BẠCH VÂN THIÊN TẢI

ngàn năm xưa, ngàn năm sau
chim hoàng hạc với mây màu thời gian…
không vui khi nhớ hạc vàng,
càng không vui thấy trên ngàn mây bay…

cầm bằng kẻ đó người đây,
con sông khi nước vơi, đầy, vậy chăng?
bạn cho một chữ, tôi cầm
tôi hôn chữ đó biết rằng vì…xa!

cảm ơn trăng những mái nhà
cảm ơn trăng lúc nguyệt tà tạ sương…

Trần Vấn Lệ

Ông Già Homeless và 3 Điều Ước.

Một câu chuyện về người Homeless đáng yêu nhất nước Mỹ. Bạn có thể không thích tác giả Lưu Thy, nhưng cam đoan bạn sẽ yêu TẤT CẢ những nhân vật trong tác phẩm của Lưu Thy từ Tiểu Yêu đến Xí Mụi! ( Trích lời giới thiệu tác phẩm GIANG HỒ ĐỂU CÁNG)

Ngày xửa ngày xưa… tại một thành phố lớn ở nước Mỹ, có một ông già homeless vô gia cư, vô nghề nghiệp, vô gia đình, vô sản, nhưng không vô đạo. Ông già homeless này chủ nhật nào cũng đi nhà thờ hoặc đi chùa, cứ cái nào gần nhất là ổng tới, chùa hay nhà thờ không quan trọng, chùa gần là ổng viếng thắp nhang niệm Phật, nhà thờ cận kề là ổng vô đọc kinh cầu nguyện Chúa.
Ai mà cắc cớ hỏi tại sao, bao giờ ổng cũng trả lời, “Đạo nào cũng là đạo, đường nào cũng là đường, freeway hay noway, way nào cũng dẫn tới Roma!” Có thể do không vô đạo, siêng đi chùa với nhà thờ, nên ơn trên mới ban xuống phước lành, một ngày nọ, đang trên đường thu lượm đồ phế thải, ông già homeless lượm được một cây đèn thần có tên là Genie, còn nguyên trong hộp, có cả tờ giấy hướng dẫn sử dụng bằng 5 thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Ý.
Ông già homeless làm theo tờ chỉ dẫn, hai tay xoa xoa cây đèn thần… và cũng đúng y chang như tờ chỉ dẫn cho biết, một làn khói trắng mù mịt bay ra, ông thần đèn xuất hiện, khai tên khai tuổi, cho biết chủ nhân cây đèn thần chỉ được ước 3 điều, và ông không hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật bất cứ cái gì điều gì sẽ xảy ra, mọi “sự cố” là ngoài sự mong muốn, ai ước gì được nấy có sao thì rán chịu.
Nói xong ông thần đèn Genie mới hỏi ông già homeless ước điều ước gì đầu tiên?
Già homeless không cần nghĩ ngợi, nói ngay: “Già ước một ly cà phê sữa đá.” Thần đèn Genie ngạc nhiên hỏi lại: “Già ước ly cà phê sữa đá? Thiệt hông đó? Già có biết là trong cà phê có chất caffeine, có tính axit rất cao, uống cà phê không tốt cho dạ dày, làm mất ngủ, gây nghiện, tim đập nhanh, huyết áp tăng, ngoài ra cà phê cũng có thể gây nôn, nóng, sốt ruột, và vân vân và vân vân. Già cũng hơi già rồi, già nên giữ gìn sức khoẻ, già nên ước cái khác đi.”
Gìa homeless nghe xong trừng mắt, lắc đầu, xác nhận: “Già ước một ly cà phê sữa đá.”
Thần đèn Genie đành làm theo lời ước của ông già homeless, lại thêm một làn khói trắng, và ly cà phê sữa đá bùm một cái xuất hiện trên tay già homeless.
Già homeless thank you ông thần đèn, xong ước ngay điều ước thứ 2: “Có cà phê rồi, giờ già ước có thêm một điếu thuốc lá.”
Ông thần đèn nghe xong giật mình: “Thuốc lá? Trời ơi là Trời! Già hông biết giữ gìn sức khoẻ gì hết! Già có biết là thuốc lá rất có hại cho sức khoẻ, là nguyên nhân gây bệnh và làm chết biết bao nhiêu là người. Mỗi điếu thuốc hút vô là trừ đi 5 giây rưỡi của đời sống, tuổi thọ giảm bớt từ 5 tới 8 năm, tỷ lệ tử vong tăng từ 30% tới 80%. Khói thuốc chứa 4000 hoá chất, 43 hoá chất gây ung thư. Thuốc lá gây bệnh tim mạch, bệnh hô hấp, bệnh răng lợi, tăng nguy cơ loãng xương, giảm tinh trùng, dẫn đến vô sinh, rối loạn kinh nguyệt, ung thư phổi, ung thư họng, ung thư ruột, ung thư vú, vân vân và vân vân. Già ước cái khác đi!”
“Già ước một điếu thuốc lá,” già homeless xác nhận.
Thần đèn Genie lại phải đành làm theo lời ước thứ hai của ông già homeless.
Già homeless có ly cà phê sữa đá, có điếu thuốc lá, nhưng già lại không mừng cũng chẳng vui, già lại bực mình: “Có thuốc lá mà không có lửa thì làm sao có khói. Già ước có ngay cho già cái hộp quẹt, già ước sao thì làm ơn làm cho già như vậy, đừng có thắc mắc sao già lại ước cái hộp quẹt, đừng có khuyên già chớ có chơi với lửa, bảo với già chơi với lửa có ngày cháy tay, cháy nhà, cháy xe, và cháy túi, công danh sự nghiệp sẽ biến thành tro bụi.”
“Già chỉ muốn ly cà phê sữa đá, điếu thuốc lá và cái hộp quẹt. Già không muốn Apple, Banana, Doors với Windows. Mấy cái đó để hai thằng Steve Jobs với Bill Gates nó lo.”
“Làm xong làm ơn biến đi chỗ khác cho già ngủ. Ngủ là ước muốn thứ tư của già.”

LƯU THY NGUYỄN

GHI CHÉP TRONG KHUYA RẰM,

0g: kém mười lăm
sau vườn lá đổ.tiếng rằm rung cây
bóng chim hốt hoảng.vụt bay
vàng rơi lả tả.đường mây sững sờ!
0g: lặng kín như tờ
sao nghe quang quác hàm hồ.vạn không
sao nghe.muôn dặm mục đồng
nghìn câu hư huyễn cháy lồng lộng.đêm!
0g: lá phụt tắt rằm
lối xưa hun hút mộ câm.một mình!

HUY TƯỞNG

Chuông nguyện mù sương

Tôi gõ lòng tôi ba tiếng chuông
Tiễn người thay sợi khói trầm hương
Tiếng chuông đánh thức trò dâu bể
Ngụp lặn phù sinh cuộc nhiễu nhương

Rắc rượu vào sông tôi thủy táng
Hẩm hiu cùng với bụi tro về
Người với ta như hoa bỉ ngạn
Nâng chén giang hồ qua bến mê

Tôi gõ lòng tôi ba tiếng nữa
Tiễn người? Không. Tôi tiễn tôi thôi.
Mai mốt phiên tôi ai có tiễn
Tôi biết gì đâu khuất biệt rồi

Đừng kết hoa tang đừng liễn điếu
Hoa rụng còn trơ lá với cành
Ba tiếng chuông thôi là quá diệu
Cho hồn linh lạc cõi vô thanh!

NGUYỄN HÀN CHUNG

32 NĂM NHÌN LẠI BẾN BỜ.

1.

Trong giấc mơ màu buồn, chiếc lá mới chớm vàng ngoài sân vừa rụng xuống giữa cơn say. Em mang tình yêu của tôi đi qua những góc đường mưa bão. Tia nhìn lặng câm không thể làm hồi sinh một màu lá. Tôi đứng chôn chân nghe chiều khóc không thành lời.

Tôi chỉ là một người đàn ông vừa đi qua tuổi 70. Vừa ôm công việc trong nhà và bên ngoài, vừa tập tành viết lách. Bỗng tiếng chân ai qua thềm nghe khẽ khàng như tiếng côn trùng cựa mình luyến tiếc ngày bình an. Đến nỗi mùa thu cũng giật mình. Tôi vừa biết làm một nhà văn không dễ dàng chút nào. Vì trái tim trót nghe quen những lời nũng nịu.

Có những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông hồn nhiên như chim trong vườn. Vừa nhỏ bé mảnh mai nhưng sao vội vàng như một tia nắng. Bỏ lại sau lưng quá khứ chật chội gió mùa và tiếng bánh xe mơn trớn mặt đường.

Có những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông lóng lánh mắt cười nhưng sao hồn mình nghe dao cứa? Vì những cánh buồm ra khơi nhưng vẫn làm nặng lòng bao bến đợi. Mùa thu này tôi vừa viết xuống những lời thơ bao dung với người nhưng với mình thì đau điếng.

Ai đó, đã muốn tôi viết về những kỷ niệm của 32 năm cầm bút nơi xứ người. Coi như những hồi tưởng trùng điệp mà bất cứ người viết văn nào cũng đều cảm thấy hứng thú. Nhưng với tôi, không phải vậy. Tôi vừa chợt nhận ra tôi đã chọn lầm cái nghiệp. Tôi đã gõ lầm cánh cửa mở ra một khu vườn phủ che những điều dụ hoặc. Khi biết cây nhánh không còn xanh, cũng là lúc trái tim không còn vang lên những lời kiêu hãnh.

Ngay chỗ tôi ngồi chiều nay, có vệt son nào vừa sót đọng trên miệng tách cà phê. Màu trắng của sành sứ và màu đỏ của son môi chập chờn như một chiếc lá thu bị thương tích. Lát nữa đây, tôi sẽ trở về căn phòng nhỏ của riêng tôi. Trên khung tường, chân dung ai nhìn xuống, có nụ cười rạng rỡ mầu nhiệm vừa cứu vớt đời tôi mà cũng vừa làm tôi sa bại. Thành phố của em. Ngôi nhà của em. Nhưng trái tim em đã muốn dành cho người khác?

2.

Những nhà văn giống như những đạo diễn trên sân khấu đời. Họ hiểu từng hạnh phúc, từng khổ đau. Họ hiểu từng chặng đường nhấp nhô gai nhọn và hiểu luôn những bình nguyên. Họ để nhân vật thổn thức bất an trên những bối cảnh êm đềm hay để đôi tình nhân suông sẻ nắm tay qua những nghịch cảnh. Họ có quyền phóng tay viết nên những điều hư cấu phủ lên một cuộc đời thật. Có người còn ví von nhà văn là Thượng Đế!!!

Tôi không từng nắm bắt được kinh nghiệm đó. Tôi hiểu, nhà văn, là viết xuống giùm khổ đau và hạnh phúc của người khác, cho người khác.

Còn riêng khổ đau của chính mình thì sao?

32 năm sinh hoạt trong Văn Bút, tôi chưa từng biết hết những khúc nôi, những ngọn nguồn, như một nhánh rong bất ngờ rơi trên một suối đời nhân quả.

Những luồng xe vụt qua những ngã tư đèn, bên dòng người xuôi ngược.

32 năm theo đòi nghiệp viết, tôi vượt qua những hiu hắt đèn vàng, nhưng lại va đụng những rào cản phiền muộn. Có những điều phân vân sao cứ ủ chặt trong lòng như màu mực đọng hoài trên trang giấy ngày thơ dại?

Năm 1992, bài viết đầu tiên tôi viết xuống trong căn phòng chung cư mang tên một Thánh Nữ—Santa Maria—Mùa xuân sắp từ giã chúng tôi để nhường chỗ cho một mùa hè oi bức. Những cơn gió từ hoang mạc thổi về, vuốt ve trên mặt vách đá hai bên đường North Capital of Texas và ngọn đồi mang dấu chân của người da đỏ. Trước đó là thời gian của Tháng Ba còn những đóa hoa màu tím than mọc dài trên xa lộ. Màu hoa gợi hứng cho một chuyện tình đồng thời khởi đầu cho một định mệnh. Truyện ngắn “Hoa Bluebonnets Cho Hai Người” tôi hoàn thành trong một tuần lễ trong đó có hai ngày cuối tuần viết ngoài quán cà phê Dunkin Donuts. Tôi hoàn chỉnh và đánh máy lại bằng chiếc máy đánh chữ mượn từ một người bạn tốt bụng. Đêm mênh mông những cánh gió bên kia cầu 183, những dòng chữ cũng mênh mông trì kéo một hạnh phúc. Tôi không biết tôi có thể viết được nhiều hay ít sau này, nhưng tôi biết tôi không thể không viết vì đời sống này cho tôi nhiều thứ hơn tôi tưởng. Tôi viết, vừa để tiếp nối những mạch viết bị tắt nghẽn sau ngày 30 Tháng Tư, 1975. Và cũng vì một lý do khác.

Trong một vài số báo mà tôi tìm mua tại chợ Liên Hương, nơi tôi ở—tôi đọc thấy một Thông báo của Văn Bút Vùng Nam Hoa Kỳ—Nội dung kêu gọi mọi người viết bài dự thi nhân dịp kỷ niệm ngày mất nước. Thời hạn nhận bài (tôi không nhớ rõ) nhưng hạn cuối là ngày 30 Tháng Tư năm 1992. Lúc tôi đọc thông báo và viết bài gởi đi thì thời gian chỉ còn hai tuần. Tôi gởi truyện ngắn “Hoa Bluebonnets Cho Hai Người” về cho Ban Tổ Chức. Sau một tuần, tôi gọi phone cho nhà văn Nguyễn Văn Sâm—vừa là Chủ Tịch Văn Bút, vừa là một thành viên trong Ban Tuyển Chọn—để hỏi xem bài đã đến chưa. Ông nói chưa nhận được bài và nghĩ chắc bưu điện làm thất lạc, khuyên tôi nên gởi “over night”, vì thời gian nhận bài chỉ còn vài ngày. Tôi vừa nguyền rủa Bưu điện, vừa bóp bụng tìm ra chỗ gởi thư. Cước phí khoảng gần 15 dollars trong thời điểm đó, cho một cái thơ đi suốt đêm—một số tiền không nhỏ đối với một người mới vừa định cư như tôi.

Đêm sau, tôi gọi cho nhà văn Nguyễn Văn Sâm và được ông trả lời là bài của tôi đang nằm trên bàn viết.

3.

Cái định mệnh mà tôi nói ở trên, là Giải Nhứt Truyện Ngắn Văn Bút Nam Hoa Kỳ năm 1992.

Ngày về nhận giải ở thành phố Houston, tôi được một người bạn trẻ là Michael Nguyen chở đi. Anh làm chung hãng, vừa là Supervisor, vừa là một người Thầy dạy tôi công việc.

Lần đầu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Văn Sâm, ông đang ngồi giữa hàng ghế chủ tọa. Có nhà văn Xuân Vũ của “Đường Đi Không Đến…” Có nhà văn—nhà báo Nguyễn Đình Phùng, vừa viết văn vừa điều hành tờ bán nguyệt san Tự Do… Và một vài người khác…

Giải thưởng 500 dollars như thông báo, không ngờ sụt xuống còn 300. Tôi không kịp hỏi lý do, chỉ đoán hình như có vài điều không vui nằm phía sau giải thưởng.

(Sau này, gặp lại nhà văn Nguyễn Văn Sâm tại Round Rock, Austin, ông có nhắc tôi về chuyện ngày đó và nghe ông nói thêm về một biến cố trước thời gian phát giải, nhà văn Lê Thao Chuyên, một cây viết nữ trong vùng, cũng có gởi bài dự thi, cũng được giải thưởng, mới vừa gặp tai nạn, và qua đời ngay lúc đó. Lê Thao Chuyên cũng là chị ruột của nữ danh ca Ngọc Lan.)

Tôi nhìn quanh căn phòng dùng làm nơi phát giải. Chỉ khoảng gần 30 người, tính cả Ban Tổ Chức, cùng các tác giả gởi bài và quan khách tham dự. Cạnh đó có thêm những người trong ban văn nghệ “cây nhà lá vườn…”

Tôi trở về Austin ngay buổi chiều hôm đó vì hôm sau chúng tôi còn phải đi làm. Ánh sáng nhá nhem và không bao lâu đêm sẽ mịt mùng trên đoạn đường mang dáng thu. Người bạn vừa lái xe vừa nói chuyện bên cạnh, nhưng hình như anh không giấu được sự muộn phiền. Còn tôi, số tiền 300 dollars còn mới nguyên trong phong bì, dù sao cũng làm tôi ấm lòng đôi chút. Vì tôi biết nhờ vậy mà tôi có thể thu về những giá trị tinh thần khác—Cái giá trị mà vật chất không thể san sẻ.

Con đường có lúc chìm trong khu rừng sồi đang oằn oại cành nhánh cùng ánh trăng xanh trên đầu—cái màu trăng chạy đuổi theo xe đẹp và buồn như một khúc tình đau rát mặt. Mọi thứ dường như có khả năng kéo tôi bay lên những nghịch cảnh cùng vinh quang của đời. Trong đó thấp thoáng những thủy chung và bạc tình. Những tháng năm trùng điệp những cơn mưa. Những đời sông chảy xuôi về biển cả.

4.

Tôi thành danh và đứng vững trên đôi chân của mình, từ mùa thu 1992.

Có cần để viết xuống hay không, khi ý nghĩa của hai chữ đó ẩn giấu đằng sau là một lời nguyền lạc vận?

Những dòng mực có miệt mài cùng tháng năm, như cơn mưa thấm sâu vào lòng đất? Những mầm hạt trong vườn tưởng trở thành bông hoa nhưng cuối cùng tản lạc trong mùa màng. Những trang văn hổn hển ước vọng không qua hết cuộc buồn vui. Những tình yêu óng chuốt một thời. Nơi có môi hôn cùng nước mắt rưng rưng giữa màu đêm phơi phới. Nơi những người đàn bà khụy chân níu kéo một tương phùng. Tất cả lần lượt trở về, sau những bước chân kiếm tìm tuyệt vọng.

Có nghĩa gì đâu những giây phút phù hư nhưng là cuộc say sóng kéo dài ba mươi mấy năm? Tôi đang ngồi đếm “Thành Bại—Mất Còn…”

Trong suốt thời gian sinh hoạt cùng Văn Bút, biết bao nhiêu bằng hữu đi qua đời nhau, hay cùng ngồi xuống viết lách. Biết bao nhiêu vì sao băng qua một thiên hà khô lạnh. Từ cột mốc buổi chiều mùa thu cách đây 32 năm, tôi bước qua một chặng dài mưa nguồn chớp biển. Những dấu chân ướt mèm như giẫm đạp lên một cơn say tiền kiếp.

Nói sao cho đủ khi đêm dường như không kịp trở mình thành sáng mai? Cùng những mơ ước như lá khô bị dán chặt xuống giường chiếu… Những người bạn, những nụ cười thân quen đuổi theo nhau về đâu? Những nhân vật mang tình yêu trên vai và trái tim tràn đầy nhân ái?

Có những người bạn văn rất thân—cả nam lẫn nữ—đã quay lưng lại với tôi không một lời thuyết minh. Có những điều nghịch lý đến nỗi trở thành không tưởng nhưng được họ dựng lên làm bảng chỉ đường cho đám đông xông lên và hành quyết. Họ quên rằng mới ngày hôm qua, hay mới đây thôi, họ đã nhấp môi uống cùng tôi những chén đắng chờ qua hết một đêm dài nhiễu nhương?

Có những người bạn say đắm văn tôi và uống từng lời văn tôi như cửa sổ phòng đêm mở ra uống no từng ngụm gió đêm khoáng đạt. Nhưng bây giờ, họ xa lạ cùng tôi trong một thành phố tưởng chừng xa lạ không kém. Lý do rất mơ hồ…

Những đôi chân đang mỏi vì đường dài, trong đó không phải chỉ mình tôi. Những ký ức không tên nay trở thành lời trăn trối. Rằng không có hạnh phúc hay khổ đau trong một khu vườn mà hoa hồng ít hơn gai nhọn.

Mùa thu sinh ra và sẽ chết đi. Dòng sông không bao giờ chảy ngược.

Đừng chờ đợi tôi viết về Văn Bút Nam Hoa Kỳ. Nơi tôi trưởng thành và già nua vì ảo tưởng một bến bờ hạnh phúc. Nơi tôi khát cháy một tình yêu đích thực giữa đám đông và mình. Chưa vội nói đến giữa những người cầm viết.

5.

Có những điều dù rất quen nhưng cuối cùng lại lạ lùng làm sao. Có những lúc tôi tưởng chừng chạm tay vào một cánh cửa đã khép.

Tôi yêu những đêm mưa về sáng gồng mình đi qua những hành lang loang loáng ánh đèn để đến nhà nàng. Những cơn mưa quen thuộc và dấu ái như vậy sao hôm nay dội vào lòng tôi nhiều nhức nhối. Như tiếng lòng lặng thinh gõ nhịp lên quá khứ muộn phiền.

Tôi gối đầu lên những đợi chờ. Và mơ ước giản đơn một màu lá. Có những giọt mưa làm mát những thăng trầm đồng thời có những giọt mưa làm rệu rã đất đai.

32 mùa thu đi qua tôi đứng trong mảnh vườn chữ nghĩa, nhưng đôi lần, chân dợm bước ra ngoài.

Tôi chỉ muốn những con chữ tôi viết xuống trở thành những bông cúc chiều nay mọc bên đường. Không biết rằng bão giông đang thổi tốc lòng người. Những nhánh lá đã mỏng mềm mà lời văn còn mỏng mềm hơn. Nên cuối cùng bất lực.

PHẠM NGŨ YÊN

BÊN BỜ NƯỚC

Nguyên tác: Au bord de l’eau –tác giả Robert Bloch

Thùy An dịch (trong tập truyện ngắn MẤT TÍCH -nxb Đồng Nai 1996)

Gã bước vào quán ăn. Tấm cửa kiếng dơ dáy đóng lại sau lưng gã. Có rất đông khách hàng ngồi quanh một cái quầy dài. Gã đi qua và ngồi xuống phía trong cùng. Gã chăm chú nhìn ba cô phục vụ, hai cô khá xinh, còn cô kia trông quá sồ sề.

– Thưa ông, ông cần gì ạ?

Gã lơ đãng:

– Một côca côla.

Khi cô phục vụ mang nước đến, gã kéo tấm thực đơn và không thèm nhìn cô, gã hỏi:

– Cô có biết cô Helène Krauss làm việc ở đây không?

– Tôi là Helène đây.

Gã ngẩng lên. Ồ, không thể được. Cái cô sồ sề này mà là người vợ tuyệt đẹp của Mike sao? Người vợ mà đêm nào trong xà lim, Mike cũng thường nhắc đến với bao ngưỡng mộ. Gã nhìn kỹ cô nàng. Đó là một người đàn bà tóc hung đỏ, gương mặt láng mỡ rất vô duyên, thân hình đồ sộ, dễ đến gần 70 kí. Cô mang cặp kiếng cận dày cộm, sau lớp kiếng, đôi mắt xanh của cô đẫm nước đang nhìn thẳng vào mặt gã một cách lãnh đạm.

– Tôi tìm cô Helène Krauss, ngày trước sống ở Norton Center. Cô ấy đã kết hôn với một người tên Mike.

– Chính là tôi. Anh quan hệ thế nào với Mike?

– Tôi mang tin chồng chị đến.

– Mike? Anh ấy chết rồi.

– Tôi biết. Tôi đã có mặt cạnh Mike trong giờ hấp hối. Tên tôi là Rusty Connos, chúng tôi đã sống chung xà lim gần hai năm.

Giọng người đàn bà thấp xuống:

– Có chuyện gì thế?

– Tôi không thể nói tại đây. Mấy giờ chị hết ca?

– Bảy rưỡi.

– Tốt, tôi sẽ chờ chị trước cửa.

Gã đứng dậy, bước thẳng, chán nản không muốn nói thêm lần nào nữa. Trước khi bước chân đến đây, gã cứ nghĩ hoài đến người vợ góa xinh đẹp của Mikẹ Theo lời hắn miêu tả thì đó là một người đàn bà rất quyến rũ và gợi cảm. Hy vọng nhiều, đến giờ thấy mặt con nỡm, gã cảm thấy mình bị lừa. Đúng là thằng Mike có mắt không tròng.

Làn gió mát buổi chiều mơn man trên người làm gã bớt bực tức. Xét cho cùng thì Mike cũng có lý. Suốt hai năm trong tù không ai thăm viếng, chỉ một mình Helène lui tới, thì cô ta trở thành người trong mộng của hắn là điều đương nhiên. Thôi đừng thèm trách ai cả, vấn đề chính là tìm cho được chỗ giấu 56.000 đô la.

Họ gặp nhau trên chiếc ghế đá trong công viên, khi trời tối hẳn. Không ai thấy họ cả và họ cũng không trông rõ mặt nhau. Gã đưa cho cô điếu xì gà.

– Cảm ơn anh, tôi không hút thuốc.

– Đúng, Mike đã nói với tôi là chị không biết hút thuốc, anh ta đã nói rất nhiều về chị.

– Hình như trong thư gởi về, ảnh cũng thường nhắc đến anh.

Rusty vào đề ngay:

– Tôi không tin là một người lương thiện như Mike lại giết bạn mình để đoạt số tiền phát lương.

– Tôi van anh, đừng nhắc đến chuyện này nữa.

– Tôi hiểu tình cảm của chị, Helène.

Rusty cố gắng gọi tên Helène thật êm dịu, rụt rè cầm tay cô. Gã rùng mình khi nhận ra bàn tay mềm và mập như một miếng thịt nóng. Helène hơi xúc động:

– Trước hôm Pete mất tích, một vài người đã thấy Mike đưa Pete đi trong chiếc xe của ảnh. Hình như Pete làm mất chìa khóa xe nên nhờ Mike hộ tống đến nhà máy để phát lương. Sau đó, Pete đi đâu thì có trời mà biết, tôi thề rằng Mike đã ở bên tôi suốt buổi xế trưa hôm đó. Nhưng cảnh sát không muốn thừa nhận lời khai của tôi nên ảnh bị kêu án mười năm.

– Mới có hai năm, Mike đã chết. Tội nghiệp, trước khi chết, ảnh nhắc đến Pete, đến số tiền, đến chị… Hình như ảnh lỡ tay làm chết Pete… và trời ạ, ảnh đã không kịp nói với tôi chỗ cất giấu số tiền.

Gã rít một hơi thuốc:

– Mike có nói gì với chị không?

Helène lắc đầu. Gã nhìn sát vào mặt cô:

– Chị sẽ làm gì khi tìm thấy số tiền đó?

– Tôi sẽ nói với bọn cảnh sát rằng, chồng tôi không bị sưng phổi gì cả, họ đã giết ảnh, làm cho tôi góa bụa. Số tiền đó là của tôi.

– Của chúng ta – Rusty nói.

Người đàn bà ấn những ngón tay vào lòng bàn tay của người đàn ông:

– Ảnh đã nói với anh chỗ giấu tiền phải không?

– Ảnh có nói nhưng không rõ ràng lắm. Tôi nghĩ rằng, phải đến gặp chị để cùng nhau tìm cho được chỗ giấu tiền. Nơi đây, tôi là người lạ, dễ làm cho cảnh sát nghi ngờ. Nếu có chị giúp đỡ, chúng ta sẽ thành công nhanh hơn. 56.000 đô la là một gia tài lớn, chúng ta cùng chia nhau.

– Đây là một áp phe chăng?

Rusty búng đầu tàn thuốc, mắt lấp lánh:

– Không phải đâu, He lènẹ Đây là vấn đề tình cảm – Gã tiếp tục bằng giọng ngắt quãng – Có thể… tôi hơi bị sốc… hai năm trong tù, hai năm không có đàn bà. Chị nghĩ sao, với một người đàn ông đầy sinh lực như tôi…?

– Tôi cũng đã trải qua hai năm như anh.

Gã quàng tay qua người cô ta, siết chặt vào lòng. Môi họ tìm nhau.

– Em có phòng riêng chứ!

– Vâng, Rusty.

Họ cùng đứng lên, dìu nhau đi về cuối đường. Những mẩu tàn thuốc rơi vãi trên nền cát, nhấp nháy…

*** Gã bật hộp quẹt mồi điếu thuốc, cố ngăn cảm giác lộn mửa đang dâng lên. Thật là chán ngấy khi phải ân ái với một đống thịt sồ sề. Nhưng phải chịu đựng. Phải chịu đựng thôi. Cho tới bây giờ, mọi việc đang diễn ra tốt đẹp. Trở thành bạn thân với Mike trong tù, gã đã lần dò được sự liên hệ của hắn ta và vợ, gã mang máng biết rằng Mike đã giết người và đang cất giấu một số tiền lớn. Giờ thì Mike đã chết vì bệnh sưng phổi, nhưng gã dại gì nói cho Helène biết điều đó, gã đã đổ thừa cho cảnh sát để gây lòng căm thù nơi Helènẹ Có như vậy, cô ta mới nhiệt tình cộng tác với gã. Cho nên, sau khi ra tù, gã đã thuê xe đến ngay Haisesville, vì theo lời Mike, Helène đang làm việc trong một tiệm rượu tại đây.

Giai đoạn đầu của kế hoạch, gã đã thực hiện xong. Nhưng qua phần hai thì chắc là gã phải thay đổi: Đó là dự định sống chung với người vợ góa của Mike sau khi lấy được số tiền. Gã nhăn nhó trong bóng tối khi Helène quàng tay qua cổ gã và tựa tấm thân nái xề nhão nhẹt vào phiến ngực trần rắn chắc của gã, kèm theo tiếng thở hồng hộc như bị hen suyễn. Thật tởm. Không, không thể tiếp tục như thế này mãi được.

– Anh yêu, anh đã dậy rồi hở?

Trời ạ, nghe hai tiếng “anh yêu”, gã nổi cả gai ốc.

– Anh ơi.

Gã dụi điếu thuốc vào góc tường:

– Em cần nói bây giờ phải không?

– Chắc chắn là vậy.

– Anh nghĩ rằng, tốt hơn hết là chúng ta nên hoạch định chương trình rõ ràng.

– Anh thật có lý, con búp bê của em.

Gã gỡ tay Helène ra, ngồi dậy:

– Trước khi chết, Mike đã nói với anh rằng, không ai tìm thấy số tiền ấy đâu, vì Pete đã luôn luôn giữ nó bên mình.

– Chừng đó thôi à?

– Em muốn gì hơn nữa? Thật rõ ràng như nước chảy trên đá. Tiền đã được chôn cùng thi thể Pete Taylor.

Gã cảm thấy hơi thở của Helène phả lên gáy gã:

– Em biết ở đó có đất và cả nước nữa. Nhưng từ hai năm nay, cảnh sát đã đào xới khắp nơi, trong vựa thóc, trại bỏ hoang, vét cả hồ nước… nhưng không tìm ra Pete.

Rusty trầm ngâm một lát:

– Pete và chồng em là bạn thân phải không?

– Vâng.

– Họ thường nhậu nhẹt, chơi bài cùng nhau chứ?

– Không, họ chỉ đi săn hoặc đi câu cùng nhau. Pete có một cái nhà nhỏ gần hồ.

– Gần Norton Center?

– Như em đã nói với anh là người ta đã đào xới khắp chung quanh đó rồi.

– Cả nơi để thuyền à?

– Pete không có thuyền. Thường họ mượn thuyền của người láng giềng để đi câu – He lène thở dài – Từ hai năm nay, em cũng đã thử tìm mà không thấy.

– Em hãy nhớ lại xem, có gì lạ xảy ra trong ngày Pete bị giết không?

– Tất cả đều là ngẫu nhiên thôi. Nhưng người ta đã buộc tội Mike đã phá xe của Pete khiến hắn phải nhờ Mike đưa đi giùm. Khi Mike trở lại một mình và Pete biến mất cùng với số tiền, họ đã bắt giam Mike.

– Khi Mike trở lại, anh ta nói gì với em?

– Ảnh không có thời gian. Vì hai phút sau đó, xe cảnh sát đến dẫn anh ta đi.

– Trên người anh ta, có gì lạ không?

– Bàn tay của ảnh rất dơ và dính máu, ảnh lầm bầm nguyền rủa loài chuột cống. Trước toà án, ảnh nói ảnh bị một mảnh gương cứa đứt tay, nên máu dính vào xe. Nhưng khi phân tích, máu đó lại cùng nhóm với Pete, Đó chính là lý do Mike lãnh án.

– Rất tốt. Mike đã nhắc đến những con chuột cống, có thể là anh bị chuột cắn khi chôn giấu thi hài. Nếu cảnh sát biết được điều này, họ sẽ tìm đến những nơi có nhiều chuột… cho nên anh ta phải nói dối là đã bị đứt tay.

– Nhưng điều đó sẽ dẫn anh đi đến đâu? Anh có thể đào xới hết tất cả những chỗ có chuột chung quanh Norton Center ư?

Rusty đánh tách ngón tay:

– Em đã nói rằng, khi Mike và Pete đi câu, họ thường mượn thuyền hàng xóm. Vậy thì người hàng xóm đó có nhà để thuyền chứ?

– Họ để trong nhà kho.

– Cảnh sát đã lục ở đó chưa?

– Em không biết.

– Có thể cảnh sát đã bỏ sót một vài chỗ. Nhà kho ấy giờ còn dùng được nữa không?

– Người láng giềng đã đi xa rồi. Bây giờ, nhà kho đó bỏ trống, kể cả căn nhà của Pete vì hắn không có vợ con gì cả.

– Rất hy vọng tìm thấy số tiền ở đó. Tối mai chúng ta bắt đầu nhé.

Helène lại ngã vào lòng gã. Gã vuốt ve bộ ngực nhão của cô, cố gắng nghĩ đến số tiền sắp tìm thấy để khỏi lợm giọng. Thế nào cũng phải tống cổ cô ả này đi thôi.

*** Họ đi đến hồ bằng một con đường cát, vòng quanh Norton Center. Đêm cuối năm, quang cảnh hồ tối tăm hoang vắng.

– Tắt đèn pha đi em.

– Yên chí. Ở đây chả có ma nào đâu.

Họ cho xe vào phía sau căn nhà nhỏ của Pete. Căn nhà bỏ hoang đã lâu, trống huơ trống hoác.

– Ở đây có lẽ không có gì đâu. Chúng ta ra chỗ nhà kho để thuyền đi.

Nhà kho đứng sừng sững sau một cái đập nhỏ, trước hồ. Không khí ẩm ướt, đầy bóng tối và bùn lầy. Helène đi trước, Rusty đi sau với ý nghĩ nhặt một viên đá đập thẳng vào sọ cô. Không, nên chờ dịp khác tốt hơn, phải tìm cho ra số tiền đã.

Cánh cửa nhà kho đóng im ỉm với một ổ khóa to tướng đã mục rỉ. Rusty dùng một cục đá nạy ra dễ dàng.

– Chúng ta vào đi.

Họ giật mình dội lại khi thấy hàng trăm đốm đỏ di động trên nền nhà. Mắt của lũ chuột. Chúng đang chạy trốn luồng ánh sáng từ cây đèn bấm trên tay Rustỵ Gã thì thầm:

– Lũ chuột đã đến đây. Giả thuyết cúa chúng ta rất đúng.

Tia đèn lia trên nền xi măng, nơi đây, đất đá đã bị cào xới.

– Em đã nói với anh rồi, họ đã lùng sục khắp hết.

Rusty rọi đèn lên trần nhà. Trần làm bằng giấy tráng dầu, cách biệt với mái.

– Em không lưu ý gì cả ư?

– Gì cơ?

– Mái nhà quá cao so với trần nhà.

-…

– Có thể… có một chỗ trên ấy. Hãy lắng nghe xem.

Cả hai im bặt. Trong sự yên lặng, họ nghe như có tiếng mưa rơi đập trên mái. Ồ không, không phải mưa và tiếng động cũng không phát ra từ trên mái. Đó là tiếng khua của những bàn chân nhỏ chạy giữa trần và mái nhà. Lũ chuột. Chúng vẫn còn đông đảo ở đó.

– Đưa cho anh cái thang.

Helène tìm thấy cái móc sắt, cô đưa cho Rusty khi gã tìm nơi tựa cái thang vào tường. Gã chọc thủng tấm giấy tráng dầu và đu người lên trần nhà dễ dàng. Lũ chuột đã chạy trốn hết trong các kẽ nứt. Gã bật đèn bấm. Khỏi cần nhìn xa, chiếc hộp bằng kim loại đen ở ngay trong tầm mắt gã, bên cạnh có một vật thể lờ mờ. Rusty biết đó là Pete. Chỉ có thể là Pete chứ không ai vào đây được, dù lũ chuột đã biến hắn thành bộ xương khô khốc, không một rẻo vải, một mảnh thịt nào còn sót lại. Gã ngửi thấy mùi tiền bốc lên chế ngự hẳn bầu không khí hôi hám tù hãm đang bao quanh gã. Lòng gã rộn lên. Một cuộc sống huy hoàng đang chờ đợi gã, nhà lầu, xe hơi, làn da mềm mại của những người đàn bà đẹp sắp quỳ xuống bên chân gã…

– Anh có thấy gì không? Helène hỏi.

– Hãy giữ lấy cái thang, anh xuống đây.

Gã đưa cho cô gái cái móc và cây đèn nhưng giữ chiếc hộp kim loại lại. Thời gian hành động đã đến. Nhưng gã chưa kịp xác định vị trí của đỉnh đầu Helène thì chân gã như bị hụt hẫng. Gã té nhào xuống đất, đầu va vào một cạnh sắc, gã ngất đi.

Khi tỉnh dậy, gã cảm thấy đau ở cổ tay và mắt cá chân vì bị dây thừng siết chặt. Gã mở miệng và tiếng kêu tắt nghẹn trong cổ họng: Helène đã tọng vào miệng gã một cái khăn mùi xoa.

Dưới ánh đèn, gương mặt Helène trở nên lạ lẫm, cô không còn đeo mắt kiếng nữa và trở nên nhanh nhẹn khác thường. Cô cúi xuống nhặt chiếc hộp kim loại ôm vào lòng, giọng cô the thé:

– Tôi không cần dàn cảnh nữa. Anh đã bắt đầu hiểu chưa! Mike đã giết Pete vì ghen tuông mà thôi. Anh chưa kịp chỉ chỗ giấu tiền cho tôi thì bị bắt. Trong nhà tù, ảnh càng không thể tiết lộ chuyện này nên đành bảo tôi hãy chờ ảnh về hoặc một người nào đó sẽ đến. – Cô cười khẽ – Tại sao tôi lại hại anh? Xin lỗi nhé, tôi chỉ tự vệ thôi vì anh định giết tôi, đúng không nào? – Giọng cô trở nên dịu dàng – Tôi thông cảm sức chịu đựng của một tù nhân, nhưng trong hai năm qua tôi cũng như đang bị tù. Bị tù vì lớp mỡ bao bọc quanh thân, vì mái tóc hung gớm ghiếc, vì cặp kiếng cận không cần thiết… Để làm gì ư? Tôi cố tạo như thế vì một người đàn bà xấu xí sẽ không còn bị ai dòm ngó. Bây giờ thì tôi sẽ ra đi. Với số tiền này, tôi sẽ vào mỹ viện làm mất 20 ký thịt dư, sẽ nhuộm lại tóc… và trở thành Helène Krauss tuyệt vời của những ngày tháng cũ. Cuộc sống tươi đẹp đang mỉm cười với tôi.

Rusty ú ớ.

– Đừng lo ngại, không ai tìm thấy chúng ta đâu. Tôi sẽ khóa cửa để anh được yên tĩnh cùng bầy chuột. Giữa chúng ta không có hợp đồng nào cả. Thật rõ ràng như nước chảy trên đá. Giọng Helène vọng lại từ cửa.

Helène quay lưng về phía Rustỵ Trong một giây, gã cong người bật dậy, tống hai chân bị trói về phía trước, Helène ngã lăn ra. Điên cuồng, Rusty dộng tiếp vào mặt cô. Ngọn đèn rơi vỡ tắt ngấm, gã vẫn không ngừng đạp vào nơi phát ra tiếng rên la… Rồi tất cả chìm vào yên lặng.

Gã lắng tai nghe một hơi thở dù chỉ thoảng qua, nhưng không hề có. Gã lăn về phía trước, bàn tay chạm phải một thi thể cứng đờ, nóng và nhầy nhụa. Gã rùng mình, lùi trở lại. Bóng tối trở nên dày đặc.

Gã cọ mạnh đôi tay vào một vật cứng vừa chạm vào lưng gã. Cườm tay gã tuôn máu nhưng sợi dây vẫn giữ chặt. Tuyệt vọng, gã húc đầu vào cánh cửa đóng kín, gã muốn đẩy Helène về một bên để được ra ngoài. Nhưng vô ích. Thân hình cô ta quá nặng nề thô kệch, ôi quỷ tha ma bắt tất cả đi cho rồi.

Chiếc khăn mùi xoa vẫn đè mạnh cổ họng gã. Gã muốn hét to lên rằng, Helène ơi, hãy tránh ra để gã đi, rằng cả hai đứa đang bị cầm tù đấy và tiền bạc bây giờ không còn quan trọng nữa. Đây chỉ là sự hiểu lầm mà thôi, gã không bao giờ làm điều xấu cho cô và cho bất cứ một ai. Đơn giản là gã muốn thoát khỏi nơi này.

Gã cảm thấy đau nhói ở đầu ngón chân cái. Lũ chuột đã đến.

THÙY AN

TRẦM KHÚC HOÀNG HOA

Ngọn gió nào thổi qua triền dốc cũ
Sáng mùa đông lãng đãng lạnh mù sa
Đường lên đồi chắc em còn ngái ngủ
Đánh thức tôi cùng trầm khúc hoàng hoa.

Ngày tháng ấy tôi lạc trong mộng mị
Bơi trong sương khúc hát khắp núi đồi
Bơi giữa rừng hoa vàng màu cổ tích
Tóc người bồng bềnh một nhánh mây trôi.

Cao nguyên mùa nầy chìm trong mưa bụi
Những nụ quỳ lấp lánh giọt sương đêm
Dịu dàng nở níu chân người lữ khách
Sắc hoa vàng hàm tiếu vội lên men.

Trong nắng gió ươm tình yêu dịu ngọt
Màu đất nâu thơm nỗi nhớ khôn cùng
Gieo thương nhớ trong sắc màu rực rỡ
Người yêu người khao khát chuyện thủy chung.

Những mùa hoa đắm say người đến vậy
Giấc mơ hồng trôi giạt phía trời xa
Yêu nồng nàn dẫu hoa về cùng đất
Bên kia đồi còn vọng khúc hoàng hoa.

NGUYỄN AN BÌNH

Nhìn đi đâu?

“Oh, my God! Did you see that?”

Tôi giật mình, trợn tròn con mắt, “See what?” Trong đầu hình dung cảnh một tên ôm bom tự sát vừa vạch ngực áo, phô bày những thoi chất nổ màu nâu sậm, quấn viền quanh bụng. Chứ sao không. Thời buổi bọn khủng bố mọc lên như nấm khắp nơi thế này. Nhưng không thấy tên nào vạch áo, phơi bụng, mặt đằng đằng sát khí hết.

“You didn’t see that?” Vẫn cái giọng trong trẻo, thanh thoát.

Vẫn đứa tôi ngơ ngác, “See what?”

Và trong cái đầu nhỏ hẹp nhưng trí tưởng tượng lại vô cùng phong phú của tôi hiện ra hình ảnh một tay tội phạm, lăm lăm khẩu súng máy trên tay, nhưng cũng chẳng thấy đứa sát thủ nào khoác AK-47 của Nga hay AR-15 của Mỹ trên vai, lững thững đi trên hành lang đông người qua lại hết.

“Don’t tell me you didn’t see that!” Đôi môi hồng lại lao xao. Tôi ngẩn ra như đứa trẻ không thuộc bài, bị cô giáo tra vấn.

“See WHAT?”

“Thiệt tình, đàn ông mấy anh, có mắt cũng như không!” Cô gái lắc đầu. Xin nhấn mạnh là cô vẫn nói bằng tiếng Anh đấy nhé. Tôi chỉ lập lại bằng tiếng Việt cho dễ hiểu thôi.

Trí tưởng tượng phong phú trong cái sọ nhỏ hẹp của tôi càng lúc càng phình ra, tưởng chừng sẽ làm nứt toác những khúc nối xương sọ. Tôi hình dung một cô gái tóc vàng đứng thẳng, vai xuôi, hai tay buông thõng, bàn tay xòe rộng. Những ngón tay có móng sơn màu hồng thắm duỗi ra. Ngao ngán. Buông xuôi. Vô vọng. Cử chỉ mà những người vợ, sau một ngày làm việc vất vả, về đến nhà, thấy nhà cửa bề bộn, con cái nheo nhóc, nhơ nhớp, bẩn thỉu, mà chồng thì đang ngồi trước màn hình ti vi, xem nốt trận chung kết giải túc cầu quốc tế. Tôi chớp mắt vài lần để xua cái hình ảnh không mấy đẹp ấy đi.

Cô gái vẫn ngồi cạnh tôi. Cô đang lắc đầu. Chẳng biết lắc đầu vì lý do gì, nhưng xem ra có vẻ ngao ngán lắm, cái lắc đầu thay cho ý nghĩ sẵn sàng buông xuôi. Tôi bứt rứt nhìn quanh. Thấy cái gì mới được chứ? Thiên hạ đi qua đi lại, đủ mọi thứ người, tôi có thấy gì khác thường đâu.

“Không thấy thật hả?”

“Không.” Tôi quả quyết.

“Cái túi xách hai chục ngàn đồng?”

“Túi xách nào?”

“Túi xách con nhỏ (kiểm duyệt bỏ) đeo trên vai chứ đâu.”

À, con bé (lại kiểm duyệt bỏ) thì tôi biết. Cái người đã làm tôi mất ăn mất ngủ bao lâu nay; cái người khiến tôi mất bao nhiêu thời gian khai đi khai lại những chuyện ấm ớ ở đồn cảnh sát; cái người khiến tôi đặt vấn đề với chính mình rằng bản hiến chương có tên The Charter of Rights and Freedoms của Xứ Tuyết bảo vệ mọi thứ quyền cơ bản của người dân nhưng có bảo vệ luôn cái quyền nhìn (và) ngắm hay không. Tôi nhớ có thấy người đàn bà ấy đeo cái túi trên vai nhưng cái túi là cái túi, chẳng có gì khác lạ hết.

“Đàn ông các anh thật vô tích sự. Cái túi lồ lộ như vậy mà không trông thấy, vậy thì lúc con nhỏ ấy đi qua, anh nhìn cái gì?”

Tôi giật mình. Lúc người đàn bà trẻ ấy đi qua tôi quả có nhìn, nhưng nhìn cái gì thì tôi không chắc lắm. Mà có chắc tôi cũng không dám mạnh dạn nói ra. Bởi cái người vừa mới hỏi tôi “Did you see that?” là một cô luật sư chẳng những chuyên về luật hình sự mà còn đặc biệt chuyên biện hộ những tội liên hệ tới sách nhiễu tình dục. Và tôi đang là thân chủ của cô ấy. Người đàn bà vừa đi qua, vai đeo cái túi xách hai chục ngàn đô là người tố cáo tôi có hành vi sách nhiễu tình dục. Và chúng tôi đang ngồi trong hành lang tòa án, giữa giờ nghỉ giải lao của tòa.

“My God! Cái túi hàng hiệu ấy tôi mơ ước từ lâu lắm rồi mà chưa dám mua!” Cô luật sư biện hộ của tôi thở dài. Và chờ cho nỗi u uẩn lắng xuống, cô quay sang tôi, “Đấy nhé, nhìn là một chuyện mà có thấy không lại là chuyện khác; và đó mới là điều quan trọng. Lát nữa vào tòa, tôi sẽ đem cái lý luận ấy ra để đập công tố viên. Mình sẽ thắng. Anh cứ chờ mà xem.”

Khúc phim ngắn buổi sáng hôm ấy còn mãi trong trí nhớ tôi. Nhìn và thấy là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Và điều làm tôi suy nghĩ là tôi nhận ra rằng cũng có hai mắt như nhau, cũng nhìn về cùng một hướng, nhưng hình ảnh ghi nhận được lại không giống nhau, nếu kẻ nhìn là hai người khác phái.

Tưởng tuợng nhé. Bạn là người đàn ông bảnh trai, bạn đi dạo với nửa kia của bạn trong thương xá, nửa kia của bạn cũng dễ thương, xinh xắn hết biết, sau khi để bạn chờ ngoài cửa tiệm giầy bốn mươi lăm phút, để thưởng công bạn đã chờ đợi và tán dương đức kiên nhẫn của bạn, nàng mua cho bạn ly Bubble Tea, cái thứ nước mà người Việt mình gọi là trà sữa trân châu. Rồi hai người lững thững đi bên nhau và bạn vừa nhấm nháp cái chất lỏng ngọt lịm và lạnh buốt vừa giả vờ chăm chú lắng nghe nửa kia thao thao kể cho nghe về những món hàng đang on sale trong tiệm giầy. Điều tôi muốn nói là nếu bạn để ý nhìn ánh mắt của những cô gái, của những bà xồn xồn, ngay cả của những nữ bô lão đi ngược chiều với bạn trước và sau khi bạn cầm ly Bubble Tea trong tay, bạn sẽ thấy sự khác biệt lớn lao. Lúc chưa có Bubble Tea, sẽ không có một phụ nữ nào đi ngược chiều với bạn, để mắt nhìn bạn dù chỉ một giây đồng hồ, mà phần lớn nếu có nhìn thì sẽ nhìn nửa kia xinh xắn của bạn. Đến khi bạn có ly Bubble Tea trong tay, bạn sẽ bắt gặp những cái nhìn đắm đuối từ những phụ nữ đi ngược chiều, những cái nhìn đắm đuối không phải cho bạn (dĩ nhiên), cũng không còn cho nửa kia nóng bỏng của bạn, mà cho ly Bubble Tea bạn cầm trong tay. Không tin bạn cứ thử mà xem. Tôi đã thực hành trắc nghiệm này nhiều lần và lần nào kết quả cũng giống nhau.

Ngược lại với các chàng trai, với các ông – nói chung – thì dù là ly Bubble Tea hay là ly gì đi nữa thì nếu có nhìn, các chàng thanh niên, các ông có tuổi… sẽ chỉ nhìn cô gái, tức là nửa kia của bạn mà thôi.

Nêu lên sự kiện rằng kết quả của thí nghiệm này chính xác, tôi không ngụ ý phê phán là phái nữ yêu thích Bubble Tea nói riêng và các món ăn nói chung (nghĩa là ham ăn), tôi chỉ muốn xác định cái lý thuyết rằng dẫu đàn ông và đàn bà cùng nhìn một thứ thì hình ảnh hiện lên trong võng mạc hai người vẫn hoàn toàn khác nhau.

Từ cái chuyện vặt ấy nở ra những thắc mắc khác cũng lặt vặt không kém. Tôi biết các cô sinh viên y khoa gốc Việt khi đi thực tập thường mang theo ô mai, xí muội, tầm ruộc để nhâm nhi nhưng tôi thắc mắc không biết khi đã ra trường hành nghề, các nữ bác sĩ có mang theo gói tầm ruộc, ô mai, me dầm, cóc dầm chấm muối, ổi, xoài… – toàn những thứ độc địa dưới con mắt người thầy thuốc – trong cặp sách, bên cạnh cái ống nghe không. Và tôi phát hiện ra là: có! Không tin bạn cứ hỏi bất kỳ bác sĩ Việt Nam nào mà xem.

Thì ra dù ngồi trên ngôi cao nữ hoàng, trong phòng thí nghiệm không gian của NASA, dù là phi hành gia đi bộ ngoài không gian, hay là chánh án tối cao pháp viện, dù là chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền hay chỉ là người nội trợ khiêm nhường các cô muôn đời vẫn là… các cô: dễ thương và… dễ thương hết biết.

Trở lại chuyện cái túi xách hàng hiệu. Từ lúc ngồi cạnh cô luật sư hình sự trong hành lang tòa án ngày hôm ấy, tôi bắt đầu học cách nhận diện những túi xách hàng hiệu. Một cô bạn của em gái tôi có thói quen sưu tập túi xách. Bộ sưu tập của cô lên tới hàng trăm món, từ những cửa hàng trứ danh trên thế giới, những cái tên mà tôi nghe như vịt nghe sấm nhưng lại là những cái tên có thể khiến nhiều người gọi thầm trong giấc ngủ: Chanel, Fendy, Hermes, Hilde Palladino, Lana Marks, Louis Vuitton, Marc Jacobs, Mouawad, Prada, Judith Leiber… (Những cái tên này tôi nhờ Google chỉ giùm chứ thật ra chẳng biết ất giáp gì.) Cô mua túi xách về, giấu biệt trong một cái walk-in closet của riêng cô, lâu lâu đem ra ngắm nghía, chuyện trò với cái túi, rồi lại cất vào góc tối. Những khi chồng cô có việc, phải đi xa hàng tuần lễ, phải ở nhà một mình nhưng cô không lo lắng, không buồn phiền. Cô cũng chẳng buồn chán hay cô đơn, bởi cô có thể đem toàn bộ sưu tập của mình rải đầy phòng khách, lan qua phòng ăn, xuống tận nhà bếp. Đứng trước rừng túi xách, như vị nữ tướng đứng trước đoàn quân tinh nhuệ, cô đắm đuối nhìn chúng. Cô vuốt ve cái mềm mại, mịn màng, mướt mát của lớp da, cô cầm từng cái xách tay lên hít hà mùi da mới thơm ngây ngất. Cô chuyện trò với từng đứa như chuyện trò với người bạn thân lâu ngày không gặp. Rồi cô cứ để rải ra như thế suốt mấy ngày chồng vắng mặt. Mỗi tối, cô lựa một vài “đứa” mà cô yêu thích nhất, cho ngủ chung giường với cô. Cứ thế, những ngày chồng đi xa lại là những ngày hạnh phúc nhất trong đời cô.

Những lúc chồng có nhà, để hợp thức hóa sự có mặt của đám túi xách xâm nhập gia cư bất hợp pháp, thỉnh thoảng cô đem một cái túi ra, lượn qua lượn lại cho chồng thấy và chờ chồng hỏi cái câu quen thuộc, “Mua hồi nào vậy?” là cô nhanh nhảu, “Mua lâu lắm rồi, cũ xì anh hổng thấy sao.” Và anh chồng dễ tính của cô cũng lại nhìn cái túi xách mà chẳng thấy gì hết, bèn xuống giọng, “Vậy sao!”

Hết chuyện.

Cô gái ấy là chuyên viên cao cấp về túi xách hàng hiệu. Và cái chân lý nhìn và thấy là hai chuyện hoàn toàn khác nhau bao giờ cũng đúng. Nhiều lần tôi muốn nhờ em gái nói với cô bạn cho tôi học một khóa nhận diện túi xách, nhưng con bé em khó chịu, không muốn anh mình vướng vào những chuyện không nên vướng, tôi đành thôi.

Để đền bù công ơn cô luật sư hình sự đã giúp mở mắt tôi để biết nhìn những thứ có giá trị – dù là vật chất – và quan trọng hơn là giúp tôi trắng án trong phiên xử ấm ớ ngày hôm đó – dĩ nhiên là trắng án bởi người ta chỉ nhìn mình một cái mà đã vội la toáng lên là bị sách nhiễu, là bị “he stared at me” thì ai mà tin được – tôi hứa với lòng là từ nay sẽ cố lựa thứ để nhìn cho phải phép.

Và nhìn thì phải thấy mới không uổng công vén mắt nhìn.

Bởi NHÌN và THẤY là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

HOÀNG CHÍNH