THU MÊNH MÔNG

Tháng chín mưa dầm trên mái ngói
Người ra đi chia nửa trời sầu
Chẳng lẽ như chim lười biếng hót
Mà người thì thôi đã quên nhau

Tôi về nghe thu rơi với mộng
Nắng vàng hiu hắt ngủ bên hiên
Ngẩn ngơ lá rụng trong hồn mỏng
Nụ cười thơm ngát giấc man thiên

Hay đã xa rồi mưa dưới gót
Con đường tình tự cỏ cây vàng
Tháng chín tôi về hoa lá khóc
Nhớ người nước mắt nhỏ mênh mang

Hái nụ tình hồng nghe rất lạ
Thương áo người xanh buổi tiễn đưa
Tay đan đứng dưới chùm lá nõn
Mới biết yêu nhau thế cũng vừa

Người đi mùa dâu vàng năm ngoái
Nên có khi buồn như hôm nay
Một mình nghe cả mùa thu tới
Đôi mắt tình không cứ thở dài

Tháng chín tôi về xa như gió
Chút lòng cuồng ngã giữa chiêm bao
Nhớ áo xanh ngày xưa quá đỗi
Ngoài trời mưa gõ nhịp mưa mau

Tháng chín vàng đôi tay ngưỡng vọng
Ôi khóm tường vi đứng ngậm ngùi
Người đi thuở ấy không còn nhớ
Mưa hồng rơi xuống xót xa tôi.

PHẠM KHÁNH VŨ

NGƯỜI ĐI THEO GIÓ

“Đồi xưa sim tím mênh mông
Hoa phai đất ủ phấn hồng lệ vương” thơ Hạ Quốc Huy

1.
Gió qua để lại lao xao
Em còn cặp sách nôn nao phượng hồng
Người nơi lửa đạn phiêu bồng
Em chưa kịp tuổi pháo hồng vu quy

Thì thầm gởi gió bay đi
Nhớ ai ? Gió hỏi.
Cớ chi lệ trào ?…

Tin em nhắn gió năm nào
Hồi âm không vọng dù vào chiêm bao

2.
Cài lên cửa khép trúc đào
Em gieo nắng muộn ngọt ngào thảo trang…

Vì xưa chinh chiến quá quan
Gió đi để lại dặm ngàn tình hoa

Vì xưa sông núi thiết tha
Súng gươm sinh tử dẫm qua luân hồi

Vì xưa hoa tím trên đồi
Hái trao kẹp tóc, mắt cười dễ thương

Lòng quê mộc mạc vấn vương
Mười hai tuổi dại
chợt thương phong trần

3.
Mười năm ngập nắng vàng sân
Em thành thiếu nữ đợi lần ghé thăm

Thêm mười mùa phượng úa tàn
Chàng đi biền biệt chưa lần tạt qua

4.
Người về cửa biển mờ xa
Làm chim gãy cánh
phôi pha ngựa hồng…???

5.
Đồi xưa sim tím mênh mông
Hoa phai đất ủ phấn hồng lệ vương

Tìm anh khắp nẻo bụi đường
Chàng đi theo gió, phong sương bình bồng

Nổi trôi đất khách, tuyết Đông
Lạnh đời gió bạt tóc lồng lao đao

6.
Chiều nay mưa ướt trúc đào
Thềm rêu bật khóc, nghẹn ngào hoa ơi

HẠ QUỐC HUY

Biệt Khúc.

Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Năm qua tháng lại giữa dòng áo cơm
Qua sông từ buổi lạnh trơn
Dấu da thịt vết triện son bi hùng

Mỗi bước đi đã nghìn trùng
Bài thơ tống biệt để lòng nhói đau
Về đi có lá rơi mau
Con đường xuân rụng có màu khói sương..

Ta đi qua những đoạn trường…
Để nghe biệt khúc vô thường quanh đây
Chiều xuân chùng tím phương nầy
Nhớ mùa binh lửa chưa dày sử xanh

Ba năm liên khúc quân hành
Đếm mùa ly loạn trên cành lục quân
Đạo làm vua nghĩa quân thần
Ta ngồi ôn lại mây tầng quân bay…

Xuất quân đi… miễn chiến bài
Bài ca tử thủ bi hài nước non
Ra đi từ lúc tuổi son
Ngày về lại hóa bẽ bàng chinh y

Bước đi di lụy tà huy
Ta về thấp thoáng hàng quỳ SV..
Đứng lên đi các SQ
Ta về đứng giữa hai hàng AK…

hoa nguyên.

LĂNG GIÀ TÂM: TRẦM MẶC TRĂNG NGÀN

Thơ là tiếng hát ngàn năm, thâm thiết, miên man trong tâm hồn nhân thế, còn mãi đồng vọng, âm vang cao vút tận trời mây lẫn trong sương gió, nắng mưa giữa mùa trăng ngời xanh biếc huyền mộng. Trăng là hơi thở sơ nguyên của vũ trụ, hòa quyện thiết tha, nuôi dưỡng lòng người muôn thuở, là nguồn cảm hứng muôn nơi cho biết bao thiền sư, thi nhân, nghệ sỹ đi về trên cung bậc sáng tạo, khơi mở dòng đời :

Trời mênh mông đất mênh mông
Ta ngồi ngoảnh lại chiều đông qua rồi
Xuân về khoe sắc nơi nơi
Nghe trong cổ lục tàng khơi trăng vàng

Xuân là Tâm xuân, đất trời mới mẻ, tinh khôi trong lòng mình. Trăng vàng chiếu ra từ những trang cổ lục, cảo thơm, là hình ảnh ánh trăng tuệ giác siêu việt của nhân loại đã kết tinh từ thiên vạn cổ đến nay. Đó là vầng trăng Đức Phật, trăng Long Thọ, trăng Bồ Đề Đạt Ma, trăng Huệ Năng, trăng Lâm Tế, trăng Tuệ Trung Thượng Sỹ, trăng Không Lộ, trăng Huyền Giác… vẫn sáng ngời ngời, soi bước cho biết bao con người vượt qua bóng đêm dài sinh tử…Phải chăng, đó cũng là “Vàng trăng như thị thiên thu dặm ngàn” mà nhà thơ Lăng Già Tâm cảm nhận, khi chiêm ngưỡng vầng trăng Tâm xuân giữa canh trường khuya vắng :

Trăng vô biên trăng hiện tiền
Nước trong trăng hiện ưu phiền lãng du
Nghiêng tay nhẹ vén mây mù
Vàng trăng như thị thiên thu dặm ngàn

Dặm ngàn thiên thu trên từng bước như thị về, bàng bạc ánh trăng thi ca lãng đãng, trông thật thanh thản, an nhiên, muôn chiều phiêu hốt. Còn gì hân hoan hơn, khi bất ngờ thấy ra nguồn cội, bản lai diện mục của mình, dưới ánh vàng trăng tỏa bừng quang đãng :

Nghe trong tự tánh âm vang
Cô luân nguyệt tỏa ánh vàng lung linh
Trăng soi mặt mũi chơn hình
Ngàn thu trăng chở vô thinh cội nguồn

Tự tánh thanh tịnh vốn sẵn hiện hữu tự bao giờ, luôn luôn có mặt sờ sờ ngay trước mắt đó. Thấy là thấy lập tức, diệu dụng ngay giữa thực tại hiện tiền (kiến tánh) còn không thấy thì cứ quờ quạng, lần mò trong xó xỉnh tối tăm, lẩn quẩn chung quanh cái ngã chấp thâm căn cố đế của mình (vô minh) mà thôi.

Từ khi “Nghe trong tự tánh âm vang” nhà thơ Lăng Già Tâm trầm nhiên thõng tay vào phố chợ Biên Hòa, vào ra ngôi chùa cũ, trà đạo cùng tao nhân, mặc khách, tùy duyên Chuyển Hóa* cõi người ta. Ra Phú Yên, về chốn miền thôn dã Hòa Thịnh, thinh lặng ngắm trăng rằm mát rượi, thoảng ngát hương đồng cỏ nội, tịch chiếu quanh vườn cổ tự Phi Lai. Lên núi rừng cao nguyên Đăk Lăk dạo chơi với hoang vu, thác đổ, sương mù. Rồi xuống biển Quy Nhơn, thả hồn thơ ngút ngàn bay theo mây trắng :

Chùa thiêng ngời im lặng
Chuông khuya vang tiếng không
Trăng xưa vờn biển mộng
Ta về trong mênh mông

Biển mộng vờn trăng xưa, long lanh lấp lánh màu vạn đại trước mông mênh đại hải, thấp thoáng bóng ta về, là hình ảnh “cô thân vạn lý du” của Lăng Già Tâm, một nhà sư tự tại, một nhà thơ an nhiên, đang cùng thiên địa Giao Cảm** trong một niềm trăng hằng cửu, chơn thường, bát ngát suối nguồn thương :

Trăng chơn thường
Trời mờ sương
Đời còn vương
Vạn tình thương

Trăng lung linh
Mắt lung linh
Nhập trang kinh
Vang bình minh

Tinh sương, sớm mai hồng lộng nắng vàng óng ánh, xanh biếc cỏ hoa trôi quanh gành đá, tuôn trào rào rạt xuống nguồn suối thương yêu, chảy tràn lan lai láng, bồi hồi. Suối nguồn yêu thương chan chứa giữa đại bi tâm, cuồn cuộn, róc rách reo ca theo dòng nước trong đục dung thông :

Rồi một sớm mai hồng
Đất trời bỗng sáng trong
Dòng suối ven bờ cỏ
Niềm vui rộn trong lòng

Thong dong là niềm vui mừng rỗng rang bừng dậy, để nụ cười bất tuyệt trổ mãi ngàn hoa lá trên đường về cố quận, nơi vườn Tâm ấm áp, chạm hồn trăng Chân Như ở đây và bây giờ, ngay trong từng hơi thở lạc an :

Sóng xao bờ cát
Trăng tỏ lối về
Vườn tâm sáng rạng đường quê
Trời Chân Như ấy bây giờ là đây

Vườn Lòng xưa đã quy hồi, đã về đã tới thảnh thơi. Thi nhân trút sach hết bụi sầu vạn cổ, buông xuống chập chùng, nặng trĩu bao nỗi khổ, niềm đau, sau nghìn dặm lữ làm phong trần khách, lang thang từ vô lượng kiếp, chìm nổi, thăng trầm, chết đi sống lại giữa cuồng phong, sấm sét, ba đào :

Phong trần một kiếp lao đao
Nửa vành trăng khuyết biết bao nhiêu tình
Hỏi cây cây mãi lặng thinh
Hỏi mây mây cứ lênh đênh cuối trời
Đá mòn nhưng dạ chẳng rời
Tào Khê nước chảy sáng ngời Chân kinh
Chiều nay dừng bước phiêu linh
Bên con dốc đá tự tình rong rêu

Phiêu linh dừng gót bên dòng suối Tào Khê, bước lên thuyền Bát nhã, lắng nghe Huệ Năng thuyết Chân kinh: “Nếu thấy hết thảy pháp mà tâm không ô nhiễm cũng không vướng mắc, ấy gọi là Vô niệm. Hoạt dụng hết thảy chỗ mà chẳng mắc vướng chỗ nào, chỉ cần thanh tịnh bản tâm, để cho sáu thức ra vào sáu căn, đối với sáu trần không nhiễm, không dính. Đến đi tự do, ứng dụng vô ngại, tức là Bát nhã tam muội, tự tại giải thoát, gọi là hạnh Vô niệm”. Mỉm cười, thi nhân nhận biết, thẩm thấu sâu xa và thực hành cái tâm không dính măc, kẹt vướng, một cách nhanh chóng :

Không vương không lụy ngoài trong
Vượt sinh tử mộng thoát vòng nhiêu khê
Qua rồi bể khổ sông mê
Thuyền neo bến giác đề huề gió trăng

Trăng gió vẫn đề huề trên đường thơ Lăng Già Tâm, thi nhân vẫn cất bước thung dung, thõng tay vào chốn bụi hồng :

Ta bà nặng gánh có không
Con thuyền Bát nhã thong dong lối về
Người đi rạng nét chân quê
Lời kinh vô tự đề huề gió trăng
Mai này trong cõi cô tung
Lắng nghe tiếng hát từ vùng Nguyên xuân
Có không nào để phân trần
Đến đi rồi cũng một lần ai ơi !
Trăng khuya chếch bóng mộng vời
Con đường sinh tử như lời ca dao
Trăm năm tiếng hát câu chào
Ngàn năm còn lại lời nào cho ta ?

Trăm năm là một kiếp người trong cõi ta bà, với đủ thứ mặn nồng, chua chát, đủ thứ ngọt bùi, cay đắng, lặng buốt tâm can, lòng dạ não nùng. Rồi ngàn năm vời vợi trong cõi vô cùng, vô tận kia, có còn gì nữa không, hỡi trời cao, biển rộng ? Nhà thơ tự hỏi rồi tự đáp, khi ngồi quán chiếu, xuyên suốt tam thế mộng, khắp mười phương, tám hướng, bốn bề :

Tâm nhiên rộn bước đường quê
Tâm Không là chính nẻo về trong ta
Tâm bình ấy bản trường ca
Tâm hòa nhẹ quyện thiết tha ru lời
Ai ơi ! Nhớ lấy nụ cười
Để thiên thu mãi sáng ngời Chân kinh

Chân kinh vô tự vốn không chữ mà đại thi hào Nguyễn Du đã đọc được nên phát biểu: “Khắp cõi là Không tánh thì đâu có tướng. Tâm này vốn thường định chẳng lìa thiền”. Thiên thu nụ cười chỉ có thể bừng nở rực rỡ, từ trên nền tảng tuyệt trần Chân Như tự tánh hay Pháp thân thường trụ mà thôi. Thấy như thế, nên nhà thơ Lăng Già Tâm nhập diệu vào bao la, cảnh giới bát ngát vô lượng thọ, vô lượng quang :

Dang tay đón ánh mặt trời
Nghe trùng dương gọi nụ cười thinh không
Nghe đồng vọng giữa mênh mông
Tiếng Chân Như hiện muôn trùng Pháp thân

Thật vậy, trời đất rộng lớn là do tâm ta lớn rộng, Thiền sư Suzuki đã nói như thế. Chữ tâm là chỉ cho tâm thức con người. Tâm thức quả thật bất khả tư nghì. Muốn nói về tâm, hiểu chữ tâm cho rốt ráo, đầy đủ ý nghĩa, thì không khác gì mình phải đọc lại toàn bộ tam tạng kinh điển, từ Nguyên thủy đến Đại thừa. Ở đây, chỉ cần mấy câu thơ, thi nhân đã miêu tả cái tâm, cái lòng thênh thang như mây trắng :

Kinh vàng tỏa sáng màu trăng
Xuân vàng kết nụ vĩnh hằng trong ta
Sáng nay lòng bỗng bao la
Ý xuân hòa quyện ý ta muôn trùng

Thế là, suốt từ đầu đến cuối, cõi thơ Lăng Già Tâm vẫn trầm nhiên đi giữa ngàn trăng xanh biếc. Trăng phiêu bồng trên tuyệt đỉnh Tâm cao rờn tuyết trắng. Trăng lồng lộng dưới biển Lòng sóng vỗ âm vang. Trăng bảng lảng, bàng bạc trên Đường Trở Về*** quê quán cũ. Trăng ru đưa trên cành trúc biếc, lũy tre xanh, thoảng nhẹ hương cau quanh mái chùa làng thơm rơm rạ, trổ rộ vàng ngát hương bông lúa :

Chùa tôi ngự ở giữa làng
Lũy tre ấm áp trăng vàng lung linh
Ai về ghé mái chùa xinh
Tắm trăng giữa tháng thắm tình quê xưa

Chùa tôi cõng nắng gánh mưa
Nhường cơm sẻ áo cho vừa lòng nhau
Chùa tôi nhẹ thoảng hương cau
Nhẹ điều thương ghét niệm câu Di Đà

Chuông khuya lay động trăng tà
Con chim cánh trắng la đà cõi tâm
Ai về ngọt lịm pháp âm
Ta về tự tánh thậm thâm suối nguồn

Muôn trùng giữa cuộc lữ đó đây, du sỹ này đã mấy lần ghé chùa Phi Lai ở Biên Hòa hay ra tận Phú Yên, về Hòa Thịnh viếng thăm Phi Lai cổ tự, như trở về cố quận tâm linh của mình vậy. Ngồi bên cỏ nội hoa ngàn, rót chén trà trên sân thượng, sương đêm lấp lánh ánh trăng sơ huyền thanh bạch, xanh trong. Thong thả, lắng nghe Lăng Già Tâm đọc những vần thơ đạo vị, cũng đủ cho du sỹ vô cùng phúc hạnh giữa bầu không khí mát lành, ở một vùng sâu heo hút cuối nẻo làng quê. Thế rồi, mấy hôm sau, trước khi lên đường, không quên để lại bài thơ : Phú Yên Miền Thôn Dã, kính tặng thi sỹ Lăng Già Tâm, đồng thời cũng là Hòa thượng Thích Thiện Đạo, bậc tôn túc trong chốn Thiền môn. Một vị thầy có tâm hồn phóng khoáng văn nghệ, rất bao dung và nhập thế :

Về Phú Yên qua mấy làng thôn xóm
Những cánh đồng sông nước lượn bờ tre
Rồi dừng lại cuối nhịp cầu Bến Củi
Hòa Thịnh đây rộn rã buổi quay về

Thơ mộng quá ! Phi Lai ngôi chùa cũ
Đứng cô liêu xanh lặng ngát hương đồng
Lồng lộng gió Tâm Kinh reo tịch mịch
Trăng Lăng Già tỏa rợp ánh mênh mông

Nghe chuyển hóa cả trời mây thấy được
Đường trở về cố quận giữa lòng sâu
Chiều phơi phới trổ hoa vườn tâm nội
Lối an nhiên rơi sạch hết bụi sầu

Ngồi lại đó cho thơ vào giao cảm
Tận đáy hồn đồng vọng khúc hoan ca
Là như thế viên dung cùng vạn hữu
Cười nhẹ thênh trên nhịp bước chan hòa

Tâm Nhiên

* Chuyển Hóa. Tản văn Thích Thiện Đạo. Văn Hóa Sài Gòn xuất bản. Sài Gòn 2009

** Giao Cảm. Thơ Lăng Già Tâm. Hồng Đức xuất bản. Sài Gòn 2016

*** Đường Trở Về. Tản văn Thích Thiện Đạo. Hồng Đức xuất bản. Sài Gòn 2016

Thơ Lăng Già Tâm, trích trong tập thơ Giao Cảm. Hồng Đức xuất bản. Sài Gòn 2016

BƯỚC TÀN PHAI

nhaca

Rồi những chiều đi nuôi nhớ thương
Mây mù chia dạt nắng tha phương
Đường về chân lạnh sầu xa ngái
Tôi thả hồn trôi giữa phố phường

Mà phố chiều nay cũng vắng người
Như lòng hoang vắng mãi không thôi
Sầu xưa thức dậy trên vai nhỏ
Về ướt lòng tay nửa tiếng cười

Thôi thế thôi người đi quá xa
Chiều hôm dòng nước cắt trong da
Bờ cây dài những mùa đông trắng
Sao nói rằng yêu tôi thiết tha

Chân vẫn đi về trên lối xưa
Hồn tôi như lạc giữa rừng mơ
Rừng mơ sương khói pha mù lối
Sương khói mù nâng những bước hờ

NHÃ CA

Nguồn: Thơ Nhã Ca, NXB Thương Yêu, 1972

VĨ TUYẾN

Con!
Nếu vẽ bản đồ,
Hãy nhớ nhẹ tay khi kẻ đường vĩ tuyến
Đừng rạch sâu như địa đạo, chiến hào…
Lỡ nơi ấy chọn làm đường chia cắt
Đất nước sẽ đau như một vết dao

Đừng thù nghịch mà mạnh tay con nhé
Đường kẻ ngang nên vẽ những nét mờ
Để mai mốt ngày non sông thống nhất
Chẳng có vết hằn nào trong trí nhớ trẻ thơ

Có những quốc gia lấy dây thép gai viền vào đường vĩ tuyến
Bao nhiêu năm cào xước tấm bản đồ
Dân nước ấy cả đời dùng nước mắt
Mong rửa trôi lằn giới tuyến mấp mô

Những đất nước lấy nồi da xáo thịt
Mấy mươi năm cách trở chia lìa
Đường vĩ tuyến là vực sâu cách trở
Đứng bên này mà lo lắng bên kia…

Vẽ vĩ tuyến nên thêm cái cổng làng vào con nhé
Cho người đi còn nhớ chỗ để về
Và kiên quyết không vẽ người đứng gác
Để ngày trùng phùng chẳng có đứa nào dám hạch hỏi người quê

Nếu có vẽ thì thêm chiếc cầu vào con ạ
Dập dìu ngựa xe như trong cuộc sum vầy
Đường vĩ tuyến vẽ khoan thai mềm mại
Và nhịp nhàng như lũ trẻ nhảy dây

Đề vào đấy lời nguyện cầu sông núi
Lời tự do, lời hoà hợp, chào mời…
Cài lên đấy nhiều hoa vào con nhé
Để khi nhìn tấm bản đồ
thấy trái đất
thảnh thơi!

Dũng KQĐ

TẢN MẠN VỀ CON ĐƯỜNG ĐẸP NHẤT, SANG NHẤT SÀI GÒN XƯA

1.
Xưa nay, đường Tự Do (tên hiện naylà Đồng Khởi) ở khu trung tâm Quận 1 Sài Gòn dù chỉ là một con đường ngắn và hẹp nhưng vẫn được tiếng là con đường đẹp nhất, sang nhất thành phố Sài Gòn xa xưa và cũng có thể nói như thế về quãng sau tháng 4-75 cho đến nay.
Vừa qua, trên trang trithucvn.net (*), trong bút ký tựa là “Văn Hóa Không Tên Tạo Nên Linh Hồn Của Sài Gòn Xưa”, nhà văn Văn Quang đã ghi nhận rằng trên con đường Tự Do đẹp, sang ấy lại có một chuỗi 3 nhà hàng/quán cà phê là La Pagode, Givral, Brodard đã giữ vai một cái trục văn hóa tốt đẹp, vui sống, cởi mở hết mực của đất Sài Gòn xưa.
Văn Quang kể:
“Nói đến La Pagode, Givral, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này.”
Và:
“Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn”
Khi nói về 3 “đệ nhất” nhà hàng/quán cà phê trên đường Tự Do xưa, nhà văn Văn Quang đã nêu những nhận xét thật sâu sắc, thấu đáo vào phần hồn văn hóa cố cựu của Sài Gòn, chứ không bám vào phần vỏ kinh tế bên ngoài của Sài Gòn, mặc dù trải qua các chế độ khác nhau, thành phố này luôn ở đỉnh cao phồn vinh nhất Việt Nam. Cũng cách nhận xét ấy đã cho thấy trong giới văn nghệ sĩ đất Sài Gòn cũ, tác giả cuốn tiểu thuyết ‘Đời chưa trang điểm’ quả là một đàn anh, một ‘chuyên gia’ về khoản lê la cà phê bia bọt, tán dóc vỉa hè, trước là giải trí /sau là lấy thông tin…
2.
Theo chọn lựa của Văn Quang, được nhắc trước tiên là nhà hàng La Pagode, nằm ở ngã tư Tự Do – Lê Thánh Tôn. Tên gọi ‘Cái chùa’ (nghĩa tiếng Việt của từ ‘la pagode’ tiếng Pháp) cũng khá thông dụng.
Nhà văn Văn Quang kể:
“Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt.”
Đúng là một nhà hàng “cổ kính” khi từ bàn ghế, màu da bọc ghế cho đến quầy, kệ nội thất đều có màu chủ đạo là nâu, rõ hơn là các gam màu nâu cũ kỷ, lâu đời. Riêng về các mặt vách bằng kính thật dày cho phép khách nhìn ngắm đường phố, điều hay ho nữa là loại vách này ngăn được phần lớn tiếng động, tiếng xe cộ ồn ào bên ngoài. Như khi trời mưa lớn, bên ngoài ướt át, lạnh lẽo, sấm chớp rền vang…, nhưng bên trong quán, nhờ các vách kính dày, khách ngồi nhâm nhi tách cà phê hay tách trà lipton chanh nóng (món uống rất thường được khách gọi) thì vô cùng ấm áp, khô ráo, và có ồn ào gì đó là do tiếng tranh luận, cười nói từ các bàn bên cạnh.
Văn Quang viết tiếp:
“Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết.”
Ngoài giới văn nghệ sĩ ‘khách quen’ như trên, tất nhiên trong La Pagode còn thường có một số khách khác, như khác du lịch quốc tế, quân nhân, công tư chức và các bạn trẻ. Có điều là, như một nhà văn đã ghi nhận, cũng lai rai có hiện tượng ‘làm dáng trí thức’, như trên tay một số khách vào quán thường lấp ló những đầu sách – cả nguyên bản lẫn sách dịch – đang hot, đang gây nhiều tranh cải thời ấy, như ‘Hố Thẳm Của Tư Tưởng’ của Phạm Công Thiện, ‘Tropic Of Cancer’ của Henri Miller, ‘Zen Buddhism’ của D.T.Suzuki, ‘Dịch Hạch’ (tiếng Pháp: La Peste) của Albert Camus… Hay ít ra cũng là những tạp chí, tuần báo, nguyệt san Anh ngữ, Pháp ngữ thời danh như Times, Newsweek, L’Express, Salut Les Copains… mà có lẽ người ta vừa mua ở Book Shop, tiệm chuyên bán sách báo ngoại quốc gần ngã tư Tự Do – Nguyễn Văn Thinh, tức cách La Pagode chừng 400m.
Kế tiếp là nhà hàng Givral, cũng 2 mặt tiền toàn vách kính, nằm ở ngã tư Tự Do – Lê Lợi, thuộc hành lang Eden (tiếng Pháp: passage Eden). Từ ‘hành lang’ nghe không qui mô, không bề thế bằng từ ‘thương xá’ – như thương xá Tax gần đó – nhưng khi phục hiện cái không khí văn hóa phong phú, đặc sắc của Sài Gòn, Văn Quang đi sâu vào một chi tiết đặc biệt, rằng trong khu Eden có một hiệu sách nổi tiếng hàng đầu Sài Gòn cũ, không kém cạnh nhà sách Khai Trí bên đường Lê Lợi chút nào, đó là nhà sách Xuân Thu. Xuân Thu nổi tiếng về các đầu sách ngoại văn (nhất là sách nghiên cứu văn hóa – văn minh Pháp và sách giáo khoa chương trình phổ thông trường Pháp) mà giới trí thức, nhà giáo, sinh viên Sài Gòn thời ấy khi cần là có thể đến lục tìm, hay đặt cho nhà sách mua dùm từ châu Âu, châu Mỹ.
Hơn thế, giới ‘chữ nghĩa’ ở Sài Gòn đã không khỏi ngưỡng mộ khi nhìn lên lầu 2 của nhà sách Xuân Thu, nơi khoa chính trị kinh doanh (Science politique) của đại học Đà Lạt tổ chức lớp cao học ‘Science-po.’, ngành học nâng cao à la mode nhất của giới SV đã xong cử nhân một số ngành về khoa học nhân văn tại Việt Nam vào thời từ 1970 trở đi.
Văn Quang viết:
“Givral là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố”( … ). Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi – Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường”.
Cũng phải, dân Sài Gòn ưa ăn bánh Givral bởi nét tao nhã, tinh tế của nền văn hóa ẩm thực Pháp đã tồn tại gần 60 năm tại VN. Givral nổi tiếng với dòng bánh tươi, không dùng chất bảo quản và chất phụ gia độc hại hay không có lợi cho sức khỏe. Và “cái hậu” tốt đẹp của dòng bánh lành, sạch này là là ‘phiên bản’ sau tháng 4-75 mang tên ‘Công ty Cổ phần Bánh Givral, khá có tiếng là bánh ngon, tuy giá cả khá cao chứ không bình dân, với lò sản xuất bánh hiện ở khu công nghiệp Tân Bình, phường Tây Thạnh, Q. Tân Phú, Tp HCM.
Cuối cùng là về nhà hàng Brodard, Văn Quang ghi nhận:
“Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường (…). Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những“dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm.”
Như thế, thành phần khách đến Brodard có tính chất một đại chúng rất đời thường, nặng về ưu thế vật chất và dân đến đây không khỏi ít nhiều có thái độ hãnh tiến, khoe mẻ về sự giàu có, khả năng mua vui, hưởng thụ cuộc đời của mình. So với Givral và La Pagode – nhất là so với La Pagode, nơi ‘đóng đô’ thường xuyên của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ trình diễn… – Brodard có vẻ ít chất văn nghệ, chữ nghĩa hơn.
Theo một ông công chức làm việc ở Phòng Thương Mại Sài Gòn (nằm ở phía cuối đường Tự Do, cách Brodard chừng 300m), đã nhiểu năm hay cùng các đồng nghiệp và gia đình vào Brodard thì với cách trang trí dùng nhiều màu trắng và các màu sáng khác, nhà hàng này giống một tiệm kem, một tiệm bánh ngọt, một quán giải khát hơn một quán cà phê đúng nghĩa giành cho dân ghiền cà phê “chuyên nghiệp”. Tính chất hiền lành, ngọt ngào – thay vì đắng chát như vị cà phê! – càng tỏa lan trong bầu không khí yên tĩnh của Brodard qua một kiểu phục vụ bánh ngọt rất đặc biệt. Khách cứ ngồi tại bàn mà lên tiếng hay ra dấu, nhân viên nhà hàng sẽ mang đến tận bàn một khay lớn bày rất nhiều bánh ngọt, bánh kem kiểu Pháp, như bánh choux, Polonais, mille feuilles… để khách chọn. Như các cô khách, cậu khách nhí, sau khi được ba mẹ gật đầu, sẽ sướng rơn khi cứ thoải mái chỉ vào cái bánh mình thích là bánh sẽ được lấy bỏ vào đĩa nhỏ, dọn ra trước mặt mình…
3.
Ngoài 3 nhà hàng/cà phê La Pagode, Givral và Brodard, đường Tự Do càng hào nhoáng, đẹp mặt hơn – nhất là khi có ánh sáng đèn đóm đủ màu vào ban đêm – khi còn có quán Cafetaria Disco, các phòng trà Tự Do, Maxim’s và Đêm Màu Hồng. chưa kể khách sạn Continental Palace và khách sạn Caravelle nằm 2 bên tòa Quốc hội/Hạ nghị viên, cùng khách sạn Majestic (ở cuối đường, nhìn ra bến Bạch Đằng, sông Sài Gòn) đều có các đại sảnh cực kỳ tráng lệ, sang trọng mà ở nhiều vị trí, khách ngồi ghế mây, ghế bành nhâm nhi cà phê hay bia lạnh đều có view nhìn ra đường phố đẹp mắt, nhất là khi chợt có cơn mưa nhỏ…

(*)https://trithucvn.net/van-hoa/van-hoa-khong-ten-tao-nen-linh-hon-cua-sai-gon-xua.html

PHẠM NGA thực hiện

Tình Thơ Tháng Chạp

ta động cánh sầu đôi tay đã mỏi
ngày oan khiên em chong mắt theo người
mưa bỗng gõ nhịp đều con nước lũ
em có còn dành lại trái sầu tươi

ta mở mắt khi cây trời xanh lá
em hoang vu như môi má tự tình
đêm yểu điệu đàn trầm em gợi nhớ
ngày địa đàng bông ưu ái hồi sinh

này nước mắt ngày em qua lặng lẽ
buổi sau cùng là ngần đó đam mê
bờ đá đợi theo em chìm lặng lẽ
ta đành quên theo vạn kiếp đi về

từ tóc biếc em thầm thì trẻ lại
này tinh hoa vỡ hồ khúc trên ngàn
thôi cũng dại như trong lần xuống ngục
em xa vời chung cõi gió mênh mang

này em ơi em ơi phương trời đó
không còn thương sao vẫn nhớ lạ lùng
này giếng tóc từ thuở đầu bỏ ngõ
tự kiếp nào còn thấp thoáng nghi dung

ta trăm thuở là trăm lần hẹn ước
có gì không em hương sắc điêu tàn
khi ngả bóng là chuốc sầu trở lại
khói đầy trời là trở giấc thênh thang

em nước mắt ta hồn sầu biệt xứ
hẹn hò nhau về trên bến nghìn trùng
em hôn phối ta sau này quạnh quẽ
vòng tay nào là xứ sở sầu chung

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN
(Còn Ưu Ái Còn, 1964 – 1970)

NGƯỜI CÙNG XÓM ĐÌNH

Chị Hẹ cầm tay tôi, nài nỉ :

– Em tới đó, gặp riêng anh Tấn…

Chị nhìn quanh quất rồi ghé sát tai tôi, nói nhỏ :

– …nói với anh Tấn là ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy tôi còn ngần ngừ chưa hiểu, chị dặn thêm :

– Thì cứ nói ra chỗ cũ là anh biết liền. Nói chừng nớ thôi nghe. Mà nhớ đừng có cho ai biết là chị nhắn.

Tôi nhìn chị, thắc mắc :

– Nhưng mà anh Tấn là ai, em có biết đâu !

Chị Hẹ ngẩn người một thoáng rồi nhìn tôi cười :

– Ừ hỉ ?. Chị quên. Là anh Bòi Anh đó. Em biết rõ quá mà !

Tôi không giấu nổi vẻ ngạc nhiên :

– Ủa, anh Bòi Anh là anh Tấn đó hả ? Tên chi mà lạ hoắc, ai biết.

– Thì tên trong giấy tờ khai sanh đó. Mai mốt anh “ ra ràng” rồi, bộ cứ gọi tên cũ hoài, dị chết. Như chị đây cũng rứa. Chị…mà thôi, em đi đi. Trăng lên cao rồi, sợ khuya. Nhớ là đừng nói với ai nghe, giú kín cho chị.

Rồi thấy tôi còn đứng tần ngần, chị hiểu ý, dỗ dành :

– Mai ra quán, chị để dành cho hai tán đường.

Tôi kèo nài :

– Bữa trước hai tán, bây chừ phải thêm một nữa là ba. Mà đường đen hay đường vàng đây chị ?

Chị Hẹ “xì” một tiếng nhẹ, đẩy vai tôi, hối thúc :

– Cái thằng ni ! Thôi, đi đi cho mau. Ba bốn chi cũng được. Đường vàng đó, chịu chưa ?

Tôi cười, gật đầu rồi chạy vòng qua đầu con dốc.

Trăng sáng vằng vặc, trải ánh vàng trên con đường xóm nhỏ. Cảnh vật thanh vắng, nghe rõ tiếng dế kêu trăng hai bên đường. Tôi nhắm hướng có ánh đèn manchon từ xóm dưới. Anh Bòi Anh ( í quên, anh Tấn) đang sinh hoạt thanh niên thanh nữ ở đó. Cả tuần nay, mấy anh mấy chị lo tập dượt văn nghệ ráo riết để chuẩn bị tổ chức buổi lễ đưa tiễn đám thanh niên trong xóm lên đường thi hành Quân dịch. Làng trên xóm dưới, đi đâu cũng nghe bàn tán chuyện tòng quân, nhất là mấy anh thanh niên vào độ tuổi. Vừa rồi chị Hẹ nói anh Bòi Anh ( í, lại quên nữa, anh Tấn) “ra ràng” là vậy đó. Tại vì Ba của chị chuyên nuôi bồ câu. Ông có tới bốn cái chuồng cao nghệu đặt ở bốn góc nhà. Chuồng nào cũng được sơn phết màu mè sặc sở. Bồ cầu bay lượn từng đàn tấp nập suốt ngày. Ông thích thú và tự hào có đàn bồ câu mà theo Ông thường nói là đông đảo không chỗ nào sánh bằng. Một số đông người trong Xóm cũng lấy làm thích thú lắm. Nhưng mà không đủ can đảm để tự hào vì lẽ rình bắn bồ câu ăn thịt thì tự hào cái nỗi gì !

Chị Hẹ bắt chước Cha, nói gì cũng nhớ tới mấy con bồ câu. Nhiều chữ chị nói nghe lạ tai nhưng mà cũng có lý.

Chim đủ lông đủ cánh rời khỏi tổ tự kiếm ăn gọi là ra ràng.

Anh Tấn bây giờ cũng đã đủ sức lớn khôn để rời bỏ cái xóm nhỏ mà đi thì cũng giống như con chim bồ câu ra ràng chớ khác gì!

Anh vốn không phải là người trong Xóm. Trước sau anh cũng chỉ là người ăn nhờ ở đậu. Tôi nghe những người lớn kể lại, anh được chú Hai Mộc đem về nhà khi anh còn rất nhỏ, đâu khoảng một hai tháng tuổi gì đó. Chú giải thích với mọi người là lượm được anh bên cạnh đường khi chú trở về sau một chuyến làm ăn xa. Chú không đành tâm đi thẳng nên đem anh về nhà. Lời giải thích còn có nhiều nghi vấn, nhất là đối với thím Hai, người vợ đanh đá chua ngoa của chú. Trong một khoảng thời gian khá lâu, thím làm hành làm tỏi chú đủ điều. Chú chịu không nổi nên có ý định đem thằng bé gởi cho Bà Sơ nuôi nấng giùm. Một buổi sáng, chú bọc thằng nhỏ trong chiếc áo len, quày quả ra đi. Vừa đi vừa khóc. Lên tới

ngọn đồi nơi có ngôi nhà thờ lớn thì thím Hai rượt theo níu lại. Hai vợ chồng giằng co thằng bé một đỗi lâu. Cuối cùng chú đành để cho thím đem nó về. Từ đó, chuyện xưa thím không hề nhắc tới.

Anh Tấn ở với chú thím cho đến mười lăm tuổi thì chú, rồi sau đó tới thím, lần lượt qua đời. Anh trở thành đứa con chung của Xóm. Nay nhà này, mai nhà kia quanh năm suốt tháng. Miếng cơm đổi lấy từ những công việc nặng nhọc của một người ở mướn làm thuê. Như loài cỏ hoang trên đồi Trọc rừng Ngo, tự định đoạt lấy đời sống của mình.. Tính tình anh vui vẻ hoạt bát. Hình dong coi cũng ưa nhìn. Chị Hẹ ngó bộ ưa nhìn anh nhất. Không chừng anh chị có tình ý với nhau cũng tựa như con chim bồ câu trống với con chim bồ câu mái “gù” nhau. Tôi bật cười với sự so sánh ngộ nghĩnh này, suýt nữa táng đầu vô cái cổng Đình.

Anh Tấn đang bận sắm vai diễn trong một vở kịch, tôi phải đứng chờ. Vở diễn cảnh người con trai lên đường thi hành Quân dịch, người con gái bịn rịn tiễn bước chân đi. Vai nữ là chị Bưởi. Hai người đang diễn cảnh bịn rịn cầm tay nhau mà thề non hẹn biển. Có anh Trai đứng phía sau nhắc tuồng. Những câu hẹn thề mùi mẫn với lại cái cảnh cầm tay nhau thân mật, tôi thấy nó …động trời quá ! Chuyện trai gái của hai người sao lại đem bêu riếu cho mọi người cùng biết ?.

Chị Bưởi lại lớn hơn anh Tấn 5, 6 tuổi, đã có chồng con. Chồng chị là anh Thuận thợ mộc. Lấy nhau do hẹn ước của hai gia đình từ khi anh chị còn nhỏ. Lời thề hẹn đá vàng không được thốt ra từ tình yêu trai gái mà từ tách trà chung rượu bằng hữu chi giao. Chị ngồi xuống nơi cha mẹ chỉ với tấm lòng hiếu thảo chớ thiệt tình trái tim chị chưa một lần biết rung động trước tình yêu. Thời con gái chưa một lần e lệ cúi đầu che dấu nỗi thẹn thùng từ một ánh nhìn của người khác phái. Rồi những đứa con ra đời như là chất keo gắn chặt thêm tình nghĩa theo năm tháng dần qua, kéo theo tuổi đời an phận.

Chị tham gia đoàn văn nghệ do lời tha thiết yêu cầu của anh Trai. Điểm chính là không có cô gái nào trong xóm chịu đóng vai nữ trong vở kịch nòng cốt cho buổi lễ sắp được tổ chức nay mai. Vở diễn do anh Trai, trưởng đoàn thanh niên thanh nữ, tự soạn và tự đặt lời. Công khó của anh đã thức liền mấy đêm đỏ lừ con mắt để “nặn” cho ra chữ, sắp xếp lớp lang cho thiệt mùi mẫn với lời thề non hẹn biển hợp với cảnh tiễn đưa. Nhất định là phải có chiếc khăn tay vẫy vẫy, có lệ rơi, có cầm tay bịn rịn không rời…

Vậy mà, không có ai chịu nhập vai hết. Mấy chị thanh nữ vừa mới nghe anh Trai diễn tả sơ qua đã đỏ mặt ngượng ngùng, lắc đầu le lưỡi. Miệng đâu mà nói những lời ngọt ngào tình tứ như vậy. Lại còn cái cảnh nắm tay bịn rịn thì thiệt là muốn chọc cho thiên hạ đàm tiếu, dị nghị. Đến như đã là vợ chồng rồi mà khi ra đường cứ việc chồng đi trước, vợ theo sau. Đi như kiểu nhà binh, hàng một. Đừng nói chi tới mấy bà trong Xóm, chụp được cơ hội này thì đố có tha. Đầu trên xóm dưới, tụm năm tụm bảy nói cho mà nhức óc. Cho nên mấy chị, mặc dầu trong bụng cũng ưng, nhưng mà đẩy không nổi bức tường thành kiên cố của thói cũ lề xưa…

Anh Trai bực mình lắm nhưng anh quyết định không chịu thua.. Là người đã từng có một thời gian lưu lạc kiếm sống qua những vùng đất xa lạ, tầm nhìn của anh vượt quá lũy tre làng. Khi mệt mỏi trở về, anh đã đem về bao nhiêu điều mới lạ. Điều mới lạ trước tiên là mái tóc anh lúc nào cũng láng mướt, chải tém đít vịt gọn gàng. Cái lược nhựa lúc nào cũng giắt ở túi áo trước. Chỉ chừng đó thôi mà ai cũng nhìn anh lạ lẫm. Lời khen tiếng chê dồn đống, anh vẫn tỉnh bơ. Riết rồi thấy hay hay, đám thanh niên lần hồi bắt chước. Mấy cái đầu trọc, đầu húi hai phân lần hồi biến dạng thành đầu tóc đen dài, láng coóng, tém đít vịt y theo một kiểu. Chiều chiều, thấy “ mấy con vịt” lạc đàn, đi lên đi xuống con đường chính của xóm nhỏ, mắt dáo dác nhìn quanh…

Nói tóm lại, anh Trai là người của thị thành. Chị Bưởi là người phụ nữ, tuy là hương-đồng-cỏ-nội, nhưng có đầu óc cách tân. Thêm anh Tấn là người thường khi trở chứng ngang tàng bướng bỉnh, không chịu trói buộc bởi lề thói khắt khe ngàn đời không thay đổi. Ba người gặp nhau thiệt là tâm đắc. Có anh Trai nhắc tuồng, chị Bưởi và anh Tấn nhập vai mùi mẫn như thiệt. Thiệt đến nỗi mà tôi cứ đứng nhìn mê mẩn. Cho đến lúc anh Tấn làm điệu bộ bước lên xe (chiếc xe tưởng tượng). Chị Bưởi đưa chiếc khăn tay lên vẫy vẫy tôi mới giật mình hoảng hốt. Cứ tưởng anh sẽ đi, tôi vội vàng chạy đến nắm tay anh giật giật :

– Khoan, khoan đi đã anh ơi !

Anh Tấn khựng người, ngạc nhiên nhìn tôi trong khi chị Bưởi với anh Trai phá lên cười ngặt ngoẻo. Tôi ngượng ngùng đỏ mặt. Anh Tấn cũng cười, đẩy nhẹ tôi một cái :

– Cái thằng này ! Ở đâu mà xuất hiện kịp thời vậy ?

Rồi anh ghé sát tai tôi, thì thầm :

– Sao ?. Có người nhắn nhe gì phải không ?

Tôi nhớ mấy tán đường. Tôi nhớ lời chị Hẹ dặn phải giữ kín cho chị. Kéo anh ra góc sân, tôi nói nhỏ :

– Là chị Hẹ nhắn anh ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy anh ngần ngừ rồi lầm bầm :” Lại làm hành làm tỏi gì nữa đây, trời !…”.Tôi níu tay anh, giục :

– Anh phải ra đó nghe. Nếu như anh không ra là em mất ba tán đường !…

Anh Tấn im lặng. Không nói gì.

Đêm đó, anh và anh Trai đưa chị Bưởi về dưới đường trăng thanh vắng. Tôi lẽo đẽo theo sau. Khi chia tay hai người ở hai con dốc, anh quày quả một mình trở về nhà. Vậy là anh không đến nơi chị Hẹ nhắn. Tôi ngồi sụp xuống vạt cỏ ướt sương đêm, ngẩn ngơ tiếc nuối ba tán đường đã vuột khỏi tầm tay. Và tôi khóc, ngon lành…

Sân đình đêm nay như ngày vô hội kỳ yên. Bà con làng trên xóm dưới lũ lượt kéo về tụ tập trước cái sân khấu lộ thiên. Tiếng trống giòn giả làm nôn nao cả lòng người. Đêm văn nghệ tiễn đưa đám thanh niên hai xóm Đa Cát và Đa Trung lên đường thi hành Quân dịch vinh dự đón tiếp các vị chức sắc từ trên Thị xã xuống. Đoàn văn nghệ của xóm Đa Trung ( là xóm trên) cùng với xóm Đa Cát (là xóm dưới) đang bận bịu tới tấp ở hậu trường. Tiếng là văn nghệ giúp vui nhưng bên trong vẫn có sự ngấm ngầm ganh đua quyết liệt. Xóm nào cũng muốn cho đội văn nghệ của mình vượt trội. Bởi vậy, dưới hàng khán giả, vô hình trung đã có sự phân chia hai nhóm rõ rệt. Tiếng la ó, vỗ tay ủng hộ “gà nhà” vang trời dậy đất. Khí thế sôi nổi làm cho mấy diễn viên trong hai đội văn nghệ lên tinh thần. Thấy anh Trai lúc nào cũng cười nói, đi lên đi xuống, chạy qua chạy lại dặn dò phân công từng tiết mục cho từng người. Anh rất tin tưởng vào vở kịch nòng cốt của chương trình. Nhất định sẽ làm cho khán giả rơi lệ. Sẽ làm cho mấy anh con trai tới độ tuổi tự hào vì được là người lên đường. Sẽ làm cho mấy cô có người yêu (hay không có người yêu, cũng vậy) cảm thấy mình được chia phần vinh dự có người yêu bỏ cày bỏ cuốc, đáp lời sông núi, mà xông pha giữa lằn tên mũi đạn sa trường. Dám không chừng mấy tay trốn Quân dịch cũng phải hết sức hối hận vì đã lỡ dại dột làm cái chuyện đáng ra không nên làm.

Chú Vạy trưởng Xóm, người to lớn dềnh dàng, chống cây ba toong đi lên đi xuống cười nói hễ hả. Gặp anh Trai, chú cười hết cỡ, nói “Très bien”…”Très bien”…

Sau màn vũ khúc “Giã Gạo Đêm Trăng”, tiếng trống bất ngờ nổi lên dồn dập. Anh Trai lẹ làng nhảy lên sân khấu, điệu bộ màu mè chụp lấy cái micro giới thiệu vở kịch then chốt của đêm văn nghệ. Vì đã có sự dặn dò xếp đặt trước nên tiếng vỗ tay nổi lên đồng loạt, tiếng la hét muốn khản cổ của đám khán giả gà nhà làm rung động cả một góc trời. Đèn sân khấu được mấy tay chạy màn cố tình che lại cho trở nên mờ mờ ảo ảo. Có tiếng hát cũng cố tình ghìm giọng như từ xa vọng lại nghe như người nghẹt mũi : “Vài hàng gởi anh trìu mến. Vừa rồi Làng có truyền tin. Nói rằng nước non đang mong. Đi Quân dịch là thương nòi giống…”.

Tiếng hát nhỏ dần, nhỏ dần rồi lịm tắt. Đèn lóe sáng. Từ hậu trường có chàng thanh niên xách chiếc va li thiếc bước ra. Đám con nít tức thì la ré lên :” Anh Bòi anh. Anh Bòi anh đó, bây ơi !…”.Tiếng cười bỗng rộ lên đồng loạt làm anh Tấn (là anh Bòi anh đó) khựng lại, hơi bối rối. Cố giữ dáng điệu, anh bước ra vài bước, nhìn ngó bầu trời rồi làm vẻ mặt buồn ngoái lại phía sau. Ý là biểu lộ sự bịn rịn không rời nơi làng quê xóm cũ khi phải lên đường tòng quân.

Vừa lúc đó, cũng từ phía hậu trường bên phải, một người thiếu nữ bước ra. Đám con nít cùng ré lên : “Chị Bưởi. Chị Bưởi đó…” Không có tiếng cười, nhưng có tiếng anh Trai nhắc tuồng nghe rõ mồn một “ Chạy lên. Chạy lên. Kêu tên. Kêu tên “. Tức thì chị Bưởi sửa dáng, lấy đà lúp xúp chạy về phía người thanh niên đang ở tư thế dợm bước. Chị kêu lên : “Anh Tấn! Anh Tấn!”. Úi trời. Tiếng kêu cố tình hụt hơi đứt đoạn nghe thiệt khá não nùng. Có tiếng xì xầm ở dưới hàng khán giả rồi một khoảng thinh lặng kéo dài đờ đẫn khi hai người trao đổi với nhau những lời thề nguyền lâm ly bi đát. Ngay cả đám con nít cũng nín thở, trố mắt nhìn một màn diễn quá bất ngờ táo bạo chưa từng thấy. Không khí bỗng trầm lặng hẳn. Chỉ còn nghe tiếng, khi thì nức nở bi thương, khi thì dịu dàng âu yếm của cặp trai gái trước giờ phút chia ly. Rõ ràng anh Tấn và chị Bưởi đã nhập vai thiệt là xuất thần.

Anh Trai ngồi chùm hum giấu người ở góc hậu trường, ngạc nhiên đến độ ngẩn ngơ quên cả nhiệm vụ nhắc tuồng của mình. Đám thiếu nữ không còn giữ gìn e lệ, cứ nhăn mặt nhíu mày lòng dạ trải dài xót xa quặn thắt theo từng cảnh diễn, từng lời nói của đôi nam nữ.

Đám thanh niên thì hả lòng hả dạ. Trời ơi là trời! Những lời nói yêu thương nhắn nhủ như rót mật vô lòng. Giá như bom đạn có cày bừa nát ngướu tấm thân cũng thấy không có gì là tiếc nuối.

Sân đình trở nên thinh lặng. Bao cặp mắt đổ dồn, theo dõi từng diễn tiến. Tôi đứng gần sân khấu, thấy chị Bưởi nước mắt đầm đìa. Chị khóc thiệt tình làm cho vai diễn càng thêm sống động. Tự nhiên, tôi cũng cảm thấy nghèn nghẹn. Nếu như hai người thương nhau mà phải xa nhau, họ sẽ nói những lời buồn nẫu cả người như vậy hay sao ?. Nếu vậy thì xa nhau làm gì ! Thương nhau làm gì ! Mà chị Bưởi có thương anh Tấn thiệt không đó. Sao thấy chị khóc ngon khóc lành vậy chớ ! Không có ai trả lời giùm tôi. Mọi người đang say mê theo dõi.

Trên sân khấu, anh Tấn quay người định bước lên xe(chiếc xe tượng trưng là chiếc ghế dài che phủ lá cây). Chị Bưởi vội chạy theo nắm lấy tay anh Tấn. Đoạn này mùi mẫn nhất. Hai người nắm lấy tay nhau. Anh nhìn chị. Chị nhìn anh. Đắm đuối…Đắm đuối…

Bỗng nhiên, mọi người nghe một tiếng thét xé trời. Từ dưới sân đình, một bóng người nhảy chồm lên sân khấu, tay cầm khúc mía chạy ào tới chỗ anh Tấn và chị Bưởi. Tôi giật bắn người, kịp nhận ra là chị Hẹ. Vừa khi khúc mía nhắm ngay đầu anh Tấn vụt tới. Rất may là anh Tấn, khi nghe tiếng hét, giật mình làm chiếc ghế lật nghiêng hất anh ngã xuống. Cú đánh như trời giáng trượt qua đầu khi anh vừa ngã ngửa về phía sau. Chị Hẹ cũng mất đà ngã nhào theo. Hậu trường nhốn nháo, tiếng la hét ồn ào. Rồi thấy anh Tấn vụt chạy bương qua hàng rào nhà ông Thưởng. Đuổi bén gót theo sau là chị Hẹ. Khúc mía đưa cao nhấp nhô theo đà nhún nhảy rồi mất mất hút vào khoảng tối mịt mù phía trước…

Sự việc xảy ra bất ngờ làm bà con bán tín bán nghi. Không lẽ vở diễn kết thúc như vậy sao ? Thấy chú Vạy chống cây ba toong chạy lên tìm anh Trai. Chú giận tím mặt, la lối om sòm :” Cái thằng trời đánh !.Kết cục như rứa là ý nghĩa gì đây ! Trời ơi mi giết tau rồi, Trai ơi!”. Anh Trai, cũng đang giận sôi lên, nói xẵng : ” Trai gái với lại cục hòn chi đây chú! Cái con giặc cái đó tự nhiên ở đâu nhảy lên làm bể dĩa hết trơn “. Rồi anh day sang phía anh Rớt đang trố mắt nhìn, nạt lớn :” Nhìn cái gì nữa. Kéo màn. Kéo màn”.

Chỉ có mình tôi là hiểu thấu sự tình. Ăn đường của chị Hẹ nhiều lần quá mà, làm sao tôi không hiểu thấu cho được !

Rốt cục rồi mọi người cũng vỡ lẽ. Thì ra, nói theo kiểu chị Hẹ, là anh Tấn với chị “gù” nhau .

Chuyện xảy ra từ cái đêm văn nghệ đó là đề tài bàn tán xôn xao làng trên xóm dưới. Búa rìu dư luận theo nề nếp cổ xưa, đuổi xô chị Hẹ về phía cô đơn….

Anh Tấn đã “ra ràng” rồi! Chỉ còn chị vẫn còn náu lại trong cái xóm nhỏ tựa cái chuồng bồ câu dần bạc màu sắc theo thời gian. Tội nghiệp. Mỗi lần ra đường, mọi người đều nhìn chị với ánh mắt khác lạ. Nhất là mấy bà ngồi lê đôi mách, họ thêu dệt về chị theo đà câu chuyện để mua vui trong giờ rảnh rỗi. Đám trai làng e dè ra mặt. Chỉ còn có tôi. Nói cho đúng nghĩa hơn là những-tán-đường-của-chị còn có tôi. Rồi cũng phải nói thêm cho thật lòng, dù ăn miếng đường ngọt ngào thanh cảnh của chị nhưng sao tôi vẫn cảm thấy không gần gụi chị được như ngày nào. Cú đánh trời giáng của chị đã gây ấn tượng mạnh trong tôi. Nó chì chiết trầy trụa tình cảm của tôi về chị đến nỗi tôi đã mất dần cảm giác thèm vị ngọt ngào như tôi vẫn thèm. Và rồi, tôi dần xa chị hồi nào không hay. Mỗi lần có việc qua quán nhà chị, tôi cố tình rão bước. Đôi lần bắt gặp ánh nhìn của chị, tôi cúi đầu lảng tránh.

Thời gian cứ lần lựa trôi qua. Hết hạn ba năm, chẳng thấy anh Tấn trở về như những chàng trai cùng xóm. Rồi đáo hạn kỳ lần nữa, thêm lần nữa, anh Tấn cũng biền biệt phương trời. Chị Hẹ vẫn ngồi nơi quán nhỏ mà lòng trải rộng cả phương trời. Chị gầy ốm, teo tóp rồi lạc tuổi thanh xuân. Nghe đâu trong thời gian qua cũng đã có nhiều đám gần xa mai mối, nhưng chị vẫn không chịu “ra ràng”. Chị như con chim vẫn ngày ngày giam mình trong cái chuồng chim bạc màu son để nhìn ngắm khoảng trời xanh vô tận, tìm kiếm một bóng chim quen.

Con chim lẻ bạn chắc là buồn. Chị Hẹ lẻ loi tình anh Tấn, chắc chị buồn thấm tận tim gan…

Chị Hẹ ơi ! Giờ đây em không còn trách chị như ngày xưa còn bé.

Sự đời vốn nhiều đa đoan. Sự tình cũng có nhiều cớ sự. Khi người ta yêu nhau thì chỉ thấy có mỗi người mình yêu. Và dễ thương (hay dễ ghét) hơn nữa, chỉ muốn người mình thương là của riêng mình.

Em cũng hiểu khúc mía chị dành riêng cho anh Tấn nó đầy đặn ngọt ngào tình yêu thương chớ đâu có phải hận thù. Giá như khúc mía được chia đôi cắn nửa thì tình tự biết bao nhiêu. Nhưng ác thay khúc mía lại làm nên cú đánh như trời giáng để cho anh Tấn hồn bất phụ thể mà lú lẫn cả đường về !. Khi yêu nhau người ta vẫn làm những điều khôn, điều dại cũng chỉ vì người mình thương.

Em cũng hiểu thấu nỗi buồn da diết qua tháng năm chị chờ đợi anh Tấn trở về…

Lý lẽ này tôi tìm kiếm được là lúc tôi lớn khôn. Biết soi gương làm dáng. Biết trái tim có hai dòng đập. Một cho nhịp sống đời thường. Và một cho nhịp slow, tango, bebop hay cha cha cha tùy thuộc hoàn toàn theo đối tượng mình thương…

Chiếc Honda vượt khỏi con đường đất đỏ hai bên là rừng cao su bạt ngàn, dừng lại ở đường quốc lộ. Anh Hường, phụ huynh của học trò tôi, vừa dựng xe vừa nói :

– Thôi, Thầy về ăn Tết vui vẻ nghe. Thầy quyết định về quê ăn Tết tụi tui cũng thấy mừng. Ở đây buồn lắm Thầy ơi !

Buồn hay vui, không phải là nguyên do để tôi đột ngột quyết định phải về nhà ăn Tết. Chỉ vì nhớ.

Tình cờ, sáng nay, khi vừa thức dậy nghe tiếng hát từ chiếc radio ở nhà bên cạnh :

“…Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai. Sẽ mang về cho quần áo mới. Ba ngày Xuân đi khoe xóm làng…”. (*)

Lời hát làm cho tôi nhớ đến xót xa những ngày Tết quê nhà. Tôi nhớ những đêm cùng các em thức canh nồi bánh Tết, lòng nôn nao nghe tiếng pháo vọng xa trong màn đêm tĩnh mịch. Những ngày Tết rộn ràng xôn xao câu chúc tụng trên con đường xóm nhỏ dập dìu người qua kẻ lại. Tôi nhớ không khí ấm nồng của những ngày Xuân chan hòa tình làng nghĩa xóm.

Và tôi quyết định phải về, dù hôm nay đã là ngày 30 Tết.

Tốt nghiệp ra trường rồi thuyên chuyển về vùng đất mưa bùn nắng bụi, heo hút bạt ngàn rừng núi này. Đây cũng là cái Tết đầu tiên xa nhà. Tôi muốn trải nếm cảm giác của lòng người xa xứ. Vậy mà, cuối cùng, vẫn không chịu được. Mới hay là nơi chôn-nhao-cắt-rún mãi mãi là nơi chốn phải quay về.

Có chuyến xe hàng ở đầu con dốc. Anh Hường mau mắn đưa tay vẫy chặn. Trong xe thưa thớt chỉ vài người khách, có lẽ cũng về quê ăn Tết muộn như tôi. Bác tài vừa sang số xe, vừa nói :

– Xe về tới Dục Mỹ thôi, thầy Hai. Tới đó, Thầy liệu đường mà bương tiếp…

Tôi không nói gì. Định bụng là đến Dục Mỹ sẽ đón xe về tới ngã ba Thành. Từ đó, đón tiếp xe lên Đàlạt. Chậm lắm là khoảng 11 giờ đêm sẽ có mặt tại thành phố sương mù. Hy vọng còn kịp giờ đón Giao thừa.

Bắt đầu qua dèo M’Drăk, xe ngừng lại đón thêm một người khách. Anh ta vứt cái bao đồ khá lớn ở cuối xe rồi nhìn quanh tìm chỗ ngồi. Trong xe cũng còn quá nhiều chỗ trống.

Anh đứng tần ngần một thoáng rồi đến ngồi bên cạnh tôi :

– Chào anh. Ngồi đây cho có bạn chuyện trò đường xa.

Tôi cười gật đầu chào xả giao

– Vâng, chào anh. Anh cũng về Dục Mỹ à ?

– Không, tôi chỉ đến Khánh Dương.

Rồi anh che tay, ngáp, ngon lành. Tôi lén nhìn anh, quan sát. Bộ râu quai nón rậm rì

lốm đốm nhiều sợi bạc. Mái tóc lâu ngày không cắt tỉa phủ xuống quá gáy. Da mặt sạm đen vì nắng gió. Nhìn vẻ dáng thật phong trần. Tôi cứ ngờ ngợ như là đã gặp anh đâu đó một đôi lần. Tôi đem ý nghĩ này nói với anh. Anh cười, hàng răng trắng đều giữa hàm râu rậm :

– Vậy hả ?. Cũng có thể là đã gặp đâu đó. Tôi vẫn qua lại vùng này thường lắm

Qua lại thường ở vùng này thì chắc thế nào anh cũng đến Phước An, nơi tôi làm việc. Có thể là gặp anh một đôi lần nơi đó. Tôi hỏi :

– Nhưng có khi nào anh đến Phước An ?

– Có chứ, một đôi lần. Nhưng hơn năm nay, tôi không ghé. Chẳng có gì phải ghé.

Tôi ngạc nhiên :

– Có gì là có gì, anh ?

Anh lại cười :

– Thì đại khái là kim loại, đồng, thau, vàng, bạc, các loại đồ cổ. Mua bán có, trao đổi có. Nhưng tôi thường đến các buôn bản Thượng. Họ có những món đồ cổ, quý hiếm. Thuận thì trao vừa thì đổi, chẳng ai ép ai. Người Thượng họ thật thà chất phác, gần gụi họ mình cảm thấy cuộc đời phẳng lặng hơn. Anh thấy tôi đầu tóc râu ria giống họ không ? Cố tình đó.

Rồi anh huyên thuyên kể chuyện vui về việc mua bán trao đổi với người Thượng từ các buôn bản xa xôi hẻo lánh. Anh có lối kể chuyện thu hút người nghe và đặc biệt là không ngừng nghỉ. Một mẫu người vui tính và dễ thân thiện, tôi thầm nhận xét.

Kể lể một thôi một hồi, bỗng anh khựng người nhìn tôi, cười :

– Thiệt là vô tâm. Nãy giờ ham chuyện quên hỏi chú em. Í, mà gọi chú em được chớ?.

Ngó bộ dạng trẻ quá mà. Sao? Về quê ăn Tết hay là đang đi kiếm ăn đây ?

– Kiếm chác gì đâu anh ! Tôi làm việc ở vùng này. Về quê ăn Tết đó.

Anh cười, phụ họa :

– Thiệt là bươn chải đường xa, tới ba ngày Tết cũng kiếm đường về. Mà về đâu đây, chú em ?

Tôi đáp gọn :

– Đàlạt

Anh “Hả” lên một tiếng, gương mặt có vẻ ngạc nhiên. Tôi vẫn vô tình :

– Anh lưu lạc nhiều nơi, chắc cũng có dịp về qua Đàlạt.

Gương mặt anh trở nên tư lự. Anh khẽ thở dài :

– Ghé qua sao được. Có thời gian anh ở đó rồi. Mà không lâu.

Tôi cười vui vẻ :

– Vậy là gặp người cùng quê rồi. Anh ở vùng nào vậy ?

Anh im lặng, nhìn ra cửa xe, như đang suy nghĩ điều gì. Rồi anh thở dài :

– Ở không lâu mà đi xa cũng nhớ mới kỳ. Hồi đó anh ở vùng Trại Mát.

– Tôi thì ở cây số 4, là Xóm đình Đa Cát đó. Trại Mát nơi anh ở họ trồng rau nhiều lắm. Đặc biệt, anh biết có gì không ? Đá gà. Nhứt là mùa Tết, cá độ gà đá dữ dằn lắm. Để coi, ở Xóm tôi cũng có nhiều tay mê đá gà nặng. Sống bằng nghề đó luôn. Có Ôn Tôn Lạc, có chú Cử, chú Phú xe Lam nè. Lớp sau này có anh Trai, anh Đát con rể của ôn Cai Hoành…

Tôi đang ngập ngừng cố nhớ thêm vài tay mê đá gà nữa thì nghe anh nói, giọng có vẻ hốt hoảng :

– Ái chà, thôi chú em ngồi nghe. Anh xuống coi cái bao đồ không chừng mấy tay lơ xe moi móc…

Rồi không chờ tôi trả lời, anh hối hả đứng lên đi thẳng. Tôi mất hứng ngồi yên.

Khá lâu không thấy anh trở lại. Tôi ngoái nhìn, thấy anh ngồi khuất ở băng ghế cuối, đang loay hoay làm gì đó.

Xe chạy một đoạn dài, tôi vẫn có ý chờ anh trở lại để tiếp câu chuyện đang còn hứng thú. Vừa lúc đó nghe tiếng bác tài xế rổn rảng :

– Khánh Dương. Khánh Dương. Ai Khánh Dương chuẩn bị xuống nghe.

Xe bắt đầu hãm thắng, chậm dần. Tôi quay lại, cũng vừa lúc anh vội vàng đi lên. Bàn tay anh bóp mạnh lấy vai tôi, đau nhói. Tôi nghe anh nói, giọng có vẻ xúc động :

– Nhớ tìm anh nghe.

Rồi anh lẹ làng nhét một mảnh giấy nhỏ vào túi áo trên của tôi, quay người đi vội xuống cửa sau, chụp bao đồ nhảy xuống khi xe chưa ngừng hẳn. Tôi nhoài người ra cửa

hông, thấy anh đứng bên lề đường đưa tay vẫy vẫy.

Xe qua khỏi Khánh Dương một đoạn, tôi chợt nhớ tờ giấy anh nhét vào túi áo. Đó là tờ giấy bao vỏ thuốc Capstan, trên có ghi địa chỉ nhà anh và ở dưới có dòng chữ viết vội :

“ Chú Trọng

Về quê ăn Tết vui vẻ nghe. Biết chú không có thì giờ thôi thì để ra Giêng tìm tới anh. Có nhiều chuyện muốn hỏi chú.

Anh, Tấn

Người cùng Xóm Đình “

viết dưới hiên trăng

TRẦN HUY SAO

(* ) nhạc phẩm Xuân Này Con Không Về – Trịnh Lâm Ngân

LỄ HỘI AN – DƯƠNG – VƯƠNG

Hằng năm nước ta có ba lễ hội lớn mang ý nghĩa lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là lễ hội Hùng-Vương
[ 10/3 AL ] lễ hội Trường-Yên [ Hoa-Lư ][ 15/2 AL ] và lễ hội vương thành Cổ-Loa.
Cổ-Loa là kinh đô thứ hai của nước Việt.
Kinh đô đầu tiên là Phong-Châu, thời đại các vua Hùng.
Nhưng Cổ-Loa với Thục-Phán An-Dương-Vương là hiện thực lịch sử.
Phong-Châu thời đại các vua Hùng cho đến nay vẫn là truyền thuyết.

Năm 218 trước Công-Nguyên, sau khi gồm thâu lục quốc, Tần-Thủy-Hoàng với chiếc đầu bạo chúa, đã phái 50 vạn quân binh tiến về phương nam đánh Bách-Việt. Thủ lĩnh dân Việt thủa ấy là Thục-Phán, dựa vào núi rừng hiểm trở đã đứng lên tổ chức trường kỳ kháng chiến. Sau mười năm bị tổn thức nặng nề, quân Tần ngậm đắng rút về phương Bắc. Thục-Phán thay vua Hùng lập ra nước Âu-Lạc, kinh đô là Cổ-Loa [ nay thuộc huyện Đông-Anh cách Hà-Nội 15 km về hướng bắc ].
Cổ-Loa thành là kiến trúc độc lập đầu tiên của người Việt. Xưa, kinh đô có chín vòng thành, hiện nay thành chỉ còn lại ba vòng. Thành ngoài chu vi rộng 8 km2, thành giữa mang hình đa giác rộng 6,5 km2, thành trong là 1,60 km2, hình chữ nhật. Chiều cao của tường thành là 5 m, có nơi cao tới 12 m, còn bề dày của thành rộng tới 20 – 30 m. Tương truyền là do thần Kim-Quy báo mộng đề An-Dương-Vương dựng nên kinh thành kỳ vỹ nầy hầu chống lại giặc phương Bắc.
Thục-Phán lên ngôi vào năm 208 trước Công-Nguyên, trị vì được 50 năm. Sau nhiều năm đánh Âu-Lạc không thắng nổi, Triệu-Đà xin giảng hòa rồi lập kế cho Trọng-Thủy kết duyên cùng Mỵ-Châu để tráo lấy nỏ thần. Năm 179 trước Công-Nguyên, An-Dương-Vương bị diệt, nước ta từ đó bị phong kiến Trung-Hoa đô hộ hơn cả ngàn năm.
Hằng năm mỗi độ xuân về, từ mồng 6 tết cho đến 16/1 AL, xã Cổ-Loa lại rộn ràng tổ chức Lễ Hội An-Dương-Vương trong không khí tưng bừng, dân làng của 12 xóm đất đế vương xưa làm kiệu kết hoa tiến về thành Cổ-Loa để dự lễ rước thần. Lễ là những ngày hội vui xuân với bao nét đẹp văn hóa cổ truyền được người dân làm sống lại qua những hội hát chèo, đánh cờ người, đu bay, chọi gà, đánh tổ tôm . . .
Trong những ngày lễ hội, hàng vạn người khắp nơi tụ hội về để tưởng niệm công ơn dựng nước của Thục-Phán An-Dương-Vương trong không khí vừa huyền thoại vừa hiện thực. Cổng làng Cổ-Loa ngày nay, xưa là thành trong, qua khỏi thành trong là đến đình làng, đây là đền cũ điện triều, nơi bá quan văn võ cùng vua luận bàn việc nước. Hiện nay trong đền còn tấm hoành phi “ Ngự Triều Di Qui “ và trong di tích nầy tại Ba-Cầu đã từng phát hiện kho chứa hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, có lẽ truyền thuyết về nỏ thần cũng từ những mũi tên nầy mà có.
Đền Thượng, tức là đền thờ An-Dương-Vương nằm phía trong, theo các vị bô lão thì đây là nội cung của vua ngày xưa. Đền được xây dựng từ thế kỷ 11, thờ An-Dương-Vương, thần Kim-Quy và nỏ thần, đền gồm có hạ điện là ngôi nhà ba gian rộng lớn, cột gỗ lim đồ sộ, tám mái vút cao. Tượng vua được đúc từ năm 1897, nặng tới 255 kg bằng đồng lấy từ một kho đồng được phát hiện năm 1893 dưới nền điện trong thời gian đền được trùng tu lại. Trước cổng điện là hai con rồng uy nghi chầu phục với những nét khắc chạm tinh vi của thời đại nhà Trần.
Miếu thờ công-chúa Mỵ-Châu cách đền chính vài mươi bước, nép mình dưới cây đa cổ thụ khổng lồ, miếu am khiêm tốn u huyền như cuộc đời u uẩn của nàng, trong miếu có một tảng đá thân người không đầu, tương truyền đó là tượng Mỵ-Châu “ trung tín, thệ tâm thân hóa hóa thạch “ từ biển xa trôi về Cổ-Loa mong phụng dưỡng vua cha. Giếng Trọng-Thủy nằm giữa cồn đất của ao tròn trước mặt đền, giếng xây bằng gạch, đây là nơi Trọng-Thủy thương tiếc Mỵ-Châu đã nhảy xuống tự vẫn, nước giếng từ ngàn xưa đến nay vẫn trong xanh một màu, tương truyền những viên ngọc trai từ máu của Mỵ-Châu hóa thành được rửa bằng nước giếng nầy thì sẽ sáng đẹp bội phần. Nhà bia nằm bên phải đền thờ, bia được dựng vào năm 1601, ghi lại những phong tục, tập quán thời ấy, nét chữ đến nay vẫn còn rõ ràng sắc sảo.
Sau khi thành Cổ-Loa rơi vào tay Triệu-Đà, An-Dương-Vương lên ngựa truy phong về phương nam mang theo Mỵ-Châu và chiếc áo lông ngỗng cùng những lời dặn dò của Trọng-Thủy trước lúc chia tay, lại một lần nữa đã làm Mỵ-Châu đắc tội với vua cha. “ Chạy đến biển thì cùng đường, Rùa Vàng hiện lên mặt nước nói rằng : “ Người ngồi sau ngựa chính là giặc đó sao không giết đi ? “ Vua rút gươm muốn chém, Mỵ-Châu ngữa mặt lên trời khấn rằng : “ Thiếp là con gái, nếu có lòng phản cha, xin chết làm tro bụi, nếu một lòng trung tín nhưng thật bụng tin người, bị người lừa dối thì xin chết hóa thành châu ngọc để rửa mối nhục nầy . . .” Vua chém Mỵ-Châu, máu chảy thành giòng, trai hút lấy hóa thành ngọc, còn An-Dương-Vương nhảy xuống biển theo thần Kim-Quy về với lòng đại dương.
Lễ hội vương thành Cổ-Loa trong không khí thiêng liêng của những ngày tết cổ truyền là tiếng chuông đánh thức mỗi người dân nước Việt, dù ở năm châu hay bốn biển, đến ngày 6/1 AL, bằng tâm tưởng hãy hành hương về 2316 năm trước, Thục-Phán An-Dương-Vương bằng ý chí quật cường, lần đầu trong lịch sử đã đánh thắng 50 vạn quân Tần hùng mạnh, đã sáng tạo nên thời đại đồ đồng và để lại biết bao bài học lịch sử bi tráng cho dân tộc Việt trường tồn đến ngày nay.

Ai về qua huyện Đông-Anh
Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục-Vương
Cổ-Loa thành cũ khác thường
Trải bao năm tháng dấu thành vẫn ghi.
[Nhân gian ca]

Đầu Xuân Kỷ-Hợi 2019

VƯƠNG KIỀU