CHIA TAY MÙA THU

Chiều
rưng rức hạt từ ly
nghe từ thiên cổ
bốn bề
mưa giăng
người đi
lỡ cuộc trăm năm
cõi xưa
rớt lại chút trăng
nhạt nhòa
Chiều gần mơ bóng thu xa
lòng ơi đã xế
bóng tà huy xưa
Vàng bay
vàng bay lưa thưa
ngậm ngùi lá
đợi bên bờ vô vi
ngực thầm thảng thốt
đôi khi
mùa thu
nhẹ lắm
người đi khẽ khàng…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

TRÒ CHƠI CỦA NGHIỆP

Nếu đi là chỉ khởi đầu
Con đường của nghiệp còn sâu dấu buồn
Càng xa càng thấy ngọn nguồn
Còn xa … xa lắm hồ truông còn dài
Con đường của nghiệp miệt mài
Trò chơi của nghiệp chưa phai kiếp người
Còn vay tiếng khóc nụ cười
Còn vay … vay trả đến mười … hạnh đau
Bây giờ đi chậm hay mau
Trời còn mưa sớm hay nhàu nắng trưa
Bây giờ chạng vạng chiều chưa
Trò chơi của nghiệp chỉ vừa … thoáng qua.

NGUYỄN TẤN CỨ

Người Đàn Bà Và Chiếc Dương Cầm

Ngoài cửa sổ gió trở mình, lại một buổi chiều xám xịt. Nàng tựa vào tường bâng quơ nhìn ra mảng trời xanh đang chuyển dần sang màu tối.

Từ ban công căn hộ tầng mười tám, nàng nhìn thấy thành phố dưới kia đang chìm dần vào mây. Gió len qua ô kính vỡ lâu ngày chưa thay, phát ra tiếng rú rít khiến chao đèn trong phòng nàng xoay tròn tròn, chiếc chuông gió rung leng keng. Tóc nàng xõa xượi, che kín gương mặt kiều diễm. Ai gặp nàng một lần cũng bị hút bởi gương mặt kín bưng và đôi mắt luôn nhìn xuống lơ đãng. Người trong khu chung cư này chưa ai nhìn rõ mặt nàng một lần dù nàng dọn đến ở đây đã ba năm.

Gió lặng dần, những đám mây đen sẫm sà xuống, sũng nước. Có lẽ sắp mưa. Nàng quay vào, đến bên chiếc dương cầm cũ kỹ,  kỷ vật quý giá- bao nhiêu lần chuyển nhà nàng vẫn mang nó theo

Nàng ngồi vào đàn dạo một khúc Chopin, bản Funeral March chầm chậm như ru dưới bàn tay gầy nổi những đường gân xanh mờ nhạt. Ngoài kia thành phố vừa lên đèn, căn phòng nàng chìm dần vào bóng tối. Giai điệu bản Funeral March trôi êm êm bỗng khựng lại, thanh âm bật ra như tiếng nấc. Nàng ngừng tay. Lạ thật! Hôm qua dạo đàn, thanh âm vẫn như mọi ngày, trước khi đi ngủ nàng cũng đã đậy nắp đàn cẩn thận. Nàng đi đi lại lại trong phòng ngó nghiêng rồi cúi gập người loay hoay lật thùng đàn nhìn vào. Lẽ nào lũ chít chít nghịch ngợm là nguyên nhân khiến thanh âm chiếc dương cầm của nàng trở nên lạc giọng? Bên trong, khung sắt và những sợi dây thép san sát nhau nhìn nàng lạnh lùng, những chiếc lò xo cũng không có dấu hiệu hỏng hóc. Nàng thừ người nhìn ra màn mưa dày đặc.

Nàng nằm đếm tiếng mưa lộp bộp bắn vào cửa kính, lại một đêm ngủ muộn. Nàng thức giấc, mặt trời đã lên cao, trên ban công chú chim nhà ai đi lạc đang hấp háy đôi mắt ngó nghiêng. Nàng chạy đến bên cửa sổ, thoáng thấy bóng nàng, chú chim vụt bay đi, gửi lại nàng tiếng hót véo von. Nàng ngây người nhìn đôi cánh bé xíu xa dần cho đến khi tan hẳn vào bầu trời. Nàng ra ban công, dưới kia dòng người vẫn nối nhau trôi qua chầm chậm. Lại một ngày.

Vào nhà, nàng đến bên chiếc dương cầm, tần ngần nhìn nó hồi lâu rồi rụt rè chạm vào phím. Âm thanh ghê rợn lại rít lên, lần này đanh hơn đêm qua. Nàng hoảng sợ lùi lại. Trên thùng đàn, thằng bé búp bê da màu nâu sẫm đang nháy mắt nhìn nàng tinh nghịch, cạnh đó năm chị em nhà Matryoshka đứng xếp hàng ngoan ngoãn chờ đợi. “Nào! Đàn cho chúng em nghe đi!”. Nàng lảo đảo ra khỏi phòng, sập cửa lại.

Định thần, việc đầu tiên nàng nghĩ là một người thợ chỉnh đàn. Phải rồi! Nàng có lưu số của họ. Nàng run rẩy với tay lấy điện thoại. Đây rồi! 0906… Nàng ấn phím gọi. Sau tiếng tít dài khô khốc, đầu bên kia một giọng nam trầm: “Alô! Tôi nghe!”. Tim nàng bỗng đập thình thịch. Nàng kể sự tình chiếc đàn của nàng, những đoạn kể chắp vá, lan man. Nàng kể rằng chiếc đàn bị hỏng từ đêm qua và nàng không hiểu sao nó lại như thế. Đến đoạn âm thanh trên phím nấc lên rồi nghẹn lại như ai đang khóc, giọng nàng trở nên thảng thốt. Đầu bên kia bỗng bật ra tiếng cười khùng khục: “Được rồi, dừng lại! Cho tôi địa chỉ”. Nàng “vâng” rồi đọc như một cái máy. Buông điện thoại, nàng nằm vật xuống sofa.

Hơn một tiếng trôi qua, bên ngoài có tiếng gõ thật khẽ. Nàng lao ra vặn nắm đấm cửa. Trước mặt nàng, một người đàn ông chừng năm mươi với bộ râu quai nón và đôi mắt nhỏ sau cặp kính, mái tóc bù xù buộc lại thành một túm phía sau gáy, chiếc túi dết trên lưng ông lỉnh kỉnh các thứ đồ nghề. Không đợi nàng nói gì thêm, ông chậm rãi đến bên chiếc dương cầm nhấc nắp hộp, khẽ chạm vào dãy phím. Nàng ngồi yên chăm chú nhìn ông làm việc. Dưới đôi tay ông âm thanh bật ra thánh thót như tiếng suối róc rách. Người đàn ông dừng tay, đôi mày khẽ nhíu lại nhìn nàng. Nàng vẫn ngồi bất động, ngơ ngác. Người đàn ông quay lại cúi nhìn dãy phím một lần nữa rồi chậm rãi đến bên chiếc túi soạn đồ nghề. Ông mở thùng đàn nhẹ nhàng nhấc ra ngoài, loay hoay một lúc ông nhón tay vào lấy ra một con búp bê bằng len, một con thỏ, một con voi, rồi một con cừu… Ông bày la liệt những con thú nhồi bông ra sàn nhà. Lần này ông quay lại nhìn nàng chăm chú, cái nhìn dừng lâu hơn ở đôi mắt nàng. Cúi xuống giấu cái cười vừa thoáng qua, ông nhẹ nhàng lắp các thứ lại vị trí cũ. Như thể tiện tay, ông nâng từng con thú nhồi bông lên ngắm nghía, phủi bụi bám rồi cẩn thận đặt chúng lên thùng đàn, cạnh thằng búp bê nghịch ngợm.

– Tôi về đây! Chào cô! – Giọng lơ lớ, ông nói rồi đứng lên ra cửa.

– Ồ! Ông không phải người Việt? – Nàng khẽ thốt lên – Khoan! Tôi còn chưa gửi tiền công…

– Không sao! Đàn của cô có bị gì đâu? – Người đàn ông nói rồi đi nhanh ra cửa, cũng còn kịp quay lại ném nhanh cho nàng một cái nháy mắt tạm biệt.

Cánh cửa khép lại, tiếng chân người đàn ông xa dần về phía thang máy.

Nàng ngơ ngác dõi theo tiếng giày ông xa dần. Tóc nàng vẫn xõa xượi, cổ áo trễ tràng trên đôi vai gầy, trông nàng mong manh và trơ trọi đến đáng thương. Ngoài cửa sổ, tiếng lao xao cũng ngừng bặt, những thanh âm đáng ghét mọi ngày sao hôm nay nàng lại cần nó đến thế! Nàng rón rén đến bên chiếc dương cầm run rẩy mở nắp. Những phím đàn nằm san sát như những quân cờ domino nhìn nàng giễu cợt. Nàng khẽ chạm vào. Âm thanh bật ra, lần này nghe như tiếng ú ớ của người bị bóp cổ. Nàng hét lên lùi vào tường thở dốc. Hoàn hồn, việc đầu tiên nàng lao đến chiếc điện thoại run rẩy bấm số, đầu bên kia vẫn giọng người đàn ông.

– Tôi đây!

– Ông giúp tôi! – Nàng van nài – Giúp tôi một lần nữa đi! Nó lại…

Đầu bên kia không có tiếng trả lời. Nàng thoáng nghe tiếng thở ra nhè nhẹ, sau đó là những tiếng tít dài.

Nàng ngồi bất động, mở to mắt nhìn ra cánh cửa đang khép hờ. Không hy vọng người chỉnh đàn sẽ trở lại, nhưng nàng vẫn đợi. Rất lâu, tiếng cốc cốc vang lên, lần này thật chậm. Người đàn ông bước vào và không nhìn nàng, ông đến thẳng chỗ chiếc dương cầm và ngồi xuống. Không ngẩng lên, nhưng ông biết nàng đang theo dõi từng cử động của ông. Ông lật nắp đàn, đôi tay lướt nhẹ lên phím như ru, thanh âm thánh thót ngân lên như nó vẫn luôn như thế. Người đàn ông dạo một giai điệu quen thuộc. Nàng đang lơ mơ bỗng bật dậy trân trối nhìn ông. Bất chợt ông khe khẽ hát Kareha chiru yuugure wa/ Kuruhi no samusa wo monogatari… Nàng lặng người. Ngoài cửa sổ gió lại phần phật thổi về, nàng nhìn thấy người đàn ông năm xưa của nàng đang ngồi giữa đêm đông, xung quanh tuyết phủ kín, dáng vẻ và gương mặt ông cô độc đến ám ảnh. Nàng run rẩy đến sau lưng ông… Bản Koibito Yo một thuở của nàng, những năm tháng trên xứ sở Phù Tang của nàng… Người đàn ông vẫn say sưa không hay biết nàng đang đứng sau lưng. Tiếng đàn vừa dứt, ông gục xuống, những sợi tóc dài che kín đôi bàn tay cũng đang run lẩy bẩy.

– Tôi… tôi – Nàng khẽ kêu lên rồi im bặt.

Người đàn ông từ từ ngẩng lên.

– Tôi không hiểu phép ma thuật nào đã đưa tôi đến đây, cho tôi lại được nhìn thấy cô ấy.

– Cô ấy là ai?

– Là… mẹ của con gái tôi, cô ấy… đã chết.

Nàng khẽ rùng mình, đôi mắt bỗng trở nên u tối như những vì sao đi lạc ngoài kia. Trước mặt nàng, người đàn ông mà chỉ mới đây thôi đến “chữa bệnh” cho chiếc dương cầm của nàng, giờ đã trở nên một hồ nước cô độc bị bủa vây bởi bóng tối. Và nàng, như một chiếc thuyền mắc cạn trên bãi cát mịt mờ. Người đàn ông quay lại nhìn nàng, trong màn chiều tối sẫm, mái tóc nàng rối tung như một đám rong hỗn độn.

– Người đàn ông của tôi cũng thường chơi bản nhạc đó, và… những con thú nhồi bông kia… – Nàng thẫn thờ nhìn ra cửa sổ lảm nhảm những câu không rõ nghĩa.

Người đàn ông đứng lên chầm chậm ra cửa.

– Tôi đã làm phiền ông… Tha lỗi cho tôi! – Nàng ngơ ngác nhìn cánh cửa đang từ từ khép lại.

Trong màn chiều, gương mặt nàng trắng bệch, thất thần như đứa trẻ đi lạc trong rừng. Cánh cửa vừa khép, người đàn ông lao vội về phía thang máy đang sập lại. Chỉ còn một mình, ông thoáng thấy chiếc gương thang máy phản chiếu một gương mặt rúm ró đến thảm hại. Ông đưa tay nắm bộ tóc giả giật xuống, bộ râu quai nón cũng rơi ra. Ông ôm mặt khóc nấc như đứa trẻ. Xuống hết thang máy, ông đi như chạy ra đến đường. Thành phố đột ngột mất điện, mọi thứ đang chìm dần trong bóng chiều chập choạng…

Loay hoay tìm cây nến đốt lên. Nàng lững thững ra ban công, nhìn xuống đường. Giữa dòng người đang ngược xuôi dưới kia, bóng một người đàn ông vội vã đi. Nàng mở to mắt kinh ngạc, dáng đi một người nàng chẳng thể lẫn vào đâu. Tại sao đến giờ nàng mới chợt nhận ra? Nàng tựa vào cửa, lặng đi.

Đêm sâu thẳm. Ngọn nến trên thùng đàn lụi dần, ánh sáng leo lét hắt bóng nàng lên tường, ma mị. Nàng sờ soạng tìm cây nến khác đốt lên. Như kẻ mộng du, nàng ngồi vào đàn lướt nhẹ đôi tay lên phím. Ngoài trời đêm gió lùa vào hất tung tấm vải phủ đàn, chiếc chuông gió lại xoay tít, leng keng. Thằng bé búp bê và năm chị em nhà Matryoshka rơi xuống sàn nhà, chỏng chơ. Lọ hoa bằng thủy tinh đã cạn nước cũng rơi xuống vỡ tan. Xác hoa hồng héo khô nát vụn dưới chân nàng. Nàng run rẩy nhìn xuống sàn nhà. Thằng bé búp bê lúc này gương mặt không còn nghịch ngợm, lém lỉnh, nó giương đôi mắt trừng trừng nhìn nàng, như căm giận. Nàng đưa tay ôm mặt. Nàng muốn trốn chạy nó. Ngoài kia đêm vẫn đen kịt, xung quanh chẳng còn một tiếng động nào để nàng được biết nàng là có thực. Tiếng chuông gió cũng thôi leng keng, mọi thứ yên ắng đến lạ thường. Bỗng một thanh âm cao vút bật lên, là ngón tay nàng lỡ chạm vào phím đàn. Nàng mở to mắt nhìn những phím đàn như một vị cứu tinh lúc này.

Kéo lại cái cổ áo trễ tràng, nàng vội vàng ngồi vào đàn, đôi tay đang tê cứng bỗng mềm mại lướt trên phím. Âm thanh xô dạt về, lại thánh thót, trong trẻo như xưa, như ngày nàng lên bảy tuổi, cha mang chiếc đàn này về nhà.

Dạo đoạn đầu bản Sad romance. Trước mắt nàng lại hiện lên một đêm mưa tơi bời. Và bóng người đàn ông dần xa khuất… Đôi tay nàng vẫn lướt đều trên phím. Càng về đêm, bản Sad romance càng da diết. Nàng ngập ngụa trong nỗi tê tái. Ngọn nến vẫn cháy rực và những ngón tay nàng bắt đầu tê dại. Nhưng nàng không thể dừng lại. Lúc này đây, nàng đang cần nó, đang cần một thứ tiếng động nào đó được phát ra, để nàng được biết nàng đang tồn tại và có thực trên cõi đời này. Nàng chẳng thể dừng lại, chẳng thể nào dừng lại được nữa… Đôi tay nàng vẫn trôi… Giai điệu cuối của Sad romance vẫn xô dạt về, du dương, không dứt.

Đồng hồ trên tường gõ bing boong. Một giờ sáng. Nàng gục xuống. Bàn tay trái đáng thương vẫn cố chạm lấy những phím đàn để thanh âm được cất lên, thứ mà nàng khao khát lúc này. Bàn tay phải tê dại, nàng vẫn cố níu lấy… rồi từ từ buông thõng.

Tiếng chuông điện thoại của nàng bỗng đổ dồn, rung bần bật từng hồi. Lặng ngắt. Một lúc, tiếng chuông lại rung lên lần nữa. Vẫn lặng ngắt. Bên kia đầu dây người chỉnh đàn vẫn kiên trì, ông run rẩy nhấn phím, từng số đến thuộc làu. Và chờ đợi. Tiếng tít… dài vẫn vang lên, khô khốc.

Ngoài kia gió lại trở mình, báo hiệu một cơn giông lại sắp sửa kéo về trên thành phố…

VŨ NGỌC GIAO

BẠCH VÂN THIÊN TẢI

ngàn năm xưa, ngàn năm sau
chim hoàng hạc với mây màu thời gian…
không vui khi nhớ hạc vàng,
càng không vui thấy trên ngàn mây bay…

cầm bằng kẻ đó người đây,
con sông khi nước vơi, đầy, vậy chăng?
bạn cho một chữ, tôi cầm
tôi hôn chữ đó biết rằng vì…xa!

cảm ơn trăng những mái nhà
cảm ơn trăng lúc nguyệt tà tạ sương…

Trần Vấn Lệ

Ông Già Homeless và 3 Điều Ước.

Một câu chuyện về người Homeless đáng yêu nhất nước Mỹ. Bạn có thể không thích tác giả Lưu Thy, nhưng cam đoan bạn sẽ yêu TẤT CẢ những nhân vật trong tác phẩm của Lưu Thy từ Tiểu Yêu đến Xí Mụi! ( Trích lời giới thiệu tác phẩm GIANG HỒ ĐỂU CÁNG)

Ngày xửa ngày xưa… tại một thành phố lớn ở nước Mỹ, có một ông già homeless vô gia cư, vô nghề nghiệp, vô gia đình, vô sản, nhưng không vô đạo. Ông già homeless này chủ nhật nào cũng đi nhà thờ hoặc đi chùa, cứ cái nào gần nhất là ổng tới, chùa hay nhà thờ không quan trọng, chùa gần là ổng viếng thắp nhang niệm Phật, nhà thờ cận kề là ổng vô đọc kinh cầu nguyện Chúa.
Ai mà cắc cớ hỏi tại sao, bao giờ ổng cũng trả lời, “Đạo nào cũng là đạo, đường nào cũng là đường, freeway hay noway, way nào cũng dẫn tới Roma!” Có thể do không vô đạo, siêng đi chùa với nhà thờ, nên ơn trên mới ban xuống phước lành, một ngày nọ, đang trên đường thu lượm đồ phế thải, ông già homeless lượm được một cây đèn thần có tên là Genie, còn nguyên trong hộp, có cả tờ giấy hướng dẫn sử dụng bằng 5 thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Ý.
Ông già homeless làm theo tờ chỉ dẫn, hai tay xoa xoa cây đèn thần… và cũng đúng y chang như tờ chỉ dẫn cho biết, một làn khói trắng mù mịt bay ra, ông thần đèn xuất hiện, khai tên khai tuổi, cho biết chủ nhân cây đèn thần chỉ được ước 3 điều, và ông không hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật bất cứ cái gì điều gì sẽ xảy ra, mọi “sự cố” là ngoài sự mong muốn, ai ước gì được nấy có sao thì rán chịu.
Nói xong ông thần đèn Genie mới hỏi ông già homeless ước điều ước gì đầu tiên?
Già homeless không cần nghĩ ngợi, nói ngay: “Già ước một ly cà phê sữa đá.” Thần đèn Genie ngạc nhiên hỏi lại: “Già ước ly cà phê sữa đá? Thiệt hông đó? Già có biết là trong cà phê có chất caffeine, có tính axit rất cao, uống cà phê không tốt cho dạ dày, làm mất ngủ, gây nghiện, tim đập nhanh, huyết áp tăng, ngoài ra cà phê cũng có thể gây nôn, nóng, sốt ruột, và vân vân và vân vân. Già cũng hơi già rồi, già nên giữ gìn sức khoẻ, già nên ước cái khác đi.”
Gìa homeless nghe xong trừng mắt, lắc đầu, xác nhận: “Già ước một ly cà phê sữa đá.”
Thần đèn Genie đành làm theo lời ước của ông già homeless, lại thêm một làn khói trắng, và ly cà phê sữa đá bùm một cái xuất hiện trên tay già homeless.
Già homeless thank you ông thần đèn, xong ước ngay điều ước thứ 2: “Có cà phê rồi, giờ già ước có thêm một điếu thuốc lá.”
Ông thần đèn nghe xong giật mình: “Thuốc lá? Trời ơi là Trời! Già hông biết giữ gìn sức khoẻ gì hết! Già có biết là thuốc lá rất có hại cho sức khoẻ, là nguyên nhân gây bệnh và làm chết biết bao nhiêu là người. Mỗi điếu thuốc hút vô là trừ đi 5 giây rưỡi của đời sống, tuổi thọ giảm bớt từ 5 tới 8 năm, tỷ lệ tử vong tăng từ 30% tới 80%. Khói thuốc chứa 4000 hoá chất, 43 hoá chất gây ung thư. Thuốc lá gây bệnh tim mạch, bệnh hô hấp, bệnh răng lợi, tăng nguy cơ loãng xương, giảm tinh trùng, dẫn đến vô sinh, rối loạn kinh nguyệt, ung thư phổi, ung thư họng, ung thư ruột, ung thư vú, vân vân và vân vân. Già ước cái khác đi!”
“Già ước một điếu thuốc lá,” già homeless xác nhận.
Thần đèn Genie lại phải đành làm theo lời ước thứ hai của ông già homeless.
Già homeless có ly cà phê sữa đá, có điếu thuốc lá, nhưng già lại không mừng cũng chẳng vui, già lại bực mình: “Có thuốc lá mà không có lửa thì làm sao có khói. Già ước có ngay cho già cái hộp quẹt, già ước sao thì làm ơn làm cho già như vậy, đừng có thắc mắc sao già lại ước cái hộp quẹt, đừng có khuyên già chớ có chơi với lửa, bảo với già chơi với lửa có ngày cháy tay, cháy nhà, cháy xe, và cháy túi, công danh sự nghiệp sẽ biến thành tro bụi.”
“Già chỉ muốn ly cà phê sữa đá, điếu thuốc lá và cái hộp quẹt. Già không muốn Apple, Banana, Doors với Windows. Mấy cái đó để hai thằng Steve Jobs với Bill Gates nó lo.”
“Làm xong làm ơn biến đi chỗ khác cho già ngủ. Ngủ là ước muốn thứ tư của già.”

LƯU THY NGUYỄN

GHI CHÉP TRONG KHUYA RẰM,

0g: kém mười lăm
sau vườn lá đổ.tiếng rằm rung cây
bóng chim hốt hoảng.vụt bay
vàng rơi lả tả.đường mây sững sờ!
0g: lặng kín như tờ
sao nghe quang quác hàm hồ.vạn không
sao nghe.muôn dặm mục đồng
nghìn câu hư huyễn cháy lồng lộng.đêm!
0g: lá phụt tắt rằm
lối xưa hun hút mộ câm.một mình!

HUY TƯỞNG

Chuông nguyện mù sương

Tôi gõ lòng tôi ba tiếng chuông
Tiễn người thay sợi khói trầm hương
Tiếng chuông đánh thức trò dâu bể
Ngụp lặn phù sinh cuộc nhiễu nhương

Rắc rượu vào sông tôi thủy táng
Hẩm hiu cùng với bụi tro về
Người với ta như hoa bỉ ngạn
Nâng chén giang hồ qua bến mê

Tôi gõ lòng tôi ba tiếng nữa
Tiễn người? Không. Tôi tiễn tôi thôi.
Mai mốt phiên tôi ai có tiễn
Tôi biết gì đâu khuất biệt rồi

Đừng kết hoa tang đừng liễn điếu
Hoa rụng còn trơ lá với cành
Ba tiếng chuông thôi là quá diệu
Cho hồn linh lạc cõi vô thanh!

NGUYỄN HÀN CHUNG

32 NĂM NHÌN LẠI BẾN BỜ.

1.

Trong giấc mơ màu buồn, chiếc lá mới chớm vàng ngoài sân vừa rụng xuống giữa cơn say. Em mang tình yêu của tôi đi qua những góc đường mưa bão. Tia nhìn lặng câm không thể làm hồi sinh một màu lá. Tôi đứng chôn chân nghe chiều khóc không thành lời.

Tôi chỉ là một người đàn ông vừa đi qua tuổi 70. Vừa ôm công việc trong nhà và bên ngoài, vừa tập tành viết lách. Bỗng tiếng chân ai qua thềm nghe khẽ khàng như tiếng côn trùng cựa mình luyến tiếc ngày bình an. Đến nỗi mùa thu cũng giật mình. Tôi vừa biết làm một nhà văn không dễ dàng chút nào. Vì trái tim trót nghe quen những lời nũng nịu.

Có những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông hồn nhiên như chim trong vườn. Vừa nhỏ bé mảnh mai nhưng sao vội vàng như một tia nắng. Bỏ lại sau lưng quá khứ chật chội gió mùa và tiếng bánh xe mơn trớn mặt đường.

Có những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông lóng lánh mắt cười nhưng sao hồn mình nghe dao cứa? Vì những cánh buồm ra khơi nhưng vẫn làm nặng lòng bao bến đợi. Mùa thu này tôi vừa viết xuống những lời thơ bao dung với người nhưng với mình thì đau điếng.

Ai đó, đã muốn tôi viết về những kỷ niệm của 32 năm cầm bút nơi xứ người. Coi như những hồi tưởng trùng điệp mà bất cứ người viết văn nào cũng đều cảm thấy hứng thú. Nhưng với tôi, không phải vậy. Tôi vừa chợt nhận ra tôi đã chọn lầm cái nghiệp. Tôi đã gõ lầm cánh cửa mở ra một khu vườn phủ che những điều dụ hoặc. Khi biết cây nhánh không còn xanh, cũng là lúc trái tim không còn vang lên những lời kiêu hãnh.

Ngay chỗ tôi ngồi chiều nay, có vệt son nào vừa sót đọng trên miệng tách cà phê. Màu trắng của sành sứ và màu đỏ của son môi chập chờn như một chiếc lá thu bị thương tích. Lát nữa đây, tôi sẽ trở về căn phòng nhỏ của riêng tôi. Trên khung tường, chân dung ai nhìn xuống, có nụ cười rạng rỡ mầu nhiệm vừa cứu vớt đời tôi mà cũng vừa làm tôi sa bại. Thành phố của em. Ngôi nhà của em. Nhưng trái tim em đã muốn dành cho người khác?

2.

Những nhà văn giống như những đạo diễn trên sân khấu đời. Họ hiểu từng hạnh phúc, từng khổ đau. Họ hiểu từng chặng đường nhấp nhô gai nhọn và hiểu luôn những bình nguyên. Họ để nhân vật thổn thức bất an trên những bối cảnh êm đềm hay để đôi tình nhân suông sẻ nắm tay qua những nghịch cảnh. Họ có quyền phóng tay viết nên những điều hư cấu phủ lên một cuộc đời thật. Có người còn ví von nhà văn là Thượng Đế!!!

Tôi không từng nắm bắt được kinh nghiệm đó. Tôi hiểu, nhà văn, là viết xuống giùm khổ đau và hạnh phúc của người khác, cho người khác.

Còn riêng khổ đau của chính mình thì sao?

32 năm sinh hoạt trong Văn Bút, tôi chưa từng biết hết những khúc nôi, những ngọn nguồn, như một nhánh rong bất ngờ rơi trên một suối đời nhân quả.

Những luồng xe vụt qua những ngã tư đèn, bên dòng người xuôi ngược.

32 năm theo đòi nghiệp viết, tôi vượt qua những hiu hắt đèn vàng, nhưng lại va đụng những rào cản phiền muộn. Có những điều phân vân sao cứ ủ chặt trong lòng như màu mực đọng hoài trên trang giấy ngày thơ dại?

Năm 1992, bài viết đầu tiên tôi viết xuống trong căn phòng chung cư mang tên một Thánh Nữ—Santa Maria—Mùa xuân sắp từ giã chúng tôi để nhường chỗ cho một mùa hè oi bức. Những cơn gió từ hoang mạc thổi về, vuốt ve trên mặt vách đá hai bên đường North Capital of Texas và ngọn đồi mang dấu chân của người da đỏ. Trước đó là thời gian của Tháng Ba còn những đóa hoa màu tím than mọc dài trên xa lộ. Màu hoa gợi hứng cho một chuyện tình đồng thời khởi đầu cho một định mệnh. Truyện ngắn “Hoa Bluebonnets Cho Hai Người” tôi hoàn thành trong một tuần lễ trong đó có hai ngày cuối tuần viết ngoài quán cà phê Dunkin Donuts. Tôi hoàn chỉnh và đánh máy lại bằng chiếc máy đánh chữ mượn từ một người bạn tốt bụng. Đêm mênh mông những cánh gió bên kia cầu 183, những dòng chữ cũng mênh mông trì kéo một hạnh phúc. Tôi không biết tôi có thể viết được nhiều hay ít sau này, nhưng tôi biết tôi không thể không viết vì đời sống này cho tôi nhiều thứ hơn tôi tưởng. Tôi viết, vừa để tiếp nối những mạch viết bị tắt nghẽn sau ngày 30 Tháng Tư, 1975. Và cũng vì một lý do khác.

Trong một vài số báo mà tôi tìm mua tại chợ Liên Hương, nơi tôi ở—tôi đọc thấy một Thông báo của Văn Bút Vùng Nam Hoa Kỳ—Nội dung kêu gọi mọi người viết bài dự thi nhân dịp kỷ niệm ngày mất nước. Thời hạn nhận bài (tôi không nhớ rõ) nhưng hạn cuối là ngày 30 Tháng Tư năm 1992. Lúc tôi đọc thông báo và viết bài gởi đi thì thời gian chỉ còn hai tuần. Tôi gởi truyện ngắn “Hoa Bluebonnets Cho Hai Người” về cho Ban Tổ Chức. Sau một tuần, tôi gọi phone cho nhà văn Nguyễn Văn Sâm—vừa là Chủ Tịch Văn Bút, vừa là một thành viên trong Ban Tuyển Chọn—để hỏi xem bài đã đến chưa. Ông nói chưa nhận được bài và nghĩ chắc bưu điện làm thất lạc, khuyên tôi nên gởi “over night”, vì thời gian nhận bài chỉ còn vài ngày. Tôi vừa nguyền rủa Bưu điện, vừa bóp bụng tìm ra chỗ gởi thư. Cước phí khoảng gần 15 dollars trong thời điểm đó, cho một cái thơ đi suốt đêm—một số tiền không nhỏ đối với một người mới vừa định cư như tôi.

Đêm sau, tôi gọi cho nhà văn Nguyễn Văn Sâm và được ông trả lời là bài của tôi đang nằm trên bàn viết.

3.

Cái định mệnh mà tôi nói ở trên, là Giải Nhứt Truyện Ngắn Văn Bút Nam Hoa Kỳ năm 1992.

Ngày về nhận giải ở thành phố Houston, tôi được một người bạn trẻ là Michael Nguyen chở đi. Anh làm chung hãng, vừa là Supervisor, vừa là một người Thầy dạy tôi công việc.

Lần đầu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Văn Sâm, ông đang ngồi giữa hàng ghế chủ tọa. Có nhà văn Xuân Vũ của “Đường Đi Không Đến…” Có nhà văn—nhà báo Nguyễn Đình Phùng, vừa viết văn vừa điều hành tờ bán nguyệt san Tự Do… Và một vài người khác…

Giải thưởng 500 dollars như thông báo, không ngờ sụt xuống còn 300. Tôi không kịp hỏi lý do, chỉ đoán hình như có vài điều không vui nằm phía sau giải thưởng.

(Sau này, gặp lại nhà văn Nguyễn Văn Sâm tại Round Rock, Austin, ông có nhắc tôi về chuyện ngày đó và nghe ông nói thêm về một biến cố trước thời gian phát giải, nhà văn Lê Thao Chuyên, một cây viết nữ trong vùng, cũng có gởi bài dự thi, cũng được giải thưởng, mới vừa gặp tai nạn, và qua đời ngay lúc đó. Lê Thao Chuyên cũng là chị ruột của nữ danh ca Ngọc Lan.)

Tôi nhìn quanh căn phòng dùng làm nơi phát giải. Chỉ khoảng gần 30 người, tính cả Ban Tổ Chức, cùng các tác giả gởi bài và quan khách tham dự. Cạnh đó có thêm những người trong ban văn nghệ “cây nhà lá vườn…”

Tôi trở về Austin ngay buổi chiều hôm đó vì hôm sau chúng tôi còn phải đi làm. Ánh sáng nhá nhem và không bao lâu đêm sẽ mịt mùng trên đoạn đường mang dáng thu. Người bạn vừa lái xe vừa nói chuyện bên cạnh, nhưng hình như anh không giấu được sự muộn phiền. Còn tôi, số tiền 300 dollars còn mới nguyên trong phong bì, dù sao cũng làm tôi ấm lòng đôi chút. Vì tôi biết nhờ vậy mà tôi có thể thu về những giá trị tinh thần khác—Cái giá trị mà vật chất không thể san sẻ.

Con đường có lúc chìm trong khu rừng sồi đang oằn oại cành nhánh cùng ánh trăng xanh trên đầu—cái màu trăng chạy đuổi theo xe đẹp và buồn như một khúc tình đau rát mặt. Mọi thứ dường như có khả năng kéo tôi bay lên những nghịch cảnh cùng vinh quang của đời. Trong đó thấp thoáng những thủy chung và bạc tình. Những tháng năm trùng điệp những cơn mưa. Những đời sông chảy xuôi về biển cả.

4.

Tôi thành danh và đứng vững trên đôi chân của mình, từ mùa thu 1992.

Có cần để viết xuống hay không, khi ý nghĩa của hai chữ đó ẩn giấu đằng sau là một lời nguyền lạc vận?

Những dòng mực có miệt mài cùng tháng năm, như cơn mưa thấm sâu vào lòng đất? Những mầm hạt trong vườn tưởng trở thành bông hoa nhưng cuối cùng tản lạc trong mùa màng. Những trang văn hổn hển ước vọng không qua hết cuộc buồn vui. Những tình yêu óng chuốt một thời. Nơi có môi hôn cùng nước mắt rưng rưng giữa màu đêm phơi phới. Nơi những người đàn bà khụy chân níu kéo một tương phùng. Tất cả lần lượt trở về, sau những bước chân kiếm tìm tuyệt vọng.

Có nghĩa gì đâu những giây phút phù hư nhưng là cuộc say sóng kéo dài ba mươi mấy năm? Tôi đang ngồi đếm “Thành Bại—Mất Còn…”

Trong suốt thời gian sinh hoạt cùng Văn Bút, biết bao nhiêu bằng hữu đi qua đời nhau, hay cùng ngồi xuống viết lách. Biết bao nhiêu vì sao băng qua một thiên hà khô lạnh. Từ cột mốc buổi chiều mùa thu cách đây 32 năm, tôi bước qua một chặng dài mưa nguồn chớp biển. Những dấu chân ướt mèm như giẫm đạp lên một cơn say tiền kiếp.

Nói sao cho đủ khi đêm dường như không kịp trở mình thành sáng mai? Cùng những mơ ước như lá khô bị dán chặt xuống giường chiếu… Những người bạn, những nụ cười thân quen đuổi theo nhau về đâu? Những nhân vật mang tình yêu trên vai và trái tim tràn đầy nhân ái?

Có những người bạn văn rất thân—cả nam lẫn nữ—đã quay lưng lại với tôi không một lời thuyết minh. Có những điều nghịch lý đến nỗi trở thành không tưởng nhưng được họ dựng lên làm bảng chỉ đường cho đám đông xông lên và hành quyết. Họ quên rằng mới ngày hôm qua, hay mới đây thôi, họ đã nhấp môi uống cùng tôi những chén đắng chờ qua hết một đêm dài nhiễu nhương?

Có những người bạn say đắm văn tôi và uống từng lời văn tôi như cửa sổ phòng đêm mở ra uống no từng ngụm gió đêm khoáng đạt. Nhưng bây giờ, họ xa lạ cùng tôi trong một thành phố tưởng chừng xa lạ không kém. Lý do rất mơ hồ…

Những đôi chân đang mỏi vì đường dài, trong đó không phải chỉ mình tôi. Những ký ức không tên nay trở thành lời trăn trối. Rằng không có hạnh phúc hay khổ đau trong một khu vườn mà hoa hồng ít hơn gai nhọn.

Mùa thu sinh ra và sẽ chết đi. Dòng sông không bao giờ chảy ngược.

Đừng chờ đợi tôi viết về Văn Bút Nam Hoa Kỳ. Nơi tôi trưởng thành và già nua vì ảo tưởng một bến bờ hạnh phúc. Nơi tôi khát cháy một tình yêu đích thực giữa đám đông và mình. Chưa vội nói đến giữa những người cầm viết.

5.

Có những điều dù rất quen nhưng cuối cùng lại lạ lùng làm sao. Có những lúc tôi tưởng chừng chạm tay vào một cánh cửa đã khép.

Tôi yêu những đêm mưa về sáng gồng mình đi qua những hành lang loang loáng ánh đèn để đến nhà nàng. Những cơn mưa quen thuộc và dấu ái như vậy sao hôm nay dội vào lòng tôi nhiều nhức nhối. Như tiếng lòng lặng thinh gõ nhịp lên quá khứ muộn phiền.

Tôi gối đầu lên những đợi chờ. Và mơ ước giản đơn một màu lá. Có những giọt mưa làm mát những thăng trầm đồng thời có những giọt mưa làm rệu rã đất đai.

32 mùa thu đi qua tôi đứng trong mảnh vườn chữ nghĩa, nhưng đôi lần, chân dợm bước ra ngoài.

Tôi chỉ muốn những con chữ tôi viết xuống trở thành những bông cúc chiều nay mọc bên đường. Không biết rằng bão giông đang thổi tốc lòng người. Những nhánh lá đã mỏng mềm mà lời văn còn mỏng mềm hơn. Nên cuối cùng bất lực.

PHẠM NGŨ YÊN