còn nghe Woman của John Lennon, xin hãy cảm nhận những điều thật tuyệt vời và khác biệt ở hai đầu thế giới.

Tuấn Khanh’s Blog

Xuân Lối Cũ

trandzalu

Tôi trở lại kiếm người trên lối cũ
nghe mùa xuân chợt rũ xuống giận hờn
nơi thành cổ loài chim xưa thôi hót
tôi tìm đâu bóng nhớ thuở môi hồng?

Người đã xa như một vì sao nhỏ
cuối chân trời thương nhớ vẫn chưa nguôi
tôi đếm những mùa xuân qua hút bóng
nghe trong hồn hoa cỏ cũng tàn phai

Phố chợ đó cũng hoang đường cổ tích
dấu chân son người xoá bỏ tháng ngày
bây giờ đó đạn bom thay tình ái
ru tôi hoài trên những luống chiêm bao

Người đã xa người còn nghe tiếng nói
tôi phương này tuổi đá lạnh vàng không?
ơi lối cũ mùa xuân xưa chợt hiện chuông
tim tôi dây đứt lạnh vô cùng …

Trần Dzạ Lữ
1967

NGÀY XƯA AN CỰU

phamngoclu

Mười năm biền biệt cách sông
Chút tình nắng-đục-mưa-trong cũ càng
Mười năm ngậm đá câm vàng
Tấc lòng cố cựu cứ han gỉ dần

Không về nữa một cố nhân
Không còn nữa một thanh xuân nồng nàn
Tội bài thơ viết dở dang
Bởi con sông hẹp bắc ngang lắm cầu !
Mười năm vòi või trông nhau
Nhìn mưa ngó nắng nhớ màu đục trong
Hẹn về mang guốc ra sông
Hẹn về nghiêng nón chao lòng nước xưa
Hẹn về viết tiếp bài thơ
Ẩn mùi hoa sứ ỡm ờ, nào hay…

Từng năm phai tháng nhạt ngày
Trông về… ràn rụa bóng mây bên đèo
Trông về… nắng hắt mưa hiu
Mắt ai thăm thẳm đáy chiều xa xưa…

Phạm Ngọc Lư

Dương Nghiễm Mậu, “sống tự do hay là chết”.

nguyenleuyen

Báo chí miền Nam viết nhiều, nói nhiều về Dương Nghiễm Mậu và đều dành cho ông những tình cảm đặc biệt và một vị trí xứng đáng trong dòng văn học miền Nam trong giai đoạn từ năm 1954 trở lại đây (ngoại trừ Thằng Gù bên hông nhà thờ Đức Bà – tựa một bài viết của Viên Linh trên tuần báo Nghệ Thuật).
Với 21 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài và những đoản văn, bút ký… người đọc đã nhìn thấy trọn vẹn thái độ và trách nhiệm của ông với ngòi bút của chính mình trước người đọc, xã hội và cả một khúc lịch sử ngắn ngủi bị xé toạc, tơi tả.
Trên bán nguyệt san Thời Tập, số cuối cùng, số 23 tháng 4.1975, khi mà ông chủ bút Viên Linh chưa thấy được mặt mũi “đứa con út”, thì ở đó, Dương Nghiễm Mậu đã có bài trả lời ngắn về những lý do tại sao ông không chịu di tản ra nước ngoài: “Có người đến hỏi tôi: Có đi ra ngoại quốc không? Tôi đã trả lời dứt khoát: Tôi sống và chết tại nơi này. Người ấy hỏi: Anh chấp nhận sống chung với người Cộng Sản? Tôi nói: Tôi không phải là một con chó để nay sống với chủ này, mai sống với chủ khác chỉ vì miếng xương chúng liệng ra. Tôi tin tưởng con đường tôi đi. Có một nơi là lẽ phải và ánh sáng. Có một nơi là lẽ trái và bóng tối. Có trắng và đen không thể nhập nhằng được. Nếu tôi có chết chăng nữa, điều ấy tôi không ân hận. Lịch sử đã chứng minh rằng: Nhiều khi cái chết là một điều tốt hơn là sống. Chết đi cho người khác sống, cho lẽ phải và sự thực, sống chết như thế cần thiết. Tôi bình tĩnh với quyết tâm đó”.
Thái độ chọn lựa của Dương Nghiễm Mậu cũng chính là thái độ của chàng Kinh Kha với con chủy thủ trên đất Tần bất trắc, một truyện ngắn mà ông đã rút cả máu, cả ruột gan để viết. Ông để Kinh Kha qua sông Dịch. Ông ném đoản đao vào tay Kinh Kha. Chàng cầm chặt, kề vào cổ Tần Vương, nhưng thay vì run sợ, Tần Vương lại ngửa cổ cười khan, sảng khoái. Và chàng hiểu ra tất cả: Tần Vương này chết sẽ có một Tần Vương khác, vài ba Tần Vương khác… đánh đổ một chế độ độc tài này thì tức khắc sẽ có một chế độ độc tài khác mọc lên.
Đó là sự thất bại cay đắng của trí thức, một thất bại nhục nhã của lòng yêu chuộng tự do, hoà bình. Và hình ảnh chàng Kinh Kha lầm lũi quay lui trong một cung điện nguy nga, tráng lệ tội ác vẫn là nỗi đau đớn không cùng của chính ông, như một dự báo cho ngày hôm nay.
Tại sao như vậy? Những kẻ tọc mạch luôn muốn biết “tại sao” như một căn bệnh sổ mũi kinh niên. Và không để cho những kẻ đó khốn khổ mò mẫm trong bóng đen suy diễn, ông dốc tuột sự thật đang diễn ra từng ngày từng giờ, mà ai cũng nhìn thấy những cảnh tượng đau lòng này nối tiếp những đau thương khác dồn dập đổ ập trên quê hương: “Những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa… Trong cồn cào của thời sự, những sự việc làm tôi chóng mặt. Tôi tự hỏi: có phải đã tới lúc mà mình phải cầm lấy mũi nhọn, phải, chỉ có thế trong chọn lựa một khi cơn lốc đến. Tôi không thể có một chọn lựa đầu hàng để sống như trâu chó. Tôi chỉ thương hai tấm con thơ… Có thể một cơ sự như thế sẽ đến không?” (sđd) .
Những cảnh tượng kinh hoàng, xám xịt màu đen tối kia, không phải chỉ đến những ngày cuối cùng chúng ta mới nhìn thấy, ông mới nhìn thấy. Đã từ rất lâu, khi mới là chàng thanh niên ngoài 20, ông đã thấy và hiểu tất cả, tạo thành vật nhọn đâm thẳng vào tâm hồn ông, đau nhói. Ông đã nhìn thấy và ông đã viết ra. Trong bối cảnh xã hội đang vật vã, hấp hối, với tư cách của một phóng viên chiến trường, ông đã lặn lội đến tận nơi các đơn vị hành quân trên khắp 4 vùng chiến thuật, sống dưới đạn bom gào rú trong các trận đánh, những bãi chiến trường xác chết ngổn ngang.
Nhưng bi thảm nhất, đọng lại trong tâm trí ông là những cảnh tượng hãi hùng: Đó chính là những xác chết, những nấm mộ lấp vội ven đường, trong vườn nhà của những người dân vô tội, không có lấy một tấc sắt trong tay để tự vệ trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Sự điên cuồng dã man đã đẩy hàng ngàn người dân vô tội chết tức tưởi, chết không nhắm mắt mà không hiểu tại sao mình phải chết! Trong bút ký Đi Trên Những Xác Chết đăng trên bán nguyệt san Văn số 104 phát hành ngày 15.4.1968, sau này in lại trong tập Địa Ngục Có Thật , có đoạn ông ghi lại: “Ở trong nhà mọi người vẫn sinh hoạt bỗng nghe tiếng nổ, rồi một người đàn bà kêu lên ở ngoài sân, chạy ra thấy bà ta ngã xuống chết. Hết sức kinh hoàng, cũng như phía sau nhà đó, bảy người cùng chết, những ngày đó chẳng ai chết mà có được quan tài. Người ta lo đào một cái huyệt vùi xuống cho xong. Tội nghiệp, một bà vợ ở xóm trên này, ông chồng bị bắt đi bị bắn chết, bắn chết trước mặt, rồi trận đánh tới, bà vợ chỉ còn đủ thì giờ kéo xác ông chồng về bỏ trong buồng, đóng cửa lại rồi dắt con chạy loạn…”
Một đoạn khác, cũng ở bài bút ký này: “Những ngày đầu tiên, ngay sau khi tiếng súng ngừng nổ, người ta đã đổ xô tới đó nhìn mặt những người chết đã nát, nhiều xác chết để bừa bãi, mặt che bằng những tàu lá chuối, bằng những tờ báo, những con chó quanh quẩn, những người bao khẩu nhìn ngó… Những cái xác nào bị đào lên dập xuống nhiều lần. Những đồng bạc được đếm trên những xác người sình thối… Hai ngàn, rồi năm ngàn… Những xác chết đã thành tiền cho những người nào đó…”.
Đó là những gì ông đã tận mắt nhìn thấy ở khu vực cầu Gia Hội, Huế trong những ngày Mậu Thân.
Vâng, Từ Gia Hội qua Phú Cam, lên Thừa Phủ, đến sân nhà thờ Chánh toà và cả sân trường Đồng Khánh… nơi nào cũng xác chết, cũng tan hoang, cũng thù hận và chém giết và máu và xương trắng và khăn tang… Chính từ những suy nghĩ và hành vi man rợ mang trong đầu cái học thuyết hoang tưởng đã đẩy cả ngàn người dân vộ tội vào tử lộ một cách thản nhiên, để “trừ như trừ những con rắn độc!”. Và, chúng ta hỏi, họ là ai? Không ai cả mà cũng chính là họ, những người trí thức, những kẻ mô phạm, những tên cuồng tín. Ông đã đưa ra hình ảnh một cô gái Huế mỹ miều, mấy năm liền thi rớt y khoa ở Sài Gòn, sau trở về Huế học văn khoa, bỗng dưng một ngày kinh hãi nổ ra, cô ta xuất hiện trên chiếc mobylette như một mụ phù thuỷ gớm ghiếc đu xiếc trên cán chổi… “Đến lúc biến cố mọi người thấy cô ta mặc quần jean đeo súng và chạy cùng khắp trong thành phố, nhiều người bị cô ta chỉ vào mặt và tất nhiên sau đó nhiều hậu quả đã xảy ra…”.
Không chỉ chừng đó cảnh tan hoang nheo nhóc. Ở tận cùng đất nước: Cà Mau rồi ngược ra Tây Nguyên, những Pleiku, Kontum, Nha Trang, Phan Rang… Quảng Ngãi, Đà Nẵng… đâu đâu, nơi nào cũng có “những anh em du kích lẻn về phá rối đời sống dân chúng”.
Không chỉ nghe. Không chỉ nhìn thấy, tận mắt chứng kiến mà, hơn hết, như ông nói là phải có trách nhiệm với ngòi bút, nên ông đã ghi lại một cách trọn vẹn. Đó cũng là trách nhiệm với bản thân ông, trách nhiệm với xã hội bằng giọng văn đặc hữu: Tỉnh táo đến độ khô khốc như những cơn gió Nam cồ Nam mái trên dãi đất miền Trung, xoáy tung những mái tranh nghèo xơ xác, nhấn chìm những phận người như bọt bèo, nhưng không thấy ở ông, những dòng chữ nơi ông sự bi thiết hay hằn học.
Có lẽ chính điều này đã giữ cho tâm hồn ông được thăng bằng, bởi trong bút kỹ đã dẫn, ông trích lại vài trường canh trong ca khúc của Phạm Duy ẩn hiện đâu đó trong ký ức ông. Đó là những ca từ và giai điệu đẹp để cuộc đời này đẹp hơn chút, trên đống hoang tàn đổ nát: “Buổi sáng nay thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường, nhưng trong vườn anh, đoá trà mi vẫn nở thêm một đoá, tôi vẫn sống tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở… biết bao giờ…”.

Viết về Dương Nghiễm Mậu lúc này giống như đang ngồi trước tủ sách trống rỗng của ông: Một nỗi niềm xót xa cay đắng của một nhà văn luôn đặt trách nhiệm về thiên chức và nhân cách lên hàng đầu, như là điều xác tín: “Với riêng tôi, nhìn lại quá khứ từ 15 năm trở lại đây tôi có thể hài lòng để nghĩ rằng mình đã làm hết, đóng góp hết những gì có thể làm, có thể đóng góp. Lập trường dứt khoát của tôi đã hơn một lần được xác định trên những giòng chữ viết. Ở đó bao hàm một phấn đấu không cùng” (trả lời trên Thời Tập).
Tôi nhớ trên tuần báo Khởi Hành năm 1969, đã đặt câu hỏi về những suy nghĩ của nhà văn về tuổi 20, ông đã nói, đại ý: “Với lương tri… người trẻ tuổi nào cũng mong tìm thấy cho mình và cho mọi người một đời sống đáng sống. Bộ mặt thực của thế hệ 20 ở Việt Nam năm 1969 không phải do cái bề mặt giả hình của nó, mà nhiều người trẻ tuổi khoác lên mình hay người ngoài nhìn vào thấy. Có thể nói bộ mặt đó bi quan nhưng rất tin tưởng”.
Còn trên tuần báo Nghệ Thuật, khi đọc tác phẩm Đêm Tóc Rối, Viên Linh đã có nhận xét: “Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những người trẻ tuổi bị đè nặng bởi quá khứ về mặt tinh thần, và bởi tương lai về mặt trách nhiệm… Nhân vật Dương Nghiễm Mậu là người tù giam lỏng”.
Khoảng năm 1972, trên tuần báo Khởi Hành có loạt bài thăm dò độc giả bây giờ thích nhà văn nào, tại sao? Và tôi nhớ có một độc giả viết như sau: “Về Dương Nghiễm Mậu, ta bắt gặp hình ảnh của những kẻ sĩ bó tay trong một xã hội băng rã. Phong thái nhân vật của ông nửa anh hùng, nửa ăn cướp. Dương Nghiễm Mậu hiểu được phần nào tâm trạng của những người trẻ tuổi ưa suy nghĩ, thích hành động nhưng sớm chán nản trước thời cuộc”.
Trước 1975, độc giả vẫn đón đợi ở ông những suy tư ray rứt từ những nhân vật. Và bây giờ cũng vậy, đó là lý do tại sao nxb Văn Nghệ (Sài Gòn) và công ty văn hoá Phương Nam cho tái bản 4 tập truyện ngắn của ông (Đôi Mắt Trên Trời, Cũng Đành, Nhan Sắc, Tiếng Sáo Người Em Út) đã khiến Vũ Hạnh phải dở giọng cay độc như đã từng, hồi đầu những năm 75,76: “Những tác phẩm này giá trị ra sao, đa số bạn đọc sống ở miền Nam trong thời chống Mỹ đều đã biết rõ. Bởi lẽ, những quyển sách này không chỉ là các sản phẩm văn hóa mà vốn là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần…
…Hơn ba mươi năm trôi qua, những thứ sản phẩm, gọi rằng văn hóa, rất độc hại ấy đã được xếp xó cùng với bao khối bom, mìn, súng ống đủ loại từng gây chết chóc, thương tật cho những con người yêu nước và tưởng rằng sự yên nghỉ ngàn thu của các sản phẩm như thế là chuyện lịch sử đã an bài rồi. Và các tác giả – là Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên – sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp phải bất cứ sự quấy phiền nào. Những nỗi khổ đau và những sai lầm đã được xếp vào dĩ vãng, được khuyên khép lại, quên đi để cùng nhìn vào thực tại, hướng về tương lai…
…Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu. Các bạn đọc này gồm nhiều thành phần: vị tướng đã từng xông pha trên các chiến trường chống Mỹ, nhà giáo dạy văn, một cựu sĩ quan quân đội, nhà thơ, nhà báo… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước” (SGGP số ngày …/4/2007).

Đọc lại những truyện ngắn trong 4 tập này, không biết Vũ Hạnh tìm ở đâu ra những dòng chữ và các nhân vật lẫn lời thoại trong đó là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần… rồi thì: là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước.v.v. Vũ Hạnh chỉ nói vu vơ mà không chỉ ra được độc hại và xúc phạm danh dự đất nước nằm ở chỗ nào trong 4 tập truyện trên? Có phải vì trước đây, trên tuần báo Nghệ Thuật (hay Khởi Hành?) có loạt bài phỏng vấn Độc gải bây giờ thích nhà văn nào trên nhiều số báo? Và Vũ Hạnh thì không có tên trong những nhà văn được độc giả ưa thích nhất: Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Trùng Dương, Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền… nên ông cay cú mãi tới tận ngày hôm nay? Hoá ra, như một nhà văn lão thành đã nhận xét, “ông ta chỉ là tay chạy chợ, một kẻ xum xoe theo lối chính trị hoá văn học giảo hoạt không hơn kém”!
Trong khi đó, một cách công tâm, nhà phê bình văn học miền Bắc Phạm Xuân Nguyên đã có cái nhìn sắc sảo của một nhà phê bình chính thống, không vị nể, kiêng kỵ: “Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những trăn trở, hoài nghi, lo âu, dằn vặt trước những hoàn cảnh có thể biến con người thành chuột, hạ cấp nhân tính thành thú tính (“Những chuột”), trước sự bạo hành của cái ác có thể khiến con người dửng dưng với nỗi đau của đồng loại (“Lấy máu”). Tính biểu tượng của truyện “Những chuột” buộc người đọc từ hoảng sợ đến thức tỉnh.

Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những day dứt lựa chọn của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử: xuất xử hay hành tàng, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành động theo hướng nào. Cả tập Nhan sắc gần như có thể nói là được viết cho đường hướng tư tưởng này, bằng những truyện dã sử và giả sử. Từ Hải, Kinh Kha, Hồ Quý Ly, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ, Phạm Thái khi trở thành nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đã được nhà văn đặt vào những tình thế lựa chọn, và họ đã phải lựa chọn theo cách của con người hiện đại muốn ở họ. Họ phải lựa chọn để không ngừng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. “Phải sống. Sống không phải là nương theo những điều đã được định sẵn. Sống là tìm kiếm, lựa chọn, đương đầu…”, do đó, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình

Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những tình cảm bình thường, giản dị, mà chân thành, xúc động, đưa đến những đồng cảm, sẻ chia giữa những con người cùng ở trong một tình thế sống (“Lời chúc cho kẻ phản bội”). Văn đó không hề hạ thấp con người, ngược lại, nó buộc mỗi người phải bận tâm với chính mình trong tư cách con người.
(Phạm Xuân Nguyên, Truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, Thể Thao & Văn Hoá, số ra ngày 13/4/2007)
Tạm bỏ qua chuyện Vũ Hạnh với 4 tác phẩm vừa tái bản của Dương Nghiễm Mậu, chúng ta hãy trở lại câu hỏi: Tại sao độc giả lại thích truyện Dương Nghiễm Mậu? Vì khoảng trước năm 1963, như lời kể của Mai Thảo trên tạp chí Văn, Caliornia số tháng 12 năm 1984 thì thiên truyện đầu tay của Dương Nghiễm Mậu gửi đến toà soạn (không nói rõ tạp chí nào) và bị vất bỏ. Mai Thảo nhặt được, đọc nó và cho đăng (trên Sáng Tạo?). Thiên truyện này được Võ Phiến nhắc lại trong bộ Văn Học Miền Nam có tựa Rượu Chưa Đủ: “Chuyện xảy ra ở một thành phố… Nhân vật chính thường ngày đến công viên, gặp người này người nọ, làm chuyện nọ chuyện kia .v.v., công viên nào vậy? Tác giả không thèm đặt cho những nơi chốn đó lấy một cái tên” (Võ Phiến, VHMN, trg 709).
Cũng theo những tiết lộ của Võ Phiến, trong những truyện ngắn đầu tay và những tập truyện xuất bản đầu tay như Cũng Đành, Gia Tài Người Mẹ… độc giả chừng như không mặn nồng đón đợi gì nhiều ở ông, có lẽ do cách viết “không giống ai” ở ông. Dương Nghiễm Mậu chấp nhận điều này, xem như một lối đi riêng của mình và buộc độc giả phải chấp nhận. Quả vậy, độc giả đã “đầu hàng” và dần hồi tìm thấy ở ngòi bút của ông một phong cách riêng, rất độc đáo, không lẫn với văn phong của ai khác; ngay chính trong nội dung và những vấn đề ông đặt ra cho từng nhân vật nhận lấy trách nhiệm, hành động cùng những suy tư cũng kiến độc giả phải “giật mình”. Nói giật mình, bởi ông đứng hẳn về phía cái mới, từ cấu trúc ngôn ngữ, xây dựng nhân vật để chuyển tải những nội dung ông đặt ra, thường là những câu hỏi “không hỏi”, để cho người đọc tự xoay xuể, tìm câu trả lời theo cách riêng của từng người. Ông chỉ đặt ra các vấn đề mà không giải quyết vấn đề? Về vấn đề này, trên Bách Khoa số 154 ngày 1.6.1963, Đặng Tiến có nhận xét: “Tất cả các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều nghèo túng. Xã hội của Dương Nghiệm Mậu là xã hội bị chiến tranh tàn phá, ở đâu cũng còn vết tích của rạn vỡ: Trong thành phố, trên cơ thể, trong tâm hồn. Một xã hội con lạc cha, vợ lạc chồng, anh em hầm hè nhau như hổ đói, người với người xem nhau như súc vật. Nhưng truyện của Dương Nghiễm Mậu không phải là truyện xã hội…, Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là làm thế nào mang lại cơm áo cho những người đói rách, nhưng vấn đề là tạo ta trong mỗi người đang đói rách một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ… Vấn đề ở đây là một vấn đề siêu hình, thuộc về định mệnh ” (Võ Phiến, sđd, trg 708).
Điều mà nhà phê bình Đặng Tiến nhìn thấy ở Dương Nghiễm Mậu cách đây non nửa thế kỷ có lẽ khá chính xác đối với toàn bộ tác phẩm của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, bởi sau 1975, ngoài thời gian bị tù đày, làm sơn mài kiếm sống, hầu như ông không viết gì, hiếm khi tiếp xúc với những “kẻ lạ mặt”. Duy nhất độc giả chỉ mới được đọc tập truyện vừa ở dạng ebook trên mạng có tựa Lênh Đênh Trên Cửa Thần Phù và ở đó, trong truyện này, ông cũng đã tạo ra trong mỗi người đang đói rách một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ. Cũng lại là vấn đề siêu hình và thuộc về định mệnh!
Cái định mệnh khốc liệt ấy, không phải do ông tạo ra, ông không có quyền dựng lên. Nó chỉ là cái hiển nhiên của xã hội đã đẻ ra nó, để những đứa con xác xơ Chí Phèo bị quăng ra giữa đời, để những Xuân tóc đỏ, những chị Dậu… buộc phải hiện hữu trong thời hiện đại rất đỗi ma quỷ. Thời đại đang có sự lẫn lộn giữa thiện và ác, giữa quỷ và người. Và ông, với thiên chức của nhà văn đã ghi lại trung thực.
Điều đáng tiếc duy nhất ở phía người đọc trong nước bây giờ, giống như tủ sách trống không của ông, chúng ta không còn có quyền giữ lại một tác phẩm nào của các nhà văn miền Nam để nhẩn nha đọc lại, để có cái nhìn chính xác hơn về nhân vật, về nội dung sau bao nhiêu năm bị đóng kín sau “khung cửa hẹp”. Dẫu không còn tác phẩm trong tay, nhưng những gì chúng ta đã được đọc trong 21 tác phẩm ông để lại cho đời là những dự báo, là những cơn đau quặn thắt cho mỗi chúng ta, những người còn chút lương tri, dẫu ở trong hay ngoài nước, dẫu ở bên này hay bên kia của thắng thua, như blog Bút Chì đã viết, được Dân Luận trích đăng và dẫn sau đây:
“Em lớn lên, em nhìn xung quanh, em học và suy nghĩ, có bao giờ em nhìn thấy gì, nghe thấy gì ngoài những băng rôn khẩu hiệu khoa trương trống rỗng, những lời lẽ sáo mòn vô nghĩa, những bài học khô khan buồn ngủ? Em lớn lên, em xem ti-vi và đọc báo, em có bao giờ thấy những con người béo tốt đang tự giao cho mình trọng trách cầm lái cho đất nước dám đứng lên nói một cái gì không cần cầm mảnh giấy, nói một cái gì không làm em buồn ngủ, nói một cái gì mới trong suốt từng ấy năm? Và giả như có lúc nào họ nói không dùng giấy, hoặc thậm chí nói với sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khán giả nước ngoài, có phải em sẽ nhận ra ngay sự ngu dốt, ấu trĩ, độc ác và chết chóc trong từng hơi họ thở? Làm sao em có thể mơ đến việc họ có thể kể cho em nghe về những hy sinh mất mát của tiền nhân, về những khó khăn đau khổ của hiện tại, về việc tiếp nối một truyền thống nào và hướng đến một tương lai ở đâu. Không, họ không kể với em gì cả. Họ luôn xuất hiện chớp nhoáng sau những chiếc mặt nạ rồi nhanh chóng lủi đi mất”
(https://danluan.org/…/but-chi-ke-chuyen-em-nghe-tu-nuoc…).
Tôi không dám chắc chủ blog này đã có đọc Dương Nghiễm Mậu hay chưa? Nhưng hơn hết, có lẽ anh (chị) chủ blog này thuộc thế hệ trẻ, thế hệ có lương tri, có suy nghĩ, thao thức, dằn vặt về vận mệnh dân tộc. Những ray rứt trên kia, có phần nào giống với các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu từng băn khoăn, ray rứt và bất lực?
Sau mấy chục năm, độc giả vẫn cứ ngỡ rằng ông đã gát bút. Nhưng không ông vẫn âm thầm làm việc, vẫn âm thầm viết, sau Qua Cửa Thần Phù, ông viết Từ Hải Ngoại Truyện và nghe đâu ông đang viết những dòng cuối cùng thiên truyện Tự Truyện Nguyễn Du…
Bốn năm trước đến nhà thăm ông, khi ra về ông đưa tặng tôi bản đánh máy Từ Hải Ngoại Truyện. Đọc xong, tôi mới thấy nhân vật Từ Hải ông từng khắc họa một cách trân trọng, nâng niu với tất cả những tình cảm gửi gắm qua những chi tiết ẩn dụ, thì Từ Hải trong ngoại truyện là một bộ mặt khác, như một thảo khấu rất đỗi anh hùng và ngược lại. Hình ảnh đó cũng vẫn là những day dứt, những trách nhiệm và các câu hỏi chẳng hỏi ai luôn được ông đặt ra: “Cụ già cầm lấy ngắm nghía rồi lật những trang sách nhìn trên nhìn dưới rồi gấp lại đưa trả thầy Khổng và nói: tôi không biết dùng cái này để làm gì. Có tiếng cười khả ố vang lên từ một người trung niên ở trần, đóng khố: sách chẳng có giá trị gì đối với những người không có cơm ăn và mù chữ. Ông hãy bước chân xuống ruộng, đi cày trồng lúa rồi lấy thóc mà cho họ thì có ích hơn”.
Và, ông Mậu bây giờ cũng có những chiếc mặt nạ ma quỷ, nhưng không phải để treo lên tường như một cách làm dáng thường thấy ở loại nhà văn rởm, cung đình, mà làm ngay trên mặt ghế đẩu, bằng sơn mài để ông ngày ngày kê đít lên, bạn bè tới thăm kê đít lên.
“Dù vũ trụ có đè bẹp con người, con người vẫn lớn hơn những gì đã huỷ diệt nó. Người ta nhớ lại câu nói đó của Pascal khi đọc Dương Nghiễm Mậu” (Đặng Tiến, Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mậu, Bách Khoa số 154).
Những nhân vật của Dương Nghiễm Mậu, kể cả chúng ta đang bị “đè bẹp” và chúng ta “vẫn lớn hơn những gì đã và đang huỷ diệt nó”.
Đó là thái độ của kẻ sĩ.
Sống tự do hay là chết.
Đó là cách chọn lựa của kẻ sĩ bất lực!

NGUYỄN LỆ UYÊN
(Udon Thani)

HỎI EM TÌNH CÓ KHUYẾT RẰM HAY KHÔNG ?

linhphuong

Bỗng dưng
anh bị trời hành
Chiều hun hút nắng
thị thành cuối năm
Lạc mùa trăng
nhớ sâm cầm
Hỏi em
tình có khuyết rằm hay không ?
Trúc Đào
lá rụng ngoài sân
Nghe hơi gió bấc
bâng khuâng chớm buồn
Dịu dàng
tiếng hát em còn
Giọng bè tháng chạp
nốt trầm xuân sang
Chờ ra giêng
hoa nở vàng
Mừng em
váy ngắn tóc thơm lưng trần
Mừng em
môi đỏ màu son
Mồng một hai đứa
đứng hôn giữa đường
Trăm con mắt ngó
xỉu luôn
Sài Gòn
cũng bất bình thường Tết nay…

LINH PHƯƠNG