Xưa lắm rồi Mót ơi

nguyentri

Toàn thể cư dân của tổ 2 xóm 1 ấp Thanh Long, đừng nói tổ xóm ấp, cả xã luôn, không một ai không ngớ người khi nghe tin nhỏ Út Mót cuốn gói đi theo thằng lôtô hội chợ.

Vợ chồng Bảy Sánh có trả lại một ngàn đô cho con mẹ Cẩm Hồng chưa chắc yên. Bởi giao một ngàn cho gia đình Út Mót thì mẹ Cẩm Hồng lấy của thằng già Đài Loan phải hai ngàn. Sức mấy con mẻ chấp nhận câu của đổ mà hốt. Bây giờ Bảy Sánh một xu teng còn không có, ở đó mà một ngàn, tức là hai mươi hai triệu tiền xứ ta. Nguy chưa?

– Chồng thì rượu vợ thì cờ bạc. Tiền tỉ còn hết nói gì triệu.

– Mày hiền dữ? Rượu bao nhiêu? Còn tứ sắc thì chơi vui đỡ ghiền. Chẳng qua ba cái giấy tờ ăn hết mày ơi. Tao đây xong mọi cái cho con Thắm lấy chồng Hàn là bảy trăm ngoài luôn đó.

– Dữ vậy sao?

– Con gái mày đủ tuổi, có chứng minh nên chuyện lấy chồng ngoại dễ như ăn ớt. Còn Út Mót cũng như con tao không khai sanh, không có tên trong hộ khẩu lại hô biến từ mười lăm lên mười bảy là tốn không ít đâu ông nội.

– Chuyến nầy nguy cho vợ chồng Bảy Sánh quá. Bầy xăm mình dưới trướng mẹ Cẩm Hồng chắc cho cả nhà ăn dao phay quá.

– Nó lụi luôn chứ chém là còn đỡ lắm.

Cả tổ 2 tuôn vô hội chợ làng lục lọi từng gian một để tìm Út Mót giùm Bảy Sánh. Dân hội chợ rất kinh hồn vụ mồm loa mép giải. Chời ơi là chời – họ bài hãi – Nó theo thằng lôtô thì lại dàn lôtô mà tìm. Tui là tui không chứa.

Hai thằng Hòa và Hiệp – anh trai Út Mót – quắc cặp mắt cú vọ:

– Câm cái họng lại. Muốn tao đốt sạch khu hội chợ nầy không?

– Tao thách đó. Hộp quẹt gas nè, muốn xăng tao cho luôn. Bà nội mẹ… sao mà ngu quá dzị con. Đã bỏ nhà theo trai nó ngu sao trốn ở đây? Giờ nầy chắc tuốt luốt trên xì ghềnh rồi. Hai mươi mấy quận huyện thì có mà chịu sầu em ơi.

Người ta truy căn thằng lôtô. Nó tên Hùng. Quê đâu tìm mà hỏi. Nó hát hay, đờn địch cũng biết chút chút. Hô lôtô chẳng ai dưới gầm trời hội chợ nầy qua được. Mấy đứa hai phai gặp nó ngoài quán dẫn về cho một chưn kiếm cơm tạm qua thì khốn nạn.

Đẹp trai cao to nên hai thì khoái lắm. Kẹt cái nó chuẩn men nên không bồ bịch với nửa y nửa thị. Nhỏ Út Mót đi chơi hội chợ làng, xứ nầy ba cái con mấy cờ ra rồi cờ ra con mấy là sự kiện văn hóa nghệ thuật, một năm được hai lần là nhiều. Nên chi bà con cô bác tới cúng tiền cũng phải thôi.

Trên sân khấu lôtô Hùng thấy một em rất chi đẹp liền quăng mi-cờ-rô nhảy xuống tận mặt xem sao. Mẹ cha ơi, em đã thơm thì chớ còn duyên dáng nữa mới là tuyệt diệu. Hên cho thằng lôtô là trước đó nó vừa ca xong bài Tình anh bán chiếu.

Thiệt mà nói, nghe nó ca thì Út Trà Ôn cũng phải bỏ nghề. Ông Út chỉ một mùi tận mạng chứ Hùng thì còn ngọt như mật nữa. Em Út Mót khoái liền dù chỉ còn nửa tháng là em đăng ký kết hôn như lịch trình đã hẹn.

Nói về cái sự vụ liều thì dân đây ai cũng kiềng mặt Út Mót. Đi bán vé số đứa nào giành mối là chết với nó liền. Mót theo bà má và hai ông anh đi bán vé số từ năm bốn tuổi. Không biết một chữ nhưng tính nhẩm nhanh như sao xẹt và hát karaoke kẻ biết đọc phải chào thua. Tội nghiệp Út lắm. Không có cái vụ môi giới hôn nhơn lấy chồng ngoại chắc Út bị đì suốt kiếp.

Cô Bảy, vợ cha nội Sánh, tục gọi Bảy Sánh, thuở con trẻ lòng dạ nhẹ tựa lông hồng. Thằng bồ thứ nhứt cho cái bụng rồi quất ngựa truy phong, thằng thứ hai cũng một khuôn. Hai anh em Hòa Hiệp đứa lên năm đứa bốn tuổi thì Út Mót lên ba. Bà ngoại của ba đứa nhỏ chịu không xiết cảnh khổ nên qua đời. Bảy lôi con theo mình đi bán vé số.

Mót bốn tuổi thì cô Bảy mượn tạm bờ vai cha Sánh làm điểm tựa. Sánh xúi dại Bảy bán miếng đất của bà má về ở chung với mình. Khi khổng khi không Sánh được vợ lời thêm ba đứa con biết kiếm tiền. Cái dòng con nít đi bán vé số là bá tánh thương lắm. Đã mua họ còn cho thêm tiền. Con nít kể khổ cha chết mẹ bịnh thì lòng Tào Thị còn chết nói chi thường nhân.

Ta bà thương anh em Út Mót bao nhiêu thì bực bội cho cái nhẹ dạ của bà má tên Bảy bấy nhiêu. Sao mà có người ngu dữ vậy kìa? Tin chi cái thằng sáng xỉn chiều say vậy không biết? Thằng Sánh là chúa khốn nạn. Đâu phải con ruột nên nó nào biết yêu thương chi. Nó xui dại người ta bán đất về ở chung, bao nhiêu tiền bạc nó sửa lại nhà.

Bốn mẹ con tưởng êm, ngờ đâu cong lưng đi làm nuôi nó chết mụ nội, đã vậy say lên nó đuổi như đuổi tà. May mà bốn mẹ con ngụ trong nhà chỉ từ mười hai giờ đêm đến sáng là hết phép. Nghề bán vé số sáu giờ đã có mặt khắp hang cùng ngõ hẹp để thưa bà thưa chú thưa anh mua giùm em vài vé, hông ấy một vé cũng được…

Bốn giờ chiều lại tiếp tục nhận vé mới và sau giờ xổ số lại rong ruổi đến mười hai giờ đêm. Cơm hàng cháo chợ tiện đâu xực đó. Đời anh em Út Mót nào biết đến mâm ăn. Vậy lấy đâu ra tình thương mến thương anh em dành cho nhau hỡi tha nhân?

Mười tuổi Mót đã có sáu năm thâm niên trong ngành vé số dạo. Năm đó nó phải bươn bả một mình vì bà má thảm thương bị bệnh. Đàn bà con gái sanh đẻ không kiêng cữ, lại lết bộ ngày mười lăm tiếng đồng hồ thì mấy cái khớp nó khua cũng phải thôi.

Ba anh em kể cũng lớn rồi, thôi thì má ở nhà để tụi tui lo. Bảy ở nhà buồn tình nên ghé chị em chơi cho khuây khỏa. Dân tổ 2 xóm 1 ấp Thanh Long mười nhà đã hết sáu có con lấy chồng không Hàn thì Đài nên ngoại tệ cũng có chút chút. Họ tụ tập điều binh khiển tướng cho vui.

Bảy ghé một tuần là sành điệu. Cái dòng tứ sắc nhìn sơ là biết cần chi học hỏi. Ba đứa nhỏ đang nuôi một thằng cha ghẻ chốc luôn siểng tảng trong rượu nay thêm bà má nghiện bài.

Ở cái tuổi mười lăm con khô lưỡi trâu Út Mót bỗng phổng phao bởi trổ thì con gái. Nó tuy đen thủi đen thui vì dầm mưa dãi nắng nhưng phụng hoàng chứ không hề là quạ đen. Thiên hạ chưa kịp trầm trồ thì trùm môi giới hôn nhân Cẩm Hồng lân la đến.

Thằng cha ghẻ chốc đắc co liền. Còn má Bảy? Nhìn nhà người có con lấy chồng Đài mà ham. Đừng nói chồng, mấy đứa trong xóm đi ôsin đâu bên Sing bên Mã là đã nhà xây rồi. Vậy là má cũng gật gù. Mót cũng ừ. Bà nội nó – Mót văng tục nghĩ thầm – Bảy chục tuổi tao cũng ừ nói chi năm chục. Tao thù cái vé số nầy tận xương rồi.

Vậy là Cẩm Hồng bung tiền để cho xong cái gọi là hợp thức hóa. Mười lăm sao cho đủ tuổi lấy chồng là một lốc tiền. Thằng anh lớn mới mười bảy thì Mót làm sao mười tám? Xem như phải làm lại hộ khẩu. May mà mấy ông quyền chức đồng ý trên tinh thần khai lại lý lịch cho chính xác theo yêu cầu.

Cầm cái chứng minh tên Nguyễn Thị Hồn Nhiên, Mót thích ơi là thích. Cẩm Hồng bỏ tiền để má Bảy tút tiếc nhan sắc cho Mót. Chỉ hai tháng mà nước da bánh ít đường đen của Mót hóa sang đường thùng rồi đường cát. Cuối cùng là trắng gần bằng bông bưởi luôn. Có vậy Mót mới hồn nhiên mà yêu anh lôtô hội chợ.

Cẩm Hồng đe hai thằng du côn Hòa Hiệp:

– Nó mà không dzìa là hai thằng mày đi âm phủ đội chuối khô với tao. Ai cho tụi bây đánh thằng lôtô? Tại sao không cho tao biết con Mót bồ bịch? Tao biết sớm thì một tiếng là thằng lôtô biến. Tụi mày ăn cái gì mà ngu vậy?

Quay sang Bảy và Sánh, con quỷ môi giới nghiến răng:

– Một ngàn đô hai vợ chồng mày lo bán nhà trả gấp. Lãi mười hai phân kể từ ngày giao.

Nói xong chị hai lên xe dông tuốt. Dân tổ 1 xóm 2 xúm lại vừa bàn vừa chửi rằng:

– Kệ bà nội con Cẩm Hồng. Lâu lâu tổ trác một lần cho nó biết thế nào là lễ độ. Bà cha nó… vụ con tao nó nuốt ít cũng hai ngàn. Vợ chồng Bảy Sánh với hai thằng bây đừng lo đếch gì cho mệt. Cho vàng nó cũng không dám đụng. Ông chính quyền xã mình không để cho nó manh động đâu. Lớn chuyện là lòi ra biết bao nhiêu cái hồ sơ khai man tuổi… Bây hiểu không?

Nói vậy chứ hai thằng Hòa Hiệp sợ lắm. Bầy em út của Cẩm Hồng toàn dân xăm mình. Nó đâu có ngu mà đánh người công khai. Đang lơn tơn dính một cây vô đầu hay một ca axit thì có mà chết. Mót ơi là Mót, mày ở đâu về đi, không về là chết cả ổ Mót ơi. Hai thằng long trọng hứa với Cẩm Hồng sẽ đi tìm Mót về để giải quyết hợp đồng. Nhưng sáu mươi bốn tỉnh thành trên đất nước nầy biết đâu mà tìm hỡi trời đất ơi.

Trong lúc mọi người nhao nhác như gà mất mẹ thì Nguyễn Thị Hồn Nhiên thường gọi Mót đang vui vầy bên lôtô. Cả hai thuê phòng trọ hưởng trăng mật.

Được hai tháng thì lôtô dông tuốt.

Kề bên phòng của Mót là phòng của chị Thùy. Chị đi làm mười hai giờ đêm mới tan ca. Nghe Mót tỉ tê khóc chị liền thăm hỏi xem sao. Nghe qua chị biết con nhỏ mười lăm tuổi bị sở khanh nó dụ. Chị nói:

– Nín ngay. Nín tức khắc. May là nó không bán qua Trung hay Miên là chết mụ nội mày. Về nhà đi, chị cho tiền xe.

Nghe Mót kể gia cảnh chị Thùy cũng rùng mình:

– Mẹ ơi… Lấy thằng Đài năm chục tuổi hả? Sao mà gia đình mày ngu dữ dzị cưng? Nó đưa mày qua bển để làm nô lệ hả? Thôi… ở đây đi làm với chị. Chừng nào có tiền thì về trả lại cho con Cẩm Hồng.

– Em chỉ biết bán vé số thôi chị ơi.

– Đẹp như mày ngu sao bán vé số. Nghe tao là nên cửa nên nhà cưng coi.

Vậy là Hồn Nhiên theo chị Thùy đi làm. Nơi làm việc của chị là một quán karaoke cao cấp. Có trên hai mươi tiên sa thơm như mít tố nữ làm việc. Công việc thì nhàn ơi là nhàn. Hồn Nhiên Mót chỉ việc rót bia khi ly khách đã cạn. Khách toàn dân nói tiếng Đài.

Hôm đầu tiên chị Thùy xin chủ cho Mót làm chung bàn. Chị uống bia với khách, ngả đầu vào vai khách. Khách ôm chị rồi hôn lên má lên môi chị. Chị cũng hôn lại. Vậy là khách nhét tiền vào áo ngực chị… Hôm đầu tiên Mót ngỡ ngàng lắm. Nó mới qua tay thằng lôtô nên nào có biết chi mô răng rứa gì. Một ông khách đài ngà ngà hơi men ôm Mót vào lòng. Giật mình Mót xô khách ra. Khách liền móc ra một tờ năm trăm ngàn lẹ tay nhét vào cóc-xê Mót:

– Chiều nó tí cưng. Chả có mất gì đâu mà cưng sợ.

Nửa đêm là xong hai tua khách. Mót được tiền bo những bảy trăm ngàn. Taxi đưa hai chị em về lại phòng trọ. Nhưng chỉ một mình Mót về phòng còn chị Thùy thì đi khách sạn. Tảng sáng chị mới về. Lúc làm đẹp cho Mót để tiếp tục cho đêm vui, chị nói:

– Nghiệp nầy phải đẹp cưng hiểu không? Tụi Đài hay Hàn sộp hơn dân mình trăm lần. Ôm và hun hít là có tiền. Còn muốn qua đêm thì một trăm đôla Mỹ. Tụi nó xa quê hương xứ sở, cái gì cũng có chỉ thiếu đàn bà.

Mót tròn mắt. Chị lại tiếp tục:

– Tao không lừa mày đâu mà sợ. Tao thương là vì mày giống cái cảnh đời khốn nạn của tao. Thằng nào muốn rủ cưng đi đâu thì hỏi chị một tiếng. Nghe không?

Lại cấm:

– Đừng có ngu mà nốc bia cho cố. Lớn bụng là bỏ. Cũng không được bài bạc hay tứ sắc. Va vô là lún cả đời vào cái vũng lầy tăm tối nầy. Làm một thời gian kiếm đủ tiền rồi lo làm lại để kiếm đứa con mà hú hí.

Hồn Nhiên đẹp như tiên nên chỉ một năm cô có đủ bất cứ thứ gì mà một công nhân trong xí nghiệp làm chục năm chưa chắc có.

Một ngày của tháng thứ mười ba kể từ ngày Út Mót bỏ nhà ra đi thì hai thằng anh, bà má tên Bảy và mụ Cẩm Hồng xuất hiện. Kẻ đưa tất cả lên gặp Mót là thằng bạc tình lôtô hội chợ.

– Bà muốn gì? – Mót hỏi Cẩm Hồng.

– Trả lại tiền cho tao. Cả lãi luôn.

Chị Thùy có mặt:

– Bao nhiêu?

– Ba ngàn đô.

– Nói lại đi. Thắt họng vừa phải thôi. Cà chớn là không một xu teng nào hết. Bà đưa cho má con Mót bao nhiêu?

– Bao nhiêu mày khỏi cần biết. Không trả là có người trảm cả nhà mày đó Mót.

Hồn Nhiên Mót lên tiếng:

– Tao đéo trả xu nào hết. Gan thì mày giết hết đi.

Nói xong Mót vào phòng và khóa trái cửa.

Bà Bảy vắn dài nước mắt Mót ơi Mót hỡi bỏ má sao con. Rằng thì là má khổ lắm con ơi. Tiếng ồn làm bồ chị Thùy thức dậy. Làm cái nghiệp nầy không có mặt rằn bảo kê làm sao trụ? Anh điểm mặt lôtô:

– Mày còn dám lên đây hả thằng khốn? Mày tưởng hôm nay như hôm qua tháng nầy như tháng trước sao? Quỳ xuống. Còn chị – anh nói với Cẩm Hồng hết sức nhẹ nhàng – Con Mót nói có một ngàn, chị đòi ba ngàn là hơi quá. Con Mót bây giờ là em gái tôi, chị muốn trả thì tôi trả cho. Mót đâu. Mở cửa tao giải quyết cho xong mọi chuyện.

Cẩm Hồng mặt xanh đít nhái. Phải chấp nhận điều kiện anh đưa ra. Một ngàn trả làm ba. Lần đầu bốn trăm. Còn sáu trăm sẽ trả trong vòng sáu tháng.

Lúc taxi đến để đưa hai chị em đi làm, ngang qua thằng lôtô đang quỳ, Mót đưa ai-phôn lên chụp một pô. Thùy hỏi để làm chi vậy, Mót nói bắn lên phây-búc cho bà con biết mà cảnh giác thằng sở khanh.

Mót bây giờ là Hồn Nhiên chứ đâu phải như xưa.■

V Ợ L Í N H

linhphuong

Vợ lính đi qua cuộc chiến tranh
Mấy mươi năm chưa vơi mùi thuốc súng
Mấy mươi năm như ân sủng
Nằm trong ngực “ bên thua cuộc “ tan hàng

Khóc đi hỡi những oan hồn
Mấy mươi năm vất vưởng
Khóc đi hỡi anh thương phế binh còn sống
Đêm từng đêm đau nhức vết thương xưa

Vợ lính đi qua dâu bể một thời
Một thời đội khăn tang theo chồng ra trận
Xương máu Việt Nam chảy dài con đường di tản
Mấy mươi năm rồi chưa khô

Mấy mươi năm những nấm mồ
Lạnh tanh không nhang khói
Tấm thẻ bài nhìn đôi giày saut đau khổ
Nón sắt buồn ứa lệ khóc rưng rưng

Vợ lính đi qua cuộc chiến tranh
Vành khăn tang còn đó
Vợ lính năm nào còn đó
Nước mắt chảy ngược vào trong

Đứa con của Ngụy lớn lên đã biết mình mất quê hương
Từ tháng tư người lính Sài Gòn bị bức tử
Từ tháng tư thủ đô treo cờ rũ
Tưởng niệm anh hùng ” vị quốc vong thân ”

Sau một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Vợ lính năm nào ôm lá cờ xưa bật khóc
Mấy mươi năm chưa cạn dòng nước mắt
Dù chiến tranh đã đi vào quá khứ xa xăm

LINH PHƯƠNG

đi kinh tế mới

huynhminhle

quê hương không là khế ngọt
một ngày dắt díu ra đi
sông ray đêm rền thác đổ
mùa mưa đất nặng hơn chì

tháng giêng mịt mù bụi đỏ
ta đi bốc củi trong rừng
trông những cây già bị cháy
tự nhiên lòng bỗng rưng rưng

chim quyên xuống đất ăn trùn
ta chẳng anh hùng hảo hán
bữa nay cũng phải vô bưng
kiếm tiền cho con ăn sáng !

một ngày về quê thăm mẹ
thấy nhà thấy cửa điêu tàn
chỉ còn trơ cái nền gạch
từ đường hương hỏa tan hoang

05.04.2016
Huỳnh Minh Lệ

Giòng Sông Biệt Xứ

trankiemdoan

Huế có giòng sông Hương. Giòng sông mang tên con gái, hay con gái mang tên giòng sông. Khi gọi “Hương ơi!” thì vẻ mượt mà của giòng sông hay bóng dáng yêu kiều của giai nhân đến trước? Nếu đến để mà đi là người con gái, nhưng đến để chảy mãi trong lòng là giòng sông.

Tôi xa Huế tròn 20 năm. Những mảnh đời vinh quang và cay đắng đã thành đồi, thành núi, thành sông… hay chỉ là những đám bụi mù không tên tuổi, lần lượt đến rồi đi cuối mùa như những hàng phượng già trên cao và khóm hải đường dưới đất. Nhưng giòng sông ấy vẫn trôi chảy hoài, có khi triền miên heo hút, có lúc bão liệt cuồn cuộn nhưng chưa có một lần đứt đoạn ở trong lòng. Giòng sông như một định mệnh hư ảo, một ám ảnh trường kỳ, một sự vỗ về rất mẹ, một nỗi nhớ rất tình yêu, nhưng chưa bao giờ khước từ sự quay về của ký ức hay chối bỏ những ân tình vắng mặt. Hình như không có ngoại lệ, mỗi người Huế xa quê đều mang theo một giòng sông cho đến cuối đời. Đôi khi ngỡ giòng sông ấy chỉ là tâm ảnh, nhưng không, đó là một hiện thực vô cùng. Những người Huế thành công xứ người vẫn mong ngày về với giòng sông để soi chút vinh quang của mình trên sóng nước. Những người Huế không may sống hẩm hiu xa Huế không mong chi ngày hội ngộ nhưng vẫn man mác nỗi xót xa khi tưởng đến sự cau mặt của giòng sông. Phải chăng tâm lý “soi bóng giòng Hương” đã dự phần năng nổ “xui khiến” dân Huế tha hương hầu hết nếu không xênh xang áo gấm thì cũng chẳng đến nỗi khăn gói quả mướp… về làng.

Người tìm về sông, sông tìm về nguồn, nguồn tìm về cội. Vì thế mà lịch sử con người khó thấy một vẻ đẹp kỳ tú, một thành phố nên thơ, một quê hương mơ ước mà thiếu vắng một giòng sông. Khi giòng sông khô cạn trong lòng cũng là khi giòng sông biệt xứ.

Âu Châu là chiếc nôi văn hóa trong lịch sử văn minh cận đại, nhưng sự trôi chảy của nguồn văn hóa từ từ chậm lại khi văn minh vật chất đày biệt xứ những giòng sông. Có ai từng ngồi bên bờ sông Seine trong một đêm khuya rất vắng, nhìn vẻ mặt ngước lên gần như thảng thốt van xin những ngôi sao đừng chiếu sáng của bức tượng người đàn bà dưới gầm cầm Mirabeau cảm nhận hết được nỗi niềm biệt xứ của một giòng sông. Sông Seine mây nước xanh trời thuở Appolonaire làm thơ đã bị mớ văn minh vật chất biến đổi thành một mương nước nông sâu giữa hai bờ xi-măng và đá. Những tòa cao ốc nối đuôi nhau soi bóng hai bên bờ sông Siene thật là tội tình cho giòng sông. Giòng sông như ngỡ ngàng không chảy nổi vì thiếu vắng cây xanh soi bóng mùa Xuân, hoa thạch thảo soi bóng mùa Hè, lá vàng soi bóng mùa thu và những cành trơ xương trĩu tuyết soi bóng mùa Đông.

Ai có lặng lẽ đi ven sông trong buổi chiều về rất chậm trên những thành phố Âu Châu mới thấy được những con sông biệt xứ. Và thật mỉa mai, sự biệt xứ lại thường chỉ dành cho những giòng sông con gái hiền hòa có con nước dịu dàng như tóc mây dậy thì dầm sương muối. Còn những giòng sông lãnh chúa vạm vỡ với thủy lung trùng trùng như Cửu Long, Hoàng Hà, Missisippi, Amazon, Nile, Volga thì vẫn tất bật ra biển về nguồn từ buổi cổ sơ mà không ai ngăn trở. Cũng có những giòng sông qua đời vì cái bồi đất lở trong khi những giòng sông biệt xứ thì vẫn sống mòn bất tận. Có chăng một chút reo vui thì cũng chỉ là cảnh cá chậu chim lồng. Những giòng sông đó đã bị con người đày ải để sống cuộc đời của mương nước giòng kênh.

Sông Hương là một giòng sông hiền hòa. Với vẻ đẹp “lung linh đáy nước lưng trời”, giòng sông rất dễ bị con người dựa bóng để trang điểm cho ảo tưởng và khát vọng của uy quyền, giàu sang dễ dãi.

Xa Huế 10 năm, rồi 15 năm, 20 năm, tôi có những lần về thăm Huế. Nỗi vắng lặng 20 năm trước nhường chỗ cho sự chiếm ngự hai bên bờ sông Hương. Về Huế năm 1992, dăm ba quán mọc ven sông Hương có khuynh hướng “bành trướng lãnh thổ” không phải bằng thế mở đất mà bằng thế chiếm sông. Về Huế 5 năm sau 1997, đã có những công trình giới hạn xây dựng nhà cửa ăn làn ra bờ sông. Và về Huế những lần sau, những ngôi nhà lầu nhiều tầng mọc lên kênh kiệu sát giòng sông. Thiên nhiên lùi bước khi nhà cửa thi nhau soi bản mặt vôi đá, trơ mắt ếch vô duyên trên giòng sông xanh lồng bóng sương hồng ban sớm và mây tím ban chiều.

Sự nghèo hèn thường giấu mặt, nhưng sự giàu sang vật chất thường ô nhiễm lên nhau. Trong ba, bốn thập niên vừa qua, dân Mỹ giàu có đua nhau dựng nhà trên đồi. Nhìn những bờ đồi xanh bị cao trọc và những ngọn núi cụt đầu để cho những căn nhà đồ sộ mọc lên, người yêu thiên nhiên phải lắc đầu ngao ngán vì những dải đồi xanh và những trái núi bầu bĩnh bao quanh những thành phố và thung lũng đầy hoa vàng dần dần sẽ bị đày chung thân biệt xứ. Núi sẽ không còn núi, đồi cũng chẳng ra đồi mà chỉ còn là thế đất cao nhìn xuống những con đường phố.

Những buổi chiều ngồi trên bờ sông, chặng từ Bãi Dâu, Cồn Hến lên Kim Long, Văn Thánh với Túy Linh, Đoàn Tuyền Châu, Hòa, Quyết… chúng tôi thường nói về vẻ đẹp thay đổi từng lúc từ sớm đến chiều của sông Hương và bỗng lo xa, dù cho sự lo xa đó mới chỉ là một sự giả định “Lỡ một mai tê bóng xế qua cầu”…

Nếu tham vọng “Hương Giang hóa” khung cảnh những ngôi nhà quyền thế hai bên bờ sông Hương thắng thế, nét đẹp thiên nhiên của sông Hương sẽ lùi dần. Và giòng sông nên thơ và lãng mạn truyền đời “Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu” của Huế ấy sẽ từ từ đi vào cõi biệt xứ. Sông Seine ở Paris, sông Thames ở Luân Đôn đã đi vào biệt xứ vì văn minh kỹ thuật đã thắng văn hóa thiên nhiên. Chuyện buồn mấy trăm năm trước ở Âu Châu là một bài học cho Mỹ Châu cho đến hôm nay nơi xứ này những giòng sông như American River mà tôi vừa đi qua chiều nay vẫn còn lồng bóng là mùa thu vàng, lam, tím, đỏ.

Giòng sông quê hương của tôi bên trời Hương Giang xa xôi nớ có đang thao thức mùa lá vàng thu như bên ni?!

Trần Kiêm Đoàn

CÓ NHỮNG ĐÊM DÀI…

trandzalu

Có những đêm dài ôm gối chăn
Không em, bóng đổ xuống âm thầm…
Gác vắng, đèn khêu không đủ ấm
Đầm đìa thương nhớ mắt xa xăm!

Đâu có cách ngăn quế với trầm
Mà sao buồn cứ rót ăn năn ?
Đêm xa, anh cứ tìm sao mọc
Trong cõi lòng xanh dấu cố nhân.

Có những đêm dài xâm thực trăng
Anh rơi vào bóng tối muôn phần
Vắng em, tri kỷ hề ! Đi mất
Chỉ tiếng mưa sầu thương áo khăn !

Rượu rót chung đầy không muốn cạn
Lung linh nụ biếc mắt em cười
Quê xưa còn đó, sao dời đổi?
Vàng mười tâm ấy dễ gì phai…

Có những đêm dài không thấy ai
Khói thuốc bay lên mộng mị dài
Nói năng một bóng đời dâu bể
Em về chưa nhỉ đã giêng hai?

Trần Dzạ Lữ

ĐÂU ĐÓ MỘT LÀN HƯƠNG

vungocgiao

với một người mà ta rất yêu và rất nhớ!

khi , nắm tay em bước vào địa ngục
ta có riêng nhau một cõi thiên đường
ta yêu nhau giữa tư bề mai phục
dẫu biết rằng – tình rồi sẽ tha phương

vì , hồn em thanh khiết một làn hương
ta đón nhận với vô vàn ân phúc
em đến đây như bóng mát bên đường
ta trú tạm – chờ , xác thân rữa mục

hỡi dấu yêu ! hồn ta nhiều uẩn khúc
rất dại khờ – khi , ngắm một giọt sương
rất ngu ngơ giữa đôi bờ hư , thực
và , ngạc nhiên trước những chuyện bình thường

hỡi dấu yêu ! đời quá đỗi vô thường
sao vẫn hoang mang thiên đường – địa ngục
tình bây giờ , dù đã quá thê lương
sao nỗi nhớ cứ quay về thôi thúc ?

ta ngùi thắp muộn phiền giăng nghi ngút
niệm tên em – vô vọng suốt mười phương
mai , xuống phố ôm bình đi khất thực
khuất trong hồn – đâu đó một làn hương !

vũ ngọc giao

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT ( CHƯƠNG 4)

duyenanh

9 giờ. Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi.
-Anh đi đâu đấy, anh Tuyến?
– Đi đâu?
Ông Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, “tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm” – cộng sản nó gọi thế – thở dài.
– Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi “chống cộng đến chiều.” Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến?
-Chẳng hiểu.
-Mỹ nó không đón anh à?
-Không. Còn cậu?
-Có lẽ cũng không. Người Mỹ dành ưu tiên số một cho me Mỹ, cho bọn tham nhũng, thối nát, cho đám làm giầu bằng chiến tranh.
-Cậu định đi đâu?
-Chẳng hiểu, anh ạ!
Không có lối chạy cho người chống cộng. Những kẻ chống cộng tự nguyện rất kiêu hãnh nhưng luôn luôn thiệt thòi. Tôi là một trong những kẻ ấy. Vì chống cộng tự nguyện, tôi không bị xếp vào hàng ngũ đầy tớ Mỹ. Đó là một thiệt thòi. Sự thiệt thòi nhìn rõ: Có cả chục ngàn chỗ cho những người chưa hề chống cộng trên máy bay di tản của Mỹ mà lại không có chỗ nào cho Doãn Quốc sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền… Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng* , ở “Lời giới thiệu”, cộng sản viết: “… Một số người khác như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ. Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa cộng sản. Họ cho văn nghệ làm sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện đểà đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là “viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ.” Doãn Quốc Sĩ coi mình như một “viên kim cương, răng cộng sản không sao nhá được.” Thêm một thiệt thòi. Và cái thiệt thòi cay đắng là bị cộng sản chụp cái mũ khả ố “chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới”. Như thế, vẫn chưa đủ nghẹn ngào. Kẻ chống cộng tự nguyện còn bị những người tập sự chống cộng, bập bẹ chống cộng, vỡ lòng chống cộng, ngớ ngẩn chống cộng phán xét một cách dễ chửi thề. Hẳn nhiên, những kẻ chống cộng tự nguyện thường xuyên bị vây hãm, bị bêu nhục bởi bòn đầy tớ Mỹ chống cộng ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Nhưng mà những kẻ chống cộng tự nguyện phải chấp nhận, hiên ngang chấp nhận và can đảm chống luôn cả bọn đầy tớ ngoại bang chống cộng, bọn làm thui chột niềm tin chống cộng, bọn giúp cộng sản đánh bóng chính nghĩa của nó, bọn ảo tưởng và thù vặt vì bất đồng quan điểm. Những kẻ chống cộng tự nguyện ngổn ngang kẻ thù. Ngoài cộng sản, họ còn bị đánh dấu tuyết hận bởi bè lũ thống trị tôi mọi, tập đoàn ăn cắp, thảo khẩu chính trị, lũ thời cơ chủ nghĩa, đám buôn bán Phật Chúa… Song cần chi, hai tiếng tự nguyện mà kẻ thù cộng sản khoác hoa quanh cổ họ cơ hồ hào quang đốt cháy mọi rác rưởi, bèo bọt thế thời. Và họ vẫn ngồi lên tất cả như đã ngồi lên tất cả những khuôn mặt sa-đích chính trị rẻ tiền.
– Anh có lối nào khác lối Mỹ không?
Tôi hỏi. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lắc đầu buồn bã:
-Không.
Không. Chúng ta đã chống cộng sản hai mươi năm và chúng ta không có lối chạy trốn cộng sản! Tại sao tổ tiên chúng ta đã không tìm đường chạy trốn mà chỉ tìm chỗ tạm lui về chờ đợi tiến lên? Chắc chắn, tổ tiên chúng ta chống giặc nước một mình. Còn chúng ta, chúng ta chống giặc nước với người Mỹ. Chúng ta đã đổ xương máu cho KHÔNG. Và cái không ủ ê nhất là cái không lối chạy trốn giặc. Liệu chúng ta đã học được một điều gì trong bài học chống cộng sản với Mỹ rồi không còn lối chạy trốn cộng sản? Chỗ đó, vài hôm trước… Chỗ đó, hôm nay…
Tôi đã thất thểu bước tới ngã tư Hai Bà Trưng – Yên Đổ – Trần Quang Khải. Nỗi chết không còn ám ảnh mà nỗi chết hiện dần. Tự nhiên, tôi thèm sống vô cùng. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh a! Đỗ Bá Thế đã phán vậy. Sự thèm sống khiến tôi quên sợ chết. Lạ quá, lúc đó, tôi chẳng hiểu nổi tôi. Phải nói, tôi chẳng hiểu nổi sự chuyển dịch tâm hồn tôi. Nếu tôi đã chưa biết cái cảm giác lênh đênh của tâm hồn thì, bây giờ, tôi biết. Biết rõ. Tâm hồn tôi lênh đênh theo bóng ngã hoàng hôn của cuộc chiến đấu hai mươi năm hư ảo. Lênh đênh chạy trốn. Lênh đênh bất bình chạy trốn. Lênh đênh sợ chết. Lênh đênh chờ chiến đấu. Lênh đênh thèm sống. Lênh đênh ước mơ.
Đi ngược đường Yên Đổ, tôi về nhà tôi.
***
Thành phố Sài gòn bất chấp lệnh giới nghiêm 24 trên 24 của Dương văn Minh. Thành phố này, hình như, cũng bất chấp cả nỗi ngậm ngùi sắp đến. Sài gòn thản nhiên chờ đợi niềm bất hạnh. Mặt trời vẫn chưa mọc. Có vẻ mặt trời không thích mọc hôm nay. Tôi buồn bã đứng trước cổng nhà mình ngó ngang, nhìn dọc. Bà bán thuốc lá sát cổng nhà tôi hớt hơ hớt hải từ dưới Xóm Lách chạy tới chỗ tôi:
-Cậu không đi được à?
– Không.
-Liệu người ta có để cậu yên không?
– Ai?
– Thì… Việt cộng?
Bà ta nói nhỏ:
– Cậu ạ, người ta vây kín Sài gòn rồi!
Tôi thở hắt ra:
– Thế à?
Nhìn bà bán thuốc lá, tôi hỏi:
– Sao bữa nay bà không bán?
– Tôi tưởng giới nghiêm.
– Chứ không phải mệt vì đêm qua lo hôi đồ à?
– Tôi thề với cậu, không quen làm việc ấy.
– Làm thì đã sao, của Mỹ chứ bộ.
– Mà không quen.
Tôi nhìn thẳng vào mặt bà ta:
– Việt cộng vào, bà có để tôi yên không?
Bà ta chớp mắt lia lịa:
-Tôi mong cậu đi lọt mà.
Từ người vô sản bán thuốc lá, tôi quan sát những người vô sản Xóm Lách quanh tôi. Tất cả đều còn cho tôi những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm. Tôi yên tâm. Đã quá hiểu những bài học căm thù của cộng sản, tôi sợ rằng những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm của người vô sản Xóm Lách sẽ biến mất. Chưa biết bao giờ. Có thể lát nữa. Có thể trưa nay. Có thể chiều nay. Có thể tối nay.
-Bà Tẹo.
-Dạ.
– Tôi đã làm phiền bà điều gì chưa?
– Sao cậu hỏi vậy?
– Bởi vì sẽ thay đổi nhiều đấy.
– Không có gì thay đổi đâu cậu ạ? Tôi vẫn bán thuốc lá trước cổng nhà cậu, vẫn xin được bán thiếu cho cậu để cuối tháng có món tiền để dành lớn.
-Cám ơn bà.
Tôi bấm chuông. Nhà tôi ra mở cổng:
– Thế nào, bố?
-Thế nào là thế nào?
– Còn nước tát không?
– Cạn rồi. Mỹ thật sự cút rồi. Nhưng em yên tâm. Bằng hữu của chúng ta còn ở lại khá đông. Anh đã gặp Mai Thảo, Nguyễn Tuấn Anh…
Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự “thoát chết, bung ra.” Nếu lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi:
– Tôi ở một nơi chốn nào là lòng gửi nơi chốn đó nên xa một nơi chốn là nhớ vô cùng, dẫu nơi chốn cũ chẳng xa gì nơi chốn mới. Thật sự, tôi không thích di tản. Xa quá, xa quá…
Và Mai Thảo rất lừng khừng chuyện ra đi- Anh ta cứ ra, theo triết lý cù nhầy của Nguyễn Bính “ngày mai ra sao rồi hãy hay.” Mai Thảo tâm sự tiếp:
– Tôi có ông thày học khá lạ lùng. ông ta đã nói với tôi rằng, người ta chỉ cần sống đến 50 tuổi. Là đủ rồi. Tôi đã 50 tuổi. Sống thêm có lẽ thừa thãi.
Mai Thảo đã 50 tuổi. Tôi mới 40. Cho nên, dù đã vỡ lẽ phù ảo của cuộc đời, Cứ thèm thuồng “thoát chết, bung ra” trong những giờ phút dọn chết.
***
10 giờ thiếu 10 phút. Chuông điện thoại reo vang:
-Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó xuất hiện ở Xóm Gà, Gò Vấp rồi. Trên ấy ra sao?
-Im lặng.
-Mày nghĩ xem có nên chở gia đình lên bà Nguyễn Đình Vượng tránh né cảnh tranh tối tranh sáng không?
-Không cần.
-Tại sao không cần?
– Vì bà Vượng cũng bị ném vào biển máu! Nếu ông muốn cùng chết với tôi thì lên đây.
Đặng Xuân Côn, Thằng Côn, người bạn ấu thời của tôi, người bạn đã, cơ hồ cái bóng, theo sát tôi 30 năm ròng rã, đã chia xẻ vinh nhục với tôi, đã đau khổ vì tôi, đã ôm đau khổ của tôi làm đau khổ của mình. Chúng tôi học tiểu học ở trường Monguillot thị xã Thái Bình. Côn là cháu đích tôn của cụ Đặng Đình Điền, tự Hào Điển, một trong những lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng. Năm 1951, sau khi cộng sản quy định thành phần, giai cấp, mặc dù đã mù lòa, bệnh hoạn, cộng sản vẫn bắt cụ Hào Điển, bỏ cụ vào cái rổ xề, khiêng cụ ra giữa cánh đồng hoang vắng và để cụ chết đói chết khát ở đó. Qua mấy năm tao loạn, chúng tôi lại gặp nhau ở thị xã Thái Bình đổ nát vì tiêu thổ kháng chiến. Tình bạn vẫn khắng khít. Chúng tôi học trung học tại trường Trần Lãm và không ngớt tương tư thị xã đềm êm cũ với những hàng hồi thơm hăng hắc dọc vỉa hè đường phố. Rồi chúng tôi lên Hà Nội trọ học. Mùa hè 1954, tôi về Thái bị kẹt vì Pháp “di tản chiến thuật”. Tôi ở lại chứng kiến quân cách mạng tiếp thu Thái Bình. Rồi hội nhập đời sống mới.
Cuối tháng 7-1954, Côn trở lại Thái với nhiều ưu tư. Nó không hé miệng nói cho tôi nghe những ưu tư của nó. Chúng tôi thường lên cầu Bo ngắm dòng sông Trà Lý đỏ ngầu phù sa mùa nước lũ. Cầu Bo. cây cầu kỷ niệm của chúng tôi, bị quân Pháp đánh sập nhịp giữa trước đêm rút lui. Người ta bắc cầu giây đi tạm. Côn ở Thái hai tuần lễ và lỉnh tránh mọi công tác… cách mạng. Một buổi sáng nó tìm tôi khi tôi đang bận kê bàn ghế cho lớp học dạy “công nhân” vỡ lòng quốc ngữ. Côn rủ tôi sang Nam Định chơi. Tôi từ chối, vì… công tác khẩn trương. Tôi bảo Côn đợi vài hôm nữa. Nó bỏ về. Rồi nó sang Nam Định lúc nào tôi không rõ. Cuối tháng 8-1954, Nguyễn Thịnh từ Hà Nội về Thái. Tôi hỏi thăm Côn. Thịnh nói Côn đã vào Sài gòn..
Tôi choáng váng. Côn đã nghi ngờ tôi theo… cách mạng, không dám tâm sự với tôi. Tôi vội vàng chuồn lên Hà Nội, kiếm nhà Vũ Thượng Văn ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, hỏi thăm đia chỉ Côn tại Sài gòn. Tiêu pha hết đồng bạc cuối cùng ở Hà Nội, cuối tháng 9-1954 tôi mới vào Sài gòn, đến phố Heurtaux bên Khánh Hội tìm Côn. Thế là chúng tôi có tháng ngày nhà hát Tây ba đào, có tình yêu lẩm cẩm, có Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… Chúng tôi thêm những kỷ niệm cay đắng vào đời. Sự nghiệp văn chương của tôi, phần lớn, là do Thằng Côn đóng góp. Bằng khích lệ. Bằng cả những đồng tiền mồ hôi của nó. Tập truyện Hoa thiên I)” của tôi, Côn bỏ tiền xuất bản. Nếu có lần nào đền ơn Thằng Côn thì chỉ một lần Thằng Vũ nghiến răng chịu nhục, chịu hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn để ngậm miệng cho Thằng Côn bình yên ngoài nhà tù mà tìm cách đưa vợ con trốn khỏi Việt Nam. Đáng lẽ, Côn ra đi bình yên trước 30-4-75, nó cứ bám sát tôi Cho đến phút chót, nó vẫn lo tôi bị tàn sát trước nhất.
– Tao nghĩ mày nên đưa vợ con lỉnh chỗ khác.
-Chỗ nào? Không còn chỗ nào cho tôi ẩn thân cả. Mà tôi cũng cóc cần ẩn thân nữa.
– Mày đừng chướng.
-Cúp điện thoại đi!
Tôi cúp trước, khỏi cần đợi Côn.
***
10 giờ 20 phút. Chuông điện thoại lại reo:
– Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó đã lảng vảng khu nhà anh Hoàng văn Đức rồi. Tao lên mày nhé?
– Hỏi chi nữa!
Tôi cúp điện thoại ngay. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khói lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm “thoát chết, bung ra.” Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi 0 giờ 1 phút. Nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Làm thế nào đểà con người được chết ngon lành? Tôi chợt nhớ một truyện ngắn của Jack London, nhan đề Mất mặt. viết về sự dọn chết tuyệt vời của một người không thích chết đau đớn, sợ hãi chết khắc khoải. Câu chuyện như thế này: Một gã phiêu lưu da trắng lạc vào một bộ lạc hung dữ nhất của một vùng Bắc cực. Các bộ lạc ở đây đánh giá trị vĩ đại nhất bằng sự tàn ác nhất. Bộ lạc nào giết kẻ thù chết từng giây, chết đếm nỗi chết từng giây, chết quằn quại, rên la lâu nhất, bộ lạc ấy được tôn vinh và công nhận là minh chủ. Thế thì gã phiêu lưu của Jack London đã rơi vào tay bộ lạc minh chủ. Gã hiểu gã sẽ bị chết co rút mỗi tế bào. Gã cũng hiểu những kẻ tàn ác nhất đều là những kẻ thèm sống “muôn năm”, thèm bất tử, nên gã xin được kéo dài ngày chịu tội để kiếm lá luyện thuốc bất tử. Môn thuốc này bôi khắp mình mẩy, tên bắn vào văng ra, búa bổ xuống nẩy tung, lao phóng trúng cong oằn… Tù trưởng của bộ lạc minh chủ sướng quá, bèn cho gã phiêu lưu đi tìm lá. Gã khôn ngoan, luyện thuốc bất tử thật lâu. Khi đã luyện xong, gã yêu cầu vị tù trưởng thử. Vị tù trưởng sợ, không dám thử. Không ai trong bộ lạc dám thử cả. Tất cả những kẻ hung ác đều sợ chết thảm và đều thích người khác chết thảm. Cuối cùng, gã phiêu lưu tình nguyện thí nghiệm thuốc bất tử của mình. Bộ lạc đồng ý. Gã yêu cầu kê cổ gã trên một 1 húc gỗ tròn và chắc và phải dùng một cái búa sắc như nước do tay lực lưỡng xử dụng. Gã bôi thuốc đầy cổ. Rồi gã dục hạ búa. Nhát búa vung lên, bổ mạnh xuống. Gã phiêu lưu bay đầu. Gã được chết ngon lành. Bộ lạc minh chủ mất mặt, mất ngôi minh chủ và bị các bộ hạ khác khinh bỉ, vì đã để kẻ thù chết sung sướng, chết thanh, chết gọn…
Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ, cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết. Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót. “Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.” Cao Dao khuyên tôi thế. Tôi cần sống sót. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ”? Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ không hề có một cái gì đểà lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào – nhà văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết – khi chết được vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả, nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ can đảm. Người ta còn bắt nhà văn dấn thân, nhà văn tranh đấu cho đủ thứ quyền của con người, nhưng, mỉa mai thay, cái quyền lợi thiết thực của nhà văn là tác phẩm mồ hôi, tim óc của họ bị đạo tặc công khai tước đoạt, không ai tranh đấu cho nhà văn cả Tôi đã thấy chính xác nhà văn tạo hào quang rực rỡ cho anh hùng, liệt sĩ, thần thánh. Nhân loại đã thờ phụng hình chúa Giêsu vẽ theo trí tưởng tượng của Michel Ange mà không thờ Michel Ange. Những bức tượng, những tranh vẽ trong giáo đường của Léonard de Vinci, của Raphael về Đức Mẹ, về thiên thần đều được kính cẩn thờ phụng cả đấy. Ai đã nói cho nhân loại biết tài năng của Michel Ange, Léonard de Vinci, Raphael? Nhà văn. Nhà văn viết về Thượng Đế. Nhà văn làm ra Thượng Đế. Thượng Đế không làm ra nhà văn. Gần gũi chúng ta nhất, người Tầu và cả người Việt Nam đều đèn nhang, trầm hương xì xụp vái lạy ba anh Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi mà quên nhà văn La Quán Trung đã phong thánh cho ba anh rất lơ mơ trong lịch sử Trung Hoa. Tài năng của nhà văn La Quán Trung đã biến nhân vật tiểu thuyết thành thánh. Không ai thờ La Quán Trung cả. Người ta hằng luận về hào khí Võ Tòng, Lâm Xung mà quên Thị Nại Am; ngợi ca Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung, Dương Quá, Quách Tĩnh mà quên Kim Dung. Vân vân… ở thời đại của tôi và ở đất nước tôi, nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc đã phong thánh cho Hồ Chí Minh. Khi đất sét được nặn hóa thánh, thánh tưởng mình thiêng đã bỏ tù những kẻ phong thánh cho mình. Nhân Văn giai phẩm là thí dụ điển hình. Nguyễn Bính có câu thơ mà tôi rất thích: Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ. Cái đám thế nhân mắt trắng có thánh để thờ, có thần tượng để chiêm ngưỡng, có lãnh tụ để suy tôn, có ước mơ để mơ ước, đã không đem gạo nuôi nhà văn, đã không biết ơn nhà văn, lại còn ong óng lời chó dại, lại còn phun phì nọc rắn rết lên án nhà văn, thống trách nhà văn. Vậy thì nhà văn, anh đã sáng suốt nhận ra anh chưa? (Tôi đã nhận ra tôi. Và tôi cho rằng tôi chỉ có trách nhiệm với những thống khổ tôi đã kinh qua, đã thể nghiệm. Tôi không được phép phản bội những oan khiên, những cay đắng, những cô đơn đã soi sáng cuộc đời tôi. Và tôi hiểu rằng nhà văn có quyền phép ghê gớm. Nhà văn đưa thằng bán chiếu Lưu Bị lên ngôi anh hùng và bắt kẻ anh hùng Tào Tháo làm đứa gian hùng. Thế nhân mắt trắng, cái đám ưa hạch sách nhà văn, vấn nạn nhà văn, thị phi nhà văn, chụp mũ nhà văn, sống nghìn đời vẫn không đủ tư cách và khả năng hủy diệt nổi tác phẩm của nhà văn. Nhưng, nhà văn chỉ cần cuốn sách mỏng, viết bằng chân trái, cũng đủ nhốt cái đám gian dối lương tâm vào ngục tù muôn thuở. Đừng có đùa với văn chương Và đừng có rỡn mặt nhà văn. Chưa quán triệt sức mạnh của văn nghệ, học đòi làm lãnh tụ, học đòi mưu đồ quốc sự, đã không biết kính trọng nhà văn còn xúi dục tiểu yêu bôi bẩn nhà văn, quả là bọn cắn hạt gạo chưa vỡ đôi Người ta chỉ đố kỵ niềm vinh quang của nhà văn mà không chịu cảm thông nỗi nhục nhằn nhà văn phải kiên nhẫn chịu đựng, chịu đựng không ngừng. Và nhà văn làm việc cho ai, tác phẩm của nhà văn để lại cho ai, người ta cứ giả vờ không thèm biết. Rồi mỗi năm bao nhiêu tiến sĩ tốt nghiệp và bao nhiêu năm mới nẩy sinh một danh sĩ, người ta cũng cứ giả vờ không biết. Và nhà văn chờ đợi cái chết vì tác phẩm của mình thì không ai biết. Nhưng cần gì ai biết mình sống ra sao, viết trong những hoàn cảnh nào, nhà văn, có vẻ như kiêu ngạo để không lý tới cái hôm nay. Mà đúng thế, nhà văn đã không lý tới cái hôm nay, cũng chẳng thèm lý tới những phán xét ngu xuẩn của thời nay. Trên sầu đạo và ngược dòng nghịch lũ oan khiên, nhà văn mang tâm sự của con gọng vó, âm thầm bước, âm thầm lội. Và âm thầm đợi chết. Như tôi. Không ai chia xẻ với tôi nỗi sợ hãi cả. Ngày nào đó “thoát chết, bung ra”, tôi viết những trang sách ghi lại cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim, chắc chắn, tôi vẫn được chiếu cố tận tình bởi soi mói của cú vọ, bởi phẩm bình của quạ diều. Có phải đó là sự trả nghiệp, theo nhà Phật?
***
Đặng Xuân Côn chở vợ con lên. Tôi cũng tính xong sổ đời. Thấy chẳng để lại vết tích nào dơ bẩn trên 200 số báo Tuổi Ngọc và suốt 1 5 năm viết văn, làm báo, tôi cam đành đợi chết. Nói cam đành vì tôi thèm sống, sợ chết. Để cực tả, phải viết: Tôi thèm sống vô cùng. Lúc này tôi mới cảm Tư Mã Thiên và phục Tư Mã Thiên. Than ôi, Tư Mã Thiên chịu nhục hình, cố bám lấy cái sống hèn chỉ vì chưa lo xong Sử ký. “Ta hồ văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ Nếu Tư Mã Thiên không chấp nhận hình phạt thiến, không vượt lên sự khinh bỉ của thể nhân mắt trắng, không cô đơn những ngày tháng còn lại, sẽ muôn đời không có Sử ký của Tư Mã Thiên. Kẻ làm việc cho muôn đời chấp nê chi cái lẽ sống hèn, sống hùng. Những đứa chê bai Tư Mã Thiên đều đã chết như cây cỏ. Chúng nó sống hùng lắm, sống hùng miệng lưỡi mà chẳng có gì để lại: Chúng nó chê Tư Mã Thiên sống hèn, sống nhục nhã tội bị thiến, không dám chết giữa pháp trường, nhưng nhờ biết sống hèn, sống nhục, Tư Mã Thiên có Sử ký. Tư Mã Thiên được phục sinh bằng Sử ký. Và bằng Sử ký, Tư Mã Thiên bất tử.
Ông đau vết hoạn lưỡi dao hèn
Từ đó, cung giương một mũi tên
Theo hồn tài tử. tên bay vút
Ngạo nghễ hành tinh Tư Mã Thiên
Những đứa chê ông chết cả rồi
Nhưng ông sống mãi như mây trôi
Hai nghìn năm ngỡ chùng gang tấc
Mảnh đất oan này lại có tôi…
Sử ký và Tư Mã Thiên đã đủ soi sáng thân phận nhà văn và tác phẩm hoàn thành bất chấp nghịch cảnh, bất chấp mọi hoàn cảnh, bất chấp cung cách sống, bất chấp cảnh ngộ sống chưa? Có lẽ, với ngự sử vô học, với “sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền”, cần được giáo dục thêm nữa. Tôi không thừa thì giờ nói với hai hạng người vừa kể. Tôi tâm sự với nhà văn. Nhà văn có sức mạnh tuyệt luân. Nhà văn là con người như mọi con người. Y cũng phải chết thôi. Có thểà, y sẽ bị chết theo cung cách Gandhi đã bị chết. Nhưng tác phẩm của y không bao giờ chết. Y có thể chịu hình phạt nhục, chịu phán xét ngu xuẩn như Tư Mã Thiên, như Gheorghiu. Chính sự chịu nhục sống hèn (hiểu theo nghĩa bần tiện của thế nhân mặt trắng) của nhà văn đã làm tác phẩm của y rực rỡ và tác phẩm của y phục sinh y sau cái chết. Nhà văn, có thể, chết thảm như Khái Hưng và Lan Khai. Cộng sản đã nhận chìm Khái Hưng, Lan Khai dưới nước mà không thể nhận chìm tác phẩm của tác giả Hồn bướm mơ tiên, Dọc đường gió bụi, của tác giả Cái hột mận, Lầm than… dưới nước. Cộng sản kiêu ngạo nhất loài người, đầy đủ quyền uy và biết chơi bạo lực mà vẫn ngậm ngùi sợ hãi văn chương – tư tưởng: “Cơ sở giai cấp của bọn phá hoại còn tồn tại lâu dài trong xã hội ta. Khi đã hết giai cấp, thù địch vẫn còn. Vì tư tưởng của giai cấp có sức sống dai hơn giai cấp tính ra nó”* . Nghĩ cũng tội nghiệp cho đám lãnh tụ ễnh ương của quyền uy ảo tưởng và đồ đệ cứ hăm hở đòi hủy diệt nhà văn và tư tưởng của nhà văn. Phải nói rõ rệt là nhà văn cố gắng soi sáng những mê muội của thời đại mình. Thời đại mê sảng, cố tình mê sảng thì người đời sau sẽ làm công việc thương người đời xưa. Nguyễn Du còn ngờ vực, 300 năm sau, có ai hiểu ta chăng, thì nhà văn xá chi những hạch hỏi vô lý, vô nghĩa, vô học, vô ơn của cóc nhái thời thượng. Song, cần thiết, nhà văn phải nhận ra mình, phải nhận ra sức mạnh tuyệt luân của mình và phải biết xử dụng, dám xử dụng sức mạnh đó để chế ngự bạo lực đến từ bất cứ phía nào, ở bất cứ nơi đâu, dẫu sự chế ngự có mang tới những cay đắng nghiệt ngã, những oan khiên ứa máu, những ngộ nhận nứt tim. Và cả nỗi chết. Và luôn sự thèm sống hèn đểà thoát chết. Tôi nghĩ rằng cái cứu cánh biện minh cho cung cách sống chết của nhà văn là tác phẩm y để lại cho đời sống. Trong bộ cassette tưởng mộ Victor Hugo, một vị viện sĩ của Viện Hàn Lâm Pháp quốc đã múa một tuyệt chiêu: “Nước Pháp không được phép nói tha thứ những bê bối trong cuộc đời của Victor Hugo mà phải có bổn phận chấp nhận những bê bối ấy. Vì sự nghiệp văn chương của Hugo đã làm rạng rỡ cho đất nước Pháp và dân tộc Pháp.”
Tôi không ở nước Pháp, không là nhà văn Pháp. Georges Simenon viết nhiều, viết khỏe, chẳng cần phải quan tâm văn chương, tư tưởng của Simenon, Jean-paul Sartre đã vinh tôn khả năng sáng tạo của Simenon. Tôi cũng viết nhiều, viết khỏe, thì chỉ nghe Sài gòn dè bỉu và đợi Hà Nội vào tàn sát. Và tôi thèm sống hèn. Để hy vọng có một Sử ký như Tư Mã Thiên.
***
10 giờ 30. Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đặng Xuân Côn mở radio thật lớn. Tôi lặng người trong giọng nói cơm nguội của Big Minh. Tôi mất miền Nam từ giây phút này.
– Tắt radio đi, Côn?
– Đểà nghe xem còn tin tức gì nữa.
– Hết rồi.
– Chưa.
-Tôi bảo hết rồi. Tắt đi?
Tôi nhìn Côn:
– Có thể ông thoát biển máu. Vợ con tôi cũng có thể thoát biển máu. Tôi thì khó thoát.
Côn an ủi tôi:
– Mày sẽ thoát.
Tôi lắc đầu:
– Khó lắm. Tôi biết tôi. Cộng sản biết tôi. Những kẻ muốn làm tốt đẹp cho xã hội miền Nam sẽ bị quăng xuống biển máu. Nếu ông thoát…
Côn chớp mắt:
– Tao hiểu tao sẽ phải làm gì cho mày.
– Cho vợ con tôi thôi.
-Mày muốn tao sẽ làm gì?
– Đưa vợ con tôi rời khỏi Việt Nam.
Im lặng. Hai chúng tôi nhìn nhau, nước mắt ứa ra. Trong phòng ngủ, hai người đàn bà và những đứa trẻ con khóc nức nở. Tôi biết, cả Sài gòn đang khóc….
NẾU CUỘN BĂNG NHỰA GHI LỆNH ĐẦU HÀNG CỦA DƯƠNG VĂN MINH THẤT LẠC
Mỗi biến cổ lịch sử xảy ra thường kèm theo những chuyện ngoài lề. Và những chuyện ngoài lề được truyền kể, được thêu dệt thành huyền thoại. Một trong những chuyện ngoài lề dưới đây không phải là huyền thoại. Mà là chuyện ở quán cà-phê vỉa hè sau ngày 30-4-1975. Người ta thuật cho nhau nghe, người ta luận bàn và người ta không thèm quan tâm đến cái vô lý của câu chuyện.
***
10 giờ, Phủ tổng thống gọi cho Đài phát thanh sài gòn, yêu cầu gửi gấp sang một chuyên viên ghi âm. Anh chuyên viên đem máy móc, băng nhựa đến trình diện ông Giám Đốc Nha báo chí Phủ tổng thống. Anh vào phủ bằng lối góc ngã tư Nguyễn Du – Thủ Khoa Huân – Huyền Trân Công Chúa. Giám đốc Nha báo chí hướng dẫn anh chuyên viên tới phòng họp của Tổng thống. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng cộng sản tại đây. Kẻ viết lệnh đầu hàng là Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin của nội các Vũ văn Mẫu, “danh sĩ” của môn phái Hoa Lan. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng xong, anh chuyên viên Đài phát thanh đem băng về đài. Anh ta lái chiếc Honda 50. Cuốn băng lịch sử được giao cho phòng phát thanh và được ra lệnh phát vào đúng 10 giờ 30 phút.
***
Câu chuyện vắn tắt trên đây ví như Kinh Xuân Thu của Khổng Tử. Các vị Đông Lai, các Mao Tôn Cương “phản động” đã “bác nghị”, đã “lời bàn” sôi nối.
– Tôi không tin đại sự lại giản dị thế.
-Dương văn Minh hiểu gì đại sự? ông thử nhìn kỹ coi, bọn Minh sún có thằng nào ra cái giống người?
-Tôi nghĩ lệnh đầu hàng trực tiếp truyền thanh.
-Trực tiếp con khỉ! Chúng nó quýnh hét, đâu kịp chuẩn bị. Phải tin tôi, thằng chuyên viên Đài Sài gòn là bạn tôi.
-Là bạn ông à?
-Ừ! Nó lái Honda “chở” lệnh đầu hàng. Tôi tự hỏi, nếu nó bị đụng xe, chết ngỏm, lịch sử sẽ ra sao? Hoặc nó phẫn nộ, vất cha nó cuốn băng ghi lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, về ngủ với vợ, lịch sử sẽ ra sao?
-Chắc chắn Sài gòn nổ lớn.
-Nổ lớn, tôi đã mong mỏi. Rốt cuộc, chỉ tại thằng chuyên viên mẫn cán, ngu đần, sợ lệnh lạc mà cộng sản vào Sài gòn ngon ơ. Tức muốn hộc máu mồm.
– Tôi nghe nói cộng sản đã vô Dinh Độc Lập từ đêm trước, chúng dí súng sau ót Dương văn Minh, bắt Minh đọc lệnh đầu hàng.
– Không có vụ ấy.
***
Nếu câu chuyện kể trên đúng 80%, nếu anh chuyên viên của Đài phát thanh Sài gòn bị đụng xe chết giữa đường Thống Nhất, nếu anh chuyên viên quên Dương văn Minh, quên lệnh đầu hàng về ngủ với vợ, tôi tin chắc rằng lịch sử khác đi một chút. Nó cũng sẽ bị sang trang nhưng không đến nỗi sang trong buồn tủi. Sẽ có máu, nhiều máu của Sài gòn 30-4-1975. Và đó là những dòng máu cần thiết cho Sài gòn ngày mai…

DUYÊN ANH

SÔNG CÁI VÀ THẰNG CÙ LẦN

lephuhai

Sông Cái nói ở đây là sông Cái ở Nha Trang. Theo tài liệu thì sông phát nguyên từ hòn Gia Lê, cao 1.812 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh, vào thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển ở cửa biển Nha Trang. Từ thượng nguồn, sông về tới Nha Trang thì chia làm 2 ngã: một ngã chảy về Cửa Bé, ngã kia chảy về Vĩnh Ngọc. Đoạn chảy về Vĩnh Ngọc là đoạn chính, tại đây sông lại chia ra 2 nhánh, một nhánh chạy lòng vòng rồi chảy ngang cầu Hà Ra, tôi hay gọi nôm na là sông Hà Ra, nhánh kia rộng và sâu hơn, chảy xuống Xóm Bóng – Cù Lao, rồi cũng chảy ra cửa Nha Trang như nhánh kia. Hai nhánh trước khi chảy ra cửa biển, gặp nhau và cùng ôm lấy cồn đất phù sa, tên gọi dân gian là Gò Dê, chúng tôi thường gọi là Phù Sa. Đây là nơi chúng tôi thường đến cắm trại chơi trong những ngày nghỉ lễ…
Hồi đó, muốn đi Phù Sa phải đi từ phía Hà Ra sang, vì ở đó có một cây cầu gỗ nhỏ bắc qua sông. Chúng tôi thường hay bông nhông ở cây cầu này để tắm và đùa giởn, chờ tụi con gái mặc váy đi ngang phía trên thì ầm ĩ chọc ghẹo… Từ phía tháp Bà qua thì không có cầu, phải đi bằng ghe hoặc bơi.

Năm lớp 8, có một lần tôi cùng một thằng bạn đi tắm sông đoạn gần chùa Hang phía trên tháp Bà. Đứng ở đây ngó thẳng qua là xóm Phù Sa xanh mát, nhìn tưởng gần như chỉ với tầm tay là tới được. Tắm một lát, tôi rủ: “Bây giờ tụi mình bơi qua bên Phù Sa chơi nghen?”. Thằng bạn phân vân: “Liệu mình có bơi qua được không ta?”. Khoảng giữa đoạn sông có một cồn đất, tôi nhìn và ước lượng: “Đây qua cái cồn kia chừng 50 mét. Mình bơi qua đó nghỉ rồi bơi tiếp, chắc là được”… Hai thằng nhảy xuống nước bơi ra. Chưa có kinh nghiệm tắm sông nên tôi quên mất con sông đang chảy. Đến chừng ngó lại thì thấy mình bị trôi về phía dưới. Tôi hoảng hồn. Bơi về thì không được vì đã khá xa bờ, bơi lên thì ngược nước. Không còn cách nào tôi chỉ còn biết nhắm hướng cái cồn đất mà quạt. Hai cánh tay mõi dần, người nặng trịch. Nhìn qua thằng bạn thấy nó cũng đang như tôi, bơi lia lịa về phía cồn đất. Tôi đuối dần và bắt đầu uống nước. Tôi khóc và kêu to thành tiếng: “Ơi má ơi! Ơi má ơi!”. Thằng bạn nghe tôi khóc thì lên tiếng: :Ráng lên Hải ơi!”. Tôi chợt nhớ má tôi thường dặn nếu gặp chuyện bất trắc hay hoạn nạn thì đọc Kinh trông cậy. Tôi cố gắng lần cuối và làm theo lời má tôi dặn. Xong, thả thử cái chân xuống vẫn không thấy đất. Tôi tuyệt vọng. Và trong lúc chuẩn bị buông xuôi để chết thì bất ngờ chân tôi chạm đất. Tôi quạt thêm mấy sải thì chớn nước chỉ còn tới miệng. Thẩn thờ lê lết vào đến bờ đất tôi quị xuống và ói. Thằng bạn khỏe hơn nên đã vào bờ trước tôi. Nó vỗ vỗ vào lưng tôi để giúp tôi ói hết năm bảy ngụm nước vừa uống… Nằm nghỉ khoảng gần tiếng đồng hồ hai đứa tôi bơi về, lần này cẩn thận chọn khoảng sông hẹp và có tính toán nương theo con nước…
(Mới đây tôi chợt có ý định mai mốt “chết già” dặn con cháu đem tro cốt về đây liệng cho tiện…)

xxx

Nói đến rừng có lẽ hình ảnh đầu tiên ai cũng nghĩ đến là núi. Bởi dãi đất nam trung bộ dài và hẹp là nơi tiếp giáp giữa núi rừng và biển cả; nơi mà có lẽ cách đây nhiều triệu năm sóng vỗ không ngừng …
Rừng trong tuổi thơ tôi là hòn núi Sạn cạnh nhà, nơi hàng ngày tôi và mấy thằng bạn háo hức chờ những người thợ chẻ lăn những viên đá hoa cương từ trên lưng chừng núi xuống. Những hòn đá vuông lăn long lóc từ triền núi xuống bên dưới rồi dừng lại sát cạnh những ngôi nhà. Những lúc ấy chúng tôi hồi hôp lắm… Bởi vì những viên đá lao đi như chở theo muôn vàn suy nghĩ của tuổi thơ theo từng vòng lăn đầy bất trắc.

Lớn hơn một chút, hòn núi Sạn của tôi bỗng dưng nhỏ lại. Tôi lại hướng mắt về phía chân trời xa hơn, tìm một hòn núi lớn hơn. Đó là núi Cô Tiên. Đứng từ phía Hòn Chồng nhìn ra hướng Bắc, những hòn núi nằm trong cụm núi của đèo Rù Rì đổ ra biển tạo thành dáng chân, ngực và đầu của một thiếu nữ đang nằm, tóc xõa dài ra biển. Không biết từ lúc nào trên núi có tượng một anh lính màu trắng, nhìn xa trông nhỏ xíu. Tôi chưa có dịp đến gần để coi, hỏi mấy anh lính đang học ở quân trường Đồng Đế gần đó thì có anh mĩm cười đọc hai câu thơ truyền miệng:

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ
Em nằm xỏa tóc đợi chờ ai?

Có anh cười hà hà nói: “Tụi anh thường gọi bức tượng đó là thằng cù lần”. “Sao vậy hả anh?” “Vì nó xấu quắc”.

Sau năm 1975, tôi chưa kịp leo lên núi coi mặt “thằng cù lần” thì người ta đã cho nổ mìn, bức tượng ngã xuống triền núi, đứng xa chỉ còn nhìn thấy một vệt trắng mờ.
Mãi cho tới mới đây, tình cờ thấy hình bức tượng này trên internet. Trời đất! Bức tượng xấu thiệt!

Dù sao cũng thấy có một chút ngậm ngùi cho “thằng cù lần”, cho cả tuổi thơ tôi…

LÊ PHÚ HẢI

TIỄN

nguyenlienchau

Hoá vàng một mối tình con
Tiễn tàn tro những mất còn qua sông
Lạc nhau trước cửa mùa đông
Thơ se se lặng một dòng biệt ly
Hoá vàng một mối tình si
Tiễn theo gió áo vu quy qua cầu
Nhủ lòng chẳng có gì đâu
Tay không khép được mười đầu ngón buông
Hoá vàng thôi một người buồn
Tiễn ta về lại con đường không em.

NGUYỄN LIÊN CHÂU

LÀM NGƠ

nguyenbatrac

Biết chứ hồn anh dài vạn dặm
Lòng anh nặng trĩu một trùng dương
Dăm khi anh lẻn về quê cũ
Ði một mình ở một bờ sông

Ði một mình theo một dòng sông
Anh lén đi trên những cánh đồng
Trong một mùa đông trơ gốc rạ
Em ngồi may áo ở bên song

Anh khuấy thời gian, khuấy cà phê đặc
Nhìn cái phin nhỏ giọt tương lai
Anh nhâm nhi từng hớp ngậm ngùi
Ðôi khi đắng như cà phê đắng

Anh là thi sĩ ở bên đây
Anh uống từng cơn nỗi ngậm ngùi
Anh nghe nghẹt thở như hải tặc
Bao nhiêu nước đã chôn vùi thân em

Anh đối diện dửng dưng nỗi khổ
Lấy đau thương dệt mấy vần thơ
Giả như đọc thơ anh nghe trúc trắc
Xin ngậm cười, em hãy làm ngơ …

NGUYỄN BÁ TRẠC