BÓNG ĐÊM

https://www.apu.edu/feature_images/dct/15657dl_header_image.jpg

Cơn đại dịch quét ngang bầu trời gây tai ương cho nhân loại, từ vật chất đến tinh thần. Để tránh lây lan, chính phủ các nước kêu gọi dân chúng tự giác tự cô lập ngay tại nhà. Hiện nay, một nửa dân số trên thế giới đã tự cách ly tại nhà. Nếu ra đường cần cách giãn. Bác sĩ, y tá, và các nhân viên y tế túc trực ngày đêm tại bệnh viện để cứu các nạn nhân. Con số nạn nhân bị nhiễm đã hơn một triệu, tỷ lệ tử vong là 5.5%. Các nhà khoa học bi quan tiên đoán rằng nếu không tự cô lập, nếu không có thuốc ngừa hoặc thuốc chữa, tỷ lệ lây nhiễm có thể lên đến 60% dân số thế giới; nghĩa là khoảng 4,5 tỷ người.

Bóng đêm đang bao trùm lấy nhân loại. Tuy thế, con người vùng vẫy nhưng luôn nuôi giữ niềm hy vọng.

Hai nghìn năm trước, một người đàn ông cũng vùng vẫy nhưng không hề tuyệt vọng.

Ngay cả lúc quỳ bên tảng đá trong vườn Giếtsimani để cầu nguyện, người đàn ông hầu như chìm trong nỗi tuyệt vọng. Sự cô đơn và nỗi lo sợ khủng khiếp bủa chụp lên người đến nỗi xảy ra hiện tượng hemahidrosis; khi mồ hôi đổ ra đượm màu hồng. Đây là sự kiện hiếm hoi được y học giải thích rằng sự sợ hãi cùng cực làm nứt các mạch máu và máu thấm vào tuyến mồ hôi, nên gây ra màu hồng. Hiện tượng thường xảy ra cho binh sĩ trước khi giao tranh, hoặc tử tội trước giờ hành quyết.

Bóng đêm của cô đơn và lo sợ đang vây bủa người đàn ông là Đức Giêsu. Người công giáo tôn vinh Đức Giêsu là Thiên Chúa, và Chủ nhật vừa qua toàn thể Giáo hội mừng lễ Lá, kỷ niệm ngày Đức Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem trên lưng lừa giữa muôn tiếng reo hò của dân Do-thái, trên tay họ vung vẩy cành cọ, miệng la to: “Hosanna! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa.” Một nghi thức chỉ dành riêng để đón tiếp các bậc vua chúa.

Nhưng nghi thức huy hoàng chỉ kéo dài trong giây lát. Giáo dân dự lễ tay cầm cành cọ như dân Do-thái xưa, tiến vào nhà thờ (năm nay xem lễ trực tuyến nên không có cành cọ cầm tay). Vị linh mục đọc đoạn Phúc âm diễn tả khung cảnh huy hoàng khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Đoạn Phúc âm dài hơn 10 đoạn, chưa tới 200 chữ, kéo dài chừng hơn phút. Toàn bộ phần còn lại của lễ Lá dành để diễn tả cái chết đau thương và nhục nhã của Đức Giêsu.

Năm đó, Đức Giêsu khoảng chừng 33 tuổi. Một thanh niên đang ở giai đoạn sung mãn nhất của đời người. Vậy mà chỉ cần chưa đến một ngày, từ vườn Giếtsimani vào khuya đêm thứ Năm đến xế trưa ngày thứ Sáu, thân hình Đức Giêsu rách nát, tơi tả treo trần truồng trên cây thập tự với hình phạt tàn khốc nhất của đế quốc La-mã.

Đức Giêsu bị bắt vào khoảng giữa khuya đêm thứ Năm. Ngài bị dẫn đến tư dinh quan Annas, vị thượng tế già nua nhưng đầy quyền lực. Theo luật Do-thái, tòa án Sanhedrin, gồm 71 thành viên, có quyền định đoạt số phận của tội nhân. Vì thế, thầy Annas gửi lệnh truyền cấp bách đến từng nhà các thầy thượng tế, kỳ mục, và kinh sư. Tòa án Sanhedrin cần phải triệu tập gấp để quyết định số phận của Đức Giêsu.

Trong khi chờ trời sáng, bọn lính dẫn Đức Giêsu ra một góc sân. Chúng bịt mắt Đức Giêsu, và bắt đầu cười nhạo, thay phiên đấm đá thẳng tay đến mệt mới thôi. Tảng sáng, thầy cả thượng phẩm Caipha, người đứng đầu toà án Sanhedrin, chủ toạ buổi hỏi cung, và thầy nhanh chóng kết án tử hình Đức Giêsu. Vì dân Do-thái đang bị đế quốc La-mã thống trị nên mọi sự đều phải được phép quan tổng trấn Philatô, kẻ thay mặt hoàng đế Tiberius, cai quản cả ba miền Giuđêa, Samaria, và Galilê. Bà vợ quan Philatô khuyến cáo chồng không nên dính máu Đức Giêsu nên quan đẩy Ngài sang dinh quan Hêrôđê Antipas để tránh trách nhiệm. Quan Hêrôđê cười cợt và chế giễu Đức Giêsu thật chán chê rồi khoác chiếc áo choàng màu đỏ lên người Ngài, màu dành riêng cho vua chúa, với ngụ ý chế nhạo Ngài là vua dân Do-thái, và trả về dinh quan Philatô.

Tại dinh quan Philatô, Đức Giêsu bị đánh đòn, hình phạt khởi đầu trước khi đem đi xử tử.

Hai cổ tay bị treo lên đầu cột, Đức Giêsu đứng trần truồng gần như ôm lấy cột. Hai tên lính La-mã đứng chênh chếch khoảng 45 độ phía sau, làm thành một góc vuông. Tay cầm ngọn roi (flagrum) cán gỗ. Đầu cán roi gắn ba sợi dây da dài chừng 1m, bện xoắn chặt ở cuối dây, và tủa ra ba sợi ở đầu. Mỏm dây gắn nhiều viên bi sắt, bên dưới gắn thêm những mẩu xương cừu có móc. Chính móc này sẽ cấu ra một mẩu thịt khi tên lính rút roi về. Máu cứ theo đó mà chảy ra ngoài. Bi sắt có tác dụng làm chảy máu bên trong nhưng không đến nỗi làm tội nhân chết, vì phải để dành sức cho tội nhân vác thanh gỗ ngang (patibulum) đến chỗ hành hình. Với sức quật từ trên xuống, những viên bi sắt đập vỡ mạch máu chạy chằng chịt trên lưng, gây chảy máu bên trong. Thường nạn chân chỉ chịu chừng 20 roi thì ngất xỉu.

Cái cảm giác bỏng rát chạy ngang lưng từ vai đến hông khi sợi dây da vụt đi với tốc độ thật nhanh, [về sau khảo cứu cho thấy vận tốc của ngọn roi phải nhanh hơn tốc độ của âm thanh, 340m/s, nên mới tạo ra âm thanh xé gió (sonic boom)]. Những viên bi sắt đập vào lưng tạo cảm giác ê ẩm lan ra khắp cơ thể. Mẩu xương có móc cắm phập vào lưng tạo cảm giác như kim đâm nhưng khi ngọn roi được kéo về Đức Giêsu cảm thấy đau nhói. Phải mất chừng vài giây cả thân hình mới ngấm được cái đau đớn, sự bỏng rát của ngọn roi, và dịu dần đi. Nhưng sự đau đớn không có thời gian để thấm, dịu, và phai dần, vì ngọn thứ hai lại đập vào lưng ngay sau khi ngọn trước vừa thu về. Hai tên lính đứng chéo luân phiên vụt roi nên khoảng thời gian giữa hai lần roi hầu như rút ngắn lại. Nhịp nhàng và đều đặn như một màn biểu diễn của các vũ công. Thân hình Đức Giêsu vừa oằn xuống lại cong lên hứng chịu ngọn roi. Đầu, lưng, mông, và mặt sau của chân đỏ dần, hiện tượng chảy máu bên trong. Tĩnh mạch và động mạch bị dập, nứt, và vỡ. Máu ướt đẫm lưng, nhỏ từng giọt xuống sàn gạch, đỏ loang tạo thành một vũng sền sệt.

Sự đau đớn về thân xác tưởng đã chấm dứt, nhưng không, đây mới chỉ là phần giáo đầu Cuộc Thương khó của Đức Giêsu. Phần cuối, cao điểm của Cuộc Thương khó, là cái chết trần truồng treo trên thập giá. Chính cái chết đó mới nói hết sự sỉ nhục, đau đớn khôn cùng mà Đức Giêsu phải gánh chịu.

Tính ra, khi bị đóng đinh và treo trên thập giá vào lúc 9 giờ sáng (Mc 15:22-25) đến lúc trút hơi thở cuối cùng vào lúc 3 giờ chiều (Lc 23:44-46), Đức Giêsu đã trải qua 6 tiếng trong tận cùng đau đớn về thân xác. Tiếng Anh gọi những giờ cuối cùng của cuộc đời Đức Giêsu là “passion,” có gốc Latinh “passionem,” có nghĩa là “chịu đau đớn.”

Nên phân tích cái chết của Đức Giêsu dưới cái nhìn của y học, để thấy sự đau đớn trong 6 tiếng đồng hồ đến thế nào, và tự hỏi làm thế nào một con người bình thường có thể chịu đựng được một hình phạt khủng khiếp đến vậy. Tiến sĩ Cahleen Shrier, giáo sư phân khoa Sinh Hoá tại ĐH Azusa Pacific, giải thích chi tiết cái chết của Đức Giêsu cho các sinh viên ngành Sinh học, một cách học hỏi môn cơ thể học. Sau đây là cái chết được mổ xẻ qua kiến thức về cơ thể học của một nữ giáo sư chuyên ngành.

Cần biết một điều quan trọng là Đức Giêsu đang ở trong tình trạng thể chất tuyệt vời. Thân cao tầm 1,7m, nặng chừng 68kg. Vì cha nuôi là thánh Giuse làm nghề thợ mộc, Đức Giêsu đã biết lao động chân tay ngay từ thuở nhỏ. Nghề mộc cần sức lực khiêng vác, nên thân hình Đức Giêsu tuy không vạm vỡ nhưng sức lực dẻo dai. Hơn nữa, trong suốt 3 năm giảng dạy, Ngài đi bộ trên khắp ba miền Giuđêa, Samaria, và Galilê… ước chừng trên 5 nghìn km, một cách rèn luyện sức khoẻ và sức chịu đựng. Người ta nghiệm ra một điều, nếu sự tra tấn phá nát thân thể một người đàn ông có thể lực tốt như vậy thì hình phạt thật vượt quá sự hiểu biết bình thường của con người, và sức chịu đựng của Ngài thật phi thường.

Matthêu 26:36-46, Marcô 14:37-42, Luca 22:39-44

Sau lễ Vượt qua, Đức Giêsu đưa các môn đệ của Ngài đến Giếtsimani để cầu nguyện. Trong lúc cầu nguyện lo lắng về những sự kiện sắp tới, Đức Giêsu đổ mồ hôi máu. Đây là hiện tượng hemahedrosis, khi các mạch máu nuôi dưỡng các tuyến mồ hôi bị vỡ. Máu thoát ra từ các mạch trộn lẫn với mồ hôi; do đó, những giọt mồ hôi trở nên màu hồng. Tình trạng này là do sự thống khổ về tinh thần hoặc sự lo lắng cao độ, một trạng thái mà Đức Giêsu thể hiện qua lời cầu nguyện, “tâm hồn Thầy buồn đến chết được,” (Matthêu 26:38). Hemahidrosis làm cho da mềm hơn, do đó, tình trạng thể chất của Đức Giêsu trở nên tồi tệ hơn một chút.

Matthêu 26:67-75, Marcô 14:61-72, Luca 22:54-71, 23:1-25, Gioan 18:16-27

Bị dẫn từ dinh quan Philatô đến dinh quan Hêrôđê và trở ngược lại, Đức Giêsu bước khoảng hơn 3km. Cả đêm bọn lính thay phiên chế giễu và đánh đập nên Ngài không thể ngủ, (Luca 22:63-65). Tính ra, đã hơn một ngày Đức Giêsu chưa chợp mắt một chút nào. Ngoài ra, làn da của Ngài vẫn còn mềm do hemahedrosis. Tình trạng thể chất của Đức Giêsu xấu dần đi.

Matthêu 27:26-32, Marcô 15:15-21, Luca 23:25-26, Gioan 19:1-28

Philatô ra lệnh đánh đòn Đức Giêsu chiếu theo luật La-mã trước khi đem đi đóng đinh. Hình phạt đánh đòn dã man ở chỗ tội nhân có muốn chết cũng không thể chết, nhưng đau đớn thấu xương tuỷ. Theo truyền thống, tội nhân đứng trần truồng, hai tay bị trói vào cột, để lộ vai, lưng, và phần sau của cặp đùi. Cán roi ngắn, vừa cầm tay. Những hòn bi sắt hoặc chì bện dọc theo 3 sợi dây da dài khoảng 1m, cuối mỗi sợi dây được gắn thêm những mẩu xương cừu. Người ta đoán Đức Giêsu chịu ít nhất 100 roi, căn cứ vào dấu vết còn để lại trên tấm vải liệm Turin, hiện được cất giữ tại Vương cung Thánh đường Turin, Piedmond, miền Bắc Ý.

Lính La-mã lực lưỡng, cao tầm 1,68m hoặc hơn, nặng cỡ 80kg; thể lực rất khoẻ, binh khí và áo giáp nặng tầm 40kg, và thao luyện mỗi ngày bước hơn 30 cây số. Vì thế, ngọn roi phóng ra với lực mạnh vũ bão. Những mẩu xương cừu cắm phập vào người Đức Giêsu do vận tốc xé gió của ngọn roi. Lúc kéo roi về, những mẩu xương kéo theo một mẩu da và chút thịt. Cứ thế, máu chảy ra từ những vết thương này. Chịu chừng 20 roi, lưng và đùi của Đức Giêsu đã hằn những vết roi đỏ tươi, nằm chằng chịt. Đến thời điểm này, Đức Giêsu đã mất một lượng máu lớn khiến huyết áp tụt thấp. Do cơ thể cố gắng cân bằng tình trạng mất máu nên Đức Giêsu khát nước, (Gioan 19:28). Gần nửa ngày, Ngài chưa uống một hớp nước nào. Nếu được uống nước trong lúc này, lượng máu của Ngài sẽ tăng lên.

Lính La-mã đặt một mão gai trên đầu và choàng áo trên lưng Đức Giêsu, (Matthêu 27:28-29). Áo choàng giúp máu đông (giống như lúc băng bó cầm máu) và Ngài không bị mất máu nhiều hơn. Khi lính đánh vào đầu Đức Giêsu (Matthêu 27:30), những chiếc gai đâm sâu vào da gây chảy máu đầm đìa. Những chiếc gai đâm trúng dây thần kinh chạy đến khuôn mặt, gây đau đớn dữ dội từ mặt xuống cổ. Khi chế nhạo Ngài, bọn lính thản nhiên khạc nhổ vào mặt Đức Giêsu, (Matthêu 27:30). Chúng xé toạc chiếc áo choàng ra khỏi lưng Đức Giêsu làm vỡ vết thương và máu lại chảy ra như trước.

Tình trạng thể chất của Đức Giêsu trở nên nguy kịch. Do mất máu quá nhiều, Ngài không còn hơi sức đâu nữa. Đức Giêsu vác thanh gỗ thật vất vả lên đồi Sọ nằm ngoài thành Giêrusalem, nhưng Ngài may mắn được ông Simon xứ Cyrene vác đỡ một đoạn đường (Matthêu 27:32).

Matthêu 27:33-56, Marcô 15:22-41, Luca 23:27-49, Gioan 19:17-37

Người Ba Tư phát minh khổ hình đóng đinh vào khoảng năm 300-400 trước CN. Có lẽ đây là hình phạt gây cái chết đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cái chết đau đớn, chậm chạp, kéo dài và thách thức sức chịu đựng của tội nhân. Như Đức Giêsu phải chịu đau đớn như thế trong suốt 6 tiếng, từ 9 giờ sáng (Marcô 15:22-25) đến 3 giờ chiều (Luca 23:44-46). Hình phạt này chỉ dành cho đám nô lệ, người ngoại quốc, bọn nổi loạn, và những tên tội phạm tàn ác nhất. Tội nhân bị đóng đinh vào thập tự; tuy nhiên, thập giá của Đức Giêsu có lẽ không phải là hình chữ thập theo kiểu Latinh, mà là chữ thập Tau (T), giống chữ t trong ký tự Hy lạp. Cây cột gỗ đứng (stipes) được chôn vĩnh viễn trên ngọn đồi. Tội nhân chỉ vác thanh gỗ ngang (patibulum) lên đồi. Thanh gỗ đặc chỉ nặng 34-57kg, nhưng cả cây thập tự theo kiểu Latinh nặng cỡ 136kg.

Tính từ lúc bị bắt đến lúc vác thanh gỗ đặc, Đức Giêsu đã thất thểu bước chừng 4km, nhưng chặng đường cuối 1km từ dinh quan Philatô đến đồi Sọ mới thật đau thương, vì Ngài đã mất máu quá nhiều; lại thêm bị đánh đòn đến bầm dập cả người, chưa kể đòn đấm đá của bọn lính La-mã khiến thân hình rã rệu, mềm như bún.

Trên đỉnh của patibulum gắn một bảng gỗ, ngụ ý tội nhân bị kết án tử hình vì vi phạm luật pháp. Trường hợp của Đức Giêsu, biển gỗ khắc hàng chữ, “Đây là Vua dân Do Thái”, (Luca 23:38). Tội nhân bị đóng đinh vào patibulum trong tư thế nằm, nên Đức Giêsu bị bọn lính thẳng tay lột hết quần áo và xô ngã xuống đất. Lớp vải thấm máu vừa đủ khô thì bị bóc trần, miệng vết thương mở toang, máu cứ thế rỉ ra ngoài. Hai tên lính kéo căng cánh tay của Đức Giêsu và đóng một cây đinh dài chừng 15cm. Chắc chắn Đức Giêsu bị đóng đinh vào cổ tay, vì nếu đóng đinh vào lòng bàn tay, sức nặng của thân hình sẽ kéo toạc lớp thịt dễ dàng. Cây đinh làm vỡ hoặc làm đứt dây thần kinh dẫn đến bàn tay. Điều này gây đau đớn liên tục lên cả hai cánh tay của Đức Giêsu.

Sau khi đóng hai cây đinh vào hai cổ tay, bọn lính kéo lê khúc gỗ patibulum đến cột gỗ đã trồng đứng. Khi nâng lên, toàn bộ trọng lượng cơ thể của Đức Giêsu bị kéo xuống và giữ thẳng nhờ hai cây đinh ở cổ tay. Điều này khiến vai và khuỷu tay bị trật khớp (Tv 22:14). Ở vị trí này, cánh tay của Ngài bị kéo dài tối thiểu 15cm so với chiều dài ban đầu.

Hai bàn chân của Đức Giêsu bị đóng đinh thẳng lên trên cây gỗ đứng như thường thấy trong hình. Ở vị trí này (đầu gối phải uốn cong khoảng 90 độ), trọng lượng của cơ thể đẩy xuống cây đinh ở bàn chân và tử tội phải dùng hai mắt cá chân để hỗ trợ trọng lượng. Đinh không xé toạc lớp thịt mềm ở bàn chân. Một lần nữa, cây đinh làm vỡ hoặc làm đứt dây thần kinh (nó cắt đứt động mạch bàn chân) và gây đau đớn khôn cùng.

Thông thường, để hít vào, hoành cách mô (cơ lớn nằm giữa khoang ngực với khoang bụng) phải ép xuống. Điều này giúp mở rộng khoang ngực và không khí tự động di chuyển vào hai buồng phổi (hít vào). Để thở ra, cơ hoành nâng lên, nén không khí trong phổi, đồng thời đẩy không khí ra ngoài (thở ra). Khi Đức Giêsu bị treo trên thập tự, sức nặng của cơ thể đè nặng lên cơ hoành và không khí di chuyển vào buồng phổi và nằm ứ ở đó. Muốn thở ra, Ngài phải dùng hai cây đinh ở bàn chân làm bàn đạp để rướn người lên và đẩy cơ hoành lên trên. Vì thế, hai bàn chân của Đức Giêsu đau đớn đến tê dại mỗi khi muốn thở ra. Và thao tác thở ra gây đau đớn như thế trong suốt 6 tiếng đồng hồ. Nếu tính trung bình Đức Giêsu nén hơi và thở ra trong 30 giây, Ngài phải chịu cơn đau 720 lần, liên tục, không ngừng nghỉ vì không thể ngưng thở, chưa kể sự đau buốt ở hai bàn tay và toàn thân thể.

Để nói, không khí phải đi qua thanh quản trong lúc thở ra. Kinh thánh cho thấy Đức Giêsu đã nói 7 lần từ trên cây thập tự. Thật không hiểu nổi trong cơn đau đớn mà Ngài vẫn cố gắng nói, nhưng xúc động nhất là khi Đức Giêsu rướn người lên để nói, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, (Luca 23:34).

Sự khó khăn của thao tác thở ra dẫn đến một dạng nghẹt thở chầm chậm. Khí carbon dioxide (CO2) tích tụ trong máu, dẫn đến nồng độ axit carbonic (H2CO3) trong máu cao. Cơ thể phản ứng theo bản năng, kích hoạt sự ham muốn thở. Đồng thời, tim đập nhanh hơn để khí ôxy đang có sẵn được lưu thông. Lượng ôxy giảm (do khó khăn khi thở ra) gây thương tích cho các mô và mao mạch bắt đầu rò rỉ chất lỏng từ máu vào mô. Điều này dẫn đến sự tích tụ chất lỏng xung quanh tim (tràn dịch màng tim) và phổi (tràn dịch màng phổi). Phổi suy sụp, tim cũng suy, cơ thể mất nước và không có khả năng cung cấp đủ ôxy cho các mô là nguyên nhân cốt yếu làm tội nhân nghẹt thở. Lượng ôxy giảm cũng gây tác hại cho chính tim (nhồi máu cơ tim) dẫn đến tim ngừng đập. Trường hợp nghiêm trọng khi tim quá căng thẳng, tim thậm chí có thể vỡ nát; y học gọi là rách tim. Đức Giêsu rất có thể chết vì một cơn truỵ tim.

Sau khi Đức Giêsu chết, tên lính đập gãy chân của hai tên tội phạm bị đóng đinh hai bên, (Gioan 19:32). Khi hai chân tội nhân bị gãy, cả thân hình không còn gì chống đỡ, nên sức nặng của thân thể kéo trì xuống, kéo theo cơ hoành và tội nhân không thể thở ra được nữa. Điều này gây nghẹt thở. Thường tội nhân sẽ chết chỉ sau vài phút. Khi tên lính đến trước cây thập tư treo Đức Giêsu, thấy Ngài đã chết nên hắn không đập gãy chân, (Gioan 19:33). Nhưng muốn chắc chắn, tên lính cầm giáo đâm vào ngực, (Gioan 19:34). Kinh thánh thuật lại hành động này, “tức thì máu và nước chảy ra,” (Gioan 19:34), vì chất lỏng tích tụ quanh tim và phổi.

Thật nhức nhối khi mô tả một vụ giết người tàn bạo, nhưng chính chiều sâu của sự đau đớn khôn lường của Đức Kitô nhấn mạnh đến mức độ yêu thương của Thiên Chúa đối với loài người. Dựa trên sinh lý học để miêu tả từng chi tiết về cái chết của Đức Kitô như một lời nhắc nhở tha thiết về tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa đối với nhân loại đã được thể hiện cách đây hơn hai nghìn năm trên đồi Sọ. Sự hiểu biết tường tận từng chi tiết về cái chết Đức Kitô giúp tôi tham dự thánh lễ sốt sáng hơn, luôn tưởng nhớ đến sự hy sinh của Ngài, với một lòng biết ơn vô vàn. Tôi choáng ngợp cứ mỗi lần nhận thức được rằng, Đức Giêsu với con người bằng xương bằng thịt như tôi, Ngài đã hy sinh cho nhân loại từng tế bào, từng thớ thịt của thân thể qua cái chết trên cây thập giá. Có tình yêu nào dành cho bạn hữu lớn hơn thế này không, thưa quý bạn?

* * *

Bóng đêm bao phủ vườn Giếtsimani, ánh trăng thượng tuần mờ nhạt. Bóng tối tràn ngập tâm hồn Giuđa, kẻ phản bội. Khi Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, bóng tối bao trùm nhân loại, cho dù lúc đó chỉ mới 3 giờ chiều. Bóng ma cơn đại dịch đang phủ ập lên thế giới đang vũng vẫy cố ngoi lên tìm sự sống. Trong bài giảng lễ Lá vừa qua do Đức cha Robert Barron chủ tế, tổng giáo phận Los Angeles, ngài nói về bóng đêm u buồn. Ngài chia sẻ, “nhưng cái chết của Đức Kitô như ánh sáng đem đến cho nhân loại niềm hy vọng, vì chính Ngài là sự sáng. Khi đầm mình vào bóng đêm tội lỗi, Đức Kitô mang ánh sáng vô tận đến cho loài người. Vì hễ nơi nào có ánh sáng, bóng tối lập tức thoái lui. Khi Đức Kitô phục sinh, chính là lúc ánh sáng bùng phát từ ngay trong bóng đêm, xua tan màn tối của trần gian.”

Và xua tan cả bóng đêm của cơn đại dịch. Amen.

https://www.apu.edu/articles/the-science-of-the-crucifixion/

AI MANG BỤI ĐỎ ĐI RỒI?

 

Bao nhiêu năm nay, mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh, từ một ca khúc tiền chiến như hơi thở tuyệt vời duy nhất còn lại của một thời đã mất, đến những bài hát mới, phản ảnh sinh động cái hơi thở trăm lần đầm ấm hơn của âm nhạc bây giờ, tôi không khám phá mà chỉ thấy trở lại trong tâm hồn và thẩm âm của mình một số rung động và liên tưởng cố định.
Những rung động ấy đã có từ lâu, những liên tưởng ấy từ đầu đã có. Chúng có từ Thái Thanh với bài hát thứ nhất, và nguyên vẹn như thế cho đến bây giờ. Chẳng phải vì con người thưởng ngoạn âm nhạc trong tôi không có những thay đổi. Cũng chẳng phải vì tiếng hát Thái Thanh là một thực thể âm nhạc bất biến và bất động, không có những thay đổi.
Đã hai mươi năm Thái Thanh hát. Lịch sử âm nhạc ta đã được đánh dấu bằng cái hiện tượng khác thường, duy nhất, là Thái Thanh tiếng hát hai mươi năm. Nếu mỗi con người, mỗi vật thể đều được thực chứng như một biến thái thường hằng trước va chạm khốc liệt dữ dội với đời sống mỗi ngày là một khuôn mặt mới, một tiếng hát, dẫu vượt thời gian như tiếng hát Thái Thanh cũng vậy. Bằng chứng là Thái Thanh của những năm bảy mươi, Thái Thanh của bây giờ không thể và không còn là Thái Thanh của những năm tháng khởi đầu.
Mọi người dễ dàng nhận thấy như tôi là, chuyển lưu không ngừng qua nhiều vùng trời âm điệu khác biệt, hòa nhập không thôi vào mọi không khí, trào lưu âm nhạc và trình diễn thay đổi từng năm, từng mùa như mưa nắng, chính tâm hồn và ý thức người hát, trong mối liên hệ mật thiết một đời với nhạc, thế tất có những biến chuyển. Tiếng hát vì thế cũng đổi thay theo. Nói Thái Thanh hát bao giờ cũng vậy là sai. Lấy một bài hát bây giờ, một bài hát trong mười bốn ca khúc của băng nhạc Tơ Vàng chẳng hạn, cùng nghe với một bài hát cũ, ta thấy ngay, trên cái tiến trình và thành tựu rực rỡ của hai mươi năm đi tới không ngừng, tiếng hát Thái Thanh đang đích thực được lồng đựng trong một kích thước, một tinh thần mới. Sự thay đổi đó không ngẫu nhiên, chẳng tình cờ. Nó biểu hiện cho cái nỗ lực chính yếu của người hát tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngủ yên trên những thành công đã có.
Hát với Thái Thanh là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày. Lối hát, cách hát, từ kỹ thuật trình bầy một ca khúc đến cái khó nhận thức hơn, vì ở bên trong, nhưng không phải là không thấy được, là trạng thái tâm hồn Thái Thanh gửi cho âm nhạc, cái phải có và phải thế nào cho tiếng hát của mình bây giờ, trước trưởng thành vượt bậc của âm nhạc và thưởng ngoạn hiện tại, thảy đều dẫn tới một minh chứng: Thái Thanh của những năm bảy mươi đã bỏ lại thật xa ở sau lưng và trong quá khứ, Thái Thanh của thời kỳ khởi nghiệp. Không nhận thấy nỗ lực thay đổi, làm mới này, đó chỉ là vì những người yêu nhạc đã nghe Thái Thanh đều đặn, không đứt quãng, suốt hai mươi năm. Nhìn thấy hoài một khuôn mặt quen thuộc, giản đơn là ta khó thấy những thay đổi của khuôn mặt ấy.
Điểm đặc biệt đáng nói, theo ý tôi, là nếu một mặt, tiếng hát Thái Thanh đã và đang còn vươn phóng rực rỡ tới bắt gặp những chân trời âm điệu mới, phía thưởng ngoạn và tiếp nhận ở rất nhiều người, trong đó có tôi, lại bất biến, từ đầu, không thay đổi. Hai mươi năm, chúng ta vẫn chỉ thấy có một Thái Thanh. Sự ngạc nhiên lại chính là cái hiện tượng muôn vàn quen thuộc. Tại sao như vậy? Tìm hiểu tiếng hát Thái Thanh, cái bởi đâu khiến cho tiếng hát hàng đầu này tồn tại suốt hai mươi năm, trong khi những tiếng hát khác đã tiếp nối nhau lặn chìm và tàn tạ. Cái tại sao, khiến cho sau hai mươi năm, khối lượng cảm tình của khán giả yêu nhạc cả nước dành cho Thái Thanh vẫn đầy ắp như một bát nước đầy, tìm hiểu đó phải được khởi đi từ cái hiện tượng khác thường của thưởng ngoạn tôi vừa nói tới. Nó giải thích được cho cái trường hợp thành tựu duy nhất trong âm nhạc ta.
Ở một bài giới thiệu ngắn trong một chương trình Nhạc Chủ Đề thực hiện trước đây trên làn sóng điện đài Saigon, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận định về tiếng hát Thái Thanh như một giọng ca không có tuổi. Sáng láng, hồng tươi, không quá khứ. Nhận định này chỉ nói đến một sự thực hiển nhiên. Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập.
Nhưng nếu chỉ nói đến cái hiện tượng không có tuổi nằm trong một phía duy nhất là tiếng hát, không đủ. Không có tuổi còn ở phía đối diện, phía người nghe. Nghe Thái Thanh lúc nào cũng vậy, phút rất vui cũng như phút thật buồn. Nghe Thái Thanh ở một nơi chốn nào cũng thế, tiếng hát hàm chứa và phát hiện trong nó một hiệu lực đồng hóa, khiến cho tình yêu của hàng trăm ngàn người gửi cho tiếng hát Thái Thanh có thể thâu tóm toàn vẹn trong một người, trở thành cái có một. Trên dàn nhạc một phòng trà kín bưng mịt mùng khói thuốc, trên thảm cỏ một chương trình từ thiện ngoài trời, ngày nào dưới cái vòm cao vút của Nhà Hát Lớn Hà Nội, bây giờ dưới những đêm sao rực rỡ miền Nam, trên băng nhạc 1800 “phít” hay trên dĩa nhựa 45 vòng, tiếng hát gửi đến, gián tiếp, hay người hát đối diện trực tiếp với đám đông, bằng nhạc Văn Cao, Phạm Duy hay nhạc Hoài Bắc, Cung Tiến, hiệu năng đồng hóa và hiệu lực dẫn độ của tiếng hát Thái Thanh, vĩnh viễn phát xuất từ một khởi điểm tình cảm cố định. Nó dẫn dắt rung động người nghe hát tới những xúc cảm, những liên tưởng cố định. Không một người nào “lỡ” tiếng hát Thái Thanh. Đã gặp một lần là trùng phùng mãi mãi. Chẳng phải vì Thái Thanh đã hát hai mươi năm, còn hát, chỉ đơn giản là chúng ta đã nghe bằng cái trạng thái thuần túy, trong suốt nhất của thưởng ngoạn, nghe bằng cái không tuổi thênh thang phơi phới của mình. Tôi gọi vùng cảm xúc và liên tưởng cố định ấy là quê hương tiếng hát Thái Thanh. Như cây kim trong địa bàn chỉ xoay về hướng bắc, người nghe nào cũng gặp lại, bằng và với tiếng hát Thái Thanh, một thứ quê hương tình cảm muôn thuở trong mình. Chúng ta nói tiếng hát này gợi lại kỷ niệm, đánh thức trí nhớ, đâu phải vì tiếng hát Thái Thanh chỉ hát những bài hướng về kỷ niệm. Chúng ta nói tiếng hát Thái Thanh thân ái, tình nhân, bằng hữu, chỉ là người nghe đã thân ái, bằng hữu, tình nhân với chính mình, từ tiếng hát. Tôi nghĩ đó là nguyên nhân xâu xa đích thực nhất giải thích chu đáo cho khối lượng cảm tình đằm thắm, vững bền, không lạt phai, không lay chuyển, mà quần chúng yêu nhạc ba miền đã dành cho Thái Thanh từ hai mươi năm nay.
Đặt vào tiến trình và hình thành của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tiến trình đó nhất định phải đưa tới một đoạn tuyệt hoàn toàn với những giòng nhạc cũ, hình thành đó tất yếu sẽ nâng đẩy âm nhạc tới những biểu hiện sinh động bay múa nghìn lần hơn cõi nhạc quá khứ, tiếng hát Thái Thanh, hơn mọi tiếng hát khác ở điểm này, hội đủ điều kiện cho một thăng hoa và một hòa nhập lý tưởng. Bởi sau hai mươi năm, nó vẫn là một ra khơi, một lên đường, của những năm bảy mươi và cho những năm bảy mươi, âm nhạc đang được định nghĩa lại, từ phía sáng tác, trình diễn, đến phía thưởng ngoạn. Trước đòi hỏi của một lớp người yêu nhạc càng ngày càng vươn tới những vùng nghệ thuật đích thực, những bước tiến lớn lao ghi nhận được về nghệ thuật hoà tấu, kỹ thuật hoà âm chúng ta thấy thể hiện trong một băng nhạc bây giờ, là những dấu hiệu mở đầu cho một trưởng thành toàn diện.
Tiếng hát Thái Thanh là một đồng nghĩa toàn vẹn với hiện tượng trưởng thành này. Không phải là trong quá khứ, mà bây giờ mới vẹn toàn tiếng hát Thái Thanh. Trên tinh thần này, và trước viễn tượng sáng tươi của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tôi không nghĩ Thái Thanh đã tới, mà nói Thái Thanh mới bắt đầu. Đừng đặt câu hỏi là sau hai mươi năm, bao giờ Thái Thanh vĩnh viễn giã từ âm nhạc. Mùa nhạc này, chúng ta mới chỉ đang nghe những bài hát thứ nhất của Thái Thanh, những bài hát đánh dấu cho một khởi hành mới, những bài hát mở đầu cho một sự nghiệp thứ hai. Những người yêu mến tiếng hát Thái Thanh từ hai mươi năm nay, chắc đều nhận thấy với tôi như vậy.

Mai Thảo.
(lời tựa cho băng nhạc Tơ Vàng 4 – tiếng hát Thái Thanh)
Nguồn: https://nhacxua.vn/nha-van-mai-thao-viet-ve-thai-thanh-nam…/

Chinavirus

Không ai tin như thế:  “Thành phố này sẽ buồn!”.  Mới hôm qua, một hôm, sáng nay trời ảm đạm!
Cả bầu trời màu xám, xám xịt, không bình minh!  Những con chim vô hình mất trong trời vô tận!
Mưa bay bay như phấn.  Phấn trắng trên bảng đen, những thông báo đổ ghèn, những con mắt đổ lệ…
Không ai tin như thế!
“Thành phố này sẽ buồn!”.
Hiện tại mà, phải hôn?
Hỏi như thầm tình tự…
Chinavirus bay tứ xứ từ Vũ Hán bay đi, bay tới Italie, bay sang tận nước Mỹ…
Xe Cảnh Sát chậm rãi chạy trong phố thênh thang…
Không thấy nữa rộn ràng, không có gì rộn rịp.  Thấy tiếp tiếp tiếp tiếp, thành phố buồn mênh mông…
“Chao ôi buồn vương cây ngô đồng!”.  Đang còn Xuân Trời ạ…mà trên từng nhánh lá…mùa Thu như nhẩy dây!
Thành phố này, hôm nay, bài thơ từ cửa sổ!
 
Trần Vấn Lệ

 

 

 

 


Chàng Từ Nhã Ca Bước Ra

 

Tôi Rất Yêu Chàng

 

chàng là ai, hoàng tử của lòng tôi
trong giấc mơ tôi chạy vội đến người
chàng ôm tôi vòng tay như nắng ấm
nụ cười chàng là ánh sáng ban mai

chàng là ai, ai định nghĩa được chàng
chàng là trăng là sao là mênh mang
trên dòng sông chảy dưới gầm cầu thấp
những con thuyền trôi mầu hoa mộc lan

chàng là của tôi chỉ một mình tôi
chàng đứng cùng tôi và ngồi cùng ngồi
tôi ăn bữa tiệc do chàng chuẩn bị
thức ăn chàng có mùi hương đôi môi

tôi có khi buồn như chiều đang tàn
vài đám mây trôi về đâu lang thang
tôi không biết chàng đang đi bên cạnh
chàng không nói gì, nhìn tôi bâng khuâng

khi tôi ngủ trong đêm dài mông mênh
mới vừa hôm qua lại khóc một mình
tôi mơ thấy giữa những vòng hoa tím
khuôn mặt chàng buồn hơn tôi trong đêm

 

Chàng từ nhã ca bước ra

chàng từ ban ngày bước vào trong đêm
từ trong bóng đêm nở một đóa quỳnh
sự nhạy cảm của quỳnh lan hoa tím
sự gợi cảm của đêm buồn mưa nghiêng

từ trong nhã ca chàng bước ra ngoài
mùi hương dậy thì của suối trên vai
tiếng thở mê mệt của bầy chim sẻ
giọng cười hổn hển mất dần trong mây

tôi từ bên ngoài bước vào trong chàng
chàng lấn vào tôi rừng núi bạt ngàn
giữa những san hô, đá và cây cỏ
mùi của rong rêu, hoa biển và trăng

nếu có một lần, và chỉ một lần
tất cả xuân thì của gió tràn dâng
rách những cây dù căng phồng trên cát
bay vào cơn say cuồng nhiệt ái ân

chúng tôi sẽ cùng dạ vũ đêm nay
rót những ly rượu không bao giờ đầy
và những niềm vui không bao giờ cạn
sẽ không bao giờ chấm dứt cơn say.

Phạm Khánh Vũ

(trích “Chàng Từ Nhã Ca Bước Ra”)

THƠ LÊ VĂN TRUNG

THƠ

 

Ta níu vào thơ cùng sinh tử
Ta nương vào thơ mà tồn vong
Lòng ta như gió qua truông vắng
Lòng ta như suối băng qua rừng

Năm mươi năm ghềnh thác gập ghềnh
Năm mươi năm bèo bọt lênh đênh
Câu thơ chìm nổi trong mưa bão
Trôi giạt theo tình người lãng quên

Ta bỏ người đi mùa trăng khuyết
Ta chờ trăm năm mùa trăng tròn
Ta ngỡ tình người trăng tuyết nguyệt
Ta ngỡ lòng nhau còn nguyên xuân

Ta níu vào thơ mà nhớ người
Ta nương vào thơ mà quên ta
Lòng ta là một con thuyền nhỏ
Tình người như là một con mơ.

 

 

TRÔI QUA HOÀNG HÔN

 

Đời mãi buồn như điệp khúc buồn
Ngùi thương ngày hạ nhớ ngày đông
Nhớ bàn tay vẫy trong mưa bụi
Nhớ áo vàng phai gió lạnh vàng

Nỗi nhớ! Hình như nỗi nhớ ai
Lòng cứ vương theo sợi tóc bay
Tóc bay rối cả mùa thu cũ
Tóc bay rối cả giấc mơ gầy

Nỗi nhớ! Hình như nỗi nhớ người
Hay chỉ là mây nhớ gió trời
Hay chỉ là sương vương khóe mắt
Hay chỉ là tôi tội nghiệp tôi

Đời sống buồn như một dòng sông
Tình tôi buồn hơn một nỗi buồn
Em chảy qua chiều tôi quạnh vắng
Em trôi qua đời tôi hoàng hôn.

Lê Văn Trung

“SỐNG VỚI SÁCH”

Hồi tôi còn nhỏ, có lần ba tôi, sau khi xem được một quyển sách hay của nhà văn Trung Hoa Lâm Ngữ Đường, đã hứng thú kể tôi nghe câu chuyện về một thư viện rất nổi danh, thư viện Alexandria ở Ai Cập thời cổ đại. Tôi nhớ đại khái như sau: “Lúc đó sách thực hiện bằng ghi chép thủ công. Muốn có nhiều sách cho thư viện, nhân viên thư viện phải đi khắp nơi trong thành Nhã Điển (tên gọi thủ đô Athen của Hy Lạp hồi trước 1975), đặt tiền cọc để mượn sách mang về chép một hoặc nhiều bản. Ngoài ra, khi phát hiện được có bản chép tay nào trên các tàu biển thả neo ngoaì cảng, họ “tạm thời tịch thu” các bản đó để sao chép lại xong mới đem trả.

Chuyện một thư viện có cách nay gần 2.500 năm trước đã rất linh hoạt trong chuyện tổ chức nguồn sách của mình khiến tôi rất thích thú. Ý muốn có một tủ sách gia đình bắt đầu xâm chiếm tôi.

Hoàn cảnh sống nhà tôi hồi đó cũng giống như rất nhiều nhà trong xóm lao động, chủ yếu người lớn đi làm cho tư nhân, lái taxi hay buôn bán nhỏ ở chợ. Con cái nhà nào cũng đông, tự đi học và tự về, đứa nào mực tím cũng dính tay dính áo. Nhưng ba tôi khác với mấy người cha trong xóm, là rất mê đọc sách. Nhà tôi có ông anh là giáo viên, ba má tôi giao phó hẳn việc học mấy đứa con nhỏ cho anh. Như mọi thầy giáo hồi xưa, anh cũng mê sách. Đam mê của các bậc phụ – huynh này đã ảnh hưởng mấy anh em trong nhà.

Sách của ba tôi không nhiều, chứa trong khoảng ba thùng cạc tông. Đa số ông mua từ hồi trai trẻ, chiếm nhiều là truyện Tàu như Tiết Nhơn Quý chinh đông, Đông Chu Liệt quốc, Tam Quốc chí… Có mấy tập thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử là những người cùng thế hệ với ông. Trong số đó, tôi thích nhất bộ “Việt Nam Thi nhân Tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng. Dù không nổi tiếng như quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoàì Thanh – Hoàì Chân nhưng cuốn này rất đầy đặn, phong phú và tất nhiên cập nhật hơn với nhiều bài thơ phát hiện sau này.

Mấy cái thùng sách của ông để cạnh chỗ ngủ.Có lần một cơn mưa dữ dội đưa nước vào nhà, ngấm vào mấy cái thùng khiến cả nhà phải bày ra phơi cả tuần. Rất may sách không bị hư hại nhiều.

Sách của anh Hai tôi để trong một cái rương bằng thiếc. Đó là dấu vết một thời dạy học ở một vùng biên giới Việt – Miên. Khi trở về Sài Gòn, anh đem rương về và nó thành thế giới bí mật đầy quyến rũ với tôi. Có lúc tôi lục lọi được chúng. Trong đó có những tập quay roneo bàì giảng cho sinh viên Văn khoa Sài gòn trước 1975 nhưng tác giả là Đinh Gia Khánh và Nguyễn Đình Thi của Hà Nội. Sau này tôi biết để có những bản sách hiếm có như vậy, các giáo sư Văn khoa đã tìm cách đặt sách từ Hà Nội qua Paris và từ Paris mang về Sài Gòn phổ biến cho Sinh viên. Trong rương có mấy quyển sách bàn về chuyện tình yêu nam nữ của Công giáo, có cả phần giáo dục giới tính. Tò mò xem, tôi ngượng quá nên bí mật đem… bỏ thùng rác. Khi biết được ông anh nổi giận nhưng không giải thích khiến tôi tin chắc là mình… đúng. Tội nghiệp mấy quyển sách vô tội và hiền khô so với sách giáo dục giới tính bây giờ.

Dù có mấy thùng sách, nhà vẫn không có một tủ sách đàng hoàng. Lúc ấy, nhớ đến hồi được làm “quản thủ” tủ sách lớp Năm của trường tiểu học Võ Tánh, tôi bắt đầu lập tủ sách gia đình. Trước hết, xin những quyển sách nào ông anh không đọc nữa, tôi đưa vào tủ sách của tôi.

Thời kỳ này, quyển sách gây men hứng thú là quyển Con Nai Tơ, tác giả Mỹ tôi không nhớ tên nhưng người dịch là Trương Bảo Sơn. Ông này sau dịch những quyển nổi tiếng khác như Ông già và biển cả của Hemingway và Gió đông Gió tây của Pearl Buck. Quyển thứ hai là Phiêu lưu trên lưng ngỗng của Senma Largerlof, nhà văn Thuỵ Điển. Chi tiết tôi nhớ nhất trong truyện là sự tiếc nuối mãnh liệt của cậu bé Nin. Một đêm, cậu bước vào một ngôi thành lớn bên bờ biển. Có nhiều người buôn bán trong thành mời cậu mua sản vật ở đó nhưng cậu từ chối vì tiền trong túi quá ít, chỉ có vài đồng xu. Sáng hôm sau, toàn bộ tòa thành biến mất. Cậu được kể rằng một trăm năm tòa thành này mới hiện ra một lần và trong lần đó, nếu ai mua bán với người trong thành dù chỉ một đồng xu bé cũng giúp nó sống lại sau một lời nguyền tự ngàn xưa.

Thời điểm ấy là năm mới đến sự kiện 1975. Nhiều nhà bán đổ tháo sách ra vỉa hè. Một bà trong xóm tôi không biết vì sao có được mấy bao tải sách của nhà xuất bản Phượng Giang, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với bìa trắng, chữ đen và logo hình chim Phượng. Lập tức tôi xúm vào lựa và không nhớ tiền đâu mà mua được khá nhiều quyển của Nhất Linh, Kháí Hưng, Thạch Lam, Trần Tiêu… Bà bán cho người khách duy nhất trong xóm là tôi và đến khi tôi không mua nữa thì bà đem đi bán … ve chai.

Bộ sách này với khoảng hơn hai chục cuốn làm tăng giá trị tủ sách của tôi. Suốt thời gian đó, đang học lớp Tám, xem chừng tôi mê sách hơn mê học. Suốt ngày tôi có mặt ở đường Trần Quang Khải là nơi có bán sách báo vỉa hè để canh mua sách với tất cả tiền có trong tay.

Có lần tôi lập một kế hoạch “chôm” sách đáng xấu hổ. Số là phường tôi ở có một căn nhà chủ bỏ đi nước ngoài năm 75. Nhà này biến thành trụ sở thanh niên của phường. Trong nhà còn đủ bàn, ghế và một tủ sách nhỏ. Theo anh chị đến đó, tôi thường mượn sách để đọc tại chỗ. Đến một ngày, tôi phát hiện sách trên kệ thưa dần. Tôi hỏi và ông anh trả lời rằng chúng đã được số thanh niên ở đây đem xé ra quấn thuốc hút và… đi vệ sinh.

Tôi phẫn uất và lo lắng. Nhìn lên kệ, tôi thấy quyển “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc. Quyển này tôi mê từ hồi chín mườì tuổi khi ông anh mượn về từ thư viện. Sách dày, có nhiều bài ca dao tục ngữ hay. Tôi biết chắc nó sẽ bị tanh bành theo mấy quyển kia.

Một thằng bạn trong xóm thường lên trụ sở này chơi đã bày cách cho tôi. Số là nhà này là căn hộ chung cư ở lầu 1, phía sau dãy nhà là con hẻm. Ngon ơ ! Buổi trưa, tôi và nó lên đó chơi. Lúc nào cũng có người ở đó nên không thể bỏ vào bụng áo một quyển sách dày cộm được. Theo lệ thường, tôi mượn mấy tờ báo thiếu nhi xem tại bàn. Đợi lúc một anh vừa rời căn phòng phía sau ra đứng ngoài hành lang trò chuyện với bạn, tôi đến kệ chộp ngay quyển sách đưa cho thằng bạn ngồi cạnh và biến nhanh xuống cầu thang, chạy ra con hẻm sau dãy nhà. Bạn tôi lập tức xuống nhà bếp, mở cửa thông ra phía sau và ném sách xuống đường. Sách nặng, rơi bộp xuống đất, bung ngay bìa. Tôi chụp nhanh và lỉnh về nhà, tim đập thình thịch.

Tôi rủ thằng bạn đi uống nước đá nhận và nó nhanh chóng quên chuyện đó. Còn tôi đem đóng lại sách, bọc ny lon và sung sướng lật nó đọc hằng ngày. Trong một thời gian dài, thỉnh thoảng lương tâm tôi lại dậy lên chuyện lấy cắp sách.

Khi nhà có độ ngàn quyển sách, ba tôi bắt đầu đóng kệ sách. Đang thời khó khăn, kệ là những miếng ván đặt thẳng góc với tường, cố định bằng những sợi dây kẽm dằng giữ. Cái buồng nhỏ nhà tôi bốn phía đều có kệ sách. Mỗi tường hai kệ, vị chi là tám kệ. Ở giữa là cái giường rộng và lối đi. Kệ sách là nơi bụi ưa thích, vài tháng quét một lần vẫn thấy có bụi. Ông anh tôi lên cơn suyễn thường xuyên thời gian đó. Kệ sách, thứ mà cả nhà đều biết là quý trở thành gánh nặng không muốn rời bỏ.

Một buổi chiều chủ nhật, cảm thấy mình có lỗi vì làm ảnh hưởng không khí trong nhà, tôi bắt đầu ngồi phân loại sách. Có những quyển truyện đọc đi không muốn đọc lại. Có những quyển vô bổ. Có những quyển có cũng được, không có không sao. Rất nhiều quyển làm dậy lên những cảm xúc mới mẻ. Một quyển sách hay mua được trong chiều chủ nhật. Quyển sách kỷ niệm đứa bạn thân không gặp lại nữa. Số sách không dùng, tôi tặng một nhà sư trẻ mê đọc sách và khi anh ta chở những bao sách ra về, tôi cảm thấy thanh thản vì đã không phụ những quyển sách chắt chiu bao năm nay.

Viết về sách thì có thể … viết dăm bài nữa vẫn chưa chán. Vừa rồi, tôi vui mừng tìm được quyển “Sống với sách” của Alan Powers. Cuốn sách nói về sự gắn bó với đời sống con người mà phương Tây, nơi phát minh ra máy in đã khiến sách dễ dàng phổ biến rộng và nhiều hơn, rẻ hơn trong xã hội, giúp con người phát triển nhanh hơn. Với góc nhìn riêng, tôi nghĩ nếu không có sách, cuộc sống này sẽ khó khăn biết bao nhiêu với rất nhiều người, trong đó có tôi. Với sách, chúng ta không cảm thấy bơ vơ. Sách góp phần không nhỏ nuôi dưỡng, chở che, xoa dịu tâm hồn và giúp ta lớn khôn. Dường như vấn đề nào trên đời này, kể cả cái chết, luôn có một quyển sách đang chờ ta ở đâu đó để lý giải, an ủi, trò chuyện và dẫn dắt ta đi.

Phạm Công Luận

Trích cuốn “Những lối về ấu thơ” viết chung với Đặng Nguyễn Đông Vy –

MAI RỦI BỘI THỀ

 

 

“Lại ngày tan tác phân ly
Thêm lần gãy kiếm. Còn chi cuộc đời !” (thơ Hạ Quốc Huy)

1.

Xưa tôi ở chốn núi rừng
Lên cây cổ đại cười lưng chừng trời

Nhắm ai?
Chân lạc xuống đời
Ngoái về cõi núi, hoa rơi chập chùng

Buồn tình tôi bắn lung tung
Tên bay. Lạc đến vô cùng tình em…

2.

Xưa tôi nuôi lửa rừng đêm
Xuyên sơn lãnh địa chân mềm đá đi

Lại ngày tan tác phân ly
Thêm lần gãy kiếm. Còn chi cuộc đời !

Buồn tình tôi bắn. Trời ơi !
Tên bay. Lẩn quẩn trong tôi mịt mù

3.

Xưa tôi
dầm dãi biên khu
Thơ trên bá súng. Thơ u uất hồn

Nhắn về hốc núi đầu non
Xác con sơn điểu vẫn còn huyết khô…

4.

Ngày tôi gối mộng trời cao
Bay theo sông núi, nghe sao thầm thì

Rồi từng hoài bão qua đi
Tôi thành thất chí thiết chi trần đời

Buồn tình, tôi bắn. Lệ rơi
Tên bay. Máu quánh trong tôi đọa đày

5.

Nay tôi ngồi nhậu đắng cay
Trăm ly. Chuyện nhỏ. Luôn tay nốc sầu

Rượu hồng em rót về đâu
Mặc tôi chết điếng
giữa cầu nhân gian

Bớ con nhan sắc đỏ vàng
Bớ mi bất nghĩa hồng nhan vong tình

Bớ thống khổ.
Bớ điêu linh
Bớ em như bớ bạc tình thiên thu…

6.

Ngày tôi theo gió vi vu
Tìm cây ngải chúa âm u chập chờn

Tôi leo trăm thác mê hồn
Kê môi hôn gió, khóc non nhạt nhòa

Thơ thành khô khốc xót xa
Tôi thành thầm lặng
dưới hoa chôn tình

Tiếng ai hát giữa không thinh
Chợt như cát bụi vô tình xoáy đau

Đò ngang trầu ướp hương cau
Xin ngâu tháng bảy loãng màu máu tôi

Tội tình tôi bắn mưa rơi
Tên bay.
Phập xuống.
Ngập đời tôi mê…

7 ,

Nay sông đã bội nước thề
Vẫn lòng gió rít gởi về rừng xưa

HẠ QUỐC HUY 

Hương Ngào Ngạt Thơm Hoài Mùi Tóc Cũ

Sáng, mở cửa, chào cây đào năm mới / cuối tháng Hai chào nước Mỹ mùa Xuân. Chào những giọt sương mai trong suốt trắng ngần! Chào ánh hồng của hoa vô cùng yêu quý!

Tôi có người yêu, người không ích kỷ / để mở bài thơ là mở cửa tấm lòng. Người đã xa tôi rồi ngày cuối một mùa Đông, câu nói cuối: em sẽ là mùa Xuân anh đợi…

Mười hai năm, tôi chờ ngày năm mới, người tôi yêu đã về lại thế này: Hoa đào cười trong gió bay bay / huơng ngào ngạt thơm hoài mùi tóc cũ!

Tôi vén tóc nàng, tôi hôn cần cổ. Tôi vuốt sống mũi nàng, tôi hôn đôi môi. Chưa bao giờ tôi thấy nàng xa tôi, mười tháng đợi mỗi năm tăng thêm tuổi trẻ…

Tôi đi tới đường đời tôi như thế, nàng vẫn y nguyên muôn thuở Xuân Thì! Tôi thương con đường nàng đi. Tôi nhớ những đồng luơng nàng khoe tôi buổi tối…

Tôi chải cho nàng tóc rối!
Mười hai năm, tôi không chải cho ai.
Vậy sao chúng tôi chia tay / đêm cuối một mùa Đông hoa đào chưa nở?

Tôi mở cửa, mở lòng tôi thương nhớ!
Sang năm nếu tôi còn, tôi nhớ nàng thêm!
Bàn tay năm ngón mềm, anh hôn em như hồi hai mươi tuổi…

Những câu thơ chạy đuổi…Tôi chạy đuổi thời gian! Tôi chạy bắt những ý thơ lang thang / kết lại thành lụa may áo dài cho em ngày Tết!

Không bài văn nào hoàn thành không chấm hết!
Tuổi trẻ tôi tro bụi sẽ bao giờ?
Tôi không viết văn mà tôi làm thơ
cho Quê Huơng cho giấc mơ cho đời người yêu thương nhau mãi mãi…

Ôi ai đó có một thời con gái
đọc thơ tôi chơm chớp mắt tình!

 
Trần Vấn Lệ

CÕI  LẠNH

Ai đem đôi giày lữ thứ ?
Buộc lấy chân tôi
khi chiếc áo màu xanh tôi đã trả về cho gió
ngày hồi hương không biết nữa đường dài.
Tôi cần một vầng trăng thanh thản
và hương thơm của những bông hoa
sao ly rượu chiều nay buồn thương vô hạn
bóng ai còn dầu dãi nơi xa . . .
Mây bay đi đem mưa về cõi lạnh
tôi chợt đưa tay ôm lấy ngực mình
nơi tiếng khóc trẻ thơ và cơn đau của mẹ
vẫn còn trong một trái tim hồng.
Tôi cần những buổi sáng mai nghe chim thánh thót
hót bài ca tình nghĩa vợ chồng
đời thiếu niềm vui sao mình tìm mãi
biết nhờ ai may chiếc áo mùa đông ?
                                          VƯƠNG  KIỀU

NGẪU HỨNG SÁNG MAI XANH 

Một sớm mai hoa nắng
Xuân lòng em sắc hương
Đóa hồn em trinh trắng
Thơm ngọn gió thiên đường.

Long lanh cườm sương biếc
Hoa cười nắng thủy tinh
Vườn lòng em tinh khiết
Đất trời mở trang kinh.

Ồ. Muôn hoa diệu pháp
Hồn tạo vật soi gương
Sớm mai xanh nắng thắp
Lung linh đóa vô thường.

Nắng vườn xuân mầu nhiệm
Tôi đứng lặng cúi đầu
Khoảnh khắc thiên thu niệm
Tạ ơn đời có nhau!

TRẦN THOẠI NGUYÊN