THÀNH PHỐ MÙA ĐÔNG

 

Thành phố ở hai mươi năm vẫn lạ
Con đường đi ngày mấy bận quên về
Vẫn rét lạnh như ngày đầu mới đến
Vẫn đậm đà một nỗi nhớ thương quê

Bạn bè cũ từ lâu không gặp lại
Người bỏ đi theo sóng nước miệt mài
Con dế nhỏ tiếc vầng trăng thơ dại
Ta tiếc thầm hơi ấm một bàn tay

Ta vẫn bước trên đường đầy gai nhọn
Thời gian qua năm tháng đến không ngờ
Còn hy vọng dù đã từng tuyệt vọng
Gót chân trầy máu nhỏ xuống trang thơ

Thành phố nhỏ mùa đông buồn vô hạn
Gió từng cơn hay tiếng thở than dài
Ta chợt hiểu trần gian này ảo mộng
Sống là đây rồi chết cũng là đây

Đào tuyết trắng như đắp từng ngôi mộ
Ta gọi thầm tên tuổi những anh em
Hỡi lịch sử ta gọi người lạc giọng
Bốn ngàn năm sao còn mãi đi tìm

Và mai mốt nếu qua thời xuôi ngược
Ta sẽ về kể lại chuyện tha phương
Chuyện ta kể biết còn ai hiểu được
Như muôn đời núi vẫn đứng cô đơn.

Trần Trung Đạo

NHỮNG CON MA DỄ THƯƠNG.

 

 

Tôi có duyên nợ với những con ma, năm 20 tuổi, tôi về dạy học ở một thị trấn ven đường, hoang sơ , vắng lặng… Trường nằm bên Quốc lộ 1, thời chiến tranh, nơi này đã hứng chịu những tàn phá khốc liệt của đạn bom, là nơi mà ban ngày Cộng Hòa, ban đêm Cộng Sản… Phụ huynh thấy cô giáo nhỏ xíu, ốm yếu thì thương, nói:”Cô về nhà tôi ở, cái bàn viết mà trường phân cho cô ngồi soạn bài, chấm bài là chỗ mấy ổng đâm nhau bằng lưỡi lê chết gục ở trển, máu me tùm lum mà cô không để ý!” Quả thật, những vết máu khô nâu nhòe nhoẹt được học trò cạo tới cạo lui bằng mảnh chai vẫn còn nhòa nhòa trên mặt. Mỗi lần ngồi làm việc ở đó, tôi trải lên một tờ giấy báo để che đi .

(Tôi không sợ ma kể từ ngày Cà Rốt chết. Cà Rốt là bạn hàng xóm thân thiết nhất của tôi từ thời thơ ấu cho đến lúc nó vĩnh biệt trần gian… Nó chết lãng nhách vì một trái bom thả rơi vô tội vạ vào trung tâm khu cư xá công chức. Một thành phố thanh bình yên ổn nhất chưa hề nghe tiếng đạn bom trong suốt cuộc chiến tranh lại phải hứng chịu một trận mưa bom tan tác vào những ngày chấm dứt cuộc chiến. Tôi vĩnh biệt Cà Rốt cũng là vĩnh biệt tuổi thơ tôi!)
Những buổi chiều cuối tuần buồn rợn, từ cửa sổ của phòng nhìn về phía con đường nhỏ dẫn ra sau trường là một rừng xương rồng và một bãi tha ma hoang vắng. Tất cả giáo viên đã về nhà còn mình tôi ở lại… Tôi không thể chen chân lên những chuyến xe than chạy qua quốc lộ vì quá đông người và hàng hóa… Rất nhiều khi các học trò ban ngày làm du kích, ban đêm đi học bổ túc văn hóa thấy cô giáo đứng lơ ngơ chảy nước mắt khi những chiếc xe lần lượt đi qua không ngừng lại, chỉ để rơi rớt những đốm lửa cháy đỏ trên đường… đã động lòng trắc ẩn, về xã đội lấy súng chặn đường tài xế, gởi cô giáo về Nha Trang.
Những chiều sẩm tối, rừng xương rồng buồn bã một màu hoa đỏ, phụ huynh thường nói những lúc đi qua nhìn thấy cô giáo đăm đắm nhìn về hướng đó:”Nó thấm quá nhiều máu nên hoa màu đỏ rực!”.
Mặt trời chiều nào cũng nuối tiếc rơi xuống những đốm nắng tàn phai… tôi đi về phía ngôi nhà nguyện đổ nát, hoang tàn để được đọc những bài kinh còn nhớ trong tâm trí... Lạy Cha chúng tôi ở trên trời… Kính mừng Maria đầy ơn phước... để cảm thấy mình được an ủi và có thêm chút nghị lực mà sống tiếp… Cứ mỗi lần về ngang con đường mòn này trong chiều chập choạng tôi luôn nghe tiếng :” Chào Cô Giáo” và thấy một người lính trẻ, áo lính bạc màu, mũ bê rê nâu đứng tựa bức tường rêu thấp với nụ cười trêu chọc… tôi nhắm mắt chạy nhanh qua. Thầy Lập nói: ” đó là oan hồn của một người lính trẻ, mới rời quân trường về thăm nhà chưa kịp ra trận đã bị “bên kia” xử bắn ở cái cổng chào này! Cô giáo có duyên lắm mới được nhìn thấy đó!”
Buồn, nhớ 2 câu thơ anh Võ Duy Chung: Như đám tàn quân chiều trận mạc/ Khoác chiến bào che giấu vết thương... Và thầm nghĩ: nếu những con ma đều dễ thương đến vậy thì đâu có gì đáng sợ!
Hơn 6 năm dạy học ở đây, tôi nhiều lần theo phụ huynh học sinh đi vượt biển, Thị trấn nằm giữa, bên biển bên rừng và lớp tôi chủ nhiệm đa số là học sinh vùng biển. Trước mỗi chuyến đi, người lính trẻ đều đến trong giấc ngủ buồn bã hỏi tôi rằng:” Nỡ bỏ tôi đi sao cô giáo?” và như một sợi dây neo chặt tôi vào vùng đất đã trở thành quen thuộc này dù phụ huynh đã dặn dò tôi phải đọc thuộc mấy câu kệ để thoát khỏi vòng âm khí …Tôi trả lời trong mơ:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha” để linh hồn ấy được siêu sinh tịnh độ.

Năm ấy, Thầy Lập rủ:” Ở lại qua đêm Giao thừa này đi cô Thụy, dự một phiên chợ Âm Dương cho biết với người ta!”
Chợ họp ở chân Dốc Găng, giữa rừng dương liễu, những ngọn đèn bão lững lờ như trôi trong đêm sương, những ngọn đuốc chớp tắt theo gió núi và những đống lửa nhỏ đốt bên đường sưởi ấm… Những bóng người mờ tỏ âm u. Tôi nắm chặt tay Hương Giang vì nó đang sợ muốn khóc thét lên. Thầy Lập hỏi: ” sợ không cô Thụy?” Tôi cười:” Thụy vốn là bạn của những con ma mà!”
Đêm nay là đêm Giao thừa, người sống và người chết trả hết những ân oán mà họ đã gieo gặt cho nhau để không còn nợ nần vương vấn. Tôi chỉ cho thầy Lập và Hương Giang thấy người lính ấy… Tôi không muốn đọc bài kệ cũ nữa. Mặc bạn thôi, nếu bạn không muốn siêu sinh tịnh độ thì cứ ở lại nơi này mà lặng lẽ gởi đến mọi người những nụ cười trêu chọc!
” Cô giáo, đói lòng ăn nửa trái Sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương” và trút vào giỏ tôi một rổ Sim tím thẩm… tay thầy Lập còn lạnh ngắt hơn cả tay Hương Giang nữa .” Cô nói chuyện với ai vậy Thụy?” Rồi kéo cả hai chúng tôi chạy nhanh ra Quốc lộ.

Đó là đêm cuối cùng tôi ở nơi xứ đó, Thị- Trấn- Ven- Đường .Mùng một tết tôi về nhà theo chuyến xe đò sớm nhất và không bao giờ trở lại nơi này vì lớp tôi chủ nhiệm đã vượt biên gần hết trong đêm tôi đi tìm phiên chợ Âm Dương!

Luôn có những con ma theo tôi suốt những chặng đường. Trước khi sinh đứa con gái đầu lòng, trưa nào nằm ngủ tôi cũng nghe tiếng banh thẻ đập đều đều trên sàn gác. Tôi hỏi:”đứa nào chơi ồn vậy con!” Tiếng trẻ con nũng nịu :” con nè cô, con là Tiểu Phượng”. Tôi nhớ, tôi gặp cô bạn thời trung học trong một trại tạm giam ở Phú Yên, cô có bầu 7 tháng và sinh non trong trạm xá. Con bé chết, cô nói trong dòng nước mắt đớn đau uất ức:” Tao đặt tên bé là Trần thị Tạm Giam và gởi trong chùa Núi.Thỉnh thoảng mày về thăm nó giùm tao” Tôi để cô thấm những giọt nước mắt đau buồn trên vai áo mà chẳng biết nói gì… Sau đó cô vượt biên, mất tích để tôi cứ đau đáu chờ hoài tin tức từ một chiếc ghe thất lạc!
Tôi về chùa Núi, xin sư cô đổi tên cho bé. Tôi khấn thầm: ” Bé con, cô yêu thương con vô cùng, cô gọi con là Tiểu Phượng… đóa hoa phượng bé bỏng xinh đẹp cuối mùa hè mà mẹ và cô ép vào trang lưu bút rồi tức tưởi từ bỏ tuổi thơ ngây…”
Tôi sinh con gái đầu lòng, nó dịu dàng xinh đẹp như cô bé Tiểu Phượng của giấc mơ tôi… nó cũng có một khóe lúm đồng tiền bên má trái như cô bạn học ngày xưa. Phải chăng tôi đã dần dần tìm lại được những gì đã mất?

Nhiều năm sau ở Mỹ,tôi mua một căn nhà nhỏ ở miền Nam California, người phụ nữ đang thuê căn nhà tôi định mua đã nói:
– ” Không ai dám ở đây đâu chị vì nhà bên cạnh có một con ma!”
– ” Vậy sao cô dám ở?”
– ” Vì em là một cô đồng, mấy con ma sợ em thì có! và em được cho ở không tiền”
– ” Tôi không sợ con ma nhà bên cạnh, giá rẻ thì tôi mua thôi!”
Nhà bên cạnh bỏ hoang mấy năm nay vì người chủ ở một mình đã chết. Tôi nhắm mắt mua đại để có một chỗ yên thân và không dám nói với ai về con ma nhà bên cạnh. Sửa sang nhà mình xong tôi qua quét dọn sân vườn bên ấy, trồng mấy luống hoa Mười Giờ, Ngũ Sắc rực rỡ đủ màu… Tôi nói thầm:”Mặc dù ông là người Mỹ nhưng đã chết rồi thì ông sẽ hiểu ngôn ngữ chung của tâm linh phải không? Ông cũng biết tôi muốn gì chứ! Với tôi thì không sao, ông có thể về đứng bên hiên nhà ông ngắm hoa ngắm lá! hút thuốc cũng được luôn(không hiểu sao tôi hình dung con- ma- nhà- bên- cạnh là một người đàn ông nhân hậu, tóc bạc trắng, bụng phệ và lúc nào cũng ngậm chiếc tẩu thuốc nghi ngút khói …) Nhưng còn mấy đứa nhỏ, thấy ông chắc tụi nó tản hồn tản vía… Vậy thì ông đừng xuất hiện trước mắt tụi nó nhen!” Tôi có cảm giác ai đó đang cười thanh thản. Thỉnh thoảng giữa khuya, tôi lén mở cửa sổ nhìn qua, không thấy gì hết, ngọn đèn bên sân này hiu hắt chiếu qua sân hàng xóm, lạnh lẽo, buồn buồn…

Theo truyền thống gia đình, cứ rằm và mùng một tôi hay ra thắp nhang khấn vái giữa trời cầu bình an cho người thân và thỉnh thoảng cũng xin xỏ vài điều mình muốn… Tôi hay bị la vì cái tội thích ăn gì cúng nấy chứ không áp dụng theo sách vở như Cầu Dừa Đủ Xài hay Mơ Đủ Điều Chôm Cóc Đủ… Thôi kệ đi, những con ma dễ thương vẫn theo tôi suốt cuộc, những lúc hoạn nạn ốm đau, trong giấc ngủ vẫn có những cái nheo mắt rất ma, những nụ cười rất mị đủ sức vực tôi dậy để đi cho hết cuộc đời!
Và sắp đến giờ Giao thừa rồi, tôi – bổn cũ soạn lại- bày biện nhang đèn hoa trái giữa sân , khấn vái mấy con ma quen biết, chẳng cần xin giàu sang phú quý gì cho vướng bận, mà chỉ xin rằng cho tôi muốn gì được nấy, chừng đó là quá đủ với tôi rồi!

Tôn Nữ Thu Dung

Thơ LÊ VĂN TRUNG

Trước 1975, nói gì thì nói, tôi chỉ là một đứa trẻ con, dù có tập tành làm văn thơ (… khá nổi tiếng của Tuổi Hoa và Tuổi Ngọc) và cũng đua đòi đọc những cuốn sách thời thượng của các tác giả Việt Nam lẫn thế giới mà… không hiểu gì hết! Những người đã nổi tiếng trước 75, khi ra hải ngoại, họ tiếp tục sáng tác, hoặc làm báo, hoặc trở thành các nhà truyền thông hoặc phê bình thì tôi mới biết rõ hơn về họ. ( tôi luôn biết ơn anh Trần Hoài Thư đã cố vấn và đỡ cho  nhiều … bàn thua khi thấy tôi… dễ chết vì thiếu hiểu biết!)
Cách đây 1 năm, tôi nhận liên tiếp những emails của một bạn tên Viên Hướng gởi rất nhiều thơ của tác giả Lê Văn Trung, tôi đã rất ngạc nhiên vì tác giả này, tưởng đâu giang hồ nói đúng: dân ta phải biết sử ta/ cái gì hỗng biết thì tra gu gồ... Tra hoài không thấy tên tác giả này…  những bài thơ hay vậy sao không hề có một dấu vết nào, từ đâu… Tôi hỏi : Bạn ơi, mình tò mò chút, bạn là gì của nhà thơ Lê Văn Trung. Câu trả lời cũng đơn giản: Mình muốn bạn đăng lên trang Tương Tri, mình là người được ủy quyền!
Tôi luôn có một nỗi sợ âm thầm vì anh Quan Dương thường đe dọa: Có một lúc nào đó người ta kiện Tương Tri tự tiện đăng bài là tổng… bí thơ vác chiếu ra tòa bán nhà trả nợ! Thế nên tôi vẫn cẩn thận lưu lại những emails cho phép hoặc ủy quyền như thế này.
Rất may, tôi còn có một Quân Sư Quạt Mo, ngài phán: Nhà thơ Lê Văn Trung sinh năm 1947, quê Quảng Nam. Ông tốt nghiệp QGSP Quy Nhơn năm 1969, ra trường về Quảng Ngãi dạy, trước 75 thơ ông đăng nhiều ở Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời Tập…. Sau 75 ông và gia đình về Huế sau đó bị đi tù cải tạo nhiều năm, ra tù ông chuyển đi kinh tế mới ở một nơi heo hút thuộc huyện Xuân Lộc, Đồng Nai cho đến nay. Ngoài thơ ông còn viết truyện ngắn lấy bút hiệu là Lê Nam Phương…Ổng là bạn của mấy ông Trần Hoài Thư, Lê Văn Nhàn v.v… Tôi hỏi: Đi dạy sao mà bị ở tù? Quân Sư cũng bí: Ai biết đâu!
Vậy là Tôi có manh mối…

 Làm ơn cầm hạt bụi này.Từ trăm năm cõi lưu đày nhân gian. Làm ơn cầm rất nhẹ nhàng. Rất mong manh, dễ vỡ tàn trên tay. Nhẹ như khói, nhẹ như mây. Nhẹ hơn cả tiếng thở dài trong tim. Và làm ơn đừng nguôi quên. Rằng thiên thu hạt bụi chìm hư vô. Tìm nhau trong hạt bụi này. Chờ nhau trong cõi lưu đày tình nhau.
( Lê Văn Trung)

Trân trọng giới thiệu cùng các bạn những bài thơ … có người về lại khu rừng cũ, nhìn thấy thơ xưa bụi phủ mờ…

 

HẠT BỤI

 

Ta về tàn mạt cuộc rong chơi
Dòng máu trong tim chảy ngậm ngùi
Trả nhau chưa hết mùa dâu biển
Nợ cả cơn mơ, giấc mộng người

 

Chữ nghĩa văn chương ôi phù phiếm
Trăm năm ta khắc đá đề thơ
Có người về lại khu rừng cũ
Nhìn thấy thơ xưa bụi phủ mờ

 

Đưa tay gạt từng chùm rêu mỏng
Lệ chảy trên từng câu cổ thi
Mới hay thơ chỉ là cơn mộng
Thơ chỉ là sương là khói bay

 

Ta về gửi áo phong trần lại
Gửi hết trăm năm trả nợ người
Hạt bụi đời ta là hạt lệ
Lăn rã rời theo cuộc nổi trôi.

 

 

HẠT MUỐI

 

Không chờ đợi cho tròn câu duyên nợ
Ta bỏ đi Người cũng vội qua sông
Ta bỏ đi mà lòng ta ở lại
Người qua sông Con nước chảy ngược dòng

 

Rồi một hôm trên dặm trường dong ruổi
Ta ngậm ngùi tìm lại bến sông xưa
Thì dòng sông đã mấy mùa bồi lở
Thuyền nhổ neo trôi giạt phía xa mờ

 

Lòng những tưởng chuyện mất còn dâu biển
Ta và người là cát bụi trần gian
Sao vẫn nghe tận đáy đời biển mặn
Hạt muối còn đau buốt nỗi chia tan

 

Dẫu biết rằng ta Chỉ là lữ khách trần gian.

 

 

HÃY BẮT ĐẦU CUỘC RONG CHƠI NGẬM NGÙI

 

Hãy bắt đầu thôi em chớ để
Ngày vui ngắn quá dưới tay Người
Ta ném trăm năm vào một cõi
Nối tình dâu biển để rong chơi

 

Nhân gian sâu thẳm rừng gai độc
Em nở cho ta một đóa hồng
Ngày mai có ngã bên triền dốc
Ta nhìn máu đỏ thắm hư không

 

Giọt lệ sầu xưa em cứ khóc
Mắt người thiên cổ bến mờ sương
Ta rót tràn ly màu ngọc bích
Tràn ly từng giọt tình bi thương

 

Hãy bắt đầu thôi ngày sắp hết
Chiều hoang lịm ngắt bóng mây tàn
Ta tụng dăm câu bùa chú lạ
Em về nhung lụa trắng màu tang

 

Trăm năm thôi cũng đành gang tấc
Ta sóng bờ khuya mỏi mạn thuyền
Chút sắc hương thừa em cứ để
Tan vào ta nỗi ngậm ngùi riêng

 

Hãy bắt đầu thôi ngày sẽ trôi
Hồn thiên thu lạnh lẽo bên trời
Ngọn gió oan khiên nào thổi tới
Lệ có còn xanh đôi mắt người

 

Hãy bắt đầu thôi, hãy bắt đầu
Ta dìm ta trong vũng tình sâu
Nghe vỡ buồng tim bung dòng máu
Chảy siết đời qua cuộc bể dâu

 

 

MIỀN IM LẶNG

 

Như chiếc lá rơi hoài không chạm đất
Tôi rơi buồn trong những giấc mơ em
Rơi buồn tênh như một nốt nhạc tình
Từ muôn kiếp, từ xa mù mê vọng

 

Bóng em khuất nẻo hoàng hôn quạnh vắng
Áo mờ phai, tóc chải lụa phai chiều
Tôi chới với giữa chập chùng cơn mộng
Níu bàn tay hờ hững lá vàng gieo

 

Tôi chới với giữa một MIỀN IM LẶNG
Tôi rơi hoài vô tận phía hoang vu
Chốn phải đến hàng triệu năm ánh sáng
Tôi rơi cùng hàng triệu triệu cơn mơ

 

Ôi một MIỀN IM LẶNG nở đầy hoa
Tôi rơi mãi về QUÊ NHÀ TRO BỤI
Tôi rơi về phía lòng em mở hội
Giữa một MIỀN IM LẶNG của nghìn năm.

 

 

 

MÂY TRẮNG BÊN TRỜI

 

Lòng thương hoài những áng mây chiều

Cứ bay mỏi về phương trời cố xứ
Và thương ta suốt một đời du tử
Thương em mịt mờ xa lắc mù tăm

 

Năm tháng buồn trôi, năm tháng lặng thầm
Năm mươi năm như tiếng thở dài vô tận
Năm mươi năm những gập ghềnh bên trời lận đận
Ta nợ người hay nợ chính đời ta

Ta nợ ta hay nợ cả quê nhà
Chìm dâu biển không thể nào trả nổi
Thơ ta viết không đủ lời xương máu
Cũng lặng chìm trong suốt cõi nhiễu nhương

 

Giấc mơ xưa hương sắc cõi thiên đường
Ta bỏ lại tình ta như bỏ lại linh hồn đá sỏi
Ta bỏ lại đời ta bên những dòng đời mệt mỏi
Ta bỏ lại tình em hiu hắt tuổi thu vàng

 

Năm mươi năm, ừ nhỉ, năm mươi năm
Ta vẫn ngóng hoài những màu mây bên trời cố xứ
Ta vẫn đi hoài suốt một đời du tử
Vẫn hoang mang lạc mất một phương về

 

Thổi qua đời mình những ngọn gió sắt se
Không mang nổi tình nhau qua ghềnh qua suối
Mặt trời ta chiều nay đã hoàng hôn réo gọi
Còn mong manh sợi mây trắng bên trời.

 

  

MÁI NHÀ XƯA

 

Tôi theo anh về thăm quê Đại Lộc
Mùa ve ran ran bụi nắng bay mù
Anh và tôi mười mấy năm phiêu bạc
Lòng cơ hồ nghe mỏi bước lãng du…

 

Con đường cũ rẽ năm ba nẽo mới
Tôi phân vân không biết lối nhà xưa
Khi tìm gặp những người quen biết cũ
Kẻ mừng vui, người buồn bã: bơ phờ

 

Anh chỉ tôi chiếc cầu kỷ niệm
(Nơi bao lần tôi đứng đợi người yêu)
Dòng sông giờ đây bên bồi bên lở
Chiếc cầu xưa đã gãy quỵ tiêu điều

 

Mẹ nhìn tôi thấy quen quen nhớ nhớ
Mái tranh nghèo từ buổi đầu gặp anh
Mẹ ít đổi thay tuy da nhăn tóc bạc
(Tôi nghe lòng sống lại những chiều xanh)

 

Cây ổi sẻ bên đường giờ đã chết
Hàng keo thưa vừa trổ đọt hôm qua
Mẹ bảo tôi: “Cửa nhà quạnh vắng
Con gắng về chơi”.  Lòng tôi chợt xót xa

 

Tôi nhớ những trưa giống hệt trưa này
(Tuy bây giờ có đôi chút đổi thay)
Mẹ ngồi chờ bên mâm cơm đạm bạc
Miệng cười tươi mắng nhẹ: “Gớm tụi bay!”

 

Tôi bỗng thấy lòng mình nhói đau, xúc động
Thèm được cùng anh gọi hai tiếng: “Mẹ ơi!”
Anh sợ tôi buồn nên khẽ cười nói lảng:
“Mai chúng ta về Hà Dục (*) thăm chơi”.

(bên trời cố xứ)

(*) Hà Dục, quê nhà của Nguyễn Kim, một người bạn.

 

TRONG MƠ TÔI THẤY CÁC EM VỀ

 

Trong mơ tôi thấy các em về buồn bã
Đứa đồi cao ôm súng nhớ sân trường
Đứa què quặt đi bằng đôi nạng gỗ
Các em về không giấu nỗi đau thương

 

Đứa ôm mặt khóc ròng trên xe đẩy
Buồn hay vui khi gặp lại nơi này
Lòng tôi như cơn mưa phùn tháng bảy
Các em về hiu hắt gió heo may

 

Đứa lủng lẳng đôi tay còn bết máu
Nằm im lìm trên từng chiếc băng ca
Đứa vừa chết phủ tang cờ, đôi mắt
Còn lăn tròn hai hàng lệ xót xa

 

Xin cám ơn cho tôi còn gặp lại
Dù các em về trong một thoáng mơ thôi
Dù các em về không còn nguyên thân xác
Nhìn được nhau cũng đủ gượng môi cười

 

Trong mơ tôi từng dãy bàn lớp học
Nằm đìu hiu, cây phượng đứng im lìm
Mắt cay cay tôi tưởng mình sắp khóc
Nhớ các em giờ trăm đứa trăm miền.

 (Blao, tháng 7.69)

 

TRUYỆN CỔ

 

Rồi cũng như từng câu truyện cổ
Ta ngồi kể mãi dưới sương khuya
Ta ngồi nghe ta như đứa trẻ
Nghe bà kể chuyện mà nằm mơ

 

Mơ thấy đêm xanh màu áo mỏng
Em về trong vắt một làn hương
Mơ thấy bồn hoa mùa thu trước
Nhớ ai mà nở nụ hoa vàng

 

Mơ thấy đôi chim về xây tổ
Quấn quýt đan từng sợi ái ân
Mơ thấy ta ngồi trên bến cũ
Nhìn sóng tan từng vòng vô tâm

 

Ta biết tình là câu chuyện cổ
Ta ngồi ta kể để ta nghe
Ta nghe bằng một linh hồn nhỏ
Bằng tấm lòng trong như suối khe.

 

 

TƯỞNG NIỆM

Em lẫn khuất khắp thiên đường địa ngục
Ta buồn tênh ngồi đợi giữa trần gian
Cành hoa úa trên tay người buổi ấy
Vẫn còn nguyên dòng lệ ấm vô cùng.

 

TUYỆT LỘ

 

Rồi những mùa xanh tiếp tiếp đi
Dặm ngàn thiên lý gió sương bay
Giang hồ bạc thếch hồn ly khách
Chén rượu nhân quần men đắng cay

 

Tìm ai giữa đất trời mông quạnh
Đốt đuốc soi lòng, ta với ta
Đã liệm trăm năm vào đất lạnh
Còn đâu hương sắc mộng phù hoa

 

Sá gì gom hết ngàn thu lại
Nhân thế vàng như rừng úa vàng
Sá gì đập vỡ trăm hồ rượu
Trời đất cơ hồ tuyệt mỹ nhân

 

Ta say từ buổi em là rượu
Ta tan từ độ em là mây
Ta phai từ thuở hương là gió
Từ trăng chìm dưới bến sông này

 

Rồi những mùa xanh trôi tiếp tiếp
Trùng trùng vô tận kiếp nhân sinh
Chén rượu nhân quần xin cạn hết
Ta và em lạc giữa phận mình.

    Lê Văn Trung

 

áo xuân

 

người đưa tay chạm
mùa xuân
tôi hôn hạt ngọc
đoạ trần
thành hoa

con đường dài-thổ mộ già
non cao dốc núi
tà tà
khói sương

chấm pha cổ tích hoang đường
tôi hôn vết mộng ủ hương chân hồng

ngón tay mềm-hái hư không
giật mình bay động
một dòng
chim di

người run cúc mở
xuân thì
tôi hôn thế giới
hồ nghi
mối tình

giọt sương ôm một hạt kinh
bỗng nghe tiếng vọng an bình gọi tên

ru người giấc ngủ
chiều quen
cho tôi hôn miết
bao phen
muộn phiền

trần ai khai hội nhân duyên
có tôi đứng lại bên hiên bụi hồng

Pham Quang Trung

Mùa Đông

Mùa Đông không còn lá
Này em, em nhặt gì?
Thưa anh, em nhặt nắng
Đáp xong, thằng bé đi…
 
 
Và người vừa hỏi nó
Đi tiếp trong công viên
Không hỏi đi đâu vậy?
Chắc câu hỏi vô duyên?
 
 
Công viên ngày Đông vắng
cả nắng, cũng thấy thưa
Không có hoa nào nở
Ngày không có buổi trưa!
 
 
Mà chạng vạng, không phải
Mà bình minh, cũng không
Thì trưa, đành mất tich
Buồn, tự nhiên, mênh mông!
 
 
Thằng bé đi nhặt nắng
xoa hai tay, xuýt xoa
Không nó, đường đã vắng
Có nó, đường thêm xa…
 
 
Người hỏi nó hồi nãy
nhìn nó một chút thôi
nghĩ thầm: nó chắc lạnh?
mình, thở cũng bay hơi...
Trần Vấn Lệ

Mùa Xuân Bay Khỏi Vũng Lầy

Tung tăng người hái ngây thơ
Ta bâng khuâng chạm giấc mơ cuối trời
Kìa em tàn hết cuộc chơi
Hồn ai hiu hắt nụ cười bỏ quên
Mưa vùi nắng lấp tuổi tên
Chìm và nổi khoét sâu thêm huyệt buồn
Qua đò lỡ bước đi luôn
Mặc cho dòng nước tha phương ngược về
Dao sầu chẻ dọc cơn mê
Hình hình bóng bóng bên lề vẫy tay
Mùa xuân bay khỏi vũng lầy
Hồn khô bỗng chốc rót đầy hương xưa!

Lưu Xông Pha

NỤ HÔN ĐÊM NOEL

Đêm Noel! Đêm Thánh An lành!
Nhớ vô cùng tuổi trẻ tóc xanh!
Anh nắm tay em đi Thánh Lễ
Nụ hôn tình đắm đuối môi trinh…
Đà Lạt ơi! Sương lạnh đồi thông
Con dốc trữ tình em nhớ không ?
Anh duội gáy em hôn cổ nõn
Đêm Noel! Đêm Thánh Vô Cùng!
Ngày ấy qua rồi không trở lại
Giáo đường in bóng mộng ngày xanh
Em ơi! Đêm Thánh xưa tình tứ
Dẫu chốn quê nhà lửa chiến tranh.
Ôi gió trầm hương hồn âm nhạc
Đêm Vô Cùng! Ướt sũng hồng ân!
Đêm Thánh ngàn thông Thiên Sứ hát
Lời Tình Yêu dịu ngọt vô ngần!
Đêm Noel ! Đêm Thánh An lành!
Mùa đông năm ấy thuở tóc xanh
Nụ hôn thần thánh trong lòng Chúa
Chuông nhà thờ ngân mãi hồn anh.
TRẦN THOẠI NGUYÊN

Nhớ ‘Chú Bé Đánh Trống’ Mùa Noel

 

1.

Năm nào cũng vậy, không khí mùa Giáng sinh đến sớm nhất với mọi người là qua nhạc Noel. Ngoài đường phố, các nơi còn chưa trang trí, làm đẹp bên trong, bên ngoài thì nhiều quán cà phê, siêu thị, trung tâm thương mại… đã bắt đầu rộn ràng phát dòng nhạc vui tươi ấy. Cả những chiếc xe đẩy, xe ba gác xập xệ bán đĩa nhạc rong, ngày ngày chuyên lặn lội vào những con hẽm xóm lao động, phát toàn nhạc não tình hay điệu bolero ‘lính chiến’, cũng ‘độn’ vào vài bản nhạc Noel lời Việt và phát đi phát lại mãi hai bản mà giới bình dân hay trí thức gì cũng đều thích là ‘Đêm thánh vô cùng’ và ‘Chuông ngân vang’.

Trong dòng nhạc Noel quốc tế phổ biến xưa nay, đã quá quen thuộc là các bản: Silent Night, Jingle Bells, We Wish You A Merry Christmas, Little Drummer Boy, Feliz Navidad,.v.v…. Trong đó, riêng bản Little Drummer Boy tuy hơi ít người biết nhưng vẫn hay tuyệt vời. Xuất hiện từ thập niên 60, nhạc phẩm thuộc dòng nhạc Noel kinh điển này đã từng được trình diễn hòa tấu hoặc hợp ca bởi những tên tuổi lớn trong giới âm nhạc quốc tế, như với dàn nhạc giao hưởng London Symphony Orchestra; với các ca sĩ, nhóm ca thượng thặng một thời như Frank Sinatra, Boney M., ABBA, cả với ca/nhạc sĩ độc đáo bên nhạc country Johnny Cash, hay với các ban hợp xướng acapella danh tiếng như Vienna Boys Choir, Pentatonix… Trong phim hoạt hình hay phim búp-bê, bản nhạc lại được tấu lên với những nhạc khí bằng gỗ thật đơn sơ thời Trung Đông cổ đại xen lẫn câu chuyện kể về đêm Giáng sinh nguyên thủy, về thời khắc Chúa hài đồng ra đời trong hang đá…

Từ thời trẻ trai, đã in đậm trong tâm tưởng tôi là hình ảnh chú bé đánh trống, hình tượng tinh khôi gắn liền với bản Little Drummer Boy cùng điệp khúc “Pa rum pum pum pum ! … Pa rum pum pum pum!”, mang tính chất một sứ điệp háo hức báo Tin Mừng cho trần thế. Tiếng trống của chú bé dõng dạc vang vọng đén mọi chốn gần, xa nhưng vẫn khoan thai, ung dung, như thể chú đang đánh trống trình diễn trước mắt mọi người mà chẳng khác gì chú đang tập trống, vui chơi một mình, cho riêng mình nghe.

2.

Một mùa Noel nào đó cuối thập niên 60 ở Sài Gòn, tình cờ tôi được mấy bạn người Mỹ – nhân viên dân sự, giáo viên Anh ngữ, nhà truyền giáo… – mời dự tiệc đêm Giáng sinh. Hồi đó chưa có trò hát karaoke nhưng một ban nhạc nhạc nhẹ – chỉ hai cây guitar và cái trống caisse claire – của chủ nhà cũng đủ cho mọi người tha hồ chơi nhạc, ca hát thật ‘xôm tụ’. Sau khi tất cả cùng hát bài Silent Night thật trầm lắng, rồi rộn ràng bài Jingle Bells, có người đề nghị hát bài Little Drummer Boy. Tôi lên tiếng rằng mình không biết lời (lyric) bài này thì trên giá nhạc đặt trên bục sân khấu mini, tập thánh ca đã mở ra ngay trang cần tìm cho mỗi mình tôi xem. Được lên bục đứng cạnh anh bạn chơi guitar, tôi có thể vừa góp giọng vừa tiện thể theo dõi toàn ban hợp ca nghiệp dư đề huề Mỹ – Việt đứng bên dưới.

Không hiểu sao người Mỹ – ít nhất là trong thời điểm lễ hội, họp mặt vui vẻ, thong dong như lúc này – họ tỏ ra vô cùng yêu đời, vui sống đến thế?

“Come they told me, pa rum pum pum pum / A new born king to see, pa rum pum pum pum!…”, các người bạn Mỹ – kể cả vài người đã lớn tuổi – ngẩng mặt lên hoặc quay nhìn nhau, cùng say sưa phồng má, bậm môi mà hát, khoan khoái lập đi lập lại ở cuối mỗi chi câu trong lời hát những nốt nhạc thể hiện những tiếng trống rập rình ấy. Có anh còn vừa “búm bum” một cách đả đời, vừa thích thú làm động tác của nhạc công chơi trống, chân dậm nhịp, tay cầm dùi gõ vào khoảng không.

Cứ như âm nhạc – đúng hơn là nhạc Giáng sinh – đang bao trùm căn phòng khách, nơi diễn ra bữa tiệc Noel vui vẻ, ấm cúng này. Thời buổi ấy, đêm đêm tiếng đại bác vẫn thường vọng về từ các vùng lân cận Sài Gòn. Đối với chúng tôi – những cư dân sống và làm việc trong đô thành nhìn chung còn an lành, đó là một nỗi ám ảnh không thể nào nguôi quên về thực tế chiến tranh, chết chóc, mất mát…vẫn đang còn tiếp diễn ngày đêm, khốc liệt và tàn nhẫn thời đó.

Vào dịp lễ mừng Chúa ra đời như đêm nay, những người bạn mắt xanh, tóc vàng kia như đã tạm quên lãng cuộc chiến, sống hết mình cho thực tế trước mắt là buổi họp mặt Noel, là tình bạn bè, đồng nghiệp, là đàn hát với nhau cho thật vui, thật nhộn, không khác một đám trẻ thơ hồn nhiên tụ tập, chơi đùa. Hiểu theo tín lý Thiên Chúa giáo, tâm trạng lạc quan này vô hình trung lại thể hiện sinh động cho ý nghĩa cao vời của sự kiện Chúa giáng sinh – điềm báo về sự mở đầu cho Mùa ‘Bình An Dưới Thế’. Đây cũng là niềm hy vọng thiết tha của người trần thế ký thác vào tính thiêng liêng của sự kiện Chúa ra đời. Theo lẽ thường, tình cảnh khó khăn, khổ đau càng kéo dài thì ai cũng cần có hy vọng để sống.

 

3.

Sau 30 – 4, thời ‘ăn độn’ chật vật, thiếu thốn cũng qua đi, thời ‘mở cửa’ đến thì cuộc sống tương đối có phần dễ thở hơn, cho phép vào các dịp cuối năm, dân Sài Gòn – cả tín đồ Thiên Chúa giáo cũng như người đạo khác – có thể tổ chức ăn mừng lễ Giáng sinh đàng hoàng, đầy đủ hơn theo truyền thống đã có từ thời chế độ cũ.

Ở tuổi ngũ tuần của mình, trước lễ Noel tôi cũng thấy vui vui nhè nhẹ trong lòng nhưng không thể nào còn cái háo hức của tuổi thanh niên ngày xưa, là rậm rực lo chuyện quần áo đẹp, xe xịn, cả bạn gái dắt đi chơi Noel nữa. Gọi là ‘chơi Noel’, tối 24 vợ chồng tôi chuẩn bị một chai rượu chát ngon khi nhận lời mời của một anh bạn Công giáo, ngụ ở một con hẻm gần nhà thờ Tân Việt, quận Tân Bình.

Tại bàn tiệc vô vàn thân ái và rất ngon miệng, tôi được anh bạn xếp ngồi bên cạnh bác Nguyệt, cha vợ anh. Bố Nguyệt tuổi đã ngoài 80 nhưng vẫn còn khỏe, còn rất minh mẩn cũng như thường ra giúp công việc lặt vặt cho cha xứ ở nhà thờ gần nhà. Tàn tiệc, chuyển ra salon uống trà hay cà phê, bố Nguyệt kể mình nguyên là lính quân nhạc chế độ cũ, còn vụ học chơi kèn Tây và trống caisse claire thì phải nói là từ thời…Bảo Đại. Tình cờ may mắn gặp được ‘người trong cuộc’, lại vào đúng thời khắc mừng Giáng sinh, tôi không thể nào không đề cập với bố Nguyệt về bản Little Drummer Boy, bản-nhạc-Noel-của-tôi.

Sau 30- 4, đã mấy chục năm trôi qua, người cựu lính quân nhạc già nua ngồi trước mặt tôi hiển nhiên đã trải qua bao nhiêu là khó khăn, thăng trầm trong cuộc sống. Bố Nguyệt im lặng một lát như tâm tưởng chợt quay về thời dĩ vãng, rồi khẽ hỏi lại tôi: “Có phải cái bài tên là Chú bé đánh trống không? Tên tiếng Anh thì bác không rành…”. Tôi lại không thể ngăn mình kềm lại sự láu táu rất trẻ con, cứ vung vẩy hai tay trong không khí khi tìm cách ‘thuyết minh’ thêm cho rõ hơn về chú bé chơi trống – biểu tượng dấu yêu trong lòng mình về bài hát: “Dạ, dạ, đúng rồi, tên tiếng Việt đúng là Chú bé đánh trống. Có nhiều đoạn cứ lập lại pa rum pum pum pum, pa rum pum pum pum bác ạ!” Bố Nguyệt liền đưa nắm tay ra đánh nhịp trong khoảng không và thử xướng âm: “Có phải e nhạc như thế này không cháu? Là là la la la pa rum pum pum pum?” Tôi chỉ còn biết gật đầu lia lịa, như sướng rên vì chợt gặp người đồng điệu, tức người cùng biết, cùng thích bài hát này như mình, mà như những anh bạn người Mỹ ngày xưa, hễ mở miệng hát là không thể không vung tay như đánh trống vào không khí để minh họa cho lời hát.

Hai bác cháu chúng tôi cười hể hả, vui không thể tưởng. Rồi trước khi chia tay, bố Nguyệt đã tâm sự: “Năm nào cũng thế, cứ gần Noel mà nghe bài ấy phát lên rộn ràng ở đâu đó thì lòng bác cứ như lặng đi, nhớ lại một thời mình chơi trống trong ban nhạc, đã từng tham gia trình diễn ở rất nhiều nơi, không biết bao nhiêu lần bài này và các bài Noel khác…”.

Cho đến mùa Noel năm nay, tôi vẫn âm thầm tìm nghe trên net, cũng như rất vui khi tình cờ được nghe bản Little Drummer Boy ngoài đường phố hay bất kỳ là ở đâu. Hơi tiếc là ở cái quán cà phê quen thuộc gần nhà tôi lại không có cái bản nhạc Noel đã kém phổ biến này. Nhưng cũng vui là cậu chủ quán tử tế, tự xưng rất rành nhạc xưa, đã hứa sẽ sớm bổ sung vào liste nhạc Noel tại quán cái bản “cậu bé đánh trống bùm bum bùm bum gì đấy!”.

PHẠM NGA

(Cận Giáng sinh 2019)

 

ĐOẢN KHÚC

 

Có đôi lần gõ cửa
Thiên Đàng vẫn chối từ
Hỏi mấy nhành rêu mục
Chắc thiếu phần chân tu!

Đành phân thân trở lại
Trần Gian vẫn nói cười
Đừng hoài nghi ái ngại
Kệ,
đời nhiều cuộc vui!

Khoan nhắc về Địa Ngục
Lửa chập chờn hoang mang
Chắc gì không sưởi ấm
Cuộc hành trình lang thang…

Khóc cười đều không thực
Buồn vui khi hạ màn
Cố đóng tròn vai kịch
Cuối cùng là
loãng, tan…

Tôn Nữ Thu Dung