THƯ GỬI NGƯỜI CHỒNG CŨ

huongthuy

Mình biết nhau từ thời mới lớn, cùng đi trên một con đường đến trường, chỉ khác lớp. Gặp nhau có cười – cùng xóm mà – nhưng không thân.Tuổi dậy thì có nhiều rung động nhưng không cùng tần số. Bên ni biết bên tê “ bồ” ai.
Anh nghèo – Lạ thiệt, em quen ai cũng nghèo – Cha chết năm Mậu Thân 1968, tìm ra xác ở Thành Lồi sau ba tháng .Từ Huế , anh ra Quảng Trị nhờ ông chú nuôi dưỡng. Nhà ở trong xóm Hói, đi học trời lạnh chỉ có cái áo khoác mong manh.
Con nhà nghèo thường học chăm. Anh thuộc loại cần cù, chịu khó. Mặt xương ,ngực lép do thiếu ăn. Em nhìn thấy tội. Nhưng phải công nhận anh có đôi mắt đẹp.
Năm 1972, mùa hè đỏ lửa, trường Nguyễn Hoàng tan tác. Nhà em chạy vào Đà Nẵng , ở trại tạm cư bên Non Nước một thời gian rồi chuyển về đường Đống Đa. Em thi đậu vào Đại Học Sư Phạm Huế. Ba và anh chị thương con út, gởi vào Internat Jeanne D’Arc của các Soeur dòng Saint Paul, một cư xá thuộc loại quý tộc. Ăn có người dọn, giặt ủi có người lo, thậm chí buổi chiều có cả gouter. Em học thêm tiếng Pháp với Soeur Madelaine. Cuộc sống hồn nhiên,vô tư lự.
Em gặp lại anh ở Huế. Anh học trường Luật. Mặt mày sáng sủa nhưng vẫn phải sống nương nhờ vào bà dì đại lý gạo ở đường Quỳnh Lưu. Mạ và các em sống trong ngôi nhà tranh ở làng Đốc Sơ ngoài cửa An Hòa. Mình hỏi thăm nhau như những người bạn cùng xóm, cùng quê. Anh vẫn có một chút mặc cảm trước em. Mỗi mùa hè, em bay về Đà lạt. Ở đó có anh chị của em , có người yêu em…
Có một lần, em tình cờ bắt gặp người yêu em đi cùng một cô gái trên chuyến xe đò An Cựu trong đợt công tác CTCT ở Quân khu I. Lòng kiêu hãnh của em bị tổn thương. Anh ấy cũng không kịp giải thích. Em cắt thư từ. Em đi chơi với Kim Chi, Tường Vy, với nhóm quý tộc…Tất cả những nơi sang trọng ở Huế đều có dấu chân em.
Em lại gặp anh. Em biết anh có tình cảm với em. Anh tháp tùng em cùng Ma soeur Chantal trên chiếc xe Jeep của Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc điều phái ra Quảng Trị theo lời xin của em với ông anh kết nghĩa. Chúng ta đã đến căn nhà xưa của em, đã ngậm ngùi nhìn đống gạch ngói đổ nát. Chúng ta nhắc tên những người hàng xóm cũ. Chúng ta xem trao trả tù binh trên sông Thạch Hãn . Em có đến thăm anh ở căn nhà của bạn anh trên đường Nguyễn Công Trứ nhưng sau đó chúng ta chia tay nhau.
Năm 1975, em bước xuống cuộc đời. Nhà em hai anh rể và hai anh trai đi cải tạo. Ba em đã già, mất tiền gởi ngân hàng, mất luôn tiền hưu trí công chức chưa kịp lãnh. Nội trú xưa trở thành doanh trại quân đội nhân dân.Từ giã cuộc sống phồn hoa, em ở cùng bạn thân Kim Chi trong một căn phòng trọ đường Trương Định. Hai đứa ăn một suất cơm, phần gạo tiêu chuẩn bán đi lấy tiền chi dụng. Người yêu em “nghìn trùng xa cách”. Còn anh, thỉnh thoảng em gặp đi với một cô bé cũng dễ thương, ở đâu trong Thành Nội.
Em ra trường đổi về tỉnh Lâm Đồng. Không phải ngẫu nhiên mà em chọn đây. Đà lạt, thành phố tuổi nhỏ thân quen; Đà Lạt, nơi chị em đang sống; Đà lạt, dấu ấn mối tình đầu của em với cái nắm tay trong một đêm tối có tiếng rì rào của rặng thông trước hiên nhà.
Một lần nữa chúng ta gặp nhau. Có phải bàn tay định mệnh? Trường Luật bãi bỏ, anh vào Saigòn sống nhờ bè bạn, chuyển sang trường Kinh Tế. Ra trường cũng đổi về Lâm Đồng.
“Tha hương ngộ cố tri”, một hạnh phúc mà bài thơ xưa đã nói. Mạ anh đã mất, các em anh ly tán. Em bùi ngùi. Chúng ta thân nhau hơn. Em xác xơ với cái ngành sư phạm, quần áo rộng thênh. Anh thi thoảng được mua hàng tiêu chuẩn đặc lợi của ngành nhưng cũng chỉ đủ tiền đóng cơm tập thể và hút thuốc.
Rồi chúng ta quyết định lấy nhau.Từ tình yêu ư? Không hẳn thế. Do thời cuộc thì đúng hơn. Chúng ta không có những cuộc hẹn hò thơ mộng. Chúng ta cũng không có những bức thư tình ngọt ngào đằm thắm. Nhà cô người yêu cũ của anh chê anh “tứ cố vô thân”. Sau bao năm bặt tin, em cũng biết người yêu xưa của mình đã có vợ ở quê. Số mệnh! Thôi thì đành. Đám cưới của em không có xe hoa, không có pháo nổ, không có ảnh màu. Ba em thở dài, cho hai chỉ vàng làm vốn.
Chúng ta đã trải qua thời bao cấp khốn khó. Con chúng ta đặt tên Chou và Beurre. Nghe cứ như Tây nhưng thực sự đó là món ăn thường nhật của gia đình ta. Mãi đến bây giờ em còn phát sợ cái món su xào. Những lần về Sài gòn thăm chị , em xách theo ba kg trà khô lèn chặt để kiếm thêm chi phí. Những lần cơ quan kiểm kê, anh nhặt nhạnh giấy vụn về bán kiếm cho con hộp sữa Ông Thọ vàng khè. Chúng ta sống bình thường, cũng có những giận hờn nhưng không trầm trọng.Tất cả đều cắm mặt vào mưu sinh, hơi đâu mà cãi cọ khi tiêu chuẩn hàng tháng là 7 kg gạo hẩm và 3 kg bo bo. Gia tài của chúng ta là những đứa con và hai chiếc xe đạp. Em không hề than thân trách phận khi biết hai cô bạn thân của mình đều có được những ông chồng giàu có. Em dặn mình nhìn xuống chớ nhìn lên. Dù rằng nếu không sự thay đổi thời cuộc, chúng ta khó lấy nhau.

Bắt dầu có những biến chuyển về chính trị, về kinh tế. Đời sống dễ thở hơn. Với khả năng của anh, đã có con mắt xanh nhìn đến. Anh bỏ Ngân Hàng với cái phòng Kế hoạch qua Kho Bạc Huyện với Fonction Giám Đốc. Anh mừng, em vui. Con chúng ta có hộp sữa Liên Xô Simillac, rồi sữa Meiji của Nhật.
Nhưng từ đó anh cũng về khuya hơn, miệng nồng nặc hơi men. Ngôn ngữ, phong thái anh cũng dần thay đổi, thay đổi đến độ em ngạc nhiên nhưng nghĩ chắc nghề nghiệp tạo tính cách. Đàn ông Huế ai cũng có chút máu gia trưởng. Anh có lần bảo em, nếu có dịp về Huế sẽ cho gia đình người yêu cũ biết thế nào là thằng “tứ cố vô thân”. Em im lặng cảnh báo anh “Kho bạc nhà nước nhưng Tòa án nhân dân”.
Không chỉ dừng ngang đó. Những cuộc giao tiếp kéo dài với những quan hệ phức tạp. Đàn ông ai cũng có máu chinh phục, thích được ngợi ca, thích nghe những lời ngon ngọt, thích được người khác tôn vinh. Em thì ngây thơ. Hơn nữa nghề giáo, cứ nghĩ ai cũng nghiêm túc. Anh có những chuyến đi giao lưu, những cô em kết nghĩa và kết luôn tình. Đã có những lời đồn thổi đến tai em. Em nhớ lời giảng của Père Nguyễn Thế Huynh dòng Sulpice trong giờ Tâm lý học đường. Một người đàn ông nghèo khổ khi thành đạt, anh ta sẽ có hai khả năng. Một là anh ta sẽ vô cùng kỹ càng để chắt bóp; hai là anh ta sẽ tự tôn để giã từ dĩ vãng đời mình. Anh ở trạng thái nào đây?
Em không như những người phụ nữ khác. Hay là em chủ quan? Những người vợ thông thường chắc họ sẽ ghen tuông, khóc lóc , cấu xé, sẽ áp dụng các biện pháp thắt chặt. Đằng này, với cá tính kiêu hãnh em im lặng, tự ái, cười nhếch môi. Ôi chao ! Cái complex supériorité hay do một cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu???
Em không biết nhưng rõ ràng căn nhà gỗ chắp vá của chúng ta không còn là tổ ấm. Anh ít về nhà, có một căn phòng trên cơ quan và tuyệt đối em không hề bén mảng. Anh đã có điện thoại di động đem phô trương một cách buồn cười, tự hào biết hát Karaoke, nhậu rượu ngoại thay vì bia nặng bụng…Lâu rồi, chúng ta không còn ngủ chung. Anh có một chìa khóa riêng và em cũng không còn kiên nhẫn để chờ đợi thứ giờ giấc bất thường ấy.
Và cứ thế. Sợi dây càng lúc càng căng. Anh tự tôn, em tự ái. Em đã đọc được bức thư của cô em “ kết nghĩa “Nha Trang. Cô ta còn gọi điện thoại đến nhà. Em dững dưng. Lòng nguội lạnh. Cô ta đòi happy ending; anh muốn làm quân tử cứu vớt đời hồng nhan. Em biết anh từ những ngày ốm đói hàn vi ; cô ta biết anh khi chối bỏ quá khứ một cách phũ phàng. Muốn, em nhường!
Ba em đau, anh không hề quan tâm. Anh ở hẳn trên cơ quan. Ơn trời, anh chị ở nước ngoài gởi tiền về chu cấp, Ba không phải lệ thuộc vào ai. Có một lần Ba bảo với em “Hình như nhà con có tình nhân?”. Ôi, ba em vẫn giữ thứ ngôn ngữ lịch sự của một nhà giáo có nhân cách. Em tránh né trả lời. Anh xúc tiến việc lo cho cô em “kết nghĩa” nhỡ nhàng một chỗ làm.
Thái độ cao ngạo của em như chọc tức anh. Cả tỉnh lẻ biết anh có bồ. Em lặng lẽ đi về mặt nhìn đất hoặc nhìn trời. Không tâm sự , không than van.
Ngày ba em mất, anh không có mặt. Đám tang cử hành, anh không chít khăn tang.Thiên hạ đàm tiếu, anh giải thích sao đó, em không quan tâm. Bao uất hận em chôn kín trong lòng. Anh xử sự như một tên vô văn hóa và gia đình em không bao giờ chấp nhận. Tháng sau ta chính thức chia tay. May mắn là ba em đã không còn thấy để đau lòng. Cuộc ly hôn lặng lẽ. Do quen biết chúng ta chỉ ra tòa một lần. Các con ở với em như một sự tất nhiên và em cũng cay đắng mà hiểu rằng vì sao anh không giành giật. Ba tháng sau anh lấy vợ. Đám cưới ở Nha trang, chắc chắn là to hơn cái đám cưới nghèo nàn trong quá khứ mà anh đã không đủ tiền mua cho em một cái nhẫn. Anh cũng khá khôn ngoan khi không tổ chức trong cái thị xã này.
Em khô nước mắt,ghi một câu trên bàn làm việc: “Revenge by work,work and work “.
Ngành giáo dục cũng có những thay đổi. Cái mà người ta hô hào cải cách chính là cái mà em đã học, đã am tường thời cũ. Em viết những bài nghiên cứu về đổi mới sách giáo khoa, đổi mới chương trình. Em được chú ý với những bài tham luận phê phán cách học, cách dạy duy ý chí. Em được mời tham dự các hội thảo khoa học trên toàn quốc. Và em nhận ra rằng mình phải có một cái học vị với đời và cũng để mưu sinh.
Biết bao nhiêu khổ cực mà em đã cắn răng chịu đựng. Sau những buổi học, em đón chuyến xe đêm đi về nhà, giặt đống áo quần lớn, kho cho con một nồi thức ăn rồi trở lại trường , vào thư viện nghiên cứu đề tài mình bảo vệ.
Và em đã đạt được điều em muốn. Luận án có điểm cao nhất.
Em , người đàn ông trong thân xác người đàn bà. Em, cây liễu không núp được bóng tùng quân đành tự mình trở thành cây thông trong gió bão. Với mối quan hệ tốt em có thể về Sài gòn dạy một trường Đại Học như có giáo sư đã đề nghị. Sau bao đêm suy nghĩ, em đã quyết định ở lại đây để ngạo nghễ nhìn anh và nhìn đời.
Cùng môt lúc em dạy bốn trường: công lập, bán công, dân lập và trung tâm giáo dục. Em mở thêm ba cours luyện thi Đai học. Ăn toàn cơm hộp và fast food cho qua bữa. Có những buổi từ trường về, em nằm xoài ra giường 15 phút để thở rồi trở dậy dạy, dạy và dạy…Bây giờ nghĩ lại em còn rùng mình, không hiểu mình tìm đâu ra sức lực. Hay nói cách khác em không dám đau. Em vắt kiệt sức mình để chứng minh không có anh, em vẫn sống tốt.
Trời thương. Em dạy nhiệt tình , có uy tín, ra đề trúng tủ, phụ huynh tin tưởng gởi gắm, học sinh càng lúc càng đông, chỗ ngồi chật kín. Có tiền em vẫn không dám tiêu vì dư âm những ngày cùng khổ đè nặng. Em mua miếng đất nhỏ hộ thân.
Rồi thời buổi kinh tế thị trường, đất lên giá. Em đổi miếng nhỏ mua miếng lớn, đổi miếng xấu qua miếng đẹp, từ một miếng lên hai miếng… “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ “ hay hương hồn ba mẹ phò trợ, em thoát cảnh “Chạy ăn từng bửa toát mồ hôi”. Em mua căn hộ nhỏ ở Quận I Thành phố cho hai con học Đại học; em đập căn nhà chắp vá từng là tổ ấm của đôi ta để xây nhà mới. Và em là một trong những cô giáo đầu tiên mua xe hơi trong thành phố này.
Em hận anh vô cùng. Em làm là để trả hận. Mỗi lần cầm xấp tiền trong tay em nhớ lời anh nói với anh trai em “Không có tôi, bà ấy sẽ lê la đầu đường xó chợ”; em nhớ những lời anh đi thanh minh thanh nga sau cuộc ly hôn. Anh là đàn ông mà sao không có cái trượng phu khí phách; em nhớ đến món nợ em phải trả ngân hàng khi anh đi cầm cái sổ nhà để lập tổ uyên ương. Chồng cũ của em, anh còn nhớ chăng anh??? Ngày em biết mình trọng bệnh, em đã lập một cái di chúc có dòng chữ in đậm “Khi Mẹ chết tuyệt đối không cho Ba có mặt ở đám tang”.
Đám cưới con trai dù đau nhưng em rực rỡ với nụ cười mỹ mãn. Mọi chuyện đều do em thu xếp. Anh chỉ là nhân vật phụ.Trưởng nam của chúng ta đó. Cháu đích tôn của dòng họ anh đó nhưng anh không thể tổ chức ở nhà mình như em đề nghị. Em chủ động cầm tay anh đi lên khán phòng. Mọi người vỗ tay khen em lịch sự như quý bà mà không biết chân em đang run rẩy vì bệnh .Em cố đứng vững với những cơn thở dốc. Nhưng cái em muốn là anh phải thấy sự thành đạt của em. Em muốn anh thấy sự sai lầm của mình. Em muốn anh nhớ lại thứ ngôn ngữ cay nghiệt như của một poissonnier mà anh đã từng buông thả. Bao giờ em cũng vẫn lịch sự hơn anh.
Trong cái xã hội “Đảng làm chủ” thì cái lí lịch đen ngòm của anh là rào cản lớn. Ba lần thẩm định vẫn không giúp anh tồn tại trên ghế Giám đốc. Anh chỉ là một trái chanh bị thải loại sau khi vắt cạn kiệt. Anh về hưu non, ngôn ngữ nhuốm màu bất đắc chí. Phải chăng theo thuyết nhà Phật gọi là “Quả báo nhãn tiền”?
Sỹ diện của một người đàn ông khiến anh không nói ra nhưng em biết chắc anh đã ân hận. Anh không còn chê bai em nữa. Anh đã khen em với người khác. Anh đã cười với em một nụ cười ngượng ngập. Nhưng tim em đã chết.
Gần hai mươi năm.Thời gian như nước trôi qua cầu, cái gì mà chẳng cũ. Cô vợ mới của anh chắc cũng cũ theo tháng năm. Đã có lúc em muốn hỏi cô ta “Có hạnh phúc không em?”nhưng nét mặt sầu thảm của cô ta đã là câu trả lời. Câu hỏi của em có thể trở thành sự mai mỉa.
Anh không có con với người vợ mới. Các con dù ở với em nhưng sợi dây huyết thống vẫn ràng buộc. Chưa bao giờ em ngăn cản hoăc phản đối chuyện các con chu cấp và trả cả nợ cho anh.Em vẫn tự hào chúng là những đứa con có hiếu.
Các con rồi sẽ bay xa. Chỉ còn lại em với nỗi ngậm ngùi. Em đã hy sinh tất cả những gì mình có, kể cả cuộc hôn nhân có thể diễn ra với một gentleman luôn theo dõi cuộc đời em gần hai mươi năm. Anh đã làm em “Kinh cung chi điểu”. Em không dám mạo hiểm. Đêm đêm em chỉ có thể sống đẹp với mối tình đầu qua hồi ức.
Chúng ta đều đã già. Lục thập nhi nhĩ thuận. Em không hận anh nữa. Tout homme est sujet à l’erreur. Em cũng đã có những sai lầm.
Chồng cũ của em. Đêm qua em đã châm vào lửa bản di chúc cay nghiệt ấy. Em đã thật sự buông xả. Dù sao anh cũng là ba của những đứa con em. Dù sao em cũng cám ơn anh đã giúp em tự khẳng định mình.

Hương Thủy

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Hai tháng sau thử việc với củi chẻ và mài dũa lưỡi cưa, dao rựa nó được cho qua xẻ gỗ bìa, xẻ bốn mặt lóng gỗ tròn thành khối vuông. Cây đốn hạ xuống, chọn khúc thẳng và tương đối tròn đều nhau cưa ra từng lóng. Lóng ngắn nhứt phải hai thước tư, trên thì ba, bốn năm sáu và dài nhứt là tám thước. Hơn nữa khó có cách đưa về, với lại tám thước là đã dài, nhà làm tám thước là lớn lắm rồi, thả đòn tay, rui mè là đủ, trính suốt cũng vậy tám thước là cùng. Cây cưa ra từng lóng rồi canh búng mực bốn đường, sau đó đóng cọc xuống đất, neo con đĩa từ lóng gỗ vô cọc cây giữ lóng cây cho chặt, con đĩa làm bằng sắt gân đặc ruột cỡ phi mười hai, mười bốn, bẻ thành chữ u dài chừng bốn tất, hai thanh chữ u ngắn thôi, chừng năm phân mài nhọn sắc bén để đóng được vô cây cứng, xong là theo đường mực mà cưa ra. Có bác Hai Liên uống rượu ác chiến mà làm cũng ác chiến, thế thần đưa lên xe hay qua dốc là số một, bác không cưa được, bác chỉ đẽo bỏ phách bìa bằng rìu và làm một mình, bởi còn lại thì không ai đẽo giỏi.
Nó mon men lại chỗ bác Hai Liên:
“Bữa nào bác Hai chỉ con đẽo với”.
Bác Hai lắc đầu:
“Thôi, bây học cái này làm chi, đẽo bây giờ xưa lắm rồi, cưa cho nó tiện”.
Nó chỉ mấy vết sẹo dài trên chân bác Hai:
“Bác hai chinh chiến nghề này chắc lâu lắm rồi?”.
Bác Hai cười:
“Ờ, tao làm mấy chục năm rồi hồi cũng cỡ bây bây giờ, mấy sẹo lớn nhỏ là từ rừng ra hông đó, cái dài này là lưỡi rìu nè, hôm đó sơ ý quất một cái bị trợt, may là chưa đứt ống quyển, mất mấy tháng mới lành”.
Nó đã biết hít hà, phả khói thuốc lá. Mọi người chia nhau từng điếu thuốc Hoa Mai, Đà Lạt, hết thì cùng bóc lăn xe, lâu lâu được điếu thuốc thơm có đầu lọc Samit hay Scott. Đội quân làm ở đây đâu ít người nhưng nó hiếm khi thấy có cãi cọ chỉ chia sẽ cho nhau là chính, cằn nhằn chút đỉnh thì làm sao tránh khỏi nhưng to tiếng thì không. Ai nấy lầm lũi làm, có lẽ không ai muốn vậy vì dễ gây nhớ lại quãng đời đã qua, họ muốn chôn vùi quá khứ có phần tăm tối này.
Và nó cũng đã biết nhâm nhi ly rược gạo. Tối tối sau bữa cơm, ở lán trại tập trung hết lại ai cũng lai rai, lai rai ít nhứt vài ly để dễ bề vùi giấc ngủ, khỏi phải suy nghĩ mệt đầu.
Chú Ba Tỷ để ly rượu tới vòng hơi lâu, chú đang nghĩ ngợi gì đó, bác Hai Liên khều chú Ba:
“Làm gì mậy Ba Tỷ, nhớ nhà hả?”.
Chú Ba Tỷ lấy ly uống ực, chẳng nói chẳng rằng chuyền ly qua. Anh Tư cà lăm cà một tràng:
“Ổ…ng… ổng … ổng… mà… mà nhớ… nhớ mẹ gì”.
Chú Lâm lên tiếng:
“Ờ, thằng Tỷ này lạ hen, từ lúc tui vô đây tới giờ, tính ra cũng bốn năm rồi chớ ít đâu, tui chưa thấy nó về lần nào, ai về nó chỉ gởi tiền về cho con cái”.
Chú Ba Tỷ thở dài:
“Thằng Tư cà nói đúng, nhớ làm mẹ gì”.
Bác Hai Liên chậm rãi:
“Có gì mày nói ra cho nhẹ lòng, chứ giữ khư hoài càng ngày nó càng bức bí, mệt mỏi thêm, ở đây coi như người nhà, anh em con cháu chớ ai đâu xa lạ”.
Chú Ba Tỷ cạn ly vòng, rót uống thêm ly nữa, chú nói nhát gừng:
“Tui chẳng muốn về, về tui giáp mặt con vợ tui muốn điên liền, tui chém nó chết”.
Chú Lâm vỗ vai chú Ba Tỷ:
“Bình tĩnh chút nghen mậy, ai cũng có nỗi niềm, tao cũng vậy, nhưng còn con còn cái”.
Chú Ba Tỷ hậm hực:
“Tui biết vậy nhưng chẳng kềm lòng với loại đàn bà lang chạ”.
Bác Hai chậm rãi khuyên tiếp:
“Thằng Lâm nó nói đúng, còn con còn cái, với lại tao ở thăm thẳm trong này chớ tao biết chuyện ngoài đó hết ráo nghen mậy, từ ngày mày bắt con vợ mày làm bậy nó quỳ lại xin mày tha thứ tới giờ ân hận lắm, thui thủi tối ngày trong nhà trong cửa, lo cho con cái, đồ đạt món ngon nào trong này là một tay nó gởi vô đó, làm thằng đàn ông phải biết rộng lượng, ai cũng phải có một lần mắc lỗi lầm, dễ gì tránh khỏi, tụi nhỏ nhớ mày lắm, con nít cần tình thương cha mẹ chớ lơi lơi đâu có được”.
Chú Ba Tỷ im lặng. Bác Hai Liên nói tiếp:
“Mà tao nói thiệt tao thấy mày còn thương con vợ mày, mày hãy để thời gian xóa tan hết đi”.
Chú Ba Tỷ mắt rưng rức. Ông Bảy nói:
“Chuyện thằng Tỷ để nó suy nghĩ, còn thằng Ba lém giang hồ tứ chiến, nổi tiếng ngang dọc hông chỉ thị xã, ra cả mấy vùng lân cận ai cũng biết giờ gát kiếm vô đây coi như tu chí tao hông nói, hai thằng Thiện và Đức thì trốn nghĩa vụ quân sự, còn thằng Lâm mày sao tao chưa biết?”.
Chú Ba lém gục gật:
“Con xin bác Bảy, chú Hai và anh em ở đây chỉ biết vậy là được, một thời giang hồ chẳng có gì hay ho, lại tàn bạo nên con xin bỏ qua hông phải kể, để nó chôn vùi trong rừng rú”.
Bác Hai gục gật. Chú Lâm mân mê ly rượu:
“Tui gần giống như thằng Tỷ nhưng con vợ hông lang chạ, tui là lính chế độ cũ, mới ra trường bậc thiếu úy, bị đi cải tạo gần chục năm, ở nhà vợ hay tin đã chết trong trại, lấy chồng khác tui hông trách, hai đứa con thơ dại nuôi nấng sao đây, phải kiếm chỗ bấu víu, tui lù lù trở về thì đành thôi, hai đứa nó có thêm hai đứa con làm sao tách, tui chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng, chui vô đây chớ đi đâu”.
Anh Tư cà nghe lính ngày xưa khoái chí:
“Ông… ông… Lâm… làm… thiếu úy oai… oai lắm hen, đi… đi xe ríp… ríp hông chớ gì?”.
Bác Hai Liên hất đầu:
“Thiếu úy xưa hét ra lửa hén, mà nghe cải tạo cực lắm phải hông?”
Chú Lâm cười, nét cười chua chát:
“Cực lắm chớ sao chú Hai, thiếu thốn trăm bề, cũng lao động giữa rừng rú vậy nè nhưng còn khổ hơn, bị tinh thần, nhưng là kẻ thua cuộc mà, phải chịu thôi”.
Ông Bảy chỉ anh Thông:
“Vậy thằng Lâm là bên kia chuyến tuyến với thằng này”.
Anh Thông giãy nãy:
“Đâu có ông Bảy, con mới đi chiến trường Campuchia sau này mà, anh Lâm hồi trước rồi”.
Ông Bảy nói tiếp:
“Ý tao nói hai thằng bây phe này phe kia đó, giờ ngồi chung mâm”.
Bác Hai hỏi:
“Campuchia cũng ác liệt lắm phải hông Thông?”.
Anh Thông dạ:
“Dạ, kinh khủng lắm, giờ con còn ám ảnh, hông muốn nhắc lại, con may mới về được, biết bao xương cốt anh em còn nằm lại, hồn xiêu phách lạc, nhắc tới thêm đau lòng, chẳng ai quan tâm, đi mất xác hay về cũng vậy y như những đứa con lạc loài”.
Chú Lâm lắc đầu:
“Chiến tranh thời nào cũng vậy, ác liệt giết chóc lẫn nhau, tui cũng chẳng muốn nhắc lại làm gì”.
Nó xin qua tua, bác Hai ừ rồi nói tiếp:
“Thằng nhóc này vô đây chi mậy, thất tình bỏ đi nhà đi bụi hả?”.
Nó nãy giờ nghe ngóng, giựt mình đáp:
“Dạ, đâu có bác Hai, con còn nhỏ xíu biết gì yêu đương, con mới nghỉ học hông biết làm gì, vô đây làm kiếm tiền”.
Ông Bảy chỉ anh Tư cà:
“Thằng này mới thất tình nè”.
Anh Tư cà trợn mắt:
“Cái… cái …cái gì ông Bảy, tui thất… thất tình hồi nào?’.
Ông Bảy cười:
“Hông có hả mậy, tao nghe nói mày ngồi tâm sự với con nhỏ nào đó lúc đêm, mày nói, anh… anh… thương…. thương… em, mày kéo dài vậy trời sáng bảnh mất tiêu, con nhỏ mắc cỡ chạy ào đi, đâu trả lời trả vốn gì, mày tưởng nó hông thương, mày thất tình hông phải sao?’.
Anh Tư cà chỉ còn biết nhăn mặt:
“Ông… ông… Bảy này”.
Cả bàn nhậu cười rần với câu của ông Bảy, cũng là câu chuyện kết cho bữa nhậu khá khuya.

***

Gỗ dưới chân núi cạn dần. Bác Hai kêu tiến lên sườn núi.
Trên sườn núi cây gỗ tốt và to còn hàng hàng. Lên giữa sườn núi khá cao, bác Hai tìm được mấy cây gỗ trắc và cẩm lai đoán không bọng, đoàn ngừng lại cưa hạ. Cưa đứt cây gỗ lớn ngã phóng xuống ào ào như chiếc phi cơ thấy thất kinh. Tán lá rộng đi tới đâu là những cây nhỏ gãy ngang đổ rạp theo tới đó, nhìn như có một đường băng. Nó phóng xuống cả trăm thước mới chịu ngừng lại. Trên sườn núi cao nên cưa lóng ngắn, cây lại lớn nên xẻ nhỏ nữa chớ không để khối vuông lớn. Hạ cây và cưa xẻ chỉ khó khăn hơn dưới chân chút ít, nhưng đưa xuống mới là kỳ công. Đóng con đĩa vô một đầu dưới, cột dây vào con đĩa mà nhấc đầu cây kéo xuống, phải nhất đầu bởi sườn núi đá lổm chổm, đá nhỏ nó tuôn phi xuống vuợt qua ầm ầm, gặp đá lớn thì lao ầm vào bị cắm đầu, đứng lại, lại nhấc nhích lóng gỗ né ra và phải canh chừng nhảy né chớ không bị lao vào người. Nó nhớ lại vụ anh Thững nên không thể không cẩn thận với việc này. Xuống gần chân núi còn dốc lên xuống nhưng hết đá thì nặng trì đường đất, kéo muốn xệ vai, trầy da tróc vảy là chuyện thường tình, những lóng gỗ to phải lom khom xài tới con lăn…
Xuống hết sườn, tới chỗ xe bò vô được. Ngồi nghỉ chút trước khi quay lại đưa xuống tiếp, anh Lãm đưa nó điếu thuốc:
“Biết mùi gần hết rồi nghen mậy, thua gì trâu bò”.
Nó cười, quẹt lửa châm thuốc cho hai anh em:
“Sướng hơn chút đỉnh, hông bị oánh”.
Anh Lãm gục gật:
“Ờ, mà mới đó gần hai năm, lẹ ghê, chẳng lẽ mày muốn ở suốt trong này hả?”.
Nó nhún vai:
“Chẳng biết nữa anh ơi, tới đâu hay tới đó, anh thì có tính gì hông?’.
Anh Lãm chề môi:
“Tao biết tính gì, định về cưới vợ, mà sợ bị tó”.
Nó nhả một hơi khói dài:
“Cũng lâu rồi mà, bữa nào anh về dò la coi, êm êm thì cưới, mà cưới rồi anh làm gì?”.
Anh lãm hít sâu điếu thuốc, ém khói luôn:
“Thì tao quay lại đây làm tiếp chớ biết làm gì”.
Hai anh em quay đầu lên sườn dốc.

***

Nó về thăm nhà. Dự tính hai bữa trở vô. Má nó nói thằng Chí hai tháng nay, chiều tối thứ bảy tuần nào cũng ghé coi nó có về không, có chuyện gì đó muốn nói, thằng Chí đã lên huyện làm liền lúc vừa tốt nghiệp. Ở thêm vài ngày nữa chờ thằng Chí, không việc gì làm, nó lôi mấy quyển truyện cũ ra đọc lại. Sách vở đã dồn hết vào cái rương đóng chặt, nó nghĩ khó có bao giờ lôi ra làm gì. Ngấu nghiến hết Thằng Gù Nhà Thờ Đứa Bà Paris, Tereda, Tội Ác Và Trừng Phạt, nó lục lọi dưới đáy rương gặp được Nàng Iseult tóc vàng. Đang đọc thiên diễm tình đẫm lệ tới nửa chừng thì một tờ giấy rơi ra, cầm lên thì ra là tờ giấy chép bài thơ tình Vũ Hoàng Chương:
Mòn con mắt đợi cổng trường
Người ta về… các ngả đường xôn xao
Bóng ai nào thấy đâu nào?
Mây càng thấp gió càng cao…
Một mình…

Nét chữ chép bài thơ là của cô bạn học cùng lớp mà nó cho mượn quyển truyện, thực ra đâu cho mượn, cô bạn này mượn qua cô bạn ngồi kề nó thôi. Nó không thể quên được nét chữ này, cũng như gương mặt hay cả dáng đi dáng đứng. Nó cầm bài thơ mà người bỗng lâng lâng khó tả, lâng lâng như những lúc đứng từ xa nhìn cô nàng, nó đâu dám lại gần, lâng lâng khi thấy đôi mắt ấy quay lại nhìn rất lạ, cũng không thể tả được.
Trời sập tối thằng Chí từ trên huyện đạp xe về ghé nhà nó trước. Gặp nhau hai thằng mừng quá trời quá đất, cũng phải một năm rưỡi hai đứa mới gặp lại. Nó hỏi thằng Chí:
“Mày nhắn gặp tao có chuyện gì?”.
Thằng Chí nhìn nó:
“Chu cha, giờ ra dáng rồi nghe, có gân có guốc, chững chạc lắm, râu lún phún dữ nghe”.
Nó phì cười:
“Dáng cái con khỉ, tao cưa riết nên vậy, còn mày cũng cao lớn hơn nhiều, có khác tao, trắng trẻo mập mạp, đâu như tao đen sì”.
Thằng Chí kéo nó lên xe:
“Thôi, tao mày xuống chỗ xã có quán nhâm nhi trò chuyện tiếp”.
Nó gật đầu, nhảy lên xe:
“Ừ, mày cũng biết uống rượu rồi hả?”.
Thằng Chí cười:
“Biết lâu rồi, lên huyện vài bữa là biết”.
Thằng Chí đạp xe đi, nó nhớ lại thời còn đi học, rồi lại nhớ bài thơ rớt ra, nó hỏi:
“Ê mày Chí, mày nhớ nhỏ Hạnh lớp mình hông?”.
Thằng Chí đáp:
“Nhớ sao hông mậy, mày làm như lâu lắm rồi hông bằng, con nhỏ xinh gái lại học giỏi, mà tao thấy nó mếch mày đó, còn mày cũng mếch nó phải hông?”.
Nó gãi đầu:
“Mếch gì mày ơi, nó con nhà cán bộ, ở thị xã khá thấy bà ai dám…”.
Thằng Chí chọc:
“Xời, mếch nói mếch đại thằng quỷ ơi, bày đặt, con nhỏ mà mếch tao tao cũng mếch lại liền”.
Nó đấm vô lưng thằng Chí mấy cái, kể chuyện bài thơ trong quyển truyện rồi hỏi:
“Nói thiệt mày thấy nó mếch tao hả?”.
Thằng Chí cười ha hả:
“Thấy hông, dấu đầu lòi đuôi, nói chơi chớ tao thấy mếch mày thiệt, con nhỏ dễ thương, sao mày mới gặp nó à?”.
Nó buồn buồn:
“Gặp gì mà gặp, tao ở trong rừng rú suốt từ lúc ra trường tới giờ”.
Thằng chí tiếp:
“Bữa nào mày xuống dưới tìm nó coi sao?”.
Nó giãy nãy:
“Nói chơi nhắc chuyện cũ, nhắc kỷ niệm chớ sao được mậy, tao giờ có ra gì”.
Thằng Chí quẹo vô quán cháo lòng của cô Năm. Hai đứa vô quán bỏ lửng câu chuyện về cô bạn học. Sau này không gặp lại bao giờ nhưng với nó đây như mối tình chớm nở.
Kêu dĩa lòng thêm tô xí quách và xị rượu gạo, rót hai chung nhỏ nó đưa chung cụng cái cốp:
“Mừng hội ngộ, mày làm gì trên huyện?”.
Thằng Chí ực hết chung rượu:
“Mày nhớ hồi còn đi học tao đã viết lách, có đăng báo chút chút hông?”.
Nó gật đầu, thằng chí tiếp:
“Trên huyện có biết, tao học văn cũng khá nên cho tao phụ trách bản tin, bản tin có hai người làm thôi”.
Nó hất hàm:
“Chà, dữ nghen”.
Thằng Chí chề môi:
“Thường thôi mày ơi”.
“Làm khá hông?”.
“Cũng tàm tạm, lương chẳng đủ nhưng được khoảng này khoảng khác, đi công tác có chừng hai ngày chớ mấy, chia hai hướng là xuống hết xã, đi hai ngày hỏi đủ thông tin đóng đủ con dấu”.
Nó thắc mắc:
“Là sao?”.
Thằng Chí giải thích:
“Thì một chuyến công tác là một ngày, đóng dấu đừng ghi ngày, buột lươn lẹo chút mày ơi, đi hai ngày nhưng giấy tờ thanh toán thì mười lăm ngày, mười lăm xã lãnh đủ tiền tàu xe lưu trú, có dư chút tiền xài, rồi viết thêm bài ngoài chỉ tiêu, làm thơ làm thẩn có thêm tiền nhuận bút…”.
Nó gục gật:
“Sướng mậy”.
“An nhàn đỡ cực thân, bởi vậy tao mới rủ mày lên làm, trên huyện còn tuyển người, bữa tao gặp phòng tổ chức nói còn cần, tao kêu cho một chỗ bạn em, chị này nói được, tốt nghiệp mười hai là ngon rồi”.
“Tao biết làm gì”.
“Mày cứ lo bò trắng răng, người ta làm được mình làm được, nhiều người chưa hết lớp chín kìa, vừa làm vừa học hỏi thêm, à mày thấy hông mấy đứa tốt nghiệp lớp chín chớ mấy, hay mấy đứa lớp mình nghỉ ngang giờ làm thầy cô giáo hết rồi, khỏe ru đó”.
Nó chưa hiểu:
“Sao hay vậy mậy?”.
Thằng Chí lắc đầu quầy quậy:
“Đúng là mày ở trong rừng riết chẳng biết gì, bây giờ đổi mới rồi mày ơi, bớt khắc khe hơn hồi trước nhiều, đâu còn chế độ mua bán bằng tem phiếu, sổ gạo nữa mày thấy hông, ruộng đất cũng đã khoán trắng về cho bà con, ai có sức nhận bao nhiêu cũng được, đâu còn khống chế, chia nữa đâu. Còn vụ thầy cô, có đợt tuyển giáo viên cấp tốc, khóa học có ba tháng, có khóa một tháng hà, mấy đứa nó thành thầy cô hết chớ sao, đang thiếu giáo viên trầm trọng mà”.
Nó lơ mơ hiểu hiểu chút:
“Là vậy hả?’
Thằng Chí gật đầu:
“Mày làm hồ sơ đi, thứ hai đưa tao đi ký cho dễ, mấy ông ở xã giờ cũng ngán tao lắm, lạng quạng tao phang một bài là chết, tao nghỉ một ngày, thứ ba tao đem nộp, chắc chừng nữa tháng tao về báo cho làm gì ở đâu”.
Nó trố mắt:
“Thiệt hả mậy?”.
Thằng Chí nảy người:
“Tao nói giỡn sao, chắc chắn trăm phần trăm, mày bạn chí cốt tao tao hông giúp thì giúp ai”.
“Tao biết mày tốt với tao nhưng…”
Thằng Chí cắt ngang:
“Hông nhưng hông nhị gì hết, thứ hai đưa hồ sơ cho tao”
Nó đành gật đầu:
“Thôi cũng được, nhưng để tao vô lại trong đó chia tay với chú bác, anh em”.
Thằng Chí cười:
“Ai cấm mày, mày có nửa tháng mà, à mày cho tao đi với, tao vô tao viết về mấy lâm tặc này coi, xong kêu kiểm lâm bắt luôn – Nó cười ha hả rồi chợt ngưng bặt, trầm ngâm: Giỡn chơi vậy chớ ai muốn vô chỗ bần cùng nhứt này, để mang trên người cái tai cái tiếng, hoàn cảnh và cơm áo… à mà quên hỏi mày làm trong đó sao, đỡ hông?”.
Nó gục gật:
“Mày biết đó, ngày đêm đối mặt với rừng, chừng đó con người, ăn xong vác cưa vác búa đi, tối về sau khi ăn là làm vài ly xong lăn ra ngủ, ngày qua ngày cứ vậy, làm gỗ thì tiền khá, đâu có xài gì giữa rừng, tao có dư phụ bà già. À mà vừa rồi mất một vố khá đau, lâu lâu cũng bị bắt nhưng bắt ít, kỳ này mất trắng, tính ra công cán cả hai tháng trời”.
Thằng Chí nhíu mày:
“Mất nặng dữ vậy, kiểm lâm lùng tới nơi à?”.
Nó lắc đầu:
“Hông, đưa về nơi bán mới bị bắt”.
Thằng Chí ngờ ngợ, nó có nghe vậy đâu rồi:
“Bán ở đâu mậy?”.
“Bán cho công ty gì thuộc huyện đó tao hông biết nữa”.
Thằng Chí nhớ ra:
“Trời, bán ở đó hả mậy, chết rồi, bị gài rồi mày ơi”.
Nó ngỡ ngàng:
“Sao mày biết?”.
Thằng Chí gõ gõ tay xuống bàn:
“Bữa tao cũng có nghe ai nói mà quên, tao định tìm hiểu vụ này mà chưa xong, chưa có chứng cứ, họ bắt tay làm chuyện ác quá, dĩ nhiên đi làm rừng là trái phép nhưng họ đâu có ngăn chặn từ đầu, họ cứ để cho làm rồi bắt, bắt chia nhau mới đau”.
“Chia nhau cách nào?”.
“Chuyện là vầy, công ty thì thiếu gỗ để sản xuất, để xuất đi kiếm lời, vậy là họ bày ra mưa kế, thông báo ngầm sẽ mua gỗ của bà con giá cao, một hai chuyến đầu họ mua trả tiền ngon lành nhưng mua ít thôi, ai nấy đều khoái, thấy bán cho họ được quá, vậy là họ hẹn một ngày tập hợp hết lại, hẹn khuya để che dấu ý đồ, bà con chuyển gần tới là bị phục kích sẵn của kiểm lâm, họ bắt tay với kiểm lâm mà, vậy là bị bắt hết, kiểm lâm đóng búa, kiểm lâm hóa giá rẻ bèo cho công ty họ thành ra gỗ hợp pháp, gỗ hợp pháp xuất đi bán lời gấp mấy, sổ sách thì làm gì ghi lời nhiều, tiền dôi ra chia chác cho nhau, hôm họ xong vụ này kéo nhau ra quán lớn nhứt ở huyện ăn nhậu thâu đêm rần rần ”.
Nó lắc đầu:
“Hèn gì mất trắng, bữa bên tao mất gần chục xe gỗ, may tháo bò chạy kịp, gỗ và xe bò nằm lại, toán tao mất ba xe vậy, tội nghiệp mấy người chở mướn, chưa lấy tiền chở lại mấy cả xe, nghe đâu mấy toán khác còn mất cả bò, bỏ chạy mất xác chớ hông bị bắt đi tù. Thiệt nhiều người thất đức quá, chuyện này người trong đó mà biết chắc trả thù…”.
Thằng Chí lo lắng:
“Mày có nên kể hông, trả thù có được hông, tao thì hông có bằng chứng, chỉ nghe lại thôi nhưng tao biết chắc là vậy, chính người trong đó nói”.
Nó suy nghĩ hồi lâu:
“Thôi, trời cao có mắt, sẽ có quả báo, chớ để trả thù, đổ máu cũng đâu có gì hay, rồi cũng đâu có thoát khỏi tù tội…”.
Thằng Chí gật đầu:
“Vậy đi mày”.
Hai đứa uống đã hết lít rượu, ngà ngà và đêm đã tối, hai thằng ngất ngưỡng đạp xe về và ngêu ngao cho đỡ buồn.( còn tiếp)
***
LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

EM VÀ ĐAO PHỦ THỦ.

hochibuu

Ta không là cổ thụ
Kiêu hãnh giữa rừng xanh
Ta chỉ là lá cỏ
Đao phủ thủ. Sao đành?

Chém lút vào quá khứ
Một trái tim dại khờ
Chém sâu vào ký ức
Bằng nỗi buồn như thơ.

Ta đong đưa định mệnh
Thả nổi số phận mình
Em tình cờ trôi đến
Cập bến bờ lặng thinh.

Lá cỏ chờ mưa xuống
Hồng ân một giọt tình
Mây vô tình bay mãi
Cuốn mưa vào điêu linh.

Một chút gì sương khói
Lãng đãng quanh đời mình
Một chút gì mệt mỏi
Trong tận cùng vô minh.

Người yêu- Đao phủ thủ
Hãy chặt rớt đời ta
Bằng lưỡi đao máu lửa
Rồi mỉm cười. Hát ca…

Hồ Chí Bửu

ĐÊM DI LINH KHÔNG EM

trandzalu

Đêm Di Linh không em
Anh thở cùng đồi núi
Tiếng thở trong mưa vội
Nghe tấc lòng không yên

Đêm Di Linh không em
Anh che trời không nổi
Buồn cứ rót vào tim
Lời tình xa… thánh nữ

Đêm anh hùng cát cứ
Bại tướng đã lâu rồi
Miền cô đơn thăm thẳm
Nhớ mắt ai suốt đời

Đêm Di Linh có người
Ném mẩu tàn thuốc lá
Vào không trung xa lạ
Dụi mắt ngơ ngác cười…

Em là gì em ơi
Sao anh vác thập giá
Chịu đóng đinh giữa trời
Để quên người không nổi?

Ngủ chay mà cứ nhớ
Môi miệng lúc em cười
Sài Gòn , Sài Gòn phố
Em là gì em ơi?

Trần Dzạ Lữ

NGÀY NÀY – THÁNG NÀY… 35 NĂM TRƯỚC.

tachithan

Năm giờ sáng, tôi quyết định ra đi sau 6 giờ quần khắp vùng biển Qui Nhơn để tìm chiếc ghe taxi đón vợ con tôi mà không gặp… Trong lúc bạn ghe lo chặt neo, quăng lưới, dụng cụ… xuống biển, tôi đứng cạnh mạn ghe nhìn Qui Nhơn dần dần khuất xa. Nước mắt chảy dài… Vĩnh biệt vợ con, gia đình, bạn bè, quê nhà… Phải nuốt nước mắt mà đi thôi!!!
Trời sáng mới khám phá ra trên ghe không có một giọt nước uống hay lương thực (nằm trên ghe chở vợ con tôi bị kẹt lại trong bờ).! Họp chớp nhoáng với vài người “Tiếp tục đi hay quay lại?” Tất cả đều quyết tâm đi, quay vào là chết với chúng nó. Đến chiều tối, may thay gặp ghe đánh cá quen với chủ tàu, xin được một ít thức ăn và một tỉn nước uống kèm theo một chú nhỏ khoảng 15 tuổi nhảy qua ghe tôi “Con đi nghen ba”.
Chiếc ghe bé nhỏ với 16 con người cứ vậy theo hướng Phi luật Tân mà chạy. Qua ngày thứ ba, thứ tư ghe tôi gặp nhiều tàu lớn nhưng họ cứ dửng dưng chạy thẳng cho dù chúng tôi cố la hét cầu cứu, may mà gặp vài chiếc tàu đánh cá Đài Loan từ xa thương tình ném xuống một số lon đồ ăn và nước uống!!!
Buổi chiều hôm đó chúng tôi quyết định rượt theo chiếc tàu đánh cá của Đài Loan gần nhất để năn nỉ được cứu vớt… nhưng cứ hễ gần tới là nó rú máy chạy mất! “Trong cái khó nó ló cái khôn”, tôi cho ghe cột vào cái phao(câu cá lớn) tin rằng thế nào nó cũng trở lại để vớt rồi yên tâm tắc máy nằm ngủ… Nửa đêm, bỗng nghe tiếng máy tàu từ xa chạy tới, chúng tôi cùng đồng thanh la hét nhưng đã trễ rồi, một chiếc tàu cao to như cái nhà lầu ba tầng từ từ lừng lững chạy đến tông vào mạn ghe… Đèn pha trên tàu lớn rọi xuống xem xét, ném cho một thùng chai nước và lạnh lùng bỏ đi!!! Thành ghe bị bể nát hai thanh, nước bắt đầu rỉ vào, bây giờ tôi mới thấy “cái khôn và cái ngu” đôi khi nó cũng nằm chung một bộ não! Khui thùng nước phát hai người một chai, tôi ngửa miệng tu một hơi nửa chai… bỗng hai mắt trợn trắng tôi ngã vật xuống sàn ghe: Rượu đế trời ạ! Mấy ngày nay có gì ăn đâu… “Chưa có bao giờ được (say) như hôm nay” tôi thấy đang lạc vào động tiên… thấy mình đang rượt bắt một bầy tiên nữ xinh tươi, rượt cả ngày mà chả bắt được cô nào, mệt thấy mẹ!!!
Qua ngày hôm sau, ghe đang chạy bỗng từ từ dừng hẳn lại, do cái tông quá mạnh đêm qua cái chân vịt đã lìa xa động cơ F8 chìm sâu vào lòng biển cả!!! Và từ đó cứ “bềnh bồng như chiếc thuyền trôi – trôi nó trôi bềnh bồng”… Kiểm tra lại chỉ còn 12 lon bắp, đậu và một hủ nước khoảng 4 lít. Tôi bỏ vào hầm và ngồi suốt ngày đêm trên nắp, mỗi ngày chỉ xuất ra hai lon: trưa và chiều mỗi người một mỗổng nhỏ cho mỗi bữa kèm theo ba muỗng nước uống (cái khui lon đồ hộp hình như kèm theo trong bọc đồ ăn khi ghe Đài Loan ném xuống biển)… Cứ vậy yên ổn mà trôi…
Qua ngày “bềnh bồng” thứ tư… Sáng hôm ấy, trời yên biển lặng, bỗng chàng vai u thịt bắp đích thị dân biển… vớ con dao xấn tới kề vào cổ tôi đòi mở nắp hầm lên “Ăn hết rồi chết cũng được”… Không biết sao, lúc ấy tôi lại bình thản dễ sợ, nhìn thẳng vào mắt nó và nói “Giết tao đi rồi ăn”. Nó gầm gừ một lát rồi quăng dao xuống biển. “Tôi phải sống”, Dóc chó… nó mà nhẫn tâm xẹt ngang cái cổ là tiu đời thằng TCT rồi!!!
Ngày thứ 13… đã 3 ngày không có gì vào bụng chỉ một muỗng nước mỗi ngày, thay phiên nhau tát nước mà cứ như diễn viên đang diễn phim chậm! Đêm đó Bác họ tôi kêu mọi người ai còn sức thì lên ngồi nắm tay nhau lần cuối… Tôi nói:
”Dù mình có chết giữa biển khơi, mình cũng hưởng được cái khí trời TỰ DO”
Bác tôi nói:
”Lạy Chúa Thánh Thần – lạy Mẹ Maria… Cỏ dại ngoài đồng mà Chúa Mẹ còn cho hương cho sắc, huống gì chúng con, một lòng tin vào Chúa Mẹ mà sao nỡ bỏ chúng con giữa lòng đại dương?”
Và tất cả mọi người lương giáo đều theo lời bác mà AMEN nhiều lần.
Tôi thực sự kiệt sức… cả đêm cứ lảm nhảm “Huong ơi – Hân ơi!…” Gần sáng, bác tôi lại gần và nói:
”Bác thấy Đức Mẹ hiện ra và nói : 12giờ trưa nay sẽ đến cứu mình”
” Cầu nguyện tiếp đi bác”
Tôi nghĩ Bác mơ tưởng cũng như những ngày qua tôi mơ đang được ăn tô bún bò bà Cam, tô bún cá bà Hào, bữa cơm có thịt luộc chấm mắm thu bà Lâm Huế…
Vậy mà… Cái đồng hồ trên tay tôi còn chạy tốt chỉ đúng 12 giờ trưa, tôi la lên:
”Có tàu đang chạy tới kìa”
Cả 16 con người bừng vụt dậy như chưa từng bị… đói, tôi phải yêu cầu nằm xuống và rán giả đò như gần chết! Chúng tôi được cứu…
Ngày 17 tháng 3 năm 1981, sau 17 ngày lênh đênh trên biển chúng tôi được đặt chân lên đảo quốc Đài-Loan trong sự niềm nỡ lẫn thương xót và cưu mang từng miếng ăn, gia dụng, quà tặng cho đến khi chúng tôi đi Mỹ.
Tôi có hai lần được sinh ra… 1956 tại Việt Nam và 1981 tại TAIWAN R.O.C. Nhớ đời nhé, TẠ CHÍ THÂN.

941324_779756988821496_4722209616809669232_n

TẠ CHÍ THÂN.

NGƯỜI TỬ TÙ (TT)

khuatdau

2. Đêm hoang vu

Đêm không đen, đêm chỉ như mực tàu pha loãng và đêm nhẹ hẫng trong khi núi như nẩy vù cao hơn với những sống lưng gai sắc. Và oằn ẹo. Và kèn cựa. Và gầm rống như những con rồng đen đi tìm con khác giống. Núi xoạc cẳng xoạc chân hết sức hỗn độn sau những cơn động tình bải hoải.
Người tù thức dậy bởi sự huyên náo ầm ĩ tuy không trời long đất lở nhưng rền rĩ vang động tận tim óc. Trước mặt. Sau lưng. Bên trái. Bên phải. Núi và núi. Núi đứng nghênh ngang, núi ngồi chồm hỗm, núi nằm lõa thể, cùng ngóc cổ lên, chụm đầu lại để nhìn cho rõ cái sinh linh bé nhỏ là người tù đang ngơ ngác tự hỏi mình đang ở đâu, trên mặt đất hay dưới địa phủ.
Ý nghĩ đầu tiên buồn bã lướt qua đầu óc anh, vẫn là tù ngục, mặc dù nơi đây khác xa với cái ngục đá mà anh đã từng bị giam giữ. Anh thấy mình bị úp chụp bởi một chiếc lồng, tuy rộng lớn nhưng thực ra, còn đáng sợ hơn cái nhà ngục với tường cao hào sâu. Bởi ở đó, cái hy vọng vượt ngục cho dù bị tạt nước vẫn cứ âm ỉ như tro nóng và vẫn có thể bùng cháy thành ngọn lửa. Còn ở đây, làm sao anh thắp được chút lửa mong manh, trong khi núi non kheo khu cứ như lớn thêm từng phút từng giờ và mặt đất thì cứ tụt xuống sâu hun hút.
Anh buồn rầu nhìn lên đêm cao. Anh chỉ còn mỗi cách nhìn lên đêm cao, với bầu trời bị quây kín bởi núi đá như dưới lòng giếng sâu nhìn lên, ở đó hãy còn vài ánh sao yếu ớt, mệt mỏi đờ đẫn như mắt cá ươn. Anh mơ hồ nghe đêm tối vẫn dâng lên, dâng lên không ngớt như mặt biển tự bơm mình căng phồng, căng mãi cho đến khi nuốt cả các vì sao. Anh cảm giác như mình đang ngồi trên đầu một ngọn sóng và khi anh nhắm mắt lại cái cảm giác ấy càng rõ rệt hơn, đến nỗi có lúc anh tưởng như mình được nâng lên, đong đưa, chỉ một chút xíu nữa thôi là vượt qua những đỉnh cao, thoát khỏi cái ngục tù không một ai thèm canh giữ.
Anh ứa nước mắt tự hỏi tại sao mình lại có thể điêu linh và đơn độc như thế này. Anh quay quắt gần như phẫn nộ. Anh thôi nhìn lên đêm cao. Anh nhìn thẳng trước mặt và anh cảm thấy đau nhói trong tim như thể anh vừa bị ném vào vách núi, một cây gươm đá chờ sẵn đã xuyên thủng ngực anh.
Hụt chân từ ảo tưởng, anh rơi tòm xuống vũng lầy thực tại, anh rợn người khi nhận ra rằng cái cõi miền tịch liêu không xúc cảm này chính là nhà mồ của anh, một nhà mồ trống hoác giống như miệng con khủng long chẳng biết đến bao giờ mới ngậm lại. Chính giữa cái lòng chảo này, anh sẽ chết như đá tự đập vỡ mình ra sau khi đã để cho mặt trời nung chín. Và đó là số phận anh, một số phận nghiệt ngã, chính anh phải đày đọa anh, chính anh vừa là kẻ tội đồ mà cũng vừa sai dịch.
Và còn nữa, cái xác mà người ta đè anh xuống để buộc ngửa trên lưng, một cái xác xa lạ từ nay dính chặt vào anh như một cái bướu, tệ hơn, như một người em song sinh đã chết tự bao giờ. Anh cầm lấy một bàn tay căng bóng như chuối ngự đang thòng xuống bên hông. Anh bóp nhẹ, nghe mềm mềm, nhão nhão và anh hiểu rằng thịt đã chua, da đã bục, sắp vỡ ra hôi thối tanh tưởi đến buồn nôn. Và anh là một phu đòn, chỉ duy nhất một mình anh, nhọc nhằn đưa xác chết đi an táng trong cái huyệt mộ lớn rộng lộ thiên này.
Cái xác của ai đó trên mình tôi, núi đá trước mặt sau lưng tôi, mặt trời phun lửa đốt cháy tôi, những cực hình lạ lùng này vì sao tôi phải chịu? Và tôi phải chịu đựng đến khi nào? Anh nghe lạnh và một nỗi ngao ngán trộn lẫn hờn căm khiến anh gục xuống.
Một lần nữa, anh nghĩ tới cách kết thúc đời mình bằng cách đập đầu vào đá. Chỉ một cái húc mạnh, người anh sẽ cong lên, sẽ vỡ ra như đá vỡ. Và như thế, tất cả đều chưng hửng vô duyên.
Xác chết, núi đá, mặt đất và mặt trời đều chẳng là gì nữa cả. Một khi anh đã vỡ toang thì còn hành hạ anh thế nào được nữa.
Tự sát
Như thổi tắt một ngọn đèn
Như ngắt cụt một mầm cây mới nhú.
Tự sát là cách thế chiến đấu tiêu cực với chính số phận mình và trước khi để cho xác thân vỡ tan, mình vẫn có thể tự hào rằng, chính mình, không một ai khác ngoài mình, đã nuôi sống nâng niu thì cũng chính mình ra tay hủy diệt. Đó là cách làm chủ số phận mình một cách dũng cảm.
Tự sát, xem ra chóng vánh và dễ chịu quá đi, nhưng anh lại mơ hồ nghe ra có điều gì không ổn.
Điều gì vậy?
Hy vọng được cứu thoát chăng?
Ai mà đến được nơi này. Mà cho dù đến được liệu có thể đem anh ra khỏi cái vực sâu hun hút này chăng?
Vậy thì điều gì?
Anh không biết được, nhưng anh nghe đau xót tận tim óc mình, khi ý nghĩ tự sát thoáng qua lóe sáng như một đường gươm. Dường như từ thẳm sâu của tuyệt vọng, anh vẫn còn yêu thân xác mình và anh không muốn xác thân cùng ý chí lại hủy diệt nhau như một cuộc tương tàn. Vả lại, tự sát dù nhìn ở góc cạnh nào cũng là một cuộc đầu hàng và như thế là nghịch lý ngay cả với chính lòng can đảm. Một cuộc đầu hàng quá sớm hay là một sự hờn dỗi số phận cũng thế, cả hai đều bi thảm.
Anh lắng nghe từng nhịp đập hãy còn bồng bột của trái tim thơ trẻ trong lồng ngực ấm áp, tiếng dội ấm và trong, ngân nga như tiếng nhạc ngựa reo vui trong buổi chiều cuối năm và anh hiểu ra rằng anh đang sống, phải sống, mặc dù kể từ lúc này, sống được coi như một sự chịu đựng kiên khổ trước những nhục nhằn xô đẩy của cuộc hành hình.
Anh lại trông lên bầu trời, cố tìm cánh đồng sao quen thuộc của tuổi ấu thơ, và mặc dù, tất cả đã bị đảo lộn, mọi tên tuổi đã bị xóa mờ, những ngôi sao hiền từ vẫn còn đó, trái tim xinh đẹp và rực rỡ của của chúng vẫn đập dịu dàng như đang hòa âm, tất cả vẫn đang cất tiếng hát bằng một thứ ngôn ngữ diệu kỳ trong tiết điệu hết sức ngọt ngào, chỉ để riêng cho trái tim thơ ngây và đơn độc của anh hiểu. Chỉ riêng anh trong đêm nay thôi và anh cảm thấy yên bình tin tưởng như đứa bé đi lạc vừa tìm được mẹ.
Anh gối đầu vào lòng đêm, lắng nghe khúc hát mênh mông của đêm tối, của các vì sao và tự để cho mình chìm dần vào cõi dịu êm của giấc ngủ. Trong khi đó, những vị thần bay lượn trên cao, chiếc áo choàng dài và đẹp vướng phải những ngọn mác bằng đá, đã phải dừng lại. Nhìn xuống vực sâu, các vị thần ngạc nhiên sao lại có một cậu nhỏ nào lại đi lạc vào nơi khốn khó như thế này. Các vị đều ngậm ngùi, vì tự họ cũng hiểu rất rõ rằng, chẳng thể giúp được gì cho cậu. Các vị thần lại bay đi bỏ lại đêm tối sâu và rỗng như chẳng phải là đêm, mà là một ngày ở một cõi trời nào đó đang bị phủ kín bởi mây đen của ác mộng.

3. Dòng suối của ấu thời

Người tù thấy mình đang trên đường trở về nhà. Anh vui mừng nhìn những hàng cây cao lớn đang thân ái tỏa bóng mát suốt con đường anh đi. Anh thăm hỏi những bông hoa mới nở như những người bạn hiền. Đã có lúc anh muốn nằm xuống để hôn lên mặt đất nâu như hôn lên thịt da mát thơm của người yêu dấu. Anh đi một mình, nhưng anh lại cảm thấy như con đường quá chật. Anh có cảm giác phải chen dù rất nhẹ, để bước tới. Tại vì lòng anh hay tại vì cây cỏ cũng muốn theo anh về nhà? Anh nghe tiếng chim ca trên đầu mình và anh hiểu chúng cũng đang thân ái chúc mừng anh. Tiếng nước chảy mông lung đâu đó, tiếng của một con sông hiền hay tiếng của một dòng suối trẻ, làm anh nhớ tới ngọn đồi ở quê nhà với những dây leo dài như tóc. Anh cố bước nhanh hơn. Cây cỏ cũng hiểu được lòng anh nên đã mở rộng vòng tay để anh đi dễ dàng.
Ngôi nhà giống như một tổ chim nghèo nàn của lũ chim sẻ, nằm quạnh hiu ở lưng chừng một ngọn đồi ngập tràn những cỏ phấn hồng, đơn độc như tận cùng trái đất bé xíu và cũng đựng trong bầu trời xíu bé, những cây thông hắt hiu đứng thưa thớt dãi dầu như các bức tượng cổ buồn và phấn thông vàng vẫn bay đìu hiu trong hơi thở của người và thú
ngôi nhà thường khi rung rinh trong những cơn gió mạnh giống như một trái tim đang múa nhảy
ngôi nhà và những bậc đá xanh dẫn xuống con suối thanh tịnh và mặt đất ẩm ướt đầy mùi thơm của lá khô và nhựa cây
và những triền cỏ mênh mông trong tiết lập thu vàng rực
và những buổi sáng đầy sương mù lạnh, những buổi trưa nắng đổ lưa thưa
và dòng nước rù rì chảy qua những kè đá nhỏ
ở đó tôi đã thân thiết biết chừng nào
tôi mất mẹ
nhưng ngôi nhà đã là mẹ của tôi
ngọn đồi, mặt đất và dòng suối là cô dì chú bác tôi
tôi đã được thương yêu chở che từ tấm bé
tôi đã được ôm choàng dịu nhẹ bởi bầu trời sạch mát và bao dung
tôi muốn được sống thêm một ngày với lũ cỏ cây hiền hậu, được nhìn khói thổi cơm chiều bay lên, được nghe tiếng cãi nhau của nhái ếch, tiếng gáy so tài thiết tha của lũ dế
tôi đang trên đường về
xin cho tôi bước tới gần hơn
xin cho ngôi nhà được ôm lấy tôi một lần nữa
và cũng xin cỏ cây lân tuất lại được ôm tôi
xin được áp môi lên mặt đất sau cơn mưa
xin được phanh ngực ra đón làn gió rộng
chỉ một lần nữa thôi mà
tôi sẽ không nài nỉ kêu xin một điều gì khác
tôi sẽ lặng im và chết như hoa
rụng
Tôi đang nghe cơn gió dịu ngọt gọi tên tôi
tôi cũng đang nghe con suối gọi tên tôi
và ngay cả cỏ cây sỏi đá cũng không ngớt gọi tên tôi
ở đó, không phải ở đây
ở đó, bao giờ mặt trời cũng mọc lên như một người hàng xóm ân cần và tốt bụng, lúc nào cũng hỏi thăm hay chào nhau bằng những tia nhìn ấm áp và khi tam biệt cũng không quên để lại một ít bụi vàng
Tôi trông thấy cây cầu nhỏ quen thuộc uốn cong như hình mống trời, cái màu nâu đậm đà của nó vẫn in lên trong trí tôi, như hình ảnh yêu kiều của nó thường khi vẫn in lên nền trời, trong những hoàng hôn thanh tịnh
và làm sao mà chân tôi không run cho được, tôi hãy còn run như lúc nhỏ một mình đi qua trên mình nó, những khe hở cho tôi thấy dòng sông sâu thẳm bên dưới đang ngửa mặt trông lên cười khúc khích, cười mãi cho đến khi tôi vững chải bước đi trên đường, cũng hãy còn nghe tiếng cười ngân vang
tôi sẽ dừng lại ở cây cầu đó trong ít lâu bởi vì tôi đã từng thân thiết với nó cũng như nó đã từng thiết thân với dòng sông
tôi đã từng đứng trên mình nó như con chim sáo đứng trên lưng trâu nhìn về phía quê nhà mát tươi màu xanh dịu và thường khi tôi trông thấy khuôn mặt mình nằm giữa lòng sông sáng lên như một tảng đá
tôi cũng thường ngâm mình trong lòng nước ấm áp lắng nghe thân thể mình được vuốt ve tinh nghịch và âu yếm
tôi muốn được uống một ngụm nước mát từ lòng nó
tôi muốn uống nhiều ngụm
tôi muốn uống
cả một con sông đầy
Tôi sắp gặp lại những người tôi mến yêu, khi tôi đi vòng ngọn đồi từ tây sang đông để về nhà, tôi tưởng chừng như nghe thấy họ đang tươi cười vui vẻ gọi tôi, buộc chân tôi dừng lại cho họ vừa thăm hỏi vừa nhìn xem tôi đã cao lớn đến nhường nào, xem tôi xinh đẹp đến nhường bao sau những ngày xa cách, tôi cũng trông thấy những đôi mắt dịu dàng và nụ cười dịu êm của các thiếu nữ trong khu vườn hay trên sân nhà của họ
nhưng tôi sẽ bước nhanh qua khỏi xóm giềng lân tuất để chạy bay lên ngọn đồi tròn trịa nhỏ nhắn dễ thương
như trái vú trù mật của vợ tôi
tôi sẽ gặp nàng
lạy trời
cho tôi còn được gặp nàng
lạy trời
đừng xui khiến cho nàng phải đi đâu đó, chẳng hạn, như đi hỏi thăm tin tức về tôi rồi tuyệt vọng ngồi khóc đến nỗi lạc mất đường về
xin cho nàng hãy còn đứng trước sân với ngực phập phồng và ngã xuống đúng lúc đôi tay tôi kịp đưa ra nâng đỡ tấm thân mỏng mảnh
xin cho tôi được hôn nàng, một lần hôn cuối cùng san sẻ hết cả máu tim của tôi và nàng
em thân yêu
chắc em đã khóc rất nhiều kể từ ngày tôi bị bắt đi như thể đời sống của chúng ta bỗng dưng đã bị đánh cướp
em hãy mở mắt em ra như lá cây non hé mở trong đêm, xin hãy nhìn tôi, em nhỏ xíu và dịu dàng, em mênh mông và cao diệu, em hãy còn nhìn thấy tôi trở về may mắn còn hơn phép lạ, em hãy cười bằng tất cả niềm đau của những ngày héo úa, như lúa non khát nước gặp cơn mưa rào, hãy bừng sống mãnh liệt một lần trong đời, hãy hôn nhau bằng cái hôn của cả trăm năm, hãy nói với nhau một lời dài tới tận cõi chết
và sau đó
xin dâng tặng hết thảy cho đất trời
chúng ta không than khóc, không van xin, không nguyện cầu và mơ ước một điều gì nữa
chúng ta trở lại làm những đứa trẻ và chết như là lên đường về thăm quê ngoại
Tôi đã bước tới chân cầu
nhưng sao bỗng dưng tôi cảm thấy cây cầu cựa mình rồi vươn cao lên như sắp đụng trời
và điều gì vậy?
tôi nghe nhói giữa tim và tiếng kêu bi thống ở miệng tôi trào ra cùng máu ứa
tôi
rơi xuống
tôi thấy mình
đang rơi
xuống
tôi thấy mình
đang rơi mạnh mẽ
và cây cỏ vụt bay lên như một bầy chim hoảng hốt
và dòng sông bỗng cạn khô
và ngọn đồi dịu êm vụt đỏ chói như một trái tim đẫm máu khổng lồ
tôi
đang rơi xuống
một đáy vực
tôi đang nặng nề với một xác chết hôi thối ở trên lưng
và trên cao kia những vì sao hiếm hoi cũng đang lặn mất
tôi chỏng chơ nằm giữa mặt đất khê nồng
Tôi hiểu là chẳng còn gì
tôi hiểu tất cả bây giờ đã đành là nỗi hụt hơi
tôi mỏi mệt chờ mặt trời chổi dậy như chờ một khuôn mặt của phán quan.

KHUẤT ĐẨU

DẠ KHÚC MƯA

tranvannghia

Chợt ngã xuống đồi xanh lá cỏ
Mơ màng gặp lại thuở mười lăm
Có sương và khói về qua ngõ
Chở tím tương tư khúc vĩ cầm

Tiếng chim rưng rức trời ly biệt
Dột mái hiên thềm rêu đêm xưa
Ai hát hoài lang lời da diết
Để buồn dạ cổ rụng vườn mưa

Hẩm hiu theo gió đường thu quạnh
Vắng chuyến xe quen chở hoa vàng
Bóng nghiêng cuối dốc màu trăng lạnh
Bỏ mặc dặm trường mây quá quan

Lạc góc đời phai hương viễn phố
Gối tay đăm đắm mộng nhu mì
Sân trưa lơ đễnh mùi sách vở
Đời trẻ lăn tròn những viên bi

Đem nhớ về hong mùa cổ tích
Đoản ca lay lất cõi hồng trần
Tìm lại trăng thời trăng cô tịch
Ngọt lịm môi tình thơm dấu răng

TRẦN VĂN NGHĨA

NGÀY HÔM QUA SẮC ĐỎ MỘT MỐI TÌNH

linhphuong

Người đàn ông lạc đường
Biết lầm lỗi nên quay trở lại
Bàn chân tưa máu tươi ngày ấy
Vẫn hằn vết sẹo thời gian

Em không còn ngồi thắp đèn trăng
Soi ánh sáng cho anh tìm dìa chốn cũ
Cái nắm tay thương yêu trở thành quá khứ
Hôm qua-hôm qua người đàn ông ấy chết thật rồi

Em đóng sập cánh cửa ước mơ xa vời
Kiếp này chúng mình là chồng-là vợ
Như những người đàn bà cầm dao cắt sợi dây leo chùm gửi
Để hạt cát buồn vướng trong hóc mắt lo toan

Người đàn ông lạc đường
Đuổi theo người đàn bà tâm hồn đầy khuyết tật
Người đàn bà hoang tưởng nhan sắc
Thích ảo ngôn-nịnh hót-tán dương lời có cánh bay tận chín tầng mây

Biết lầm lỗi nên trở lại nơi này
Nơi chùm phong linh lanh canh trước gió
Em không còn ngồi thắp đèn trăng chờ đợi
Soi ánh sáng cho người đàn ông đừng thêm lần nữa đi hoang

Mặt đất đâu bằng phẳng- và Sài Gòn anh bước nhớ-bước thương
Bước khổ đau- hạnh phúc
Bốn mươi mốt năm dài phiêu bạt
Lạ lẫm từng góc phố – vỉa hè -từng hàng cây da diết khôn nguôi

Người đàn bà trên mọi người đàn bà của thằng cha Linh Phương ơi !
Thiên hạ nói anh “trăng hoa “ – anh “háo sắc” nhưng dù “trăng hoa “ hay “háo sắc “ em vẫn tin rằng trái tim anh nguyên vẹn
Của ngày hôm qua- ngày hôm qua sắc đỏ một mối tình
Đá nát- vàng tan- thiên trường- địa cửu…

LINH PHƯƠNG

Phận gương soi

sunyata

Virginia Woolf(1882-1941) là một nhà văn nữ nổi tiếng người Anh, bà được coi là một trong những nhà văn nổi bật nhất của thế kỷ 20. Sinh thời, Virginia Woolf là một nhân vật có tầm ảnh hưởng đối với giới văn chương Anh. Những tác phẩm của Woolf có đề cập tới sự bất ổn về tâm lý và những suy ngẫm về ý nghĩa của sự tồn tại.

Sinh thời, bà cũng thường phải chịu đựng trạng thái lo lắng, bất an dẫn tới suy sụp tâm lý. Những bi kịch trong gia đình càng góp phần làm nặng thêm những rối loạn tâm thần ở bà. Thế chiến II càng khoét sâu vào sự bất an thường trực khi chứng kiến thành phố London yêu dấu bị tàn phá. Cuối cùng, Woolf quyết định tự tử.

Không nên treo gương soi trong phòng, cũng như không nên để cho người khác thấy nội dung cuốn ngân phiếu của mình hay thư từ thú nhận tội ác tày trời nào đó. Ta không thể nào mà không nhìn vào chiếc gương soi cao treo ở ngoài tiền sảnh. Cũng có chút tình cờ. Ngồi thật sâu trong ghế sofa ở phòng khách, nhìn vào gương soi, ta không chỉ thấy chiếc bàn với mặt bằng cẩm thạch, mà còn thấy cả một quãng của khu vườn phía xa xa. Ta có thể thấy lối cỏ dài len lỏi giữa hai bờ hoa cao cao, kéo mãi cho tới khi cắt góc, thì đường viền mạ vàng của gương soi mới dứt mất.
Ngôi nhà trống vắng, và vì là người duy nhất trong phòng khách, ta cảm thấy mình giống như một nhà thiên nhiên học nào đó, đang đội lốt lá cỏ, nằm dài để quan sát những con thú rụt rè nhất đang tự do di chuyển. Căn phòng vào buổi xế trưa hôm ấy cũng đầy những sinh linh rụt rè như vậy, những ánh sáng và bóng đổ, màn cửa lộng gió, cánh hoa lả tả – những điều dường như chưa bây giờ xảy ra, nếu ai đó thử nhìn vào. Căn phòng thôn dã cũ kỹ yên bình với những tấm thảm và mặt tiền lò sưởi bằng đá, với những kệ sách võng oằn, với tủ sơn vàng và son, cũng đầy những sinh linh u ẩn ấy. Chúng xoay xoay qua sàn nhà, với những bước cao chân tao nhã, đuôi xòe ra, mỏ mổ gió, chừng như chúng là bầy cò hay hồng hạc thanh tao với màu lông chớm lạt phai, hoặc như chim công với bộ đuôi phủ mờ ánh bạc.
Nhưng ngoài kia, chiếc gương đang phản ánh cái bàn ở sảnh, chiếu hoa hướng dương, rọi lối đi trong vườn thật chính xác và chắc chắn đến nỗi dường như chúng bị giữ chặt trong thực tại của mình mà không thể nào lẩn trốn được. Thật là một sự tương phản lạ lùng – ở kia thì tất cả đang biến chuyển, ở đây lại tĩnh tại. Ta không thể nào không lần lượt liếc nhìn ở đây rồi ở kia. Trong lúc ấy, vì tất cả cửa sổ cửa cái đều mở toang cho mùa hạ, cho nên có một âm thanh liên lỉ từng hồi thở dài và ngưng nghỉ, tiếng nói của nỗi phù du và héo úa, hình như vậy, rồi đến rồi đi như hô hấp của con người, đang khi đó trong gương kia, mọi thứ đã ngưng thở và nằm yên giữa cơn mê sảng trường sinh.
Cách nay nửa giờ, nữ chủ Isabella Tyson mặc áo váy mỏng mùa hè, lần xuống lối cỏ, mang theo cái giỏ, sau đó mất hút vì hình ảnh đã bị viền vàng của chiếc gương xén gọn. Chừng như cô xuống vườn dưới để hái hoa; hoặc muốn chắc ăn hơn nữa, là giả định cô xuống để hái chút gì đó vừa nhẹ tênh vừa huyền ảo, vừa rườm lá lại vừa lất lây, như hoa ông lão, hoặc một trong những chùm bìm bìm tao nhã uốn mình quanh những bức tường thô, để thỉnh thoảng òa vỡ thành từng đóa trắng đây tím kia. Ta toan nghĩ rằng cô là nhánh bìm bìm rập rờn kỳ ảo hơn là loài cúc sao thẳng thớm, cúc zinnia như đơ hồ, hoặc ngay cả khóm hoa hồng đang cháy bỏng trên cây, trông như những ngọn đèn trên trụ đứng.
Sự so sánh chứng tỏ rằng, sau từng năm tháng ấy, người ta ít biết về cô đến nhường nào; bởi vì không thể nào một phụ nữ bằng xương bằng thịt vào độ ngũ tuần lục tuần như vậy phải thực sự là một vòng hoa hay chỉ là tua dây leo. Loại so sánh như vậy còn tệ hơn là rỗi hơi và nông cạn nữa, thậm chí tàn nhẫn, bởi vì sẽ tựa như hoa bìm bìm đang run rầy kia đem so với thực tế. Phải có sự khớp khít, phải có một chỗ dựa chứ. Cũng thật lạ là đã quen Isabella sau từng ấy thời gian, ta lại không thể biết sự thật về cô; ta vẫn buông ra những câu kiểu như hoa bìm bìm và hoa ông lão. Muốn thực tế, thì thực tế rằng nàng là một bà cô; rằng nàng giàu; rằng nàng đã mua ngôi nhà này và chính tay nàng đã thu thập những tấm thảm, ghế bành, tủ nhỏ mà giờ đây đang sống một cuộc sống âm thầm trước mắt nàng. Đôi khi dường như chúng biết về nàng nhiều hơn là chúng ta, trong khi chúng ta vẫn thường xuyên ngồi trên ghế hoặc đi trên thảm ấy.
Ở mỗi tủ nhỏ như vậy có nhiều ngăn kéo, hầu như mỗi ngăn đều chứa thư từ, được bó lại bằng dải nơ, được rắc lên nhiều mảnh oải hương hay cánh hoa hồng. Vì có một thực tế nữa – nếu thực tế là những gì ta muốn có – rằng Isabella từng gặp gỡ nhiều người, kết nhiều bạn bè; và do đó nếu đủ táo bạo mở một ngăn kéo và đọc thư của nàng, ta sẽ bắt gặp dấu vết của nhiều bối rối, của nhiều hẹn hò, nhiều hờn trách khi lỡ hẹn, những bức thư dài thật thân thiết mến thương, những bức mãnh liệt của đố kỵ và trách cứ, những lời khủng khiếp sau cùng của chia phôi – bởi vì những gặp gỡ và hẹn hò kia chẳng dẫn đến đâu cả – nghĩa là, nàng chưa bao giờ lập gia đình, và rồi đó, xét thấy sự dửng dưng như chiếc mặt nạ của nàng, ta sẽ biết rằng nàng đã trải qua những say mê và kinh nghiệm nhiều gấp hai mươi lần hơn ai kia từng lu loa về các mối tình của mình cho cả thế giới biết. Bị căng thẳng do nghĩ sâu về Isabella, căn phòng của nàng mang nhiều nét biểu trưng ẩn dụ hơn, trong góc tối tăm hơn, các chân bàn chân ghế càng thêm ẻo lả và ẩn chứa.
Bỗng dưng những phản chiếu ấy dừng lại thật mãnh liệt – mà không phát ra âm thanh nào cả. Một hình thù to lớn đen ngòm hiện lù lù trong gương, che mờ hết mọi thứ, rải lên bàn một xấp phiến màu cẩm thạch có gân hồng và xám, rồi đi mất. Nhưng ảnh trong gương đã hoàn toàn thay đổi. Ngay trong khoảnh khắc ta không thể nhận ra vì nó mờ ảo phi lý. Không hiểu người ta sẽ làm gì với những phiến kia. Và rồi dần dần một tiến trình lôgic nào đó bắt đầu, và cuối cùng ta nhận ra rằng chúng chỉ đơn giản là những bức thư. Gã kia đã mang bưu tín tới.
Thư nằm trên mặt bàn cẩm thạch, thoạt tiên tất cả đều nhỏ giọt ánh sáng, thô và trơ. Và rồi thật lạ khi nhìn thấy chúng được thu nhỏ, sắp xếp, hình thành một phần của bức tranh, phát ra vẽ tĩnh tại và bất tử mà chiếc gương dành tặng. Chúng nằm đó, được khoác thêm một thực tại và ý nghĩa mới, và cũng thêm mật độ, giả như nếu muốn bứng chúng khỏi mặt bàn, thì ta phải dùng lưỡi đục. Và, cho dù có do trí tưởng hay không, chúng hình như đã không chỉ trở thành một mớ thư tín bình thường, mà là những phiến được khắc bởi sự thật vĩnh cửu – nếu có thể đọc chúng, ta sẽ biết những điều cần biết về Isabella, vâng, và cả về cuộc đời nữa. Những trang thư bên trong các phong bì như cẩm thạch ấy có lẽ đã được khắc sâu bằng những vạch đậm đà ý nghĩa. Isabella sẽ vào, và nhón lấy chúng, từng chiếc một, thật là chậm, rồi mở ra, rồi đọc thật kỹ từng chữ một, rồi thở hắt ra hơi dài thông cảm, tuồng như cô đã đáo để mọi việc, cô sẽ xé phong bì thành mảnh vụn, và buộc các trang thư lại, rồi khóa ngăn kéo tủ nhỏ, quyết định giấu kín những gì mà cô không muốn tiết lộ.
Chỉ mỗi ý tưởng đó thôi cũng trở thành thách thức. Isabella không muốn lộ chuyện riêng tư – nhưng cô cũng không thể tránh mãi được. Thật là phi lý, thật là kinh khủng. Nếu cô giấu giếm quá nhiều và biết chắc rằng người ta sẽ ép cô mở toang ra bằng dụng cụ tiện dụng nhất có sẵn: trí tưởng tượng. Người ta sẽ chăm chú vào cô ngay ở khoảnh khắc ấy. Người ta sẽ trói chặt cô xuống. Người ta sẽ không để cho cô hẹn lần khất lữa chút nào nữa, cho dù bằng những câu bãi buôi hay cách ửng xử hợp với hoàn cảnh lúc đó – chẳng hạn như bữa dạ tiệc, chuyến viếng thăm, hay chút trò chuyện khách sáo. Người ta sẽ đặt mình vào địa vị của cô, mà nói sát sườn hơn, theo nghĩa đen, là đặt chân họ vào chính đôi giày của cô, đôi giày mà cô đang mang ngay giây phút ấy, ở khu vườn dưới. Giày của cô rất hẹp và dài và hợp mốt – chúng được làm bằng loại da mềm nhất và dẻo nhất. Cũng giống như bất kỳ trang phục nào khác của cô, chúng rất thanh tú. Và cô sẽ đứng dưới rào giậu cao ở khu vườn phía thấp, giơ kéo lên để cắt vài cánh hoa tàn, vài cành tua tủa. Mặt trời sẽ vỗ vào mặt cô, vào mắt cô; nhưng không, ngay thời điểm nhạy cảm, một màn mây che phủ mặt trời, khiến cho mắt cô có vẻ lưỡng lự – là vẻ chế giễu hay dịu dàng, lấp lánh hay mờ đục? Ta chỉ có thể thấy đường viền mơ hồ của gương mặt cô đang nhìn trời, gương mặt thanh tú nhưng đôi chút nhạt phai. Có lẽ cô đang nghĩ rằng mình phải mua một dàn lưới mới cho đám dâu tây; rằng mình phải gửi hoa cho góa phụ Johnson; rằng đã đến lúc mình phải lái xe sang thăm nhà mới của gia đình Hippesleys . Chắc chắn đó là những điều mà cô bàn bạc lúc ăn tối. Ta lại muốn nắm bắt và thể hiện bằng chữ nghĩa cái thể trạng sâu lắng hơn của cô, cái trạng thái có tầm quan trọng đối với tâm trí cũng như hơi thở đối với thể xác vậy, tức là điều mà ta gọi là hồng hạnh hay bất hạnh. Khi nhắc đến những từ này, thì chắc chắn một điều hiển nhiên là cô phải hạnh phúc. Cô giàu, cô sang, cô giao thiệp nhiều, cô du lịch – cô mua thảm ở Thổ Nhĩ Kỳ và chậu lam ở Ba Tư. Những luồng mãn nguyện tỏa ra theo cách này hay cách khác từ chỗ cô đang đứng cầm kéo tỉa cành, trong khi mây giăng che chắn mặt cô.
Đây, bằng một nhát kéo nhanh gọn, chùm hoa ông lão rơi xuống đất. Và khi rơi, chắc chắn hoa sẽ nhường chỗ cho ít nhiều ánh sáng, chắc chắn ta sẽ len lỏi vào tâm thể của cô thêm một ít. Lúc ấy hồn cô đang mềm và nuối… Cắt một nhánh trội lên cũng khiến cô buồn bởi vì nhánh ấy từng đã sống, và với cô, cuộc sống thật quý giá. Vâng, và cùng lúc ấy sự rơi rụng của nhánh hoa cũng nhắc nhở rằng bản thân cô sẽ phải chết như thế nào, cùng với sự vô nghĩa và vô thường của mọi vật. Và rồi một lần nữa khi nhanh chóng phát hiện ý tưởng ấy, tính cách tích cực bộc trực giúp cô nhớ rằng cuộc đời đã nồng hậu với mình; thậm chí nếu có phải ngã, thì cũng chỉ là nằm trên đất và tan biến êm đềm vào rễ của loài hoa tím. Cô đứng suy tư như vậy. Không hiển rõ bất kỳ ý tưởng cụ thể nào – vì cô thuộc tuýp người trầm mặc, giữ tâm tư trong đám mây bòng bong im lặng – tâm cô tràn đầy ý tưởng. Tâm cô giống như không gian của cô, nơi mà ánh sáng tới rồi lui, khi đến thì xoay tròn với những bước nhỏ nhẻ, xòe đuôi, mổ lấy đường đi; và rồi cả người cô tràn ứa, lại cũng giống như không gian ấy, với một vầng am hiểu sâu xa nào đó, dăm ba nuối tiếc lặng câm, và rồi tâm hồn cô đầy ắp những ngăn kéo khóa kín, nồn nộn thư từ, giống như những chiếc tủ nhỏ. Thật là bất kính và phi lý khi nói là “ép cô mở ra” như thể cô là một con sò, cho dù có dùng bất kỳ dụng cụ nào tinh vi nhất, đẹp đẽ nhất, uyển chuyển nhất. Ta phải tưởng tượng – đây, cô đang ở trong gương.
Thoạt tiên cô đứng ngoài tầm soi của gương nên ta không thể thấy rõ. Cô tiến đến thật uể oải và nhẩn nha, nơi đây chỉnh sửa cành hồng, chỗ kia lại nâng đóa hoa lên ngửi, nhưng cô không dừng chân hẳn; và như thế trong gương cô cứ mỗi lúc to hơn, càng lúc cô càng trở thành người mà ta muốn len lỏi vào chốn tâm tư. Ta kiểm tra cô từng cung bậc – kết hợp cái cơ thể phàm trần ấy với những phẩm chất mà ta đã phát hiện. Này là cái áo váy xám xanh, và đôi giày dài, cái giỏ, và cái gì đó lấp lánh ở cổ của cô. Hiện ra từng chút một, nên dường như cô không làm rộn cái khuôn mẫu trong gương, mà chỉ mang đến yếu tố mới nào đó đang dịch chuyển nhẹ nhàng và thay đổi những vật thể khác, chừng như lịch sự yêu cầu chúng dành cho cô chút không gian. Và những lá thư và cái bàn và lối cỏ và lũ hoa hướng dương, vốn đợi chờ trong gương, giờ lại tách ra và cởi mở, như thể đón mời cô. Ít ra thì cô cũng đã ở đó, ở tiền sảnh. Cô dừng chân đột ngột. Cô đứng gần cái bàn. Cô đứng yên tuyệt đối. Ngay lập tức, gương soi bắt đầu rót lên cô một ánh sáng dường như ấn định cô; dường như có loại axít nào đó đã ăn mòn những gì phu phiếm và không cần thiết, để chỉ chừa lại sự thật. Cảnh tượng thật lôi cuốn. Mọi thứ rơi rớt khỏi cô – những mờ mịt, y áo, giỏ xách, kim cương – và tất cả những gì mà ta đã gọi là dây leo và bìm bìm. Có một bức vách cụ thể đã lộ diện. Có một phụ nữ là chính mình. Cô đứng trần trụi trong ánh sáng nhẫn tâm. Và hư vô. Isabella hoàn toàn trống vắng. Cô không có ý niệm. Không bạn bè. Không quan tâm đến ai. Và những cánh thư? Tất cả đều là hóa đơn. Nhìn xem, cô đứng đấy, già nua và xương xẩu, nổi gân và nhăn nheo, với sóng mũi cao, cổ xếp nếp, thậm chí cô không buồn mở phong bì.
Lẽ ra người ta không nên bỏ mặc những gương soi lơ lửng ở nơi của chúng.

Tác giả: Virginia Woolf

Người dịch: Śun Yata