đêm của tôi

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

tôi
lại ra bờ biển
đêm khuya
nhớ bờ sông
thương trăng sao tóc trắng
mưa tràn mắt mênh mông

tôi nghiêng vai đổ bóng
lên sóng muôn trùng reo
tôi nằm tôi cuốn lại
nỗi buồn cũng co theo

má tôi áp lên cát
cát ướt nhớ bờ chân
mắt tôi ứa giọt nước
nghe lạnh buốt toàn thân

môi khô dăm đường nứt
những thèm khát muôn đời
muốn làm chim trên biển
tìm thấy một nụ cười

tôi về tôi lặng lẽ
nghe im lặng mọc mầm
những nhánh hoa bất tử
trong tiếng hát thổ âm

NGÔ YÊN THÁI

Bản tình ca Dang Dở…

huongthuy

*Dang dở tức Tà áo xanh – tên một nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn-Từ Linh.

Tổng biên tập mời tôi lên Văn phòng đề nghị viết một phóng sự nóng về vụ Công ty du lịch H.S tự ý cắt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp của nông dân thuộc huyện Đạ Teh tỉnh Lâm Đồng. Mấy đêm nay tự dưng không ngủ được, lại muốn thoát ra sự ngột ngạt của Sài gòn những ngày cuối năm, tôi nhận lời.
Về căn chung cư- tổ ấm của hai mẹ con gần hai mươi năm nay – tôi gọi phone cho con trai báo sẽ vắng nhà khoảng ba ngày, dán lên tủ lạnh những dặn dò về thực phẩm và xách ba lô lên đường.
Xe trực chỉ hướng đông nam. Phố xá dần khuất sau lưng, quốc lộ 20 hiện ra trước mắt. Qua địa phận Long Khánh, những rừng cao su xanh ngắt hai bên đường. Mới tuần trước, dân đào hố trồng cây phát hiện bốn bộ hài cốt trong quân phục treillis và ba khẩu M16 rỉ sét. Chắc hẳn đó là những chiến binh thuộc Sư đoàn 18 của Tướng Lê Minh Đảo vào hai tuần cuối tháng Tư năm Bảy Lăm bi tráng. Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm nhưng cuộc chiến về nhân tâm xét cho cùng vẫn còn dai dẵng…
Xe dừng lại ở trung tâm huyện Đạ Huoai, tôi vẫy một chiếc xe ôm vào huyện Đạ Teh. Con đường càng lúc càng lên cao. Mùa khô đã về. Hai bên đường, hoa dã quỳ vàng trải dài ngút mắt. Những cơn gió cao nguyên thốc vào mặt mát lạnh.
Đạ Teh là một huyện mới nằm về phía tây của tỉnh Lâm Đồng. Trước 75, đây là vùng oanh kích tự do của Không quân miền Nam. Tên huyện cũng là tên của con sông lớn nhất chảy qua địa bàn. Đạ Teh theo tiếng gọi của người Mạ bản địa là Nước Nóng. Nghe nói tên này bắt nguồn từ việc nước con sông bao giờ cũng ấm hơn những con sông khác. Đó cũng từng là một mật khu có bí danh T1, T2, T3; nơi giam giữ tù binh miền Nam trong chiến tranh đồng thời cũng là đơn vị hậu cần của Việt Cộng có tên Công Doanh 19/8 chuyên tăng gia lương thực chi viện cho bộ đội chính quy Bắc Việt vùng Lâm Đồng – Đồng Nai Thượng. Sau 75, đây là chốn lưu đày của những gia đình “Ngụy quân” miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Bình Định… núp dưới chiêu bài xây dựng “Vùng kinh tế mới”; cũng là nơi những người dân miền Bắc với hai mươi năm đi lên XHCN nghèo khổ khát đất mò vào. Dấu ấn quê hương còn đậm nét qua những tên xã như Triệu Hải,Triệu Phong, Hương Lâm, Quảng Ngãi, An Nhơn, Mỹ Đức, Quốc Oai…
Tôi ngồi bên hồ Đạ Teh. Hồ đựơc hình thành do việc xây dựng đập thủy lợi chắn ngang dòng sông. Mặt hồ xanh biếc, những con sóng lăn tăn dàn đều trên mặt nước. Vài chiếc thuyền nan đang neo nghỉ cạnh bờ. Cảnh đẹp như bức tranh thủy mặc. Người dẫn đường chỉ cho tôi một nghĩa trang nhỏ có khoảng mười mấy ngôi mộ của những người đi mở đất và đã chết khi lao động xây hồ. Đây được xem là công trình thủy lợi lớn nhất của tỉnh Lâm Đồng. Nó phục vụ tưới tiêu cho hơn ba ngàn mẫu đất của nông dân các xã. Ấy thế mà giờ đây nó dần trở thành sở hữu cho một tập đoàn tư nhân đang dự định thi công dự án khu du lịch sinh thái có sự tiếp tay của chính quyền sở tại và người dân đang kêu cứu với báo chí!
Tôi cũng đã tiếp xúc với những người nông dân chân lấm tay bùn để có một cơ ngơi được gọi là tạm ổn hôm nay. Với giọng nói chơn chất của nhiều vùng miền , họ kể cho tôi nghe những ngày khai hoang đầy máu và nước mắt. Bao nhiêu người đã gục ngã vì sương lam chướng khí. Những địa danh còn in đậm gian khổ như dốc “Ma Thiên Lãnh”, đảo Khỉ…Những tai nạn xảy ra trong lao động như cây ngã, rắn cắn, bọ cạp đốt… xảy ra thường xuyên. Nâng bát nước chè xanh họ mời, tôi nghe như có vị mặn của mồ hôi và máu.
Sau khi thu thập đầy đủ chứng cứ và tư liệu, tôi trở về thị trấn. Chiếc Cup thuê của cửa hàng trước nhà nghỉ bò ì ạch qua con dốc. Và khi đã vượt đỉnh một cách khổ sở, xe đột ngột tắt máy. Khởi động mấy lần đều bó tay, chỉ còn một cách là bỏ số O cho nó tuột dốc.
Và ơn trời, phép màu đã hiện ra khi cuối dốc xuất hiện căn nhà nhỏ trong bức tranh đồng quê vắng lặng. Nếp nhà gỗ mái tranh nép mình trong vườn cây xanh. Hàng cau thẳng trước mặt gợi nhớ khung cảnh của một làng quê miền Trung, làn khói bếp nhẹ nhàng lan tỏa . Trước nhà là cái quán nhỏ có bảng hiệu bằng nhôm cũ kỷ với dòng chữ “ Sơn sửa Honda, xe đạp”.
Tôi chặm mồ hôi, đẩy xe vào. Một cậu con trai đang cầm quyển sách chăm chú học bài. Quán hàng hẹp, bên trái làm chỗ sửa xe với mấy cái lốp cũ treo trên móc. Bên kia là sạp tre đặt lèo tèo mấy thẩu kẹo bánh, bó rau, trái mướp… Cậu bé giúp tôi dựng chiếc xe lên và lễ phép“Cô chịu khó chờ một chút, ba con đang dỡ tay trong nhà…”. Ngồi trên chiếc ghế nhỏ, tôi thở ra nhẹ nhỏm. Thế nào cũng phải về thành phố chiều nay để kịp cho bài báo lên khuôn.
Người đàn ông bước ra, mũ lưỡi trai che khuất nửa mặt. Ông ta huơ tay xua đàn gà con đang lúc thúc theo mẹ kiếm ăn trước cửa bếp. Cậu bé kêu “Ba ơi! Có khách”. Ông vào quán, không ngước mắt lên, hỏi “Xe bị thế nào cô?”
Tôi hơi rùng mình… Giọng nói sao nghe quen, ngữ điệu đặc trưng của người Bình Định. Âm thanh như vọng lên từ một cõi xa xăm trong tiềm thức. Và khi ông ta mở thùng đạn đại liên lấy dụng cụ sửa xe, chiếc nhẫn Võ Bị trên bàn tay phải có vết sẹo dài thì ký ức tôi sống dậy, chói lòa. Tôi run rẩy, lập bập: “ Anh, anh Th.???
Ta quen nhau mùa Thu…
Tháng chín năm 1973.
Cô bạn Như Huy, Ủy viên xã hội của lớp, thò đầu vào hét lên: “ Sáng nay nghỉ học, đi ủy lạo các chiến sỹ Dù trở về từ mặt trận Cổ Thành Quảng Trị…Phòng Sinh Viên Vụ thông báo”.
Lớp Anh văn năm hai nhốn nháo. Tường Vy thở phào: “May quá. Tao chưa soạn bài, thoát khỏi Mr Malia”. Mấy ông con trai bảo: “ Chuyện này chỉ dành riêng cho các Em gái hậu phương. Chúng tôi đi cà phê đây”.
Kim Chi níu tay tôi và Tường Vy: “Trốn qua phố chơi đi. Hàng vải Bảo Thạnh về mấy mặt hàng rất đẹp. Mới lĩnh học bỗng tha hồ vi vu”. Như Huy năn nỉ: “Thương tui với. Mấy bạn giúp tui. Đây là đơn vị của ông anh ruột tui là Hoàng Công Thức đó. Tội nghiệp lính mà!”. Liên tưởng đến ông anh trai thuộc Sư đoàn I đang đóng quân ở tiền đồn, tôi nhẹ nhàng: “Thôi tụi mình đi đi. Cũng là một cơ hội để gặp Anh tiền tuyến”.
Cả lớp gần hai mươi nàng kéo nhau lên bờ sông Hương trước mặt Trường Luật. Ôi chao! Lính Dù ở đâu nhiều quá. Những gương mặt vừa kinh qua cuộc chiến sinh tử tái chiếm Cổ thành nhưng vẫn mang vẻ hào hoa. Những nụ cười vui vô tư của người trở về từ cõi chết. Cũng không hiếm các khuôn mặt măng tơ của những anh lính sớm từ giã bút nghiên theo nghiệp kiếm cung… Tôi và hai cô bạn thân vén áo dài nhảy lên chiếc GMC có những bàn tay cứng cáp đang chìa ra giúp đỡ. Đoàn xe trực chỉ Lăng Tự Đức, một thắng cảnh của miền sông Hương núi Ngự.
Sau những dè dặt ban đầu, câu chuyện nở như bắp rang. Vốn kiến thức về quân sự qua phóng sự chiến trường của Kiều Mỹ Duyên, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam … được chúng tôi phát huy và các anh lính nhiệt tình góp chuyện. Mấy ông Pháo binh Dù tròn mắt khi nghe tôi “phét lác” về bắn Prep, TOT… Một ông Đại úy nói vui : “Đề nghị Đại Tá Tường, Chỉ huy trưởng Pháo binh Dù xin Bộ Giáo Dục cho cô này đổi về Trường Pháo Binh Dục Mỹ”. Cả xe cười vui. Tài giỏi chi, chẳng qua tôi nghe lóm từ ông anh Pháo thủ của Sư đoàn Đèn cầy số I.
Lăng Tự Đức rợp mát. Tiếng thông reo vi vu. Như Huy thuyết trình về lịch sử của Khiêm Lăng đúng như Cours Lịch sử kinh thành Huế của thầy Phan Văn Dật dạy chúng tôi trong môn nhiệm ý bên Văn Khoa. Kim Chi đi dọc hàng sứ cổ thụ lượm một nón hoa tặng cho các anh lính mỗi người một bông. Họ gắn trên mũ, gài trên nắp áo trông thật dễ thương.
Tôi chú ý ông Thiếu úy ngồi một mình trên bậc thềm thủy tạ, mắt nhìn mông lung ra mặt hồ. Cuối thu, sen đã tàn , những tán lá khô vàng là đà trên mặt nước. Tường Vy đẩy nhẹ vai tôi: “Thủy Tiên ra an ủi anh chàng kia kìa. Coi cái mặt như mới bị bồ đá!”. Ừ , thì đi. Đêm qua đọc Mùa hè đỏ lửa của Phan Nhật Nam thấy thương lính quá.
… Thế là chúng tôi quen anh Th., người sĩ quan xuất thân từ trường Võ Bị, khóa 25 có tên Quyết chiến quyết thắng.

Ta thương nhau mùa Đông…
Tôi sinh ra trong một gia đình có hai anh trai và tôi là gái út. Cha mất sớm, mẹ tần tảo với sạp hàng bên chợ Đông Ba nuôi mẹ chồng và các con ăn học. Như đa số các bà già Huế, mệ nội tôi rất trọng con trai. Các anh có thể rủ bạn bè về nhà ở hàng tuần, đêm đêm cùng học nhóm hoặc ngâm thơ, đàn ca hát xướng, bình luận về cô ni cô tê dưới tàng cây nhãn cổ thụ. Mệ tôi coi tất cả như con cháu, thuộc hết tên tuổi và tính nết của họ. Gia đình không giàu có nhưng mẹ tôi về chợ bao giờ cũng nhớ mua thêm chút gì cho cả nhóm ăn khuya, lâu không thấy anh nào đến chơi thì mệ tôi lại nhắc nhỡ. Và tôi, đứa con nít còn đưa tay quệt mũi nhảy lò cò cũng hay được các anh sai vặt “Út ơi, ra quán mua lửa (mua nợ) cho anh mấy điếu Bastos xanh, không có thì lấy Ruby nghe! Nhớ ba đồng bốn điếu…”
Nhưng những ngày tươi đẹp qua mau. Chiến tranh đã cướp mất thanh bình, tuổi trẻ và thứ tình yêu mơ mộng của các chàng trai mới lớn. Họ lần lượt lên đường nhập ngũ và ra trường dưới nhiều màu áo khác nhau. Tôi còn nhớ mũ đen Thiết giáp của anh Minh, mũ xanh Thủy quân lục chiến của anh Trọng…Tôi cũng không quên ngày anh Linh trở về trong chiếc quan tài bọc kẽm và dòng nước mắt thầm lặng của chị Mai hàng xóm…. Hai anh tôi, một người dạy học tận miền Tây xa xôi, người thứ hai đang học dỡ Đại học cũng bị động viên vào quân trường Thủ Đức và trở thành sĩ quan tiền sát viên của một đơn vị pháo binh đóng ở căn cứ Birmingham.
Mười sáu tuổi, tôi thừa kế “gia tài” của các anh với một chồng dày programme của các rạp chiếu bóng Hưng Đạo, Châu Tinh, Tân Tân ở Huế; những thùng sách truyện đầy ắp để rồi từ đó sau giờ học, tôi mê man với tài điều binh khiển tướng của Napoleon, Moshe Dayan; hiện sinh với Một chút mặt trời trong nước lạnh, Buồn ơi chào mi! của F.Sagan; lãng mạn với tiểu thuyết Mười đêm ngà ngọc của Mai Thảo và phiêu du trong các bộ truyện chưởng của Kim Dung; khi buồn miệng thì ngâm nga những câu thơ thời cuộc bi tráng của Quang Dũng, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Tất Nhiên …
Tôi cho anh Th. địa chỉ nhà mình và tìm thấy nơi anh hình ảnh người anh trai cùng trang lứa, của những chàng trai Việt Nam bị cướp đi tuổi trẻ và quyền được sống, được yêu. Tôi hiểu về nỗi buồn của anh khi vừa mới ra trường thì tháng sau đã nghe tin bạn TVD- người được các TKS ưu ái đặt tên là “Hiền thần”- là người đầu tiên của khóa tử trận, loon thiếu úy còn vàng chóe trên cổ áo. Và ngày đi chơi lăng Tự Đức thì đêm trước người bạn cùng đại đội thời ở quân trường có tên TKV đã mất một chân. Trong khi đó mở radio các cô ca sỹ cứ nức nở “Anh trở về hòm gỗ cài hoa…Anh trở về trên chiếc băng ca…”nghe thật não lòng.
Quê anh ở Bồng Sơn . Từ năm 1965, miền quê ấy đã trở thành “vùng xôi đậu”. Gia đình anh tản cư vào Quy Nhơn và anh học trung học ở trường Cường Để. Bốn năm thụ huấn Võ Bị, tính ra đã gần trăm lần mặc niệm trước bửa ăn về những niên trưởng đã hy sinh nhưng khi đụng trận anh mới thấy hết được sự tàn khốc của chiến tranh.
Trước ngày ra trường- thường vào cuối năm- các anh hăm hở chọn lựa đơn vị. Ai cũng háo hức mong về các binh chủng thiện chiến. Bạn nào không may mắn rơi vào bộ binh thì bị chê là “Gà rù- Gà chết”. Anh Th. thỏa mãn ước vọng khi về binh chủng lừng danh Red Hat và được ném ngay ra chảo lửa Quảng Trị để bàng hoàng chứng kiến những cái xác cộng quân non choẹt bị xiềng vào xe tăng T54, những gương mặt ngây thơ cứ tuyệt vọng tràn lên, tràn lên trước mũi súng với chiến thuật bỉển người tàn bạo.
Từ đó, nhà tôi là cái trạm cho anh mỗi lần có dịp về Huế. Mệ nội và mẹ tôi lại coi anh như những đứa con trai trước đây của gia đình. Mệ nội nói “Có mất chi mô! Cháu mình đóng quân nơi xa xôi cũng được người khác thương yêu như rứa!”.
Tôi và Kim Chi, Tường Vy đưa anh đi chơi Đại Nội, đọc cho anh nghe những câu thơ hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan; về Cồn Hến ăn chè bắp; qua Chi Lăng ăn bún bò Mụ Rớt cay xé lưỡi để rồi phá ra cười khi anh so sánh “ ăn tô bún bò Huế còn khổ hơn đi đánh giặc các em à!”
Mùa Đông Huế với cái lạnh cắt da nhưng tình cảm anh em tôi ấm áp biết bao nhiêu!
Ta yêu nhau mùa Xuân… để rồi tàn theo mùa Xuân…
Tháng hai năm 1974.
Từ trường về, tôi thấy anh nằm trên chiếc giường nhỏ, mặc bộ pyjamas cũ của anh tôi và ngủ mê mệt. Mệ nội xua tay: “Đừng có ồn. Để yên cho anh nằm. Tay hắn bị thương đó”. Tôi lặng người nhìn nét mặt hốc hác của anh, bàn tay phải được băng chặt, vệt máu còn vương trên miếng compress. Tôi ra giếng, giặt cho anh bộ đồ trận bê bết bùn đất, giũ sạch ba lô. Trong ba lô chỉ có bộ đồ lót, một ống kem Hynos đã bẹp dúm, cái bàn chải toe đầu và một cuốn Chuyện cấm đàn bà của nhà văn quân đội Đặng Trần Huân mất bìa…Lòng tôi rưng rưng. Một cảm xúc mới lạ òa vỡ!
Mệ nội nấu cho anh một tô canh tập tàng với những thứ rau hái vội sau vườn, dĩa cá bóng thệ kho khô đạm bạc nhưng anh nói đây là bữa ăn ngon nhất của anh trong đời. Tôi ngồi bên anh, thêu giúp hai bông mai đen trên cổ áo trận. Anh cầm muỗng ăn bằng tay trái, tôi hỏi có đau không, anh trả lời “Như kiến cắn thôi. Nếu nặng hơn thì anh đã nằm ở quân y viện Nguyễn Tri Phương chứ đâu mò ra thăm em được”. Và thật bất ngờ, anh nói với tôi: “Sau này em có chịu nấu cơm cho anh ăn suốt đời không?”.Tôi đỏ mặt gật đầu. Chúng tôi trao nhau những ánh mắt yêu thương. Với tình yêu, đâu cần ngôn ngữ!
Đơn vị anh về dưỡng quân ở Hương Điền, cách Huế 20 cây số, nhường mặt trận Cổ thành cho Lữ đoàn Thủy quân lục chiến. Chúng tôi có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Tôi hãnh diện được anh đón sau buổi học trong bộ quân phục rằn ri. Tôi biết Thánh tổ Nhảy dù là ông Thánh Micae; biết thế nào là nhảy chuồng cu ở trại Hoàng Hoa Thám; biết khi nào thì bấm dù lưng, dù bụng; biết cách gập dù sau khi tiếp đất …Tôi viết cho anh hai câu thơ: “Em nguyện làm tín đồ ngoan đạo. Theo anh không quản gian lao”.
Như những người yêu nhau khác, chúng tôi xây đắp ước mơ. Một ngày đẹp trời nào đó khi tôi nghỉ hè, khi anh có phép, chúng tôi sẽ vào Quy Nhơn ra mắt cha mẹ anh ở căn nhà trên đường Nguyễn Huệ, đường lên Ghềnh Ráng, có mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử ngày đêm nghe tiếng sóng rì rào. Kim Chi trêu tôi: “Mi dân Huế về làm dâu người Bình Định, nói chuyện với mẹ chồng phải cần thông dịch viên đó nghe!”. Mệ nội tôi bắt đầu những bài Gia Huấn ca trong các bữa ăn cho cô cháu gái tương lai sẽ về làm dâu Xứ Nẫu.
Anh không đẹp trai nhưng rất chân thật và hào sảng. Trường Võ Bị đã tạo cho các anh tính cách ấy. Anh kể về Thủ khoa NAD văn võ song toàn, về giọng hát trứ danh của ca sỹ trung đoàn BPT, về anh bạn NH đai đen Taekwondo, về bạn PMT được vinh dự qua Mỹ vào học trường West Point …Những con người tài hoa ấy nếu phải hy sinh thì thật tiếc cho cả một thế hệ. Anh tạo cho tôi một ấn tượng đẹp về ngôi trường quân sự ở thành phố cao nguyên dù tôi chưa một lần đặt chân.
Đơn vị có lệnh rút về Quảng Nam đóng ở căn cứ Chu Lai. Đêm trước khi anh lên đường, chúng tôi đi lang thang trên những con đường nội thành. Tôi cầm chặt tay anh, bàn tay phải có vết sẹo hơi cộm lên. Anh bảo “Là người yêu lính thì phải cứng rắn, sau này anh còn phải đi hành quân xa mà lỡ nếu như không về thì…” Tôi bịt vội miệng anh :“Đừng nói, đừng nói. Em không muốn nghe. Em đợi anh mà!”. Anh mua cho tôi hai cuốn truyện Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh và Một thời để yêu và một thời để chết của E.M.Remarque ở nhà sách Ưng Hạ.Từ đây những bức thư là chiếc cầu nối cho mối tình chúng tôi.
Tháng ba năm 1975.
Khởi đầu bằng những chuyến xe đò chở dân chúng chạy từ phía bắc vào thành phố. Tiếp theo đó là những đoàn người gồng gánh, tay xách nách mang những gì có thể. Nhà giàu Huế bắt đầu bỏ đi. Rồi con đèo Hải Vân chật cứng xe cộ di tản vào Đà Nẵng. Trên đài phát thanh, Ông Tướng tuyên bố tử thủ. Mẹ tôi đi chợ về nói “Người ta chộn rộn lắm. Mình có chạy không mệ?”. Mệ nội thở ra: “Chạy mô nữa! Nhớ năm 72 chạy vô Đà Nẵng ở tạm bợ trong mấy cái trường học khổ bắt chết. Khi về thì nhà bị ăn trộm hết đồ đạc. Để chờ tin thằng hai trên núi đã. Mạ sợ lắm rồi. Mạ tính không chạy mô hết! Huế mà mất thì cả nước mất!”.
Và lời mệ nội như một sự tiên tri! Thôi, kể làm chi nữa những chuyện đau lòng!
Anh thứ hai của tôi đi cải tạo ở trại Thanh Cầm tỉnh Thanh Hóa. Anh đầu chạy vội từ Cần Thơ ra giục giã gia đình chuyển vào miền Nam, càng xa đây càng tốt. “Mệ và mẹ không nhớ Mậu Thân răng?” Tiếng nói của người con trai cả như mệnh lệnh trong một gia đình toàn đàn bà. Căn nhà được bán vội vàng và…tôi xa Huế, xa anh giờ đã biệt vô âm tín.
Sau này, tôi có nhờ cô bạn ở Quy Nhơn tìm đến căn nhà mà anh đã cho địa chỉ trên đường Nguyễn Huệ. Bao nhiêu hy vọng tràn trề. Nhưng căn nhà cũng đã đổi chủ. Người ra tiếp bạn tôi là một ông cán bộ người Bắc. Căn nhà thuộc diện được phân phối mà ông ta cũng không cần biết chủ cũ là ai.
Ôi, anh Th. Ôi, mối tình đầu của tôi!
Và thời gian qua…Tôi bị đẩy vào một cuộc sống gia đình buồn tẻ, bên người chồng mà hôn nhân không bắt đầu từ tình yêu. Cuộc sống tinh thần càng lúc càng bế tắc và khi Mệ nội và mẹ lần lượt qua đời thì tôi cũng quyết định chọn cho mình một sự giải thoát. Tôi làm lại cuộc đời mình với vai trò một bà mẹ đơn thân.
Thỉnh thoảng trong giấc mơ, hình ảnh anh Th. hiện về và khi tỉnh giấc bao giờ mặt tôi cũng đầm đìa nước mắt. Tôi hy vọng anh đã thoát được vào tháng tư kinh hoàng năm 75; hoặc trên một chuyến tàu vượt biên; hay những chuyến đi HO sau này dành cho những sỹ quan VNCH “ cải tạo”. Trong thâm tâm, bao giờ tôi cũng cầu nguyện cho anh hạnh phúc.Hai cuốn truyện anh tặng vẫn nằm trang trọng trên kệ sách dù những trang giấy đã úa vàng. Tôi thường bắt đầu một ngày của mình với bài hát Dang Dở của Đoàn Chuẩn-Từ Linh qua giọng ca Lệ Thu trong băng cassette: Ta quen nhau mùa thu…Ta thương nhau mùa Đông…Ta yêu nhau mùa Xuân để rồi tàn theo mùa Xuân…Câu hát như một lời nguyền cho mối tình mong manh của chúng tôi!
Và giờ đây…
Vĩ Thanh
Tưởng có thể ôm chầm lấy nhau sau hơn ba mươi năm cách biệt; tưởng có thể òa khóc thật to cho thỏa lòng mong nhớ…Nhưng không. Hai cánh tay anh đưa ra để rồi …buông thỏng.
Anh ngồi trước mặt tôi, khuôn mặt hằn rõ những nếp nhăn gian khổ, đội bàn tay chai sần, mái tóc lốm đốm bạc. Tất cả cho thấy một cuộc sống không mấy suôn sẻ. Cuốn phim dĩ vãng được quay chậm qua giọng kể trầm buồn…
Anh bị đưa ra Bắc ngay trong những ngày đầu tháng tư Bảy lăm theo diện tù binh ở mặt trận Hiệp Đức. Phải hơn một năm mới được liên hệ với gia đình nhưng cha mẹ anh đã rời Quy Nhơn về lại làng quê nên gần hai năm sau anh mới có thông tin.
Chấp nhận làm bên thua cuộc có nghĩa là chấp nhận tất cả những gì bị phân biệt đối xử. Anh cũng không hiểu tại sao mình có thể tồn tại trong hơn bốn năm ăn đói mặc rét và chỉ được thăm nuôi hai lần. Ra khỏi tù anh về lại làng xưa nhưng muốn làm một anh nông dân bình thường cũng khó. Ngày nào anh cũng phải đi lên xã viết đi viết lại lời khai. Anh không được đi đâu xa và cũng chẳng thể làm được gì để giúp gia đình đang khốn khó. Anh bị sung vào lực lượng đi phá gỡ bom mìn. Những quả mìn cóc, mìn lá, mìn ba râu…luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng. Cứ chợp mắt là nghe tiếng nổ, là thấy ánh sáng của quầng lửa chói lòa, là nghe tiếng rên la đau đớn của người bên cạnh với một cái chân bay tuốt lên ngọn cây. Có những đêm anh thức trắng. Những lúc ấy anh nhớ về ngày xưa, nhớ về Huế, về tôi với bao nhiêu kỷ niệm nhưng để rồi cũng tự mình lắc đầu gạt phắt.
Nghe lời cha mẹ, anh lập gia đình với một cô giữ trẻ của Hợp tác xã, ít học và mộc mạc như sắn như khoai. Còn chi để mà kén chọn, yêu thương. Tất cả đã thuộc về quá khứ!
Xã phát động phong trào đi kinh tế mới ở Tây Nguyên. Muốn thoát ra khỏi sự hành hạ, khinh khi, gia đình anh là một trong những hộ đầu tiên tình nguyện lên đường. Những năm tám mươi đây là nơi rừng thiêng nước độc. Biết bao người đã ngã xuống vì sốt rét, bệnh tật. Hai vợ chồng anh cũng từng võng đứa con trai tám tuổi ra bệnh viện huyện nhưng khi qua khỏi con dốc “Mạ ơi!” thì đứa bé chỉ còn là một cái xác lạnh ngắt.
Anh đủ tiêu chuẩn đi HO nhưng khi phỏng vấn, giấy ra trại và giấy khai sinh của đứa con không khớp nhau do sự cẩu thả của tay thư ký nhà quê. Thôi thì định mệnh đã an bài, anh cam tâm làm một người nông dân nghèo, giả đui giả điếc nơi chốn thâm sơn cùng cốc.
Đất không phụ người, đến hôm nay đời sống của anh tương đối tạm ổn. Anh gởi gắm kỳ vọng của mình vào hai đứa con còn lại. Hy vọng đời chúng nó sẽ khá hơn! Anh không liên hệ với ai, kể cả bạn bè cũ cùng khóa 25. Quá khứ của anh chỉ còn lại chiếc nhẫn Võ Bị và hai chữ “Tự thắng”trong tư tưởng.
Xe đã sửa xong. Anh vào nhà rửa tay. Tôi nhét vội vào túi áo của cậu con trai cái phong bì đựng số tiền tạm ứng cho chuyến đi công tác của phòng tài vụ. Anh trở ra với một túi ổi vườn nhà và né tránh ánh mắt tôi. Chao ôi! Hơn ba mươi năm anh còn nhớ sở thích ăn ổi của cô bé Sư phạm Huế? Mắt tôi mờ đi…
Có nhiều chuyện tình Võ Bị bền vững qua nhiều giông bão và cũng có những mối tình không trọn vẹn như của chúng tôi. Nhưng muôn đời đó vẫn là mối tình đẹp không bao giờ quên. Ôi! Phải chi tôi được cầm lại bàn tay anh, dù chỉ một lần…

Hương Thủy

THÁNG TƯ ĐEN

khuatdau

Tháng tư con hai tuổi
ba bồng con đứng nép bên đường
xích xe tăng rào rạo nghênh ngang
con bật khóc ngực ba đau nhói

Tháng tư với mặt trời mọc ngược
đêm thành ngày trắng bỗng thành đen
gió không thổi người đi như chạy
hầm hố nào thành lũy tan hoang

Giờ cũng tháng tư
con gần bốn mươi tuổi
xích xe tăng vẫn nghiến mặt đường
nghe rào rạo trong đêm tăm tối

Đường tự do nối mọi trái tim
bị chặt khúc đào lên lấp xuống
đường dân chủ vun vút dùi cui
nòng súng nhắm vào từng khuôn ngực

Chúng muốn ta đi bằng đầu gối
rụng hết tay chân biến thành lươn
chúng muốn biến ta thành đinh ốc
trong cổ xe bọc thép tối om

Chúng muốn ta sống đời thực vật
không biết đau la hét nói cười
chỉ mở mắt nằm như cá chết
trong nhà mồ lạnh lẽo trống không

Tháng tư trở laị làm cai ngục
thay xích xiềng ổ khóa xà lim
thay óc não buồng tim lá phổi
thay con người thành lũ cừu non

Tháng tư đen tháng tư quỷ ám
cả một bầy vượn cáo nhố nhăng
kìa lũ sói đến từ phương bắc
hú trên ngàn rớt rụng vầng trăng

Tháng tư đó làm đời con ngạt thở
ba mươi sáu lần ba mươi sáu sợi dây
mỗi lần đến lại siết thêm một chút
ba già rồi ai cởi trói cho con!

KHUẤT ĐẨU

THÁNG TƯ XƯA LỆNH QUY HÀNG

linhphuong

Tháng tư xưa
lệnh quy hàng
Tôi sửng sốt
tôi bàng hoàng – đớn đau
Mấy mươi năm trước
binh đao
Tôi đem xương máu
đi vào máu xương

Tháng tư xưa
lệnh quy hàng
Tháng tư xưa
mất Sài Gòn thủ đô
Tay tôi
ôm lấy lá cờ
Trời ơi !
Nửa mảnh dư đồ Việt Nam

Tháng tư xưa
lệnh quy hàng
Tôi buông súng
đội khăn tang khóc ròng
Quỳ xin
tạ tội tiền nhân
Cùng đồng bào
với non sông của mình
Tôi sống nhục
tôi sống hèn…

LINH PHƯƠNG

Nắng vàng trong rừng khô

truongvu

Cách đây hơn ba mươi năm, khi còn ở Philadelphia, mỗi lần đi bộ từ nhà trọ đến trường đại học, tôi thường đi ngang một khu townhouse thuộc giới nghèo trên đường Chestnut. Nếu đi vào buổi sáng, khoảng mười giờ, có nắng tốt, thế nào tôi cũng nhìn thấy một người đàn bà ngồi trước thềm nhà. Da trắng, khoảng sáu mươi, tóc trắng như bạch kim, chải sát vào đầu. Lúc nào cũng vậy, người đàn bà ngồi im lặng, bất động, mắt nhìn xa, đăm chiêu, trông như một pho tượng của Rodin. Có vẻ như với bà những gì đang xảy ra trước mặt không có nghĩa gì cả. Tôi không biết bà đang nhìn gì, thấy gì. Chỉ có cảm giác là vào lúc đó trong đầu bà chắc bao nhiêu hình ảnh của quá khứ đang trở về, bao nhiêu tâm tư từng lắng sâu vào tâm khãm đang sống lại. Khó ai biết. Chỉ biết nơi con người đang ngồi bất động đó hiển lộ một sự sống khác, dường như chứa chất một thãm kịch nào. Những lúc như vậy, tôi đểu mơ có khả năng vẽ nên một chân dung đích thực, biểu hiện được những phức tạp của con người, những thứ phức tạp thường tạo nên một cái đẹp kinh hồn cho nghệ thuật. Giấc mơ đó không thực hiện được. Cũng có lúc, tôi muốn tìm hiểu hơn về bà, hoặc tìm cách nói chuyện với bà. Nhưng, tôi luôn ngần ngại, không biết làm cách nào và cũng không chịu khó suy nghĩ kỹ hơn phải làm cách nào.

Từ lúc rời Philadelphia đến nay, thỉnh thoảng tôi có trở về, có đi ngang con đường cũ, nhưng không bao giờ gặp lại con người đó. Hình ảnh người đàn bà ngồi như pho tượng trước thềm nhà vào mỗi sáng rất khó quên. Nó khiến tôi liên tưởng đến một vài hình ảnh khác, để viết ra những dòng sau đây.

Tôi có một người bạn trẻ, LLT, tốt nghiệp về phân tâm học ở đại học Johns Hopkins, Baltimore. Thời gian làm nghiên cứu sinh, T tình nguyện vào làm trong một bệnh viện tâm thần ở Boston và tại một số tư gia do cơ quan tỵ nạn địa phương giới thiệu. Bệnh nhân của T thuộc nhiều thành phần người Việt khác nhau, tuổi từ 15 đến 70. Ở đây, có những người đàn bà bị điên loạn sau khi trải qua những nỗi đau kinh hoàng trên biển, mất chồng, mất con, bị hãm hiếp,… Ở đây, có những đứa trẻ mới trước đó sống êm ấm với gia đình bỗng chứng kiến những cảnh hãi hùng, rồi vụt cái, mất cha, mất mẹ, mất anh em, rồi ngơ ngơ ngác ngác trong một xã hội hoàn toàn xa lạ. Ở đây, có những người qua tuổi trung niên hoàn toàn mất định hướng, không đương đầu nổi với những đổi thay quá lớn, quá nhanh về hoàn cảnh, văn hóa, ngôn ngữ, xã hội. Ở đây, có những thanh niên mắc các loại bệnh về ảo giác, lúc nào cũng trông thấy những hình ảnh kỳ lạ, nghe những âm thanh ma quái luôn thúc giục mình làm những điều không phải, v.v. T làm việc với những bác sĩ, y tá, cán sự xã hội địa phương. Sau năm năm, vì nhu cầu hoàn thành luận án, T phải về lại trường rồi sau đó đi kiếm việc làm. Lúc T rời Boston, có khoảng 25 phần trăm trong số bệnh nhân này hồi phục để có thể tiếp tục đời sống một cách tương đối bình thường như nhiều đồng bào khác của họ. Những người còn lại, theo hiểu biết của T, đa số sẽ không chữa trị được. Đời sống của họ như thế nào qua từng tháng ngày trong khu bệnh viện tâm thần, cho đến những giờ cuối cùng, ít tai biết. Đến nay, vì làm việc ở xa, T không thể tình nguyện trở lại bệnh viện đó như trước, nhưng mỗi lần nói về những bệnh nhân cũ cũa mình T vẫn còn đầy xúc động như nói về những người thân bất hạnh.

Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến trường hợp một người đàn bà tôi có nghe đến. Đó là một phụ nữ trẻ đẹp khi cùng chồng và hai đứa con còn rất nhỏ vượt biển khoảng cuối thập niên 70. Trên đường vượt biển, thuyền họ gặp nạn, hai đứa con rớt xuống biển, người chồng vội nhảy xuống cứu và cả ba đều chết đuối. Thãm kịch xảy ra nhanh như chớp trước mắt chị. Chị và một số người khác được cứu sống. Chúng ta có thể mường tượng ra những gì xảy ra sau đó cho người đàn bà bất hạnh này. Sau một thời gian ở trại tỵ nạn, chị được đi định cư ở Mỹ, luôn giữ bên mình những kỷ vật của chồng và hai con, góp nhặt được sau tai nạn trên biển. Suốt gần mười năm kế tiếp, chị sống âm thầm với kỷ niệm lẫn với những ám ảnh kinh hoàng từ chuyến đi định mệnh đó. Không ai nghĩ rằng chị có thể trở lại đời sống bình thường. Cho đến khi có một người đàn ông khác đến. Tình thương, hiểu biết, kiên nhẫn, ân cần… đã mang lại chị một niềm an ủi. Họ thành vợ chồng. Trong nhà vẫn để bàn thờ của hai con và người chồng cũ, nhưng họ quyết định sống một đời mới. Không biết những năm tháng sau đó, những ám ảnh của quá khứ có thỉnh thoảng quay về, chen vào giữa họ, nhưng đây vẫn là một “happy ending”. Chị may mắn hơn rất nhiều người đàn bà khác cùng cảnh ngộ, cùng là nạn nhân của thảm kịch trên biển đông trong thập niên đầu sau khi chiến tranh chấm dứt. Có nhiều người còn trải qua những kinh nghiệm hãi hùng hơn.

Cuối năm rồi, tôi hân hạnh gặp một thanh niên đến từ Việt Nam, do các con tôi mời về dùng cơm tối với gia đình. Người thanh niên ở khoảng tuổi ba mươi, nói năng nhỏ nhẹ, ăn mặc và ứng xử như mọi thanh niên bình thường khác. Khi trò chuyện với tôi, lúc nào cũng xưng “con” nên lúc đầu tôi ngỡ là bạn của các con tôi. Sau vài câu thăm hỏi mới biết đó là một linh mục thụ phong chỉ được vài năm. Sau khi thụ phong, ông tình nguyện đến coi sóc một viện mồ côi nhỏ ở Sài Gòn, dành cho những trẻ em bị HIV. Trong số này có những em còn cha mẹ nhưng bị bỏ vào đó vì cha mẹ không đủ khả năng nuôi dưỡng. Tuổi thọ của các em thường không quá mười lăm. Một số bác sĩ gốc Việt ở Mỹ khi về Việt Nam làm thiện nguyện có đến thăm viện mồ côi này. Xúc động về hoàn cảnh của các em và cảm kích về những nỗ lực của ban điều hành và những người tình nguyện đến chăm sóc, cùng những khó khăn về nhiều phương diện, nhóm bác sĩ quyết định vận động giúp đỡ viện. Phần lớn sự trợ giúp đến từ các thân hữu Việt và Mỹ ở hải ngoại. Do đó, vị linh mục cùng với một em bị HIV với một y tá đi theo săn sóc được mời sang Mỹ gặp gỡ các thân hữu. Tôi có gặp bé gái đó. Xinh xắn, nói năng rất tự nhiên và lễ độ, dễ gây cãm tình của người đồi diện. Mới nhìn tưởng chừng đó là một em bé khoảng mười tuổi nhưng thật ra em đã mười sáu tuổi, mà sức trưởng thành chỉ đến đó. Em nói năng rất tự chế, chấp nhận số phận mình một cách tự tại. Những người đã đến thăm viện mồ côi cho tôi biết các em ở viện không được trường học bên ngoài nhận nên viện tổ chức lớp học riêng cho các em. Các em được học hành và vui đùa như mọi trẻ em bình thường khác, mặc dầu tất cả đều biết mình sẽ rời cõi nhân gian này bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên, thực hiện được điều đó không dễ. Vị linh mục cần sự hỗ trợ của rất nhiều người.

Nói đến những bác sĩ thích làm thiện nguyện, tôi nghĩ đến một người bạn trẻ khác, bác sĩ LTL, một chuyên gia về ruột. Ông thường mang sách vở về tặng và mời một số giáo sư y khoa Mỹ và Việt về giãng ở đại học y khoa Huế. Trong một chuyến đi như vậy cách đây khoảng mười năm, mỗi ngày ông đều thấy một bà cụ đẩy xe bán bánh mì đến chợ Bến Ngự, sáng đi chiều về, ngang qua nhà ông. Ông để ý thấy một chân của bà cụ đi đứng không được bình thường. Một hôm ông đến chợ, đến nơi bà cụ bán bánh mì, ngồi xuống xin phép xem chân bà, thấy ghẻ lở ăn sâu vào thịt. Sau đó, cứ hai ba ngày ông mang thuốc đến, tự tay chăm sóc vết thương. Khi vết thương gần lành hẵn, có thể tự chữa lấy được, cũng là lúc ông từ giã bà cụ về lại Mỹ. Bà ôm ông khóc. Ngày nay, LTL là một bác sĩ rất thành công ở Maryland. Ông có phòng mạch riêng, nhận làm chủ nhiệm khoa ruột của một bệnh viện quan trọng một thời gian, và là giáo sư thỉnh giảng ở một đại học y khoa lớn, nhà cửa sang trọng, gia đình hạnh phúc. Mới đây, ông kể tôi nghe, vài tháng trước ông có về lại Việt Nam. Người đồng nghiệp ở y khoa Huế thường làm việc chung với ông trong những chuyến về thiện nguyện, trước đây khá nghèo, bây giờ lái một chiếc Mercedes mói toanh ra đón ông ở phi trường. Tôi thực sự mừng cho sự thành công của họ, mừng họ có nếp sống cao, vì họ xứng đáng được hưởng thành quả do tài năng và sức lao động của họ. Tuy nhiên, mỗi lần nghĩ đến LTL, hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu tôi vẫn là hình ảnh một bác sĩ trẻ ngồi xuống chăm sóc ghẻ lở nơi bàn chân một bà cụ bán bánh mì ở chợ Bến Ngự.

Ở hải ngoại, chúng ta thường nói, thường ca ngợi những thành công cá nhân của người tỵ nạn hay con cháu những gia đình tỵ nạn. Nhưng, chắc chúng ta cũng biết bên cạnh đó có rất nhiều người không thành công. Đặc biệt, có nhiều người rất thiếu may mắn đang kéo lê cuộc đời của họ trong âm thầm. Với bề ngoài lặng lẽ, họ chứa chất bên trong một thế giới riêng, thường khó hiểu với người xung quanh. Những cái thế giới như thế chắc phải có một sức mạnh nào đó, một sự nặng nề nào đó để kéo họ thu mình vào, không tìm được lối ra, hay không muốn tìm một lối ra. Cũng có thể, thế giới đó rất đơn giản, chỉ dung chứa một số phận không may, không thể làm gì khác hơn là chấp nhận nó như một định mệnh nghiệt ngã. Như trường hợp các trẻ em mồ côi bị HIV, như trường hợp bà cụ bán bánh mì ở chợ Bến Ngự, v.v. Nếu may mắn, họ có thể gặp những người có một tâm lượng lớn hơn bình thường, một sự thông cảm lớn hơn bình thường, cũng bằng một cách lặng lẽ đến giúp đỡ, chia sẻ nổi đau của họ. Như người tu sĩ, người chồng, và những người trẻ tuổi tôi đã kể trên. Và, còn bao nhiêu người khác nữa chúng ta không thể nói hết ở đây.

Những việc làm đầy tình người của họ, dù nhỏ hay lớn, như những tia nắng vàng trong rừng cây khô, đã làm cuộc đời có ý nghĩa hơn. Và, nếu những cố gắng đầy chân tình đó biến đổi được một số phận không may hay mang lại một niềm vui, một tia hy vọng về tương lai cho một người bất hạnh, tôi cho đó là một thành công lớn. Một thứ thành công dễ khiến những người nghe đến trở nên thâm trầm hơn.

Trương Vũ

Maryland, tháng Năm 2010

67

DÂU BỂ VÔ THƯỜNG

nguyenminhphuc

Giấu một trời ảo vọng
Vào trần gian khói sương
Nghe bên trời chuông gióng
Một hồi kinh vô thường

Lá vàng rơi chánh điện
Ai thả lời sắc không
Ngày cũng buồn im tiếng
Trầm khói chiều mênh mông

Có người ngồi soi bóng
Trên dòng sông lặng thinh
Nghe trong chiều đại mộng
Vọng khẽ tiếng ru tình

Gió bên trời vẫn thổi
Như nghìn năm phiêu diêu
Từng hồi kinh sám hối
Gõ chiều rơi hắt hiu…

Nguyễn Minh Phúc

HƠI THỞ VIỆT NAM

trantrungdao

Trên đám cỏ này là nơi anh đã nằm
Trên nắm đất này là nơi máu anh đã nhỏ
Ðất vẫn một màu nâu
Cỏ vẫn một màu xanh muôn thuở
Mặt trời mỗi sớm vẫn rọi vào làm lóng lánh
những giọt sương
Như đôi mắt sáng của anh
Lần cuối cùng ngửa mặt nhìn tổ quốc yêu thương
Dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.

Trung Tá Long !
Họ của anh là gì vẫn chưa ai biết
Có phải là Ngô, Ðinh, Lý, Trần hay Lê, Nguyễn…Văn Long?
Không, tên của anh đã bắt đầu
Từ ở núi, ở rừng, ở biển, ở sông
Ở những câu chuyện thần tiên mẹ thường hay kể.

Từ thuở Cha Lạc Long dắt năm mươi con xuống bể
Mẹ Âu Cơ dắt một nửa lên ngàn
Từ thuở bầy chim Lạc chắp cánh bay về
vùng nắng ấm phương Nam
Xây tổ bên sông Hồng, sông Cửu.

Tên của anh đã bắt đầu khi con rồng Việt Nam
phun lửa đốt rừng dựng nên bờ cõi
Truyền vào lồng ngực anh hơi thở vào đời
Hơi thở Việt Nam hòa trong anh suốt thuở làm người
Sáng ba mươi anh trở về với mẹ
Hồn anh bay giữa trời quê hương
Một màu tang quạnh quẽ
Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con.

Lòng anh đau khi nghe tiếng xe tăng
Ðang nghiền nát Sài Gòn
Hy vọng chết dưới mỗi lằn xích sắt
Viên đạn Nga bắn vào tim nước Việt
Lưỡi lê Tàu đâm thủng ngực dân Nam.

Ôi có bao giờ trong suốt bốn nghìn năm
Mà đất trời quê hương ta buồn như hôm ấy
Những mẹ, những cha, những cụ già, em bé
Ngơ ngác nhìn nhau, sợ hãi, kinh hoàng.

Một chế độ vừa bắt đầu
Bằng hận thù, khủng bố, lầm than
Bằng tiếng xích T54 đay nghiến hồn dân tộc
Xé nát lòng anh bao hờn căm và tủi nhục
Anh đã chọn cho mình một cách chết quang vinh.
Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.

Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.

Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi.

Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.

Trần Trung Ðạo
(Bài thơ viết tại Thư Viện Boston (Boston Public Library) khoảng 1990 sau khi tôi xúc động bắt gặp bức hình của Trung Tá in trong một cuốn sách về chiến tranh Việt Nam. Ngày đó họ của Trung Tá vẫn chưa được xác định. Tôi đặt tựa bài thơ là Hơi Thở Việt Nam và in trong tập Thao Thức, xuất bản lần đầu năm 1993 nhưng lưu truyền trong internet theo tên gọi dễ nhớ là Trung Tá Long)

Bay cao thì mặc bay cao

nguyentri

Thật kỳ lạ. Chả có cái nhà nào trong toàn cõi nước Nam như nhà ông Quốc. Chắc là mã tổ táng trên đất dữ. Ông Quốc là một, thằng con tên Đĩnh là hai giờ đến phiên thằng cháu nội Đạc cũng bị luôn thì có kỳ quái không? Dư ruột. Hai từ nầy tuy dễ phát ngôn nhưng trị nó thì lắm anh nhà giàu còn chới với nói chi nghèo. Hãy xem cu Đạc.
Đang yên đang lành bổng cu Đạc héo hon gầy mòn nuốt không được và xả không ra. Từng bị nên Đĩnh tức tốc đưa con đi viện. Sau vô số cái gọi là siêu âm đến nội soi. Hồ sơ bệnh án kết luận cu năm tuổi bị dư ruột. Muốn yên phải cắt bỏ. Muốn phẩu thuật chí ít Đạc phải có trọng lượng là hai mươi ký lô. Trước mắt là đục một cái lỗ bên hông cho chất thải vô bịch nilon. Gia đình mang về bồi dưỡng kỹ vào, mỗi tháng tái khám một lần. Chừng nào đủ kí lô và đảm bảo sức khoẻ ta tính tiếp. Hai vợ chồng Đĩnh thiếu điều đi ăn mày.Chòm xóm láng giềng thương lắm nhưng biết làm sao? Đĩnh phải na cái thân từng bị cắt bỏ năm tấc ruột đi kiếm tiền. Việc kiếm tiền của Đĩnh bị thiên hạ cho là thất đức. Mà thất thiệt chứ không chơi.
Đĩnh hành nghề bẫy chim bán cho bá tánh. Bá tánh ở đây gồm ba loại.
Loại thứ nhất là dân chơi chim kiểng.
Loại thứ hai là quán nhậu
Loại thứ ba là dân mua thiên đường và niết bàn bằng chiêu thức phóng sinh.
Nghiệp nầy Đĩnh kế thừa từ ông Quốc. Thuở thiên hạ nếu không nương rẫy phải rừng rú mới có cái tọng vô mồm thì từng qua mổ xẻ vì dư ruột như ông Quốc sức đâu mà cuốc ruộng hay chặt cây? Bù lại ông trời cho Quốc một tài vặt là giả giọng rất hay. Bất kỳ con nào Quốc giả thì con thú ấy còn bị nhầm nói chi con người. Dân nhậu rất chuộng mồi màng các loại chim. Lá rụng, Két hoặc Cút rừng không con nào qua được mặt con Cuốc. Cuốc hiếm lắm, chỉ kiếm ăn vào ban đêm. Bên những con lạch, bờ tre hồn ông vua trong hai câu thơ “ khắc khoải sầu đưa giọng lững lơ, ấy hồn Thục đế thác bao giờ…” gõ nhịp cuốc cuốc thảm sầu không xiết kể. Để bẫy phải có tài dụ dỗ bằng cách giả giọng. Rất nhiều thằng theo nghiệp nhưng không trụ được như Quốc. Vì sao? Vì có đêm Quốc kiếm được cả chục thì thằng khác nhiều lắm hai con là hết phép. Đâu phải cứ giả giọng là xong. Quan trọng anh phải biết cái giọng kiếm bạn tình của loài chim nầy mới ăn. Về sau mỏi miệng quá Quốc mới tậu cái thu băng. Bốn giờ sáng bà con cô bác nghe tiếng cuốc vang vang là biết ngay Quốc đang lặn lội kiếm tiền để lo cho cái dư ruột của thằng con tên Đĩnh. Vậy là bá tánh vừa cầu cho linh hồn con chim Đỗ Quyên siêu thoát vừa cầu cho cu Đĩnh mau đủ hai chục ký mà mổ. Một con Cuốc quán nhậu thu gấp chục lần con Cút. Không có nó không chừng ngày nay Đĩnh xanh cỏ như cha.
Ông Quốc còn có tài bẫy Nhồng. Loài chim nầy nhà giàu nuôi để làm kiểng bởi nó biết nói. Muốn bẫy kẻ theo nghề phải có một con mồi thiệt ngon. Một con nhồng mồi giá ít nhất là năm chỉ vàng, phải kiệt cùng kiểu người thân có nguy cơ chết chủ sở hữu mới đành đoạn bán. Nhồng mồi phải là loại mới ra ràng. Dân chuyên nghiệp phải rập rình lúc nào anh chị yêu đương, lúc làm tổ và lúc nào đẻ. Loài chim này không làm tổ dưới đồng bằng mà trong hốc những cây cổ thụ trên non. Có anh chị làm nhà trên ngọn cây cao cả hai mươi mét. Chờ cho chim con tập bay ta trèo lên lúc đêm hôm khuya khoắt mới bắt được. Trèo cổ thụ bắt Nhồng khó gấp một chục lần bắt ong. Bắt ong người ta dùng đinh thép dài bốn mươi phân đóng vô thân cây. Thắt lưng giầy đinh của thợ trèo trụ điện lên đến đâu nện đinh đến đó. Bắt Nhồng không được để cho chim mẹ nghe động. Phải khéo léo như vua ăn trộm Thời Thiên trong Thuỷ Hử mới đặng. Vậy mà chỉ con non sợ bóng tối chứ mẹ thì đừng hòng bắt được. Để có một chú nhồng non khó vậy đấy, nhưng đó chỉ mới là bước đầu tiên. Để luyện cho ra một con mồi thì nhiêu khê hơn một tỷ lần. Con Nhồng ăn ớt thuộc loại khủng nhưng hể thấy máu là lăn ra chết. Để thần phục người ta cho Nhồng ăn cơm trộn chung với lòng đỏ trứng gà ta, phải âm ấm nó mới ăn, nóng nó chê, nguội ngoảnh mặt. Đã nói một con mồi trị giá năm chỉ vàng chứ đâu ít. Và đó mới chỉ là xong một con chim mồi.
Để kiếm ăn Nhồng luôn di chuyển. Người đánh bẫy phải đi theo. Tháng nầy ở Đồng Nai, tháng sau phải có mặt ở rừng Phan Thiết. Đi xa thì phải một hội bốn năm anh em. Cứ đường mòn trong rừng ta phóng xe đạp. Mỗi chuyến đi phải một tuần trang bị như hành quân giết giặc. Mỗi em một tấm lưới chụp. Hạ trại rồi ta sẽ dọn sạch một khoảng trống giữa rừng. Bốn tấm lưới sẽ liên hoàn thành một vòng vây. Bãi phải dọn cho thật sạch và thả các thức trái cây mà các em Nhồng khoái khẩu. Đu đủ chín vàng là một. Ớt chín là hai. Hai hoặc ba chú Nhồng mồi vừa hót vừa mổ réo gọi đồng bọn xuống chung vui. Trong cái mớ thức ăn dụ dỗ kia có cả cơm trộn với lòng đỏ trứng gà. Loài người thật buồn cười. Làm sao mà họ cho chim ăn cái thứ mà con người mới biết nhỉ? Có trong nghề mới biết. Thủ đoạn chứ chả nhân đạo chi. Mầu vàng trứng để lừa lũ chim rằng đây là đu đủ chín nè mấy con. Ăn đi. Ăn xong thì chóng hay chầy lũ chim sẽ nghiện. Cứ nhìn mấy con mồi thì biết, thả khơi khơi trong rừng mà chúng chả thèm đi đâu ngoài phạm vi bẫy chụp. Cơm trộn trứng người chủ nấu bằng nước lá cần sa. Ăn xong chú chim sẽ không bao giờ dám rời xa chủ nữa. Dân cà phê cóc dã chiến khi xay ra bột cà phê đã rang họ trộn bông và lá cần sa để khách nghiện. Uống cà phê trộn cần sa khác hẳn thứ cà phê trộn chung với bột của hạt cau khô. Nếu bột hạt cau làm ta khó chịu thì cần sa cho ta một hưng phấn rất chi dịu dàng.
Thợ săn sẽ ém bất động trên những cánh võng giăng giữa rừng. Chim trời khôn lắm, đang yên bình bổng nhiên có một khoảng trống đầy nắng. Bên trong là hai ba đồng loại đang nhởn nhơ chơi trò rống rắn lên mây. Lũ chim sẽ nghiêng ngó hỏi nhau rằng cái gì vậy kìa? Rồi một hai em nhảy xuống thăm dò. Ồ không sao cả. Chả có chi trừ các thức mà ta thích. Ngày thứ nhất trôi đi, ngày thứ hai trôi đi. Thứ ba thứ tư thứ năm cũng trôi đi luôn. Và bầy chim mất cảnh giác bởi sự gian trá của loài người. Một hai ba giật. Bốn mảnh lưới sập xuống và chí ít một chục chú nhồng về với lầu son gác tía mua vui cho các cô các cậu con nhà thế gia.
Năm Đĩnh mười hai tuổi thì ông Quốc chết. Đang cùng nhau dọn sân bẫy ông bị một con rắn Hoa Mai đớp một phát vô kẻ tay. Nọc độc của loài rắn nầy mạnh đến độ nạn nhân chết tức khắc. Bạn phường săn cáng ra lộ bằng võng rồi lên xe về nhà. Lúc ấy Đĩnh đang làm công cho quán nhậu Chim Lá Rụng. Công việc chính là nhổ lông chim. Tức là một năm sau ngày mổ bỏ năm tấc ruột già bị dư Đỉnh chỉ còn nhổ lông chim là vừa với sức khoẻ. Cha chết Đỉnh chả biết làm chi ngoài trừ theo mấy tay đi lấy lộc từ chim trời.
Sau một ngày rong ruổi, mặt trời tắt nắng là chim Lá Rụng hội lại thành đoàn kiếm chỗ trú thân. Nơi qua đêm của Lá Rụng là những đám mía. Ở xứ Đĩnh ngụ, rẫy của cư dân nương nhờ nhiều vào mía. Mía bạt ngàn, nương nầy nối tiếp nương kia cả vài mươi héc ta. Khi mía cao quá đầu người thì chim Lá rụng đổ về từng đoàn. Đã có người hỏi rằng vậy những ngày tháng kia chúng ở đâu khi đêm xuống? Rồi khi mía thu hoạch chúng về đâu? Cũng chả ai biết mà trả lời. Nói chung đó là chuyện của Lá rụng và trời cao, hơi sức đâu mà xen vào cho rách việc. Chiều đến chúng tụ lại đen kịn cả một góc trời rồi cùng nhau rụng xuống một đám mía nào đó. Nhìn cảnh những cánh chim rơi trong trời chiều đẹp không bút nào tả xiết. Phải nhanh chân để xem nghe bạn, mươi phút là không còn một cánh chim nào trên bầu trời. Chả chi nhanh bằng rụng.
Phường săn đứng trên lộ nhìn Lá Rụng sa. Xác định được đám mía của ai rồi họ sẽ đến nhà chủ rẫy ngã giá đặt bẫy. Lá Rụng xuống đám mía của ai nhà đó vớ một cú cũng âm ấm. Xong vụ ngã giá sẽ đến tiết mục thuê người đuổi chim. Bốn giờ sáng làm việc đến năm giờ. Chỉ một tiếng trả cho anh nửa ngày công nhật. Tám giờ tối phường săn sẽ giăng lưới vây quanh một phần ba đám mía. Bốn giờ sáng cùng nhau ta a la xô. Lá Rụng đang ngủ bị đuổi sẽ ào lên phía trước và cứ thế sa hết vô lưới. Ta chỉ việc cuốn lưới lại rồi cho tất cả vô lồng. Mỗi lồng chí ít là năm trăm em Lá Rụng. Một đêm đi càn chót bẹt cũng một chục lồng. Làm phép nhân đơn giản là ra ngay hai từ kinh khủng liền. Chim di lý về mấy quán nhậu. Cân cái lồng ra số ký là biết số con. Cứ chục mười hai ta chốt sổ. Bầy con nít sinh ra trong gia cảnh nghèo sẽ làm lông lũ chim nầy. Con chim vặt sạch lông nhưng vẫn còn sống lổm ngổm và chéo chét đầy sân nhà nhìn qua buồn muốn khóc luôn đó hỡi người ơi.
Nghề nầy phải có vốn kha khá bởi một bộ lưới bẫy không ít tiền. Đĩnh đi theo với tư cách long tong cho các anh sai vặt. Hết mùa Lá Rụng nó đi theo bẫy Nhồng, hết Nhồng là Két. Học nghệ và làm nghề từ năm mười hai tuổi nên năm hai mươi tuổi Đĩnh lên hàng sư phụ. Nó lại hơn bạn phường săn cái tài giả giọng di truyền từ cha. Không một cuộc phiêu lưu nào thiếu Đĩnh. Mọi việc đang trôi êm bổng nhiên khựng lại. Khựng một cái kịch.
Nguyên nhân là bạn cùng hội cùng thuyền nghỉ hẳn trò chơi chim chuột. Đất nước đổi mới rồi, con cái của họ làm việc trong mấy công ty nên dư thừa của ăn của để. Bầy trẻ nhận ra sự độc ác cuả cái nghiệp cha ông chúng vì thiếu đói mà sa chân. Chúng buộc các ông ở nhà bằng cách thẩy cho đứa cháu nội hay ngoại chi đó nhờ trông chừng. Nghiệp săn chim để sống đâu thể một mình mà nên chuyện. Một mình cũng đặng nhưng chỉ để chơi cho thoả cái mê. Đĩnh thì còn quá trẻ để ngộ ra câu làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu. Đến cái lúc mà ngay cả con Cút cũng được nuôi đại trà thì thậm nguy cho Đĩnh lắm. Loài chim nầy khi nuôi thịt thà của nó cả rô ty cũng chẳng ra chi vì nhảo nhét và một con cút hoang dã giá gấp năm lần con được nuôi bằng cám thực phẩm vẫn không có mà giao hàng. Lý do là ruộng đồng nương rạch đã vào quy hoạch để xây dựng nhà máy sạch bách rồi. Rừng cũng lùi xa đến cả Két và Nhồng cũng biệt mù tăm dạng. Chỉ còn một vài loài như Sáo hay Chào Mào đỏ đít còn gọi là Đội Mũ là tàm tạm để duy trì nghiệp, dù chỉ một mình.
Con Sáo thì ngây thơ lắm lắm. Một lần chị chàng Sáo dại dột làm tổ ở cây Tràm sau nhà. Canh me chim non đủ ngày tháng Đĩnh chơi nguyên tổ cho vào lồng để nuôi. Chim mẹ chéo chét tới đòi con. Thấy vậy Đĩnh xách lồng treo lên cây tiếp tục để mẹ nuôi con. Lũ chim non nầy có giá lắm. Dân có của mua về để luyện nói nghe chơi. Đĩnh để lại một con làm mồi. Nhờ con mồi và một cái bẫy sập mà Đĩnh có cả một lồng Sáo, cứ ung dung trên xe đạp kiếm cơm. Mùa tình Sáo mẹ lôi về một anh trống cùng làm tổ trong vườn nhà. Vậy là lại có chim non.
Nhưng Sáo hay Đội Mũ là loài để chưng diện. Người mua hiếm lắm. Có hôm Đĩnh dừng chân qua năm cái chợ mà chả bán được một em. Đồng nghiệp khuyên rằng thôi cho chim về trời lại đi Đĩnh ơi. Kiếm một công ty nào đó mà gia nhập. Thời nầy ai ai cũng công nhân. Chả ai nên cửa nên nhà nhờ vào chim chóc. Mày mà còn theo nghiệp nầy chả ai dám gã con gái cho mày. Nói chi gã bán cho mệt, ngay cả yêu đương Đĩnh cũng mệt cầm canh. Mấy cô mấy chị thà ế chứ chả ai yêu đương với chàng. Gia cảnh nhà Đĩnh ảm đạm quá. Cha chết sớm, mẹ bỏ đi còn sớm hơn. Chả là năm Đĩnh bị dư ruột, khổ quá, thiếu thốn quá bà má bỏ đi một hơi không ngoảnh lại. Thêm cái hết ông cha tới Đĩnh cùng chung một dư ruột. Các nàng và cha má các nàng tin rằng tới phiên mình cũng bị luôn. Dư ruột không di truyền nhưng cái nghiệp sẽ cho ta quả đắng.
May thay thời công nghiệp hoá quán cà phê mờ đèn đầy dẫy khắp chợ thì quê phục vụ các anh xa quê hương chuyện ái tình. Đĩnh đến karaoke để nghe em hát bài đừng xa em đêm nay. Một em như vậy đồng ý về nhà nấu cơm cho anh ăn. Chàng đi buôn chim thì nàng ở nhà đi hát ka ra. Lúc cô vợ lớn bụng thiên hạ nói Đĩnh đổ võ ốc cho ai đó rồi. Biết ai trong số lũ lượt khách đến karaoke yêu cầu em hãy ôm anh và hãy nói em cần anh?
Thiên hạ nói bậy. Con Đĩnh chính xác đến từng xăng ti mét một mà không phải thử máu hay ADN chi. Năm tuổi thằng Đạc lại bị dư ruột. Hoạ vô đơn chí phúc bất trùng lai. Con bị bệnh hiểm cùng lúc với cái hát năm en nờ một tràn ngập toàn thế giới. Thiên hạ đem gà vịt và cả chim tiêu diệt sạch. Bầy chim của Đĩnh không ngoại lệ.
Nhưng không sao. Ông trời luôn có đức hiếu sinh. Vợ Đĩnh vẫn ung dung kara là ô kê. Giọng ca cô chả hay ho gì, tầm cỡ ca sĩ còn bó tay chịu sầu nói chi miệt ruộng.Nhưng nhan sắc của gái một con thì ta còn chết nói chi tây và tây đui.
Đĩnh ở nhà chăn con sao cho đủ hai mươi ký mà mổ.
***
Hỡi các mẹ hiền trên khắp thế gian – những người mà – con cái rất xinh tươi, rất ngoan hiền và mạnh khoẻ. Chỉ cần con của mẹ trái gió trở trời thì lo lắng đến thức trắng đêm. Nếu các mẹ đứng trong hoàn cảnh của Đĩnh thì mới biết thế nào là niềm đau khổ. Để có một trọng lượng hai mươi ký cho một thằng cu bị dư ruột thì khó vô cùng. Chả có con bệnh nào trên thế gian nầy thèm ăn, người lớn còn biết đánh vần chữ ráng chứ trẻ con ta làm sao? Vợ đi hát kara từ sáu giờ tối đến mười hai giờ khuya. Về là lăn ra ngủ. Mệt mỏi quá biết làm sao? Rất nhiều đêm khách mời đi chơi đến sáng, không đi thì không được với chủ nhà hàng. Ai bảo đẹp không khổ?
Đĩnh và cái nghề săn chim tàn cuộc đành ngâm câu gái chơi đã trở về già hết duyên. Ở nhà chăn con cho vợ kiếm tiền. Tay cầm chén dẫn con loanh quanh trong sân nhà chủ yếu dụ dỗ con nuốt được miếng nào hay miếng đó. Không ăn thì uống sữa cao cấp ngoại nhập. Thằng cu đã không ăn còn đòi cầm chén, vậy là cơm cháo vương vãi khắp sân. Bầy chim sẽ trên mái nhà ríu rít nhảy xuống kiếm hạt cơm. Con đau nên bao nhiêu chim chóc trong nhà Đĩnh đổ tháo hết rồi, chả còn lấy một con giống cho cu con vui mắt. Nhìn thằng cu chạy theo bầy sẽ khúc khích cười bà xã Đĩnh bảo:
– Bắt cho nó vài con đi anh.
Đĩnh lặng yên suy nghĩ. Làm sao để bắt sống một con chim bây giờ ta? Thợ săn liền vào nhà lôi ra một tấm keo diệt chuột. Đơn giản thôi mà. Vài hạt gạo rãi trên tấm keo, ngay lập tức không phải một mà những ba em sa lưới tử thần. Kẹt cái thứ keo nầy dính khiếp đảm, chú chim tội nghiệp vừa sa chân là ngã. Để gỡ cho ra thì chú đơ cán cuốc, không thể nào rửa sạch keo, chỉ còn nước cho mấy tay già mà ham lấy tiết để luyện môn cường dương đại bổ. Chả hiểu từ đâu mà thiên hạ tin rằng tiết chim sẽ rất thần diệu vụ chiếu giường. Vậy là ngay lập tức thợ săn Đĩnh khấp khởi mùng vì biết cách làm ra tiền phụ vợ lo cho con.
Mấy tay già mà ham no cơm nên rửng mở lắm. Đĩnh mang tiếng ác khi làm cái nghiệp nầy nhưng đâu đã nhẫn tâm bằng họ. Kéo trong tay họ xắp một phát là mỏ chim bay mất. Máu từ đó sẽ nhỏ vào ly rượu, cả mười chú chim mới cho ly rượu trắng hoá màu hồng. Một bàn nhậu chừng ba anh trai già là có một mâm ba mươi chú se sẻ rô ty. Vâng, để phục vụ cho một trong tứ khoái thiên hạ lên rừng tàn sát cả tê giác thì ba con chim bé tí nào có nghĩa địa gì. Đúng là khi mang lấy nghiệp vào thân khó lóng mà bỏ lắm. Đĩnh mua về cả lốc tấm keo diệt chuột cắt nhỏ ra rồi cột vào những khẳng khiu của cành cây. Không dụ dỗ được bằng cách rãi thực phẩm thì ghi âm tiếng chim rủ rê bạn tình đi ăn tiệc. Thời buổi mà một cái ghi và phát âm bằng ngón tay thì đại bàng còn sa lưới nói chi ri rích các loài chim.
Nhưng để có chim bán cho quý ông quý bà phóng sinh mua đường bình yên sau khi chết thì chỉ một Đĩnh mới biết. Bí mật chuyện nầy. Bể ra bọn cạnh tranh nhào vô liền. Chả phải thấy Đỉnh kiếm ăn được với keo diệt chuột bọn vô công cũng nhảy vô mà phá giá đó sao? Thời buổi mà chục rưởi con chim sẻ đã có một liều ma tuý thì tội cha chi chúng không nhập cuộc? Và cả hội vô cùng ngạc nhiên khi Đỉnh xách cả lồng chim se sẻ, chủ nhật thì đứng trước cổng nhà thờ, rằm mồng một thì đứng trước cổng chùa để bán. Làm sao có được chim không dính keo để thả lại với thiên nhiên vậy kìa?
Nhìn những cánh chim bay trở lại trời xanh sao mà đẹp quá. Nhưng se sẽ là giống núp dưới mái ngói hiên trường, mái nhà thờ và mái nhà lợp rạ. Chúng bay đi đâu khi rừng đã quá xa xôi rồi. Và bay đi đâu khi món khoái khẩu của Se sẻ là thóc? Có tung đi đâu Sẽ vẫn chốn cũ tìm về. Mà về thì lọt vào keo diệt chuột. Chú nào may mắn vào tay Đĩnh thì còn có cơ hội đôi ngày nhìn được cuộc đời. Nhưng bọn ma tuý khôn ranh lắm. Chúng quyết tìm cho ra bí mật mà Đĩnh đang sỡ hữu. Đĩnh giăng bẫy và máy ghi âm ở đâu chúng liền đến để chọc phá. Bọn nghiện chả luận một thằng cha ẳm đứa con bệnh tật đi kiếm sống chi ráo. Con chim thấy bóng người là vù mất dạng, làm sao bẫy được khi hai ba thằng ngồi dưới cành cây dán keo để đấu láo thì chịu sầu. Và cả bọn đến tận nhà yêu cầu Đĩnh cho bí mật.
– Ô kê. Nhưng với một điều kiện – Đỉnh yêu cầu.
– Nói đi, được là bọn tao ô kê.
– Bất kỳ thằng nào bẫy ngày nào cũng giao cho tao một cặp se sẻ.
Cả bọn phá ra cười. Cười đã chúng nói:
– Một cặp chục ngàn bạc. Bọn tao mỗi thằng cho mày một ngày hai chục ngàn. Được chưa?
– Tao không cần tiền. Chỉ cần chim.
– Ô kê. Cầu thì được ước thì thấy.
Ra cái loại keo Đĩnh sử dụng nằm trong mấy công ty sản xuất ván ép. Ba cái mạt cưa và gỗ vụn người ta sử dụng loại keo nầy để ép. Chỉ cần móc ngoặc với một công nhân làm ở khâu ép yêu cầu nó bán cho dăm chục nghìn là xài mệt xỉu:
– Loại keo nầy – Đĩnh nói – dính rất chặt nhưng hể dấp nước là bung, cả một cọng lông cũng theo ra. Tụi mày biết đó, ba cái ván ép hể đụng nước là bung liền… khì khì khì, tụi sản xuất khôn trời thần. Ván ép mà như tụi Mỹ đem qua nước mình thời chiến tranh thì mấy công ty sản xuất thời này chết đói hết.
Vậy là cổng chùa và nhà thờ tha hồ mua chim phóng sinh. Những ngày thường se sẻ đến quán nhậu cho mấy quan anh chặt mỏ lấy tiết, sau tiết là rô ti hay xào lăn thì tuỳ. Nhưng mấy tay chơi ma tuý muôn đời không uy tín. Vụ cống nạp gọi là tạ ơn anh đã cho em biết bí mật. Thậm chí giới thiệu cái thằng ăn cắp keo bán cho quý anh cũng chả nhớ. Mấy anh xù dù hai con se sẻ chả đáng là bao. Bán phóng sanh thì nhiều lắm được chục nghìn một con, còn quán nhậu năm nghìn là hết phép. Sao mà mất uy tín quá.
Thực ra nào phải vậy. Hãy nghe Hải xì ke nói:
– Bà mẹ nó thằng điếm thúi Đĩnh… Tụi mày biết hai con chim mà nó bắt trong lồng của tụi mình là chim gì không?
– Gì?
– Không để ý là không nhận ra. Không được mách nước là cũng mù luôn.
Thì ra trong cái giống se sẻ hiền lành kia trăm con cũng lọt vô được một cặp rất kỳ lạ. Không để ý là không phân biệt được. Khi bỏ riêng người ta mới nhận ra được sự khác biệt. Loài chim luôn đi thành đôi, dáng dấp như chim sẻ nhưng màu lông hơi khác. Một con phớt mầu đỏ và con kia phơn phớt trắng. Con phớt đỏ là trống và phớt trắng là mái. Dân chuyên môn gọi là Phong Thuỷ. Cặp Phong Thuỷ nầy những trăm nghìn một cặp. Mấy tay nhà cao cửa rộng cần lắm loài chim nầy. Có nó nhà cao sẽ cao thêm. Quyền uy sẽ được củng cố chắc như bắp.
Đĩnh lại tiếp tục đứng ở cổng chùa nhìn thiên hạ tung chim. Vừa tung họ vừa nói, bay đi con, bay cao lên, cao lên, cao cao lên…
Trong óc Đĩnh hiện lên câu ca dao… bay cao thì mặc bay cao…
Nguyễn Trí

TẠ LỖI VỚI SÀI GÒN

nguyenhaithao

Mẹ sinh con ra Quận 3
Con lớn lên Quận 5, Quận 6
Sài Gòn vòng nôi
ru con thời thơ ấu
Sài Gòn phù sa
bồi đắp con nên người
màu mỡ những buồn – vui…

Tuổi thơ con
vô tư thả những con thuyền giấy
trên vũng nước hè đường mùa mưa
hì hục hít – thở
bụi bặm khói xe mùa nắng
Mười lăm tuổi mộng mơ
những dòng sông quê mênh mang
những núi đồi trùng điệp
tập tễnh đưa vào trang thơ đầu đời

Con vào đời lúc đất nước chia hai
Tin chiến sự dẫy đầy trang báo
Đêm từng đêm
thắc thỏm nghe đạn pháo
Ánh hỏa châu soi sáng một góc trời
Sài Gòn chở che con
qua tuổi đôi mươi
bằng câu hát “Dậy mà đi” thôi thúc

Con trưởng thành
Sài Gòn giải phóng
Trăm ngọn cờ bay trong câu ca
Giờ đỏ rực phố phường
Sài Gòn dìu con
qua từng bước chông chênh
bằng giọt mồ hôi con đổ
trên những vồng khoai
trong những giờ đứng lớp
Sài Gòn cưu mang con
cho đến tận bây giờ

Ơn Sài Gòn
con mang nặng hai vai
Nửa đời
Chưa viết nổi một câu thơ dâng tặng
Sao cứ mãi đắm chìm
trong những bài thơ tình lãng mạn
Và mơ tưởng những chuyến đi xa
để nằm nhớ Sài Gòn

Bài thơ này
như một lời tạ lỗi riêng con…

NGUYỄN HẢI THẢO

Chào Sài Gòn Thân Mến

tranvanle

Tôi đi từ Mỹ về Sài Gòn
Chiếc áo mù sương còn đẵm sương
Cái sac cầm tay ghìm, nặng quá
Cái tình thương quá, nhé Quê Hương!

Tôi xuống phi trường xong thủ tục
Tôi đi ra cổng, ngó quanh quanh
Không ai biết mặt tôi, chờ đón
Tôi ước gì nghe một tiếng “Anh!”…

Tôi gọi taxi, tìm khách sạn
Sài Gòn xe cộ chạy lung tung
Nhìn mà chóng mặt, mà cay mắt
Chợt thấy ai kia mái tóc bồng…

Chợt thương chợt nhớ thời tôi trẻ
Đi phép về thăm viếng Thủ Đô
Hồi đó Sài Gòn trong thuở loạn
Mà sao êm ả khác bây giờ…

Hồi đó có người con gái đẹp
Hất đầu…Anh chải tóc cho em…
Bây giờ…vẫn đó, người con gái
Mắt chạm sao nhìn chẳng phải quen!

Tôi đi từ Mỹ về Sài Gòn
Ba chục năm rồi chắc héo hon?
Nắng nhạt trên hàng cây đã cỗi
Chiếc áo tôi vừa khô hết sương…

Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi (*)
Tiếng hát ai đang hát nghẹn lời
Đường nối đuôi nhau xe gắn máy
Người nối đuôi nhau…người có đuôi!

Trần Vấn Lệ