có nhát thế không chứ

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

em rất đẹp sao ta không đành khổ
đẹp nghĩa là có tiếng gọi tiếng kêu
chân đứng chót trong hàng cờ biểu ngữ
đành thưa em xin chỉ nói một điều

một điều đó là một điều ú ớ
nghìn năm xưa muốn nói nói chưa ra
đôi khi giận ta đem đầu diện bích
lúc chẳng xong ra sông vắng khóc oà

em rất đẹp ối trời ơi não ruột
lòng chập chùng những sóng vỗ biển xanh
em bay tóc như muôn trùng quyến rũ
tới vô cùng nhịp tim đập còn nhanh

ngày thác loạn hôm ta say rất mực
em tỉnh bơ với xao xuyến ta như
ôi ta khổ ta buồn như khỉ gió
em bình tâm ta động giữa thực hư

sầu ta khóc có mùi mưa cây lá
khi hên xui cũng có lúc ta cười
là lúc chợt em quay ngang nhìn xuống
đời hư phù đang héo bỗng chợt tươi

em rất đẹp thưa em thưa rất đẹp
thưa cà lăm muốn nói mãi chẳng xong
thôi quì xuống lạy lung tung trời đất
rằng một điều muốn nói rất mênh mông

NGÔ YÊN THÁI

PHỐ MỌI…

hochibuu

Không biết tên đó ai đặt và có từ lúc nào. Nhưng tôi đã có mặt ở đây hơn nửa năm rồi. Một dãy nhà được ngăn ra làm mười phòng. Mỗi phòng 16m2, toillet đầy đủ. Có ghi số thứ tự nơi cửa. Tôi mướn phòng thứ 1.

Phòng thứ 2 của ông lão mua đồ cổ đến từ Bình Định. Gọi bằng lão vì ông cũng quá lục tuần. Có lúc, tôi cảm giác ông như con sâu giấu mình vào cây lá. Như một dòng suối giấu mình vào biển khơi. Như một thiền sư giấu mình vào hệ luỵ trần gian. Ông cũng am hiểu khá nhiều về Kinh Dịch. Những lúc rỗi rãnh, ông thường tâm sự với tôi. Ông vốn là nhà sư, nhưng trung niên rồi mới xuất gia. Có lúc tôi trêu ông “ Ba cô gái đẹp lên chùa. Một cô yếm thắm bỏ bùa nhà sư- Sư về sư ốm tương tư- Ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu”. Đi tu không bao lâu thì hoàn tục về cũng lấy một ni cô hoàn tục. Hai người ăn ở với nhau có được một cô con gái. Hai mươi năm sau, vợ ông lên chùa tu lại. Ông lang bạt sông hồ. Cuối đời làm nghề chấm Tử vi và mua đồ cổ.
Buổi chiều, ông cởi chiếc xe đạp cà tàng của ông về. Trên xe treo bọc trà khô. Gặp tôi ông hú hí :
-Qua chơi nhà thơ (thấy nét thư sinh của tôi nên ông gọi thế)
Gặp một thân chủ cũ, họ mời vào nhà chơi và tặng cho mấy gam trà ngon.
Tôi để trần sang phòng ông :
-Hôm nay có mua được món nào không bố ?
Ông khệ nệ tháo cái bọc sau ba ga :
-Được hai cái sừng nai, mỗi cái gần 80cm, cũng tàm tạm..
-Vậy là bố già vô mánh rồi !
Ông lui cui đun ấm nước điện, cần mẫn pha trà. Tráng trà kỹ lưỡng. Rót trà ra ly, đẩy sang tôi.
-Chà..trà thơm quá. Tôi nói.
-Không định lấy, nhưng con bé năn nỉ quá..
-Cầm lòng không đậu hả bố ? Tôi cướp lời.
-Chú mầy thiệt…à nầy, báo cho chú mầy một việc nhé. Tao quan sát thiên nhiên thấy có điều kỳ lạ, nên đêm qua tao lấy quẻ thử, phát hiện ra trong vòng một tháng nữa sẽ mất một lãnh đạo lớn. Không quân (ý ông nói không có lính, tức người về hưu). Không biết đích danh là ai, nhưng chắc chắn người nầy quê ở miền trung
-Chắc chưa bố ?
-Chắc chắn. Tao dùng Tứ trụ dự đoán học rồi Mai hoa dịch số, đều thấy y chang nhau.
Và điều nầy là thật. Khoảng chừng hai tuần sau, ngài thủ tướng mất, quê ông ở Quảng Ngãi.
Ông thường trao đổi với tôi nhiều về những tin ông dự đoán. Chuyện kể trên là một trường hợp. Ngoài ra chuyện ở Afghanistan, Irag và gần đây là xung đột giữa Israel với Li Băng
Palestine. Ông dự đoán chính xác 80, 90%. Nhưng không biết bố già có đoán được chừng nào bố mất không? Khi tôi viết những dòng nầy là bố già đã về quê ở Bình Định để dự lễ vu qui của con gái.

Phòng thứ 3 là hai cô bé đến thuê phòng cho ba tháng hè. Chuẩn bị lên lớp 12. Học thêm ở đâu đó, nhưng sáng nào cũng đi. Hai người đi chiếc xe gắn máy Trung quốc. Trưa về nấu cơm ăn, ngủ. Chiều khoảng 17, 18 giờ, hai cậu thanh niên chạy chiếc Attila đến, đóng cửa rù rì rồi cười thét lên, liên tục, liên tục.. Khoảng 20 giờ chở nhau đi ăn và về giỡn tiếp. Hai mươi hai giờ, hai cậu thanh niên về. Hai cô gái lấy điện thoại di động ra chơi games. Chúa nhật thì cha mẹ từ dưới quê lên. Gồng gánh nào gạo, trái cây, thức ăn. Tổ chức đi chợ nấu cơm. Thứ hai lại thui thủi về quê. Bỏ con lại với kỳ vọng con mình sẽ vào lớp 12 hiên ngang năm nầy. Nhưng hỡi ơi, các con của các bà vẫn mạnh khoẻ, tươi tắn. Đang tận dụng hết thời gian tự do hợp pháp để tìm cách đốt tiền của cha mẹ. Tuổi của yêu đương, mộng mơ và tìm hiểu. Không có người lớn bên mình. Ai biết điều gì sẽ xảy ra với những người kém bản lĩnh mà nhiều đam mê.

Phòng 4, hai vợ chồng thanh niên. Chồng dân Quảng Ngãi, vợ quê An Giang. Không biết làm sao họ lại gặp nhau được. Kết hôn có giấy đăng ký đàng hoàng. Chồng bỏ mối loại kính mắt Hàn Quốc (dỏm) đủ loại từ thượng vàng hạ cám. Hai ba ngày đi giao hàng một lần. Vợ ở nhà trang điểm kỹ lưỡng. Đóng cửa chờ chồng, không đi đâu ngoài đi chợ. Vợ chồng mới cưới nên săn sóc nhau chu đáo. Không hề nghe cự cãi bao giờ. Chồng đẹp mà vợ cũng rất xinh. Trông họ rất mặn nồng ân ái. Tôi thường bắt gặp nàng ngồi ngay cửa sổ với cái gương xinh xinh. Chăm sóc gương mặt mình còn hơn chuyên viên thẩm mỹ viện. Tôi thầm nghĩ anh chồng nên bỏ nghề bán mắt kính qua bán mỹ phẩm có lẽ hay hơn.

Phòng số 5. Hai vợ chồng giáo viên, chồng dạy cấp 1, vợ là thợ may. Vợ chồng nầy là thành viên lâu năm nhất trong số những người thuê phòng ở đây. Vợ đi may ở nhà may tư nhân. Do nàng dâu và gia đình chồng không hợp nhau, nên chồng nghe lời vợ đi mướn nhà ở riêng chứ tài chánh họ không đến đỗi. Lấy nhau sáu , bảy năm gì đó nhưng chưa có con. Anh chồng thi thoảng lại về trể và say bí tỉ. Mỗi lần như vậy thì có nghe rổn rảng một chút rồi người vợ sụt sịt khóc. Có tiếng khóc thì chiến trường êm ả lại. Sáng ra, chục lần như một thì y như là lưng của thầy giáo chừng cả trăm dấu tròn đỏ. Kết quả của một trận giác hơi.
Người vợ cũng hiền lành, có lần cô qua phòng cho tôi con rùa vải dùng để chùi chân do chính tay cô may. Tôi cũng một lần mang ơn cô ta, chẳng là có lần vào khoảng 22 giờ đêm, tôi bỗng dưng đau bụng lạ thường, đi cầu liên tục. Tôi qua quán mua thuốc uống, gặp tôi cô hỏi và lát sau mang qua cho tôi ly rượu thuốc đặc quánh của thầy giáo, bảo là thuốc gia truyền chuyên trị về tả lỵ. Mà quả thật, uống xong khoảng 10 phút là tôi nghe êm êm và không còn đi cầu nữa.

Phòng số 6. Vô hình trung là cái quán nhỏ chuyên cung cấp đồ dùng và một ít thực phẩm cho những phòng trọ chúng tôi. Chủ quán là người ngoài năm mươi, chắc quê ông ở gần căn cứ Long Bình (nơi mà ngày trước quân đội Mỹ dùng làm kho chứa thuốc nổ, đạn dược) nên ông nói chuyện nổ quá trời. Cái gì cũng số 1 la mã. Chưa bao giờ chịu thua ai trong việc tranh cãi chuyện gì đó. Tôi ở Hà Nội 3 năm, nhưng chưa biết cầu Long Biên, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương dài bao nhiêu, chùa một cột cao bao nhiêu. Nhưng ông biết chính xác số đo trong khi chưa hề một lần đặt chân lên xứ bắc. Thi thoảng ông cũng phát biểu linh tinh về xã hội. Với tôi, ông là người khó cải tạo tư tưởng sống cho phù hợp với tình trạng xã hội bây giờ. Bởi ông là quân nhân quân lực VNCH trước 75.

Phòng số 7. Thuê phòng là cô bé mười chín tuổi, quê ở một huyện xa trong tỉnh. Tháng đầu cô đến với chiếc honda dame của Nhật sản xuất trước 75. Nét mặt đẹp thơ ngây như bức tượng. Cô nói làm tiếp viên cho một nhà hàng. Quả thật vậy, có lần được bạn bè mời tôi chầu nhậu tươi mát tại nhà hàng karaoke Ngọc Lan. Tôi đã gặp cô ngồi chung bàn. Cô ngồi với bạn tôi. Cô bé thẹn thùng nhưng tôi vờ như không quen biết. Sau vài chai bia, cô mất sự bẽn lẽn ban đầu và cô chủ động tấn công tôi. Cô xin đổi đào với tôi, nhưng cô gái ngồi với tôi không chịu. Khổ nỗi điều nầy làm tôi phải tránh mặt cô nhiều ngày sau đó. Rồi một chiều, chiếc honda dame đâu không biết. Cô rạng rỡ với bộ đồ dạ hội. Chễm chệ trên chiếc Nouvo màu trắng tinh. Cô chạy suýt nữa đụng phải cánh cửa phòng cô. Cũng từ ngày đó, cô đau cái cổ rất nặng. Tôi nghĩ thế, vì thấy mỗi lần ngồi trên xe chạy, cổ cô đều ngước lên trời. Mới vừa rồi, nửa đêm công an xét phòng. Trong phòng của cô có người đàn ông lớn tuổi, cô nói chú họ. Nhưng cũng bị phạt hành chánh vì không có tên trong danh sách đăng ký.

Phòng số 8. Phòng nầy có vẻ đặc biệt. Cặp ông, bà trên năm mươi. Không biết người phương nào, gia đình ra sao. Dù ngoài năm mươi nhưng người đàn bà cũng còn mặn mà lắm. Đủ cho thấy bà có một thời vàng son. Người đàn ông như một cao thủ võ lâm. Tóc dài, râu ria quay hàm, ông cũng là người mà từng ‘một thời để yêu và một thời để chết’. Tin từ hành lang phòng số 5, chúng tôi biết ông bà nầy gia đình giàu có, con cái thành đạt. Giờ hai người vào chùa làm công quả, mướn phòng chỉ để nghỉ buổi trưa, còn tối thì về nghỉ ở gia đình. Nhưng cũng nhiều đêm ngủ lại. Người đàn ông mua cơm hộp và nước khoáng về sử dụng. Hình như họ ăn chay, bố già phòng số 2 nói với tôi, họ ăn chay nhưng ngủ mặn. Tin đáng tin cậy là họ yêu nhau khi còn trẻ, hoàn cảnh không thể cưới nhau. Ông có vợ, bà có chồng. Chồng bà sau nầy bị bệnh chết. Vợ ông kia vẫn còn, nhưng họ lại là chị em bà con bạn dì. Chuyện y như trong phim.

Phòng số 9, cũng hai ông bà. Người đàn ông ngoài ba mươi, người đàn bà ngoài bốn mươi. Chênh lệch nhau chắc một con giáp. Anh chàng hiền lành ít nói. Đi bán vé số dạo với chiếc xe đạp bèo, người đàn bà cũng đi bán vé số, nhưng ngày bán vài ngày nghỉ. Lâu lâu có một bé trai chừng 10 tuổi đến ngủ vài ngày rồi biến mất. Nghe nói đó là tác phẩm của hai người. Bố già phòng số 2 coi tướng người đàn bà nầy, ông nói thọ nhưng nghèo suốt đời. Chuyện tình yêu trắc trở, ít nhất là vài ba đời chồng bởi phá tướng. Đàn bà gì mà ăn nói sang sảng như Lương Sơn Bạc, còn nghèo vì tướng đi dách dách sảnh, ấn đường u tối.

Phòng số 10, là phòng cuối cùng. Một người đàn ông. Ông ngoài ngũ tuần, là nhà văn hay nhà thơ gì đó. Ông còn là cộng tác viên của nhiều tuần báo, website. Rõ ràng kiến thức của ông uyên bác. Chuyện gì cũng biết. Khác với ông phòng số 6 biết chuyệt vặt. Ông phòng số 10 ngon lành hơn, các nhà văn nhà thơ nước ngoài. Từ Châu âu, châu á, châu mỹ, châu phi. Ở đâu ngài cũng biết nốt. Từ Eric Maria Remarque, William Saroyan, Henry Miller, Rimbaud. Jean Paul Sartre, Ernest Hemingway. Đến Lý bạch, Trương Kế, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị dài dài qua Kim Dung, Quỳnh Dao. Muốn nghe tác phẩm nào, của nhà văn nhà thơ nào là ông đọc danh dách, như một tự điển sống. Đang nói về hiện sinh của Sartre, mình nói qua Phạm Công Thiện thì ông phát cho nghe Hố thẳm tư tưởng, Im lặng hố thẳm ngay. Vũ Đức Sao Biển chuyên nghiên cứu về Kim Dung, nếu gặp ông cũng phải botay.com. Ông nhắc từng câu chuyện, từng nhân vật, nào là Tiếu ngạo giang hồ, Ỷ thiên đồ long đao, Anh hùng xạ điêu, Lộc đỉnh ký.v.v…Hỏi về Quang Dũng ông đọc cho nghe một loạt : Đôi mắt người sơn tây, Tây tiến, Đôi bờ, Quán bên đường. Đang ngon trớn như vậy thử đá qua thơ đường. Y như máy cassette ông mở liền Thôi Hiệu, có lần ông đọc cho tôi nghe nguyên tác bài Hoàng Hạc Lâu :

Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất biến bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch hán dương thụ
Phương thảo thê thê anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Ông nói ngày trước Tản Đà dịch bài nầy với thể thơ lục bát, ông không tâm đắc. Ông có người bạn dịch bài nầy với thể thơ thất ngôn bát cú đường luật y như nguyên tác, và ông tằng hắng, không phải đọc mà là ngâm :

Bặt bóng người xưa cỡi hạc vàng
Còn đây trơ lại mái lầu hoang
Hạc vàng một vút không lưu luyến
Mây trắng ngàn năm luống bẽ bàng
Sông lạnh Hán dương cây rạng rở
Bãi thơm Anh vũ cỏ miên man
Quê hương khuất nẻo chiều nghiêng bóng
Gợi khách sầu lây khói sóng tràn

Tiếc rằng tôi không biết về văn thơ. Song với hai câu chót, tôi nghe sao ngậm ngùi quá. Tôi cười nói với ông:
-Thiệt tình, chú đọc thơ cho cháu nghe, giống y như nước đổ trên đầu vịt..
Ông há mồm hỏi tôi :
-Vậy chứ thắng Út mầy làm nghề gì ?
-Dạ…con là bác sĩ…thú vật.

hồchíbửu.

DẠ NGUYỆT

trananh

Trăng nhỏ nhỏ tư tình với lá
Thuyền run run gương vỡ mặt hồ
Đêm mơ kín quỳnh hương rất lạ
Tay nâng bầu tay nép miệng hoa.

Đêm nguyệt bạch nàng cười nửa miệng
Khúc hồ cầm rơi động tiếng chim
Mở túi trao đường thi dăm quyển
Ồ ca nương, em hỡi…hát lên

Lời sương khói ngón nào ngây ngất
Gợn chân mày vòng nguyệt cong xanh
Xiêm y khẽ rung ngời ánh nhạc
Làm , chao ơi , mây gió nghiêng mình

Sáo thư sinh sầu vọng Tiêu Tương
Lời muôn năm trăng rụng dưới thuyền
Buồn chưa thở đã bay trong mắt
Ép nồng nàn áo lụa trinh nguyên

Hồn cổ sơ đau vùi lau lách
Thuyền không đi đợi gió trăng về
Nàng e thẹn môi hồng tinh khiết
Sương vô cùng rét ngọn cỏ khuya

Hỡi bóng nguyệt rằm thiên thu mãi
Lòng trần gian hồ hải ruỗi rong
Tình là khói thơm mùi cây trái
Trăng đêm nay khóc ngất trong lòng…

Trần Anh
(1972)

NGÀY VẪN CÒN ĐÊM

nguyenlamthang

Ngày đã xưa lắm rồi, đêm đã cũ
Những dòng sông chết tiệt tự bao giờ
Tình tuyệt thực và niềm tin tự tử
Người ngó người bằng đôi mắt đơ đơ

Đời nát bét bởi bàn tay vô đạo
Đất khô rang, lũ kiến chết cong đầu
Những mặt nạ cứ mọc lên trơ tráo
Tuồng dối lừa liên tục đổi thay nhau

Em câm nín, lệ hai hàng xuống mộ
Anh lặng thầm, xương trắng mộng quê cha
Gà gáy vội, dắt ngày mai qua ngõ
Đây quê hương thoi thóp giọt sơn hà

Tim bầm dập tự ngày nghe biển động
Máu khô dòng từ lúc núi đeo tang
Dòng sử đắng bò quanh trong cổ họng
Thương câu kiều, da diết nhớ văn lang

Nhang khói lạnh, tanh tao mùi máu ứ
Những bóng ma họp chợ ngả ba đường
Ngày gõ cửa, mà đêm thì ú ớ
Mắt quê nhoà nghe nắng đẫm trong sương.

nguyễn lãm thắng

Về một ánh sao

truongvandan

Khi một người nào đó mất đi luôn để lại chúng ta một khoảng trống. Nhưng khi mẹ mất, khoảng trống ấy mênh mông vô cùng. Bởi mẹ là tác nhân đưa ta từ cõi vô hình đến với thế giới hữu hình. Mẹ là chiếc cầu nối giữa ta và vũ trụ. Mất mẹ, sợi dây thiêng liêng kia đứt phụt.

Nhiều năm trước, khi thấy tôi hằng năm đều từ Ý về VN mà lần nào cũng chỉ quanh ở Sài Gòn, một người bạn mắng: “Mầy làm gì mà về VN hoài vậy? mà lần nào về cũng xớ rớ ở nhà…” Anh mắng là phải, mùa hè nào vợ chồng anh cũng đều chu du khắp Âu Châu, năm khi mười họa có về VN thì phần lớn thời gian đều dành cho những chuyến du hành Nam Bắc. Nghe mắng mà tôi chỉ cười huề, ít khi đối đáp. Duy chỉ một lần tôi từ tốn nói : “Đi đâu thì cũng thế! Nhưng tao chắc là trên thế gian này không có cảnh nào đẹp bằng nụ cười của mẹ tao!” Sau lần đó thì tôi không bị mắng nữa.

Từ nay, tóc bạc đã lâu nhưng tôi vẫn là một đứa trẻ mồ côi. Mồ côi cả những lời khuyên răn, trách mắng dù hằng năm có quay về, xúm xít đứng trước bàn thờ lung linh hương khói.
Từ nay, tóc bạc đã lâu nhưng tôi vẫn là một đứa trẻ mồ côi. Mồ côi cả những lời khuyên răn, trách mắng dù hằng năm có quay về, xúm xít đứng trước bàn thờ lung linh hương khói.

Tôi chạy xe mà nước mắt cứ lăn dài. Mặt ướt đẫm nhưng tôi vẫn nghĩ là mình không khóc. Những giọt nước đó có thể là những nỗi ân hận tiềm ẩn được chôn giấu từ một nơi nào đó trong ký ức đang trào ra từ những bùng nhùng của cuộc sống. Không biết dòng nước mặn chát ấy có thể rửa sạch những xót xa hay không… vì lúc này thần trí tôi đang bềnh bồng trong một cõi mơ hồ, vô ý thức.

Đường phố tấp nập…tôi chạy xen vào dòng người hối hả lòng ngổn ngang những tâm sự rối bời. Anh Bông (Nguyên Quả) ngồi đằng sau luôn miệng nhắc tôi bình tĩnh. Tôi nói anh yên tâm vì tôi chạy xe rất cẩn thận.

Cái duyên với anh Bông, người không thân thích mà tình như ruột thịt, luôn ở gần tôi và gia đình trong những biến cố quan trọng, niềm vui hay trong những sự cố mất mát đau buồn nhất. Tôi nghĩ nếu không có anh thì tôi sẽ rất khó khăn trong mớ bòng bong thủ tục, hợp thức chuyện sử dụng ba thước đất làm nơi an nghỉ cuối cùng…

Đôi lúc, dừng xe ở đèn đỏ, bàn tay tôi vuốt lấy bàn tay anh trong vô thức, như ngầm nói là tôi luôn quý và tri ơn anh.

Lòng tôi ngổn ngang. Dù mẹ vẫn còn nằm đó. Như đang thiếp ngủ. Nhưng là một giấc ngủ dài không bao giờ tỉnh thức. Lúc gần một giờ khuya mẹ thức giấc, bảo cháu Thảo đỡ dậy nhìn căn phòng, ngồi thở theo phương pháp dưỡng sinh một lát rồi nằm xuống. Sau vài phút tựa lưng xuống giường, mẹ than mệt rồi hơi thở yếu dần, phều phào nói gì nghe không rõ. Sợ hãi, Thảo qua gọi Thịnh, chị Hương… khi cả ba chạy đến, mẹ mở mắt nhìn, khẽ phẩy tay rồi hắt hơi và ra đi trong ánh mắt hốt hoảng của ba người.

Mấy tháng yếu sức, mẹ đã căn dặn mọi điều…bây giờ mẹ thanh thản ra đi, chắc mẹ cũng chẳng có gì hối tiếc. Di chúc, lễ tang, ấn tống kinh sách…mẹ đã trù liệu và dặn dò từ hơn 10 năm nên các con cháu cứ theo di chúc mà làm. Giản đơn nhưng trang trọng trong ánh sáng từ bi của cõi Phật.

Sống ở nước ngoài hơn 40 năm, thế nhưng những ngày cuối được về sống bên mẹ, được ôm mẹ, ngủ cạnh mẹ, được xoa bóp chân tay hay vui đùa cùng mẹ… nên các bạn cho rằng tôi may mắn nhưng nghĩ cho cùng, tất cả những chuyện linh tinh ấy chỉ là chuyện hữu hình, kéo dài trong chốc lát. Còn tinh thần? Điều mà trong đời người, có lẽ là điều quan trọng nhất…

Mỗi con người đều có một tâm tính và tính cách ấy tạo nên những số phận. Rồi trong cuộc sống, tùy theo hoàn cảnh có những lúc va chạm hay làm buồn nhau là điều không tránh khỏi. Những đáng tiếc xảy ra, do vô tình hay cố ý, do tham sân si và khoảng cách thế hệ, khó mà đong đếm…và một khi mẹ mất đi, khoảng trống mênh mông và nỗi ân hận trồi lên là điều chắc chắn. Dù người con đó lúc sinh thời có hiếu thảo và chăm sóc mẹ đến đâu đi nữa.

Nỗi ân hận sẽ còn xót xa hơn khi hiểu ra rằng, sau những lần làm buồn nhau, những đứa con khờ dại có khi hờn trách mẹ. Còn mẹ thì không. Bởi trong mắt mẹ, dù tuổi nào các con vẫn cứ là trẻ thơ nên trên môi mẹ luôn nở một nụ cười độ lượng. Mẹ tha thứ. Vì chúng là con của mẹ.

&

Trời hãy còn sớm lắm. Ngồi uống cà phê vỉa hè để chờ văn phòng quản lý Nghĩa Trang chùa Quảng Bình mở cửa, anh Bông ngồi trầm ngâm còn tôi thì đầu óc ngổn ngang, những ký ức lộn xộn về vài chi tiết xen nhau trong cuộc đời mẹ.

Tính cách mạnh mẽ. Mồ côi cha trong thời phong kiến ở làng quê còn thịnh, thế mà mẹ dám đơn phương đem trả lại lễ hỏi của người bạn của anh trai mình, không muốn bị áp đặt một cuộc hôn nhân. Dĩ nhiên sau đó là một trận đòn nhừ tử, thừa sống thiếu chết.

Hồi tưởng, con tin rằng mẹ đã sống một cuộc đời đáng sống. Mẹ dám phấn đấu để chọn cho mình người đàn ông tài hoa và đức độ để có thể hy sinh trọn một cuộc đời, thực hiện thiên chức ích phu vượn tử. Con tin rằng mẹ đã mãn nguyện có được người cha kính mến cho các đứa con thân yêu của mình. Ý chí kiên cường tinh thần cứng rắn, mẹ không chấp nhận thỏa hiệp, làm việc nửa vời.. chịu đựng hoặc hy sinh vô ích cho người nào mà mẹ không kính phục. Thật vậy…Người mà mẹ đem trả của, về sau là một gã đàn ông thô bạo, rượu chè bê tha, đánh đập vợ con tàn nhẫn.

Khi còn ở nước ngoài, những lần về thăm, các em thường kể về sự dũng cảm của mẹ. Sau 1975, tài sản, nhà cửa ruộng đất đều bị kiểm kê…gia đình bị dồn đến đường cùng nhưng mẹ sẵn sàng đương đầu với nghịch cảnh mà không hề nao núng. Từ một bà chủ có của ăn của để, mẹ điềm nhiên xăn ống quần lội xuống ruộng làm cỏ, cấy lúa, trồng cải, nuôi gà, nuôi heo để vực dậy kinh tế gia đình như một nông dân thực thụ.

Niềm vui của mẹ là cho đi chứ không phải nhận lại. Hy sinh cho con nhưng chưa bao giờ đòi hỏi một chút gì. Ngay cả những lúc đau đớn mẹ cũng cắn răng chịu đựng, sợ con cháu ưu phiền. Mẹ xót. Mẹ chẳng muốn làm phiền bất cứ một ai. Chả bao giờ đòi hỏi hay yêu cầu con, cháu bóp chân, bóp tay…khi không cần thiết. Mẹ thích tự mình làm lấy. Tự giúp mình. Tự cứu độ mình. Mẹ bảo nhận của người đâu dễ, cho thì dễ hơn nên cứ cho đi.

Với ý nghĩ đó mẹ sống khác với những ông bà còn khỏe mạnh nhưng cứ bắt con cháu suốt ngày xoa bóp, sai đủ thứ việc này việc nọ, hành hạ đủ điều. Nhiều lần tôi thấy mẹ tự giặt giũ đồ lót, không để cho con cháu hay người giúp việc làm hộ. Mẹ nói để không “tạo nghiệp. Thuốc giảm đau cho mẹ từ nước ngoài mang về, nghe ai tê nhức, mẹ đem cho hết, khi cần không có. Con cháu khuyên mẹ hãy để dành mà dùng, mẹ nói “kệ, để làm phước”.

Ngay trước lúc lâm chung mẹ vẫn tiếp tục trút từng giọt yêu thương cuối cùng cho con cháu: Thấy cháu Thảo còn nằm bên, thức khuya, đọc sách… mẹ còn bảo ngủ đi, ngoại khỏe, đừng lo gì cho ngoại…

Đời làm sao tránh được buồn phiền nhưng chắc chắn là mẹ đã sống một cuộc đời hạnh phúc, được làm những gì mẹ muốn và sống theo cách của mình. Và bây giờ mẹ đang chuẩn bị đi hội ngộ với ba, với anh Hiếu…đứa con trưởng mà mẹ thương yêu nhất.

&

Nhìn hai cháu nội, ngoại đang quây quần bên thi hài mẹ làm tôi nhớ những đêm cuối năm ngày xa xưa gia đình quấn quít ngồi bên bếp lửa hồng. Nhưng lúc này lửa vừa tắt và nguội dần. Giá băng như tràn trong trái tim của từng người… Chiều nay hai em Nga, Tự từ Qui Nhơn sẽ vào đến. Sáng mai các em Nguyệt, Đạo, Xuân, Minh ở Úc bay về và đến trong chiều. Tất cả anh em, con cháu sẽ tụ tập ngồi quanh bếp ấm. Tang lễ của mẹ phải chờ thêm một ngày nữa vì hai cháu Quỳnh Như, Vivian từ London cũng cấp tốc bay về, để nhìn ngoại lần cuối cùng qua màn kính. Thời gian các cháu đi/về chỉ vừa đủ để tham dự lễ tang, lưu lại 48 giờ rồi phải về lại Âu Châu.

Sau đó thì… mẹ sẽ rời xa tất cả các con, cháu, người thân, từ giã bạn bè, các thầy, đạo hữu để về nơi vĩnh hằng.

Khi một người nào đó mất đi luôn để lại chúng ta một khoảng trống. Nhưng khi mẹ mất đi, khoảng trống ấy mênh mông đến vô cùng. Bởi mẹ là tác nhân đưa ta từ cõi vô hình đến với thế giới hữu hình. Mẹ là chiếc cầu nối giữa ta và vũ trụ. Mất mẹ, sợi dây thiêng liêng kia đứt phụt. Và những đứa con của mẹ chơi vơi. Hụt hẫng. Bềnh bồng…

Đời người là một chuỗi nhân duyên huyền bí, biến chuyển theo duyên khởi trùng trùng cho đến khi nhắm mắt lâm chung.. Từ một chấm nhỏ li ti ta tách rời thân mẹ để hiện hữu thành một hình hài. Nhưng nghĩ cho cùng, nếu cha mẹ không gặp nhau thì ta không có. Ông bà chẳng gặp nhau thì ta cũng chẳng sinh ra. Đó không phải là một điều kỳ diệu do duyên nghiệp mầu nhiệm hay sao?

Mấy mươi năm trước, mẹ đã từ bỏ những ràng buộc thế nhân để tu hành. Kể từ đó, mẹ ăn chay trường. Mẹ giao lại nhà cửa và gia sản cho các con.

Một đời vốn liếng mẹ trao
Cho con tất cả, mẹ nào giữ riêng

Các anh em ở nước ngoài đều từ bỏ tất cả để nhường cho anh chị em của mình còn ở lại. Vì vậy có người thừa hưởng để sinh sống và để lại cho con cháu đời sau. Những đứa khác tự đứng lên bằng đôi chân của mình, nhận chữ Tâm của mẹ để đời sống bình yên.

Mẹ sống đơn giản, chỉ thỉnh thoảng hỏi tiền các con để cúng dường chư Phật, xây chùa, dựng tượng hay thực hiện hạnh bố thí, trao quà cho người nghèo hay bất cứ ai cần đến.

Mười tuýp thuốc thuốc giảm đau từ Ý Elena mua về cho mẹ, chỉ trong một tuần mẹ đem cho tất, khi cần phải mua hàng nội. Sự rộng lượng của mẹ thường vượt ngưỡng, đôi khi làm các con lo lắng.

Tôi nhìn lên khung ảnh mà mẹ đã chuẩn bị từ hơn 10 năm trước cho sự ra đi của mình. Thật quá vô tâm! Mẹ đưa cho các con từ bấy đến nay, nhưng chỉ đến lúc này tôi mới tìm hiểu ý nghĩa: Ảnh chụp ngày mẹ nguyện thọ trì Bồ Tát giới, sống và giữ nếp sống thanh tịnh, nuôi lớn lòng đại bi làm mọi điều thiện để có được cuộc sống an vui lợi lạc. Trên người mẹ là chiếc áo tràng, cổ áo viền nâu có thêu bốn chữ Bồ Đề Tát Đỏa (Bodhisattva). Bồ đề là Giác. Tát đỏa là Hữu tình. Người thọ giới nguyện giúp mọi người xả bỏ vọng niệm, xả bỏ để khỏi dính bụi trần.

Dưới gọng kính trắng, ánh mắt mẹ như đang trìu mến nhìn các con, cháu và cô ba đang ngồi kiết già niệm Phật dưới chân giường của mẹ. Cô ba đang thành kính cầu nguyện để linh hồn mẹ siêu thoát. 70 năm chị dâu em chồng, họ còn như hai người bạn chân tình, chưa một lần xích mích, giận hờn. Chị em ruột thịt cũng chưa mấy ai chia sẻ được mọi điều như thế. 70 năm qua, kể từ ngày mẹ về làm dâu trong gia đình hai người luôn che chở và bảo bọc cho nhau. Nét mặt cô phúc hậu. Đức dày. Nên trong thời đại hôm xô bồ và hỗn loạn hôm nay, giữa thành phố Sài Gòn mà cô là tâm điểm của một đại gia đình chung sống tứ đại đồng đường. Dâu rể, cháu con hòa thuận.

Tiếng niệm kinh của cô vang đều…cái tang lớn của cô là ngày ba tôi mất. 28 năm nay, mỗi lần nhắc đến anh trai là nước mắt cô lưng tròng.

Nhìn dáng mẹ nằm như đang thiếp ngủ, nước mắt tôi muốn trào ra. Mới hai ngày trước tôi còn nhìn thấy mẹ nằm trên giường tập thể dục, vẫy tay, đạp chân theo lối đạp xe đạp. “Phải tập chứ nằm hoài, chân yếu làm sao đi”. Nỗi đau. Khó thể chấp nhận! Âm thanh của tiếng gào thê thiết như muốn nổ bùng trong lồng ngực nhưng tôi kìm lại.

15 năm trước khi anh Hiếu, con trai yêu của mẹ hắt hơi thở cuối cùng và trái tim ngừng đập, lũ chúng tôi ồ ra khóc. Mẹ nghiêm trang căn dặn “Đừng khóc! Để anh con ra đi thanh thản”. Âm thanh mẹ dịu dàng. Ánh mắt mẹ bình thản nhưng lúc đó tôi biết là sấm sét đang bị ý chí và nghị lực của mẹ nhốt kín trong im lặng, bắt nằm im và câm nín trong trái tim đau đớn của bà.

Chỉ có thể giải thích là niềm tin sắt son vào chư Phật đã cho mẹ sức mạnh thần kỳ đó.

Các cháu vẫn còn ngồi quanh mẹ, nhưng yên lặng, không ai nói với ai lời nào…âm thanh đầy ý nghĩa của yên lặng, hồi tưởng ngân vang trong trái tim mỗi người theo một độ rung và cung bậc trầm bỗng khác nhau.

Ý thức rằng một ngày nào đó sẽ không còn nhìn thấy bóng mẹ ngồi lần tràng hạt, quỳ gối tụng kinh trước bàn thờ Phật hay ngồi trên võng đong đưa, giọng rổn rảng dặn dò các con tu tập, hay kể chuyện sinh hoạt ở chùa. Lòng tôi buồn vô hạn. Điều an ủi duy nhất là trong bốn cửa ải của đời người, mẹ chỉ đi qua Sinh, Lão rồi nhẹ nhàng bước qua cửa Tử chứ không đi ngang ải Bệnh hành hạ xác thân, khổ mình, khổ người thì cũng được xem là đại Phước.

Qua ánh mắt hoen mờ, tôi như nhìn thấy bóng mẹ như những sợi khói đang từng bước rời xa căn nhà này.

Từ nay, khi không còn mẹ, mấy anh em, con cháu chúng tôi từ xa thỉnh thoảng quay về chắc cũng ít khi ghé lại.

&

Trời hãy còn sáng cả nhà ngồi chờ hòa thượng Huệ Minh và các sư, tôi lặng lẽ ngồi bên cô tôi, Elena và các cháu đang thành kính niệm Tây phương tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.

Gương mặt nghiêm trang Elena cũng đang chắp tay cầu nguyện cho mẹ ra đi thanh thản. Vợ tôi trong lúc này không còn là một người đàn bà Tây phương, mà chính là một Phật tử thuần Việt. Có lẽ vì thế mà nhà văn Dạ Ngân đã gọi đó là “sự nhập cuộc trôi chảy”?(*)

Trong không gian vang đều tiếng niệm Phật…nhưng tôi lại thấy mình bị mất tập trung. Đầu óc tôi như quay về những những ngày xưa cũ, về suốt cuộc đời tảo tần của mẹ và những công ơn, lời dạy dỗ khi còn thơ bé, mà có lẽ cho đến khi hắt hơi thở cuối, xuôi tay, cũng khó thể nào quên.

Là con gái út của một gia đình trung nông, nhiều người trong họ bảo thuở nhỏ mẹ sáng láng, nhưng chỉ được học vừa đủ để đọc. Đàn bà ngày xưa dù có đĩnh ngộ đến đâu cũng không được học đến nơi đến chốn.

Thế nhưng mẹ chính là người dạy dỗ “nếp nhà”. Bởi vì trong thời buổi chiến tranh khốn khó, ba bận làm ăn, “thầy thì xa, mẹ lại gần”. Mẹ dạy chúng tôi bằng những câu ca dao mộc mạc mà mẹ thuộc lòng. Lớn lên, mẹ dắt chúng tôi về quê ở Vĩnh Thạnh hay An Thái ăn giỗ, đưa chúng tôi đi chùa, còn những đêm trăng sáng mẹ rủ rỉ kể chuyện đời xưa rồi nhân đó giảng giải đạo lý ở đời. Lời mẹ dặn chỉ đơn giản trong những chuyện đời thường thế nhưng đến khi lớn tuổi nghiệm lại tôi vẫn thấy mình chưa học hết lời của mẹ.

Điều đầu tiên mẹ dạy các con phải đoàn kết, yêu thương và bảo bọc nhau. Tuyệt đối không dính líu đến cờ bạc, ngay cả việc ngồi xem mẹ cũng chẳng bằng lòng. Có lẽ vì thế mà chúng tôi hoàn toàn ngờ nghệch về các trò chơi này, nói chi đến việc ăn thua đen đỏ.

Những bài học kế tiếp là đừng bao giờ lệ thuộc miếng ăn. Thức ăn, qua cổ họng là biến thành chất thải, việc gì mà tham? Miếng ăn làm mình khổ, đó là chưa nói đến những thứ ăn không lành mạnh, “ăn rồi làm sao lấy ra?”, “Bệnh tật, nhục nhã đều do ăn bẩn.” Lớn lên mẹ dặn, chỉ được ăn những thứ gì của mình làm ra hoặc mua được do đồng tiền mồ hôi nước mắt. Ăn lạm vào phần người khác là “ăn bẩn”; “ăn cắp tiền bá tánh” chẳng những thất đức mà còn gây hại cho sức khỏe và tinh thần. Miếng ăn cay đắng lắm, nếu kiếm ăn qua làm các việc trái đạo lý thì càng cay đắng bội phần. Không được gian dối. Không được làm chuyện gian lận rồi biện hộ vì lo cho gia đình. Anh em, con cháu có thể hưởng lợi nhưng chỉ người làm điều xấu là có tội. Quả báo nhãn tiền, nhiều kẻ thoát được lưới người nhưng lại không thoát lưới trời.

Mẹ tin ở luật nhân quả. Gieo và gặt thuận theo lẽ tự nhiên. Mẹ nói đó là “quy luật sắt của vũ trụ” nên không bao giờ nhầm lẫn.

Qua những chuyện kể, mẹ thường răn phải sống ngay thẳng. Đừng bao giờ lường gạt một ai. Phải biết tiết kiệm và sống dưới mức kiếm được. Và khi có điều kiện nên dành thì giờ và tiền bạc làm việc thiện.

Ngày còn bé, thời gia đình sung túc nhất, nhưng mẹ vẫn không cho phép tôi ăn không ngồi rồi. Khi các xe chở thuốc tây về, mẹ bảo tôi khuân các thùng thuốc sắp vào kho. Tuổi ham chơi, tôi phản đối thì bị mẹ nghiêm mặt: “ Con phải tập làm. Lỡ gặp bất trắc về sau thì phải biết tự đứng lên”. Ấm ức vì phải khuân vác, nhưng thâm tâm xem câu nói của mẹ là vô căn cứ. Nào ngờ, đời thay đổi, những những năm tháng khốn khó ở nước ngoài, từ 1975 bị cúp chuyển ngân, vừa đi làm để tự nuôi mình học nhưng tôi đã vươn lên, tốt nghiệp đại học với kết quả a pieni voti legali! (ưu hạng). Chính mẹ cũng ngạc nhiên khi biết tôi đã không bán và còn giữ sợi dây chuyền vàng có tượng Quán Thế Âm mà mẹ đã chú nguyện ở Chùa để tôi mang theo lúc lên đường du học hơn 10 năm trước.

Bằng ngôn ngữ đơn giản mẹ dạy đừng bao giờ mong chờ cuộc đời đối xử với các con sòng phẳng, nhưng không vì thế mà oán hờn, làm nhiễm độc tâm mình. Hãy bình tĩnh đón nhận mọi việc, niệm Phật đi, rồi tự khắc mình sẽ tìm được cách hóa giải.

Quan niệm đen trắng rạch ròi nên mẹ cực ghét thói ăn cháo đá bát, không ưa kẻ vô ơn bạc nghĩa, chịu ơn người rồi quên, có khi còn phản bội hay đặt điều nói xấu người ân. Những kẻ ấy, mẹ nói : “Khi có sự thì quỳ lạy vái van đủ kiểu, khi xong việc thì phủi tay”. Mẹ gọi sự vong ân là ác nghiệp, dặn các con đừng bao giờ quên những gì người khác đã làm để giúp đỡ mình. Không ai bị bắt buộc, mọi việc họ giúp đều do từ tâm. Nhờ những lời dạy này mà anh em chúng tôi luôn nhắc mình phải sống trung thực.

Lớn lên, va chạm với đời tôi càng thấm thía lời mẹ và hiểu rằng kẻ vô ân là một “tên ăn quỵt” và là kẻ hèn hạ nhất: Tính cách tham lam, hay phản phúc nhưng đồng thời cũng là kẻ hay quỵ lụy và ngu xuẩn. Nó quen thói chiếm giữ niềm vui hay tiền bạc nhờ công sức và từ tâm của người khác nhưng chóng quên các điều người khác làm cho mình. Nó chỉ nhớ những điều người khác không giúp được nên đợi dịp là chì chiết, trách móc, mỉa mai.

Tôi chưa bao giờ thấy những người thông minh là những kẻ vô ơn!

Bằng những kinh nghiệm thực tế qua những lời lẽ mộc mạc, tôi nghĩ mẹ đã dạy các con cụ thể hơn các bà mẹ trí thức hiện đại. Thời này người ta hay nói dạy theo “kỹ năng”, làm các bà mẹ bị “tẩu hỏa nhập ma”, không biết dạy con theo các kiểu nào, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật, Mỹ, Do Thái… nghe điếc cả tai, hoa cả mắt…

Bởi triết lý của mẹ là rút ra từ đời sống chứ không phải góp nhặt từ sách vở rồi áp lên cuộc sống.

&

Đêm cuối cùng con nằm bên mẹ. Chỉ còn đêm cuối cùng này nữa thôi và mẹ sẽ từ giã căn nhà này. Và con sẽ không còn cơ hội nào nằm bên mẹ nữa.

Hai người bạn thân thiết của gia đình, luật sư Dũng và bác sĩ Trị, vẫn còn thức và đang ngồi nói chuyện trước hiên. Lúc 23h, tưởng chẳng còn ai, thì bất ngờ có ba người, hai nam, một nữ, xin đến xin thắp hương cho mẹ. Tôi ngạc nhiên vì không biết họ là ai nhưng chưa kịp hỏi thì họ nói là những người chạy xe ôm thường chở cụ đi chùa. Tôi nghe sống mũi mình cay cay.

Sau khi thành kính thắp nhang cho mẹ, mấy người bạn này cho biết là họ có mang theo đá lạnh và mấy lon bia, muốn mời tôi uống một ly. Ngồi nói chuyện một lát rồi họ xin về.
Dũng và Trị lúc này mới kê mấy chiếc ghế để ngả lưng, tôi bảo cả hai vào ngủ, nhưng cả hai nói “quen” rồi.

Đêm khuya. Đường phố vắng và chìm trong yên lặng. Chúng tôi tổ chức lễ tang cho mẹ trong yên tĩnh, không có những ban nhạc kèn trống ầm ĩ làm phiền lòng hàng xóm. Chỉ có tiếng tụng kinh từ chiếc máy mở vừa đủ nghe. Tôi và Nga, em gái nằm cạnh linh sàng, không ai ngủ được nhưng chẳng ai nói với ai lời nào. Mỗi người chỉ im lặng gặm nhấm nỗi đau riêng trong lòng mình.

Thỉnh thoảng tôi đứng dậy thắp nhang rồi bước đến nhìn mẹ qua tấm kính trên mặt áo quan. Nước mắt hoen mờ tôi thấy mẹ như đang thiếp ngủ. Những sợi khói nhang màu xám từ bàn thờ bay lên, phất phơ như tóc mẹ. Hơi thở của mẹ như vẫn đều đều theo tiếng chuông mõ nhịp nhàng. Mẹ vẫn nằm đây nhưng chỉ còn vài giờ nữa thôi, dù sau này có bay trăm nghìn dặm tôi sẽ không còn bao giờ thấy mẹ. Từ nay, tóc bạc đã lâu nhưng tôi vẫn là một đứa trẻ mồ côi. Mồ côi cả những lời khuyên răn, trách mắng dù hằng năm có quay về, xúm xít đứng trước bàn thờ lung linh hương khói.

Trong cảm giác xót xa và đau buồn đó, tiếng chuông mõ đều đều dội lại trong lòng tôi. Có lúc tôi cảm giác là những đợt sóng âm linh thiêng kia cũng có thể là những bậc thang đưa đường, dắt mẹ lên cõi vô cùng. Tôi mơ hồ nhìn theo bóng mẹ, khuất dần, tà pháp y bồ tát giới lất phất trong gió chiều, lòng hồi tưởng những kỷ niệm của người còn đọng lại nơi trần thế, trong trái tim tôi…

Sau khi ba mất, sợ mẹ gục ngã vì nỗi đau quá lớn, chúng tôi đưa mẹ qua Ý và Úc cho khuây khỏa. Lần nào ở xứ người mẹ cũng quyên được một số tiền lớn để về cúng chùa hay làm việc thiện.

Hai hình ảnh cũ và mới hiện về trước mắt tôi như những bức tranh treo trong tâm tưởng và khó thể nào quên:

Sau 10 năm du học ở xứ người, tôi được phép về thăm nhà lần đầu vào tháng 8-1981. Tài sản gia đình lúc này gần như mất trắng. Có lẽ nhìn thấy sự lo lắng của tôi nhưng mẹ không nói gì. Một đêm, đang thiêm thiếp trong ưu tư thì bị mẹ đánh thức, mẹ ra dấu bảo tôi im lặng và đi theo mẹ.

Cầm trên tay chiếc đèn hột vịt, tôi và mẹ mở cửa bước ra ngoài dưới ánh sáng mập mờ như hai bóng ma trơi. Đến gần chuồng heo, mẹ ngồi xuống, nhìn ước lượng, gang tay ra đo rồi bắt đầu đào. Tôi im lặng và nín thở quan sát. Dưới ánh đèn tù mù, tôi không thể nhìn thấy sự hồi hộp và ưu tư trong mắt mẹ. Lát sau mẹ cầm lấy gói nylon to bằng hai nắm tay “đây rồi”! Cẩn thận lấp đất lại, rồi bảo tôi theo vào nhà.

Vào phòng của Nga, lúc đó vừa sinh cháu Thảo chừng hơn tháng, mẹ khép cửa rồi mở túi. Sau mấy lần vải và nhựa, cuối cùng là một túi đựng vài chục chiếc nhẫn vàng và vài sợi dây chuyền. “Còn nè”. Trời ơi! cả một đời ba mẹ tôi làm lụng, phát triển công ty dược, chắt chiu tiết kiệm…chìm nổi đều bị đời biến thành sương khói.. giờ còn lại một nhúm “khâu” mà mắt mẹ vui mừng! Điếng hồn. Tôi im lặng để định thần. Mãi lúc sau mới chợt hiểu rồi ồ khóc thành tiếng. Mẹ sợ tôi lo. Hành động ấy như ngầm bảo là cả nhà sẽ không đói đâu, khéo ăn thì no, khéo co thì ấm, thôi mà…

Về sau Nga bảo là số vàng ấy mẹ giấu được, hay bán những vật dụng trong nhà như máy phát điện, bộ sa lông…để mua.

Tháng 9 -2014 vừa rồi tôi phải mổ mắt. Trước đó, mẹ gọi điện để nhắc tất cả con cháu cầu nguyện. Buổi sáng phẫu thuật, không yên, mẹ gọi điện rất nhiều lần. Đến khi mọi việc đã ổn mẹ mới yên lòng. Ngày hôm sau, thấy tôi chưa đi lại được, mẹ lấy taxi đến nhà thăm.Tôi xúc động hình dung một bà cụ 93 tuổi đang leo từng nấc thang đến tầng 2 chung cư để thăm con. Thái Bình Dương xem ra chỉ là một thứ ao hồ so với biển tình của mẹ.

Mẹ ơi ! Nếu có thể tóm tắt vài dòng về tính cách thì con sẽ nhớ về mẹ như thế này đây: “Mẹ là người đàn bà “thàng hậu” tiêu biểu của quê hương Bình Định: cứng rắn, kiên cường, nhân ái, từ tâm. Ý chí mãnh liệt và sẵn sàng dấn thân cho những điều mình xem là đúng… nhưng đồng thời cũng là người vô cùng nhạy cảm, tuy nghiêm khắc nhưng rộng lượng và sẵn sàng tha thứ.”

&

Viết thêm

Hơn 4 năm trước, tôi có mặt trong đám tang mẹ của bạn Vũ Thế Thành. Sau khi những bận bịu về lễ nghi đã hoàn tất, tôi đọc được tâm trạng của anh trong đoản văn “Đừng như tôi, còn ray rứt với những gì thiếu sót.”:

“Sáng nay, khi xuống lầu đi làm, tôi buột miệng “ Mẹ ở …” (… nhà, con đi làm đây!). Tôi khựng lại, chợt nhớ ra bà mất rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ, thắp nén nhang, rồi đi… ”

“Tôi thấm thía và cảm thấy ớn lạnh toàn thân! Giọng văn của Thành sắc và lạnh, cảm giác dồn dập như đang chạy, gặp phải bức tường mà dừng không kịp. Mấy dấu chấm bỏ lửng sau hai chữ “rồi đi”… giống như những giọt nước mắt của người vừa mất mẹ đang chảy lên trang viết…

Tôi thẫn thờ buông trang giấy. Cảm giác hụt hẫng, mất mát, thất vọng, tuyệt vọng, tiếc nuối cứ như những luồng khí lạnh đang lan toả toàn thân.

Đột nhiên tôi thấy mình hạnh phúc và cũng cảm thấy lo sợ vì tôi còn mẹ ” (**)

Bây giờ thì cái ngày hãi hùng ấy đã đến, với tôi.

Tôi biết là từ nay, bất cứ lúc nào nhìn thấy những bà già gầy ốm, mặc áo tràng đi chùa lễ Phật, hay nghe cụ già nào nói một câu đôn hậu là tôi sẽ chạnh lòng nghĩ đến mẹ…rồi sẽ tủi thân vì cảm giác bơ vơ và lạc lõng như đứa trẻ mồ côi.

Mẹ ơi, mẹ sẽ về đâu?

Ngày mai. Ngày mai hình hài mẹ được an táng ở nghĩa trang nhưng linh hồn mẹ chắc không nằm trong lòng đất lạnh lẽo mà bay vút lên trời như một ánh sao. Và như thế đêm đêm chúng con sẽ nhìn lên trời để tìm mẹ.

Có người dĩ nhiên sẽ hỏi giữa triệu triệu vì sao, biết đâu mà tìm?

Dễ thôi!

Nhờ lần theo sự nối kết của sợi dây thiêng liêng bí ẩn mà những lúc cô độc và cần đến mẹ, các con có thể dõi theo và nhìn thấy mẹ giữa triệu triệu vì sao lấp lánh. Nhưng phép lạ ấy chỉ lướt qua trong một thoáng và bóng đêm lại sẽ phủ đầy vì đời không còn mẹ.
Rồi niềm đau ngân dài và vọng mãi trong tim, khó thể nào nguôi.

TRƯƠNG VĂN DÂN

Sài Gòn 4-2015

THÁNG SÁU HỒ NHƯ

tankan

Saigon huyễn hoặc em về
Đường xưa như rộng hơn lề dấu chân
Đi ra các Quận xa gần
Mới hay nỗi nhớ đôi lần sực quên
Mười bài hát cũ Không Tên
Trong phòng trà thở mỗi đêm buồn buồn
Giữ tay điệu Boston suông
Cung Em có nốt níu,buông rộn ràng…
Saigon huyễn hoặc tiếng đàn
Giọng ca sương khói mang mang bên trời .

TẤN KẬN

VỌNG…

mocmienthao

Ngồi trong tịch mịch, lặng im
Nghe cây cỏ thở hương thiền rất sâu
Ngồi trên đỉnh của vách sầu
Nghe cô đơn kể nhau màu khói bay
Ngồi trong mắt nắng của ngày
Nghe sương mai hỏi đâu đây bóng mình?
Thả câu hỏi giữa lặng thinh
Chừng nghe vọng lại lời mình…
vô ngôn!

MỘC MIÊN THẢO

Vũng Lầy

thegiang

“Bắt quần đùi, phải quần đùi,
Cho may-ô mới được phần may-ô.”

(Kiều hiện đại)

Tôi lượn lờ đạp hai ba vòng trước tòa nhà cổ mà chưa quyết định dửng xe. Lúc này là 9 giờ, giờ làm việc bắt đầu từ 8 giờ, nhưng các bà nhân viên có thói quen tranh thủ ghé vào cửa hàng rau mậu dịch vào giấc này nên chưa chắc đã làm việc.

Chưa cà phê, chưa nước trà, mới luyện suông mấy chưởng thuốc lào nên tay lái bồng bềnh như đi trong mộng, tôi tặc lưỡi dấn người đạp thêm một vòng nữa. Âu cũng là bài tập thể dục buổi sáng!

Khuya hôm qua, thấy chồng đã chập chờn ngủ, vợ tôi lẳng lặng lột ví lấy lại số tiền nàng đã phát cho tôi từ đầu tuần để tiêu vặt. Cuối kỳ lương nào chả vậy. Tôi lờ như không biết, xoay mặt vào tường rồi mừng thầm là đã kịp phân tán mỏng mấy đồng bạc ra cái túi để tránh cuộc “kiểm tra hành chính” thành thông lệ này. Nhưng gần 10 năm “nâng khăn” cho chồng, nàng đã lành nghề “sửa túi,” đồng bạc ốm o tội nghiệp để dành cho chén nước trà cũng bị sung công nốt. Thật chả còn chỗ nào mà bàn tay thân yêu mềm mại này không mò tới.

Đó chính là lý do khiến tôi vật vờ lượn quanh tòa nhà này. Trong sân lác đác đã có mấy chiếc xe đạp dựng. Tôi hoảng hồn khi nhác thấy đặc điểm dị biệt trên mấy chiếc xe của đồng nghiệp. Phải vào ngay không thì “chúng nó” vét hết tiền. Hấp tấp lao xe lên vỉa hè, tôi xồng xộc đâm đầu qua cổng sắt.

-Giấy tờ đâu? Làm gì mà hùng hổ như đi ăn cướp thế hả?

Ông thường trực già thò đầu ra khỏi trạm gác quát giật giọng. Tôi dựng vội xe vào tường rồi lật đật chạy lại, miệng cười giả lả:

-Thưa bác, tại cái xe của cháu không có phanh nên bị lỡ đà….

Nheo mắt đọc tấm thẻ hội viên hội nhà văn của tôi thay cho chứng minh nhân dân, ông già cự nự:

-Cán bộ văn hóa gì mà lại tác phong thiếu văn hóa, không biết tôn trọng qui tắc gì cả!

Tôi cười xí xóa, tay chìa sẵn đợi ông trả lại tấm thẻ. Nhà xuất bản Phụ Nữ ăn nên làm ra chắc? Tòa nhà cổ, xây kiểu pháo đài vuông chằn chặn, cửa sổ nhỏ không có chỗ bám để leo lên, Tây xây từ hồi mới bình định xong Bắc kỳ, đã được quét vôi lại ở mặt trước. Có hy vọng lắm chứ chả chơi! Tôi sốt ruột đợi ông già giải phóng cho để còn chạy lên gác.

-Lê gì đây… Văn Cuôm à? Nhà văn nhà báo gì mà đặt tên như dân mò cua bắt ốc thế này?

Không đế mất thì giờ cho chuyện tự ái vặt, tôi trả lời, miệng vẫn cười tươi:

-Cha mẹ đặt sao thì con chịu vậy bố à…

Nắm tấm thẻ trong tay ông già, tôi chì chực kéo lại. Nhưng ông vẫn chưa chịu nhả nó, còn đảo mắt nhìn khắp người khách một lượt để tìm kiếm. Có điều gì cần dạy dỗ nữa chăng? Bị con cháu bỏ rơi, xã hội chen bắn ra bên lề, suốt ngày ngồi ngủ gật ngoài trạm gác, đây là dịp may hiếm có để các cụ chứng tỏ uy quyền, sự tồn tại của mình. Thời buổi này ai cũng có quyền giáo dục ai. Tôi sốt ruột thở dài, tay khư khư nắm một nửa tấm thẻ.

-Anh đến cơ quan có việc gì?

-Thưa bác cháu đòi… – Tôi vội thay đổi – Thưa bố con đến để liên hệ công tác ạ…

-À… Thế anh muốn gặp ai?

Tôi bịa bừa là cần gặp ông Giám đốc Nhà xuất bản. Ông già mắc mưu, vội buông tấm thẻ rồi ân cần chỉ dẫn:

-Thế này nhé… Anh vào cửa chính, lên cầu thang rồi rẽ vào dãy phòng bên trái. Bỏ qua bốn phòng đầu, đi gần hết hành lang thì đến phòng thư ký xin gặp Giám đốc. Cái phòng của cô đẹp đẹp người ấy, phòng bên cạnh của bà già kế toán, không phải đâu. Nhớ gõ cửa rồi hãy mở nhé…

Biết rồi, khổ lắm. Tôi bắt đầu ân hận vì trò mánh mung của mình. Không có tấm thẻ thì không làm ăn gì được. Ông già vừa lơi tay, tôi liền rút nhanh nó về, cắm đầu bước.

-Này này, sai đường rồi anh kia ơi…

Tôi tảng lờ như không biết, vẫn đi thẳng. Ông già rời trạm gác, đuổi theo nắm lấy tay tôi kéo lại:

-Đây cơ mà… Tôi đã chỉ đi cổng chính rồi, còn xăm xăm đâm đầu vào đây.

Ông sốt sắng lôi tôi ngược trở lại.

-Cháu cháu… con còn đi tiểu một cái đã ạ.

Tôi chỉ tay về phía cầu tiêu nằm ở góc sân. Ông già vỡ lẽ, gật gật đầu.

-Tiểu xong nhớ dội nước nhé… trời mùa hè…

Không đợi ông nói hết câu, tôi trốn ngay vào đó cho xong chuyện. Lại phải đợi nồi cháo ám quay lưng đi rồi mới lẻn ra ngoài được. Đã khốn khổ khốn nạn bao nhiêu lần rồi mà không chừa, tôi nguyền rủa thói quen dối trá ngấm đến tận xương của mình.

Phòng kế toán nhuận bút nằm ở trên gác, phía sau tòa nhà, lối đi lên bằng cầu thang phụ, ngày xưa dành cho con sen, đầu bếp, lái xe cho mấy ông Tây ra vào. Cái cầu thang bằng gỗ, ọp ẹp, lâu ngày không được sửa này tôi đã thuộc lòng nên bước trong bóng tối mà không hề e ngại. Bậc thứ 17 bị long đinh, cẩn thận! Tôi chưa bị ngã lần nào, nhưng nó đã kiếm khá nhiều mồ hôi gáy của tôi. Bậc cuối cùng cao hơn các bậc khác một chút. Nhiều ông chủ nợ đã hăm hở bước hụt, ngã văng cả răng giả, kính cận, điếu cầy “dã chiến” ở đây. Vừa đặt chân lên hành lang thì tôi sực nhớ mình chưa khóa xe đạp. Trời hỡi, làm sao lại có thể đãng trí đến như vậy nhỉ? Cái việc làm gần như phản xạ vô điều kiện này từ lúc mới biết đi xe đạp tôi chưa hề quên một lần, thậm chí bất chợt gặp bạn bè giữa đường, ngồi lù lù trên yên nói chuyện cũng thò tay nhấn cái khóa càng cua để đến lúc đạp đi bị ngã đánh rầm một cái.

Lại phải xuống khoá xe. Thêm một lần đụng độ với ông già lẩm cẩm. Rách mất việc. Bỏ cái xe không khóa giữa cơ quan lạ? Bất trắc không kém gì thả đứa trẻ mới chập chững biết đi ở giữa chợ một mình. Không thể liều lĩnh được. Mất xe đạp là cái chuyện quá sức chịu đựng với mọi người. Kẻ yếu tim thường bình tĩnh nở nụ cười ngạc nhiên rồi từ từ đổ người xuống đất ngất xỉu ngay tại chỗ. Người cứng bóng vía hơn thì vò đầu bứt tai “Tôi vừa đứng ở đây chưa đầy một phút để mua điếu thuốc…. Tôi vừa thay đổi lốp mới cho nó… Chết cha tôi rồi, của nhà có mỗi chiếc xe đạp…” rồi quăng cả dép, đi chân đất chạy tất tả ra giữa ngã tư đường. Nghe người này nói “Hình như nó chạy thẳng…” liền đâm bổ tới. “Không, nó rẽ đây cơ…” Vội chạy ngược lại như con rối, rồi nhìn ai cũng ra thằng ăn cắp xe của mình. “Tổn thất này vô cùng lớn lao, đau thương này thật là vô hạn… ” Chỉ có lời ai điếu của đồng chí Lê Duẩn về cái chết của Hồ chủ tịch mới nói lên được nỗi thống khổ vô bờ này. Mất chiếc xe, mất một món tiền… như cuộc đời đã mất bao nhiêu cái, người võ sĩ bị đo ván rồi thì đáng kể gì mấy đòn đánh hôi? Cái đáng sợ nhất là phản ứng của con người khi mất của. Tôi đã cần mẫn ghi chép hành động bộc phát đáng thương của đủ loại người để làm chất liệu sống cho nghề nghiệp, giờ chắc đến lượt mình? Trời đất ơi, tôi cũng không biết mình sẽ xử sự ra sao khi đối mặt với tai họa này.

Tôi lao người xuống cầu thang, gần như ba bậc một. Tạ ơn trời, nó vẫn nằm chình ình ở sát tường, ngây thơ phơi mình dưới nắng. Ông thường trực già đã chúi mũi vào tờ báo. Tôi nhẹ nhàng lại gần, cúi xuống làm mấy thao tác kỹ thuật. Khóa vậy cũng chỉ phòng người ngay thôi, đối với kẻ gian thì khác nào một lá bùa dán bằng nước bọt. Vợ tôi ngày nào cũng rên rĩ chồng vì tính đãng trí. Nàng khoác lên chiếc xe không ra hình thù của tôi đủ các thứ khóa của Tiệp Khắc, Trung Cộng, Liên Xô, tôi lại lặng lẽ tháo ra vứt một đống ở xó nhà. Nàng trù ẻo rằng thế nào cũng có ngày đi bộ về nhà, tôi cười, yêu cầu mua hộ chiếc còng số 8 của công an xích liền cả người lẫn xe lại mới chắc ăn, vì bao nhiêu thằng khoá trước khóa sau, khóa trên khóa dưới mà mất vẫn cứ mất, còn biếu thêm kẻ gian mấy cái khóa để uống rượu ăn mừng. Thế mà hôm nay tôi bỏ quên người bạn đời, bạn tù của mình. Bỗng dưng thấy thương nó hơn, tôi lùi hai bước để ngắm nghía. Để nó côi cút một mình như mời gọi lòng tham là không nên. Vẫn nguyên cả khóa, tôi lại lễ mễ khuân nó đặt cạnh mấy chiếc xe sáng giá khác. Thằng ngu nhất cũng biết nên thu hoạch chiếc nào cho xứng đáng với tội vạ phải chịu. Xong việc rồi tôi mới thấy mình thật gian ác. Nhưng biết làm thế nào hơn, xin thú thật với các bạn. Nếu phải hy sinh cả Trung ương Đảng lẫn đồng chí Tổng thư ký Hội Nhà Văn cho chiếc xe tôi cũng sẵn lòng.

-A… chào mày !

Vừa thấy mặt tôi, thằng Nghiêm Đa Văn đã hét tướng lên, ngón tay quay tít chùm chìa khóa.

-Sao đi đâu cũng gặp mày thế này ?

Không mất lòng với câu nói móc, hắn nhe răng cười hì hì. Cây bút Đa Văn mà không Nghiêm này đang độ sung sức, hắn viết như vịt đẻ, về đủ các đề tài rồi thả câu cầu may ở tất cả các nhà xuất bản. Đúng như tôi dự đoán, “các bà” vẫn chửa bắt đầu làm việc. Gần chục các ông chủ nợ ngồi trầm lặng trên hai dãy ghế băng dài kê sát tường hành lang chật hẹp, hút thuốc lào vặt hoặc xem báo. Một vài người giơ tay chào tôi, đầu không ngẩng lên. Tôi chào tập thể cả hai dãy, cũng chả buồn nhìn họ. Đưa tấm thẻ của mình vào để xếp hàng xong, tôi cũng ra ngồi nhập bọn. Từ cầu thang lại vang lên tiếng thở khò khè của người mới tới. Chúng tôi cùng dỏng tai nghe ngóng.

-“Bỉ Vỏ” đấy…

Thằng Nghiêm Đa Văn thì thào:

-Chưa chắc… Già rồi, leo cầu thang không nổi đâu.

-“Hổ nhớ rừng.”

-Nghe nói tuần vừa rồi say rượu ngã sái tay phải nằm nhà thương…

Tiếng ho khù khụ nổi lên, tiếng hỉ mũi, rồi tiếng guốc lê loẹt quẹt đến gần.

-Tao đoán có sai đâu, đúng “Bỉ vỏ.”

Thằng phổi bò đắc chí vỗ vai tôi. Nó luôn có sức cho những suy đoán vớ vẩn, chả để làm gì. Đám chủ nợ cúi xuống đọc báo tiếp, hoặc úp mặt vào bàn tay ngồi chờ. Họ không lạ gì tiếng guốc này. Tác giả “Bỉ vỏ” dùng nó như chiếc cầu câu cơm. Mỗi khi đi đòi nhuận bút, ông khua ầm đôi guốc mộc từ cửa nhà xuất bản rồi rêu rao rằng lê đã mòn cả gót rồi mà chửa lấy được tiền. Các ông cai văn nghệ không dám dây dưa với “Chí Phèo” trong làng, vội dấm dúi cho ít tiền bịt mõm để cụ ra về. Như vậy lại càng khổ hơn, “Bỉ vỏ” phải đi lên đi xuống nhiều lần cho số tiền còm của cuốn sách. Tôi vội nhích ra nhường chỗ cho bậc đàn anh lận đận. “Bỉ vỏ” khò khè cảm ơn, giọng lẫn đàm, rồi rút khăn ra lau mồ hôi gáy. Tôi nhắc cụ đưa thẻ để xếp hàng. Cụ lại nổi cơn ho, nhưng vẫn cố gật đầu, tỏ ý đã hiểu. “Bỉ vỏ” rệu rạo lắm rồi, từ mấy năm trước đã than thở với bạn bè rằng “Không biết có qua được mùa đông này,” thế mà vẫn sống lây lất với cái bệnh thời khí cảm cúm. Ngồi cạnh ông, ngoài vẻ tiêu điều của nhà văn bạc nhược sức sống, tôi còn ngửi thấy cả mùi người già. Quanh năm tứ thời chỉ một cái áo lính vải dầy bọc lấy thân thể gầy còm như mình con chim chào mào, với đủ các mùi thuốc uống, dầu gió, thuốc lào, bã rượu quệnh lẫn trong mồ hôi của người lâu ngày không tắm gây cảm giác tanh tanh, lợm giọng.

-Đất nước mình bây giờ lấy bến xe với cửa hàng gạo làm chuẩn, chỗ nào cũng bắt chước nhau cái trò đăng ký với xếp hàng…

Chưa dứt lời cụ đã bưng lấy miệng, ho rũ rượi.

-Chưa chen lấn đập đầu nhau ở đây cũng là may lắm rồi… Tôi đỡ lời, nhanh tay đưa cho cụ cái khăn mùi xoa vo tròn trên ghế. Mang mặc cảm của người già bệnh tật, cụ xoè hai bàn tay trước mặt mọi người để chứng minh rằng chưa thổ ra đờm, rồi thả cái khăn xuống ghế trở lại.

-Lỡ việc thì thôi chứ dứt khoát không bao giờ tôi chịu xếp hàng!

Dứ dứ nắm đấm trơ xương trên không, “Bỉ vỏ” xác quyết lập trường của mình. A, thì ra đánh vỡ mặt chế độ không được, ông cụ bày tỏ thái độ chống đối của mình bằng hành động tiêu cực như vậy. Để rồi xem. Một vài người xì xào cười khẽ với nhau. Cho dù là nhà văn, về già rồi vẫn dở chứng gàn như thường.

-Bên Văn Học năm nay mất mùa hay sao mà kéo hết về đây nhỉ?

Cụ thả lửng câu hỏi trước mọi người.

-Có lẽ vậy… Ông Trường Chinh hô hào mãi, chả thấy tác phẩm nào xứng đáng với tầm vóc của lịch sử ra đời, nên quyết định trừng phạt đấy ạ.

Tôi rụt rè đưa ra nhận định của mình. Mọi người khó chịu quay sang nhìn con người thông thái không đúng chỗ. Ông cụ nhặt cái mùi xoa đưa lên hỉ mũi.

-Hử… Cả nước bám vào gấu váy đàn bà mà sống. Cánh mình báo cô nhà xuất bản chị em đến bao giờ đây?

Một cây bút lớn tuổi, đã cạn mực, ngồi đối diện bị chạnh lòng bèn lên tiếng:

-Váy đàn bà còn thơm chán so với tã trẻ con…

“Bỉ vỏ” lâu nay cải bút hiệu để viết cho nhà xuất bản Kim Đồng, biết ông bạn chửi xỏ mình bèn rút cái đồng hồ quả quít trong túi quần dí sát vào mắt, đủng đỉnh đáp lời:

-Tôi hẹn thằng xích lô 11 giờ hãy trở lại đón mà nó đã mò lên đây rồi…

Cả hai dãy ghế cùng rộ lên tiếng cười. Ông bạn ngứa miệng nọ tái mặt, nhưng cũng cố cười theo rồi cau mày nghĩ cách chơi lại. Dứt tràng cười, mọi người trầm lặng, chờ đợi cuộc khẩu chiến. Tôi thấy ngột ngạt, bèn tháo ngòi nổ:

-Nghe nói từ quí tới, tiêu chuẩn thuốc lá của anh em mình được tăng?

-Phải đấy, phải đấy! Mỗi tháng được chín bao thuốc lá, ba gói thuốc lào.

Một cây bút trẻ ăn mặc lôi thôi, tóc phủ lòa xòa trước trán nhanh nhảu xác nhận.

-Có thế chứ! Ai đời tiền nhuận bút không đủ để hút thuốc lá ngoài thì viết với lách cái gì?

Một cái đầu bù xù, nổi tiếng khắp Hà Nội về tài uống rượu chịu đang gục mặt ngủ vội hớn hở lên tiếng.

-Khi nào cầm được nó trong tay hẵng nói, mừng sớm làm gì với những dự định của Nhà nước?

Thi sĩ lớn tuổi, một thời được ưu ái trong phong trào cổ động hợp tác hoá nông nghiệp, nay đã thất sủng, đai giọng dội nước lạnh vào tin mừng. Mọi người bực mình quay lại nhìn vị ca sĩ lạc giọng trong ban đồng ca. Ông ta đã phạm một lỗi lầm lớn, đánh đúng vào điểm dễ xúc động nhất của con người thời nay vốn chỉ sống bằng hy vọng! Thái độ hầm hè của họ cho tôi biết sắp sửa có một vụ “bề hội đồng” kẻ đã vi phạm kỷ luật sống. Ngồi chung thuyền với các thầy đời thật là mệt. Lúc vui vẻ no cơm ấm cật thì không sao, những lúc mất mùa đói kém như thế này ngần đó bộ não thông minh, nhưng thiếu sáng suốt, cương lên, sẵn sàng hiểu lầm một câu nói không chứa ẩn ý của người khác để nhảy xổ vào tụt quần, xé áo nhau.

-Hút thuốc lá cũng tỉ như húp nước suýt, không có thuốc người ta cho mình húp nước sáo vịt cũng được rồi…

Một cụ già tóc bạc trắng như cước, da đỏ, râu xén tỉa viền quanh mép đủng đình chữa lửa bằng lối nói hàng hai.

-Cái anh T. kia nói cũng đúng. Đây này… — Ông chậm rãi nhấm nước bọt vào ngón tay, lật trang báo Nhân Dân — “Sự độc hại của chất Ni-cô-tin… ” Khi nào thiếu gạo để bán cho dân thì người ta dậm dạp trước trên báo rằng ngô, khoai, sắn, bobo… ấy xin lỗi, “cao lương” bổ hơn gạo. Muốn cắt tiêu chuẩn thuốc lá thì “Ni-cô-tin – kẻ giết người.”

Mép nhếch lên cười hóm hỉnh, ngón tay vê vê mấy sợi râu ông chìa tờ báo cho mọi người xem. Cả hành lang trầm lặng để tung tin mừng yểu mệnh. Một người ngáp, hai người, ba người… Không ngăn được nữa, tiếng ngáp như phản ứng dây chuyền nổi lên suốt hai dãy ghế. Khi độc khí của cái tin vịt đã trút hết ra khỏi người, cả bọn chợt nhìn nhau rồi phá lên cười, vẫn cái giọng khề khà cắt nghĩa, vẻ mặt tinh quái của con người biết cách cưỡi lên lưng cuộc sống, ông cụ nói tiếp:

-Các anh cứ cậy mình là nhà văn, không thèm đọc báo. Báo cũng bổ ích lắm chứ, không những cho cách mạng mà đối với mình cũng lắm cái hay. Tờ Nhân Dân này nó như cái nha dự báo thời tiết về đời sống, có điều đáng buồn là toàn thời tiết xấu thôi…

Khuôn mặt “Vang bóng một thời” này đủ tư cách để dạy dỗ đám lau nhau tụi tôi. Không ai dám xù lông giơ cựa ra với ông ta, ngay kể cả chính quyền thỉnh thoảng bị ông tiểu bậy một bài trên báo cũng im thin thít như gái ngồi phải cọc, rồi về nhà trùm chăn đánh mấy thằng chủ bút dại dột của mình…

-Đời cứ lừa quanh quẩn lẫn nhau. Mình lừa đời những cái lớn trong tư tưởng để đổi lấy điếu thuốc, chén rượu, rồi chén rượu điếu thuốc nó cũng học cách lừa lại mình.

“Bỉ Vỏ” rút chân lên ghế cười khẩy, lẩm bẩm một mình. Thằng Nghiêm Đa Văn trườn người tới, thò chân khều đôi guốc của cụ. Nháy mắt với tôi, nó đá nhẹ chiếc “cần câu cơm” vào gầm ghế rồi thu mình lại như cũ, mặt thản nhiên như không. Cái thằng trẻ không tha già không thương này không từ một việc gì. Mấy năm trước, rình lúc tối trời nó lẻn vào trụ sở Hội Nhà Văn viết một cái thông cáo giả lên tấm bảng lớn dựng sát ngoài đường “Bàn viết giá cung cấp. Mỗi hội viên được mua một chiếc giá 65đ. Ghi danh, đóng tiền cho chị L. thủ quĩ!” Một người đọc được, rỉ tai cho người khác, cái tin sốt dẻo chạy nóng cả Hà nội, bà con cuống cuồng đi vay tiền rồi lũ lượt kéo đến xếp hàng, sợ hết. Ban chấp hành Hội giải thích thế nào họ cũng không thông, còn đổ oan cho cơ quan thấy lời, tuồn bán ra ngoài. Bao nhiêu tội vạ trút lên đầu bác lao công của Hội, đến nỗi ông già phải tổ chức một vụ tự tử giả để minh oan. Cánh công an đánh hơi được liền đem chó săn tới truy tìm kẻ phản động ném đá giấu tay. Thấy trò đùa đã bị qui kết thành chính trị, hoảng quá nó bèn đứng ra tự thú để lãnh hình phạt treo bút một năm.

-Trời nực thế này mà được một chầu tiết canh lòng lợn thì chết cũng sướng nhỉ?

Cái đầu bù xù chuyên uống rượu chịu chợt thốt lên trong tiếng ngáp. Thế là cả bọn nhao nhao hưởng ứng. Người này mách một hiệu mới mở ở đầu Lò Đúc, đang câu khách nên bán rẻ, kẻ khác gạt đi, rằng con mẹ Đông “nái” đã tái xuất giang hồ ở Hàng sắt còn ngon hơn mà vẫn rẻ. Mỗi người một quán, một cách ăn, một thời điểm ăn, ngậu xị hết cả lên, chỉ thiếu mỗi một điểm trong đạo ăn của cụ Tản Đà là bạn ăn.

-Mày ve vẩy như cái đuôi con lợn, cũng chỉ dừng lại ở phần đuôi, biết gì đến lòng ruột tiết canh mà đòi dậy dỗ người khác?

Đấy, lại muốn đập vào đầu nhau rồi. Cây bút trẻ đang tạo vẻ sành đời, người đã viết được mươi truyện ngắn cho báo Văn Nghệ, thường phơi mình trong các quán cà phê với hình hài bôi bẩn đến thái quá cho giống các nghệ sĩ cỡ lớn, đỏ bừng mặt nhìn địch thủ. Vành môi trên mỏng, lưa thưa một túm râu tơ hoe đỏ, dài luộm thuộm, doe ra run rẩy chọn chữ trong cơn giận.

-Còn mày, thằng “cây nhà lá vườn,” tháng nào chả đóng cửa ăn tiết canh cuối kỳ của vợ.

Đám “thực khách” dại mặt nhìn người tuổi trẻ tài cao. Thi sĩ thất sủng há hốc miệng như gái bị lột quần, ấm ứ trong bụng. Xã hội vô trật tự thì văn chương cũng không có kỷ cương. Một vài cây bút choai choai múa gậy trên đám bèo thời sự của cách mạng, võ vẽ dăm ba miếng dắt lưng quần, được nâng lên bởi mấy bài phê bình văn học lấy tiêu chuẩn chính trị làm đầu, đã nhìn đời bằng nửa con mắt, cho phép mình đù mẹ tất cả. Đùa với chó thì chó liếm mặt, tôi lẩn tránh cái nhìn ác ý của anh bạn trẻ, sợ sẽ đến lượt mình được cho ăn tiết canh.

-Lòng biết làm thì vừa dòn vừa thơm, vụng tay dao để nó toé cứt ra thì… Các anh định tung xú uế đãi cả làng đấy à?

“Vang bóng một thời” ngậm ngùi chửi đểu cả đôi bên, mặt đầy bẽ bàng. Hai con gà đá buông tha nhau, nhưng ánh mắt vẫn đầy hằn học. Oán cừu này sẽ được trả tại quán rượu suông ở phố Tạ Hiền vào chiều nay, nếu không đòi được nhuận bút, còn ngược lại, thì oán trở thành ân, họ sẽ bá cổ nhau đi làm chầu thịt chó để làm lành. Đầu óc đang ngổn ngang như cái sọt rác, tôi không muốn rước thêm mấy chuyện lôi thôi vào mình, bèn vơ tờ báo rúc đầu đọc để được yên thân. Người ta nói các nhà văn như trẻ thơ kể cũng đúng. Họ dễ giận nhau, khi giận thì chửi nhau động mồ động mả, có thể hộc máu mồm ra mà chết nếu là người kém tiếng chửi, nhưng biết đau khi bị chửi, rồi họ cũng dễ làm lành với nhau hơn hai bà hàng chợ sau cơn xích mích. Hồng phúc đó một phần bởi chợ chiều Hà Nội lèo tèo có vài quán rượu (uống chịu được) ra vào đụng mặt nhau hàng ngày như vợ chồng dưới một mái nhà thì giận nhau lâu làm sao được. Phần lớn có lẽ nhờ Đảng không dư giấy mực cho những trò chửi bới gây mất đoàn kết trên báo, nên các danh dự bị xúc phạm không mất thể diện với người đọc, không phải gồng mình cõng một đám cổ động viên đánh trống thổi kèn trên lưng để xông vào húc nhau.

Tờ báo chẳng có gì để đọc. Ngoài tin hỏa hoạn, thiên tai, lạm phát, thất nghiệp ở các nước tư bản. “Cách mạng Grê-na-đa nhất định thắng!”. Rồi; lại tiêu đời một cuộc cách mạng. “Tình hữu nghị Việt Xô đời đời bền vững. ” Không biết đã có hục hặc gì chưa mà vợ chồng phải nặng lời thề thốt thế này. Tôi cố gắng nhai cho hết bài xã luận. Vấn đề trời ơi đất hỡi này lại liên quan mật thiết đến nguồn giấy mực viện trợ, nguồn súng đạn để nuôi chiến tranh, đề tài vô tận chúng tôi đã khai thác một cách an toàn. Không sợ bị chụp mũ đi sai hướng, mất lập trường. Lời lẽ thống thiết lắm, đất nước đã ôm hôn nhau thì tại sao không cho con người yêu đương nhỉ? Tôi chợt nảy ý định viết một truyện ngắn, nhân vật chính là một chuyên gia Liên Xô sang giúp ta xây dựng chủ nghĩa xã hội. Anh ta làm việc tận tình, không giấu nghề, hòa mình với công nhân nước bạn (dĩ nhiên rồi). Thông qua lao động, tình yêu chợt nảy nở giữa anh ta với cô kỹ sư trẻ Việt Nam. Mang cả tình cảm của hai dân tộc, hai đảng anh em vào cuộc tình của mình, họ yêu nhau càng thắm thiết hơn, cùng chung lưng đấu cật xây dựng đất nước… Tuyệt! Xác thịt hóa một thứ tình trừu tượng, khô khan của chính trị trong cái lãng mạn của văn học, thổi bùng sức sống vào những bài xã luận, diễn văn công thức đến đông đá. Tình hữu nghị (kèm theo viện trợ) với Liên Xô đang là vấn đề thời sự số 1 của đảng, nếu tung ra sẽ là quả bom nguyên tử nổ trong làng viết lách. “Trung ương ” sẽ ngạc nhiên hỏi thằng Lê Văn Cuôm này là ai, giới lãnh đạo văn nghệ sẽ hoảng hồn đứng nép qua một bên nhường lối cho ta lừng lững bước vào. Ta sẽ đi xe tam mã, ăn sổ Tôn Đản, nói giọng phán truyền trong các hội nghị văn hóa. Ta sẽ bỏ rượu, cai thuốc lào (có thể cả thịt chó) sáng sáng tập thể dục giữ gìn sức khỏe để phục vụ nhân dân. Ta sẽ mất đi một số bạn bè thân thuộc, vợ con sẽ lánh xa một chút, không dám nhìn ta bằng con mắt khinh nhờn, nhưng bù lại ta đã có cả “Trung ương” để giao du mạn đàm… Ơ thật vậy sao? Các Tố-Hữu Tố-nịnh chả đội đít các quan tài đi lên, xây dựng sự nghiệp bằng nghề hát thuê khóc mướn đấy là gì?

Nhưng hãy khoan, vành nguyệt quế đó để dành đến tối về nhà có thì giờ nhâm nhi cho kỹ càng, ta tính chuyện trước mắt đã. Loại sáng tác văn học giàu tính chính trị này bám sát tình hình thời sự nóng hổi của đất nước, thể hiện những nét lớn lao của Cách Mạng, nó chứng tỏ tác giả đã vũ trang cho mình một cách đầy đủ về lập trường tư tưởng để theo kịp sự biến chuyển của cách mạng trong giai đoạn mới. Xếp loại sáng tác I (ba-rem nhuận bút 18đ một trang sáng tác khổ 25x40cm). Các báo, đài phát thanh, nhà xuất bản phải ưu tiên phổ biến một cách nhanh chóng nhất đến đồng bào và chiến sĩ trong cả nước. Kèm theo đấy là ghi chú nhỏ đề nghị các cơ sở phát hành cố gắng thanh toán nhuận bút sớm cho tác giả bằng tiền mặt. Ta sẽ không phải xếp hàng chầu chực xin xỏ, dối trá quanh quẩn để ôm một tấm séc (tiền âm phủ) qua Hội Nhà Văn nộp cống 15% lệ phí và trà thuốc (bôi trơn dầu máy) cho các thư lại, xin rút tiền mặt. Không được, phải kéo nó ra thành tiểu thuyết, hay ít nhất cũng truyện dài chứ truyện ngắn thì uổng quá!

Ngợp lòng với viễn ảnh mà tác phẩm dự định của mình sẽ mang lại, tôi thầm cảm ơn “Vang bóng một thời” đã gợi ý cách đánh hơi, đón gió trên báo cho anh em. Rà lại dàn bài một lượt, tạm yên tâm với ý đồ chủ quan của mình, tôi tìm kiếm những chi tiết, phong cách lạ để bồi da đắp thịt cho tác phẩm. Đề tài này hơi khó gặm một chút. Từ bé đến giờ tôi đã được phép tiếp xúc với người ngoại quốc nào đâu để viết về họ. Trừ một lần vì mải chơi bi, nhỡ dẫm bẩn mất cái mũi giầy của “bác” Liên Xô liền được “chú” công an chìm sốt sắng cho ăn một cái tát nổ đom đóm mắt. Không được, phải dẹp ngay mối “hằn thù cá nhân” này lại, để nó lợn cợn trong đầu khi dựng nhân vật “chính diện,” thế nào mình cũng cho ông ta một cái mũi cà chua, thói keo kiệt cũng như sưu tầm các đồ lẩm cẩm rẻ tiền của xứ Á đông. Được rồi, tôi sẽ về nhà đọc kỹ lại các cuốn sách về “Người Xô Viết chân chính,” cóp nhặt sao chép lại trong đó vậy. Thằng mù vẽ bậy trong thế giới mù thì chả ai biết được đâu. Bây giờ đến chuyện yêu. Cũng khó khăn đấy. Tôi chưa hề yêu một phần lớn những con người lý tưởng, họ không vướng bận thứ tình cảm ủy mị, thừa thãi, không thích hợp với tình hình khẩn trương của đất nước. Nếu phải hương hoa một chút tôi đã vội xúi dại họ động viên nhau lên đường nhập ngũ, chui vào rừng, ra hải đảo rồi bắt họ cười hơn hớn “yêu nước em càng yêu anh đi…” trong những buổi chia ly đôi lứa. Dùng kinh nghiệm bản thân càng khó khăn hơn. Tôi là một thằng “đụt” trong lãnh vực này. Hai mươi tuổi rưỡi, vừa tập tò cất tiếng gáy đã chết ngay từ loạt đạn đầu, để vợ con quàng cái ách vào cổ, cắm đầu như con trâu đi vòng quanh cái máy xay mía làm đường. Sau đó chiều nào cũng tương tư, cũng hò hẹn, nhưng chỉ tựa cửa chờ thằng bạn trúng mánh bất chợt đến rủ đi uống rượu. Có lẽ đành phải về nhà lục tấm ảnh hồi chưa cưới của vợ, đặt trước mặt, lấy bông nhét kín hai lỗ tai để khỏi phải nghe những lời cằn nhằn của nàng rồi tưởng tượng lại thuở e ấp ban đầu mà viết vậy. Cũng kể như xong, giờ đến đoạn kết, sẽ “xử lý” mối tình này ra sao đây. Cứ để cho họ dan díu với nhau mà không trình báo cho tổ chức biết thì thành “quan hệ bất chính,” “tác phong suy đồi tiểu tư sản,” gặp nhà phê bình thối mồm còn gán cho cái tội phụ nữ đi làm điếm thì bỏ mẹ. Cho họ cưới nhau chăng? Lại phải thêm mấy nhân vật phụ là công an đi điều tra lý lịch ba đời của cô gái. Thôi thì đám cưới nào chả lắm gian truân, cố gắng tống tiễn họ lên xe hoa xong, còn phải lo tương lai sau này nữa. Ông bạn chuyên gia nọ chắc chắn không chịu ở lại Việt Nam rồi, hoàn thành nghĩa vụ xa xứ ba năm, có được món tiền để dành, về nước lại được tấm phiếu mua xe hơi ưu tiên không phải xếp hàng thì ở lại đất khỉ ho cò gáy này làm gì? Cho cô gái về nhà chồng luôn! Chả may cái thằng bỏ mẹ ấy liễu chán hoa chê, vứt lăn lóc ở rừng Tây-bá-lợi-á thì cũng mặc. Nhiệm vụ cách mạng nào chả khó khăn, đòi hỏi sự hy sinh của cá nhân con người, so với các chiến sĩ đang làm nghĩa vụ quốc tế bên Căm-pu-chia thì cô gái của tôi còn thơm chán. Giải quyết như vậy là an toàn, đồng chí khe khắt với các me Tây, me Mỹ thôi, me Liên Xô thì “có lợi cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc.”

Tôi thớ phào, khoan khoái rời mắt khỏi bài xã luận. Loáng một cái đã 10 giờ. Gập tờ báo làm tư, tôi phe phẩy quạt cho đỡ nóng. Mấy cây bút già đang sôi nổi bàn cãi về cuốn Thiền Luận do Trúc Thiên và Tuệ Sỹ dịch, không hay biết kẻ ngồi bên cạnh vừa chế xong quả bom nguyên tử. “Bỉ Vỏ” cam đoan rằng nếu ứng dụng vào đời sống hàng ngày sẽ có nhiều điểm lợi, ví dụ phải ngồi chờ lãnh nhuận bút chẳng hạn. Chả biết quái gì về Phật học, tôi ngồi im nghe họ cãi nhau. Cây bút trung niên cũng chán chuyện thiền tụng, uể oải hỏi tôi:

-Cậu đọc cái gì mà say sưa thế?

-À… “Cách mạng Grê-na-đa nhất định thắng!”

-Ôi dào… Tưởng có thêm thịt thà bán cho dân chứ quần đùi đã không đủ mặc mà báo chí lúc nào cũng la hoảng lên, sợ đế quốc Mỹ bóp chết cách mạng Ni-ca-ra-gua rồi sụt sùi than khóc cho nhân quyền không được tôn trọng ở Nam Phi…

Anh ta nhăn mặt phẩy tay như bị ăn phải đồ chua. Tôi cười thầm trong bụng, tự khen mình khéo đánh trống lảng. Cây bút ương gàn này đã được “góp ý” nhiều lần rồi mà vẫn không chừa. Năm ngoái, trong giờ giải lao của hội nghị văn nghệ toàn quốc, ông Hà Xuân Trường bỗng nổi thi hứng, chỉ đám anh em đang đứng lố nhố ngoài hành lang “Những khuôn mặt đẹp nhất của lịch sử đang tề tựu ở đây!” Anh ta liền ứng khẩu tiếp lời “Thưa vâng, đây là những mẫu người đẹp xã-hội-chủ-nghĩa: Dáng người thanh tú vì thiếu ăn, áo may ô cháo lòng vì thiếu xà phòng giặt, má tóp môi thâm vì hút thuốc lào, miệng hôi, răng mầu chuối ngự vì thiếu kem đánh răng.” Nói xong anh xoè hàm răng xỉn khói thuốc cười với anh em. Anh giám thị của giới văn nghệ tái mặt quay đít bỏ đi.

-Cho tớ mượn một chút.

Anh ta chợt lên tiếng, tay chìa ra để đón tờ báo.

-Cậu mà cũng đọc báo Nhân Dân à?

Không trả lời, anh chỉ vào đồng hồ ra ý trám thời gian chờ đợi mới được có năm phút, cái mặt bướng bỉnh ấy đã tìm ra điều gì khôi hài, ngậm miệng cười một mình. Báo Nhân Dân dành riêng cho công nông binh, những con người đơn giản, tiến bộ luôn tìm cái hay cái đẹp trong “tiếng nói của Đảng,” không phải cho bọn trí thức có thói quen đặt lại vấn đề, chỉ đọc những lúc “nhàn cư vi bất thiện” để xoi mói lột truồng bùa ngải.

-Này, đây không phải chỗ tự do ngôn luận đâu nhé!

Sợ bị liên lụy, tôi lên tiếng cảnh cáo trước. Tờ báo rung rinh trong tay người đọc vì tiếng cười bị nén lại, che khuất mặt anh ta, tôi càng thắc mắc hơn, vội chồm người tới để nhìn.

-Thấm đòn thằng Tầu rồi! Người cách mạng bị đánh mãi cũng phải khai thôi.

Anh chỉ cho tôi mẩu tin ngắn nằm trốn ở góc cuối trang tư tờ báo. ‘‘Chúng ta sẵn sàng thương lượng với Bắc Kinh ở bất cứ cấp bậc, thời gian, địa điểm nào để giải quyết những vấn đề liên quan giữa hai bên.” Bỏ mẹ rồi! Trang một thì thề thốt chung thủy với Liên Xô, trang tư lại vén váy khêu gợi thằng Tầu. Liệu cuốn truyện vừa nghĩ của mình có đi sai hướng “Trung ương” không? Tôi hoang mang giật lại tờ báo để đọc. Nguyễn Cơ Thạch đã tuyên bố rành rành như thế này còn nghi ngờ gì nữa.

Chính trị đúng là trò đánh đĩ, không biết đâu mà lần. Người ta vừa muốn chiếm đóng Căm-pu-chia, tranh thủ viện trợ của Nga, vừa muốn hòa hoãn với Tầu. Kêu gọi phương Tây nhảy vào đầu tư, viện trợ, nhưng lại sợ văn hóa, lối sống tự do xâm nhập vào xứ mình. Một con điếm tham lam, đã phải vào nhà thổ kiếm ăn rồi mà còn đòi giữ tiếng thì cổ kim chưa từng có. Làm ma cô cho chị gái tráo trở này có ngày bị đánh vỡ đầu như bỡn. “Nghề chơi cũng lắm công phu, nâng bi đã dễ mấy người biết nâng”. Nghề “liếm” nhà mình không phát mả thì nên vâng lời Tố Như tiên sinh. Thôi, đành dẹp giấc mộng vinh hoa lại, kẻo làm khổ lây đến vợ con.

Buông rơi tờ báo xuống đất, tôi ngáp đến sái cả quai hàm.

-Tiên sư cha đời. Không thể chen chân được với lũ trâu chó. Cây bút ba bửa ngồi trước mặt ngạc nhiên, lườm hứ tôi.

-Mới chờ có một tí mà đã mọc thêm hai chân rồi. Giỏi thì vào chửi mấy con mẹ trong kia kìa, đừng ngồi đây mà rủa nhau là súc vật!

Đang cay cú vì mưu toan bị hỏng ăn, tôi hất hàm mắng lại:

-Này người anh em, khi nào tớ gọi đến tên thì hãy sủa nhé!

-Á à… Đớp nhầm phải món gì mà hôm nay đổi giọng thế hả?

Anh bạn nẩy người trên ghế, sừng sộ nhìn tôi. Biết mình đã lỡ lời, lại khòng thể giải thích lý do được, tôi đành im lặng. Đám già đang cãi nhau về tác dụng của việc ăn chay bị chúng tôi làm gián đoạn, sôi nổi bàn cãi trở lại.

-Đấy, cụ thấy không, tôi đã bảo ăn chay không diệt dục là đúng — “Vang bóng một thời” chỉ tôi, cười cợt rồi nói tiếp — Xem mấy anh em trẻ này thì biết, cả tháng trời không có nổi miếng thịt, đời “mặn” có chút nước mắm loại ba pha nước lã mà lúc nào cũng sẵn sàng đánh nhau. Ăn như tu ở như tù, đói thịt cá nhất thế giới mà hiếu chiến thì không ai bằng.

“Bỉ Vỏ” thấp họng hơn ông bạn già, đành nín lặng chịu thua. Tôi ngượng quá, quay mặt nhìn lảng ra chỗ khác. Con người không bao giờ kiểm soát được hành động của chính mình. Tôi đã chê cười anh em về những trò chửi bới nhau, cố gắng tu thân để đừng vướng vào tai vạ này mà vẫn cứ sảy bước. Hiểu lầm thái độ trầm lặng của kẻ bị giễu, mọi người nhìn trộm tôi rồi che miệng cười, sợ bị chửi lây. Tôi ngứa ngáy khó chịu, nhưng không biết làm gì để thoát khỏi tình cảnh quê kệch này.

-Cụ có mang theo cơm nắm không?

“Bỉ vỏ” hỏi khẽ “Vang bóng một thời.”

-Không, tôi hết từ khuya hôm qua, chưa kịp mua.

Ông già ngồi kế bên, khi nãy đã lỡ cho “Bỉ vỏ” hít tã trẻ con, lẳng lặng móc trong túi ra gói thuốc lào Thống Nhất, chìa bâng quơ trước mặt. Lưỡng lự một chút, “Bỉ vỏ” cũng tặc lưỡi đỡ gói thuốc, nhờ người bên cạnh chuyển giúp cái điếu công cộng đặt ở giữa lối đi. Vê một viên thuốc nhỏ thả vào lỗ, ông kẹp cái điếu giữa hai đầu gối, hai tay hấp tấp lục túi quần. Một đống đồ lặt vặt được lôi ra nào bút, lọ dầu gió, chiếc lược nhỏ, gói tăm xỉa răng… vẫn không thấy vật cần tìm, “Bỉ vỏ” đứng thẳng dậy kéo hẳn cái khăn mùi xoa ra khỏi túi. Mấy đồng xu bị cuốn theo, rơi ra ngoài nhảy loong toong trên mặt đất rồi ngoằn ngoèo chạy trốn vào gầm ghế. Tôi tung cả hai chân đạp chặn mà không kịp, ông lật đật buông điếu, vén áo rúc đầu vào gầm ghế để tìm. Việc hút được bắt đầu lại. Lựa ba cây tăm tre có cật xanh, chụm làm một, cầm ở tay phải, tay trái ông bật lửa. Hết xăng, đá tóe lửa xanh lè mà đầu bấc đen xì vẫn trơ ra, không hưởng ứng. Người ngồi đối diện nhanh nhẩu chìa cái bật lửa của mình xòe lửa giúp. Nhúm tăm bốc cháy trong vài giây rồi tỏa vài sợi khói đen, tắt ngấm. “Bỉ vỏ” lại thở dài, hạ điếu xuống.

-Hút bằng đóm ngon hơn tăm…

Một người đưa ra nhận xét:

-Hút bằng diêm là tiện nhất, lại không hôi mùi xăng…

Người khác bác bỏ:

-Bốn đồng một bao, bằng tiền mớ rau muống, chơi diêm không nổi!

Không để tâm đến những lời bình phẩm, “Bỉ vỏ” sửa lại thế ngồi, khoan thai nâng điếu lên. Cái bật lửa trước mặt lại chìa ra. Lần này thì cháy ngon lành nhờ năm cây tăm chung lửa nhau. “Rụt… rịt… rụt… rịt…” Nhấp nhấp mấy hơi thăm dò, khi sợi thuốc đã bật lửa đều, ông vứt mấy đầu tăm, ngửa điếu kéo một hai dài cho tiếng rít réo sôi khắp hành lang.

-Ngon…! Say mà êm quá…

“Bỉ vỏ” buông điếu, quệt nước dãi ở miệng, nói trong hơi thở gấp gáp. Ông chỉ gói thuốc đợi cơn say ngấm dại mắt bạn mới thẽ thọt bên tai:

-Thuốc của “xích lô” cũng ngọt lắm nhỉ…?

“Bỉ vỏ” im lặng, chống hai tay lên ghế sửa lại thế ngồi, lưng ngã vào tường, lim dim mắt cười hiền hòa. Con người ấy xưa nay vẫn thế, thời gian đã phá hủy tất cả, từ tác phẩm, gia đình, sự nghiệp, thân thế, nhưng không làm héo được nụ cười hây hẩy gió nồm của ông. Như người chị dâu cả trong nhà, ông quan tâm đến hết thảy mọi người, chịu đựng những cá tính gồ ghề gai góc của họ, thỉnh thoảng cũng la rầy chút ít, cũng giận dỗi hờn tủi để kẻ có lỗi ngay mờ sáng hôm sau đã đến gõ cửa, thành khẩn như học trò “mời bố” đi uống cà phê để tạ tội.

-Bố cho một điếu hút thử….

Cây bút “tiết canh” chìa tay xin, hàm râu dài, lưa thưa như đuôi chuột xòe ngay theo vành môi đang vẩu lên chờ đợi.

-Hút đi… Ăn tiết canh “cuối kỳ” xong, không có thuốc lào trong miệng thì đến chửi cha bố vạ lên nhỉ…!

“Xích lô” tủm tỉm cười, trao gói thuốc cho anh bạn trẻ. Anh chàng đỏ mặt, lắc nhẹ đầu cho mớ tóc dài phủ lấp mặt, xoạc hai chân đi đôi giầy lính được cắt gọt nham nhở thành dép lê với ngón cái thò ra, chăm chú hút để giấu sự lúng túng. Sau anh ta còn nhiều người muốn nếm, đầu ngỏng lên như bầy cò ngóng mưa. ông chủ thuốc liếc nhanh số đầu người rồi thở dài tiễn biệt gói thuốc. Trong phút chốc cái hành lang biến thành sòng thuốc phiện. Chiếc điếu cầy được truyền tay nhau nóng ấm hơi người. Mỗi người một kiểu hút. Trẻ thì sùng sục như con lợn dũi mõm trong máng để xì bã rồi kéo hơi rồ rồ như xe lam bể ống bô. Già thì đủng đỉnh khoan thai như vị linh mục sửa soạn hành lễ, nào sửa lại gọng kính, cổ áo, nào lắc thử bình nước thánh (trong điếu) nào “e hèm” lấy giọng trước micrô rồi ngẩng đầu nhìn bao quát các con chiên trong hành lang một lượt. Tiếng rít của họ cũng kéo dài, ngân nga bay lượn trên vòm trần nhà thờ rồi ngấm vào các con chiên đang há miệng đợi đến lượt hút như lời đấng Thiên Chúa. Hút thuốc lào đã được nâng lên thành đạo ở mảnh đất vô thần này.

-Ngon thật. Thuốc của mình cũng Thống Nhất mà hút sốc quá. Bố có pha chế gì thêm không?

Cây bút “ba bửa” hỏi, mắt lờ đờ.

-Mậu dịch nó bán sao thì hút vậy chứ công đâu mà pha với phách!

-Con cũng hút thuốc mậu dịch mà?

-Thuốc giả rồi…

-Mua ở căng tin cơ quan làm sao giả được, đây này…

Anh ta chìa gói thuốc nhòe nhoẹt của mình cho mọi người để làm chứng. Ông cụ không thèm nhìn, buông thõng lời xác quyết.

-Nó giả từ trong trứng. Nhân viên mậu dịch tuồn thuốc thật ra ngoài, tráo thuốc giả vào rồi giao cho căng tin các cơ quan, con cháu tôi bán hàng nên biết rõ.

Một vài người móc thuốc của mình ra so sánh. Gói nào cũng như nhau, từ mầu giấy, mực in cho đến sợi thuốc.

-Giấy gói thì thật, của nhân viên nhà máy thuốc lá ăn cắp cho bọn làm giả. Sợi hồ cũng như nhau, nhưng không đúng đất trồng thuốc, lại thiếu gió Lào lúc phơi nên hút bị sốc!

-“Chợ trời thật giả đâu chân lý. Hàng hóa, lương tâm cũng thiếu thừa.”

Thằng Nghiên Đa Văn rên ư ử hai câu thơ theo khói thuốc rỉ từ trong miệng, tay vẫn nắm cái điếu. Tôi sốt ruột chờ. Nó còn cố đấm ăn xôi thêm một lần nữa. Đến lượt mình, tôi cũng làm liều hai chưởng, còn véo thêm một cục thuốc, gói giấy báo đút vào túi làm cơm nắm cho buổi chiều. Được lên tinh thần nhờ gói thuốc “chùa,” bà con lại sôi nổi cãi nhau. Hết chuyện thuốc giả, họ kéo nhau sang những cái giả khác, cũng ồn ào như mổ bò. Có một điều lạ, không ai đả động đến tác phẩm của mình hoặc đồng nghiệp. Dân đào tường khoét vách thường kín miệng về ngón nghề của mình; khi gặp gỡ hội ngộ thì họ cũng ngậm tăm với nhau về cách kiếm cơm chả mấy vui này. Anh hoa của mỗi người chì toát ra trong những câu chuyện phiếm, tiếu lâm thời đại, bên cạnh chén rượu và để chửi nhau. Nếu một hôm đẹp trời nào đấy, bạn cao hứng thổ lộ dự định sáng tác của mình sẽ bị người nghe nhìn nhận như một kẻ đang trên đà mất trí, nó ngớ ngẩn chả khác gì anh công nhân không ăn cắp của công đi diễn giảng về đạo đức cách mạng, lối sống lương thiện cho người khác.

Cãi nhau mãi rồi cũng chán, bà con đã thấm đòn chờ đợi, người thở dài, kẻ ngáp vặt, ngổn ngang ngồi trong 36 kiểu chờ. Gói thuốc lào thật đã hết sạch, mảnh giấy vàng ve vẩy đập cánh dưới đất. Mọi người cúi đầu trầm lặng trong khói thuốc mờ mịt, trông giống như đám nghi phạm ngồi đợi đến lượt thẩm vấn ở hành lang sở công an Hà Nội.

Ngoài cầu thang lại thêm một ma mới đang hùng hục đi lên. Nghe tiếng chân mạnh bạo tự tin, người ta biết ngay của một ông cán bộ cỡ từ phó giám đốc trở lên, không phải là giới viết lách lúc nào cũng e ngại, rụt rè sợ đi sai hướng, gõ nhầm cửa, ăn mày ăn xin không đúng chỗ. Nhưng tôi lầm. Một vài người mỏi mệt gục đầu hé mắt nhìn bỗng nhoảng người dậy. Họ cũng lầm. Người đang lừng lững bước tới là một thi sĩ “cỡ lớn.” Một thoáng lúng túng hiện trên mặt khi đụng phải tụi tôi, song ông ta lấy ngay lại thái độ đường hoàng, giơ tay vẫy chào theo nhịp chân bước.

-Mạnh khỏe cả chứ? Có dự định sáng tác gì mới không anh em?

Miệng cười tươi như hoa nở, giọng ân cần, ông thăm hỏi chung mọi người, chân vẫn bước.

-Đội ơn trời, anh em cũng cố gắng theo kịp sự chuyển mình của đất nước.

“Vang bóng một thời” thay mặt mọi người trả lời nước đôi.

-Ơ… Tốt lắm! Tình hình chung còn khó khăn mà giữ vững tinh thần được như vậy thì thật đáng khen.

Vỗ về một cách chung chung, chả chú tâm vào điều mình nói, ông ta lướt êm qua đám anh em đang nhấp nhô ngồi, miệng vẫn cười gió. Cái đất nước kỳ quái này, từ vị chủ tịch xã, trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch huyện cho đến đồng chí tổng bí thư, đồng chí nào cũng có một ông Hồ con trong người, nói giọng phán truyền, tác phong phủ dụ khi được gặp quần chúng.

-Người ăn sổ Tôn Đản có khác, vóc dáng lồng lộng như Phù Đổng Thiên Vương…

“Bỉ Vỏ” cúi xuống nhặt mảnh giấy gói thuốc lào, vê tròn nó trong tay, chép miệng nói:

-Đấy là sổ loại ba Tôn Đản, chứ loại hai, loại một hoặc hưởng chế độ “cộng sản chủ nghĩa” muốn gì được nấy như Thường vụ Bộ Chính Trị thì có thua gì các tiên ông…? Được hôn vào bàn tay các Phật sống này một cái dám tuổi thọ kéo dài được mươi năm…

“Vang bóng một thời” dẩu mỏ nói, con mắt long lanh tinh quái như chú tiểu đang đứng khấn trước đĩa hoa quả cúng.

Cây bút “ba bửa” nhún vai.

-Sống như vậy thì sợ gì chiến tranh, đói kém. Tôi mà làm lãnh đạo dám xua dân đánh nhau với cả thế giới chứ Đông Dương này thì ăn thua gì…

-Ôi dào… Đói ăn, chết chóc thì thằng dân thằng lính chịu chứ các bậc thánh hiền có ngửi mùi đâu mà trách móc họ. Điều đáng nói là các vị sống cho mình thì phè phỡn, nhưng mở cửa bước xuống xe lại bắt chước bác Hồ khuyên răn quần chúng cần cù tiết kiệm rồi quảng bá sự khiêm tốn của mình…

Cụ “xích lô” nói chưa dứt lời, “ba bửa” đã đốp chát:

-Ông hiểu thế nào về sự khiêm tốn? Bán rao khắp hang cùng ngõ hẻm đến nỗi thần dân và cả thế giới đều biết về đức khiêm tốn của mình. Nhặt lại mẩu bút chì, mảnh giấy vụn để dùng rồi rỉ tai cho báo chí biết, ấn hành hàng triệu bản, sách viết cả chục cuốn về tính tiết kiệm của mình thì ông hiểu “Người” đây là giống người gì?

Cụ “xích lô” gật đầu cười:

-À… Thỉnh thoảng “hiện tuợng” và “bản chất” nó cũng chưa nhất quán với nhau lắm… Chú đã đọc “Sự mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất” chưa? Cũng chính tay “Người” viết đấy?

Tôi thấy chiều hướng câu chuyện trở nên nguy hiểm, vội nhìn đồng hồ người bên cạnh rồi nói lớn:

-Này, lãnh đạo văn nghệ không phải xếp hàng hả? Ừ, chui vào trong phòng từ nãy đến giờ không thấy ra thì đúng là đòi nhuận bút rồi!

“Tiết canh” ngây thơ xác nhận lại:

-Lâu lắm rồi có cho ra tập thơ nào đâu mà đòi tiền?

Thằng Nghiêm Đa Văn ngạc nhiên hỏi.

-Phê bình văn học! Khổ lắm, con gà mái già hết trứng này không đẻ đái được nữa thì cầm gậy bới ổ người khác kiếm tiền chơi. Các anh vớ vẩn để nó thù, quậy tung hết cả lên thì hết đất kiếm ăn đấy!

“Vang bóng một thời” khuyên răn mọi người, giọng bỡn cợt. Vừa lúc đó thì cửa bật mở. Thi sĩ vẫn chưa ra, còn đứng động viên chị em đôi lời theo thói quen. Thêm chút muối vào nụ cười thừa từ trong phòng, ông bước qua tụi tôi, tay vẫy theo nhịp chân bước:

-Trung ương trông chờ nhiều anh em đấy, cố gắng đừng phụ tấm lòng của Đảng!

“Ba bửa” đứng bật dậy, bắt chước Nguyễn Đình Thi trong đại hội văn nghệ, giọng báo cáo:

-Cố gắng hết sức mình để xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa tư tưởng! Xin đồng chí chuyển lời hứa của anh em chúng tôi tới Trung ương Đảng kính yêu.

Nụ cười đứng ngang miệng, thi sĩ ngờ ngợ nhìn kẻ ăn mặc lôi thôi đang chắp tay cung kính nói. Rồi bản năng lãnh đạo vụt trở lại, không để mất thì giờ phân vân về đồ giả hay thật, ông nối ngay nụ cười đứt đoạn, ngoái đầu vẫy tay chào mọi người. “Ba bửa” vẫn đứng, chiếc quần bộ đội rộng thùng thìnn chảy trễ dưới rốn, đôi dép lê rách thò ra mấy ngón chân cáu ghét, tay vỗ theo nhịp chân bước của vị thứ trưởng bộ văn hóa.

-Ai là Trần Trùng Trục ?

Tiếng phụ nữ từ trong phòng nói vọng ra, tiếp theo là một tràng cười rúc rích của mấy chị em.

-Thưa, Trần Trung Trực chứ không phải là…

Ông cụ “xích lô” rụt rè sửa lại.

-Chữ đánh máy không có dấu, không tự sửa còn thắc mắc cái gì?

-Ấy, chớ có xui dại nhau… Cạo sửa giấy tờ là ba năm tù ngồi đấy…

Quay lại nháy mắt với anh em, miệng cười như chữa thẹn, ông kẹp nách chiếc mũ lá, hấp tấp đẩy cửa bước vào phòng.

-Xin mời… Dang-Cung-Du…ong !

Chị nhân viên vừa đánh vần một cách khó khăn như đọc tên người Tầu được phiên âm qua Anh ngữ, vừa cười xìn xịt trong mũi.

-Cúng Dường hay Cường Dương?

Thằng Nghiêm Đa Văn hỏi lại, giọng nghiêm túc.

-Đặng Cung Dương là tôi đây !

Cây bút trung niên đang hút dở điếu thuốc lào vội quăng điếu, lên tiếng. Cũng giống như công an, các quan nhà nước không làm việc với bút hiệu tác giả, mà dùng tên cúng cơm ghi kèm bên cạnh trong tấm thẻ. Ở đây họ biết rõ bút hiệu cũng như thói hư tật xấu của từng người, nhưng vẫn thích réo tên thật ra để kiếm chuyện tiêu sầu chơi.

“Tiết canh,” rồi “Ba bửa” lần lượt được gọi vào. Ngông nghênh khắp 36 phố phường Hà nội, chả coi ai ra gì, nhưng bước vào phòng nhuận bút họ nhũn nhặn như con rắn mồng năm. Cả hai đều bỏ lại mũ ngoài hành lang, vuốt lại đầu tóc, gõ đủ ba tiếng rồi mới nhẹ nhàng đẩy cửa. Kể ra họ làm việc cũng nhanh, không bằng một phần ba thời gian chờ đợi. Nhưng tốc độ “thiên lý mã” này quả đáng ngại. Kinh nghiệm cho biết nếu đụng đến vấn đề tiền bạc với nhà nước công việc tiến hành sẽ rất lề mề, phải trải qua bao nhiêu thủ tục chữ ký, lo lắng đến thót ruột, trình bày vã bọt mép, hồi hộp thắt cả tim rồi mới cầm được tấm séc chuyển tiền trong tay. Đằng này vừa vào một cái đã ra ngay, anh nào anh nấy mặt dài như cái bơm, lê bước lẹp xẹp ngoài hành lang, không buồn chào tạm biệt kẻ ở lại. Hỏng kiểu rồi. Nếu có tiền thì dáng đi đã hùng hổ, cười nói oang oang, tíu tít hẹn gặp lại nhau ở hàng lòng lợn, thịt chó. Những nghi ngờ của tôi càng trở nên xác đáng khi “Vang bóng một thời” đẩy cửa bước ra. Con người biết cách cười với cả cái chết này cũng không giấu được sự đau khổ. Chân lảo đảo bước, tay xốc lại cổ áo, vuốt lại mớ tóc bạc như vừa chen nhau mua bia hơi mậu dịch, ông than thở:

-Nghe “nó” khoe nhắng nhít trên báo đã hoàn thành kế hoạch trước thời hạn, lững thững thả bộ qua nghe ngóng, thấy nhà cửa sơn phết lại đàng hoàng đã tưởng bở… Mất toi buổi sáng!

-Cụ cũng “dự đoán thời tiết” sai nữa rồi! Đúng ra thì phải hiểu ngược lại.

Tôi nhạo lại con người ưa xạo đời. Ông vểnh râu cười, lắc đầu nói:

-Vẫn biết thế, nhưng chuyện tiền bạc mấy ai tự tin ở mình? Cứ cầu may thử, nhỡ đâu…

“Bỉ vỏ” tiếp lời ông bạn, miệng cười tủm tỉm:

-Được mấy con bà-cô-nó xoa đầu…

-Ấy đấy, thằng giám đốc thì sợ mình, còn mình thì sợ lại con nhân viên của nó.

Chụp cái mũ phát nổi tiếng lên đầu, kéo lệch nó về một bên để nhấn mạnh cá tính trên mặt mình, ông già đỏm dáng ấy cậm cạch bước đi. Ngoài hành lang chỉ còn lại hai người. Tên tôi sắp sửa được réo. Giây phút chờ đợi từ sáng đã đến mà lòng dạ tôi vữa ra như nồi mẻ. “Bỉ vỏ” không thèm đăng ký xếp hàng, đủng đình rút chân lên ghế ngồi xỉa răng như kiểu mấy bà hàng xóm ngoài chợ đếm tiền lẻ vào buổi vãn chợ. Không biết ông đã được ăn sáng chưa. Chúng tôi đã cạn sức, hết hứng để hỏi chuyện nhau.

-Lại cái nhà anh này !

Chị nhân viên bụng chửa khoanh chân trên ghế ngồi chễm chệ như ông địa, ngoa ngoắt nói phủ đầu.

-Thưa vâng, vẫn tôi đây…

Tôi đứng sớ rớ bên cạnh bàn làm việc, không biết đã nên kéo ghé ngồi hay chưa.

-Đã hẹn anh cuối năm rồi cơ mà?

-Vâng, vâng… nhưng…

Chị ta liếc xéo tôi một cái, rồi lại cắm cúi đan cái áo len, giọng uể oải:

-Các anh cứ hay tự làm mất thì giờ của mình và của người khác. Nếu có tiền thì chúng tôi đã viết thư mời lĩnh rồi!

Bị chận đầu, khóa đuôi, tôi không biết cựa quậy vào đâu nữa, bèn đổi chiến thuật:

-Chị đan áo cho cháu sắp sinh? Vẫn còn đang mùa hè… Mấy đứa trẻ được mẹ chiều thế này…

Bị dính ngay phải bùa, bà mẹ tương lai ngừng đan, ngẩng đầu cười rạng rỡ, giơ cái áo lên để khoe:

-Anh thấy có được không? Len Mông Cổ “thật” đấy. Của bác cháu là thứ trưởng mua hộ trong cửa hàng giao tế.

Xuất xứ của món hàng làm thơm thêm giá trị cho nó. Tôi lướt ngay mấy đường quyền…

-Ồ… Đẹp quá! Len đã tốt rồi lại gặp người khéo tay. Chị chắc chắn phải qua mấy khóa học đan rồi…?

Chị ta nhìn tôi, cười ngượng nghịu:

-Em á….? Có học hành gì đâu, nghe mấy người chỉ sơ sơ rồi tự đan lấy anh ạ.

Mấy bà ngồi trong phòng sưng mặt nhìn cô đồng nghiệp trẻ. Tôi lì mặt với vẻ khó chịu của họ, tiếp tục thả những lời có cánh:

-Tạo hóa thiên vị thật. Đã đẹp người rồi còn phú cho khéo tay. Chả bù cho…

Tôi kịp ngừng ở ranh giới thằng chồng hèn đi hạ thấp vợ trước người phụ nữ khác. Chị nhân viên trẻ há miệng chớp chớp mắt chờ đợi.

-… Chả bù cho cô em gái tôi, lên gấu cái quần cũng phải nhờ người khác.

Dãy nảy lên như đỉa phải vôi trước những lời khen, song cặp mắt thì long lanh sung sướng nhìn tôi như hỏi “thật vậy sao?”, chị ta quay sang cười với mấy bà đồng nghiệp.

-Nghe mấy ông này nói thì về đổ thóc giống ra mà ăn…

Niềm hãnh diện của chị vấp phải sự lạnh lùng của mọi người. Rồi để “có đi có lại” với những lời ga-lăng còn hiếm hơn cả bột ngọt ở đất này, chị hỏi thăm về vợ con tôi. Vừa trả lời, tôi vừa liếc mắt nhìn chiếc đồng hồ báo thức để trên bàn, sợ gần đến giờ nghỉ ăn cơm trưa. Hết gia đình, lại đến văn chương, tôi được bà “thần giữ của” khen lầm về cuốn truyện của người khác đang gây dư luận. Chiến thuật “đi sát quần chúng” đã hại ngược lại tôi. Ở cái đất “ra ngõ gặp anh hùng” này, mỗi con người bình thường cũng là một nhà phê bình văn học. Chị ta thao thao bất tuyệt những lời tôi đã nghe ở đâu rồi thì phải, và không phải để cho tác giả (giả) nghe, mà cho đồng nghiệp trong phòng biết khả năng thẩm định văn học của mình. Không biết làm cách nào để phanh cái xe đạp tuột dốc lại, tôi sốt ruột gõ ngón tay trên mặt bàn, dạ vâng cho xong chuyện rồi liếc nhìn đồng hò nhắc nhở khéo.

-Thôi chết, mải chuyện quá để mất thì giờ của anh…

-Không, không sao. Tôi cũng rảnh rỗi mà…

Tôi vội đỡ lời.

-Thế việc của anh chờ đến cuối năm có kẹt lắm không?

Tôi vồ ngay lấy lời gợi ý, miệng nở non nụ cười tái:

-Cho rau cỏ hàng ngày thì không đến nỗi, nhưng khổ một điều cuối tuần này phải làm đám giỗ 49 ngày cho ông cụ. Tôi là con trưởng, không biết xoay sở vào đâu…

-Cụ nhà ta mới mất ạ…?

Chị ái ngại nhìn tôi, hỏi.

-Thưa vâng, ông thân sinh ra tôi kém phúc, bỏ con bỏ cháu đi sớm quá…

Thở dài đánh sượt một cái, bà chúa trẻ của tôi xếp cuộn len với đồ nghề, đóng ngăn kéo rồi chìa tay:

-Anh đưa tôi bản hợp đồng phụ để tìm hồ sơ. May ra có thể ứng trước được chút nào chăng…

Tôi nghe như có điện chạy trong người, vội móc ví để tìm. Bản hợp đồng gấp tư, nằm trong đó đã ba năm nên góc gấp bị mồ hôi, cọ sát làm mòn, khi mở ra có một lỗ thủng lớn ở giữa. Thật hú vía, bà “thần vệ nữ” không bắt bẻ gì, sốt sắng khua chân dưới gầm bàn tìm guốc, rồi đi đến tủ đựng hồ sơ.

-Anh chờ cho một lát nhé.

Con người tử tế còn chu đáo nói vọng lại. Đến lúc này tôi mới dám thả người xuống ghế. “Bỉ vỏ” bị chờ lâu không biết đã ngủ gật ngoài đó chưa. Nếu cầm được tấm séc trong tay, chủ quán có thể cho ăn chịu, tôi sẽ đãi ông một chầu tiết canh để đền bù. Nhưng không nên lạc quan sớm quá. Đường vào két bạc của nhà nước quanh co như mả Tào Tháo, 72 cửa ta mới mở được có một, hãy còn nhiều gian truân bất ngờ. Nhân viên trong phòng vẫn cặm cụi với công việc của mình. Ngồi bệt giữa hai cái tủ dựng sát tường, một bà đứng tuổi đeo kính trắng, dáng sồ sề, đang phân loại đống báo cũ, giấy lộn, vuốt cho phẵng phiu rồi cột lại. Chịu khó nhặt nhạnh như vậy để bán ký lô mỗi tháng cũng được nửa số tiền lương chứ ít đâu. Trong góc phòng, nơi có thể nhìn bao quát cả mấy dãy bàn làm việc và đám khách chờ ngoài hành lang, một anh thanh niên trẻ, nước da mai mái xanh, đang ôm cuốn chưởng để đọc. Các cơ quan hành chánh nào cũng nuôi một vài nhân vật khó hiểu này. Phần lớn họ đều trẻ trung, hoạt bát, dáng vẻ thanh tao của con người làm việc về tinh thần, nhưng chỉ lo những công việc lặt vặt như rửa chén, pha trà mời khách, nhận công văn đến, chuyển công văn đi, v.v… Tuy chỉ làm công việc của một anh loong toong, song anh ta có tư thế độc lập với mọi người, kể cả giám đốc. Cỡ trưởng phó phòng thường chủ động đặt quan hệ ngoại giao với anh ta, nhưng thận trọng thủ thân, còn đám nhân viên lau nhau ngoài mặt thì suồng sã thân mật, trong lòng thì nhờn nhợn như đi bên cạnh một con thú mới được thuần hóa.

Tôi giật mình khi nhác thấy một làn tóc mây óng ả phủ gần hết tấm lưng thon mềm mại. Đó là người đẹp của nhà xuất bản. Năm ngoái, vào một ngày đẹp trời, tôi kéo sụp chiếc mũ cối, với cái kính đen che mặt, đứng ngoài chợ trời để “cải thiện” thêm cho vợ con. Quá trưa, lúc chợ đã tạm vắng thì một cô gái cứ lượn qua lượn lại, mắt liếc như tống tình tôi. Đến vòng thứ ba, thứ tư gì đó, nàng mới lại gần, rụt rè hỏi tôi có mua quần cũ không. Tôi gật đầu. Nàng liền trao cho tôi chiếc túi xách đựng cái quần rồi quay mặt ra hướng khác, làm như không dính dáng gì đến chuyện mua bán. Mới tập tò chạy chợ, tôi chưa có được kinh nghiệm “trông mặt bắt hình dong” để bắt nọn khách như dân chuyên nghiệp nên chỉ chúi mũi vào món đồ cho khỏi bị hớ. Kẹp chiếc túi giữa hai đầu gối, lom khom đứng như mấy thư sinh cột gà bán ngoài chợ, tôi ngửa mũ, tháo kính, giơ đũng quần lên soi ngược sáng mặt trời để định độ mòn. Khi đũng quần vừa hạ xuống thì mặt ngọc của nàng hiện ra với lời rao giá lắp bắp thiếu tự tin. Nhận ra người quen, cả hai chúng tôi cùng kinh ngạc há hốc miệng nhìn nhau, không nói nên lời. Theo phản xạ tự nhiên, tôi quay ngoắt mặt đi chỗ khác, đến lúc sực tỉnh nhìn lại thì nàng đã bỏ đi mất, để lại chiếc quần trên tay tôi.

Sau cái tai nạn bẽ bàng đó, chúng tôi hết sức ngượng khi đụng mặt nhau ở đây. Tôi không biết làm cách nào để trả lại nàng cái quần, còn nàng mỗi lần gặp cái nhìn của tôi vội quay đi chỗ khác như chối bỏ chuyện đã xảy ra. Từ xấu hổ, chuyển sang giận dữ, rồi căm thù, người đẹp thường chửi bóng chửi gió mỗi lúc tôi đến gặp đồng nghiệp bên cạnh của nàng. “Trai anh hùng, gái thuyền quyên” đụng cháy mặt nhau ngoài chợ trời thì cũng hòa, nàng làm như tôi đã leo cửa dòm lúc mình đang thay đồ để tắm không bằng. Tôi giận lại, không thèm nhìn nàng, những lúc phải dẫn xác đến đây chỉ ước sao nàng đã chuyển cơ quan hoặc nghỉ ốm ở nhà. Chắc nàng cũng cầu mong cho tôi bị xe chẹt chết ngoài đường để phi tang câu chuyện. Đời thật oái oăm! Nàng đẹp, chưa chồng, hay ăn diện nên mọi người hay nhìn nàng. Kể từ lúc đó nàng hiểu lầm sự ngưỡng mộ, thèm khát của họ thành nhạo báng, cười cợt. Nàng nghĩ rằng tôi đã đi kể cho bạn văn và đồng nghiệp của nàng về vụ bán quần cũ. Tôi bỏ luôn nghề chạy chợ từ đó.

Không muốn để chuyện cũ đầu độc hy vọng đang kề cận, tôi nghĩ đến bữa rượu tiết canh lòng lợn vào trưa nay. Ăn nhậu phủ phê cho mình rồi, tôi sẽ mua về cho cả nhà một đùm lớn. Vợ tôi sẽ ngạc nhiên, không hiểu tôi đào đâu ra tiền. Mấy đứa con cũng sẽ ngạc nhiên. Chúng biết rất rõ ngày lĩnh lương trong tháng và đã chuẩn bị tinh thần để “trường kỳ kháng chiến,” cho đến đầu kỳ lương mới. Bác Hồ kính yêu được Quốc hội tặng huy chương Sao vàng cũng không mừng bằng chúng nó được gói lòng lợn để tranh nhau ăn trong những ngày hạn hán này đâu.

Đây rồi! “Thần vệ nữ” của tôi đã tìm ra hồ sơ. Ưỡn cái bụng chửa ra phía trước, hai tay ve vẩy để giữ thăng bằng, “nàng” lại lê trở lại bàn làm việc.

-À… trong hợp đồng ký kết có nói đến số tiền tạm ứng để tác giả viết đây này…

Chị nói lớn cho đồng nghiệp nghe để bầy tỏ sự vô tư khi làm việc của mình.

-Vâng vâng… 30% đã ký trong giao kèo với ông trưởng phòng kế hoạch rồi, tôi chưa được lĩnh một xu nào…

Tôi vội vã xác nhận, mắt đảo nhìn các phán quan không có quyền, nhưng thích hành người khác. Bà đứng tuổi vẫn cắm cúi phân loại giấy lộn, thình thoảng đưa tay lên miệng nhấm nước bọt. Con người này hết sức để “phấn đấu” rồi, công danh cuộc đời tạm vừa lòng với mấy ký lô báo cũ đủ tiền ăn bát bún riêu mỗi sáng, sẽ không ngáng chân mình. Phiếu trắng đầu tiên nắm trong tay!

-Tôi chi đỡ cho anh một nghìn nhé…?

“Nàng” hỏi lơ lửng, không để ý đến tôi, mà nhìn thăm dò các đồng nghiệp của mình. Bị nhập vai trong màn kịch đóng chung với “nàng,” tôi cũng quên trả lời, buốt tim nghe ngóng phản ứng xung quanh. Chàng thanh niên ngẩng đầu, với cốc nước trà loãng để trên bàn, làm một hớp, rồi lại cúi xuống cuốn chưởng. Công việc của anh ta là để ý xem trong đầu người khác có cái gì, chứ không phải trong túi. Thêm một phiếu trắng nữa là hai!

-Một nghìn liệu có đủ không?

“Nàng” nhìn thẳng vào mắt tôi, miệng cười đầy ngụ ý, khuyến khích.

-Ôi dào ôi… mỏi mệt! Giờ mà được bát chè đậu đen có đá ăn thì làm tiếp ca ba cũng được…

Chị nhân viên hơi đẫy người buông con dao xuống rổ rau muống đang chẻ dở để trong lòng, vươn vai ao ước trong tiếng ngáp. Phiếu trắng thứ ba! “Bồi thẩm đoàn” hôm nay vô tư quá, tôi chụp ngay lấy cơ hội, thừa thắng xông lên:

-Chị cố gắng cho tôi độ ba nghìn được không? Sinh hoạt bây giờ đắt đỏ lắm, một nghìn chỉ làm được vài mâm cỗ đậu phụ với bát canh bí thôi…

-Quá hai nghìn thì không được đâu. Anh cố gắng gói ghém trong khoảng đó vậy!

“Nàng” mìm cười, dứ ngón tay ngầm cảnh cáo tính tham lam của tôi. Tôi cười xòa như thằng cháu yêu nhận lỗi với bà ngoại:

-Thôi thì làm giỗ chay cũng được. Chắc cụ nhà tôi cũng thông cảm với hoàn cảnh khó khăn hiện nay…

Thế là xong phần thủ tục, rào đón. “Nàng” khoan thai mở ngăn kéo rút ra tấm séc mầu xanh nhạt. Tôi không ngăn được tiếng nuốt nước bọt khi nhìn thấy “tấm thẻ Đảng” này.

-Hôm nay là ngày mấy nhỉ…?

“Nàng” nhíu mày hỏi, rồi quay lại nhìn tấm lịch treo trên tường. Công sở bị tê liệt nên lịch “chết” cả tuần, không ai buồn xé.

-Hai mươi bẩy dương, mười bốn âm…

Người đẹp chủ nhân cái quần cũ đáp chỏng lỏn. Phiếu trắng thứ tư! Quốc hội đã đồng tâm nhất trí chi tiền. Tôi mừng thiếu điều nhảy cỡn lên như lúc xem đá bóng, hai tay không ngớt xoa đùi. “Nàng” bắt được thái độ hồ hởi của tôi, lắc đầu cười.

-Đưa giấy tờ cho tôi để làm phiếu.

Tôi hấp tấp đẩy tấm thẻ hội viên nằm sẵn trên bàn đến trước mặt “nàng.” Gạt nó sang một bên, “nàng” nói:

-Không. Chứng minh nhân dân cơ. Lĩnh tiền bao nhiêu lần rồi mà còn quên!

Thế có chết không. Mừng quá hóa lú, ký nhận tiền bạc với nhà nước có bao giờ người ta dùng tấm thẻ “vàng mã” này. Tôi lật đật móc ví. May quá, sáng sớm say thuốc lào mà vẫn còn nhớ để găm tờ chứng minh trong người. Nàng thận trọng viết họ tên tôi bằng chữ hoa lên tấm séc. Ngón tay mềm mại, thuôn nhỏ (bây giờ tôi mới nhận thấy) chậm rãi lần đếm hàng số của tờ chứng minh. Chỉ còn một chữ ký nhỏ nữa là “nàng” vẽ xong đĩa tiết canh lòng lợn, lũ trẻ sẽ chấm dứt ăn chay, đời sẽ lên hương. “Mùng năm, mười bốn, hăm ba, đi chơi cũng lỗ nữa là…” Hôm nay mười bốn âm lịch, trò duy tâm bậy bạ thật. Nhậu nhẹt no say rồi, có hứng ta viết một bài “Chống mê tín dị đoan” gửi cho báo Nhân Dân mới được. Nhạc nổi rộn rã trong lòng, tôi bật cười khi tưởng tượng cô con gái út dẩu cái mỏ lên mà nhai miếng gan luộc, buông đũa thò ngón tay vạch ranh giới trong đĩa thức ăn để dành phần với mấy thằng anh.

-Chị đã hỏi ý kiến giám đốc chưa mà tự tiện quyết định thế?

Tiếng nói thỏ thẻ, chậm rãi, lạnh buốt như lưỡi lê đâm xuyên qua lưng tôi. “Thần vệ nữ” giật mình ngẩng đầu nhìn.

-Đây là trường hợp “đặc biệt,” phải được sự chuẩn chi của ban giám đốc và trưởng phòng tài vụ mới được xuất tiền…

“Chiếc quần cũ!” Tôi chết đứng người nhận thêm một nhát dao đâm lén nữa.

-Sao lại “đặc biệt?” Sách của người ta in xong, phát hành gần hết rồi, có phải dự định sáng tác đâu mà xếp loại “đặc biệt?”

“Nàng” xù lông dựng cổ như con gà mái mẹ xoè cánh che chở cho bầy con, bắt bẻ lại.

-Tôi chưa đếm chữ xong, chưa xác định được số tiền, nếu trả trước thì vẫn là trường hợp “đặc biệt.”

Trời hỡi, thù hận làm sao đến mức này. Tôi ngay đơ người như con nhái ngấm nọc độc, để mặc cho con rắn nuốt dần vào bụng.

-Ban nãy ông Huy Cận đòi lĩnh “đặc biệt” đấy, sao không bắt tôi lên xin ý kiến giám đốc?

“Nàng” sửng cồ hỏi. Người đẹp vẫn trơ như đũng quần cũ, giọng lạnh như quan tòa đọc điều luật:

-Người ta là lãnh đạo, sáng tác được xếp loại nhuận bút một. Cần phải ưu tiên giải quyết!

-Chị ăn lương của nhà nước để làm gì? Việc đếm chữ phải hoàn tất cho người ta trước khi sách lên khuôn, để dây dưa hơn nửa năm trời không hoàn thành mà kỳ bình bầu “lao động tiên tiến” nào cũng đòi có mình?

“Nàng”, mở rộng mặt trận, “mượn gió bẻ măng” đánh luôn vào điều hậm hực bấy lâu nay của mình. Bị cú đá móc bất ngờ, người đẹp ngóc đầu bạnh mang như con rắn hổ:

-Đấy là việc của tôi. Tôi chịu trách nhiệm trước giám đốc, không phải với chị. Còn những người hay mang chuyện nhà đến cơ quan để làm, hết đan áo cho chồng con, lại đan thuê cho thiên hạ kiếm tiền, thì đừng có phê bình người khác!

Chị nhân viên đẫy người đang chẻ rau muống dằn mạnh cái rổ lên mặt bàn, chống nạnh nhìn người đẹp. Bà già ngừng gói báo cũ, ngẩng đầu đanh mặt chì chiết như mẹ chồng dạy dỗ nàng dâu:

-Các em ơi, có chuyện gì thì đóng cửa bảo nhau. Trước mặt khách — bà liếc nhìn tôi — đi rũ chấy bới rận ra làm gì… — Hít hơi lấy sức, bà rin rít giọng như đang nắm tóc ai để kéo — Còn gái nào muốn “góp ý” với chị thì cứ chửi thẳng, đừng có bóng gió xa xôi mà chị không biết đường ăn nói cho phải phép.

Hỏng ăn rồi. Người đẹp lỡ miệng chọc đúng tổ ong vò vẽ, cách mạng lan ra cả thế giới thì còn gì là bữa nhậu nữa. Mọi người thủ thế nhìn nhau. Một thoáng im lặng để lau chùi, chuẩn bị vũ khí. Gã trai gấp cuốn chưởng, đặt ngay ngắn trên bàn, gỡ kính trắng lau lại bằng vạt áo rồi khoanh tay ngồi chờ, miệng cười tủm tỉm như muốn nói “Tụi bay đánh nhau đi, tao gõ trống cho.” Những mâu thuẫn ngầm sẽ nổ tóe ra trong những trận cãi nhau, gã tha hồ thu hoạch, cất riêng vào hồ sơ từng người. Chiến tranh chỉ làm béo cho bầy quạ chuyên bới xác chết. Tôi nhặt tấm thẻ trên bàn quay lưng thất thểu đi ra cửa.

-Hượm đã nào !

“Nàng” giật giọng ngăn tôi lại.

-Tôi sẽ ký séc cho anh!

Không còn tin ở tai mình nữa, tôi đứng sững giữa cửa. Nặng nhọc vác cái bầu đến gần, “nàng” giật lại tờ chứng minh với tấm thẻ hội viên trên tay tôi rồi nhìn người đẹp như thách đố. Điên hết cả rồi. Chỉ vì chút sĩ diện với “kẻ biết đến ta,” “nàng” đã dẫm lên bộ luật “cửa quyền” bất thành văn ở xứ này. Cũng vì sĩ diện, người đẹp kia đã nhẫn tâm trù ém tôi, dập tắt lửa dưới nồi cơm đang sôi dở của tôi. Ngọt như đường mà bị giằng co, dày xéo nhiều thì cũng chua, tôi lắc đầu nhìn “nàng,” tay chìa ra để xin lại giấy tờ.

-Không! Tôi ký ngay cho anh đây này!

Để chấm dứt sự đau khổ cho khách, “nàng” cương quyết đi lại bàn, cầm bút ngoáy đánh vèo vào tấm séc.

-Anh ký nhận vào cuốn sổ này cho tôi!

“Nàng” nói, giọng cố tạo bình thản, tay lật nhanh cuốn sổ thanh toán nhuận bút. Mọi người bị hành động “quá khích” gây chú ý, quên cả giận dữ, chăm chú nhìn kẻ bất thường. Im lặng, chỉ có tiếng giấy cọ nhau sột soạt. Tôi liếc con số 2000, kèm thêm hàng chữ trên tấm séc, nuốt nước bọt. Bàn tay cầm bút run run như lần đầu được cầm tác phẩm của mình được in thành sách.

-Đây. Mời anh.

“Nàng” chỉ tay vào dưới cột ghi tên họ và tác phẩm của tôi.

-Không, ký cao lên một chút. Cột dưới của người khác… Được rồi. Làm ơn viết rõ tên họ dưới chữ ký.

Xong! Tôi thở phào, không biết đã nên cầm tấm séc chưa. Một vài người húng hắng ho. “Nàng” bình thản gập lại cuốn sổ, cất nó vào ngăn kéo rồi cẩn thận lấy viên lăn cho khô mực tên ký của mình trên tấm séc.

-Không có chúng tôi trong việc này đâu đấy. Một mình chị chịu trách nhiệm…

Tôi đang chìa tay để nhận tấm séc “nàng” đưa, thì gã trai lên tiếng, cả hai chúng tôi cùng lặng người, tay vẫn giơ ra phía trước. Nàng đổi sắc mặt, lắp bắp nói:

-Tôi tưởng là…

-Không, chỉ một mình chị!

Gã lạnh lùng ngắt lời, cảm thấy đã đủ, bèn cúi xuống mở cuốn chưởng để đọc. Nàng rụt bàn tay cầm tấm séc lại, mặt ngơ ngác khó hiểu. Tôi đứng chưng hửng giữa nhà, không còn sức để theo dõi câu chuyện. Trách nhiệm. Gã đã điểm đúng hiểm huyệt của cơ chế nhà nước. Chỉ vì sợ trách nhiệm nên không ai dám làm gì, chủ nghĩa xã hội chỉ ăn mòn và phá hủy những cái cũ thừa hưởng. Chúa Giê-su, đấng sáng tạo ra mọi vật nếu có tái thế làm việc ở đây cũng đến đùn cho “tập thể” quyết định thay cho mình.

-Anh đợi một chút. Tôi chạy ù lên phòng phó giám đốc xin ý kiến.

Lên cơn đồng bóng mất rồi. “Nàng” nhìn tôi, mắt long lanh một cách bất bình thường, rồi ì ạch lắc mông, ve vẩy tay đi ra cửa. Tôi ngồi phịch xuống ghế, người vỡ ra từng mảnh, nhắm mắt chờ. Chưa cà phê, chưa nước trà, đến giờ rượu mất rồi. “Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm,” chờ không biết đến bao giờ đây? Tiếng chân nặng nề vừa mất ngoài hành lang thì người đẹp nói nhỏ với chị chẻ rau, vừa đủ cho tôi nghe thấy, miệng cười khúc khích:

-Phó giám đốc đi nghỉ mát ở Đồ Sơn rồi, tuần sau mới về…

Tôi đứng bật dậy như hồn ma nhập xác người, bỏ chạy ra cửa, quên cả giấy chứng minh nhân dân lẫn thẻ hội viên Hội Nhà Văn trong phòng.

“Bỉ Vỏ” vẫn ngồi chờ, hai chân khoanh tròn trên ghế băng nhỏ. Dáng tĩnh tại, mắt nhắm nghiền, con người của Thiền đạo này đã thoát tục, bay lên miền lạc phúc.

Thế Giang

HỒ LY.

vukhue

Cuộc sống như một sự cộng sinh từ sự phát triển hợp quần của loài người. Với biết bao thăng trầm, lắm khi bị sự phỉ báng, trục xuất trong nhiều hình thái xã hội_ loài sinh vật với sức sống mãnh liệt này vẫn tồn tại… Một cách đáng ngạc nghiên và đầy khâm phục.

Sinh vật bước ra từ đêm huyền hoặc!
Từ những truyền thuyết hoang đường của vũ trụ Á đông.
Từ xa hơn đống đổ nát của bao vương triều,
Từ đống xương trắng hếu của lịch sử…
Em!
Mấy vạn năm rồi,…
Nhân loại bước qua.
Bí ẩn vẫn hoàn bí ẩn?

***
Đêm trăng,
Gió nhẹ.
Lầu thưởng nguyệt,
Giai nhân!
……
Hề! Cung đàn réo rắt,
Hề! Ánh sáng muôn màu,
Hề! Xiêm áo lụa là,
Hề! Người mai yểu điệu!
Sóng mắt đưa tình, nụ cười lơi lả,
Oanh vàng thỏ thẻ, sực nứt phấn son.
Rượu sánh đầy chung- Môi non, răng ánh ngọc.
Giai nhân, mặc khách-
Chén rượu đào….
Em?
Dấu hỏi ngàn đời của vũ trụ-
Tạo tác Thượng Đế giữa cơn say?
Đứa con hoang của óc hợp quần?
Sự đột biến của quy luật tiến hóa?…
Phải thế chăng ?
Tiếng cười khanh khách,
….Phi lý!

****
Em!
Ngạo nghễ trước tiến hóa!
Mũi tên thời gian gãy vụn trước sắc đẹp vĩnh hằng,
Ba nhánh không gian ư?
Chỉ những sợi dây đàn.
Nhận dạng cuộc đời _ Những sóng âm vi diệu!
Phân chất đi, khẳng định đi này khoa học?
Phần tử vi mô vật chất _ Hạt, trường…
Lý giải đi này biện chứng, siêu hình…
Sự hiện hữu duy tinh thần hay vật chất?
….Vô nghĩa!

*****
Em!
Cũng vẫn là em!
Của huyền bí trong Á đông huyền bí.
Của vũ trụ giao hòa và hội tụ,
Của phù du, của huyễn hoặc, của vô vi.
Của tự do, của cuồng ngông, hoàn hảo trong nhóm mỹ từ phi logic.
Của linh diệu, của biến hóa không ngừng, sự đột phá kỳ diệu của nhành phổ hệ…
Của quy luật tiềm phục, của nổi loạn phủ định thế quân bình.
Của thịnh, của suy- sự mạc khải, phế truất của bao đế chế.
Của Thiện – Ác đáo đầu không phân ranh giới,
Của thanh, của tục – của dục vọng tương hổ lương tri…..
Của nhất nguyên nhưng không bao giờ đồng nhất!
Em!
Điều huyền nhiệm của nghịch lý!
……

*****
Em!
Thực thể của tự nhiên!
Của mây ngàn, gió núi- Bóng trăng ma.
Của đồng nội- hương hoa tinh, bầy cỏ quỷ.
Của sắc tối thả chùng, của đêm lơi lả.
Của vạn tinh vân phát sáng, gọi mời.
Của hơi thở vũ trụ, của nhịp nhàng trời đất.
Của sinh, của diệt- của tạo mãi, vòng bất tận luân hồi!
Giữa tiếng sáo vui-vầy hay năm canh oán khúc,
Của lộng lẫy hoàng hôn và tàn tạ bình minh….

*****
Em!
Ngàn sau
Cũng vẫn là em!
Của thi nhân, ca kỹ , dòng huyền thoại…
Vạn năm qua rồi,
Lịch sử chất chồng lên nhau mãi,
Thời gian không bao giờ quay trở lại.
Ngàn năm sau,
Bao thế hệ…
Còn thi nhân tơ tưởng bóng liêu trai!

******
Đêm thanh,
Trăng vàng,
hề!
Gió nhẹ,
hề!
Lầu thưởng nguyệt…
,hề!
Rượu lai láng đầy chung,
đâu người chuốc?
Giai nhân, hề!…
Giai nhân,hề!……

Vũ Khuê

Tâm Nguyện Tàn Binh

tranvanle

Xin đừng ai đánh thức
Tôi dậy nhé, anh em!
Coi như tôi ngủ quên
Giấc-quê-người mãi mãi!

Hãy nhìn kìa, có thấy
Nghĩa địa lắm người vào
Ngày Tưởng Niệm ra sao
Mộ nào cũng hoa để?

Bạn biết đó, nghĩa địa
Có vạn vạn nấm mồ
Nhiều nấm mộ đã khô
Ít nấm mộ còn ướt…

Không phải ai cũng được
Nhận tình thân người thân
Có người bà-con-gần
Có người người-xa-lạ…

Không ai rộng rãi quá
Cho hết đời trái tim
Kìa, người ta cúi xem
Cái tên trên bia mộ…

Nhiều mộ bia mưa gió
Bạc thếch màu thời gian
Nhiều mộ bia ngỡ ngàng
Khoét hai chữ Không Biết!

Thương chớ, những người chết
Vẫn xa lạ với người
Ngày Tưởng Niệm đi chơi
Thăm người thân, trước hết!

Và…khi người ta mệt
Thì người ta trở về
Người ta nổ máy xe
Để lại làn bụi nhạt!

Chết – nghĩa là mất mát
Chết – nghĩa là cách ngăn
Vạn vạn mộ bia nằm
Mấy nấm mồ hoa để?

Xin cho tôi giọt lệ
Bây giờ…như nhớ nhung
Với người mất núi sông
Một chút lòng, thế đủ!

Ngày Tưởng Niệm ghi nhớ
Rồi cũng chỉ một ngày
Trong khi đó, mây bay
Bay muôn đời muôn thuở…

Xin cho tôi được ở
Trong câu thơ thật buồn
Xin cho tôi tình thương
Tro tàn cơn gió thổi…

Trần Vấn Lệ