VALENTINE NGƯỜI TA VÀ EM

nguyentancu

Người ta luôn luôn làm cho anh nhớ em
Mái tóc ấy làm cho anh …thắt ruột
Đôi mắt ấy làm cho anh ngơ ngẫn
Và nụ cười làm anh thở chẳng ra hơi

Người ta làm cho anh … ngó trời
Mưa rát mặt và nhớ em buốt dạ
Khi nhớ quá thì nhìn cho đỡ nhớ
Người ta tưởng mình
Mình tưởng với người ta?

Nếu như thế thì em rất …lạ
Bởi em không giống một ai
Nhưng người ta lại rất giống mình
Người ta làm cho anh nhớ em
Không bao giờ ngơi nghỉ
Buổi sáng buổi chiều mọi lúc mọi nơi

Anh sợ quá và luôn luôn cúi mặt
Giả vờ như rơi mất một nỗi buồn
Anh nhặt lấy trái tim mình tơi tả
Khâu vá nỗi cô đơn
Bằng chính
nỗi đau mình

Người ta như thế – còn em thì như thế
Cứ như không – mà lại có trong đời
Em xa quá – người ta thì – gần quá
Anh chạm chỗ nào cũng thấy nỗi đìu hiu

Người ta làm cho anh luôn luôn nhớ em
Ừ thì nhớ – sợ gì mà hổng nhớ
Nếu cần thiết anh sẵng sang bỏ chạy
Để trái tim anh nguyên vẹn tả tơi buồn

Anh sẵn sàng để nỗi nhớ rong chơi
Và có thể em không cần anh nữa
Em như thế – Người ta thì như thế
Có khi nào em nhớ
Giống anh không ???

Nguyễn Tấn Cứ

Vãn Tuồng

nguyendinhbon

Bà Tư Trầu như nhớ lại từng chi tiết cái ngày của ba mươi năm về trước khi bà còn là một bà chủ hàng xáo ba mươi tuổi, trẻ trung và có nước da trắng trẻo mịn màng của một người đàn bà trẻ sinh ra và lớn lên ở miệt vườn Nam bộ… Ngày đó dù chiến tranh đang hồi khốc liệt nhất nhưng con lộ chạy dọc theo kinh xáng Xà No vẫn còn nguyên, những cây cầu xi măng cốt sắt xây từ thời Pháp vẫn vững vàng và xe đò, xe hàng cứ ì xèo xuống lên. Bây giờ con đường đã hư hỏng nhiều, phải lội bộ trên những quãng lởm chởm đá và đứt đoạn, thiệt là cực. Nhưng cực gì đi nữa thì tối nay cũng phải đi!
Cái câu mà bà đang nghĩ đó chính là lời của thằng cháu nội nói trưa nay, khi nó ù chạy về nhà kể một thôi một hồi về chuyện một cái gánh hát lớn vừa bầu đoàn thê tử về dựng rạp tại nhà văn hóa xã. “Có Minh Tài nữa đó nội. Tối nội dẫn con đi coi nghen! ”. “Ai? ”. Lúc đó bà Tư đã thảng thốt hỏi thằng cháu như vậy. “ Minh Tài chớ ai nội. Minh Tài hát trên truyền hình nội khen hoài đó!”.
Minh Tài ! Thì chính cái tên ấy đã làm cho bà Tư nhớ lại cả một quãng đời đã thành xa lắc xa lơ của mình. Hồi đó bà cùng chồng là Tư Nhỏ chuyên mua lúa mùa xứ ruộng này rồi thuê xe đò chở lên tận Sài Gòn để bán. Làm hàng xáo thì cũng có cái sướng cái khổ như mọi công việc khác trên đời. Nhưng trong suốt thời gian gần năm năm đi buôn ấy, cái chuyện mà cho đến bây giờ bà vẫn không quên lại dính đến anh chàng kép mùi Minh Tài này. Cái lần đó, khi xe hàng vừa xuống gạo xong thì phải đưa đến ga-ra sửa lại một số trục trặc nào đó về máy móc nên phải ở lại. Đêm ấy, khi Tư Nhỏ đang ngồi dưới bến Hàm Tử “sương sương” với bạn bè là dân bốc vác thì Sáu Liên, cháu bà chủ vựa gạo, lân la rủ:
“Chị Tư, tối nay cải lương hay lắm nghen. Em mới đọc quảng cáo trên nhật trình. Tối nay em lại rảnh nữa. Đi coi với em nghen chị Tư!”
“Thôi, không được đâu. Chị sợ anh Tư rầy chết. Ông coi vậy chớ khó lắm đó!”
“Xí! Ổng có bạn nhậu thì chị cũng có quyền đi chơi chút đỉnh chớ. Chị biết tối nay ai hát hôn?”
“Ai?”
“Minh Tài chớ ai! Ca mùi hết sẩy luôn nghen!”
Ngày ấy, Minh Tài là một kép trẻ nhưng đã nổi tiếng khắp miền Nam. Khi ấy nghệ thuật cải lương cũng đang hồi cực thịnh và không một người phụ nữ nào có thể từ chối chuyện đi coi Minh Tài hát. Người đàn bà trẻ, là bà Tư bây giờ, cũng vậy, dù rằng đêm hôm ấy khi từ rạp hát trở về, bà đã bị người chồng, đã nhậu sần sần tặng cho hai bạt tai vì tội đã không xin phép chồng mà dám “đổ đường” (tiếng của chồng bà) đi coi hát một mình. Lần ấy, bà Tư đã giận chồng suốt cả tháng trời cho đến khi “ổng” mua về một băng cát-xét dài tiếng rưỡi đồng hồ chỉ do mình Minh Tài hát và lén để trên máy hát bà mới chịu cho ổng làm lành. Vậy mà đã bao nhiêu năm, giờ thì chỉ còn lại một mình bà với những khi bất chợt nhớ lại…
Một đám trẻ nhỏ lôi thôi lếch thếch, bồng ẵm nhau chạy ngược ra phía đầu vàm, vừa chạy vừa reo hò “Gánh hát dìa! Gánh hát dìa!” um sùm làm bà Tư nhớ lại là nãy giờ mình còn chưa bắc nồi cơm lên cho thằng Ba đi ruộng về nó ăn. Bà lật đật dựng cây chổi vô một góc hè rồi quày quả định vô nhà nhưng ngay lúc ấy bà dừng lại, quay nhìn xuống dòng kinh trước mắt bởi từ nơi đó có tiếng loa khọt khẹt rồi một chiếc vỏ lãi lấp ló chạy ra sau đám bần mọc de bên mép nước. Cái loa đã lấy được tiếng, nó ồn ào vang lên: “Kính thưa bà con cô bác, đêm nay đoàn cải lương của chúng tôi với nam danh ca của mọi thời đã đến…”. Bà Tư như không còn nghe thêm được nữa. Một tình cảm gì đó đã lâu rồi không còn cảm thấy trong lòng chợt dâng lên tràn ngập, bà như thấy mình sống lại thời tuổi trẻ và ngay trong lúc ấy bà quyết định tối nay sẽ đi coi hát. Chỉ tiếc là ổng không còn để rầy rà mình nữa. Bà Tư chỉ nghĩ về chồng đơn giản vậy !

*
Hai bà cháu phải cực nhọc lắm mới lội hết con đường lót đá mấp mô để đến nhà văn hóa, nơi gánh cải lương dựng rạp và cũng phải cực nhọc hơn như vậy bà mới mua được tấm vé cho mình, tức là cho cả hai bà cháu, vì quá nhiều người chen lấn.
Khi đã tìm được một chỗ ngồi khá gần với sân khấu, bà Tư mới yên tâm. Tấm màn nhung đỏ vẫn còn đóng kín và từ bên trong những âm thanh rộn rã của một rạp hát vọng ra làm mọi người cảm thấy náo nức.
Minh Tài đã xuất hiện ngay từ màn đầu, đóng kép chính đúng như quảng cáo làm khán giả vỗ tay tán thưởng rào rào. Chỉ tiếc là anh đã quá mập, dáng mệt mỏi trong khi cô đào hát cặp với anh lại còn quá trẻ nhưng cũng khá đẫy đà. Người ta xì xào rằng đó là cô vợ không biết thứ mấy của Minh Tài. Có tiếng ai đó hơi lớn: “Chèn ơi, già quá rồi. Kép với đào như cha với con”.
Với bà Tư gì thì gì cũng không quan trọng lắm. Đó là chuyện đời tư. Ăn thua là giọng hát kia. Nhưng rồi cái háo hức lắng dần xuống khi người ta bắt đầu nghe anh ca. Đến khi Minh Tài vô một câu vọng cổ thì bà Tư thở dài. Giọng anh đã không thể còn như xưa nữa. Bà Tư cũng là người hiểu biết nên bà không trách thần tượng mà chỉ tiếc cho anh khi anh vẫn còn cố đóng kép chính khi mà tuổi tác đã đè nặng lên cuộc đời.
Tuồng đang diễn có cảnh hai vợ chồng nhà nghèo lặn lội đường xa, lại phải băng qua cả một cánh rừng rộng để đi tìm kế mưu sinh. Cô vợ trẻ yếu dần, yếu dần rồi lả đi. Anh chồng cố hết sức dìu vợ nhưng cô vợ đã ngã xuống. Anh chồng, tức Minh Tài, liền ra sức xốc người vợ lên định cõng băng qua khu rừng. Bỗng nhiên khán giả cười rần rần. Thằng cháu bà Tư cũng chỉ tay lên sân khấu cười ré lên: “Nội coi ngộ quá kìa. Minh Tài ẵm không nổi vợ mình kìa nội ! ”. Thì ra cô đào trẻ nặng quá so với lực yếu đuối của một anh kép hát về già vì vậy mà anh ta cứ nhổm lên nhổm xuống, miệng thì ca đang cõng vợ còn thực ra thì dựng cô ta lên cũng còn không nổi. Quả là lực bất tòng tâm. Chỉ có khán giả là được một trận cười no nê mà khỏi cần hề hiếc gì chọc ghẹo hay thọt lét.
Màn diễn vụng ấy rồi cũng qua. Vở diễn vẫn tiếp tục nhưng càng về khuya Minh Tài ca càng đuối. Bà Tư cảm thấy một nỗi thất vọng tràn ngập trong tâm hồn mà mới đây bà tưởng chừng vừa trẻ lại. Thằng nhỏ đã ngủ gục lên gục xuống trên vai bà nội. Bà Tư nhẹ nhàng ẵm đứa cháu lên và tìm cách đi lui ra dù bà thuộc rành tuồng nên biết cũng còn khá lâu nữa mới hết. Thằng Tâm chợt giật mình. Nó dụi mắt lè nhè: Hết rồi hả nội ?
“Ừ, dìa. Vãn tuồng rồi cháu!”

Nguyễn Đình Bổn
(đã in trong tập “Giữa Trần Gian Và Địa Ngục”)

LẬT SỔ ĐOẠN TRƯỜNG

nguyenvi

Lật ngày lật tháng lật năm
Lật hơn nửa kiếp đời tăm cá buồn
Gió gào nắng cháy mưa tuôn
Bốn phương tám hướng vọng cuồng nộ ca
Trang nào nụ kịp thành hoa
Trang nào hạnh phúc vỡ òa cùng đêm
Trang nào môi chạm môi mềm
Nhớ tưởng đã mất được đền bù thương
Tìm vài trang sổ đoạn trường
Rợp hoa hương chất ngất vườn bướm ong.

NGUYÊN VI

BUỒN NHƯ TRĂNG NHỚ AI

phuongtan

Thuyền chờn vờn xa bến
như ai chia tay ai
bóng trăng khuya hiu hắt
buồn như trăng nhớ ai.

Hai hàng cây ve vẫy
ai giã từ ai đây
con phố rêu đứng đấy
buồn như phố đợi ai.

Tôi cứ như cỏ khô
em cứ như ngọn lửa
cháy theo dòng gió ngược
thổi từ thuở yêu em.

Em là con chim trời
vút bay vào cõi phúc
tôi con chim côi cút
bay ngẩn ngơ bên đời.

PHƯƠNG TẤN

Kiếp văn chương

tonnuthunga

Tay bưng tách cà phê nóng hổi và thơm phức, Tú nhẹ nhàng mở cửa căn phòng tối, bật công tắc điện. Tú thu dọn sơ sài mấy tờ giấy nháp, mấy cuốn tạp chí ngổn ngang, tìm chỗ đặt cốc cà phê lên bàn. Kéo ghế, ngồi xuống trước máy vi tính, Tú thở phào nhẹ nhõm, nhấp ngụm cà phê nồng nàn, mỉm cười nhìn màn ảnh sáng lên, rồi những hàng chữ từ bài văn đang viết dở dang từ từ hiện ra trước mặt. Tú đặt tay lên bàn phím chữ, thầm ước những ngón tay thô kệch của mình được thêm nhanh lẹ để ghi lại các ý tưởng trong đầu đang thoát ra một cách linh hoạt như dòng suối mát mùa xuân, tuôn chảy từ lòng rừng. Tú vừa gõ gõ các mẩu tự, vừa chăm chú nhìn xuống mấy ngón tay:
Lisa nhẹ nhàng tháo tấm áo lụa tím ra khỏi chiếc móc áo. Làn vải êm ái, mịn màng, mát như làn gió đầu xuân đang run rẩy, đong đưa ngọn cỏ non trên sườn đồi. Áp tấm áo bên má, mơn man, thơm ngát mùi nước hoa đắc tiền; nàng nhắm hờ đôi mắt, lắng nghe một nỗi rạo rực không tên tỏa nóng trên da thịt..
– Bố thằng Cu ơi, lại trốn vào trong phòng com pu tơ rồi đấy hử… chả có nhờ được điều gì cả, suốt ngày cứ chúi nhủi vào trong ấy, con cái khóc la cũng mặc kệ, cỏ kiết mọc như cái rừng hoang cũng chẳng thèm để ý, cái gì cũng để mặc cho con vợ này nó lo, chán ôi là chán!…
Tú nhắm mắt, tay bịt kín hai tai, cố quên đi giọng mụ vợ già chì chiết trong bếp. Hết lải nhải, mụ bắt đầu cạo nồi, cạo xoong loảng xoảng, lanh canh nhức cả óc. Tiếp đến, mụ lấy cái dao phay, chặt ầm ầm trên cái thớt gổ…
Tú làm ngơ, trán anh nhăn nhíu, cố gắng nhớ lại ý tưởng vừa nảy ra trong óc, hai ngón tay anh lại gõ gõ trên phím chữ:
Tiếng nhạc cổ điển dịu dàng vương vấn trong không gian, dưới ánh đèn vàng ấm, Lisa mơ màng nhìn ngắm dung nhan mình phản chiếu lại từ tấm kính, đôi mắt nâu long lanh dưới hàng mi đen mượt. Nàng mỉm cười vòng tay ôm bờ vai…
– Bố ơi, bố ơi…
Thằng Bò giật ống quần Tú, tay cầm chiếc xe tăng bằng sắt, đập cành cạch vào chân ghế; không biết thằng bé chui vào phòng từ lúc nào? Tú ngừng đánh máy, nhìn xuống thằng con, thằng bé quệt hai dòng nước mũi xanh vào cánh tay, mặt mày lem luốt, ngước đôi mắt tròn xoe nhìn chàng:
-Đi chơi nha bố, đi MacDonald…
Ánh mắt thằng Bò đầy hy vọng, bàn tay mũm mĩm chỉ ra cửa. Tú thở dài, nhấc bổng đứa con trai nhỏ lên, lấy tờ giấy mềm lau mủi cho con. Thằng Bò giẫy dụa, quay đầu trốn tránh, hai tay vung vẫy:
– Đi Mac Donald.
Tú lắc đầu:
– Không đi Mac Donald được, bố bận và mẹ đang nấu cơm.
Thằng Bò mếu máo, nước mắt ứa ra trên mi. Tú mở ngăn kéo, tìm hộp kẹo anh dấu dưới mấy tờ báo cũ. Anh lấy cây kẹo mút, lột giấy đưa cho thằng bé. Có kẹo, thằng Bò ngồi yên trên đùi bố, mút lia lịa. Tú lại đặt tay trên phím chữ, cố gắng nối lại giòng tư tưởng:
Ngoài sân, trời xuân dịu dàng mát mẻ, nàng nghe tiếng lá cây lao xao trong gió nhè nhẹ, mơ hồ. Ngọn đồi thoai thoải sau nhà lốm đốm hoa vàng trên cỏ xanh, ánh chiều yếu đuối, mơn trớn những ngón tay cuối cùng trong khe núi. Đám mây tím ẻo lả, vương vấn giăng ngang chân trời như tấm lụa mong manh, cố tình che giấu mặt trời tròn trỉnh, trần truồng huy hoàng như viên ngọc đỏ, chầm chầm trầm mình xuống chân trời…
-Eo ôi, gớm ghiếc quá!
Tú nhăn mặt, nhìn xuống bàn phím, nước dãi từ mồm thằng Bò pha trộn với chất dẻo của kẹo từ hai bàn tay nó đã trét bê bết trên bàn. Nó còn dùng nhùng ngón tay bụ bẫm, nhớp nhúa, dẻo nhẹo; đập lên bàn phím theo bố nó. Nghe giọng Tú, nó ngước nhìn anh, nhoẽn cười, lấy cái kẹo nhễ nhãi nước miếng trong miệng mình dưa lên mời bố.
Tú thở dài, lẳng lặng bế con, đứng dậy, bước vào phòng tắm. Đặt thằng Bò ngồi cạnh chậu rửa mặt, Tú lấy chiếc khăn treo lủng lẳng bên vách, mở vòi nước. Bò thấy nước chảy, thích thú thò bàn chân vào chậu, đá nước tung tóe. Bò cười khanh khách:
– Tắm, bố tắm…
– Ừ thôi, cho mày tắm luôn, thằng dơ dáy này, bỏ vào bồn cho mày chơi nhé!
Tú mở vòi nước ấm, cởi áo quần cho con, đặt thằng Bò vào bồn tắm. Bò thích thú tay chân đập lia lịa làm nước văng đầy cả đầu bố nó.
– Ái chà, thằng bé này nghịch quá.
Tú lấy con vịt cao su đưa cho con, Bò lắc đầu, tay chỉ vào mấy tập sách plastic xanh đỏ cạnh bồn tắm:
– Bò muốn sách.
Tú cầm lên một mảnh ba bốn tờ giấy nhựa lẹp xẹp; đây là một cuốn sách làm cho bọn trẻ con đọc trong lúc tắm cho khỏi hư ướt. Thằng Bò gật gù cái đầu ướt nhẹp, chỉ tay vào hình con bò vàng. Con bò mập mạp, ngộ nghĩnh nhảy nhót, miệng cười toe, nhe mấy cái răng bò to tổ bố. Thằng Bò lấy ngón tay chỉ trỏ, nghiêng nghiêng nhìn Tú:
– Bố, cow, cow mooo…
Đôi môi hồng của thằng bé chu tròn xoe, dễ ghét hết sức. Tú thở dài:
– Thôi chắc tao hy sinh cái nghiệp văn chương cho mày, bây giờ mầy đọc cuốn sách này, biết đâu mai mốt mầy thành văn sĩ nổi tiếng, không chừng mày thắng giải Pulitzer thì tao cũng hãnh diện vậy!
Anh đứng dậy cởi áo, trèo vào bồn , mở thêm nước rồi nằm dài trong bồn tắm, nhắm nghiền đôi mắt. Thằng Bò cười khanh khách, nhảy lên bụng bố, cầm cuốn sách đập lép bép lên đầu Tú.
-Bố chết, bố chết…
Bò tưởng Tú đang chơi trò giả chết với anh em nó khi bắn súng giả. Bò cù cù vào nách Tú, anh nhột quá cười vang:
-Tổ cha mày, tao chưa chết, nhưng cái nghiệp văn chương của tao thế nào cũng chết với mẹ con mày!!!.

Tôn Nữ Thu Nga ( Thế Kỷ 21)

VỊN VÀO GIẤC MƠ THƠ…

mocmienthao

Đi hết những tháng năm
Thấy xuân về lồng lộng
Đi hết một chỗ nằm
Thấy đời người như mộng

Trôi hết dòng ký ức
Sực tỉnh đầu vị lai
Nỗi sầu nào quá vãng
Nỗi buồn nào trùng lai

Bên góc trời cô quạnh
Khói kể nhau màu mây
Dốc vào đêm sóng sánh
Nghe vuông-tròn tỉnh-say

Đi tận cùng nỗi nhớ
Thấy một cõi lãng quên
Nghe trong từng hơi thở
Tiếng thơ sao yếu mềm

Ôm chút hồn thơ bạc
Gói vào giấc mơ xưa
Khi lòng chiều đang khát
Từng vạt nắng lưa thưa…

Trong giấc xuân lồng lộng
Lòng trăng mãi thanh tân
Chừng khơi nửa cơn mộng
Đã thấy bóng phù vân

Phiêu bạt giữa cõi trần
Mong trùng lai vừa ý
Đi hết lòng tri kỷ
Thấy một cõi thơ xa

Tiếng lòng thơ bao la
Làm sao đi hết được
Ta cứ chập chững bước
Vịn vào giấc mơ thơ…

MỘC MIÊN THẢO

NGÀY CŨ…

huvo

Ta những tưởng giấu mùi hương năm trước
Đợi mùa sang trổ lộc nở xuân hồng
Ngày rạng rỡ hoa vàng che lá biếc
Tình phù sa thầm vực dậy đơm bông.

Em chiếc lá với bốn mùa biêng biếc
Hạ reo vui hay đông giá phủ phàng
Rừng thuở ấy ân cần buông tay mở
Để vàng thu gieo nắng hửng miên man.

Gởi làn gió bay theo tà áo mỏng
Bóng ngày xuân tha thướt gót mong manh
Tìm một thuở để một đời vọng tưởng
Mộng ngày xanh hương rớt đọng trên cành.

HƯ VÔ

Mùa xuân của Xuyến

nguyentri

Năm hết. Dãy trọ mười bốn phòng, trên dưới năm mươi nhân mạng ai cũng chuẩn bị cho ngày trở về, không năm nào vui bằng năm nay.
Cô A anh B chị C ai cũng nói về nơi mình làm việc bằng một giọng phẩn khởi. Nào tháng này tao hơn một trăm tiếng tăng ca. Mà tăng ca là nhân với một chấm năm đó nghe. Người khoe năm nay công ty tui cho công nhân phần quà cả ba trăm ngàn luôn đó. Một tháng lương thưởng mới là trên cả tuyệt vời à nha. Lại thêm xe đưa về tận nhà. Nghệ An thì chung tuyến với Hà Tĩnh. Châu Đốc thì về cùng Đồng Tháp. Đại khái là ai cũng vui như hội.
Vậy thôi, tha phương một năm chỉ mong về để hát quê hương là chùm khế ngọt. Vậy là tốt quá rồi, chả bù với năm ngoái – một người nói – tao nằm trong trọ khóc hết nước mắt nhớ ông bà già lủi thủi sau vườn. Tui cũng vậy chớ hơn gì ông – người khác thêm-. Năm nay chủ trọ cho mỗi người một phần quà tết gọi là. Không vui mới thiệt là lạ à.
Chỉ riêng Xuyến lại buồn. Buồn muốn chết.
Chớ sao vậy kìa? Làm ăn thất bát hay bị mất của?
Không phải đâu. Xuyến buồn bởi vì Thành – người Xuyến gọi là chồng – không thương hoa tiếc ngọc chi ráo. Thành phủ vào mặt Xuyến bằng bạt tai, che thì anh ta cho cú đấm vô lưng. Bạt đến cú cả chục phát và Xuyến la như giặc. Vậy mà cả dãy trọ chả ai ghé đến để can ngăn. Bà chủ thì lâu lâu mới tạt qua coi sóc. Cũng một lần bà chủ đến bởi được a lô, nhưng thằng chồng nạt rằng vợ tui hư tui trị mắc mớ chi đến chị? Xét cần tui dọn đi chỗ khác, chị lấy quyền gì xen vô gia đình tui? Chủ trọ không quý khách trọ thì quý ai? Vậy nên đèn nhà ai nấy tỏ. Gần dãy trọ có một tạp phẩm chuyên mua bán hành tiêu ớt tỏi muối đường vân vân, chủ nhân có tuổi lại bán thiếu tới kỳ lương thanh toán nên khách trọ cũng nể chút chút. Chủ quán can riết rồi cũng kệ cha tui bây tao mệt quá.
Nhưng tệ quá thì thôi. Đánh nhau thì ta phải can ra mới là đạo lý chớ, lỡ suông đòn thì sao? Đằng nầy cả mấy chục nhân mạng mà lơ. Thiệt là… Cả mấy đứa chung sở làm với Xuyến cũng vậy luôn. Bốn năm sáu bảy tám đứa đóng cửa phòng điềm nhiên chặt hẻo. Xuyến la làng kệ Xuyến, thiệt là tàn nhẫn quá thôi. Có đứa còn nói:
“Kệ mẹ nó. Ngu ráng chịu.”
Ái chà. Có kệ mẹ, có ngu ráng chịu là chuyện không hề thường đâu nghe. Đàn bà con gái mà xướng kệ mẹ thì cũng gớm ghê à. Ồ! Chuyện nhỏ thôi, thời buổi nầy văng tục chửi thề trong miệng các mặt hoa da phấn có chi đâu lớn. Nghe nè:
“Đ… má. Đồ mê trai. Cho chết mẹ nó đi.”
Xin chớ có ngạc nhiên khi người đẹp bổ báng người ơi. Nghề nghiệp nó khiến con người ta phải thế. Nguyên dãy trọ nầy các cô là khách víp. Bà chủ quý lắm. Không như các công nhân của công ty, tiền trọ bê trể là thường. Các cô thì tuyệt. Một đêm thu nhập dăm bảy trăm một triệu là thường. Tiếp viên nhà hàng nó vậy. Lương lậu không bao nhiêu nhưng đã là nhà hàng thì khách phải xịn, mà xịn thì bo biếc là chuyện vặt. Làm nghề nầy trước tiên phải đẹp, thứ đến phải dịu dàng, thứ nữa phải biết uống bia. Và phải biết chấp nhận. Đôi khi có men, hay lợi dụng men khách sàm sở tí tí em cũng cười. Cười là liệu pháp tinh thần tuyệt vời. Nếu khách bị mê hoặc bởi nụ cười mà mời đi chơi sau giờ làm việc, tức sau mười hai giờ đêm, thì tuỳ, bởi nửa đêm ngủ hay thức tùy em quyết định.
Em đẹp. Đóng vai hiền cả diễn viên hô-li-út còn chắp tay chào thua. Nhưng đó là diễn, còn thực tế thì Bà La Sát phải kêu em là chúa. Vậy mà để cho chồng nó đập thì ngu là phải quá.
Bà Ba chủ quán nói với ông Ba rằng:
“Chồng gì mà chồng. Chồng hổng chồng hông thì có. Để tui kể ông nghe. Con Thắm nói…”
“Chuyện của thiên hạ kệ thiên hạ. Mắt thấy tai nghe còn không ra ôn dịch gì. Ở đó mà kể lại. Mà con Thắm nói với bà sao?”
“Ủa, Bà ba bỉu môi, nói vậy mà sao hỏi?”
“Thì nghe nhưng đừng có tin. Như mình vậy.”
Như mình vậy là ông Ba nói gia cảnh chính mình. Ông Ba có thằng con. Mụ nội cha nó. Ăn chung ngủ chung đi làm chung, vậy mà lúc công an ập vô nhà mới biết thằng con, chẳng những chích mà còn tàng trữ và mua bán chất cấm. Thử hỏi còn ai trên đời nầy để tin nữa không hả trời đất? Cũng may là ông nhà nước cho uống mêthađôn và ông con chịu uống bằng không là vác bị đi ăn mày hết kiếp. Nên chi ông Ba không tin chuyện kể lại cũng đúng. Nhưng mà nghe cho vui:
“Con Thắm một quê với thằng Thành và con Xuyến. Nó kể rằng…”
Thành có vợ và có một con trai. Vợ con Thành đang ở với ông bà nội ở quê. Con Xuyến yêu đương với một thằng họ Sở. Sau khi ngâm xong câu con ong đã tỏ đường đi lối về nó dông tuốt. Đang buồn Xuyến gặp Thành. Biết người ta có vợ con mà vẫn đâm đầu vô cặp kè là quá xá ngu. Lại thêm con vợ thằng Thành chận đường xáng mũ bảo hiểm vô đầu mắng vô mặt là đồ giựt chồng nữa đó. Cha má anh chị em lôi Xuyến về. Anh trai điểm mặt Thành mà rằng:
“Mày có tin là tao cho mày một dao không?”
Vậy rồi cả hai tạm biệt sông nước đi xây tổ uyên ương. Thời nầy tổ ở đâu cũng có. Một tổ mười sáu mét vuông thêm gác lửng quá đẹp cho một đôi. Chàng đi làm công ty, nàng tiếp viên nhà hàng. Lương chàng không bao nhiêu. Năm triệu cả tăng ca thì tết công gô mới sắm được xe, đằng nầy chàng còn phải gửi tiền về cho con trai ăn học. May mà Xuyến làm ra tiền. Tiếp viên mà, lương chả bao nhiêu nhưng bo biếc là chủ yếu. Xuyến tậu được tay ga xịn loại bốn chục triệu một chiếc. Sáng chàng thức sớm rồ ga ra chợ mua đồ ăn sáng về cho nàng. Sau đó chàng lên đàng đến công ty. Nàng ở nhà vùi đầu ngủ mãi mê. Tỉnh dậy là cùng bạn chung sở làm thi nhau chặt hẻo. Vợ chồng Ba chủ quán khoái lắm bởi các cô xài sang lắm – A lô năm cà phê sữa đá, năm tô mỳ có trứng nghe chú Ba với lại một cây bài cào. Công an sở tại còn khuya mới bắt được các cô đánh bài, vừa xuất hiện là bà Ba đã a lô…Kiểu vậy nên bà Ba mới xác định rằng:
“Thằng Thành lợi dụng sự nhẹ dạ của con Xuyến để ăn tiền con nhỏ ông hiểu không? Nó là thứ đàn ông bám chéo áo đàn bà. Thứ đó trời không đánh thánh cũng đâm.”
“Thôi, cho tui xin. Bà không thấy có rất nhiều điểm vô lý dồn vô một chỗ không?”
“Vô lý sao?”
“Bà nói thằng Thành có vợ con rồi?”
“Ừ.”
“Con vợ thằng Thành từng xáng mũ bảo hiểm vô đầu con Xuyến?”
“Ừ.”
“Vậy mà con Xuyến vẫn đâm đầu đi theo là nó bị điên. Bà nghĩ đúng không? Chả có ai trên thế gian nầy biết người khác có vợ có con mà còn đắm đuối. Nếu là con gái mới lớn thì còn có thể, đằng nầy con Xuyến đã hai mươi mấy, yêu đương rồi, bị phụ tình rồi. Nó khôn nẻ võ, tui với bà cố cựu xứ nầy, bầy con bốn đứa làm hộc gạch được chiếc Wave an-pha là hết, nó mới mấy tháng là tay ga chạy vù vù, nó thua cây bài bằng tui làm hai ngày công thợ. Nó đâu có điên bà hiểu không?”
– “Nhưng mà…”
– “Tui biết thằng Thành vợ con rồi. Tui biết con Xuyến bị đánh ghen luôn. Cả chuyện thằng Thành đem tiền về cho con nó tui cũng biết. Nhưng chuyện mấy đứa ở đây bảo thằng Thành bám chéo áo đàn bà là không đúng. Chuyện thằng con mình thoi thằng Thành lúc tui không có nhà là trật chìa bả hiểu không?”
“Thứ đàn ông mà đánh đàn bà bị con mình đập là phải.”
“Thằng Thành sai nhưng mình chỉ can thôi. Đánh người là không đúng.”
“Tui không hiểu ông nghĩ sao mà đi binh thằng Thành.”
“Để tui nói bà nghe. Thằng Thành tâm sự vầy nè…”

Thành là con nhà có tí chút của nả. Sống bằng nghề mua lúa bán gạo. Đại khái đậu ghe lớn ngoài sông cái rồi dong thuyền nhỏ vô mấy chòi lúa trong tắc, trong ráng, trong bưng. Một kiểu lấy công làm lời. Thành con một nên cha má thương lắm. Lấy vợ xong cha má cho con dâu một nơi bán gạo trong chợ. Mua tận gốc bán tận ngọn kiểu nầy thì lên nhà lầu không chóng thì chầy. Vợ Thành đúng số đẻ bọc điều khi hạ sinh một hoàng nam, cha mẹ chồng nâng như trứng mỏng. Có câu già sinh tật đất sinh cỏ sướng quá ắt hư. Vợ Thành hư thiệt. Nó ngoại tình.
Nghĩ cũng đúng thôi. Sống trong đủ đầy con người ta cần phải có sự trung hoà. Thặng dư là phát phì. Không nở bề ngang nó sẽ tràn qua bề dọc. Chính xác là vậy. Thành nổi trôi thương hồ ghé đâu là dập dìu tài tử giai nhân đến đó để vợ nhà trơ cái hồng nhan với nước non nên ra cớ sự. Phải chi cái thằng nhơn tình đừng có ăn vô cái hàng gạo thì không đến nổi. Cha má Thanh thấy gạo hụt ngọn nên sinh nghi. Một hôm kia Thanh quả tang trai trên gái dưới ngay trên giường của mình.
Thành kể với ông Ba vậy và ông già có ý kiến:
“Khi đàn bà ngoại tình thì lỗi trước hết về thằng đàn ông. Mày không êm thấm vụ giường chiếu thì nó phát sinh là tất yếu. Thằng đàn ông mình vốn ích kỷ chỉ biết mình mà không biết người. Thằng nào cũng nghĩ người đàn bà khi đã cho ai họ cho bằng trái tim, bằng tâm hồn. Mình cho qua có ngày sẽ làm con ma cụt đầu. Mày chia tay phải rồi.”
Nhưng con nhỏ không chịu ly thân hay ly hôn chi ráo. Nó cứ trơ mặt ở cái nhà mà cha má Thành đã cho. Thằng nhân tình thì quất ngưa phi mất, có còn chi nữa mà nó bám? Cái nhục lớn quá nên cô không đi thì tui đi. Thành trả ghe máy cho cha má còn mình nhét túi vài đồng lang thang mấy quán cóc, và cu cậu ghé quán em Xuyến làm đôi xị lai rai. Xuyến cũng bắt mắt, ăn nói mượt mà dễ thương. Rất nhanh chóng hai tâm hồn đơn độc và bị đả thương như nhau ra một cặp. Thằng kể chuyện bị vợ cặm sừng cho em Xuyến nghe, Xuyến cũng kể bị tình phụ cho anh Thành nghe. Đã thiệt tình thì tình thiệt. Và trăng gió lâu ngày là ra đá vàng. Con vợ đang cố lấy điểm trong vai hiền phụ mong một ngày chồng chuyển ý nghe tin liền ra máu Hoạn Thư. Nó đánh Xuyến là có thiệt.
Thiên hạ nói đúng hết nhưng mà sai. Rằng Thành không dụ dỗ ai hết, Thành không hề bám chéo áo đàn bà khờ dại. Cà rá dây chuyền Thành có là Xuyến mua, Xuyến đưa tiền cho Thành về thăm con. Nhưng tất cả là do Xuyến tự nguyện. Thanh tâm sự vậy với già Ba:
“Nhưng sao mày đánh nó? Còn trói nó lại nữa. Con Thắm chụp cái hình con Xuyến bị trói đưa tao xem. Mày liệu hồn, con Thắm hăm sẽ gửi cái ảnh về Mail của anh con Xuyến, mày liệu mà xử lý.”
“Không phải con muốn vậy đâu chú Ba. Con không trói lại dám nó ở tù vị tội giết người.”
Thành về quê thăm con. Hẹn một ngày sẽ lên, nhưng thằng con bị sốt ác tính. Ở bệnh viện Thành thoại cho Xuyến nhưng máy hết pin. Xuyến gọi nhưng máy ò í e thuê bao quý khách… Nghĩ rằng chàng đã tình cũ không rủ cũng tới nên Xuyến cũng Hoạn Thư. Thành vừa lên Xuyến đã mè nheo khóc lóc, đang bực Thành có nặng một đôi câu. Xuyến chửi thề, xin thông cảm nghề tiếp viên nhà hàng nó vậy. Và không có chi nhanh quen cho bằng chửi thề. Giận quá Thành cho Xuyến bạt tai, vậy là cô xách dao lụi thiệt luôn. Nếu không trói lại Thành chết chắc. Nhưng sau đó Thành ỉ ôi năn nỉ. Đàn bà con gái mười cô hết một chục nghe tình òn ỉ là xuôi liền. Kẹt cái nhỏ Thắm nghe Xuyến kêu cứu khi bị trói nên chạy qua, và từ cửa sổ nó chộp lẹ một pô Xuyến bị trói dấu trong ai-pát của nó. Thắm đem thắng lợi nầy khoe với bà Ba lại hăm rằng Thành mà thượng cẳng tay với Xuyến là bức ảnh sẽ bay về nhà của Xuyến.
“Vậy sao đêm qua mày còn đánh nó? – Ông Ba gằn giọng – Con Thắm gửi tấm hình về dưới rồi, mày lo mà trốn đi. Anh con Xuyến mà lên là mày chết đó. Nhưng tại sao ra vụ đánh nhau mày nói tao nghe?”
….
“Sao mày khóc?”
“Buồn quá chú Ba. Đêm qua con tăng ca, nhưng đau bụng nên về lúc hai giờ sáng. Đến lúc đó mà Xuyến chưa về. Chú biết cô ấy đi đâu không?”
“Tiếp viên nhà hàng là vậy đó.”
“Không. Xuyến nói với con, hứa với con chỉ đơn thuần làm tiếp viên. Mọi chuyện sau mười hai giờ đêm cô ấy không bao giờ bước chân vào. Vậy mà…”
“Mày phải chấp nhận. Nó trẻ và đẹp. Kẻ có tiền thích cũng đâu có gì lạ? Còn nếu không muốn bị dối trá qua mặt thì xin cho nó đi làm công nhân.”
“Hoàn toàn không được chú Ba à.”
“Tại sao không?”
“Chú biết không Xuyến phải gửi tiền về cho cha má, và thậm chí anh em cô ấy dưới quê. Cha cô ấy rượu và mẹ nghiện bài. Anh em cũng bê tha lắm chú.”
“Trời đất ơi…”
“Dạ… ở dưới con chuyện nầy thường lắm. Chú đọc báo chắc biết nhiều gia đình có con gái chỉ chực chờ gã cho nước ngoài. Dạo nầy nhiều cô dâu xứ mình oan mạng nên họ có chùng lại. Dịch vụ bây giờ là kéo nhau đi làm tiếp viên. Chú thấy đó uống với khách, chiều chuộng một tí. Nghề nầy có đêm ngoài triệu bạc đó chú…”
Ông Ba thở dài:
“Tao cũng chả biết nói sao. Sống kiểu nầy làm sao trăm năm được hả Thành? Mày lo vụ tấm hình, đừng để…”
“Không có gì đâu chú. Chẳng ai thèm lên xứ nầy đâu. Họ cũng không đưa Xuyến về đâu. Cô ấy mà về thì tiền đâu để họ…”
Vậy nên Xuyến buồn. Buồn muốn chết.
Năm hết nhưng mùa xuân không đến với cô. Và cả Thành.
Nguyễn Trí

Ngày Xuân Sau Tết

tranvanle

Ngày ra Giêng rồi, gió rất êm, nắng ban mai ấm, nắng nghiêng nghiêng, bầy chim sẻ đã bay về đủ, nhánh liễu đong đưa mặc sức chuyền…

Ngày rất êm đềm, cỏ rất xanh và hoa như mắt chớp long lanh, lát đây hoa nở cười trong nắng, lúc đó chắc là em nhớ anh?

Hết Tết, đời không hết nhọc nhằn, đường xe xuôi ngược, bụi tung tăng…Ờ trong bụi đó bao nhiêu khói, bao tiếng thở dài gió dọc ngang?

Em trong đám bụi, anh trong bụi, hai dãy lề hoa cỏ bụi mờ, thi thoảng có người đi tản bộ, tay đùa nắng gió thấy rồi thơ?

Ra Tết, bài thơ còn chút Tết, em cầm lên chuyến bus em xa; cái gần: hoa mới rơi vài cánh, rớt xuống lề đường lại nở hoa!

Xứ Mỹ toàn hoa – Mỹ thật kỳ: cờ hoa như ngọc giát lưu ly, đường hoa như ngọc người vương vãi, ánh mắt người yêu chan chứa chi?

Anh biết là em sẽ trả lời: trong lòng em chứa nhớ thương thôi, miếng cơm manh áo đời xui khiến, nhớ lắm Quê Hương ở cuối trời…

Ở đây xứ Mỹ không toàn Mỹ mà triệu triệu người kết tụ nhau, da trắng, da đen, vàng với đỏ, đất lành chim đậu, nắng trên cao…

Hết Tết, ra Giêng, nắng thật hồng, tôi thèm nhìn nắng dọc con sông, con sông chở tuyết vừa tan đá, đá hóa thành mây trắng bập bồng…

Trần Vấn Lệ

MỘT MÙA XUÂN.

khatiemly
(Về muà xuân Ất Dậu 1789)

Ta bỗng thấy mặt trời nghiêng ánh lửa,
Vùng giang sơn nhỏ bé rạng huy hoàng.
Cả trăm ngàn hồn quân giặc than van:
Ôi khủng khiếp, một giống nòi uy dũng!

Tứng ánh thép, từng chiếc đầu rơi rụng,
Quân kỳ bay làm ngợp vía quân thù
Đống Đa một thuở,
Oanh liệt ngàn thu!
Ai gây hấn, mang hờn căm về nước?
Ai xâm loàn, cho xương ngất biên khu?

Áo vải cờ đào,
Hồ Thơm Nguyễn Huệ,
Ra chút uy linh , danh lừng bốn bể.
Lời ban ra, muôn tướng sĩ cúi đầu.

Sau lưng bạch tượng,
Ngàn vạn vó câu.
Quyết đem máu tẩy bao trang nhục sử.
Dựng mùa xuân hoa trăm sắc muôn màu

Trời cao ngân ngất,
Đất rộng thênh thênh,
Lũ chàng Tôn sao chẳng tìm đường chạy,
Qua chi sông Hồng cho xác nổi lênh bênh?

Hồ Thơm Nguyễn Huệ,
Áo vải cờ đào.
Người đã tạo một mùa xuân vĩ đại,
Cho bây giờ và mãi mãi về sau
Áo vải cờ đào,
Hồ Thơm Nguyễn Huệ.

Vó ngựa rung rinh trời phương bắc
Ánh gươm mờ mịt mấy tầng sao
Ngàn năm dấu ngựa dù rêu phủ,
Mà nước sông Hồng vẫn đỏ au!

1963
Kha Tiệm Ly