VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA

phantranghy

Hải bặm môi, trở mình. Mấy hôm nay trở trời, nằm trên giường nệm, anh vẫn thấy ê ẩm cả người. Vết thương ngày nào, giờ, tái phát. Nhưng anh gắng gượng. Anh phải cố sức để vẽ cho xong bức tranh về đồng đội anh ngày nào, về một thời đã ám ảnh anh trong từng hơi thở, trong từng mảng màu, nét cọ mà anh thao thức.
Anh khó nhọc chống cùi ngồi dậy. Miệng khô khốc. Anh nuốt nước bọt. Chỉ có sự rát đau ở họng. Anh đưa miệng ngậm chiếc ống nhựa, hút nước ở ly.
Uống nước xong, anh lại định thần, gắng hít thở thật mạnh. Tựa lưng vào chiếc gối, anh nhìn bức tranh còn dang dở. Hình ảnh đồng đội của anh lại hiện về.
Nhớ lại ngày ấy, anh cùng đồng đội xây dựng đảo. Chiến dịch CQ88 được phát. Nhận lệnh là đi. Chỉ có trái tim vì biển, vì đảo. Không phải là những câu khẩu hiệu tuyên truyền mà chính là mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu biển đảo đã đưa anh cùng đồng đội đến với Gạc Ma.
Nhìn bức tranh, anh như thấy từng người. Này là Quân, lính trẻ nhất đơn vị, thích nghe anh nói chuyện về những cô gái ở làng biển quê Quảng Nam. Này là Nhơn, người lúc nào cũng thích ca bài chòi. Cựa một tí là ca. Dù chẳng có hơi xuống giọng xề. Thế nhưng, mỗi lần rảnh là ca. Anh em trong đơn vị thích cái tính xuề xòa của Nhơn nên cũng thích luôn những lời ca dân dã ấy. Này là anh Phương, chỉ huy, coi anh em như ruột thịt. Còn biết bao nhiêu người nữa. Họ trong tranh như cười động viên anh vượt qua cơn đau.
Nhìn tranh, anh nhớ lại ngày ấy…
Trời hửng sáng. Biển vẫn trong xanh. Cả đơn vị đang ra sức xây dựng đảo. Yên bình trên từng lời bông đùa của đồng đội. Yên bình trên từng con sóng. Hải như nghe được lời của Nhơn ca: “Đảo này là của chúng ta. Ngàn năm ta giữ nước nhà Việt Nam…”. Tiếng vỗ tay vang lên. Chưa kịp cười đùa cho thỏa thích, Hải bỗng nghe tiếng loa. Lởn vởn tàu của giặc. Chúng bắt loa gọi đơn vị anh rời đảo. Nhưng lời của bọn giặc chẳng là cái quái gì. Cả đơn vị phớt lờ lời của giặc. Anh em được lệnh của anh Phương: “Phải bình tĩnh. Đảo là của ta, ta quyết giữ. Chúng ta giữ đảo là giữ đất Mẹ Việt Nam. Quyết không rời đảo!”. Lúc ấy, Hải như thấy tất cả đều có tâm niệm: “Quyết không rời đảo!”. Bọn giặc tìm cách khủng bố tinh thần của anh em. Rồi bất thần, bọn chúng xả súng về phía đơn vị anh.
Hải không ngờ tình thế như vậy. Chỉ tiếng súng nổ. Và đạn bay… Chợt tiếng của Phương vang lên: “Tất cả nắm chặt tay nhau, kết thành vòng tròn. Quyết tâm bảo vệ đảo, bảo vệ cờ Tổ quốc!”. Đó cũng là mệnh lệnh của trái tim. Trong làn đạn của giặc, Hải và đồng đội siết tay thật chặt, kết thành vòng tròn, giữ cờ Tổ quốc. Lá cờ ngạo nghễ giữa biển trời. Giặc vẫn xả súng. Hải một tay nắm tay Nhơn, một tay nắm tay Quân. Và cứ thế vòng tròn vẫn vững trước đạn thù. Bỗng, Nhơn á lên một tiếng. Giọng Nhơn đứt quãng. Máu Nhơn! Nhơn bỏ tay Hải, quỵ xuống: “Anh Hải!… Hãy… trả thù… cho… em!”. Đạn giặc trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái… Đạn giặc bao vây đồng đội anh. Rồi, Quân cũng bị trúng đạn. Quân ngã trên người Hải, giọng phều phào: “Anh đưa… em… về quê… nghe!… Nói… với Mẹ… là em… em… nhớ Mẹ… lắm!… Còn chuyện… mấy đứa… con gái… làng chài quê anh…,… em xin… nói lời… vĩnh… biệt… với họ… Mẹ!… ”. Quân hy sinh trên tay anh. Anh chưa kịp nói lời nào thì lại nghe tiếng gào to. Đó là tiếng Phương. Tiếng của Phương hòa trong tiếng sóng: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo”. Đạn giặc bắn không ngừng. Hải thấy hai tay mình như có ai chém.
Hai tay của Hải không còn. Trước mắt anh sừng sững lá cờ Tổ quốc cùng đồng đội. Mắt anh vẽ một khoảng không. Biển. Đảo. Đồng đội. Cờ Tổ quốc!…
*
* *
Hải được giải đặc biệt về Biển đảo Quê hương, nhiều phóng viên đã đến tìm hiểu về cuộc đời anh. Bấy lâu nay, có ai biết đến Hải Trường Sa là ai đâu. Nhưng giờ đã khác. Bút danh Hải Trường Sa khẳng định với công chúng về tài năng hội họa.
Tôi được Hội Văn học Nghệ thuật thành phố gửi giấy mời tham dự buổi khai mạc và trao giải thưởng. Vì bận việc đột xuất, nên tôi đến trễ. Chỉ được xem tranh là chính. May mắn cho tôi là được thưởng thức một số tranh dự thi đoạt giải cùng với một số tranh khác của những họa sĩ nổi tiếng trong nước.
Sau khi xem từng bức tranh, tôi giành thời gian bên bức tranh đạt giải đặc biệt. Trước mắt tôi là bức tranh mang tên “Vòng ký ức Tháng Ba”. Và điều làm tôi ngạc nhiên là, bên cạnh bức tranh, một người không còn hai bàn tay. Đó chính là Hải Trường Sa, tác giả bức tranh ấy. Một số phóng viên đang phỏng vấn anh. Anh chỉ cười. Đứng cạnh Hải, tôi nghe anh trả lời:
– Có gì đâu! Tôi không vẽ là tôi còn nợ với chính tôi. Tôi chỉ là người lính giữ đảo năm nào, giờ là như thế này đây – Anh cười và đưa hai cánh tay cụt – Cũng may cho tôi là chất lính một thời trong tôi giúp tôi vẽ. Còn đời tư tôi, xin các bạn thông cảm, tôi không muốn nói về mình. Chỉ thế thôi!
Nghe những gì anh trả lời, không hiểu anh ta khiêm tốn hay kiêu. Nhưng rồi, nhìn nụ cười hiền với tiếng nói đặc sệt chất giọng Quảng Nam, cùng với ánh mắt sáng tự tin, tôi tin lời anh nói.
Và rồi, người xem tranh cũng bớt dần. Tôi đến làm quen Hải. Tôi tự giới thiệu về mình, là thầy giáo, nhà văn, thích xem tranh vẽ. Hải nhìn tôi cười. Và đưa cái cùi chỏ đụng vào bàn tay tôi lắc lắc.
Từ đó trở đi, chúng tôi thành bạn của nhau. Những khi rảnh, tôi thường đến thăm Hải. Hoặc trao đổi qua facebook. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Biết tính Hải không muốn nói về mình, nhưng tôi cũng hỏi chuyện riêng tư của Hải. Vì thân, mà đã là bạn thân cần gì phải dấu nhau điều gì, nên rồi Hải cũng tình thật kể cho tôi nghe.
– Cậu biết không, hồi thanh niên, mình thích vẽ lắm. Nhìn những tranh của Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, rồi đến Đinh Cường, Bửu Chí, Rừng… là mình mê tít. Mình có một tập ảnh chụp lại các bức tranh mình thích. Nhìn những bức tranh ấy, nhiều lần, mình tưởng tượng các sắc màu trong các tranh ấy như muốn nói với mình: “Bạn cứ tin vào khả năng và tình yêu của chính mình thì mới có thể vẽ những tranh đẹp được”. Mình tin lời sắc màu nói với mình. Từ đó, ngoài chuyện học, mình lại lao vào việc mày mò, tìm hiểu về hội họa. Nào là cách tìm chủ đề, tìm bố cục, cách pha màu… Thú thật, mình thích vẽ từ nhỏ, lại có chút năng khiếu, nên mình vỡ lẽ ra là mình có thể vẽ những gì mình thích, những gì in đậm dấu ấn trong lòng mình.
Hải nói như trút hết tâm trạng của mình. Tôi cầm cùi tay Hải, xoa xoa, nói:
– Hèn gì! Phần thưởng cậu nhận xứng đáng với công sức của cậu.
Hải kẹp ly nước lên uống. Rồi để xuống bàn. Tôi nhìn căn phòng xinh xắn, đầy những tranh. Có bức đã hoàn thành. Có bức chưa xong. Bên cạnh giá vẽ nào là những hộp sơn, lọ màu… Đủ cả. Tất cả đều gọn gàng. Nhìn căn phòng một hồi, Tôi khen:
– Họa sĩ như cậu có khác! Nghiêm túc dữ.
Hải nhìn tôi cười:
– Sao cậu lại nói thế? Tại cái tính mình giờ nó thế. Quen rồi. Để mọi thứ lộn xộn, ngổn ngang, mình không chịu được. Cũng tại chất lính một thời tạo cho mình cái tính ấy. Thật ra, khi còn trẻ, trước khi vào lính mình cũng a-ma-tơ lắm.
– Hồi trẻ, cậu nghệ sĩ lắm thì phải? Kể cho tôi nghe cậu tập như thế nào mà được như rứa?
Hải cười to, tiếng vang như sóng biển:
– Ừ, thanh niên đa phần là thế mà cậu. Bộ cậu không có à? Nhưng giờ, như cậu thấy đó, mình phải tự nghiêm túc với chính mình mà. Cũng nhờ làm lính đó.
Như được dịp kể cho tôi nghe, Hải cho biết những năm tháng ở quân trường, anh phải tự điều chỉnh ghê lắm. Chớ thằng con trai nào không có chút máu nghệ sĩ? Cái máu ấy tạo ra những biểu hiện để gọi là chút tài tử, chút chịu chơi. Hải nói rằng con trai mười tám, đôi mươi có tính như con chim trống rướn cổ hót phô bày bản lĩnh trước lỗ tai của những chim mái; như gà trống, rướn cổ gáy, phô diễn khả năng trước sự cương trứng của gà mái; như công trống xòe sự rực rỡ, phơi sắc màu tình yêu trước ánh mắt của chim mái. Hải cũng tâm sự, hồi chưa vào lính, anh thường thức khuya, đàn hát như khoe cho hàng xóm biết tài của mình, hoặc để bọn con gái chú ý. Có lẽ, hầu như đàn ông trai trẻ đều có một thời như vậy! Nhưng rồi, khi vào lính, dù tính đàn ông con trai vẫn thế, nhưng sống có quy củ hơn. Ăn có giờ, học có giờ, tập có giờ. Chệch giờ giấc là bị kỷ luật ngay. Không một hai gì cả. Còn quần áo, mùng mền, chiếu gối đâu vào đó. Ngay ngắn, sạch sẽ, ngăn nắp. Giường nào cũng như thế, cũng răm rắp.
– Còn bức tranh được giải vừa rồi, cậu vẽ khi nào? Do đâu?
– Khi nào à? Mình chỉ nhớ là mình nhớ biển, nhớ con sóng ở Trường Sa. Không biết làm gì để đỡ nhớ, mình lên mạng tìm những bài hát về biển đảo, về tháng Ba. Tình cờ mình xem một video về trận Hải chiến ở Gạc Ma. Xem mà mắt mình rưng rưng. Như có ai bóp tim mình. Như ai đó làm mình nghẹt thở. Vòng tròn ấy cứ ám ảnh mình từ đó!
– À, ra vậy!
Từ khi đạt giải, mỗi lần Thành phố có triển lãm tranh về chủ quyền biển đảo, Hải đều được mời gửi bức tranh đạt giải tham dự. Và lần nào cũng vậy, tôi tìm cách dàn xếp công việc, thời gian để chở Hải đến phòng triển lãm. Như mọi lần, tôi cùng Hải đứng trước tranh ngắm nghía. Hải nói như thấy Nhơn, Quân, anh Phương cùng đồng đội hiện về. Còn tôi, lần này, như thấy trong tranh, trước mắt mình, hiện lên là vòng lửa bất diệt, vòng của sự sinh tồn của đất nước, vòng của sự sinh sôi, nảy nở lòng yêu nước, vòng của sự kết đoàn toàn dân tộc. Trước mắt tôi là các chiến sĩ – những chàng trai nước Việt – nắm tay nhau làm cột mốc. Những gương mặt ánh lên lòng tự hào, sẵn sàng hy sinh vì biển đảo. Tôi như nghe đủ giọng nói của mọi miền Tổ quốc. Giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, giọng Khánh Hòa, Quảng Nam… Bắc, Trung, Nam có cả. Tôi như nghe họ hát. Tiếng hát của họ hòa vào sóng biển vang mãi ngàn năm cho con cháu Việt Nam biết một thời bi tráng của dân tộc.
Đứng trước bức tranh “Vòng ký ức Tháng Ba” là mọi người và tôi. Nhìn sâu vào trong tranh, tôi nghe từ tiếng vọng từ bức tranh: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo!”.

Phan Trang Hy

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (Chương 12)

duyenanh

23 giờ 20. Khí thế cách mạng tăng cường độ. Nhân dân chuẩn bị mít tinh, biểu tình sáng mai từ đêm nay. Đường phố đã nghẹt người, tiếng loa vẫn réo gọi nhân dân đừng quên bổn phận chào mừng cách mạng thành công. Chai rượu thứ hai của chúng tôi còn quá nửa. Tôi khó hiểu tại sao đêm nay tôi không say, dù mệt mỏi, dù ăn ít và uống quá nhiều. Bây giờ, tôi quyết định ra phố xem diễn tiến cách mạng 30-4-75 có giống cách mạng 19-8-45.
Phải thành thật nói rằng, hai mươi năm sống ở Sài gòn, tôi chưa hề thấy đêm nào Sài gòn cuồng nhiệt như đêm nay. Y hệt đêm 19-8-45 ở thị xã Thái Bình của tôi, năm tôi mười tuổi. Dân tộc Việt Nam luôn luôn khao khát cách mạng vì luôn luôn thèm khát hạnh phúc. Chúng ta đã lạm phát cách mạng, lạm phát chủ nghĩa. Mà chúng ta vẫn thiếu hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ đủ làm con người gần gũi con người, đủ để tình tự kết đan tình tự. Khi con người bước gần biên giới của tuyệt vọng, nó sẽ thấy áng lên từ bên kia ánh sáng hy vọng. Bởi thế, cách mạng này hư đốn, chúng ta hy vọng cách mạng khác. Cách mạng khác hư đốn, chúng ta lại hy vọng cách mạng sắp xẩy ra. Nhân dân Sài gòn đang cuồng nhiệt đón chào cách mạng vô sản, sẽ nguội lạnh vài tháng sau. Có thể vài tuần sau. Tôi đoan quyết. Vì tôi đã kinh qua một lần cách mạng tháng 8. Cách mạng tháng 8 ở đêm 30-4 này còn khoác hào quang mười năm kháng chiến chống Pháp giành độc lập, được khoác thêm hào quang 20 năm chống Mỹ cứu nước.
Người ta không nhìn thấy thiên đường, dĩ nhiên. Người ta chỉ nhìn rõ trần gian, nơi người ta đang sống đọa đầy và, dù không biết địa ngục ra sao, người ta vẫn ví trần gian của người ta như địa ngục. Và người ta mơ ước thiên đường. Nếu thiên đường cộng sản, thiên đường xã hội chủ nghĩa miền Bắc Việt Nam được mặc khải như một thiên đường hoang lạnh, ở đó, con người bị tước đoạt quyền làm người, con người biến thành nô lệ thảm hại của thứ chủ nhân ông mới, điêu ngoa và bóc lột tận tình là Đảng, con người sống vô vọng trong đói khổ, ngu dốt, héo hắt, tàn tạ thì chẳng ai mơ ước thiên đường cả. Mặc khải một thiên đường bánh vẽ, đồng thời, phải hiện thực cái trần gian cho nó rực rỡ ý nghĩa làm người và no đầy hạnh phúc con người khao khát. Tiếc thay, cả hai điều đều không có. Và đó là tội ác của Mỹ và đám tướng lãnh thống trị cầy cáo. Kết quả là đêm nay, 30-4-75, dân Sài gòn như những con phù du dưới ánh đèn cực mạnh của chủ nghĩa cộng sản lạc hậu. Thiên đường cộng sản sẽ được người Sài gòn khám phá vào ngày mai. Nó sẽ rỗng tuếch, mốc meo, trơ trẽn, bịp bợm. Người ta sẽ ủ ê, cay đắng, não nề. Và người ta lại lặng thinh ôm ấp niềm hy vọng cách mạng mới. Rồi vẫn thế. Và nghìn năm dân tộc này sẽ tăm tối, sẽ chẳng biết hạnh phúc là cái gì! Thống trách gì đây? Chúng ta khan hiếm lãnh tụ lương thiện? Hay đất nước chúng ta chỉ có lãnh tụ bù nhìn, chỉ có lãnh tụ thích làm tôi mọi cho ngoại bang, chỉ có những thằng hề rẻ tiền múa may trò yêu nước bệ rạc?
Ánh sáng của đèn Mỹ trên những trụ đèn bằng cây Mỹ đem từ Mỹ sang đã soi rõ mầu cờ vô sản đêm Sài gòn đau thương. Tư bản và vô sản cần liên kết. Như môi và răng. Thiếu tư bản, vô sản mất đối tượng đấu tranh. Thiếu vô sản, tư bản hết chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ. Cho nên, tư bản không bao giờ muốn diệt vô sản và ngược lại. Hoa kỳ không thích hại Liên xô. Liên xô không thích hại Hoa kỳ. Cả hai kết hợp để hại các nước nhỏ chậm tiến. Nỗi thê lương nhất của thời đại, khốn nạn nhất của thời đại chúng ta là các nước nhỏ chậm tiến đã xâu xé nội bộ, nhân danh cả tư bản lẫn vô sản. Việt Nam là biểu tượng thê lương và khốn nạn. Hai mươi năm huynh đệ tương tàn để nghìn năm khó ngóc đầu dậy. Bao giờ mới lấp hết hố bom Mỹ? Bao giờ rừng mới hồi sinh tan thuốc khai quang Mỹ? Bao giờ mới trả nợ hết hỏa tiễn Liên xô? Bao giờ mới hết xuất khẩu nô lệ sang Sibérie, sang Đông âu? Không bao giờ cả. Những nước chậm tiến trên thế giới mãi mãi phải nghèo khổ. Để sáng danh chủ nghĩa vô sản. Và để sáng danh cả chủ nghĩa tư bản. Những nước chậm tiến trên thế giới lại mãi mãi cần phải có chiến tranh. Để Hoa kỳ và Liên xô đọ vũ khí mới. Thế thì ánh đèn tư bản soi rõ mầu cờ vô sản là chuyện đương nhiên. Liệu nó có soi sáng lương tri nhân loại? Liệu nó có soi sáng lương tri dân tộc Hoa kỳ?
Tiếng loa phóng thanh “giải phóng” ý nghĩ của tôi, bắt tôi trở về thực tại. Ngày mai, 1-5, còn là ngày Lao Động quốc tế nữa. Người Mỹ đã chọn ngày lành tháng tốt để tặng cộng sản Việt Nam. Và bài hát rất xưa lại vang vọng đêm nay:
Ngoài kia lời non nước
đang nhắc ta
mau nhắc cao giống nòi
yêu mến muôn giống người
Ngoài kia công nhân ơi
quốc tế đang giơ tay đón chào bầy con đoàn kết
từng nhớ những phút chiến thắng
tiền phong đua tranh bao năm
lầm than đau thương trong khốn cùng
Giải phóng thống nhất đất nước
Việt Nam ra công chen vai
cùng thế giới mới sống chung
tranh đấu cuối cùng là đời sống
với giang sơn
công nhân Việt Nam chiến đấu
cùng sống tập đoàn toàn thế giới công khai
và kiến thiết xã hội ngày mai
Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần
Ta tiền phong tiến tới
Sức chiến đấu đi xuống miền Đông Nam
Lúc đế quốc đã tàn…
Tham vọng của cộng sản Việt Nam là nuốt gọn các nước Đông Nam Á. Họ không ngần ngại bộc lộ tham vọng này. Sớm hay muộn thôi, cộng sản sẽ thôn tính Thái Lan, Mã Lai… “Tiền đồn chống cộng của Đông Nam á” đã bị san bằng. Cộng sản đã nuốt miền Nam, họ sẽ nuốt Đông Nam á. Có khi lại là điều hay. Bởi vì, lúc ấy, sự phản công của các nước Đông Nam á sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho người Việt Nam giải thoát quê hương mình khỏi ách cộng sản. Nhân loại rất nên nếm mùi cộng sản. Chưa nếm mùi cộng sản, nhân loại vẫn ham… làm dáng cộng sản và tưởng rằng cộng sản là đồ trang trí cho vui mắt đời sống. Bài hát Công nhân Việt Nam dạo đầu cho cuộc mít-tinh, biểu tình ngày mai, 1-5, vừa chào mừng cách mạng thành công vừa chào mừng Lao Động quốc tế thành công thật hợp tình, hợp cảnh. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn núp trong áo Đảng Lao Động Việt Nam. Tôi muốn bài hát bay vút sang Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba… Nhưng nó tắt ngủm, nhường cho bài Đảng Lao Động Việt Nam.
Đảng Lao Động Việt Nam
Đảng của chúng ta
vì giai cấp cần lao
Đảng mưu giải phóng nước nhà
Đảng chúng ta là mặt trời
Hồ Chí Minh là mặt trời
dìu dắt cho muôn lớp người vùng lên…
Hai đứa tôi đến một góc phố. ở đây, một chị cán bộ giép râu được bảo vệ bởi thanh niên Cờ Đỏ đang “phổ biến” những bài ca ngợi Bác cho các em nhi đồng. Các em yêu cầu chị hát bài ca cách mạng. Chị cao giọng:
Như bao cô gái ở trên non
Cô gái sông Ba đầu búi tóc thon
Tay vót chông miệng hát không nghỉ
Như bao cô gái ở trên non
Như bao cô gái ở Tây Nguyên
Ai nhanh tay vót bằng tay em
Chim hót không hay bằng tiếng hát em
Mỗi mũi chông nhọn hoắt căm thù
Xuyên thây quân cướp nào vô đây
xuyên thây quân cướp nào vô đây
Còn giặc Mỹ cọp beo
Khi còn giặc Mỹ cọp beo
Em chưa ngừng tay vót chông rào làng
Nhưng nay mai giặc chạy rồi
Tre rừng ta làm nhà làm chòi cao
Ê, chân ta đi chưa mỏi
Trời trong xanh
Em còn vót chông rào làng nữa
Ê quân xâm lăng nào vô đây
Chờ bọn bay
Diệt bọn bay…
Các em nhi đồng vỗ tay hoan hô. Chị cán bộ tuyên văn giáo dục tiếp các em nhi đồng Sài gòn những bài ngắn thù hận giặc Mỹ, thù hận đế quốc. Không có gì lạ cả. Tháng 7-1954, tôi đã thấy ở những góc phố thị xã quê hương tôi, các chị cán bộ tuyên văn giáo dục các em nhi đồng thù hận giặc Pháp, thù hận đế quốc, thù hận địa chủ, ca ngợi Bác Hồ, Bác Mao, ca ngợi Liên xô, Trung quốc Thù hận “trồng” từ 1954, tiếp tục “trồng” đến 1975, và vô tận, theo chủ trương “trồng người” của ông Hồ Chí Minh. Tôi biết, từ chập tối ở các góc phố, ở các khu phố, cán bộ tuyên truyền văn hóa của cộng sản đã tụ tập thiếu niên, nhi đồng để dạy những bài ca cách mạng cho rộn ràng cách mạng sáng mai. Về điểm này, cộng sản rất “nghề”. Trẻ con mau thuộc bài và hăng say hát. Tôi chợt nghĩ thân phận tôi. Tôi quả là không khá. Riêng bài thơ Em bé của tôi đăng trên tạp chí Chỉ Đạo năm 1960 đã đủ gây hệ lụy cho tôi rồi.
Hôm nay em đi học
Mắt ngời ánh hào quang
Những vì sao mới mọc
Thắp lửa rực huy hoàng
Trang vỡ lòng thầy dậy
Đánh vẫn chữ Việt Nam
Con đi nước con đấy
Đẹp tự bốn nghìn năm
Tay mềm tô nét viết
Xanh mướt nghĩa yêu thương
Chao ơi là tha thiết
Mộng ước gửi ngàn phương
Tiếng em mùa xuân ấm
Bài quê hương loài người
Không biên thùy ngăn cấm
Không ai khóc cuộc đời
Và mãi hồn thơ ấy
Cây hạnh phúc muôn thu
Xin đừng ai nỡ dạy
Em tôi nói căm thù
Tôi đã chống chủ trương “trồng người” của ông Hồ Chí Minh, của cộng sản. Họ dạy tuổi thơ thù hận, tôi dạy tuổi thơ thương yêu. Cả đời tôi, tôi loay hoay giáo dục tuổi thơ không thù hận. Rốt cuộc, thù hận hai phía trút xuống đầu tôi. Cộng sản không tha, quốc gia không dung là vậy
Tôi muốn đi xa thêm. Nhưng chỗ nào cũng thế, Sài gòn đêm nay. Với cộng sản là rập khuôn. Một cảnh tượng là triệu cảnh tượng. Giống nhau như khuôn đúc. Một khẩu hiệu là triệu khẩu hiệu. Không được thiếu. Không được thừa. Những kẻ thiếu sáng tạo mà cứ đòi “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” nghĩ thật buồn cười.
– Về chứ Long?
– Về thì về.
– Chẳng có gì khác hơn 19-8-1945.
– Giống hệt 1954.
– Thế mà nó thắng?
Đặng Xuân Côn thở dài. “Thế mà nó thắng”, bốn tiếng nghe sao não nùng, ai oán? Hai đứa tôi trở về nhà, tiếp tục cuộc rượu. “Cõi đời ngoảnh mặt quên xa tiếc”, tôi không nghĩ gì chuyện ngoài phố, chuyện ngày mai nữa. “Ngày mai ra sao rồi hãy hay”. Chúa Jésus đã dạy: “Ngày mai để cho ngày mai lo”.
– Long ạ. Tao cho rằng nó đã thắng, nó không cần hủy diệt bọn nhà văn đâu.
– Ông không hiểu cộng sản. Và ông càng không hiểu hệ lụy văn chương. Văn chương nó gắn liền với tư tưởng. Con người làm văn chương tư tưởng sẽ chết nhưng văn chương tư tưởng của nó tồn tại và ảnh hưởng mãi mãi. Cộng sản không tha bất cứ nhà văn nào chống đối tư tưởng của họ, trừ bọn nhà văn huê tình, rỗng tuếch… Uống đi và đừng lo cho tôi. Tôi được sống với ông trọn hôm nay là đáng sống rồi. Nếu tôi phải ân hận là tôi chưa hề làm cho ông vui lần nào. ông hy sinh cho tôi đủ thứ mà tôi không biết nhường cho ông đứa con gái, hồi chúng ta ba đào ở Nhà Hát Tây.
– Quên chuyện ấy đi!
– Làm sao mà quên? Ông thất tình ngã xước máu chân! Tôi nên thanh thỏa chuyện này trước khi tôi chết hay là tôi quằn quại trong ngục tù.
– Mày sẽ gặp hư vô?
– Mong lắm.
Hai đứa tôi cụng ly. Tưởng chừng, ngày xưa còn bé, Vũ và Côn uống những ly xi-rô Grenadine thơm phức ở đầu cầu Bo. Chúng tôi chơi với nhau từ tiểu học trường Monguillot. Nhật đảo chính Pháp, có chúng tôi chứng kiến. Chúng tôi chứng kiến Nhật chặt đứt tay người Việt Nam đói khổ ăn cắp thóc nuôi ngựa Nhật. Chúng tôi chứng kiến Nhật treo dộng đầu người xuống, trên cây cao. Rồi chúng tôi đi đếm xác người chết đói, đi ăn mày cơm gạo cứu đói. Chúng tôi chứng kiến cách mạng 19-8. Ký ức của chúng tôi còn nguyên vẹn Tầu phù tước khí giới Nhật, tiêu thổ kháng chiến, chiến tranh, di cư… Và hôm nay, giải phóng Chúng tôi đã trải dài đời mình theo những biến cố chập chùng của đất nước. Đã hết chưa? Côn chưa muốn hết. Nó đã dựa lưng vào ghế, mắt lim dim ngủ, tay còn cầm ly rượu.
***
Tôi không biết danh sĩ thời xưa đã mấy ai, chờ chết một ngày dài nhất đời mình, một ngày dài nhất của dân tộc mình, của thời đại mình. Hình như chẳng có ai. Thời của người xưa hiền như người xưa. Nên, “một ngày dài ghê” mới chỉ là “ba thu cộng lại”. Thời của người xưa đơn giản như người xưa. Nên, người xưa thản nhiên chờ đợi cái chết cơ hồ đợi chờ cuộc phiêu du vào hư vô. Người xưa không bị tưởng tượng cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim. Ngày dài nhất của thời đại chúng ta là hai mươi năm cộng lại. Ròng rã hai mươi năm phiền muộn, chiến tranh, tang tóc, sinh ly, tử biệt. Chúng ta có ngày dài nhất lấy máu mà đo, đem nước mắt mà lường vì chúng ta được Hoa kỳ khai phóng tự do, dân chủ. Ngày dài nhất của chúng ta nghẹn ngào hơn bất cứ ngày dài nhất nào của loài người, từ khai thiên lập địa. Bởi nó là ngày dài nhất báo hiệu những ngày dài nhất, những vô tận ngày dài nhất, nhục nhằn nhất, cay đắng nhất, oan khiên nhất trên quê hương chúng ta. Muốn đo lường chính xác, và muốn cực tả niềm đau, phải dùng giây kẽm gai viện trợ Mỹ mà kéo chiều dài của ngày dài nhất. Hiểu tại sao chứ? à, giây kẽm gai viện trợ Mỹ không kịp di tản sẽ rào quanh nhà tù, trại tập trung cộng sản. Danh sĩ thời xưa thiếu hẳn cảm giác hứng đòn ý thức hệ. Người thời xưa không thèm nhìn mỏ Con ó, không thèm ngắm móng Con Gấu. Người thời nay bất hạnh hơn, bị Con ó mổ mù mắt, bị Con Gấu cào bấy tim. Để chờ chết một ngày dài nhất.
Còn hệ lụy văn chương của danh sĩ thời xưa thế nào? Mới chỉ nghe kiêu sĩ Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài. Nhưng kiêu sĩ Cao Bá Quát bay đầu đâu phải tại văn chương – tư tưởng? Cái kiêu bước thêm vài bước thành cái cuồng. Cái cuồng biến thể sang ngông. Và họ Cao làm loạn tiêu sầu. Rượu chưa đủ là thế. Văn học sử chép lời giăng giối của Cao Bá Quát:
Ba hồi chuông dục: Đù cha kiếp
Một nhát gươm vung: Đéo mẹ đời
Tôi không nghĩ rằng khẩu khí của Cao Bá Quát bình thường vậy. Kẻ nghịch thiên Cao Bá Quát đếm xỉa chi cái kiếp, cái đời. ông đã chửi cái thế, cái thời. Theo tôi, ngạo nghễ bước lên đoạn đầu đài, Cao Bá Quát đã sang sảng:
Ba hồi chuông dục: Đù cha thế
Một nhát gươm vung: Đéo mẹ thời
Đấy mới là Cao Bá Quát. Há Ngô Thời Nhiệm chẳng đem thời thế trả miếng Đặng Trần Thường đó sao? Dẫu gì chăng nữa, Cao Bá Quát không hề bị bức tử vì văn chương – tư tưởng mình. Danh sĩ thời xưa hạnh phúc gấp bội danh sĩ bây giờ. Lan Khai bị nhốt vào rọ ngâm nước. Khái Hưng bị dìm dưới sông. Phan Khôi bị cô lập chết mòn. Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An nằm tù, Nhân Văn Giai Phẩm đi cải tạo…. Tôi hiểu thân phận tôi sẽ ra sao, sắp ra sao.
Nhưng tôi bằng lòng thân phận tôi, tự hào thân phận tôi. Tôi chống cộng sản tự nguyện. Mười lăm năm cầm bút của tôi, tôi không hề điếm nhục ngửa tay nhận tiền của Mỹ, của các chế độ Sài gòn để làm công việc đánh đĩ văn chương – tư tưởng. Tôi chống cộng sản và vì lý tưởng chống cộng sản, tôi chống luôn cả chính sách xấc xược của Mỹ áp đặt lên số phận dân tộc tôi, chống luôn cả tập đoàn thống trị bù nhìn và bè lũ điếu đóm, chống luôn bọn tham nhũng thối nát, bất tài, vô tướng, chống luôn đám hề chính trị rẻ tiền. Nói tóm lại, tôi chống tất cả những gì nuôi dưỡng cộng sản và làm sáng chính nghĩa cộng sản. Theo tôi, những bất công xã hội, những đàn áp phát-xít đã dồn dân chúng miền Nam vào con đường cùng. Dân chúng xa quốc gia, gần cộng sản là bởi lãnh đạo quốc gia ngu dốt. Tôi chống cả đảng phái hèn mạt lẫn những kẻ đội lốt tôn giáo lãnh đoạn chính trường. Người ta bảo tôi có lắm kẻ thù. Tôi không tin. Tôi đã viết 50 tác phẩm văn chương. Độc giả của tôi nuôi dưỡng tôi tận tình, cống hiến tôi đời sống vật chất dư dả. Tôi tự hào là một nhà văn chuyên nghiệp nhiều độc giả nhất nước, nhiều độc giả tuổi trẻ nhất nước. Những kẻ coi tôi là kẻ thù là những kẻ không được tôi xếp vào hạng kẻ thù của tôi Họ ở dưới kẻ thù của tôi vô số bậc. Còn những kẻ đố kỵ tài năng của tôi, cay cú với lòng yêu mến của độc giả của tôi dành cho tôi là những kẻ luôn luôn đứng sau tôi, xa tít tắp. Họ rất đáng tội nghiệp và cần được khích lệ như những người có triển vọng ở tương lai. Tôi cô đơn sáng tạo. cô đơn chiến đấu và cô đơn chết. Nhân danh điều thiện, người thiện chống việc ác, kẻ ác tôi chết. Tôi chưa biết cộng sản bức tử tôi kiểu nào.
Tôi bỗng có một nỗi sợ hãi mới, sợ hãi hơn cả sợ hãi chết trầm. Là cộng sản không quăng tôi vô biển máu hay bắt tôi chết mòn trong tù ngục. Nếu cộng sản không thèm trả thù tôi, không thèm đếm xỉa đến tôi, tôi sẽ bị sống nhục nhã. Vì văn chương, tư tưởng của tôi chẳng giá trị tí nào. Và con người tôi cũng vô giá trị. Tôi sẽ cúi gầm mặt ở bất cứ nơi đâu trên trái đất. Tôi hết dám chống cộng sản, trừ khi tôi là đứa vô liêm sỉ.
Nỗi sợ hãi mới đã giúp tôi thản nhiên chờ đợi đao phủ và hình cụ của nó.
***
24 giờ rồi. Tôi đã trải qua một ngày dài nhất trong đời tôi, một ngày mà nhiều đời người không có. Văn hào Walter Scott viết: “Không ai đủ giầu để mua lại dĩ vãng đích thực của mình”. ở đâu đó, ngoài nước Việt Nam, sẽ có một người Việt Nam tiếc rẻ: “Tôi là tỷ phú, thừa mứa tất cả, chỉ thiếu một Sài gòn, ngày dài nhất”. Và đó, bất hạnh trong hạnh phúc. Tôi đầy đủ ngày dài nhất ở Sài gòn. Và, cũng đó, hạnh phúc trong bất hạnh.

DUYÊN ANH
1988

ĐƯỜNG NÀO ĐI QUÊ HƯƠNG?

khuatdau

Dưới nấm mồ bằng nước xanh trong
ngôi nhà em giờ thấy mất tiêu
trái tim nhỏ vẫn thầm thì đập

Em đã khóc trên vai áo tôi
như con thác chảy qua ghềnh đá
nước mắt em dựng một hồ đầy
Sơn La
Sơn La
trong một thoáng biến thành hồng thủy

Những con đường thơm gót chân em
những ruộng đồng lúa xanh con gái
những vạt rừng lau trắng phất phơ
những đỉnh núi mờ trong sương khói
chìm
chìm
chìm rất sâu trong nỗi lặng im

Quê hương không phải những sườn đồi mới ủi
không phải những con đường thẳng tắp song song
không phải những căn nhà giống nhau như trứng
không thể nhổ lên trồng
mà có được quê hương

Quê hương là dòng suối chảy qua buôn làng
là gộp đá em thường ngồi mỗi lần ra suối tắm
là những bụi cây đêm tối rất nhiều ma
là đỉnh núi thần tiên thường bay lượn

Quê hương em bị bức tử nằm dưới đáy hồ
quê hương anh cũng trở thành những sân gôn xanh mướt
để cho những trưởng giả mới học làm sang
vung cây gậy đắt tiền
đánh vào những trái banh trắng như tuyết

Chúng ta bỏ ruộng bỏ rừng
lên thành phố
nhưng em ơi!
thành phố không phải là quê nội
cũng không là quê ngoại

thành phố là rạp hát khổng lồ
diễn hằng triệu vở tuồng thường trực

Chúng ta sống như đi xem hát
mua vé lấn chen
vỗ tay và huýt sáo
lúc cao hứng
chúng ta nhảy phóc lên sân khấu làm trò
để được nghe ồn ễnh
tiếng vỗ tay và huýt sáo

Nhưng rồi đêm hát sẽ chấm dứt
những đào thương lại cười
những thằng hề lau mặt
đêm trống trơn như chiếc quần không
đêm hụt hẫng đang rơi xuống vực

Cầm tay nhau
sờ mặt nhau
chúng ta hỏi thầm trong tăm tối
đường nào đi quê hương?!

KHUẤT ĐẨU

VU VƠ VỚI BẦY CHIM NHỎ

trantuan

Có bầy chim bé nhỏ
Náu mình trên gác chuông
Ngày ngày nghe khấn nguyện
Nên bầy chim thật hiền.

Bầy chim bốn mùa ríu rít
Hồn nhiên vui với những tiếng coong kinh
Quen với tiếng bước chân chiên mặc định
Quên thời gian đang đánh cắp tuổi tên mình.

Và bầy chim nhỏ nọ
Gửi đời theo tiếng chuông
Sáng trưa chiều và tối
Không ưu tư muộn phiền

Bầy chim chọn gác chuông làm quê quán
Thôi bon chen, thôi nghĩ chuyện riêng tư
Hạt thóc rụng phai màu trong ký ức
Nên hoang vu về trầm mặc cánh đồng

Từ đó bầy chim nọ
Quên không gian,
quên cả đường bay
Quên vỗ cánh, quên mình loài oanh vũ
Quên ban đêm và ngơ ngác ban ngày.

Theo tiếng chuông chiều muộn
Một ngày xuân rất xưa
Tôi về thăm phố cũ
Hàng phong già lưa thưa

Bầy chim nay đà luống tuổi
Rong rêu nay phủ kín gác chuông.
Chủ nhật buồn hơn năm trước
Dường như tượng đá cũng buồn!

Thành phố bây giờ hiu quạnh quá
Công viên xanh xao, ghế đá âm thầm
Không hò hẹn nên chiều qua rất vội
Một chút bàng hoàng lạc giữa hư không…

TRẦN TUẤN

Bueno Aires – Ngồi bên ngọn cây du

tonnuthunga

Buổi sáng, tiếng động cơ cần trục đang xây dựng nhà cửa thức tôi dậy. Nắng đã chan hòa trên thành phố.Thời tiết ở đây gợi nhớ Sài Gòn, một buổi sáng nhiệt đới năm xưa, tôi cũng thức giấc với những tiếng động tương tự lẫn với tiếng còi xe inh ỏi trên con đường Lê Thánh Tôn. Buenos Aires không nhiều xe gắn máy, phần lớn là ô tô và họ chạy thong thả trong các đường phố rợp bóng cây xanh. Không ai bấm còi để phá vỡ sự yên tỉnh của không gian êm đềm cả. Bây giờ đang mùa hạ, nhiệt độ không tệ lắm vào buổi sáng, trời trong xanh lờ lững vài cụm mây trắng mỏng, trôi thật nhanh theo cơn gió hiu hiu. Độ ẩm khá cao nhưng chưa làm tôi đổ những hạt mồ hôi – những hạt mồ hôi hiếm hoi- ngày còn tại Cali, tôi phải tập thể dục cả giờ hoặc đạp xe mấy chục dặm mới có được.
Hôm qua, vừa xuống khỏi máy bay, tôi cũng đã được hưởng cái khí hậu ẩm ướt và oi ả, những cảm giác tôi ít khi nhớ đến. Chổ ngồi mới của tôi trên lan can lầu bốn, căn nhà nho nhỏ tại Palermo, thành phố Bueno Aires, bên ngọn cây du. Cành lá cây du xanh tươi, run nhè nhẹ, xao xác êm êm dưới chân các chú chim sẻ. Nắng vàng lung linh xuyên qua cành cây xanh, tự dưng lòng man mác, thật sự không hiểu được mình đang buồn hay vui.
Thành phố này có rất nhiều cây, trên lề đường, những đốm nắng roi qua cành lá; “vạt nắng bên thềm” nhà nào cũng có, và cũng không ít nam nhân dựa tường phì phèo điếu thuốc, nhìn người đẹp đi nhanh như gió, vui vẻ cười nói líu lo bằng tiếng Tây Ban Nha với nhau. Dù ít hiểu tiếng Anh, họ rất thân thiện và luôn luôn cố gắng đàm thoại với bạn khi được hỏi thăm. Vì thế dù chỉ biết nói lỏm bỏm các danh từ phổ thông, tôi vẫn được nhiều người khen và rất vui vẻ giúp tôi học thêm từ ngữ mới.
Mấy hôm nay hưởng lại khí hậu nóng, trái lại với mấy ngày lạnh lẻo lúc tôi rời Los Angeles. Qua ngày thứ ba trời bổng đổ mưa, sấm chớp đì đùng, gió mưa dữ dằn như những cơn bảo nhiệt đới ngày xưa. Tôi nằm quấn chăn, nghe cây du vẩy vùng gào khóc, nghe tiếng sấm như tiếng đại bác thâu đêm và các tia chớp như hỏa châu bùng cháy. Đêm ấy, giấc ngủ tôi triền miên ác mộng, những lần thức giấc cố nhớ nơi mình đang ở, thế rồi lại thiếp đi trong tiếng mưa rơi. Sáng dậy, nắng lại chan hòa, lá cây du xanh hơn và long lanh những giọt mưa, những chú chim sẻ mập nhảy sột soạt làm rơi những giọt mưa trên đầu bộ hành hoặc lộp bộp trên cánh dù rộng mở. Khí hậu mát hẳn như những ngày hè đã chào tạm biệt vì mùa thu vừa mới đến. Các chuyến mạo hiểm của chúng tôi cũng dể chịu hơn và đường xá cũng sạch sẽ, bớt bụi bậm.
Nơi chúng tôi trú ngụ là căn nhà của Carlo thuở anh còn độc thân. Anh có một bộ ghế bành cũ bằng da, rất êm ái. Lúc rảnh rổi hoặc khi đi chơi rong về, hai đứa tôi duỗi dài trong lòng ghế, uống một ly đá lạnh, lim dim nhìn tượng ông Phúc đứng giữa bàn hoặc mông lung nhìn ra ngoài balcony. Cây du vươn những cành lá xanh, long lanh giọt nắng, thỉnh thoảng giao động dưới những bàn chân của lũ chim sẻ, chuyền cành và líu lo nói chuyện với nhau. Không biết chim có ngôn ngữ không? Chúng nói tiếng Tây Ban Nha như dân địa phương hay vì bay từ chổ này qua chổ nọ nên chúng dùng Esperanto? Theo ý của Carlo thì mọi người ở đây nói tiếng Argentinien.
Carlo rất tự hào và yêu thương quê hương của mình. Anh cũng thích Á Châu vì anh có làm việc bên Tàu và Nhật mấy năm, nhờ thế anh bưng được cô Ngọc Anh về làm vợ và dắt díu nhau về sống tại Bueno Aires.
Ngọc Anh có một studio dạy các môn thể dục, khiêu vũ, múa cột, múa lụa. Mổi lần xem cô biểu diễn, cứ như là đi xem hát xiếc. Có nhiều đêm sau khi đi chơi và ăn tối về, chúng tôi xuống phòng tập học nhảy Tango Argentino. Tôi không được “sáng dạ” lắm trong nghệ thuật khiêu vũ nên không nhớ bước phải, bước trái, bước xéo, bước ngang chi cả, cứ bị thầy bắt tập đi tập lại hoài. Carlo tập cho chúng tôi nghe tiếng nhạc, phải để hết tâm hồn vào tiếng nhạc, và anh bảo rằng: tango là những bước chân không bao giờ dứt ?!?, nếu không có đủ chổ trống trên sàn nhảy, người ta chỉ cần ôm nhau mà nhúc nhích những bước nho nhỏ cũng được. Vì chưa thấm được cái tư tưởng cao siêu đó, tôi chép miệng than thầm: Nếu biết điều này thì thôi tôi ở lại nhà, ôm ông xã mà nhảy “ xì lô mông cổ” cho khỏi phải nhọc công bay ngàn dặm xuống Argentine.
Thế nhưng sau năm ngày chơi, ngủ, tập nhảy đầm tôi cũng vượt qua nỗi thống khổ của người vốn có “hai chân trái”. Carlo và Ngọc Anh an ủi tôi mãi mỗi khi tôi đi những bước sai lầm và hôm cuối cùng thì họ dẫn chúng tôi đi ra phòng trà ca nhạc để tập nhảy. Hôm ấy, chúng tôi phải mặc quần áo đẹp, đến nhà Carlos và Ngọc Anh ăn thịt nướng do chính tay chủ nhân làm, trước khi đi.
Vũ trường rộng, khách đến thật đông, sàn nhảy ở giữa, chung quanh là bàn ghế. Có nhiều người độc thân đến đây mời nhau nhảy. Họ có những ám hiệu thông thường để mời mặc dù ngồi rất xa nhau. Phần đông là khách lớn tuổi, đàn ông ăn mặc đàng hoàng sạch sẽ, các bà thì diêm dúa hơn và ai cũng mang giày gót cao nhọn hoắc. Những đôi giày ấy làm tôi rất sợ, cứ tưởng tượng bị người ta giẫm lên chân, thế nhưng sau buổi nhảy, tôi thoát nạn, không bị ai giẫm nát chân mình cả. Có nhiều lần chúng tôi bị vài mụ già đanh đá la vì cản đường đi của họ. Ngọc Anh bảo đó là mấy mụ du khách, nhảy không rành, không biết tránh kẻ khác; người dân Argentina rất chiêu đãi, nếu thấy mình mới tập nhảy lúc nào họ cũng khuyến khích chứ không sừng sộ như mấy người du khách nọ. Sàn nhảy rất đông người, tôi vừa đi theo nhạc vừa dòm chừng Ngọc Anh và Carlo, không nghe quở trách gì cả mà lại được khuyến khích ra sàn nhảy mãi nên tôi cũng hơi yên chí khi bước những bước tầm bậy tầm bạ. Thường thì ban nhạc chơi năm bản nhạc, khách phải khiêu vũ hết năm bản mới được về lại ghế. Đôi khi thấy quá đông người, chúng tôi chỉ đi vài ba bản rồi bỏ cuộc chạy về bàn ngồi xoa đầu gối. Sau nữa đêm, chúng tôi thuê taxi về nhà, rón rén, nhẹ nhàng về phòng sợ làm ồn láng giềng, ai ngờ láng giềng đang có tiệc khuya, mùi bánh nướng trong lò thơm cả hành lang.
Những ngày Bueno Aires của chúng tôi thật vui, tôi cảm thấy căn hộ độc thân của Carlo từ từ biến thành tổ ấm của mình. Chúng tôi như những con chim sẻ, chọn cây du làm tổ ấm của chúng. Ngồi trên ban công lầu bốn, bên ngọn cây du, tôi nghe đời trôi nhẹ nhàng như đám mây trắng lơ lững trong bầu trời xanh thẳm của Bueno Aires.

Bueno Aires (3/22/2016- 3/29/2016)
Tôn Nữ Thu Nga

Tình núi.

luutrongtuong

(Yosemite, một chút dư hương)

Năm năm sống trên núi
Ngày đêm chẳng thấy người.
Năm canh nghe gió hú
Cây cỏ nhớ trần ai.

Mười năm tắm nước suối
Thần xác nhẹ thanh tao.
Nhìn trời cao vời vợi.
Quên chuyện đời thương đau.

Trăm năm tình mời mọc
Gian díu ngọn tơ trời.
Cơn mơ thèm trần tục
Tỉnh giấc lại quên đời.

Ngàn năm đời xa lánh
Ðâu có gì nhớ nhung.
Hàng vạn ngày lận đận.
Thoáng chốc tựa qua đường.

LƯU TRỌNG TƯỞNG

t h ơ v ề H u ế

nguyennhumay

1.
đi trong đêm Thành-nội
chỉ mình tôi và trăng
tôi nghe lòng cây cối
nghiêng bao nỗi thăng trầm …

2.
tôi ngồi lặng ngắm sông Hương
đêm vàng ánh trăng buồn
cố đô
chợt nghe đâu có tiếng hò
hình như Em mới xuống đò
chèo đi .

NGUYỄN NHƯ MÂY
.
1986

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (Chương 11)

duyenanh

22 giờ 30. Tiếng loa réo gọi tham dự mít tinh chào mừng cách mạng thành công sáng sớm mai làm rung cửa kính. Côn đề nghị bật đèn. Tôi đồng ý. ánh sáng ngập căn phòng. Tàn thuốc lá bừa bãi trên bàn xa-lông. Chúng tôi đã uống cạn chai rượu thứ nhất. Thiếu úy Bảo và trung sĩ Thân thấm mệt. Tôi dục hai thằng em kết nghĩa đi ngủ.
– Các em yên tâm, không có chết chóc gì cả, không có biển máu. Một nhà cách mạng chính cống đã quả quyết với anh rằng, cách mạng đại xá, đại đại xá.
– Sao lúc nãy anh không chịu nói? Bảo hỏi.
– Anh thử xem em can đảm đến đâu. Tôi đáp.
Bảo và Thân đi ngủ. Còn Côn với tôi. Chai rượu thứ hai được khui.
– Mày vừa nói gặp nhà cách mạng chính cống.
– Ừ.
– Ai đó?
– Phan Kim Thịnh.
– Thằng ấy?
– Nó chơi giép râu, nón tai bèo.
– Nó nằm vùng?
– Thứ rắn độc. ông đừng ngạc nhiên, nếu chúng ta không chết, sẽ có dịp nhìn rõ những thằng nằm vùng trong mọi lãnh vực. Và chúng ta sẽ há hốc mồm.
– Tại sao?
– Vì toàn những đạo đức gia khổ hạnh và chống cộng hơn cả người chống cộng hung hăng nhất.
– Nó nói cộng sản đại xá à?
– Ừ.
– Mày tin nó?
– Tin mẹ gì, tôi trấn an cu Bảo.
– Tao nghĩ nó đại xá thật.
– Ông nghĩ thì cứ nghĩ. Cộng sản nó làm gì, mình đâu đoán nổi. Nó bảo không là có, có là không. Nó qua mặt cả thế giới.
– Long?
– Đừng hỏi thêm nữa. Uống rượu đi.
– Tao mở ti-vi nhé?
– Chớ.
– Xem nó nói gì chứ?
– Nó khoe nó đánh Mỹ cút, Ngụy nhào.
– BBC vậy?
– Nó tường thuật cộng sản vào Sài gòn.
– VOA?
– Nó khen Việt cộng.
– Hay là mày với tao ra cổng ngắm nhân gian?
– Không. Ông làm ơn mở cửa cho khói thuốc tan loãng giùm.
Cửa mở. Khí thế cách mạng bên ngoài ùa vào nhà tôi “Nhân dân” ca hát, hô khẩu hiệu vang trời. “Nhân dân” không ngủ đêm nay. Họ không ngủ trong bóng tôi. Và họ khóc. Sao 30-4 dài thế? Với tôi, nó dài hơn cả đời tôi. Côn lại khép cửa. Chúng tôi uống rượu, hút thuốc chờ sáng. Đêm qua tôi đã chờ sáng. Đêm nay tôi vẫn chờ sáng. Tôi chẳng bao giờ ngu dại tin rằng cộng sản tha tôi. Ngày Chu Tử bị ám sát, tôi viết bài Nỗi cô đơn của người cầm bút đọc tại Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia là tôi đã tiên đoán thân phận của tôi. Rồi tôi viết thêm bài nữa, đăng trên Sống*. Khẳng định tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Đến cuốn Tháng giêng ngon như một cặp môi gần xuất bản tháng 2-1975, tôi miệt thị cộng sản là bọn trả thù vặt và nói rõ, “đời sẽ có kẻ gọi ta là phản động.” Thế thì cộng sản phải trả thù tôi. Họ không trả thù tôi là họ thiếu lô-gích, họ hết là cộng sản. Cộng sản không tha tôi, đã đành. Nhưng tại sao quốc gia không dung tôi? Cái thứ gọi là quốc gia mà biểu tượng là Nguyễn văn Thiệu, Đặng văn Quang không được tôi xếp hạng quốc gia chân chính. Người quốc gia chân chính chưa hề nắm quyền bính tối cao. Tôi hằng coi Hà Nội như phỉ quyền, Sài gòn như ngụy quyền. Tôi thiết tha tranh đấu để có một chính quyền trên quê hương tôi. Muốn thế, cuộc chiến đấu của tôi phải loại bỏ phỉ quyền tôi tớ của Liên xô và ngụy quyền tôi tớ của Hoa kỳ. Và đích thị tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Họa may, quốc gia chân chính sẽ dung tôi. Tôi hy vọng thế.
Nhiều bằng hữu bảo tôi là kẻ nghịch thiên. Tôi không chối cãi. Tôi xác định thái độ nghịch thiên của tôi:
Thản nhiên ngước mặt ngạo trời
Trong cơn hồng thủy vẫn cười ngả nghiêng
Kể từ đời tắt lửa thiêng
Nỗi ta đối địa nghịch thiên mộng cuồng
Chém ngang độc nhất vô song
Tìm ra cái lẽ vô cùng thênh thang
Hỡi ơi tai đục trần gian
Sao nghe nổi máu cung đàn bão mưa
Hỡi ơi mắt trắng cõi thừa
Sao nhìn nổi ngọc trên thơ tỏ tình
Chung thân can tội nghịch thiên
Còn say cuồng mộng thản nhiên ngạo trời
Tên nghịch thiên ngồi uống rượu với bạn thơ ấu chờ sáng và chờ chết. Nó kiểm điểm nó. à, nó đã có 50 tác phẩm văn chương, 200 số báo Tuổi Ngọc, hơn 10 ngàn bài báo. Cộng sản không tha, quốc gia không dung nó nhưng đã có đứa nào bén gót nó?
– Này Côn.
– Gì?
– Người ta sẽ hâm mộ Con Thúy.
– Tại sao?
– Vì người ta sẽ thấy sau 30-4-75, giống hệt sau 19-8-45. Tôi đã viết về son phấn cách mạng nhạt nhòa.
– Mày nói đúng.
– Này Côn?
– Gì?
– Ông sẽ thoát biển máu. Tôi, có thể, sẽ thoát biển máu nhưng tù rục xương. Tôi muốn noi gương nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh.
– Sao?
– Khi tôi chết, đừng ai khóc. Cả ông nữa. Hãy cười, cười, cười?
Côn nín thinh. Giây lát, nó lảng qua chuyện khác.
– Mày biết ông Nguyễn Mạnh Côn làm quân sư cho tướng Vĩnh Lộc không?
Tôi ngạc nhiên xuýt rơi ly rượu:
– Thật à?
– Thật.
– Hèn chi Chậm bước tiên phong, muộn chiến trường. Chắc chắn, ông Vĩnh Lộc phải đợi ông Côn hút đủ cữ rồi mới hiến kế. Hóa cho nên, ông Vĩnh Lộc lên ti vi tối qua sốt ruột dữ.
Tôi nhớ cuối triều đại Ngô Đình Diệm, anh Nguyễn Mạnh Côn ra ứng cử dân biểu đơn vị quận 3, Sài gòn. Tôi cho anh ta vay tiền bán tập truyện Hoa thiên lý và đi a-lô vận động giúp anh ta. Hôm ra mắt cử tri ở trường tiểu học Chí Hòa, anh Côn là người nói thứ nhì, sau Huỳnh Thành Vị. Tốt quá. Vì họ Huỳnh mở màn cho anh Côn. Tôi ngồi đợi anh hút no thuốc phiện rồi mới rửa mặt, đánh răng. Rồi chở Vespa, đưa anh lên địa điểm. Chúng tôi tới, cử tri về gần hết. Vì anh đến trễ, nói sau cùng?
– Ông Ngô Đình Nhu xưa muốn cất nhắc ông Côn, chỉ chê tội nghiện.
– Nay ông Vĩnh Lộc xài. Vận nước đã hết. Tôi chờ chết là hợp lẽ trời.
Bèn nốc cạn ly:
– Đời nhà Thanh, dân Tầu mới hít tô phe bạo. Mừng cho Lưu Bang và mừng cho Lưu Bị. Vì Trương Lương, Tiêu Hà, Khổng Minh không đong thóc! Ông Vĩnh Lộc đồng hóa văn nghệ với quân sự. Hỏng, hỏng! Tại hạ có lời chê điểm này.
Đặng Xuân Côn dứt cuộc:
– Bây giờ, quân sư đang nằm “đong”, tân Tổng tham mưu trưởng đi đâu không rõ, “nhân dân” hồ hởi phấn khởi và nhân dân ôm nhau khóc trong bóng tối.
***
23 giờ. Không biết mấy giờ ở Guam? Bằng hữu văn nghệ của tôi đã đến đảo Guam chưa, hay còn lênh đênh ngoài khơi, trên hạm đội số 7? Tôi chợt nghĩ tới những người Việt Nam yêu tự do, chấp nhận báng súng của “lính thủy đánh bộ” Mỹ, dắt díu nhau leo lên nóc tòa đại sứ Mỹ rồi, sau 8 giờ 30, lủi thủi bước xuống, lếch thếch trở về. Những người Việt Nam thiếu may mắn di tản đang làm gì giờ phút này? Chắc chắn, họ đang sợ hãi, đang khóc và đang thèm được chết ngon lành. Đêm qua là đêm không ngủ của tôi. Đêm nay là đêm không ngủ của Sài gòn, của cả miền Nam. Không ngủ ngoài đường. Không ngủ trong nhà. Hoặc dẫu ngủ, chỉ là những giấc ngủ chập chờn như tên một tác phẩm của Nhật Tiến. Trong những giấc ngủ chập chờn, con người thấy chập chờn những huyệt sâu chôn sống tập thể, những mã tấu vung chặt ngang thây, những băng đạn ria phọt suối máu… Và tôi, không ngủ để hình tưởng một cái cần xé chứa tảng đá và tôi ràng giây kẽm gai kín nắp liệng xuống khúc sông nào đó. Tôi chết từng giây. Tôi biết tôi chết. Tôi sặc sụa. Tôi đau đớn. Tôi giẫy dụa. Trước đó, tôi phải đứng trước đám đông phán quan y hệt tên da trắng đứng trong vòng vây của dân da đỏ, phải tự thú mình có tội với Đảng, với Cách mạng, với Nhân dân? Tôi được phép mở to mắt để nhìn đám đông phán quan của thời đại tôi Chỉ có vài tên cộng sản chính thống. Còn rặt nhân dân bị cưỡng bức hận thù. à, trong đám nhân dân bị cưỡng bức hận thù, có vài đứa theo chủ nghĩa dậu đổ bìm leo. Những đứa này to mồm nhất, nỏ họng nhất. Chúng nó xỉa xói tôi, kết tội tôi, ném đá trúng thân thể tôi. Chúng nó vớ được cơ hội ngàn năm một thuở để tuyết hận thua kém tôi mọi mặt. Cỏ hèn vươn vai chống đại thụ. Tôi sợ hãi chứ. Nhưng không sợ hãi bọn dậu đổ bìm leo. Tôi xón đái ra quần. Tôi nghĩ những giọt nước tiểu của tôi dành cho bọn dậu đổ bìm leo ở khắp nơi trên trái đất Tôi đã tưới mát cỏ hèn. Đại thụ đã ban phước cho cỏ hèn. Hãy nhận phước ấy, cỏ hèn? Hãy nhận và đừng ân hận sự hóa kiếp. Bởi vì, cây cỏ luân hồi vẫn cỏ cây. Chỉ có con người, con người công chính và việc làm công nghĩa mới được phục sinh rạng rỡ. Và mãi mãi là con người.
– Long!
– Gì?
– Nếu ngày mai mày chưa chết?
– Thì ngày mốt.
– Nếu không có biển máu?
– Thì chết mòn trong tù ngục.
– Mày chấp nhận chết mòn?
– Tại sao?
– Vì tôi mong gặp hư vô.
– Hư vô là con mẹ gì?
– Là mềm bí ẩn của đời sống. Niềm bí ẩn này chỉ tìm gặp trong ngục tù, thống khổ và cô đơn.
– Mày sảng chưa?
– Còn rất tỉnh để sợ chết, dẫu chết cách nào, kiểu nào.
– Nghĩa là mày thèm sống.
– Dĩ nhiên.
– Sống mòn và chết mòn?
-Tôi vừa nẩy ý tưởng mới. Tôi muốn tìm hạnh phúc trong bất hạnh.
– Mày lãng mạn.
– Luôn luôn lãng mạn. Lãng mạn đến chết.
Hai đứa tôi cụng ly. Bên ngoài, đường phố xôn xao tiếng nói, rầm rập bước chân. Tôi không còn tin rằng nhân dân bị cưỡng bức ra đường hoan hô cách mạng thành công nữa. Nhân dân nghèo khổ đã thật tình và nhiệt tình hoan hô cách mạng. Tội nghiệp nhân dân! Nếu họ đã đọc Con Thúy của tôi. Đừng trách móc nhân dân. Nhân dân là thế. “Bạc như dân” mà! Nhân dân oán ghét chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm và nhân dân hoan hô cách mạng 1-11-1963. Cách mạng của lũ thoán nghịch không đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong vòng ba tháng, nhân dân lại oán ghét và hoan hô đảo chính, chỉnh lý. Dưới chế độ quân phiệt Nguyễn văn Thiệu, tham thũng ngập ứ, thối nát tận óc, bất công đầy rẫy, đàn áp không thương xót, nhân dân thù hận và mong đợi tân cách mang. Nhân dân lại hoan hô như đã hoan hô. Và rồi, ba tháng sau thôi, nhân dân sẽ ủ ê với cách mạng vô sản. Kể từ dân tộc Việt Nam làm quen cách mạng, chưa bao giờ niềm vui kéo dài quá ba tháng. Rốt cuộc, cái dân tộc hẩm hiu này không thiết đoái hoài tương lai nữa. Tương lai tồi tệ hơn hiện tại và nghiệt ngã hơn dĩ vãng.
– Long?
– Gì?
– Lúc mày đi mua rượu, thằng Tự chạy ngang qua cổng nhà mình.
– Nó là lính thủy sao không theo tầu mà chạy?
– Phải thi hành sứ mạng đến tận 9 giờ. Vả nữa, vợ con nó còn nằm nhà.
– Sứ mạng gì?
– Gài mìn đánh sập cầu Đồng Nai ngăn chặn xe tăng cộng sản vào Sài gòn.
– Cầu không sập?
– Tại sao?
NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỦY VIỆT NAM CỘNG HÒA NHÂN BẢN
Những người lính thủy được chỉ huy can đảm giao cho sứ mạng đánh sập cầu Đồng Nai trên xa lộ Biên Hòa để ngăn chặn xe tăng cộng sản tiến vào Sài gòn đã hoàn tất nhiệm vụ lúc 9 giờ ngày 30-4- 1975. Cả tấn TNT gài kín gầm cầu, bọc kín chân cầu. Xe tăng cộng sản từ Long Khánh bò vô, bị quân dân Tam Hiệp đón đánh. Trận chiến hào hùng và lãng mạn này kết thúc mau lẹ nhưng đã làm chậm bước tiến của cộng sản. Xa lộ lúc ấy, hai bên cầu Đồng Nai, nườm nượp dân chúng chạy giặc và đông đầy binh sĩ tan hàng. Dân chúng Sài gòn chạy xuôi. Dân chúng Biên Hòa chạy ngược. Cầu Đồng Nai nghẹt người và xe cộ. Cùng với ông già, bà lão, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, những anh lính thủy giữ trọng trách đánh sập cầu còn nhìn rõ xe tăng cộng sản, bộ đội miền Bắc. Sức công phá của TNT gài dưới cầu sẽ làm tung bay cốt sắt xi-măng, phạm vi một cây số vuông. Và dân chúng sẽ bị chết, bị thương vô kể.
Những người lính thủy quay giang dinh, lao nhanh về căn cứ. Cầu Đồng Nai không bị đánh sập. Nếu là Mỹ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Nếu là cộng sản, cây cầu sẽ bị đánh sập Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nhưng với Việt Nam, cây cầu không bị đánh sập. Hình như nhận loại chưa biết chuyện này. Chúng ta thua trận, còn vì tình thương và lòng nhân đạo nữa…

DUYÊN ANH

Sài Gòn Trong Trí Nhớ

tranhoaithu

Sài Gòn có mùa hạ dài hơn mùa đông
Nên Sài Gòn có mắt em xanh như da trời tháng sáu
Sài Gòn có thật nhiều quán cà phê quán cóc
Nên bàn ghế Sài Gòn đầy ắp tình thân

Sài Gòn có ngày cuối tuần Thủ Đức về thăm
Để những xe lam dập dìu Bến Thành Chợ Cũ
Để anh trở về thăm em, người em gái nhỏ
Khi ngọn đèn Sài Gòn đã thắp sáng Bùng Binh

Sài Gòn buổi chiều trời hay nổi giông
Nên những hiên nhà là những hiên tình hò hẹn
Sài Gòn có những con bồ câu cúc cù trên hàng dây điện
Nên Sài Gòn vẫn là nơi hò hẹn của hai kẻ yêu nhau

Sài Gòn ít khi thấy được ánh hoả châu
Nên đêm đêm Sài Gòn bình yên giấc ngủ
Để em đến trường như con sáo nhỏ
Để người lính trở về, có chỗ dừng chân
Để mãi mãi Sài Gòn là những bâng khuâng
Trong con tim của những người viễn xứ…

Trần Hoài Thư

MAI NGƯỜI VỀ

linhphuong

Mai người về cho ta xin gởi
Tháng tư buồn đã mấy mươi năm
Khăn tang-tóc thề bay theo gió
Đỏ thắm máu tươi dưới nắng hồng

Bạn bè ta ở trong rừng thẳm
Không mộ bia nhang khói lâu rồi
Mấy mươi năm mắt chưa hề nhắm
Ngày 30 tan nát cơ đồ

Mai người về cho ta xin gởi
Cánh hoa thời loạn giữa Sài Gòn
Nói rằng Linh Phương này vẫn nhớ
Thủ đô mình Hòn Ngọc Viển Đông

Chiều thương xá Tax-sáng Mai Hương
Đêm vũ trường hay phòng trà ca nhạc
Thanh Thúy sầu giọng liêu trai hát
Thái Thanh buồn” Kỷ Vật Cho Em”

Mai người về nghe đời lênh đênh
Tìm lại tuổi thanh niên xa lắc
Tìm lại mối tình xưa đã chết
Mùa loạn ly bạc trắng mái đầu

Phà Thủ Thiêm giờ biết tìm đâu ?
Sông xanh mãi màu xanh sông núi
Hồ Con Rùa cây cao vời vợi
Dẫu muôn thu kỷ niệm chưa mờ

Mai người về chợ Bến Thành ơi !
Có chút gì ta đau cắt ruột
Có chút gì mà ta đánh mất
Mấy mươi năm thất thủ Sài Gòn…

LINH PHƯƠNG