Thà Có Bài Thơ Hơn Chẳng Có

Hôm nay, nắng đẹp hơn hôm qua! Nắng đỏ bao nhiêu cái mái nhà! Nắng trắng những con bồ câu trắng! Nắng vàng! Rực rỡ những cành hoa…

Tôi đang tựa cửa nhìn mây trắng…nhớ áo dài em trắng góc sân, nhớ đám hoa quỳ sau Tết nở…hoa đào đây đó vẫn còn Xuân?

Còn mươi phút nữa tôi vào lớp. Còn mươi phút nữa, em xếp hàng. Một bầy con gái năm mười sáu, buổi sáng đến trường ai cũng ngoan…

Tôi hồi đó tuổi bao nhiêu nhỉ? Quên mất rồi em, quá khứ, xưa…Nền bảng màu xanh, viên phấn trắng, một bầu trời cũ biết bao thơ!

Tôi đang tựa cửa nhìn mây trắng…nhìn nắng chan hòa buổi sáng đây. Sau những ngày mưa, trời đẹp lắm, tháng Ba năm mới, nắng xanh cây…

Tôi biết tôi không còn trẻ nữa, các em thì cũng lớn khôn rồi…Một thời tao loạn chừ yên ắng…mà trách hờn chi cuộc đổi đời?

*
Ba mươi năm, hỏi sao mình sống? Bè bạn bao nhiêu đứa ngậm cười? Tôi, tại sao tôi xa Đất Nước? Một thời Cải Tạo nước sông trôi?

Nước sông…ra biển, biển muôn trùng. Nắng đỏ mái Chùa? Thật nắng không? Nắng đỏ mái nhà…không phải nắng? Nắng là tôi nói, nắng mênh mông…

Mênh mông là nắng, mênh mông nhớ. Bát ngát, bao la…cũng nghẹn ngào! Cố Quận tự dưng thành Cố Lý! Những tình cố cựu thấy nao nao…

Em ơi…Trời nắng…Bồ câu trắng…Hai chữ Thái Bình hóa đại dương…Trời đã hết mưa nên có nắng? Người không vui được, tự nhiên buồn?

Bài thơ này có trong ngày mới, sau những ngày mưa ê ẩm lòng…Thà có bài thơ hơn chẳng có, em cầm lên thử…thấy thơm không?

Trần Vấn Lệ

MỘT SÁNG MAI XANH

Em về một sáng mai xanh
Gót son giọt nắng long lanh bên thềm
Hương rừng lều cỏ hoa nghiêm
Giàn nho trĩu quả cánh sen rực hồng
Mùa Xuân hơ hớ chưa chồng
Em ơi! Xin chớ để lòng bay xa!
Vườn xanh cỏ mượt sương hoa
Áo thiên nhiên lộng đôi tà mật ong
Tôi ngồi trong cõi tịnh không
Nghe hồn thu thảo rót dòng tinh sương
Em về thoảng một làn hương
Đất trời say mộng Má Hường Nường Xuân!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

NGOÀI HUẾ

Không phải Huế ,đó mới là chuyện lạ
Bởi dạ, thưa răng quá đổi ngọt ngào
Nghe một lần là mãi mãi về sau
Anh cứ nhớ giọng em như giọng mạ!

Ui chao ơi! Em cũng gầy na ná
Tôn Nữ xưa qua mấy cửa Hoàng Thành
Anh kiêu bạc cũng nghe chừng rất nhớ
Dấu ai về, bay màu áo thiên thanh…

Con-đường-vương-phi cũng hóa ra hiền
Khi gió thổi sang lòng anh bối rối
Không phải Huế mà răng em lại nối
Câu Nam Bình khi khít điệu Nam Ai?

Không phải Huế răng em lại trang đài
Qua Gia Hội để chiều anh tở mở
Giòng sông Hương lặng lờ mà cắc cớ
Soi rất xanh dấu ái thuở em về!

Không phải Huế mà em gọi bên tê
Là Vỹ Dạ mùa trăng lênh láng nhớ
Dây trầu cũ cuốn vào thân cau đó
Xuân nay hồng, môi đỏ nụ tình quê…

Không phải Huế rứa mà em rất Huế
Ngọt bên ni bên nớ đến nao lòng
Tháng giêng ngon đậu vào tim tử tế
Thương nhau rồi em có đợi anh không ?

Trần Dzạ Lữ

HUYỀN GIÁC THÕNG TAY VÀO CHỢ

Cuộc đời là một cái chợ khổng lồ đầy xô bồ, hỗn độn mà toàn thể nhân loại đang sinh sống, hoạt động từ ngàn xưa cho đến bây giờ và mãi tận mai sau. Trong đó, con người phải chịu đựng đủ thứ cay đắng, mặn nồng, ngọt bùi, chua chát, đủ thứ khổ nạn, tang thương, đớn đau, hạnh phúc cứ mãi chập chùng, trùng trùng vô lượng, không thể nào diễn tả hết được. Nikos Kazantzakis, đại văn hào Hy Lạp phát biểu :“Con người sinh ra từ một hố thẳm đen tối, đó là tử cung. Con người đang đi đến một hố thẳm đen tối khác, đó là nấm mồ. Khoảng ánh sáng giữa hai hố thẳm đen tối đó, người ta gọi là cuộc sống.”

Cuộc sống là gì ? Một câu hỏi mà suốt xưa nay, chưa thấy một ai trả lời cho rốt ráo. Để rồi, phát sinh ra hàng chục tôn giáo, hàng trăm giáo chủ, hàng ngàn luận thuyết, triết lý hiện sinh, hư vô, duy vật, duy tâm, duy lý, duy thức… khắp nẻo Đông Tây đầy huyên náo, bề bộn, hỗn tạp, lu bù…

Như một con người trần truồng sinh ra trên mặt đất, Huyền Giác cũng lớn lên giữa chợ đời ấy như bất cứ một thanh niên nào khác, nhưng đặc biệt, độc đáo hơn, chàng mang tâm trạng khát khao đi tìm tuyệt đối. Sớm biết nung nấu sâu xa diệu lý phi thường của cuộc tồn sinh, luôn luôn thắp sáng trong tim hồn rực lửa, muốn đốt cháy tan hết những tăm tối, mịt mù đã vây phủ, giam nhốt con người trong bóng tối ngu dốt, u minh, hắc ám nghìn đời…

Với tinh thần cách mạng triệt để, ý chí mãnh liệt, chàng không thể nào chấp nhận một lối sống tẻ nhạt, khuôn mòn lối cũ, cha đặt đâu con ngồi đấy. Sinh ra rồi lấy vợ, đẻ con, làm ăn lam lũ, tần tảo, tiết kiệm kiếm tiền để nuôi con cái ăn học. Rồi thi đua tạo sự nghiệp, giật giành danh lợi, địa vị, suy tôn giáo chủ, cầu nguyện Thượng đế tối cao, sắp hàng vào một tổ chức, đảng phái, đoàn thể, phe nhóm này nọ… Chuyện cũ mèm, ấu trĩ đó, đã có hàng tỷ tỷ người làm rồi, từ thiên vạn cổ đến nay mà chẳng giải quyết được điều gì. Trái lại, làm tăng thêm khối lượng nặng nề, ám độn, thê lương, sầu thảm, khiến cho nhân loại càng ngày càng thêm bị vây khổn trong khốn đốn, lùng bùng khủng khiếp, chết lịm hồn trong nỗi khổ, niềm đau, trầm thống vô vàn…

Bằng trái tim cháy bỏng, rực ngời hùng tâm tráng khí hòa lẫn với dòng máu thi sỹ, mở toang cánh cửa tâm hồn đón gió lạ thi ca, tư tưởng mười phương thổi lại. Dung hòa, tiêu hóa mọi tri thức đa nguyên một cách uyển chuyển, biết rung động trước bao đoạn trường, bế tắt, tuyệt lộ, trước những lao đao, quằn quại, đầy máu lệ, tê tái của trần gian, Huyền Giác thao thức lên đường. Một cuộc lên đường, ra đi vĩ đại như Tất Đạt Đa xưa kia, đã vượt dòng sông Anoma vào nửa đêm khuya, bàng bạc ánh trăng ngàn, vất lại sau lưng tráng lệ lâu đài, ngai vàng, điện ngọc, cả ngôi vị hoàng đế cũng chối từ, xem như một sợi dây trói buộc, xích xiềng.

Huyền Giác làm cuộc lữ lang thang vô sở trú, buông mình vào vô thức tâm linh, trầm tư cội nguồn uyên nguyên khơi mở. Thở cùng sương ngàn gió núi, tắm nắng ăn mưa suốt mấy mùa đi xuôi ngược phong trần. Dấn bước phiêu lưu vào những phương trời mới lạ, tầm thầy học đạo, khổ công lặn lội trên rừng dưới biển, quyết tâm thấu triệt lẽ huyền vi. Kỳ cùng cuộc lữ, thi gan cùng tuế nguyệt, kiên trì dốc chí, một mình một bóng trong am cốc, lạnh rờn cô đơn, cô độc khốc liệt. Rồi một ngày đọc kinh Duy Ma Cật, bỗng hoát nhiên đốn ngộ, tuệ nhãn bừng sáng rực ngời, thông suốt cả ba ngàn thế giới, thấy ngay trước mắt cái thực tại hiện tiền :

Chơi biển cả dạo rừng thiêng
Tìm thầy hỏi lấy đạo tham thiền
Từ ngày rõ nẻo Tào Khê ấy
Mới hay sống chết chẳng tương can

Đi cũng thiền ngồi cũng thiền
Nói im động tịnh thảy an nhiên
Phỏng gặp gươm đao thường nhẹ hửng
Ví nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh

Chết sống không còn là vấn đề nữa. Một bước nhảy trọng đại, nhảy tung vào đất Như Lai, bước đi tự do, tự tại giữa đang là. Kể từ ngày thưởng thức được hương vị suối Tào Khê, nơi phát xuất nguồn thiền Huệ Năng ấy, thì đi đứng, nằm ngồi, dù nói năng hay im lặng, dù yên tịnh hay ồn động, ví gặp gươm đao kề cổ, hoặc dẫu có uống nhằm thuốc độc đi chăng nữa, lòng cũng vẫn điềm nhiên, không sợ hãi. Nhà thơ Huyền Giác đã thành Thiền sư Huyền Giác.

Từ đây, thõng tay vào chợ với một cái thấy tinh khôi, sáng tỏ rõ ràng, hoàn toàn tân kỳ, chiếu tỏa mới lạ và mới lạ. Một cái thấy (kiến tánh) mầu nhiệm, nhìn đến đâu là nhiệm mầu tới đó. Tỏ tường, tịch chiếu, diệu dụng trên muôn loài, vạn vật, từng mỗi mỗi sát na. Quá tuyệt ! Huyền Giác bừng trổ nụ cười thiên thu, vĩnh cửu, cất lên tiếng hát vang lừng Chứng Đạo Ca. Một bản đại hòa tấu tuyệt hảo, vô song vọng lên giữa một chiều nhập cốt, xuất thần tận am sâu. Vươn vai đứng dậy như sư tử, thiền sư bỗng gầm lên dữ dội, sấm sét, bằng tiếng thơ cao vút, vụt bay qua cửa huyền vi, đi vào bản thể tự thân :

Dứt học vô vi ấy đạo nhân
Không trừ vọng tưởng chẳng cầu chân
Tánh thực vô minh tức Phật tánh
Thân không ảo hóa tức Pháp thân

Pháp thân giác rồi không một vật
Vốn nguồn tự tánh thiên chân Phật
Năm ấm : Ảo hư mây lại qua
Ba độc : Huyễn hoặc bọt còn mất

Đó là Như Lai vô thượng Thiền, hiện thực bằng trí quán chiếu vào thể tánh bình đẳng, Nhất Như của sai biệt giới. Một khi đã siêu việt qua thế giới hiện tượng, nhập vào bản thể Tự tánh thanh tịnh thì tuyệt đối chẳng còn chi phải học nữa. Bậc liễu đạt là người hoàn toàn vô sự, rỗng rang, nhàn nhã, hết còn phân biệt đúng sai, phải trái, chân vọng, thật giả… Bởi thấu hiểu giả thật, vọng chân… đều huyễn hóa. Chẳng nhọc lòng tiêu diệt vọng tưởng hay truy tìm chân lý gì thêm. Tâm thể vốn hiện hữu sờ sờ, đang tỏa chiếu hào quang, sáng rực ngời ra như thế. Mê thì không thấy, ngộ thì tức khắc thấy ngay trước mắt bản lai diện mục tận tường.

Ngộ rồi mới thông suốt lẽ “Tánh thực vô minh tức Phật tánh. Thân không ảo hóa tức Pháp thân” bởi vô minh chỉ là một khái niệm, không có tánh riêng biệt nào cả mà chỉ do mình bỏ quên, chẳng biết trong mình có Phật tánh, nên tạm gọi là vô minh đó thôi. Khi tuệ giác quán chiếu thậm thâm, lập tức tánh Phật hiển lộ huy hoàng thì vô minh tan mất. Cũng vậy, thân huyễn hóa và Pháp thân chẳng đối lập gì nhau mà vốn là bất nhị. Pháp thân ở ngay trong thân ảo hóa này, chứ tuyệt nhiên chẳng ở một nơi chốn nào khác cả, như Huệ Năng nói: “Phiền não tức Bồ đề” là vậy.

Thiền sư liễu ngộ Pháp thân, Phật tánh, nhìn đâu cũng không thấy một vật nào chướng ngại, nên thõng tay vào chợ, tùy duyên hóa độ chúng sinh. Chỉ rõ cho họ biết năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ba độc (tham, sân, si) như ảo ảnh, huyễn mộng, như bọt nước mong manh, chẳng thật có. Đừng lầm chấp có thật mà sinh tâm dính mắc, ham muốn rồi tranh giành, chiếm hữu, đưa đến căm thù, nhẫn tâm tàn sát lẫn nhau, gây bao đổ nát, tang thương, sầu hận chất chồng, tạo nghiệp mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Thực ra, luân hồi, sinh tử cũng là giả danh, không có thật, khi tâm chứng Thiền Như Lai tịch lặng :

Thoắt giác rồi Như Lai Thiền
Sáu độ muôn hạnh thể tròn nguyên
Trong mộng lao xao bày sáu nẻo
Tỉnh ra bằn bặt chẳng ba nghìn

Không tội phước không thêm bớt
Tánh mình vắng lặng đừng hỏi bắt
Bấy lâu gương bụi chửa từng lau
Này lúc rõ phân cần dứt khoát

Tâm chứng Như Lai Thiền, mới biết trong đó vốn có sẵn đầy đủ sáu độ : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ và muôn công hạnh. Đó là những phương tiện pháp của hàng Bồ tát thường sử dụng. Sử dụng mà không vướng kẹt, quét sạch hết tất cả mọi tạo tác của tư tưởng so sánh, phân biệt nhị nguyên. Bặt hết mâu thuẫn, xung đột giữa tội phước, thêm bớt, hơn thua, tốt xấu, đúng sai, phải trái, thời gian, không gian (sáu nẻo luân hồi, ba nghìn thế giới).

Vậy nên, đừng đuổi bắt gì hết, đừng nắm bắt vật thể nào hết mà cứ tự nhiên thuận tánh, tùy duyên trong sinh hoạt hàng ngày. Thong dong, mỉm cười vô niệm, nhưng vô niệm không có nghĩa là diệt niệm, lau tâm, vì tâm vốn không nhiễm, chẳng có gì phải lau cả. Tâm thể rỗng suốt tợ hư không, rỗng rang, vô quái ngại bất cứ sự vật gì. Huyền Giác đã thấy rõ được tâm thể ấy nên sống tự do theo từng bước đi thư thả ra vào :

Thường một mình thường tản bộ
Đạt giả lại qua Niết bàn lộ
Điệu xưa thần nhẹ dáng thanh thanh
Xương cứng thân gầy ai chiếu cố ?

Hèn con Phật miệng xưng nghèo
Rõ thực thân nghèo đạo chẳng nghèo
Nghèo ắt thân thường manh áo chắp
Đạo ắt tâm hằng châu báu đeo

Châu báu đeo dùng chẳng hết
Tùy duyên rải khắp thèm keo kiết
Ba thân bốn trí thể tròn nguyên
Tám giải sáu thông tâm ấn hiệp

“Cô thân vạn lý du” là hình ảnh Thiền sư đi du hóa đó đây. Thường cất bước bộ hành, một mình một bóng, rong chơi khắp cõi ta bà, chợ búa. Con đường chợ búa náo nhiệt, không còn là chợ búa nữa mà là con đường Niết bàn, thanh thản an nhiên. Muốn đi con đường ấy phải có bộ xương kim cương, ẩn dưới thân gầy tiều tụy. Bên ngoài càng tiều tụy thì bên trong nội lực càng sung mãn, thành tựu ba thân : Pháp thân, báo thân, hóa thân, tám bước giải thoát (Xem Danh Từ Phật Học. Tâm Tuệ Hỷ biên soạn. Tôn Giáo xuất bản, Sài Gòn 2005) chứng bốn diệu trí : Đại viên cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, thành sở tác trí và sáu thông : Thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thiên nhãn thông, túc mạng thông, lậu tận thông.

Tất cả những điều thân chứng ấy đều là diệu dụng tự nhiên của tuệ tâm. Cái tuệ tâm vi diệu này, có thần lực chuyển hóa mọi chướng duyên, nghịch cảnh, thay đổi toàn triệt hết các thứ phiền não, khổ đau từ bên ngoài đưa tới, ví dụ như bị người ta đố kỵ, khinh bỉ, nguyền rủa, chửi bới, nhiếc mắng :

Mặc ai biếm mặc ai gièm
Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm
Ta nghe như uống cam lồ vậy
Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn

Xét lời ác ấy công đức
Đó mới chính là thầy ta thực
Chớ vì báng bổ nổi oan thân
Sao tỏ vô sanh nêu nhẫn lực?

Phần đông bọn phàm phu tục tử chúng ta, có thể chém giết nhau vì những lời cãi cọ, mắng nhiếc, nguyền rủa, khinh chê thậm tệ, vì mình còn ngã chấp nặng nề, cho rằng kẻ vô học kia xúc phạm mình. Còn Thiền sư, khi nghe ai đó vu oan, giá họa, xổ ra toàn những ngôn từ độc địa, hiểm ác, thì vẫn bình thản, xem như uống nước cam lồ vậy. Thay vì giận dữ, lại hài lòng, cảm ơn kẻ ấy, tôn họ lên bậc thầy đã cho mình được thể nghiệm cụ thể hạnh nhẫn nhục ba la mật, nhất là thấu thị lý Vô sanh. Vô sanh hay Không tướng là cái chưa từng sinh, chưa từng diệt, là Như Lai, Phật tánh vốn hằng hữu trong lòng :

Không cầu chân chẳng dứt vọng
Mới hay chân vọng không chẳng tướng
Chẳng tướng chẳng không không chẳng không
Ấy mới Như Lai chân thực tướng

Gương tâm sáng soi chẳng ngại
Suốt thông chiếu khắp hằng sa giới
Muôn tượng um tùm ảnh hiện trong
Một điểm viên quang không nội ngoại

Thực tướng Như Lai là không tướng, lìa cả hai mặt chân vọng. Vọng chân đều vắng lặng, chẳng cần phải mong cầu sự thật, Chân tánh hay trừ diệt vọng tưởng, vọng niệm chi cả. Bởi vì bản tâm vốn trong suốt như gương chiếu soi vạn cảnh, tỏ suốt muôn pháp giới. Toàn thể càn khôn, vũ trụ đều hiện trong tâm ấy, một điểm linh quang chiếu diệu ngời ngời. Thiền sư sử dụng tâm ấy trên tinh thần vô úy của bậc đại trượng phu, cầm cây tuệ kiếm Kim Cang Bát Nhã, khiến bọn tà ma, ngoại đạo phải kinh hồn, khiếp vía lùi xa :

Đại trượng phu cầm kiếm tuệ
Ánh Bát nhã hề Kim cang lóe
Đã hay ngoại đạo bạt tâm mê
Lại khiến thiên ma lùi khiếp vía

Nổi pháp lôi đánh pháp cổ
Bủa mây từ hề rưới cam lộ
Voi rồng dẫm bước nhuận ân sâu
Năm tánh ba thừa đều tỉnh ngộ

Đại hùng, đại lực là sức mạnh nội tâm thâm hậu, Thiền sư đánh pháp lôi, nổi pháp cổ, bủa từ vân, rưới cam lộ, tuyên dương tối thượng thừa. Thúc giục hàng đốn giáo (long tượng) hàng tiệm giáo (năm tánh, ba thừa) mau thức tỉnh trên thực tại tối thượng, thành tựu tâm toàn giác, viên mãn. Bậc long tượng thường đi trên thông lộ tối thượng thừa. Đó là cảnh giới dung thông vô ngại. Trong ấy, một tánh viên thông tất cả tánh, một pháp chứa đủ tất cả pháp. Ví như một mặt trăng chiếu sáng trên vô số mặt nước sông hồ thành vô số mặt trăng. Một tức tất cả và tất cả ánh trăng thâu nhập vào một mặt trăng thôi :

Một tánh viên thông muôn tánh hết
Một pháp bao gồm muôn pháp hết
Một trăng hiện khắp tất cả nước
Tất cả trăng nước một trăng nhiếp

Cũng vậy, tất cả pháp thân Phật, thể nhập trong tánh chúng sinh thành vô lượng báo thân và hóa thân Phật, tất cả đều tương ứng, tương hợp với thực tại Như Lai đại đồng. Tự tánh chúng sinh và chư Phật đều Nhất Như :

Chư pháp thân Phật vào tánh ta
Tánh ta cùng với Như Lai hiệp

Khi chúng ta biết mình và Phật, tự tánh đều bất nhị, thì liền vụt thấy một chân trời cao rộng, nhận diện được con người đích thực, cái bản lai diện mục của chính mình, giống như Thiền sư thấy mình là sư tử, dạo bước rong chơi giữa cảnh núi rừng im vắng ngao du :

Rừng chiên đàn không tạp thụ
Sâu kín um tùm sư tử trú
Cảnh vắng rừng im một mình chơi
Cao chạy xa bay chim cùng thú

Sư tử con chúng theo mẹ
Tuổi mới lên ba đà hống khỏe
Chó rừng dầu bén gót Pháp vương
Trăm năm yêu quái há mồm suông

Sư tử (ẩn dụ chỉ Phật) ở núi nào thì hươu, nai, dê, thỏ, chó rừng (ẩn dụ chỉ chúng sinh) đều bỏ chạy, trốn mất, vì những loài cầm thú hoang dã này mang tâm lượng nhỏ bé, hạn hẹp, không chịu nổi tiếng gầm rống dữ dội của sư tử. Tuy nhiên, nếu chúng ta ý thức thực chất của mình là sư tử thì trong chớp nhoáng thành sư tử ngay, bất chấp tuổi tác, thời gian, cũng như sư tử con mới ba tuổi đã rống khỏe như mẹ. Còn cứ mang mặc cảm mình là hươu, nai, dê, thỏ, chó rừng thì ngàn năm học rống cũng chẳng rống được. Pháp Thiền Viên đốn, chỉ thẳng vào thực chất sư tử, tức Phật tánh của hết thảy chúng ta, những con người bé nhỏ đáng thương :

Pháp Viên đốn vượt tình thường
Mọi niềm ngờ vực quyết không vương
Sãi tôi đâu sính bàn nhân ngã
Sợ lạc đường tu hố đoạn thường

Pháp Viên đốn vượt ngoài suy luận bình thường của thế nhân. Mọi sự hồ nghi, ngờ vực hãy dẹp hết. Thiền sư không thích luận bàn chuyện nhân ngã, chỉ e ngại người tu không tinh ý, rơi vào hai cực đoan là đoạn kiến (hư vô) và thường kiến (cố định) một cách nông cạn thì uổng phí, vì tà và chánh, chân và ngụy… chỉ cách nhau kẽ tóc đường tơ thôi. Nhắc nhở như thế, vì chính Huyền Giác cũng đã từng ngộ nhận :

Ta sớm bao năm chuyên học vấn
Từng viết sớ sao tìm kinh luận
Phân biệt danh tướng mãi không thôi
Vào biển đếm cát tự chuốc hận

Quả đáng bị Như Lai quở trách
Châu báu của người có gì ích ?
Lâu nay đắng đót rõ công suông
Uổng bấy làm thân phong trần khách

Huyền Giác trên đường cầu đạo cũng mắc phải cái bệnh chấp danh từ, chữ nghĩa, văn chương, triết học, lấy châu báu của người làm của mình, lấy trí mình lường trí Phật. Thật phí sức bao nhiêu công quả của một lữ khách phong trần. Nhiều người khác như hạng Thanh văn, Duyên giác dụng công quá nhiều (tinh tiến) mà không dụng tâm, còn bọn ngoại đạo, giỏi học giải mà không giỏi trí giải. Họ đều lấy hư làm thực, níu danh tướng, níu giác quan (căn cảnh) níu danh từ, không dám lìa danh ngôn nghĩa tướng để phát hiện Chân lý, nên bị hệ lụy. Phá trừ tất cả tướng, vật, những ảo ảnh do tâm tạo ra, không còn thấy một bóng dáng nào ngăn lấp, là thấy thực thể, thấy Như Lai :

Chẳng thấy một pháp tức Như Lai
Nên cũng kêu là Quán Tự Tại
Tỏ rồi nghiệp chướng hóa thành không
Chưa tỏ nợ xưa đành trang trải

“Nếu thấy hình tướng chẳng phải là hình tướng, tức thấy Như Lai” Đó là cái thấy của kinh Kim Cang. Cái thấy ấy là kết quả của một sức quán tưởng tối cao đến chỗ tuyệt đối, chỗ tự tại (Quán Tự Tại là đạo hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm.) Quán được như vậy thì lập tức giải trừ hết mọi nghiệp báo tự muôn đời, vì nghiệp báo vốn không cố định. Trong thế giới hiện tượng, tội lỗi là thật, nhưng trong thế giới Chân Như, tội lỗi là giả, không phải thật. Đừng mặc cảm tội lỗi mà tự mình che lấp mất Bồ đề tâm, tuệ trí :

Sư tử hống thuyết vô úy
Thương thay ai vẫn mê mờ rối
Mảng e tội chướng lấp Bồ đề
Chẳng được Như Lai mở kho bí

Có hai tỳ kheo phạm dâm sát
Đóm huỳnh Ba Ly thêm buộc siết
Bồ tát Duy Ma chốc giải ngờ
Như vầng dương chiếu tiêu sương tuyết

Huyền Giác kể lại, có hai thầy tu ở cốc núi nọ. Ngày kia, một ông đi xuống núi khất thực, một ông ở nhà. Bỗng có một sơn nữ đi qua, thấy ông nằm ngủ mê, bèn vào nhà và gây cuộc truy hoan. Ông thầy xuống núi trở về, thấy vậy, giận quá, lấy cây rượt đuổi cô gái. Sợ hãi, cô bỏ chạy, sẩy chân té xuống hố chết. Thế là cả hai thầy phạm dâm giới và sát giới.

Vội vàng cả hai liền đến sám hối, trình sự việc xảy ra với Ưu Ba Ly, một cao đệ của Phật, nổi danh đệ nhất trì giới. Ưu Ba Ly cứ y theo giới luật mà kết tội. Tội ấy không thể sám hối được, nhất định đọa xuống địa ngục A Tỳ. Hai thầy tuyệt vọng, nhưng còn ngờ, nên đến thỉnh giáo Bồ tát Duy Ma Cật. Nghe kể lại tự sự, Duy Ma Cật cười bảo: “Sự tình đó, không do bổn ý mà làm, nên tự nó không có tội.” Hai thầy bỗng thấu lẽ “tội tánh vốn không” liền được tự tâm giải thoát.

Câu nói của Duy Ma Cật như mặt trời chiếu tan sương tuyết, phút chốc mở cửa Diêu giác, khiến cho hai vị thầy kia thoát khỏi mặc cảm tội lỗi. Ơn ấy không đền được bằng vàng ngọc hay bằng bốn sự cúng dường (áo quần, thức ăn, chỗ tu, thuốc thang) bằng thịt nát xương tan. Một câu nói ngay tức khắc, giải thoát con người ra khỏi luân hồi, nghiệp quả từ muôn ngàn kiếp :

Bàn nghĩ chi sức giải thoát
Diệu dụng hằng sa như số cát
Bốn sự cúng dường dẫu nhọc bao
Muôn lượng vàng ròng dầu tiêu hết
Thịt tan xương nát chữa đền xong
Một câu thấu suốt siêu ngàn ức

Duy Ma Cật là bậc thượng thừa, tuy mang áo cư sỹ, sống giữa chợ đời, phồn hoa đô hội rối bù, phức tạp nhưng tâm hồn đã tự tri, liễu ngộ đạo lý Thiền siêu việt. Đạo lý ấy, vốn hằng hữu từ muôn thuở đến muôn nơi mà Đức Phật là người đầu tiên chứng ngộ, rồi khai mở, chỉ vạch ra cho tất cả thiên hạ, mọi người cùng thấy để sống an nhiên. Huyền Giác, một nhà trí thức cũng đã đốn ngộ giữa một chiều vạn đại, khi ngồi đọc kinh Duy Ma Cật trong am cốc tịch liêu. Hào hứng cất lên tiếng hát chan hòa, bát ngát giữa vô cùng, vô tận :

Đấng Pháp vương bậc Tối thắng
Hằng sa Như Lai cùng chung chứng
Ta nay giải vậy như ý châu
Người người tin nhận đều tương ứng

Suốt suốt thấy không một vật
Cũng không người cũng không Phật
Thế giới ba ngàn bọt nước xao
Mỗi mỗi thánh hiền như điện phất

Đức Phật được tôn là Pháp vương, Tối thắng cũng như vô số Như Lai đều chứng ngộ như vậy. Nay Thiền sư giảng giải lại theo sở đắc của mình. Ai tin nhận vậy là khế hợp với thực tại vô thượng, đều tương ứng với tự tánh Như Lai. Tự tánh ấy là bối cảnh đang diễn ra muôn sự, muôn vật, trùng trùng duyên khởi vô tận, nên không sự vật nào là một thực thể. Tất cả là duyên sinh, đều giả hợp giả tan, hư ảo vô thường, tuy có mà không thực có.

Dưới mắt Thiền sư, không đâu có vật, có người, có Phật, có ma… Toàn do nhân duyên mà hiện hữu, chợt đến, chợt đi, thoạt còn, thoạt mất như điện chớp. Cả đến ba ngàn thế giới vô lượng vô biên kia cũng chỉ là những bọt nước lao xao trên bối cảnh của tự tánh Như Lai.

Tự tánh hàm chứa toàn thể vũ trụ, nhân sinh, vốn rỗng lặng thanh tịnh, không nhiễm trước. Trên cái tịnh tuyệt đối, dấy lên cái động tương đối, nên dầu động như vành xe sắt chuyển trên đầu người chứng đạo, thì định và huệ vẫn viên minh và bất động. Dù cho mặt trăng bốc lửa, mặt trời hóa băng tuyết, quần ma nổi loạn, thì chân lý ấy vẫn bất động, bất diệt. Dẫu ngoại đạo (bọ ngựa) có gây ma chướng thì xe voi (Phật thừa) vẫn vững vàng tiến lên, không gì ngăn cản nổi, chẳng thế lực nào chặn được bước đi :

Ví phỏng thiết luân trên đầu chuyển
Định huệ sáng tròn luôn chẳng biến
Nguyệt dù thành lửa nhật thành băng
Ma nào phá được chân thuyết hiện ?
Xe voi dốc ngược vững đường lên
Sức mấy bọ trời ngăn sức tiến ?

Vô thượng Thiền là vậy, Thiền của bậc đại căn, đại trí. Cũng như voi không đi lối thỏ, bậc cao thủ không câu nệ tiểu tiết. Các bạn không nên nhìn qua cái ống tre mà chê bầu trời nhỏ hẹp. Với những ai chưa liễu đạt, khúc Chứng Đạo Ca này, vì các bạn mà mở ra những bí quyết cuối cùng :

Voi lớn đâu thèm đi lối thỏ
Ngộ lớn sá gì chút tiết nhỏ
Chớ dòm qua ống biếm trời xanh
Vì bạn còn mê ta nói rõ

Đó là Chứng Đạo Ca của Thiền sư thi sỹ Huyền Giác. Thi sỹ sinh năm 665, mất năm 713 tại Vĩnh Gia, Trung Hoa. Chứng Đạo Ca dài 266 câu thơ thất ngôn, tuy ra đời cách đây hơn 15 thế kỷ nhưng thần lực của thơ vẫn còn lan tỏa lạ lùng, âm thầm nhiếp dẫn tâm thức giữa muôn chiều diệu dụng, bừng lên sáng rực ngời ngọn lửa thiêng trong lòng người thời hiện đại. Ngay buổi đầu, Chứng Đạo Ca đã vang lừng trong thiên hạ. Từ Trung Hoa, khúc ca đã bay rợp trời khắp tòng lâm, thiền viện ra hải ngoại. Một pháp sư Ấn Độ, dịch ra chữ Phạn. Đến nay, Chứng Đạo Ca đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Tây phương, phổ biến trên toàn thế giới.

“Chứng Đạo Ca là một bản hòa tấu đồ sộ kết hợp bằng thơ và đạo. Thơ đem đến cho đạo những màu sắc, âm thanh trào ra từ vô thức, cháy bỏng theo tình người. Đạo đem đến cho thơ những chân trời bao la, huyền diệu, như có như không, bàng bạc trong ánh sáng thuở ban đầu.

Thơ là thơ của truyền thống Thịnh Đường, khi gắn bó như lời tâm sự, lúc quật khởi như sóng thét, gió gào, khi hoang vắng như vầng không tuyết gội, lúc sảng khoái như tòng bá đứng so gan. Quả là cây đàn muôn điệu !

Đạo là đạo của truyền thống Thiếu Lâm, cao khiết giữa vách đá cheo leo, ung dung giữa chợ búa, mát rượi dòng nước Tào Khê chảy qua lịch sử và lòng người như từ một nguồn bất tuyệt. Quả là đạo vô vi!” Trúc Thiên đã nói như thế, trong lời giới thiệu Chứng Đạo Ca.

Cảm hứng từ bài viết tuyệt vời của Trúc Thiên, tôi liền mần bài thơ Thiền Sư Thi Sỹ Huyền Giác này, gởi lên thiên thanh vĩnh thúy, bay theo mây trắng giữa bát ngát thiên thu, để lắng nghe tiếng Thiền sư còn đồng vọng trầm hùng trong thăm thẳm lòng sâu :

Như sư tử rống gầm thâm hậu
Thấu đạt rồi liễu ngộ mở sơ nguyên
Phát minh tâm địa nhờ tự lực
Chứng Đạo Ca vang dội tối thượng Thiền

Bừng hiển lộ cõi vô lượng thọ
Vô lượng quang tỏa chiếu rực ngời
Ơi chao ! Sống chết đâu có thực
Có vì lầm mê chấp ngã mà thôi

Lòng thanh thoát an nhiên liền thấy
Ngay vô minh là Phật tánh sờ sờ
Chơn Không mà vẫn thường diệu hữu
Nên huy hoàng sáng tạo suối nguồn thơ

Thơ huyết mạch tuôn trào bất tuyệt
Cuốn sạch làu muôn vạn kiếp sầu qua
Vô phân biệt trí cười khai thị
Chỉ ngay ra thực tại cái đang là

Tâm Nhiên

(Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện 2. 3. 2019)


Thơ Huyền Giác, trích trong Chứng Đạo Ca. Trúc Thiên dịch. Hồng Đức tái bản lần thứ 3, Sài Gòn 2014

Thơ Tặng Một Người Thời Học Trò

Chẳng nói chia tay mà vĩnh biệt
Tình còn chưa tỏ một đôi câu
Hoàn toàn cảm nhận y như thiệt
Tiền kiếp muôn đời đã của nhau

Thuở ấy mỗi ngày ta đi học
Ngang nhà có cửa ngõ đầy hoa
Vu vơ nhìn ngắm không ngờ gặp
Đôi mắt lạ lùng chợt ngó ra

Ta đạp xe đi hơi liển xiển
Lâu lâu bất giác lại quay đầu
Lá xanh hoa đỏ rung phơi phới
Mắt khuất sau lưng vẫn sáng ngời

Liên tiếp mấy ngày ta để ý
Mấy tuần liền đôi mắt vẫn theo ta
Không hiểu nhờ đâu ta lẫm liệt
Lân la rồi được phép vô nhà

Đã biết tên nhau đã cười đã liếc
Đã ngồi chung bàn đến ăn chung
trái tim bảo thầm em đích thực
thứ ta cần để được nhớ nhung

em cảm về ta thế nào không biết
không đến nỗi là nước lả người dưng
dù trăm phần trăm người dưng nước lả
cũng rất rõ ràng có một điểm chung

chưa nói yêu nhau một lần nào cả
nhưng ta lẫn em đều rõ vô cùng
thế nào là yêu là thương là giận
đến cả xót đau gọi gọn là buồn

mối tình học trò ngơ ngơ ngáo ngáo
nhưng cũng tuyệt vời tinh khiết ngây thơ
em đã cho ta một đời kiêu ngạo
biết yêu một người đẹp như ca dao

còn em bây giờ ra sao, chẳng lẽ
trách giận hoài ta một kẻ quá khờ
chẳng biết lạc nhau là may hay rủi
xin cảm ơn tình vẫn sống trong thơ

Luân Hoán

Ở BÊN NÀY THƯƠNG NHỚ BÊN KIA

Tháng tư xưa em đã bỏ Sài Gòn
Tuổi mười tám với giảng đường đại học
Bỏ trái tim nồng nàn và trang ký ức
Lần ra đi đành lỡ hẹn câu thề

Mấy mươi năm trời – lạ xứ – lạ quê
Em cô quạnh thả hồn về chốn cũ
Nơi anh chưa đêm nào yên giấc ngủ
Dõi theo mây ngàn dặm nước sông đầy

Mấy mươi năm trời – anh vẫn còn đây
Đời mỏi mệt qua bao lần được-mất
Đời đau khổ đôi chân anh bật khóc
Vì thương em cách biệt nghìn trùng

Vì thương em khi nhìn biển xanh trong
Anh tự nhủ lòng rằng anh đã trót
Nâng ly rượu thiếu tay em cầm rót
Nên thiên thu xa khuất nẻo đường tình

Em bên kia vui cũng chỉ một mình
Buồn cũng chỉ một mình trong thầm lặng
Không có anh bên em cùng đối ẩm
Rượu nhạt dần theo ngày tháng chờ mong

Lần ra đi – thấm thoát – mấy mươi năm
Như giấc mộng đời người đầy nước mắt
Mấy mươi năm tóc anh giờ đã bạc
Cứ mơ hoài – mơ mãi bóng em xưa.

LINH PHƯƠNG

Vay

Vay em một chút thơ ngây
Dắt lưng làm vốn qua ngày nhiễu nhương
Em mà dè sẻn yêu thương
Anh xin thế chấp đoạn trường làm tin

Vay em một chút chùa chiền
Ngày xưa mãi hát hò quên mang về
May còn nguyên khối si mê
Còn nguyên bút tích câu thề bướm ong

Vay em một chút đèo bòng
Cất vào rương bấm khóa trong giấu người
Đừng dè sẻn nữa em ơi !
Đã yêu giữ vốn mất lời là may

Anh còn thắc thỏm xin vay
Van em đừng trốn qua ngày tóc xanh
Một mai bóng biến ra hình
Chỉ thêm làm tội làm tình hai ta

Vay em một chút nóng là..
Anh từ tạ hết sân ga bên đường

Nguyễn Hàn Chung

CÔ DÂU

Khi cô vừa ngồi yên vị trên ghế máy bay, hãng hàng không Korea Airline, sau một hồi chật vật đẩy cái túi xách bằng da lớn quá khổ mà mẹ cô tìm hết cách nhét các thứ vào, bắt cô mang rất nặng, sau khi đã phải năn nỉ nhân viên soát vé, lấy bớt đồ lỉnh kỉnh ra cho nhẹ, để được mang nó vào máy bay thay vì gởi ở khu vực hành lý, sau khi thắt dây lưng an toàn, đưa mắt lo lắng nhìn qua cửa sổ máy bay, mây lờ lững, ngay vào lúc ấy thôi thì mọi người, những bà dì, bà cô, chị em họ, nói chung là tất cả, đều đã có cảm giác rằng cô đã xuống đến phi trường Seattle, đã bước đi trên đường phố tráng lệ, đã lái một chiếc xe hơi bóng nhoáng sơn màu đỏ chói, đã nói tiếng Anh như gió, đã mua được một căn nhà sáu phòng ngủ trên đồi, và dĩ nhiên một người như thế thừa khả năng để bắt đầu gửi tiền về Việt Nam cho mẹ cô, cho mọi người.
Sau khi cô đã đi rồi, mọi người còn đứng tụ lại trên khoảng sân nhỏ, có người ngồi ở bậc cửa, vì căn nhà quá nhỏ không đủ chỗ để ngồi, những bà mẹ trẻ vừa vạch áo cho con bú, vừa lấy tay đập muỗi trên má đứa trẻ, trở nên bớt cằn nhằn, cười nói vui vẻ và dễ dãi với những đứa bé lớn hơn, nghịch ngợm, vì nghĩ đến một tương lai mơ hồ chờ đợi họ. Có người tưởng tượng những cái bóp da nho nhỏ xinh xinh, có người mơ màng những đôi giày cao gót, cô đã hứa với họ. Cha cô bảo ông chỉ thích một cái ra dô để nghe tin tức, ông nói thế nhưng cô biết là ông cần nhiều thứ hơn nữa. Mẹ cô không nói gì cả, nhưng đó là sự kín đáo của một người lãnh đạo, tổ chức từ đầu đến cuối một công việc với mục đích rõ ràng.
Sau chuyến bay bốn giờ đồng hồ mà cô chẳng thấy mệt mỏi gì và không chóng mặt hay buồn nôn như người ta vẫn nói, có lẽ vì cô quá lo lắng hoặc quá sung sướng, hoặc cả hai, cô xuống phi trường Seoul trong một thời tiết êm ả, đẹp tuyệt, hơi mây mù nhưng không có mưa, ánh sáng mặt trời rắc lên đám cỏ xanh ngoài phòng đợi lấp lánh nhảy múa. Cô mua một cái bánh sandwich để ăn cho đỡ đói vì trên máy bay mải suy nghĩ, hồi hộp, cô chưa kịp ăn bữa ăn chiều thì người tiếp viên đã dọn mất rồi. Cô không có ý định mua cái bánh sandwich mà định mua thứ khác và một chai nước ngọt nhưng do không biết tiếng Anh, cuộc trò chuyện giữa cô và người bán hàng, một phụ nữ nhỏ bé, gắt gỏng, trở nên một cuộc thử thách đáng sợ nên cô đành chấp nhận món ăn kỳ quái, không kèm theo nước uống. Nhưng những thứ đó không đủ làm cô bực mình, chúng chẳng phải cực khổ gì lắm. Cô không phải là nàng công chúa có thể mau lẹ cảm nhận được hột đậu nhỏ ở dưới ba tầng nệm trắng; mới hôm qua đây thôi cô còn chạy qua đồng giữa trưa nắng gắt mang bữa cơm độn sắn và khoai mì, dưa cải cho cha của cô đi cày; mồ hôi lấm tấm trên mặt, cô suýt vấp ngã trên những luống cày, đất cứng như đá vì ba mươi tám ngày không mưa.
Anh nói với cô rằng những ngày khốn khổ của cô sẽ được đền bù, rằng bất chấp tất cả, khuôn mặt cô vẫn mịn màng, đẹp tuyệt và vì anh là một kỹ sư cao cấp trong hãng điện tử Hoa Kỳ, cô không nhớ là tên gì, nên việc chăm sóc sắc đẹp cho cô sau này không phải là chuyện lớn, vấn đề là cô phải trải qua những thử thách nho nhỏ; thử thách như kiểu cái bánh sandwich khô như củi xem ra không đến nỗi nào. Đồ đạc của chuyến xuất ngoại vẫn còn để đầy phòng, những bộ quần áo mà cô vừa mới may ở quán may đầu làng, chưa kịp mặc; hồi đó chưa có quần áo may sẵn như bây giờ, người ta phải đi mua vải tự may lấy. Mấy cái xách tay đã lộn trái ra ngoài không kịp xếp lại, hai ba đôi giày lỏng chỏng, những cái hộp giấy lớn vuông vức quấn bằng dây gai nhiều vòng, che mất cả địa chỉ nơi đến, chỉ chừa lại những chữ “Seatle…USA..” nằm chắn ngay ở cửa phòng, những đồ trang điểm của đàn bà con gái, những gói đồ thức ăn , như thịt chà bông, tép khô mà hai mẹ con thức suốt đêm bên ngọn lửa liu riu chăm chút làm để mang đi vì nghe nói anh thích những món ăn thuần túy và đậm đà bản sắc dân tộc, những thứ giấy tờ linh tinh khác, một cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Sài Gòn thường thường bậc trung nhưng ăn khách và cuốn sách dạy nấu ăn dành cho các cô dâu trẻ và hạnh phúc vì người lớn tuổi và không hạnh phúc quần quật trong bếp khói bếp mù cả mắt chẳng hơi đâu mà ngó tới, cô mang theo để đọc, vì thời ấy, đầu những năm một chín tám mươi, không có online như bây giờ. Cô đã học hết lớp mười trước khi nghỉ để phụ giúp việc gia đình và thời nhỏ rất mê đọc sách. Suốt nhiều ngày chúng không hề được chạm tới, những bức ảnh dán trên tường của cô cười xinh xắn, những bức ảnh có hình của anh và cô đi chơi biển Vũng Tàu, bước đi trên cát như những cặp tình nhân thơ mộng trong phim ảnh, quả cam để trên bàn từ xanh đến vàng đến khô, những người bạn thời nhỏ của cô đến ngồi bên cạnh giường, thương xót nhìn cô nằm thiếp trên giường, từ chối không ăn không uống, không khí vương mùi cỏ dại trong đất mới lật bay qua.
Cô chẳng nói gì, mẹ cô càng la lối, vừa la lối vừa khóc lóc thì cô càng im lặng, cha cô uống rượu nhiều hay lấy cớ để uống rượu nhiều thì không ai biết, ngồi trên chiếc bàn đóng bằng mấy cây tre khép lại dưới gốc mít đang ra những trái non, có những trái nhỏ bằng đầu ngón tay cái. Những người bà con và hàng xóm đi ra đi vào thì thào trò chuyện, có người thương xót, có kẻ thỏa mãn ra mặt vì lòng ghen tị của họ đã được thỏa mãn mà lòng ghen tị của người Việt thì vô địch thế giới, càng có tự do càng ghen ghét càng khổ cực càng soi mói, những con ruồi xanh bay vo ve ngoài cửa, một con đậu lên mí mắt một đứa trẻ, một con đậu lên bầu ngực căng phồng của người mẹ trẻ đang vạch áo cho con bú, con ruồi trông xa như một nụ hôn giận dữ. Cô nằm trên giường vòng hai tay lại nhìn trần nhà thấy những cái bóng đi qua đi lại, thấy anh đứng ở cửa phi trường ôm một bó hoa lớn gồm toàn hoa hồng đỏ nở nụ chúm chím, cô đếm đủ năm mươi hai cái, sao lại năm mươi hai? Cô chợt nhớ ra đó là tổng số tuổi của cô và anh, những nếu thế thì năm mươi mốt chứ không phải năm mươi hai vì còn ba ngày nữa mới đến sinh nhật của anh, đó là tính theo tuổi Tây, khi anh hỏi tuổi cô đã trả lời là cô hai mươi mốt tuổi, biết ngày sinh thì anh cười phá lên vì thực ra tính theo dương lịch thì cô mới mười chín tuổi, cô biết mình không đẹp lắm, chỉ có nét mặn mà duyên dáng, cô có yêu anh không cô cũng không biết vì cảm giác ân huệ mà anh mang lại lớn quá, cho mẹ cô và cả gia đình, nên cô chẳng còn thời giờ đâu mà nghĩ đến chuyện thổn thức của trái tim. Cô gần như sung sướng ngả đầu vào vai anh lập tức khi mẹ cô dẫn cô tới nhà anh lấy một cớ gì đó để tìm cách ra mắt đứa con gái và cô được anh chấm ngay trong lần đầu tiên giữa những ứng viên sáng giá khác.
Nhìn vào mắt cô, anh dịu dàng bảo: em có ba ngày để suy nghĩ. Được chứ?
Giọng anh ngân nga như hát.
Đó không phải là một câu hỏi. Cặp mắt anh thật là đẹp.
Cô chẳng cần đến ba ngày. Cô chỉ cần ba phút.
Nằm yên như thế một lúc cô bắt đầu nhận ra cái dáng của anh và tiếng cười khanh khách của một người đàn ông hơi quá tự tin, đang ban cho cô những ánh sáng của hạnh phúc, nhưng cô nhìn thấy những cái bóng khác nữa, mới đầu không nhận ra là ai, khi chúng đến gần cô hoảng hốt co rúm người sợ hãi, cô ngửng đầu ra khỏi cái gối, lấy tay che mặt một lúc rồi lại mở ra nhìn chăm chú, nửa tò mò, nửa sợ hãi; nửa lạnh lùng, nửa giận dữ. Cô ngạc nhiên thấy ở phi trường Seoul có những bông thược dược vàng mà cô chỉ thấy có ở quê mình, trồng bằng củ mỗi năm đào lên, cô vùi trong than bếp, kín đáo để ở góc bếp không ai biết, gần quá chúng sẽ nóng, xa chúng sẽ chết vì lạnh, mỗi năm cô gieo xuống đất và chờ ngày hoa nở dọc hàng rào, rất xa nhà vì ở xứ này đất còn nhiều và không ai lẩn thẩn đến nỗi đi trồng hoa ở ngoài bờ ruộng nên chỉ mình cô là biết đến những luống hoa nho nhỏ của mình. Cô đang ngẩn người ngắm những bông thược dược vàng, thật ra là tulip, thì vô ý đụng phải một người mang ba lô đi qua; anh ta nói gì đó như xin lỗi rồi ngồi xuống trước ghế ngay trước mặt cô. Phòng đợi đông nghịt người, dồn lại nhiều chuyến bay bị trễ vì một cơn bão di chuyển qua Thái bình dương. Những nhân viên hàng không tất tả chạy ra chạy vào không kịp trả lời các câu hỏi, không kịp giữ vẻ lịch sự và văn minh thường ngày.
Trên chuyến bay không có một người đồng hương nào để cô có thể hỏi chuyện. Cô đứng hồi lâu trước màn hình chạy những hàng chữ thông báo chuyến bay, ngơ ngác không biết chúng viết gì, cuối cùng cũng đủ sức nhận ra rằng mình cần lên chuyến bay đi Seattle trong vòng sáu giờ đồng hồ nữa. Đó là một thời gian khá dài, cô không dám đi đâu cả, nhưng cái bánh sandwich làm cô khát khô cổ. Người thanh niên mang ba lô mà cô đụng phải tỏ ra thân thiện và tử tế đưa mắt nhìn cô đoán chừng cô cần giúp đỡ. Anh hỏi chuyện và nói tiếng Anh rất chậm để cho cô nghe rõ, thực ra là đoán, đó là một người có khuôn mặt lai châu Á, hình như dân địa phương thì phải, nhưng cô không chắc lắm, vả lại điều ấy không quan trọng, và cô đánh bạo trả lời bằng thứ tiếng Anh bập bõm của mình, khoa chân múa tay, một lúc thì hai người bắt đầu hiểu nhau, anh ta đứng dậy nhờ cô trông giùm cái ba lô và đi mua một ly cà phê, hỏi cô có uống gì không, nhưng cô lắc đầu. Anh ta trở lại với ly cà phê và một cái bánh, một chai nước ngọt cho cô làm cô ngạc nhiên. Cô không quen với phép lịch sự phương Tây. Cuối cùng cô từ chối cái bánh nhưng chịu nhận ly nước ngọt vì quá khát, rồi cô buồn đi tiểu vì ngồi đợi quá lâu, phần vì hồi hộp, bụng dưới của cô kích thích dữ quá, không chịu đựng được cô đành đứng lên và gửi cho người thanh niên tử tế cái túi xách tay của mình. Trong hành lang tối và hẹp cô đứng khá lâu sau hàng dài những người đứng đợi trước khi vào được phòng vệ sinh, vì các chuyến bay bị trễ nên phi trường rất đông người, trong phòng vệ sinh cô đau bụng vì ăn phải thức ăn lạ, bụng cô không quen bơ sữa. Cô uống một nửa chai nước ngọt, nhận ra nó ngọt quá, vẫn không đỡ khát, nên quay lại bụm hai tay uống thêm nhiều hớp nước nữa ở dưới vòi rửa tay của phòng vệ sinh. Vòi rửa tay điều khiển bằng quang điện tử làm cô lúng túng mất gấp ba thời gian, thỉnh thoảng mới chịu phun ra một tí ti nước như trẻ con đi tiểu chẳng thấm vào đâu. Cô quay lại một lần nữa trước gương để soi lại mái tóc, nghĩ đến anh, những cử chỉ mà người ta hay làm khi do dự hay khi hạnh phúc, khi vừa lo lắng bất an vừa tin tưởng vào tương lai, tóm lại là cô trở lại chỗ ngồi trễ, rất trễ, đến nỗi chuyến bay của người thanh niên kia bay đi đâu đó đã cất cánh mất rồi, và anh ta không còn ở đó nữa, và cái túi xách của cô không còn ở đó nữa, tất nhiên, và giấy tờ bảo lãnh do tòa đại sứ cấp không còn ở đó nữa, và tờ hộ chiếu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam màu xanh lá cây mà cô đã cẩn thận nhét ở dưới đáy xách ở giữa hai vé máy bay, một cuống vé từ Việt Nam đến Seoul đã dùng và một tấm vé từ Seoul đi Seattle sắp dùng, cũng không còn ở đó nữa.
Cô hoàn toàn hỗn loạn, và sự hỗn loạn nhân đôi bởi ngôn ngữ bất đồng, và mọi người không ai hiểu cô nói gì cả, tất cả các nhân viên phi trường, tất cả các người tốt bụng đi ngang qua không ai hiểu cô đang gặp chuyện gì cả hay mọi người trong một buổi chiều mưa bão lạnh lẽo đã mất hết khả năng giúp đỡ người khác hay vì đơn giản là chẳng biết giúp cô thế nào. Cô không thể đi đâu được trên thế giới này vì không tự xác định được mình là ai.
Hãng máy bay Hàn quốc đã mau lẹ quyết định gửi cô lên chuyến bay sớm nhất trở lại Sài Gòn, sau này ở Tân sơn nhứt người ta bảo như thế là tử tế lắm chứ còn họ có thể vứt cô ra đường để mặc cho bọn chuyên bắt cóc phụ nữ và trẻ em vì trong tay cô không có một thứ giấy tờ nào chứng nhận cô là hành khách của họ hay là công dân hợp pháp của bất kỳ một quốc gia nào có chủ quyền thậm chí không chắc cô có phải là cư dân hợp pháp của hành tinh này hay không. Bằng cách nào cô đã đi từ Sài Gòn về nhà thì cô không nhớ được, bằng cách nào cô đã đứng thật lâu trước cửa nhà cha mẹ mình đêm trăng khuya khoắt hai giờ sáng và rụt rè gõ lên cửa thì cô không nhớ được, bằng cách nào cô đã gọi điện thoại báo tin cho anh ở Seattle thì cô không nhớ được, hoặc là anh đã gọi từ Mỹ về vì chờ đợi quá lâu ở phi trường, quá nóng ruột, cô cũng không nhớ được.
Cô chỉ nhớ là anh đã an ủi cô, đã bảo rằng sẽ tìm cách để làm lại giấy tờ bảo lãnh cho cô và mua vé máy bay đi chuyến khác. Giọng của anh vẫn dịu dàng vang lên trong ống nghe như hát, không có dấu hiệu nào của sự bực bội, tức giận hay khinh thường. Cô chỉ nhớ là anh đã lặng người đi thật lâu, lâu lắm, đến nỗi cô nghe được không khí mùa hè di chuyển quanh người anh ở đầu dây kia như những vòng sóng trước khi anh nói thế. Cô không tưởng tượng được rằng đó là sự im lặng chết người, của một quyết định.
Những đóa hoa vàng ở phi trường bay lẩn lút trong phòng của cô mới đầu như những con bướm hay những thiên thần trong cổ tích về sau như những con ma trên nghĩa địa đầu làng nơi cô đi học về muộn chiều mưa lâm thâm vừa xoay cái áo tơi mẹ cô chằm bằng lá dừa vừa lúp xúp chạy, nghĩ đến cái bếp lửa ấm ở nhà của mẹ cô, về sau nữa chúng nhiều đến nỗi làm cô hoa cả mắt có một lúc cô đã òa khóc trong đêm nhưng không ai biết, mọi người đã đi ngủ. Mẹ cô, người tổ chức mọi chuyện sau vài ngày hò hét than khóc, tỏ ra có phần lãnh đạm có lẽ vì cố nén sự đau khổ, là người đã báo tin cho cô biết rằng cuộc hôn nhân cuối cùng bị hủy bỏ và anh đổi ý, sẽ không bảo lãnh cho cô qua Mỹ nữa. Vì sao thì người ta không biết, có người cho là vì anh quá thất vọng và giận dữ vì sự ngu ngốc của cô, lại có giả thuyết cho rằng đó chỉ là giọt nước làm đầy ly, anh chỉ chụp lấy cái cớ này mà thôi, vốn anh đã không yêu thương gì cô cả hay mới quen một người đàn bà khác, đã kịp thời nghĩ lại sau khi dại dột hứa hôn, lại có người sâu sắc hơn nghĩ rằng đó là thử thách mà cô không vượt qua được, cưới một cô bé nhà quê như thế để mà tàn đời hay sao, lại có giả thiết cho rằng đây là sự nhầm lẫn tình cờ, chúng cũng nhiều như những con bướm nhỏ xíu không ngừng bay đi bay lại giữa những gói hàng lăn lóc trên sàn nhà bằng đất nện mát lạnh, rịn mồ hôi trong những ngày hè nắng gắt. Những con bướm và những giả thuyết ấy không làm cô dịu được nỗi nhục nhã ê chề, sự thất vọng của mấy mươi người cộng lại, sự phiền trách trong ánh mắt của những đứa bạn chị em họ, vết thương của những gót giày cao gõ xuống tâm hồn cú đánh xây xẩm mặt mày của những cái túi xách bằng da cá sấu làm ở Ý, cô bị nghiền nát dưới bánh của chiếc xe hơi màu đỏ chóe bị vứt trong tầng hầm tối của ngôi nhà sáu phòng ngủ mà cô vừa mới tậu trên đỉnh đồi, không chịu đựng được tất cả những thứ đó, cô đã quyết định bỏ chúng mà đi, đập cánh bay vù mất. Sau đó mẹ cô đã nhặt được dưới gầm giường của con gái một cái chai nhỏ, thứ vỏ chai xá xị con cọp bán đầy ở các quán nước. Đựng một chất nước tối đen, đậm đặc, cô đã uống hết nhưng vẫn còn hôi nồng nặc, bạn chỉ ngửi qua là đã buồn nôn. Thứ nước này nông dân miền Nam ai cũng biết vì dùng để diệt sâu rầy có hại cho mùa màng. Ai uống vào, sau vài giờ, khó cứu được. Cô đã uống hết, không để lại một giọt.
Thật ra, giữa những giấc ngủ chập chờn, cũng có lúc cô đã thức giấc và hoàn toàn tỉnh táo, đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Cô biết mình đang ở đâu. Tiếng chào hỏi ồn ào ngoài sảnh đường, tiếng trẻ con chạy dọc hành lang. Giàn nhạc kèn trống chơi những nốt nhạc khi ấm áp khi lạnh lẽo. Rồi cô nhìn thấy mẹ cô mặc áo gấm xanh thêu hoa kim tuyến đi vào và cô nhớ ra mọi chuyện. Ở ngoài vườn khách sạn, giữa những bụi hồng trổ hoa đầu mùa những cô phù dâu che miệng cười những chàng phù rể ném những bông confetti xanh đỏ lên đầu họ, dãy xe taxi và xe hơi đắt tiền đậu chen chúc chật cả lối ra vào. Một nhóm những người lớn tuổi đứng hút thuốc trò chuyện với nhau bên hồ nước. Anh đến lúc nào không biết, đứng sau lưng đặt tay lên vai, cô quay lại mỉm cười nhìn anh. Cô hỏi: có phải đây là chuyện thật không anh? Hay chỉ là giấc mơ của em? Không đợi trả lời cô lại quay nhìn ra cửa sổ, đứng yên khi anh hôn lên mái tóc của mình. Cô thấy một người thiếu nữ đi tới, mặt khuất sau tấm mạng che mặt, tà áo cô dâu trắng như tuyết phủ dài lê trên cỏ xanh mới cắt, dài đến nỗi cô ta bước đi vướng víu dù có hai đứa trẻ kèm theo sau nâng tà áo lên. Cô dâu kia di chuyển chậm chạp nhưng dáng đi đẹp đẽ thanh thoát đến nỗi cô không thể đoán biết là ai, mỗi lúc một đến gần, rồi bỗng ngẩng đầu lên nhìn vào cửa sổ nơi cô đang đứng: thật ngạc nhiên, cô dâu ấy chính là cô chứ còn ai nữa. Trong khi ấy từ phòng bên dương cầm trỗi lên những nốt nhạc thánh thót mỗi lúc một mạnh mẽ.

Nguyễn Đức Tùng

CHỢT THẤY PHÙ VÂN

treo đời lên cây khô
con bướm vàng thổn thức
chìm trong khói sông hồ
những câu thơ nhòe mực

có ai về cuối gió
hong khô đời tàn phai
đôi khi lòng chợt ngộ
gánh tình mình trên vai

nghe hát lời hư vô
nỗi buồn xưa mọc nhánh
chôn tình yêu cuối mộ
một niềm đau viên thành

mưa dài như ngọn khói
thả đau lời thiên thu
có điều em chưa nói
sao ngàn năm biệt mù

ai cầm đèn qua sông
chiều giăng mờ sương mỏng
quàng tay quờ ảo vọng
chợt nghe đời phù vân….

nguyễn minh phúc

Nhật Ký Có Màu Hoa Đào

Ôi mùa Xuân! Mùa Xuân hôm nay…
Nếu không gió thổi áo em bay
…thì tôi không thấy mùa Xuân tới
nhật ký tôi không có tháng ngày….

Tháng ngày có tự muôn năm trước
tà áo dài bay thuở Nhị Trưng
Cái thuở nước non chưa có Sử
một hôm máu chảy hóa mùa Xuân!

Không riêng máu chảy trên sa trường
nhuộm đỏ rừng phong mưa tuyết sương
mà cái cúi đầu sa nước mắt
mấy lần gạt lệ, Sử sang chương?

Em à, mình sống thấy hôm nay
đã biết bao con suối đổ đầy
nước ngập trường giang rồi biển lớn
…rồi em, tà áo gió bay bay…

Em à, thơ, truyện, thường hư cấu
nhưng Sử Biên Niên – Lịch Sử hồng
có thể điểm tô son phấn chút
Tình Yêu rực rỡ nét chân dung!

Anh yêu em với Tình Yêu đó
từ dáng đơn sơ nếp áo dài
từ tóc có xoăn vì nắng cuộn
từ bàn chân nở đóa hoa sen!

Ôi mùa Xuân này! Bùi Thị Xuân
một người Nữ Tướng mắt rưng rưng
nhìn con năm tuổi bầy voi đạp
bốn ngựa đưa hồn Mẹ bốn phương!

Tôi dạy nữ sinh trường học đó
Sáng nay nhìn thấy hoa đào cười
Biết lòng tôi lạnh bao nhiêu nỗi
Nhớ các em mùa Xuân áo phơi…

Trần Vấn Lệ