CHUYỆN CỦA TÈO

Sau khi thất thủ Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3, hàng đoàn người tháo chạy tán loạn về phía đồng bằng. Tỉnh lộ 7 (QL 25 ngày nay) được chọn cho con đường di tản. Đã có nhiều tài liệu mô tả về cuộc tháo chạy này, tưởng không cần nói thêm. Ở đây chỉ nói chuyện thằng Tèo.
Đoàn di tản về tới dốc cây Me thì rẻ phải, đi ngang qua giáo xứ Tịnh Sơn để về quận lỵ Sơn Hòa với ước mong tìm một sự che chở. Rồi quận lỵ cũng tháo chạy, đoàn người tản đi về hai phía, một băng xuống Thạnh Hội theo cầu phao đi qua đường 9, một tiếp tục đi theo đường 7, tất cả đều tuyệt vọng… Theo những gì được biết bi giờ thì ngày 24/3, “quân giải phóng” đã hoàn toàn làm chủ quận lỵ nên bây giờ 24/3 là ngày kỷ niệm của địa phương này.
(Quận lỵ Củng Sơn nằm chơ vơ phía tây Phú Yên. Ở đây có giáo xứ Tịnh Sơn lâu đời nằm cách khoảng 2 km. Năm 1963, vì tình hình an ninh, nhà thờ Tịnh Sơn đóng cửa, một nhà nguyện nhỏ được xây dựng tại Củng Sơn ngay trung tâm quận lỵ, có lẽ để nương náu vì trong lịch sử, thời chín năm kháng chiến, Phú Yên đã có 2 linh mục bị sát hại: Cha Dẫn ở Trà Kê và Cha Tôn ở Tịnh Sơn)
Bi giờ ngồi hình dung lại thì thật là bi đát. Dài dòng chỉ thêm niềm uất nghẹn. Chỉ có Tèo là vô tư vì lúc đó nó có mặt nhưng với tư cách là một sinh linh bị bỏ lại bên cạnh bờ sông Con ở Ngân Điền. Mấy người nông dân địa phương đi lượm đồ rơi rớt của người di tản đã bắt gặp Tèo, chưa cắt rún, nằm quấn trong cái khăn lông trắng muốt của Mỹ. Mọi người bàn tán thằng này chắc con của nhà giàu… Tèo được đưa về quận lỵ Củng Sơn (lúc đó) giao cho linh mục Nguyễn Cao Hiên, cha sở nhà thờ. Cha Hiên đón nhận Tèo, cắt rún, ấp ủ và nuôi bằng những gì ngài có thể.
Cũng trong những ngày này, vợ chồng anh Mười Hòa mừng đón đứa con đầu lòng. Nhà thương chưa hoạt động lại nên phải nhờ bà mụ vườn. Bà mụ cắt rún bằng cái cật tre, bốn ngày sau thằng bé chết vì uốn ván, lưng cong vòng. Chôn cất con xong vợ chồng anh Mười nhớ tới cha Hiên và thằng bé sơ sịnh èo uột. Hai người chở xe đạp tới nhà thờ đón thằng nhỏ về. Cha Hiên mừng, nói đã rửa tội, có tên thánh, và dặn vợ chông anh Mười đem về nhớ làm khai sanh cho nó.
Và Tèo đã lớn lên, vượt qua cái xanh xao còm cõi nhờ vào bầu vú sữa của chị Mười, không nhớ gì về quá vãng, cội nguồn. Cái làng quê nó sống thì tôi có biết, cũng buồn bã như bao làng quê VN khác sau ngày hòa bình. Có lần tôi tới chơi thấy nó lon ton chạy quanh sân, lần khác nó đã lớn hơn, cầm roi chận bò ngoài ruộng. Ngày đó tôi còn trẻ, chẳng quan tâm để ý gì nhiều. Thêm nữa vợ chồng anh Mười Hòa sinh thêm một đàn con, lo miếng ăn khá vất vả rảnh đâu nghĩ chuyện tinh thần.
Cũng như nhiều đứa trẻ con khác chỗ nó sống, ngày đó đói khổ quá nên đi học cũng lôm côm được chăng hay chớ. Tôi cũng vất vả mưu sinh nên cũng thiếu sót nghĩ tới người khác. Chỉ biết lúc này qua đàm tiếu của thiên hạ thằng Tèo đã biết nó là con nuôi, là đứa rớt rơi trong ngày di tản. Nó gặng hỏi, anh Mười nói cứ từ từ lớn rồi đi tìm. Và từ đó trong Tèo có một nỗi niềm đau đáu…
Miết cho tới cách đây vài năm, chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của cô Thu Uyên rộ lên trên truyền hình, thằng Tèo ghi tên rất sớm. Cũng nhiêu khê lắm cuối cùng đoàn làm phim về Tịnh Sơn gặp Tèo, mô tả, kể lại, nhắn nhủ v.v… Và ngày tháng trôi đi Tèo không nhận được chút phản hồi nào. Cũng dịp này cậu bạn bên phía Đức Bình đã được đoàn tụ. Tèo chờ miết nhưng không có dù dữ kiện của Tèo khá rõ ràng và rành mạch. Bà con làng xóm nói thôi, chắc ba má mày không qua nỗi sông Con rồi. Mà có qua được sống Con cũng chưa chắc về tới được Tuy Hòa…

Mười Hòa là anh họ của tôi. Năm này 30/4 trúng ngày chủ nhật, tôi chạy xe Honda từ Tuy Hòa về Tịnh Sơn 50 cây số, ý là để hỏi thăm thằng Tèo. Vợ chống anh Mười đã đi từ sớm lên An Khê thăm thằng trai út đi bộ đội, đơn vị đang đóng ở đó. Lâu quá không gặp nên thằng trai lớn của anh Mười không biết tôi, tôi chỉ hỏi sơ qua chút đỉnh, biết sau khi đưa thằng Tèo về thì sau đó anh Mười sinh thêm 6 đứa con nữa. Thằng Tèo cũng đã lấy vợ và đưa vợ con về Gia Lai sống mấy năm nay. Tôi nghĩ chắc thằng này muốn tìm về nguồn cội, dù chỉ là cái nguồn cội mù mờ. Có khi nó chỉ cần hít thở bầu không khí mà nó nghĩ trước đây ba má nó đã hít thở, đi lòng vòng cái không gian mà trước đây ba má nó đã đi, rồi tưởng tượng ra có người đàn ông nào đó, người đàn bà nào đó là ba và má nó. Nghĩ vậy để bớt tủi buồn… Tính hỏi tên khai sanh của thằng Tèo nhưng nghĩ lại không cần. Chắc chắn là cái tên nào đó theo họ của anh Mười thôi, gọi theo tên ở nhà có khi lại hay hơn. Tèo đã chẳng có tên từ khi bị để rớt ở bờ sống Con ngày đó…
30/4, đài phát thanh truyền hình rôm rả vui mừng, loa kèn inh ỏi. Tôi đứng bên bờ sông Con nghĩ tới thằng Tèo.

Lê Phú Hải

VÔ DANH

 

Do not stand by my grave and weep:
I am not there. I do not sleep…
I am a thousand winds that blow
I am the diamond’s glint on snow
I am the sunlight on ripened grain
I am the gentle autumn’s rain
When you awake in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circle flight
Do not stand by my grave and cry:
I am not there. I did not die.
 

Tạm dịch nghĩa:

Đừng đứng bên mộ anh và nhỏ lệ:
Anh không ở trong mộ này. Anh không ngủ đâu em.
Anh là ngàn ngọn gió thổi khắp phương trời
Anh là kim cương lấp lánh trên tuyết lạnh
Anh là ánh nắng nhuộm vàng hạt lúa chín
Anh là giọt mưa của trời thu êm ả
Khi em thức giấc lúc ban mai thinh lặng
Anh là lực xua đàn chim vụt bay cao
Những cánh chim lặng lẽ lượn những đường vòng
Đừng đứng bên mộ anh và khóc lóc:
Anh không trong mộ này. Anh không chết đâu em.

Bản Tin Tức Cuối Cùng của Đài Phát Thanh Sàigòn ngày 29-04-1975

Những xướng ngôn viên của Đài Sài Gòn ngày 29-4-1975 giống như những nhạc công cần mẫn trên boong tầu Titanic, trong giờ phút lâm chung của tàu Titanic, tất cả đều hỗn loạn, nhưng họ vẫn bình thản tấu đoạn nhạc vui Mozart,…Sài gòn ngày 29-4-1975 cũng hỗn loạn, người ta giẫm đạp lên nhau để leo lên trực thăng hay trèo lên chiến hạm há mồm ở cửa biển như trong hồi ký Cao Xuân Huy,…mời quý vị nghe bản nhạc cuối cùng trước khi chiếc “Titanic” Việt Nam Cộng Hòa chìm xuống !
Bản tin tức cuối cùng của Đài phát thanh Sài Gòn ngày 29-4-1975

Mời quý độc giả nghe lại bản tin tổng kết của những ngày đen tối nhất của Việt Nam Cộng Hoà do Nữ xướng ngôn viên Mai Thy thay Nữ xướng ngôn viên Mai Liên của Đài Phát thanh Sài Gòn trình bày. ( Mai Liên và Mai Thy đều là XNV của Đài Phát Thanh SG)

Không hiểu do cố ý hay vô tình bản tin này được đệm tấu với bài Exodus: Di Cư (This Land is Mine) của Do Thái.
Đất này của tôi, trời ban nước này cho tôi…
Muốn giữ đất nước này làm nhà, tôi phải chiến đấu cho đến cùng để gìn giữ đất nước này cho chúng ta.
Cho đến khi nào tôi trút hơi thở cuối cùng, đất này là quê hương của tôi.
This Land Is Mine
This land is mine, God gave this land to me
This brave and ancient land to me
And when the morning sun reveals her hills and plain
Then I see a land where children can run free
So take my hand and walk this land with me
And walk this lovely land with me
Though I am just a man, when you are by my side
With the help of God, I know I can be strong
Though I am just a man, when you are by my side
With the help of God, I know I can be strong
To make this land our home
If I must fight, I’ll fight to make this land our own
Until I die, this land is mine
(Lời bình luận của Web. Đàn Chim Việt)
*****************
Bây giờ mời quý thính giả nghe tổng kết tin tức trong 2 tháng, từ trung tuần tháng 3 đến thượng tuần tháng 4.
Thưa quý vị thính giả:

Ngày 17 tháng 3 – Tổng thống Thiệu ra lệnh rút quân, bỏ trọn vùng cao nguyên Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, dân chúng bắt buộc phải di tản đường bộ, theo quốc lộ số 7, một con đường bỏ hoang từ thời kỳ Pháp thuộc.
Ngày 19 tháng 3 – Phú Bổn và phần còn lại của Quảng Trị thất thủ, Huế và Đà Nẵng bị đe doạ nặng. Dân tị nạn đổ dồn về Đà Nẵng, cầu không vận được thiết lập nối liền Sài Gòn-Đà Lạt.
Ngày 20 tháng 3 – Dân tị nạn đổ về hướng Nam trong cảnh chết chóc. An Lộc thất thủ. Huế đang ở trong gọng kềm của Cộng quân. Tính đến nay Cộng quân đã chiếm 8 tỉnh trong số 44 tỉnh của miền Nam.
Ngày 21 tháng 3 – Huế thất thủ, Bắc Việt tấn công Quảng Đức, Gia Nghĩa, Khánh Dương. Có thể nói lần tấn công này mạnh hơn hồi Tết Mậu Thân.
Ngày 23 tháng 3 – Một tàu chở dân tị nạn Huế bị bảo đánh chìm ngoài biển Đà Nẵng. Trời không tha dân lành.
Đến Ngày 24 tháng 3 – Tam Kỳ (tức Quảng Tín) bị thất thủ. Quảng Đức và Quảng Ngãi cũng rơi vào tay Cộng quân.
Ngày 25 tháng 3 – Dân số ở Đà Nẵng lên tới 1 triệu rưỡi, tổng thống Thiệu yêu cầu Trần Thiện Khiêm cải tổ nội các.
Và Ngày 26 tháng 3 – Nhiều đơn vị quân đội bắt đầu hỗn loạn, mất tinh thần trong những cuộc tháo chạy. Nhiều cảnh thanh toán nhau diễn ra tại Đà Nẵng.
Ngày 27 tháng 3 – Đà Nẵng lâm nguy trước các mũi dùi của Bắc Việt. Bảo Lộc, Lâm Đồng cùng chung số phận. Trong khi đó, ở Sài Gòn, tướng Kỳ tái xuất hiện đòi TT Thiệu từ chức. 2 nghị sĩ, 1 giáo sư, 3 tướng lãnh và 3 ký giả bị bắt vì âm mưu đảo chánh. Dân tị nạn lên tới 2 triệu.
Ngày 28 tháng 3 – Hội An, Lâm Đồng lọt vào tay Cộng quân. Đà Nẵng vô cùng nguy ngập.
Và Ngày 29 tháng 3 – Các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa leo tàu ngoài khơi Đà Nẵng để chỉ huy binh lính. Dân chúng không còn đường để tháo chạy.
Vào Ngày 30 tháng 3 – Đúng 3 giờ sáng TT Thiệu ra lệnh rút bỏ Đà Nẵng, mặc dù các đơn vị đang còn giao tranh ác liệt với Bắc Việt.
Cuối cùng, ngày 31 tháng 3 – Qui Nhơn bị tấn công, Nha Trang bị pháo kích, dân miền duyên hải này ùa nhau kéo về Sài Gòn. Khối Phật giáo Ấn Quang xuống đường đòi TT Thiệu từ chức. Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố tại Paris sẵn sàng làm trung gian cho 2 bên tại miền Nam.
Thưa quý thính giả,
Vào ngày mồng 1 tháng Tư – Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang hoàn toàn lọt vào tay phía Bắc Việt, 14 trên 44 tỉnh của miền Nam bị mất. Bắc Việt kêu gọi dân chúng tự động đứng lên lật đổ TT Thiệu.
Vào ngày mồng 2 tháng Tư – Đa số tuyệt đối thượng nghị sĩ tại Thượng viện VNCH đồng thanh kết án TT Thiệu và đòi TT Thiệu từ chức. Tại Paris, bà Nguyễn thị Bình tuyên bố một cuộc tấn công vào thẳng Sài Gòn rất có thể xảy ra. Cam Ranh thất thủ.
Ngày mồng 3 tháng Tư – Qua trung gian của phái đoàn Mặt Trận tại Tân Sân Nhất, Phía Mặt Trận cho biết sẵn sàng ngưng chiến và hòa đàm với một chính phủ không có TT Thiệu. Hội đồng tướng lãnh VNCH yêu cầu TT Thiệu từ chức.
Đến ngày mồng 4 tháng Tư – Thủ tướng Khiêm từ chức, chủ tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn làm thủ tướng. Mặt Trận tuyên bố thẳng rằng họ chỉ thương thuyết khi TT Thiệu ra đi. Một âm mưu đảo chánh khác bị lộ, nhiều người bị bắt. Cần Thơ bị pháo kích lần đầu kể từ 7 năm nay, và một máy bay Mỹ chở cô nhi tị nạn rơi gần Sài Gòn.
Vào ngày mồng 6 tháng Tư – Một đơn vị nhảy dù VNCH tự động chiếm lại Nha Trang nhưng rồi cũng không giữ được lâu.
Đến ngày mồng 8 tháng Tư – Dinh Độc Lập bị dội bom, viên phi công lái máy bay ra vùng Việt Cộng mới chiếm đóng. Xe tăng Việt Cộng mở cuộc tấn công Chân Thành, cách Sài Gòn 30 cây số.
Đến ngày mồng 9 tháng Tư – Chiến trường Xuân Lộc bùng nổ. Hà Nội gởi phi cơ vào những vùng mới chiếm đóng. Các phong trào nhân dân ở Sài Gòn tiếp tục đòi TT Thiệu từ chức.
Đến ngày 14 tháng Tư – Nội các Nguyễn Bá Cẩn trình diện.
Ngày 15 tháng Tư – Kho bom lớn nhất miền Nam tại Biên Hòa bị Cộng quân đặt chất nổ phá tan. Phi trường Biên Hoà bị pháo tới tấp.
Vào ngày 16 tháng Tư – Phan Rang thất thủ.
Đến ngày 17 tháng Tư – Đại tướng Dương văn Minh đòi TT Thiệu từ chức để cứu vãn tình hình.
Đến ngày 18 tháng Tư – 10 sư đoàn Bắc Việt, gồm 100 ngàn quân thiện chiến tập trung cách Sàigòn 19 cây số.
19 tháng Tư – Trưởng phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng đòi các nhân viên Mỹ, kể cả đại sứ Martin rời khỏi Sàigòn trước khi có thể có hội đàm.
Và ngày 20 tháng Tư – Phan Thiết thất thủ.
21 tháng Tư – TT Thiệu tuyên bố từ chức trao quyền cho Phó Tổng thống Trần văn Hương. Mặt Trận Giải Phóng không chịu và đòi nói chuyện với chính phủ không có người của TT Thiệu.
Ngày 23 tháng Tư – Hàm Tân thất thủ. Căn cứ Không quân Biên Hòa dời về Sài Gòn. 125 ngàn quân Bắc Việt và Mặt Trận đang vây 55 ngàn quân VNCH quanh biệt khu thủ đô. Tại đại học Tulane ở New Orleans, Tổng thống Ford tuyên bố “Với nước Mỹ, chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt”.
24 tháng Tư – Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức.
Đến ngày 25 tháng Tư – Tổng thống Hương cử một phái đoàn tổng trưởng đi Hà Nội, nhưng Bắc Việt bác đề nghị đó.
Ngày 26 tháng Tư – Quốc Hội bằng lòng trao quyền tổng thống cho bất cứ ai do TT Hương chỉ định.
Đến ngày 27 tháng Tư – Đường Sài Gòn – Vũng Tàu bị cắt đứt.
Và đến ngày 28 tháng Tư – Đại tướng Dương văn Minh chánh thức nhậm chức Tổng thống, nghị sĩ Vũ văn Mẫu làm thủ tướng. Cộng quân vẫn không chấp nhận đề nghị hòa đàm và họ vẫn đánh.
Cuối cùng ngày 29 tháng Tư – Phi trường Tân Sân Nhất bị pháo dữ dội. TT Vũ văn Mẫu ra lệnh người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam tức khắc trong vòng 24 tiếng. Đài Phát thanh Mặt Trận Giải Phóng đòi chính quyền Sài Gòn hãy đầu hàng.
Thưa quý thính giả,
Phần tổng kết tin tức của chúng tôi đến đây chấm dứt. Xin kính chào quý thính giả.
Xướng ngôn viên MAI THY

XUÂN LỐI CŨ

Tôi trở lại kiếm người trên lối cũ
nghe mùa xuân chợt rũ xuống giận hờn
nơi thành cổ loài chim xưa thôi hót
tôi tìm đâu bóng nhớ thuở môi hồng?

Người đã xa như một vì sao nhỏ
cuối chân trời thương nhớ vẫn chưa nguôi
tôi đếm những mùa xuân qua hút bóng
nghe trong hồn hoa cỏ cũng tàn phai

Phố chợ đó cũng hoang đường cổ tích
dấu chân son người xoá bỏ tháng ngày
bây giờ đó đạn bom thay tình ái
ru tôi hoài trên những luống chiêm bao

Người đã xa người còn nghe tiếng nói
tôi phương này tuổi đá lạnh vàng không?
ơi lối cũ mùa xuân xưa chợt hiện
chuông tim tôi dây đứt lạnh vô cùng

TRẦN DZẠ LỮ
(trích Hát Dạo Bên Trời)

DÒNG SÔNG SƯƠNG KHÓI

CẠN

ngồi xuống cùng em cạn nốt đêm nay
như cạn nốt đời mình con sóng lụn
tấp giạt bờ vỡ li ti bọt vụn
tan thinh không
buổi nắng sớm
vô tình

**

hóa hư không buổi nắng sớm nguyên trinh
sạch dấu vết
tên người từng rất mị
thuở ban sơ
ngỡ đường trần hoa mỹ
trời đầy mây và đất mịn cỏ xanh

**

ngồi xuống cùng em nghe gió qua gành
nhẹ đưa mơ hoang một lần cổ tích
vạc khản kêu sương
hoàng lâu tịch mịch
chập chờn về
bóng phạm thái quỳnh như

**

cung đàn ai đang gảy khúc tương tư
thắt thẻo lá khô xô cành xào xạc
bước thời gian đi
vội vàng bội bạc
chốn phù hoa
lệ nhỏ xuống bao giờ

**

chỉ còn đây hiu hắt vạt trăng mờ
soi mặt nước thu
ánh vàng nghiêng đổ
đáy biển âm âm vọng bài kinh khổ
tiếng thở dài anh
ngọn tóc em bay

**

ngồi xuống cùng em cạn nốt đêm nay
cạn mắt môi em rượu tràn sóng sánh
những mơ hồ là ngàn sao lấp lánh
sẽ tan nhanh
vào buổi sớm
vô tình… .

Hiền Mây

Người Việt Gốc Hoa Chống Tàu

 

Tôi gặp lại A Tỷ ở chợ Thuận Phát, sau 10 năm anh ta biệt tích giang hồ. Chúng tôi quen nhau vì cùng làm chung trong một hãng “bù tèo”. Cái hãng toàn người già với đồng lương mắc dịch chưa lần nào nhích khỏi năm đầu ngón tay.

A Tỷ người Tàu, gốc Bạc Liêu. Năm 1978 mua thuyền đánh cá, xuống Cà Mau vượt biên với mấy ông ba tàu khác. Vượt biên đâu phải chuyện dễ. Vượt biên, chẳng những vượt qua muôn trùng sóng gió của biển, thuyền nhân còn vượt qua móng vuốt của công an việt cộng, của cướp biển, thảo khấu, và lòng thờ ơ nơi những nước láng giềng. Cho nên A Tỷ đến đảo chỉ còn cái quần xà lỏn, giấy tờ rớt mẹ đâu mất hết. Đến khi phỏng vấn qua Mỹ, mấy ông ba tàu khác xúi A Tỷ khai sụt tuổi để dễ kiếm việc làm. Chủ Mỹ không ai dại gì bỏ tiền ra thuê một ông già về quờ quạng như con rùa lật ngửa.

A Tỷ vốn chân thật, dễ tin người. Nhưng tội nghiệp, khi gặp phái đoàn Mỹ, anh ta lúng ta lúng túng thế nào mà khai sụt một hơi 13 tuổi. Thế là, trong lúc bạn bè trang lứa với A Tỷ về hưu, hưởng thú đó đây – thì lão lại khòm lưng bên cỗ máy, cà rịch cà tang kéo lê kiếp trâu già. Mãi đến khi hãng “bù tèo” dẹp tiệm, A Tỷ mới thoát khỏi ách cày. Từ đó, lão biệt tích luôn, tới bây giờ chúng tôi mới gặp lại.

Mười năm xa nhau, A Tỷ vẫn còn nhớ tôi. Vừa thấy tôi cầm gói trà Green Tea lên ngắm ngía, bàn tay lão đã chận ngang trước ngực.
-Hày, Nị đừng uống cái lày. Đồ Trung Quốc đó! Kiếm trà Nhật uống, chắc ăn hơn.
-Trời đất! A Tỷ đây ư! Lâu quá không thấy nị. Sao? Còn ở đây không?
-Hày, Mạnh giỏi hông? Ngộ vẫn ở đây. Mấy năm nay bịnh. Tưởng bán muối dồi chớ…

Gói trà màu sắc tuyệt đẹp. Tôi vẫn còn cầm trong tay ngắm nghía nó, chưa muốn bỏ lại.

-Hày, Nị đừng mua đồ Trung Quốc. Nó mần ăn không tốt, bỏ tầm bậy tầm bạ trong đó. Nị vừa mất tiền, vừa hại thân.
-Sao nị biết đồ Trung Quốc không tốt?
-Chời ơi! Nị không coi báo, coi đài. Không đi chợ nghe người ta nói với nhau sao? Họ tẩy chay đồ Trung Quốc khắp nơi.

Tôi ngó lom lom A Tỷ.
-Nị cũng là người Trung Quốc, sao nói xấu Trung Quốc?
-Hày, Có sao nói vậy. Ngộ không nói xấu. Như ngộ có cái kềm Mỹ, xài tới rỉ sét vẫn chưa hư. Thằng con ngộ mới mua cái kềm Trung Quốc về xài, siết tới siết lui mấy cái, nó sút mẹ cái càng ra. Ối cha! Vừa tốn tiền, vừa báo hại.

Tới đây, A Tỷ vẫn chưa chịu ngừng.

-Ngộ đâu phải người Trung Quốc. Ngộ là người Việt gốc Hoa. Ông cố ngộ mới là người Tàu. Hồi xưa, bên Tàu, nhà Thanh đánh bại nhà Minh, đuổi nhà Minh đi khỏi nước. Ông cố ngộ mới theo tướng Mạc Cửu chạy qua Việt Nam xin tá túc. Mạc Cửu sau này là công thần của vua An Nam, có lăng miếu đàng hoàng ở Hà Tiên. Còn ngộ, đẻ ra ở Việt Nam thì Việt Nam là quê hương của ngộ chớ. Cũng như cháu nội nị đẻ ở bên Mỹ thì Mỹ là quê hương của cháu nội nị. Nó có biết chi về Việt Nam đâu?

A Tỷ nói thao thao cho đến khi tôi trả gói trà lên kệ, lão mới thôi. Loay quay một lúc, A Tỷ kéo tôi ra khỏi quán, sau khi hào phóng tặng tôi nguyên phong trà green tea Nhật Bổn.

Buổi sáng, nắng rực rỡ. Khu Linda Vista xôn xao với hàng quán tấp nập. Chính nơi này,10 năm trước, A Tỷ dẫn tôi tới đây ăn tô phở đầu tiên ở góc phố đằng kia, rồi lôi tôi về nhà nhờ hướng dẫn trồng các loại cây mà bên Mỹ này chưa có người Việt nào muốn trồng bao giờ.

-Hày, ngộ với nị qua bên kia làm tô mì chơi. Đừng ngại, ngộ bao cho.
Ngó mái tóc bạc như bông gòn của A Tỷ, tôi bỗng thấy nao nao.
-Nị mới trúng super lotto đêm qua, phải không?
-Hày, Bộ trúng mới bao sao? Ngộ muốn trả ơn nị, chút đỉnh mà…
Tôi chưng hửng.
-Trả ơn? Nhưng ơn gì?

A Tỷ ôm chầm vai tôi, tha thiết.

-Nị mau quên quá! 10 năm trước, con vợ ngộ muốn trồng dừa. Ngộ chạy ra chợ mua trái dừa gáo, về đào đất, dồi đặt xuống. Ngày nào hai vợ chồng cũng bỏ phân, tưới nước, trông nó lên cây. Nhưng trông riết, nó cứ trơ trơ. Giận quá, ngộ đào lên, cái gáo dừa thúi quắc.
-Rồi tôi hướng dẫn nị tìm trái dừa còn nguyên vỏ. Về nhà, ủ nó lên mọng, mới đem ra vườn, đào lỗ, đặt xuống chứ gì?
A Tỷ vỗ tay, cười khục khặc.
-Đúng dồi! Bây giờ cây dừa đã có trái. Con vợ ngộ khoái quá. Nó nói nó mang ơn nị.
-Cái đó tôi học lóm người ta, chỉ lại nị. Ơn nghĩa chi?
A Tỷ chưa chịu buông tha.
-Còn một cái nữa, nị quên dồi. Nị nhớ nị có ra mắt cái CD chưa? CD ngâm thơ đó…

Kỷ niệm chợt trở về. Cách đây khá lâu, lúc còn làm chung hãng “bù tèo” với A Tỷ, có ông bạn thân khuyên tôi nên ra mắt CD ngâm thơ để có cớ tụ họp bạn bè văn nghệ lại, xem ai còn ai mất? Tôi đem giấy mời vào hãng, trao đến tay các anh em người Việt. Riêng A Tỷ, tôi không mời, vì nghĩ anh ta chẳng rành nhiều về tiếng Việt. Nhưng thật ngạc nhiên, khi thấy A Tỷ tiến đến gần tôi, tỉ tê trách móc.
-Hày, ngộ với nị quen biết nhau lâu quá. Nay ra mắt CD, sao lại bỏ ngộ ra. Nói thiệt, nị không cho ngộ đi, ngộ cũng tìm cách đi cho được. Bạn bè mà.
Thế là tôi đành trao giấy mời cho A Tỷ.

Hôm nay, A Tỷ nhắc lại chuyện xưa, chắc có mục đích chi đây?
-Vụ CD đã lâu rồi. Bây giờ, cái dĩa không nghe được nữa hả?
-Đâu có. Cái CD ngâm thơ hay quá! Nhiều người khen nị. Ngộ cũng muốn khen nị đó mà.
-Trời đất! Nị cũng khoái thơ nữa ư?

-Hày, Sao không? Để ngộ ngâm cho nị nghe nha!

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Triều Châu len lén xỏ xâu đem dìa.

Thấy có người khen thơ mình, lại là người Hoa, tôi khoái chí.
-Thế… bài thơ nào nị thích nhất? Nó nói về cái gì? Tình cha, tình mẹ hay tình yêu?
-Chời ơi! Nị hỏi nhiều quá, ngộ đâu có biết!

Tôi ngó lom lom A Tỷ, mồm há hốc.

-Vậy sao nị khen hay. Hay ở chỗ nào?

-Không giấu gì nị. Con vợ ngộ mất ngủ mấy năm trời. Uống đủ thứ thuốc, đêm nào cũng vẫn nằm thao thức, thở ra thở vô. Có cái CD của nị, mới mở ra, chưa đầy nửa tiếng, con vợ nó lăn ra ngủ khò khò hồi nào không hay. Lâu dồi, nó muốn gặp nị, để…trả ơn.

Tôi tiu nghỉu.

-Nị nói giỡn hay nói thiệt, cha nội?

A Tỷ ôm gọn tôi vào lòng.

-Hày, có bao giờ ngộ nói láo nị đâu. Bi giờ mình qua bên kia làm một tô mì đi!

Tôi kéo tay A Tỷ ra, lắc đầu.

-Nị mới làm một bụng rồi. Để khi khác.

Cà kê dê ngỗng một lát, A Tỷ đành chấp nhận lời từ chối của tôi. Trước khi từ giã, lão hứa sẽ mời tôi dự lễ vu quy của con gái lão trong vòng vài tháng nữa. Con nhỏ và thằng nhỏ thương nhau từ những năm đầu đại học. Bây giờ, vừa tốt nghiệp, hai đứa nhỏ quyết định lấy nhau. Tôi gục gặc đầu, ậm ừ trong họng, rồi quay lưng đi. Nhưng bên tai còn nghe văng vẳng giọng A Tỷ vang vang trong gió. Hày, ông sui của ngộ cũng giống như nị, qua diện HO, dân Sài Gòn.

Vài tháng nữa, trông đợi mãi, chẳng thấy bóng dáng tấm thiệp vu quy nào của A Tỷ gửi đến. Thời gian sau, tôi lại gặp lão ở góc chợ Thuận Phát. Thấy A Tỷ, tôi cất giọng phàn nàn ngay.

-Cả tháng nay tôi trông dài cả cổ ra mà có thấy thiệp cưới của ngộ gửi đâu? Bộ nị quên thằng bạn nghèo này sao?
A Tỷ cúi đầu, mếu máo.

-Cha thằng nhỏ nhất định không chịu làm sui với người Tàu. Thằng chả nói người Tàu chiếm đất, chiếm đảo của người Việt. Bi giờ muốn chiếm luôn con trai của y nữa sao?
Tôi bùi ngùi vỗ vai A Tỷ.
-Chuyện qua rồi. Đừng buồn nữa. Nị về ráng an ủi và khuyên lơn con nhỏ. Mất thằng nhỏ này, còn khối thằng nhỏ khác, lo gì!
Mặc tôi chia xẻ, cảm thông, A Tỷ vẫn mếu máo.
-Ngộ là người Việt gốc Hoa. Sinh đẻ ở Việt Nam thì quê hương ngộ chính là Việt Nam. Ngộ cũng đi lính Cộng Hòa, cũng chống Tàu. Vậy mà người ta vẫn không ưa ngộ.

Phạm Hồng Ân

 tác giả cựu sĩ quan hải quân VNCH, một nhà thơ quân đội. Sau tháng Tư 1975, ông là người tù chính trị, định cư tại Mỹ theo diện H.O., hiện là cư dân San Diego

đoản khúc: dọc đường gió bụi

 

1.

ngọt lời một chút. nghe em
đừng như lửa sấm. cháy mềm đời nhau
hôm nay ảo mộng ngày sau
choàng ôm gió đắng. trắng màu thời gian

2.

điên mê. ta ngã dịu dàng
gục đầu. thơ khóc. nhòa trang sử tình
phù trầm trổ nụ tâm kinh
môi khô mấp máy. ngôn tình khói sương

3.

mang thai với cõi vô thường
rướn mình. kết tụ mùi hương lên trời
thưa em: giả tưởng rối bời!
hình ta cổ quái. ơn đời và em

4.

ngực tràn máu lạnh vào đêm
xác bên vực tối. nhịp tim loạn cuồng
mặt trời. nhìn sững tay buông
cũng đành. khụy gối. nghe chuông gọi hồn!

khaly chàm

Tháng Ba, Coi Bóng Hát Tế Vía Bà

 

1.

Hằng năm, cứ trong vòng tháng Ba âm lịch như lúc này là ở khắp nội ngoại thành, các ngôi miếu thờ Ngũ Hành rộ lên cúng vía Bà – tên dân gian gọi chung cho Năm Bà tức Ngũ Hành Nương Nương. Hôm 19 ta, tôi lân la đến chùa Vạn Thọ bên bờ kênh Nhiêu Lộc, do lễ vía Bà tại ngôi miếu trong khuôn viên chùa sẽ diễn ra suốt ngày đêm.

Buổi sáng đã có một nhóm tế nam, với y trang đĩnh đạc áo thụng xanh, nón cánh chuồn, chuyên đi học trò lễ. Nhưng được bà con, cô bác mong đợi và kéo đến xem đông hơn là mấy em bóng, nhóm tế này chỉ vào đám buổi xế trưa.

Được mời tế Bà đã nhiều năm liên tục tại ngôi miếu này, chị Năm Tốt, trưởng nhóm, cho biết: “Hàng năm, cứ cỡ 18 và 19 ta tháng này, tôi đi kêu mấy chị em quá khó là khó vì ai nấy tứ tán hết, cũng tại cùng lúc quá trời miếu Ngũ Hành ở Sài Gòn này đều cúng vía Bà. Như xong ở đây, đến năm giờ chiều là chị em tôi phải lập tức chạy xuống miếu Bà ở Thủ Đức”.

Xưa nay, hễ nói tới dân bóng rỗi  – hay gọn hơn, dân bóng – người ta liên tưởng ngay đến các cậu thanh niên pê-đê, tức là nam giới nhưng vẫn được coi là nữ giới, vẫn là “mấy chị em” như chị Năm Tốt vừa đề cập.

Tuy nhiên, qua thâm niên gần 30 năm theo nghề, chị Năm cho biết là dù nghề tế gắn liền với hình ảnh những cậu trai, cả đàn ông trung niên nữa, ưỡn a ưỡn ẹo mặc đồ phụ nữ. Nhưng đúng ra, một nhóm tế thông thường bao giờ cũng gồm luôn cả các cô gái, các chị trung niên, các lớn tuổi và các chú, các ông nữa. Điển hình như nhóm của chị đang lãnh đám ở đây, quả là rất đề huề về các mặt giới tính, tuổi tác, thế hệ…

2.

Đứng cạnh bàn thờ Bà là chị Bảy Thi, tuổi khoảng trên dưới 50, đang vừa gõ trống lịnh vừa hát, tụng Chầu mời, tức phần mở đầu một buổi tế đúng bài bản. Ngồi gần đó là ông Ba Lựa, tuổi phải trên 60, vốn là nhạc sĩ cổ nhạc, đã từng theo gánh hát và chơi trên đài phát thanh. Sát bên là chú Hai Xiêm trung niên, đang thủ cây ghi-ta điện 6 dây phím lõm để hòa theo tiếng đàn cò của ông Ba.

Tập kế của Chầu mời đáng lý là phần việc của bà Phước, tuổi cũng ngang ông Ba Lựa, nhưng bữa nay do bận việc nhà, bà không đến được. Tên tuổi của Phước thì nức tiếng trong nghề tế bóng hiện nay ở Sài Gòn. Các nhóm tế khác như nhóm Bạch Hồng ở quận 8, Bảy Tước ở Tân Qui, Ngọc Quyên ở quận 6, Minh Đức ở Hốc Môn .v.v, hễ gặp thì thảy đều cung kính, cúi đầu trước vị sư mẫu dạy nghề  tế, múa, hát này.

Vậy là chị Năm Tốt bước ra, khoác vào chiếc áo tế mà chị Bảy vừa trao lại, tiếp tục hát Chầu mời thay cho Phước.  Áo tế –  hay áo lễ, được may bằng gấm đỏ, kiểu không có tay áo, giống áo đạo bào của thầy cúng, thầy pháp nhưng rực rỡ hơn vì nhiều chỗ đính hạt cườm, thêu kim nhũ rất kiểu cọ, rối rắm. Chị Bảy Thi nói đây là một chiếc áo cũ, đã bao lần xuất hiện trên sân khấu hát bội mà một bạn hát (diễn viên) nhường lại, có sửa sang chút đỉnh, nên chỉ tốn có 400,000 đồng, chứ may mới phải tốn cả triệu.

Chợt bà con bá tánh xì xào. Từ chỗ đứng, chỗ ngồi xa thì nhiều người rủ nhau đến gần bàn thờ Bà hơn. Diễn viên được khán giả mong đợi nhất nảy giờ đã khoác chiếc áo tế lên thân hình thon thả của mình. Vẫn là hát Chầu mời tiếp nhưng bà con không hề thấy chán, vì đó là em Ngọc Hậu xinh đẹp ra đứng trước micrô.

Lúc ngồi tại bàn uống trà, đối diện với Hậu, tôi đã không khỏi thầm khen đôi mắt, đôi mày được make-up rất kỹ càng cùng làn da khá mịn màng trên khuôn mặt của chàng trai 33 tuổi, đang mặc áo bà ba mỏng tanh, lộ rõ áo nịt ngực này. Không biết tên khai sinh của anh bóng này là gì nhưng về cái nghệ danh “Ngọc Hậu” nghe đầy nữ tính, rất gợi cảm kia thì anh chàng đã chọn cho mình suốt gần 20 năm theo nghề. Tôi có cảm giác như, dù có là hậu duệ thiệt thọ của bà Eva hay không đi nữa, em Hậu, với mặt-mũi-mình-mẫy như thế, trông vẫn trẻ, khá trẻ so với cái tuổi Mẹo tức 34 tuổi ta của em. Tôi thoáng nghe được từ bàn trà bên cạnh, một ông nào đó thốt ra luôn một câu nghe… kỳ cục, rằng: “Cái thằng…, coi bộ còn muốn đẹp hơn con gái!”.

Trước cái nhìn không việc gì phải kềm chế của phía đàn ông xung quanh, Hậu có vẻ thích thú, hả dạ –  kiểu phụ nữ tự biết là mình đẹp. Hậu còn có luôn cái kiểu rất con gái là cúi mặt lõn lẽn, chạy trốn ánh mắt chăm chăm của người đối diện, khi kiếm chuyện hỏi tôi:

– Chú… nhà báo hả? Chú có chụp hình bàn thờ tổ của tụi này không vậy?

Đang ngắm người đẹp bóng, thật tình là tôi có giật mình, bèn giả lã hỏi lại:

– À, à… Nghề tế cũng có tổ riêng sao Hậu? Bàn nào đâu?

Tại một chiếc bàn nhỏ kê gần các nhạc công, được xem là biểu trưng “Tổ” của nghề tế là một bức tranh lụa vẽ hai tiên nữ đứng cạnh một cái cây có 12 đóa hoa vàng nở rộ mà Hậu gọi là cây “bông Càn Thọ”. Khi không có được bức tranh hiếm quí, chỉ truyền thừa trong nghề tế này thì các nhóm tế có thể thay thế bằng bức tranh Bát Tiên, theo kiểu hình vẽ “Bát tiên quá hải” trang trí trên những cái chén, cái tô xưa của Trung quốc, gồm toàn những nhân vật huyền thoại như Hà Nguyệt Cô, Lã Đồng Tân, Tế Điên, Lý Thiết Quày.v.v…

 

3.

Kết thúc phần tụng Chầu mời và tạm nghỉ vài phút, Hậu ra diễn  nghi thức kế tiếp là múa tế “dưng bông”. Em vừa thay y, tức xỏ vô người một chiếc váy lụa trắng là tiếng đàn, tiếng trống, tiếng nhịp gõ đã háo hức vang lên.

Cứ mỗi lần Hậu lượn người tới bàn Tổ là một trong một bộ năm cái chén đầy ắp bông cúc vàng để trên bàn lần lượt biến thành một thứ đạo cụ ngộ nghĩnh. Hậu khéo léo đặt từng cái chén lên đầu, buông tay, ngồi thụp xuống, đứng lên, xoay tròn nhiều vòng, chấp tay lạy…, mỗi cử chỉ đều nhuần nhuyễn, tinh tế y như của một nữ vũ công dạn dày kinh nghiệm. Những chuổi động tác nhanh, gọn, dứt khoát như thế cứ như từ thân hình mảnh mai, thướt tha của vũ công mà hòa quyện một cách mông lung, hư ảo vào những cụm khói nhang, khói trầm đang tỏa lan nghi ngút từ các bàn thờ lớn, nhỏ trong miếu. Vị chánh tế tóc bạc trắng, mặc áo thụng xanh đang đứng cạnh bàn thờ Bà, gần như giật mình, thảng thốt khi vũ công thoáng một cái đã tiến đến sát bên ông, trao chén hoa cúc để ông đặt lên bàn thờ…

Tiếng đàn, trống đã dịu đi khi các chị em nhóm tế luân phiên phục vụ cho nghi thức Gởi của bà con cô bác. Gởi có nghĩa là khách dự lễ đưa một ít tiền cùng mảnh giấy ghi tên, họ của mình cho người tế, để người này ê a tụng những lời cầu xin Bà phò hộ cho người “gởi” được gia đạo bình an, buôn may bán đắt…

Buổi tế đã náo nhiệt trở lại với phần diễn cuối cùng: múa dân gian. Tùy theo người tế cầm vật gì trên tay mà phần múa này sẽ phân ra là múa mâm vàng/mâm bạc, múa bông huệ, múa lục bình… Đậm nét nghệ thuật múa dân gian nhất, giống trên sân khấu giải trí nhất, là múa mâm vàng, hôm nay cũng do Ngọc Hậu biểu diễn.

Trước tiên, từ bàn thờ Tổ, Hậu trình ra một tòa lâu đài đồ mã cao khoảng 5 – 6 tấc, được phất bằng giấy nhũ vàng óng ánh và được dán dính vào giữa một cái mâm nhôm cỡ trung trung. Vài người bước vào, dùng cọng bún dán sơ sài vào mâm thêm mấy tờ giấy bạc 20 ngàn, 50 ngàn. Muốn hưởng những tờ tiền thưởng đó thì trong tất cả các động tác của cánh tay cầm, đỡ mâm, người múa phải làm sao cho những tờ bạc không rơi khỏi mâm. Hậu có làm rơi hết một tờ 20 ngàn trong một thoáng úp ngược mâm. Bù lại, mọi người phải vỗ tay khen ngơi khi Hậu tung xoáy mâm lên khoảng không với khi Hậu ngửa mặt, dựng vành mâm vào nhân trung, rồi chu môi, giang rộng hai  tay, vừa múa vừa giữ thăng bằng cho mâm vàng trong khoảng 2 – 3 phút.

Rồi chiếc áo tế lại được Hậu cỡi ra, giao lại cho một “nghệ sĩ” bóng khác. Đó là em Đào, có vẻ lớn tuổi hơn Hậu, giọng tế khàn khàn và nước da ngăm đen thì khó có thể nói là xinh đẹp như Hậu. Nhưng Đào múa giỏi hơn. Sau màn múa không chút khiếm khuyết với một cành hoa huệ dựng đứng trên vai, Đào ngửa mặt, rồi từ đúng chỗ nhân trung dưới lỗ mũi, em dựng thẳng đứng một đoạn ống nước bằng nhựa. Kế đó, Đào từ từ thụp người xuống và quì thẳng lưng, tay giữ cho ống nước đứng yên, một bạn diễn bước vào đặt trên đầu kia của cái ống hai con dao cho nằm ngang, cái dưới cái trên theo hình chữ thập. Khi mọi thứ đã thăng bằng, Đào nói nhỏ “Xong!”, cả hai người cùng buông tay và bạn diễn bước ra, Đào từ từ đứng lên…  Nhà tạp kỹ đã khiến mọi người muốn nín thở khi vừa giữ thăng bằng cho mấy món hung khí, vừa uốn éo thân mình theo tiếng đàn, trống. Xong màn múa dao, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng, thưởng thêm tiền để Đào diễn tiếp qua màn múa mâm bạc để trên trán với kiểu quì xoạc hai chân, ưỡn lưng xuống nái sát mặt đất…

 

4.

Theo chị Năm Tốt, tháng Ba là tháng làm ăn khấm khá nhất của nghề tế bóng.  Các nhóm tế liên tục đi diễn từ các miếu Ngũ Hành ở quận Nhất, Bình Thạnh, Gò Vấp, đình thần ở Phú Nhuận, miếu Bà ở Tân Phú, cho đến Dinh Cô ở Long Hải.v.v…, vái khi đến diễn cả ở những ngôi miếu nhỏ xíu trong đất vười tư gia nào đó. Về thù lao, không tính đến phần tiền bà con gởi, nhờ tụng cầu gia đạo bình an, bèo nhất cho một buổi vào đám cũng vào cỡ 2 – 3 triệu. Tháng Tư thì “lai rai” vì trong tháng này chỉ có vía Bà Chúa Xứ và vía Bà Thiên Hậu. Còn các tháng khác trong năm, các nhóm chỉ chờ được kêu đi cúng Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, bà Mẹ Sanh ở vùng ngoại ô, tại nhà các gia đình theo tập tục xưa của người mình, với thù lao một buổi chỉ 800 ngàn hay 1 triệu, còn phải bao luôn cả mâm vàng, mâm bạc y như đi tế ở chùa, miếu.

Chị Năm chắt lưỡi nói nghề tế là nghề tay-trái nên khó có ai sống nổi, dù là sống tạm qua ngày tháng, nếu chỉ làm có mỗi nghề này.

Bấy lâu nay, khi theo nghề tế chuyên nghiệp, với ít nhiều kiêu hãnh, những bạn bóng như em Hậu, em Đào đã hiển nhiên tự phân biệt mình với các em pêđê chỉ có thể đi hát đám, có nghĩa là ca, diễn tân nhạc, cổ nhạc, trích đoạn tuồng cải lương một cách nghiệp dư ở những đám ma, đám cúng thất hay giỗ chạp. Cũng mang tiếng là bán nam bán nữ như dân pê-đê và vài khi túng kẹt quá thì cũng phải chấp nhận đi hát đám lai rai cùng các nhóm pê-đê để “kiếm chút cháo”, nhưng dân bóng theo nghề tế phải trải qua cả một quá trình bái sư, thờ tổ, học nghề, khổ công tập dợt với nhóm… Muốn được theo nhóm, bạn bóng nào cũng phải sử dụng thuần thục, khi thì nhạc khí là cái trống lịnh, khi thì đạo cụ độc đáo là cành hoa huệ, tách trà, bình bông, cái mâm vàng, con dao yếm… Rồi các chị em cũng phải thật điêu luyện, diễn cảm khi hát Chầu mời, tụng lời Gởi của bá tánh, và đặc biệt không được phép có sai sót về các tuyệt kỹ múa tế như múa “dưng bông” hay múa dân gian là múa mâm vàng, mâm bạc.

Nói gọn lại, có tài nghề như thế thì các bạn bóng rất xứng đáng được gọi là những nghệ sĩ ca múa nhạc và tạp kỹ chuyên nghiệp. Đặc biệt khi xuất hiện trước mắt công chúng, các bạn bóng không chỉ là những nghệ sĩ ca, múa dân tộc phục vụ cho nhu cầu giải trí của bà con mà còn là những thầy tế, thầy cúng chuyên thực hiện một số nghi thức tế, lễ rất đặc trưng, phục vụ cho mảng tín ngưỡng dân gian của người Việt miền Nam.

Có điều là, rất chua chát, hẩm hiu đối với các nghệ sĩ bóng, đó là xưa nay các chị em chỉ được trình diễn toàn ở những sàn diễn thường rất chật hẹp, gò bó, như một khoảng sân, mặt thềm nào đó ở các ngôi miếu, đình, chùa, nhà tư gia…, có khi rất tệ bạc chỉ là chiếc chiếu cũ trải ra trước quan tài…

PHẠM NGA

(Tháng 4-2017)

 

 

 

 

 

ROBOT


Tôi có hai con mắt mà không biết khóc
Tôi có hai bàn tay nhưng không biết cầm
Tôi có hai cái chân nhưng không biết đứng
Tôi có cái đầu không có óc-Rỗng

Tôi là người máy từ thế kỷ hai mươi
Tôi nghe được sự cọt kẹt cơ khí trong người
Tôi không thể bắt đầu vì phần mềm chưa được cài đặt
Ốc vít tự thân nó không thể làm tươi.

Tôi được truyền bit thông tin đầu tiên bằng ký tự E
Là bụi tre, tò he, chiếc xe hay con ve
Tiếng gọi đầu tiên của tôi không phải là mẹ
Mà là một con đường chỉ dành riêng cho một chuyến xe.

Từ đó tôi luôn tin rằng mình là có thật
Một con người chuyên sống bằng nghề hành khất
Ăn mày dĩ vãng của chính mình
Tôi luôn chạy tôi bằng hệ điều hành phiên bản thứ nhất

Cho tới khi hệ điều hành tự động cập nhật
Nhờ vào cuộc cách mạng công nghệ thông tin
Dẫu khó khăn vì phần cứng không dễ dàng tương thích
Tôi đã dần nhận ra chính mình

Tôi có hai con mắt biết nhìn
Tôi có hai bàn tay biết vuốt ve
Tôi có đôi chân biết đứng lên ngồi xuống
Tôi có bộ óc biết tôi là ai.

Nguyễn Thái Bình