Rồi như đá ngây ngô

tuankhanh

Báo chí Việt Nam đang rộ lên chuyện một bộ phim truyền hình của Ấn Độ kéo dài đến gần 2000 tập. Các ý kiến được dẫn lời về bộ phim, cái thì khen tài làm phim dài hơi, cái thì chê bai mọi chuyện cứ kéo lê thê một cách không cần thiết và buồn chán.

Khán giả hôm nay thật khó mà chìu chuộng được. Báo chí cũng khó mà chìu lòng được. Thật khác với trước kia, khi truyền hình vẫn lê thê và chán chường với các buổi chiếu Đơn giản tôi là Maria, Người giàu cũng khóc… dù không thích nhưng nhiều gia đình vẫn tụ họp nhau trước màn ảnh để xem – như một trong những món giải trí quan trọng nhất trong ngày. Và những ngày ấy, dù phim nhạt hơn nước ốc, cũng có không ít những bài viết ca ngợi nền điện ảnh Mỹ Latin, ca ngợi những tập phim tố cáo chế độ tư bản ung nhọt và thối nát… Đời sống chợ đêm hay Khi người ta yêu cũng chỉ là các cuộc trò chuyện lãng đãng, rồi kéo dài như vô tận, cũng có thời từng được nhiều báo khen ngợi.

Một bộ phim nhiều tập, tự nó đâu có lỗi lầm gì, phải không?. Nhân loại đã chứng kiến không ít các bộ phim dài tập đến giật mình, diễn viên già nua theo năm tháng vẫn phải bám theo diễn xuất. Mô-típ kịch bản thế nào rồi cũng đoán được. Phim giải trí vẫn được làm thêm tập theo nguyên tắc “còn người xem còn chiếu”. The Friends với David Schwimmer, Jennifer Aniston… được kéo đến 10 năm, các diễn viên phải năn nỉ xin thôi vì không còn sức để diễn những vai độc thân hài hước và trẻ trung nữa. Vậy mà khi phim ngừng, không ít khán giả đã khóc than, tiếc nuối.

Có vài lý do suy đoán về chuyện báo chí đột ngột lên tiếng chê bai phim dài tập: gắng nói vì không còn gì để nói, hoặc vì khán giả ai nấy hôm nay không còn đủ kiên nhẫn như xưa nữa. Cuộc sống rầm rập những đổi thay bên ngoài bất tận như giá xăng, giá dầu, giá điện, giá thực phẩm… khiến người ta không còn an nhiên nữa để ngồi thưởng thức những câu chuyện dài không hồi kết.

Có lẽ mất kiên nhẫn trước cuộc sống đang sôi sùng sục, là một lý do quan trọng. Giới trẻ mất kiên nhẫn trước thể kỷ hiện đại, nên chọn cho mình một lối thưởng thức âm nhạc hiện đại dồn dập, thôi thúc. Các nhà điện ảnh cũng không còn kiên nhẫn trước các kịch bản dàn trãi, mà vào phim phải lập tức bắn, giết và nude. Các nhân vật nổi tiếng thì tranh nhau nói những điều rỗng tuếch và ngu ngốc để được báo chí đưa tin, chỉ vì sợ thua một bước chân của chúng bạn trên đường đua vô nghĩa.

Con người Việt Nam đang mất kiên nhẫn với điện ảnh, với thảm họa âm nhạc, với văn chương trộm cắp lẫn nhau… âu thì cũng là một niềm vui. Cũng đến lúc mà sự mất kiên nhẫn cho thấy mặt tích cực của nó: thôi thúc sự đổi thay và nhận diện đúng mọi thứ chung quanh mình. Con người không còn thụ động ngó nhìn và im lặng, như đá ngây ngô.

Nhưng mong rằng sự mất kiên nhẫn đó của người Việt sẽ lớn hơn, đi xa hơn trong một cuộc sống đang cần thật nhiều lửa trong trái tim mình, cần nhiều tiếng đập cửa để nghe tiếng vọng lại, để phá vỡ không gian phong bế vô hình, không chỉ là chuyện phim ảnh tầm ruồng.

Cũng đã đến lúc người Việt cần nhận ra rằng, chính cuộc sống thực tế hôm nay, không khác gì những cuốn phim dài tập không kết cục đến đáng giận. Người Việt cũng cần tắt bỏ những hình ảnh chớp lóa thôi miên trước mặt, dụi mắt và đòi chấm dứt trong một cái kết có hậu tức thì. Lúc này, người Việt rất cần mất kiên nhẫn để đứng dậy, rời khỏi gánh hát xã hội chính trị vô tận ngu xuẩn vẫn thấy.

Sự mất kiên nhẫn đó, đã được thể hiện bằng lời mỉa mai nhức nhối về chuyện xã hội Việt Nam có loại người như ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT), luôn miệng cười tươi và kiên cường khuyên nhủ dân chúng ăn thực phẩm có chất độc nhập từ Trung Quốc. Sự mất kiên nhẫn đó là cách dân chúng liên tục chỉ ra nạn bạo hành, lạm dụng quyền lực và coi thường công dân trong giới cảnh sát giao thông, công an đang ngày càng dâng cao, thông qua các bài viết và video. Sự mất kiên nhẫn đó là câu hỏi được nhắc từng ngày về sự công chính cần thiết trong vụ án Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng… về những tượng đài vụn vỡ vì bị ăn bớt, về những đền đài, dinh thự xây âm thầm, về đại lộ, cầu cống ngàn tỉ sụp đổ vì nạn tham nhũng, do các quan chức coi thường nhân dân mình.

Đừng nói với tôi là bạn không thấy xã hội và thông tin ở Việt Nam đang ngày càng mất kiên nhẫn nhé?

Sự mất kiên nhẫn đó cũng đang được nhìn thấy ở vỉa hè, ở facebook, lan rộng ở các câu bình luận trong các trang báo điện tử… người ta đang nói với nhau về những bộ phim không có hồi kết, những bộ phim đời thật sự nhức nhối cần phải nói, hơn là những tập phim truyền hình duy giải trí.

Tôi vẫn nghĩ có thể vào lúc nào đó, xã hội Việt Nam sẽ còn mất kiên nhẫn hơn và quyết liệt hơn nữa khi đưa ra những câu hỏi, cần phải được trả lời cho chuyện tàu cá Trung Quốc ngày đêm liên tục đâm tàu Việt Nam – ngay trong biển Việt Nam, mà quốc hội thì ngủ gật, về sớm và lặng im. Cuốn phim kéo dài và vô lương về chuyện khai thác bauxite cho Trung Quốc càng làm càng lỗ, sau ba năm lỗ đến gần 38 triệu USD, vì sau cứ phải lầm lũi kéo dài? Ôi những cuốn phim đau thương đó trong đất nước này, đang chồng chất, đợi trình chiếu với kết cục đau thương.

Kiên nhẫn là điều cần thiết, nhưng luôn nằm trong vùng ước lệ, qua việc nhìn thấy thực tế hiển hiện. Mất kiên nhẫn là điều thường được coi là không tốt. Nhưng mất kiên nhẫn khi phải chứng kiến các bộ phim đời vô đạo và khó hiểu kéo dài lại là điều cần thiết.

Kiên nhẫn tột bật có thể là thánh nhân. Nhưng kiên nhẫn trước những điều ngụy lý bại thường quanh mình, có thể biến mình thành vô tri như đá cuội – biến mình thành như đá ngây ngô, phải không, người bạn đang đọc tôi?

Tuấn Khanh’s Blog

—————————————————————-

Mới Tháng Bảy Thôi Lá Chửa Vàng…

tranvanle

Hôm qua nóng từ năm giờ sáng,
mặt trời lên từ giờ đó, mùa Hè!
Hôm nay, thì, em ạ, lạ ghê:
tám giờ hơn mà mặt trời còn ngủ.
Lũ chim sẻ chưa thấy ra khỏi tổ
và lũ bồ câu không có tiếng gù gù…
Đó là sự “vô thường” hay là một cơn mơ?
Trời không có dấu hiệu một cơn mưa sắp tới,
vòi nước tự hành trong vườn hoa vẫn tưới.
Chiếc xe bus, ngoài đường, vừa mới chạy qua, ngang…

Mới tháng Bảy thôi em, lá chửa vàng.
Và mùa Thu sang, bây giờ, chẳng thể!
Em biết chớ, bây giờ ở Huế,
đang mùa Hè, phượng vĩ đơm bông,
trên sông Hương ai đó lấy chồng,
mười hai bến nước, bến nào trong, đục?
Em biết không, viết mấy dòng này mà nước mắt muốn ứa ra,
nhớ ngày em đi xa…
Buổi sáng đó, mặt trời dậy trễ,
em sắp sửa chào Mạ Ba, bỏ Huế,
áo hoàng hoa em mặc tựa như trăng…

Ai bảo em là giai nhân?
Câu thơ của Lưu Trọng Lư, em biết!
Và…có nhiều người đã chết
…chỉ vì một câu thơ!
Anh đang muốn vén mây, những đám mây mờ,
anh muốn tìm trăng để anh quỳ lậy, nói
với trăng: Trăng à, thức dậy!
Đã bình minh!
Anh muốn gửi cho em một tờ giấy màu xanh,
hai trang trống – bức thư tình không có chữ!
Anh nhớ em không còn lời nói nữa.
Tiếng chuông Chùa, đâu, đó, vọng, vang, vang…

Mới tháng Bảy thôi em, lá chửa vàng,
anh nhắc lại câu thơ hồi nãy…
để bài thơ này thành một dãi mù sương!
Anh gửi cho em một buổi sáng anh buồn,
anh gửi cho em trái tim anh trăng khuyết…
ai biểu trăng cứ ở biệt trong mây…
Chữ nghĩa của thơ thấp thoáng hao gầy,
tóc của em sao nhỉ có bay bay trong gió?
Anh nhớ em! Nhớ đôi môi màu đỏ…
Đỏ mắt mong chờ một kiếp lai sinh!

Trần Vấn Lệ

TRONG TIM. MỘT ĐÓA QUÊ XANH

chuthuynguyen

đâu là cửa. ở hai đầu mộng ảo ?
nhập cùng trăng. và khóc cũng cùng trăng
tay cố vói. ngộ ra bầy tiên nữ
lúc hiền thê. và lúc tận cung hằng

là sương khói. mẹ cha chung miệng thổi
sẽ về sương. về khói tận ngàn dâu
xanh ngắt lắm. bóng cội mờ tục lụy
nhặt hoa rơi. làm mộng chít quanh đầu

khe khẽ nhé. ta sẽ hôn lên tóc
nụ dậy thì. em đừng giấu xa xăm
đám mây biệt. bên dấu hài cô lý
khóc chiều về. sơ ngộ áo the thâm

bình minh lắm. sẽ giậu phên ngùi ngậm
tấc lòng son. cột chặt tận đêm rằm
đừng rao bán. trận vui người tri kỷ
hái nguồn cơn. chia chác quái trăm năm

đâu là cửa. giữa chợ người huyên náo ?
đất chênh vênh. trú quán tận nơi nao
người dẫu cứ bồng phiêu. còn non nước ?
ở tận xanh. ngồi khóc trận mưa rào …

Chu Thụy Nguyên

ĐÔI ĐIỀU VỀ PHỦ THÀNH “PHỦ QUI NHƠN”

truongnghi

Năm 1471, hạ xong thành Đồ Bàn, bắt Chiêm vương Trà Toàn đem theo quân thứ ban sư về kinh, chỉ vài tháng sau vua Lê Thánh Tông lập ra đạo thừa tuyên thứ 13 là Thừa Tuyên Quảng Nam. Rồi vị tướng nhiều công trạng trong cuộc chiến tiến binh vào kinh đô Đồ Bàn năm ấy là Trung quân Đô thống Phạm Nhữ Tăng, ông được giao quyền Đô Ty Quảng Nam kiêm Trấn Phủ Hoài Nhơn. Phủ Hoài Nhơn là châu Vijaya của người Chiêm trước kia, là một trong 3 phủ mới được thành lập : Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn, chúng đã được ghi tên vào bản đồ Đại Việt sau cuộc nam chinh của vua Lê. Từ một số thông tin của tộc phả họ Phạm dòng dõi Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão nầy cho thấy Đô thống phủ, lỵ sở của Thừa Tuyên Quảng Nam lúc ấy đặt tại thành Đồ Bàn. Quan Đô thống đã thọ bệnh qua đời và chôn cất tại đây vào tháng 2 năm 1478, sau được cải táng về làng Hương Quế nay thuộc Quế Phú huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Như vậy vị quan đầu tiên trấn nhậm Quảng Nam kiêm lý phủ Hoài Nhơn, ông ở chức chỉ được 6 năm tại Hoài Nhơn, vùng cực nam của Đại Việt thời bấy giờ – là vùng đất cả tỉnh Bình Định bây giờ.

Quảng Nam thời ấy được thống hạt bỡi 3 Ty là Đô Ty, Thừa Ty, và Hiến ty. Nhiều người cho rằng lỵ sở của Tam ty Quảng Nam có ở Châu Sa (Quảng Ngãi), rồi Chiên Đàn (Tam Kỳ), nhưng chưa cho biết rõ lỵ sở dời ra đó vào lúc nào, vì sao phải chuyển dời. Dù sao thì điều phải rõ hơn hết là lỵ sở của một đơn vị hành chánh to lớn, của một đạo thừa tuyên mới thành lập phải được đặt nơi có thành trì, nơi có dân cư đông đúc, trù phú. Thành trì ngày xưa chính là nơi tứ dân an toàn trú ngụ, yên ổn mưu sinh. Thành trì cũng là nơi mà vua quan điều động quân lương, kén tuyển quân binh một cách nhanh chóng và dễ dàng để phòng ngự hoặc chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh. Dinh trấn của Quảng Nam đến đầu thế kỷ 17 đặt ở Thanh Chiêm – vùng đất màu mỡ Điện Bàn đã nói lên được điều nầy khi các nước Tây dương đến đây đã xem Quảng Nam trù phú như là một đất nước riêng ở Đàng Trong.

Thành Đồ Bàn, kinh đô cũ của vương quốc Chiêm Thành, dù sau đó có không phải là lỵ sở của Tam ty đi nữa thì cũng là phủ thành của Phủ Hoài Nhơn trong một thời gian dài vào thời nhà Lê. Đến khi Chúa Nguyễn Hoàng vừa bước được vào nam, năm 1602 đã đổi Quảng Nam là Dinh (Doanh) chứ không gọi là Đạo Thừa Tuyên nữa. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì Chúa đã đổi gọi Phủ Hoài Nhơn của Quảng Nam thành Phủ Qui Nhơn cũng vào năm nầy [1]. Biểu hiện của một sự thay đổi quyền lực, lẽ thường bao giờ cũng có sự thay đổi trước tiên về điển chế thông qua thay đổi địa danh trị nhậm. Nhưng điều quan trọng là với địa danh mới, bá tánh có an nhiên thoải mái sử dụng ngay hay không mà thôi. Ngay như trong thời buổi hiện tại, tên gọi Sài Gòn vẫn cứ được trăm họ hồn nhiên sử dụng qua cửa miệng chẳng chút gượng gạo song song với tên gọi trên giấy tờ hành chánh. Chỉ 50 năm sau ngày Chúa Nguyễn Hoàng thay đổi tên gọi đất Bình Định xưa, vào năm 1651 Chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho đổi tên Phủ Qui Nhơn thành Qui Ninh. Rồi đến năm 1742 Chúa Nguyễn Phúc Khoát lại cho lấy lại tên cũ là Phủ Qui Nhơn. Trích dẫn lại từ Địa Chí Bình Định thì theo Thực Lục Tiền Biên – Viện Sử Học xuất bản năm 1962 cho biết 2 năm sau, năm 1744 Chúa Phúc Khoát cho dời phủ lỵ ra phía Bắc thành Đồ Bàn, nơi mà ngày nay thuộc Phường Nhơn Thành của Thị xã An Nhơn.[2]

Thay đổi tên gọi một địa danh cho vùng đất khi phải sáp nhập hay chia tách thì khác, nhưng ở đây với địa giới phủ Hoài Nhơn hay Qui Nhơn hay Qui Ninh thời Chúa Nguyễn, xem thấy chẳng có chút gì gọi là thay đổi. Năm 1611 thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, cương vực phía nam đã mở rộng tới núi Thạch Bi, cũng cho thuộc vào Dinh Quảng Nam, nhưng là lập thêm một phủ mới ở phía nam Cù Mông gọi là Phủ Phú Yên. Đến năm 1629 Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho lập dinh trấn mới ở đây gọi là Dinh Trấn Biên để chuẩn bị tiến xa xuống phía nam. Đã không có chút thay đổi gì về địa giới, vậy điều gì đã khiến cho các Chúa phải thay đổi tên gọi vùng đất Bình Định thời đó. Các sử thần ngày xưa đã không ghi lại chuyện đó vì sao, các sử gia ngày nay chắc cũng chẳng ai hơi đâu tìm hiểu làm cho giới sưu khảo nghiệp dư có người phải tốn công tốn sức đi tìm thông qua việc tìm hiểu ngữ nghĩa của địa danh. Nói thì nói vậy chớ chẳng dễ dàng gì, ngày nay việc tìm hiểu địa danh qua ngữ nghĩa chẳng khác nào rơi vào mớ bòng bong. Lớp trẻ thời bây giờ có mấy ai đọc và hiểu rành rẽ tự dạng chữ Hán Nôm. Trong mấy ai đó có bao nhiêu người tiếp cận được kho tư liệu ngày xưa để tìm những minh chứng từ chỗ địa danh. Rồi địa danh đổi thay xoành xoạch qua mấy lớp bể dâu mấy tầng triều đại, mấy ai đó dễ gì đủ điều kiện để đi tìm cho tới nơi tới chốn. Chẳng hạn với địa danh Bả Canh, vị trí của Bả Canh nằm trong vòng thành Đồ Bàn và cũng là kế cận Nhơn Thành bây giờ (Nhơn Thành là nơi mà Thực Lục Tiền Biên trên kia đã cho là Phủ Thành Qui Nhơn dời ra đây năm 1744), Bả Canh được hiểu theo nghĩa là “cầm cày”, hay là “cày ruộng quan”, hay bằng một ngữ nghĩa nào khác nữa (!?).

Đọc lại Địa Bạ Bình Định lập năm Gia Long 1815 thì Trường Cửu Bả Canh Chánh Hộ ấp của Thuộc Thời Đôn, Huyện Tuy Viễn, Trấn Bình Định lúc ấy có 24 mẫu quan điền, công điền 48 mẫu, tư điền có 90 mẫu. (Quan điền là loại ruộng công do quan chức quản lý, để cho lính hoặc dân, cũng có thể là dân ở nơi khác đến cày cấy nộp với mức thuế cao thu làm quốc khố. Công điền cũng là loại ruộng công nhưng do xã thôn quản lý, chia cho dân của xã thôn canh tác theo một định kỳ nào đó). Đến năm 1832, Minh Mệnh đổi gọi Trấn Bình Định là Tỉnh, vua cho tiến hành chính sách quân điền ở đây. Sau khi bình quân, chia lại ruộng đất, Ấp Trường Cửu Bả Canh Chánh Hộ đã rút gọn tên họ thành Thôn Bả Canh của Tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, Tỉnh Bình Định (hiện bây giờ là Bả Canh của Phường Đập Đá, Thị xã An Nhơn). Lúc nầy mới té ra quan điền ở đây tăng gần gấp đôi (42 mẫu), gộp với công điền lên tới 119 mẫu trong khi tư điền chỉ còn 45 mẫu. Bả Canh thời đó đã là chánh hộ ấp chớ không phải là khách hộ ấp, có nghĩa là tên của nó đã có trong sổ bộ thu thuế tự đời nảo đời nao. Bả Canh nằm trong vòng thành Đồ Bàn, ruộng đất ở đây đa phần là quan điền, chính quyền cho thu tô cao để chiết lập quân lương cho thành trì. Chữ Bả theo tự dạng chữ Nôm có khác một chút theo tự dạng chữ Hán. Xem vậy không thể chỉ tra tự điển Hán Việt thấy Bả nghĩa là cầm nắm, Canh nghĩa là cày bừa mà cứ gọi đại ra Bả Canh là cầm cày. Cày bừa và Cái cày bản thân ngữ nghĩa đã khác hẳn nhau, ấy vậy mà Hán ngữ còn thêm chuyện đồng âm dị tự đem đến bao nhiêu điều tréo cẳng ngỗng. Ngày nay có nhiều người đã diễn dịch tên gọi Qui Nhơn có nghĩa là con người quy tụ về đây, trong khi đó tự dạng chữ Nhơn trong Qui Nhơn có nghĩa là “lòng nhơn” là nhơn nghĩa chớ không phải là “người”. Ngữ nghĩa lại còn lắm điều kỵ húy phải cải lại kiểu viết, cải lại kiểu đọc từng làm đau đầu các sĩ tử ngày xưa khi đi thi nữa là. Xưa vợ của Thái tử Đảm (vua Minh Mệnh sau nầy) tên là Hồ Thị Hoa, vua cha Gia Long ban sắc chỉ kiêng kỵ tên Hoa. Việc thương yêu con dâu quá đáng của vua đã dẫn đến chuyện Phường Hoa Phúc của xã Thời Lượng, Tổng Hạ, huyện Phù Ly (chính là vùng đất Phường Nhơn Thành, Gò Găng của An Nhơn bây giờ, lúc đó thuộc Tổng Hạ huyện Phù Ly tức là Phù Cát ngày nay); hoặc là Thôn Phong An của Phù Cát bây giờ nguyên trước xưa là ấp Hoa An cũng của xã Thời Lượng, tất cả thần dân đều phải đọc trại ra thành Ba Phúc phường, Ba An ấp. Ngay như Phúc cũng là đọc trại từ âm Phước của Hán ngữ, vì kiêng húy chữ Phước là bối tự – chữ lót của họ vua. Đi điền dã để sưu khảo, khi hỏi mấy cụ ngày xưa mà không lưu ý âm đọc thì chỉ có nước sa vào mớ rối bòng bong ngữ nghĩa.

Thông qua việc tìm hiểu địa danh để minh chứng vì sao Chúa Tiên đổi gọi tên Phủ Hoài Nhơn được đặt ra từ thời Lê Thánh Tông thành Phủ Qui Nhơn, vì sao Chúa Nguyễn Phúc Tần đổi gọi tên Phủ Qui Nhơn của chúa Tiên thành Phủ Qui Ninh quả là không dễ. Còn thông qua các bộ sử của Đại Việt cũng chưa thấy đâu dấu tích tên của Phủ thành gọi cho Thành Đồ Bàn là lỵ sở của Phủ thời ấy. Cuốn hồi ký của giáo sĩ Cristophoro Borri (1583 – 1632) ghi chép lại thời gian ông đến với Đàng Trong, nay đã được in thành sách ở Việt Nam dưới tên “Xứ Đàng Trong Năm 1621”, cuốn sách có nhiều tư liệu quý giá cho biết bối cảnh Quảng Nam và Qui Nhơn thời bấy giờ, nhưng cũng chẳng cho thấy rõ Dinh quan trấn thủ thời ấy như thế nào (Quan trấn thủ ở đây chính là Khám Lý Trần Đức Hòa, người đã tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi).
Khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên gọi Phủ Qui Nhơn của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, tên Qui Nhơn mới được biết nhiều, nhắc nhiều, hẳn nhiên qua đó cũng có tên của Phủ Thành Qui Nhơn.

Với Chuyện Chàng Lía – Văn Doan Diễn Ca, lướt qua chỗ sau khi xưng hiệu Sơn vương, Lía đem lâu la rời sơn trại đi đánh quan binh :

“… Bình Hòa kéo xuống, đông đà quá đông.
Quan thành nghe báo một khi,
Tức thì ra lịnh điểm binh trừ loàn.
Hai bên giáp chiến một khi,
Trống giong cờ phất, hơn hai ngàn người…”

Lía đánh quan binh, quan giữ thành đưa lính ra kháng cự mà không biết ở đây là thành nào, quan quân thua trận phải “Chạy về Bình Định đặng mà xin binh…”.

Còn với Tây Sơn Lương Tướng Ngoại Truyện của Cụ nghè người Nhơn Hậu – An Nhơn, Bình Định là Nguyễn Trọng Trì (1854 – 1922), trong chuyện Đô Đốc Nguyễn Văn Tuyết nói rõ hơn lên là có hành cung ở Qui Nhơn khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát xa giá đến đây :

“Xa giá của Chúa Nguyễn đến Qui Nhơn. Một mình Nguyễn [tức là Nguyễn Văn Tuyết] ban đêm vào hành cung, thấy canh giữ rất nghiêm ngặt, không thể đến gần (chúa) được, bèn rẽ vào vườn sau. Nghe ngựa hí, tiếng rất hùng tráng khác ngựa thường, biết đây là giống ngựa hãn huyết (mồ hôi có màu máu), lòng hồi hộp, bèn lấy trộm ra. Một đêm chạy năm sáu trăm dặm đến An Khê trời chưa sáng tỏ. Ngựa tên Xích Kỳ, là cống vật của Cao Man. Chúa rất yêu thích, nên xa giá xuống phương nam cũng đem ngựa theo. Đến Qui Nhơn một đêm bỗng mất ngựa, bèn xuống chỉ tìm khắp nơi.

Lúc bấy giờ Nguyễn Khắc Tuyên làm Tuần Phủ Qui Nhơn, nghe tin sợ quá, cho người cỡi ngựa rảo tìm bắt kẻ trộm. Nhưng rốt cuộc không tìm được. Tuyên suýt phải tội. Trương Phúc Loan hết sức cứu mới được miễn…”

Tây Sơn Lương Tướng Ngoại Truyện không cho thấy rõ hành cung nơi Chúa ở khi Chúa đến phủ Qui Nhơn là nơi nào, ở ngay trong Phủ Thành hay hành cung dựng tại một địa điểm ở đâu đó ngoài thành. Dù sao Tây Sơn Lương Tướng Ngoại Truyện cũng cho biết Tuần phủ Qui Nhơn lúc ấy là Nguyễn Khắc Tuyên, cũng giống như Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện Quyển 30 của Quốc sử quán nhà Nguyễn xác nhận :

“Nhạc là người nhiều mưu cơ trí trá, một hôm tự ngồi vào trong cũi, sai bè lũ xe đến nói là bắt được Nhạc giải nộp, Nguyễn Khắc Tuyên không ngờ là dối, sai mở cửa thành để nhận, đêm hôm ấy bọn lũ của Nhạc lẻn vào đốt doanh giết tướng, chiếm cứ lấy thành…”
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục Quyển 44 của Quốc Sử Quán nhà Nguyễn cũng ghi nhận việc Nguyễn Nhạc khi dấy nghĩa, năm 1773 đã đánh chiếm Thành Qui Nhơn bằng chiến tích ly kỳ như trong Liệt Truyện :

“Văn Nhạc là người nhiều cơ mưu trí tuệ. Một hôm, tự ngồi vào trong cũi, rồi sai đồ đảng luân chuyển báo đi rằng : Bắt được Văn Nhạc đem giải nộp trấn doanh. Viên tướng giữ trấn không ngờ là sự trí trá, bèn mở cửa doanh thu nhận. Đêm hôm ấy, đồ đảng của Nhạc lén đến ngoài thành, Nhạc liền phá cũi mà ra, mở toang cửa thành, đốt doanh trại, giết tướng giữ trấn, bèn chiếm cứ thành Qui Nhơn…”

Nhưng ở đây, theo lời chua trong Cương Mục thì thành Qui Nhơn lúc ấy lại chính là Thành Đồ Bàn ngày xưa [3]. Như vậy có hay không có việc đã chuyển dời lỵ sở Phủ Thành Qui Nhơn từ Phường Hoa Phúc (Nhơn Thành bây giờ) trở lại Đồ Bàn ngay trong thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát cai trị Đàng Trong, hay vào thời Chúa Nguyễn Phúc Thuần sau đó. Hay là Cương Mục đã chép sai !

Lần theo sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên – nxb Giáo Dục năm 2001, đây là bộ sử biên niên của Quốc Sử Quán nhà Nguyễn đã được Viện Sử Học phiên dịch và hiệu đính, cho in lại. Trong Quyển 10, niên đại 1742 có chép :

“Nhâm Tuất, năm thứ 4 [1742], đổi phủ Qui Ninh làm phủ Qui Nhơn, phủ Diên Ninh làm phủ Diên Khánh…”

Tìm đến năm 1744 để xác định lại năm Chúa Phúc Khoát cho dời phủ lỵ Qui Nhơn ra phía Bắc thành Đồ Bàn thì chỉ thấy trong năm nầy nói những việc Chúa đúc ấn Quốc vương, truy tôn huy hiệu các đời, định lại triều phục… Liên quan đến Qui Nhơn thì chỉ có chép câu :
“Các Dinh đặt Trấn thủ, Cai bạ, Ký lục để cai trị. Duy 2 phủ Quảng Ngãi và Qui Nhơn lệ thuộc vào Dinh quảng Nam thì đặt riêng chức Tuần phủ và Khám Lý để cai trị…”

Không biết Thực Lục Tiền Biên của Viện Sử Học in năm 1962 có khác gì với Bộ Thực Lục tái bản năm 2001 hay không. Hiện nay với bộ Đại Nam Nhất Thống Chí – nxb Thuận Hóa năm 2006, trong Tập 3, Quyển 9 nói về Tỉnh Bình Định cũng không thấy dấu vết gì việc dời Phủ Thành Qui Nhơn ra ngoài phía Bắc Thành Đồ Bàn vào năm 1744, như Địa Chí Bình Định đã trích dẫn là có chép trong Tiền Biên của Viện sử Học bản in năm 1962. Như vậy có điều gì đã gây ra sự rối rắm ở trong các bộ sử của Quốc Sử Quán (!?)

Thư tịch cổ ngày xưa còn có Đồ Bàn Thành Ký, là phần cuối trong cuốn Nguyễn Thị Tây Sơn Ký [4] của cụ Hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển người Cát Hanh – Phù Cát, Bình Định (1827 – 1865), bài ký có nhắc đến phủ thành Qui Nhơn nằm ở phía ngoài Thành Đồ Bàn. Theo bản dịch của cụ Tô Nam Nguyễn Đình Diệm (chuyên viên Hán học của phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa), in trong Tập San sử Địa số 19 & 20 – Sài Gòn 1970 có đoạn :

“Sau lưng Thành Chàm có núi Thập Tháp, trước mặt núi có ngôi chùa danh tiếng, là nơi tu hành của vị sư bên Tàu tên gọi Hoán Bích Hòa thượng, (chùa này xây dựng từ niên hiệu Chính Hòa năm thứ 4 tức đời Lê Hy Tông, DL 1684), trên biển có đề Thập Tháp Di Đà Tự chúa Nguyễn Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế ban cho (1691 – 1725). Cách hơn một dặm về phía tây, làm cây thông reo, tốt tươi xanh mướt, đó là Văn Miếu thờ đức thánh Khổng. Phía đông miếu còn nền móng lũy xưa đó là bức thành của phủ Qui Nhơn ngày trước (thành này thuộc huyện Phù Cát), cách hơn dặm về phía bắc thành Đồ Bàn là nơi trước kia Nguyễn Nhạc tụ họp quân Mán kéo xuống đánh thành Qui Nhơn, rồi tu sửa thành Đồ Bàn để làm quốc đô, còn nền móng thành Qui Nhơn phế bỏ…”

Tựu chung các sách sử nói về phế tích Phủ Thành Qui Nhơn chắc chỉ có bài ký của cụ Hoàng giáp là nhắc rõ hơn cả. Cụ Nguyễn Văn Hiển và em là Nguyễn Văn Sách cùng đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ năm Thiệu Trị 1846, năm sau thi Hội ông đỗ Tiến sĩ Đệ nhị giáp, làm quan tới chức Tuyên phủ sứ đạo Phú Yên. Gốc quê ông ở xã Mỹ Chánh huyện Hải Lăng (Quảng Trị), nhưng sinh ở làng Vĩnh Ân, Phù Cát nên thường gọi là Ông Hoàng giáp Vĩnh Ân. Theo Nguyễn Phu và Nguyễn Thiều trong cuốn Các Nhà Khoa Bảng Bình Định Dưới Triều Nguyễn (nxb Thuận Hóa 2004) thì sau khi đỗ ông được bổ Hàn lâm Tu soạn, sau thăng Hàn lâm Thị Độc, nhưng vì mẹ già yếu nên xin về quê phụng dưỡng. Sau đó lại được triều đình bổ Đốc học, hàm Hàn lâm Thị Giảng, rồi thăng Án sát Quảng Ngãi. Ông mất năm 39 tuổi khi còn tại chức Tuyên phủ sứ ở Phú Yên. Nghe truyền rằng ông có trí nhớ giỏi không khác gì Lê Quý Đôn. Trong Đồ Bàn Thành Ký ông có nói ông soạn bài nầy thể theo lời yêu cầu của quan Hộ đốc họ Bùi khi về trị nhậm ở Bình Định. Như vậy bài ký nầy có thể được làm trong khoảng thời gian ông về Vĩnh Ân – Phù Cát phụng dưỡng mẹ già.

Không phải ai cũng có thiên năng bẩm sinh như Hoàng giáp Vĩnh Ân Nguyễn Văn Hiển hoặc Quế Đường Lê Quý Đôn để đủ điều kiện đọc, hiểu, biết hết những tri thức của nhân loại, những di cảo của người xưa. Sách vở chỉ là một trong những mối dây. Những khẩu truyền trong dân gian, những di chỉ, những dấu vết sinh sống, xây dựng… của người xưa là những mối dây khác nữa. Tìm lại quá khứ không thể thậm tin vào sách, cũng không thể hời hợt đào xuống bới lên. Chắc có lẽ cũng không quá hời hợt, cũng không quá thậm tin nên hiện nay ở Bình Định đã có bia Di tích lịch sử Phủ Thành Qui Nhơn, đặt tại Phường Nhơn Thành, Thị xã An Nhơn. Gọi “nơi đây là lỵ phủ Qui Nhơn dưới chính quyền nhà Nguyễn Đàng Trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm 1773 nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm và dùng làm căn cứ quân sự”.

Tấm bia trên kia đã mặc nhiên công nhận : với Di tích Phủ Thành Qui Nhơn, những ghi chép lưu truyền trong dân gian đã có giá trị thực hơn những gì sử thần đã chép.

Nói cho cùng, Phủ Thành Qui Nhơn hồi ấy tọa lạc tại vùng Nhơn Thành bây giờ, xem ra nó tồn tại chỉ khoảng 30 năm, trong thời gian đó nó không nói hơn được điều gì về mặt lịch sử ngoài chiến tích nghĩa quân Tây Sơn hạ thành khá ly kỳ, huyền thoại. Lịch sử Thành trì của Qui Nhơn hầu như đã dồn nén hết vào Thành Đồ Bàn cũ. Khi Nhà Tây Sơn sửa chữa Thành Đồ Bàn làm Thành Hoàng Đế cho triều đại mới, sau đó ở đây đã chính là nơi xuất binh vào Nam “quét sạch 300 chiến thuyền Xiêm La do Phúc Ánh lưu vong rước tới”, là nơi xuất binh vượt ra Bắc xóa tan phủ Chúa, để rồi sau đó “đánh tan 20 vạn hùng binh Mãn Thanh do Duy Kỳ khất lân lĩnh về”. Nhưng cũng chính nơi đây trào tuôn những giọt nước mắt khóc cho cảnh anh em, chú cháu bất hòa đem binh vây hãm, nồi da xáo thịt bắn giết nhau. Cũng chính nơi đây sau đó chẳng bao lâu, đại binh Phú Xuân hơn một năm trời công phá đã tiến vào thành mà tha hết quân binh giữ thành, chẳng giết một ai, thể theo lời thỉnh cầu của 2 chủ tướng họ đã xin trước khi tự thiêu, uống thuốc độc tuẫn tiết.

Thành trì là nơi để tứ dân an toàn trú ngụ yên ổn mưu sinh. Nhưng bi hùng của Thành trì là mang mang đâu đó câu “nhất tướng công thành vạn cốt khô” …

Phan Trường Nghị

——————————–
[1] Đại Nam Nhất Thống Chí – Quốc Sử Quán Triều Nguyễn – Viện Sử Học, nxb Thuận Hóa 2006 – Tập 3, trang 7
[2] Địa Chí Bình Định – Website Sở Khoa Học và Công Nghệ Bình Định : Bình Định Thiên Nhiên, Dân Cư và Hành Chính – Phần III Địa Chí Hành Chính – Chương XI Tổ chức Hành Chính và Bộ Máy Quản Lý Nhà Nước – Mục II Dưới Thời Các Chúa Nguyễn :
http://www.dostbinhdinh.org.vn/diachibd/TNDCHC/P3_chuong_11.htm
Phủ lỵ dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay là xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn)16. Phủ lỵ được xây đắp thành lũy kiên cố. Hiện còn dấu vết của bờ thành đắp bằng đất.

Chú thích :
16 Đại Nam thực lục tiền biên, Sđd, tr. 208
[3] Trang 936 – Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – nxb Giáo Dục 1998
[4] Sách do Trường Viễn Đông Bác Cổ in microfilm, được tàng trử tại Viện Khảo Cổ Sài Gòn trước năm 1975.
.

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

THỀ

Không có ai ở ngoài thềm
Chỉ nghe bóng lá đi tìm bóng khuya
Nhịp của ngày đi, tôi về
Những bước chân như rủ rê tôi rằng
Về đi, đêm có ánh trăng…

NGUYỀN

Không có ai ở ngoài thềm
Chỉ nghe bóng lá đi tìm bóng tôi
Chia nhau hai nỗi đơn côi
Xin dành riêng lại nụ cười, làm duyên
Đêm nay có cuộc thề nguyền…

HẸN

Cầm tay giây phút. Hẹn về
Rằng ra đi. Sẽ đi về giấc mơ
Nghe thân đá lạnh bao giờ
Mọc xanh bờ tóc để chờ thủy chung
Bóng reo, đá nhỏ lệ mừng

Nguyễn thị Khánh Minh

Một Phương Trời

nguyenducbatngan

người đắng ngắt một đời sông núi
cơn mưa chiều vồ vập
ta đau
đêm gió dậy bao vòng lửa rối
một phương trời
hai phương đất
trông
nhau

người ở lại nuối nghìn biển rộng
ta ra đi quên vạn sông dài
chút hạnh phúc
mòn
như
ảo vọng
sao hôm buồn
chợt
tắt
sao mai

con chim đậu cành cao bão tuyết
trái tim nào đang đâm chồi sương
cánh buồm lộng
đưa tay
chào
vĩnh quyết
bọt sóng gào
chìm
khuất
quê hương

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

CƯỠI NGỌN SẤM(12)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 7

Một thoáng thiên đường… và rồi quay thẳng về địa ngục

Nghỉ phép tại Hawaii
Mùa hè 1967

Các cuộc hành quân liên tục hằng ngày tại Việt Nam đã tạo nên một sự căng thẳng cùng cực trong 15% tổng lực lượng quân số tác chiến và 85% thuộc lực lượng yểm trợ về các mặt tiếp liệu, ẩm thực, doanh trại và y tế. Các đơn vị lãnh nhiệm vụ tại Đông Nam Châu Á một khi đã trú đóng rồi thì không rời khỏi nơi đó. Không phải chuyện luân chuyển toàn bộ các Tiểu đoàn hay Không đoàn nhằm giữ một mối liên kết thích hợp cho cả một tổ chức, mà quyết định ban đầu của cấp trên chỉ thuyên chuyển các cá nhân đã tạo ra nhiều tranh cãi nhất. Trong mỗi đơn vị tác chiến có những quân nhân mới từ trong nước sang, mặt mũi sáng sủa và được huấn luyện khá kỹ lưỡng nhưng chưa được thử lửa ngoài trận địa bao giờ. Trong khi đó thì có các chiến binh kỳ cựu, đa số chỉ nôn nóng được trở về nước và đang chờ đến phiên mình. Sự hỗn hợp giữa lính cũ và lính mới đã tạo ra một sự khó khăn lớn cho vấn đề chỉ huy ở mọi cấp đơn vị.

Một trong những quyền lợi của chu kỳ nhiệm vụ thường kỳ 12 hay 13 tháng tại Việt Nam là các quân nhân có cơ hội ít nhất là một lần, hoặc hai lần nếu người đó vô cùng may mắn, được năm ngày nghỉ phép tại các nơi xa vùng chiến trận. Theo qui định thì những khu nghỉ mát này không nằm trong các khu vực thuộc nội địa nước Mỹ. Do đó những địa điểm thông thường nhất là Hongkong, Bangkok, Taipei, Penang, Australia và Hawaii.

Các địa điểm vùng Á châu được những người độc thân ưa thích nhất nhờ mãnh lực của đồng đô-la và luôn sẵn có các kiều nữ để thỏa mãn các nhu cầu căn bản về thể xác của họ. Các huyền thoại về rượu chè và trụy lạc thì đầy dẫy và không thiếu gì các chàng trai trẻ nôn nóng muốn được trải qua kinh nghiệm này. Đối với những người đã có gia đình hay đã có người yêu thì Hawaii là nơi họ thích nhất.

Giống như Gibraltar của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hawaii có một khí hậu gần như tuyệt vời nhất và mùa hè quanh năm tại đó là nơi lý tưởng để những người con của đất nước hồi phục lại sức khỏe bên cạnh các bà vợ hay người yêu đi theo.

Công tác chuẩn bị cho một chuyến dưỡng sức tại Hawaii là một giải pháp 50-50. Quân đội có nhiệm vụ đưa các quân nhân qua phía Đông và các phụ nữ tự sắp xếp để đi qua hướng Tây. Thông thường thì các phụ nữ đến trước người thân của họ.

Những bà vợ và bạn gái mới đến thường dễ nhận ra. Họ là những người duy nhất có kiểu tóc đúng mốt, da chưa sạm nắng và mặc những bộ đồ tân thời nhưng khá thường đối với tiêu chuẩn thời trang của Hawaii. Vẻ mặt họ tràn đầy hy vọng và phấn khởi, các cặp mắt đảo quanh mọi phía để cố tìm chàng chiến sĩ hay TQLC của họ với niềm hy vọng mong manh là anh đã đến sớm hơn và mang lại cho họ một sự bất ngờ thích thú. Họ hoàn toàn tương phản với những người vừa mới tiễn người thân ra đi.

120 giờ nghỉ phép bắt đầu và họ cương quyết sẽ sống từng giây phút một cách có ý nghĩa nhất, sẽ tạo dựng những kỷ niệm êm đềm nhất trong trường hợp chẳng may sau khi phải chia tay nhau lúc đồng hồ điểm 12 giờ đêm, sẽ không còn có một cuộc hội ngộ nào khác, hoặc giả đoạn kết của câu chuyện thần tiên của họ không phải là loại có hậu.

Trung tâm tiếp đón là trại DeRussy nằm trong lòng thành phố Honolulu, nơi vùng Ewa, đầu đại lộ Kalakaua và là đoạn đầu của vùng Waikiki. Nơi đây là trọng tâm, là điểm khởi đầu và chấm dứt của tất cả các kỳ nghỉ phép dưỡng sức. Thế giới xoay vòng trong vùng đất thiêng liêng một vài mẫu đất đó và khi mặt trời quay đủ năm vòng cho từng cặp nam nữ, họ đã sống qua những cảm xúc nồng nàn nhất cũng như các giây phút đau khổ nhất vì thời gian không đủ cho nhau.

Trong một khoảng khắc ngắn giữa hai buổi hoàng hôn, người chiến sĩ hay lính TQLC có thể được bốc ra khỏi mặt trận từ một cánh đồng ruộng hay khu rừng già, được tống lên máy bay và sau đó không lâu được nhâm nhi ly rượu pha mai-tai với vợ hay người yêu trong lúc thưởng thức giọng hát của ca sĩ Don Ho chính hiệu trong khu chợ quốc tế tại Waikiki. Khả năng của trí óc nhằm đáp ứng với sự chuyển tiếp bất ngờ này thường bị quá tải và làm họ không còn biết đâu là thực tế nữa.

Nếu người lính đó được đi phép thẳng từ một đơn vị đang chiến đấu thì rất khó cho họ lắng dịu lại tâm hồn, bớt thủ thế đi để trở thành một người chồng đáng yêu biết lắng nghe vợ. Điều này đòi hỏi họ phải có khả năng quyết liệt tách biệt những cảm xúc ra khỏi các sự kiện họ đã trải qua. Thật khó mà có thể bỏ qua hết mọi thứ đằng sau trong một thời gian ngắn như vậy và hành xử như thể đang thực hiện một công vụ kéo dài nào đó, nhất là khi biết chắc chẳng bao lâu nữa sẽ phải trở về lại cái lò xay thịt kia.

Đối với những bà vợ và người yêu, đặc biệt là các bà đã làm mẹ thì phải cố tạo ra một hình ảnh tươi vui nồng thắm, phải chứng tỏ mình là yếu tố giữ chặt mối tình cảm gia đình trong thời gian ngăn cách trầm trọng này. Những nỗ lực trong thời gian qua nhằm làm giảm thiểu các khó khăn của cuộc sống chiếc bóng nuôi con, những lời cầu nguyện hằng ngày xin sứ giả của Thần Chết hãy tránh xa ngưỡng cửa nhà phải được xếp qua một bên trong một vài ngày tới đây. Mọi thứ không được quá đáng, nhất là không được than vãn vì đây là lúc mọi chuyện phải tuyệt đối hoàn hảo. Đã đến được lúc này rồi. Lạy Chúa, phần còn lại của chu kỳ nhiệm vụ chỉ có thể xấu hơn nữa từ đây mà thôi.

Các phụ nữ đến lẻ tẻ từng người một từ miền Tây hay xa hơn là từ miền Đông nước Mỹ. Họ được hướng dẫn về các phương tiện di chuyển dưới sự dẫn dắt của các nhân viên liên lạc quân sự tại phi trường quốc tế Honolulu. Rốt cuộc rồi mọi người cũng tụ họp lại trong khu Waikiki. Thường thì họ có đủ thời giờ để lấy phòng, sửa soạn chương trình, giải quyết vài chuyện lặt vặt và sắp xếp để mọi chuyện sẽ diễn tiến như ý muốn một khi những chiếc xe buýt chở người thân của họ đến.

Trong khu tiếp tân là địa điểm của những chiếc xe buýt chở các quân nhân đến, mùi thơm của những tràng hoa tươi leis hòa chung với mùi hương của từng người phụ nữ đã cố ý xức các loại nước hoa tốt nhất mặc dù khí hậu ẩm ướt của vùng đảo Thái Bình Dương không quen thuộc lắm đối với mọi người. Nhạc nền Hawaii dập dình phía sau, nếu nghe kỹ thì thấy khá tươi vui, sôi động nhẹ nhàng như báo trước những điều tốt lành sắp xảy ra.

Các nhà kế hoạch quân sự đã tỏ ra sáng suốt trong công tác chuẩn bị cho các quân nhân đi nghỉ phép dưỡng sức. Những người nào bắt đầu thời gian sung sướng này được tách riêng ra về thời điểm cũng như khu vực đối với những người sắp sửa phải chịu đựng sự đau khổ của biệt ly. Tuy vậy, những phụ nữ mới đến cũng thoáng nhận ra họ trong lúc rời phi trường hoặc nếu họ còn nán lại ở Waikiki.

Họ là những người buồn rầu ủ rũ với các khuôn mặt chảy dài và cặp mắt sưng húp cho thấy họ vừa mới khóc như mưa. Bây giờ làn da họ đã rám nắng hơn và bắt đầu bị lột từng mảng vì không phải tất cả các cuộc nghỉ phép đều xảy ra trong bóng mát. Họ đã thay đổi y phục nội địa bằng trang phục Hawaii sau một chuyến viếng thăm Hilo Hattie hay Ala Moana Center. Đối với họ, chuông đã điểm 12 giờ đêm và câu chuyện cô bé lọ lem thần tiên đã chấm dứt, cỗ xe ngựa đã trở lại thành quả bí và các người hầu đã trở thành chuột cả rồi. Những gì còn lại chỉ là kỷ niệm và lời nguyện cầu cho niềm hi vọng là phần hai của chu kỳ nhiệm vụ sẽ mang lại người thân trở về, và mọi chuyện sẽ trở lại y như hồi anh mới ra đi.

Các chuyến bay đến Hawaii từ Việt Nam đa số là thuê của bên dân sự. Ngay khi vừa đáp xuống phi trường, các quân nhân được nhanh chóng đưa lên các chuyến xe buýt đang chờ sẵn để trực chỉ về trại Ft. DeRussy cho cuộc hội ngộ đầy mong đợi.

Cứ mỗi một chiếc xe buýt đậu lại là có một nhóm phụ nữ ùa đến đón chào. Sự mong đợi và háo hức cuối cùng được kiềm chế lại bằng những tiếng rên mừng rỡ và những nụ hôn dài say mê. Khi cuộc đón tiếp ban đầu lắng dịu dần thì mọi người bắt đầu ý thức một cách sâu sắc về yếu tố thời gian. Con “bồ tượng” vô hình đã bước vào phòng rồi và cho dù họ có làm gì đi chăng nữa trong vòng 120 tiếng đồng hồ tới đây, hoặc ít hơn thế nữa, nó sẽ vẫn nằm chình ình tại đó và sẽ hút đi từng khối dưỡng khí càng lúc càng mạnh dần từ những giây phút hạnh phúc còn sót lại mà các cặp tình nhân có thể san sẻ cho nhau.

Bên cạnh những điều hiển nhiên mà những cặp vợ chồng xa cách nhau lâu ngày cần phải trao đổi cho nhau còn có những tiết mục bắt buộc phải có đối với mọi du khách đến thăm viếng hải đảo. Hawaii tràn ngập các tiệm ăn ngon và các câu lạc bộ đẹp. Ngoài những lúc âu yếm hay ăn uống thì họ đến các nơi như Kodak Hula Show, Polynesian Cultural Center, lặn hụp xem cá tại Hanauma Bay, đi thăm vùng North Shore, hoặc mua sắm tại hàng trăm các cửa hiệu bán lẻ sẵn sàng đáp ứng cho những người mới tới này. Các quân nhân đi nghỉ phép thường rất dễ nhận ra đối với các du khách thường, đa số lớn tuổi hơn, không khỏe mạnh bằng và nếu họ còn tóc thì thường để dài hơn.

Dù cùng một điểm hẹn nhưng nếu cho rằng hai vợ chồng John Ripley đến từ hai hành tinh khác nhau cũng không ngoa chút nào. Cái thế giới mà mỗi người đang sống không còn cùng là một nữa.

Chú bé Stephen Ripley hai mươi mốt tháng tuổi đã được bà ngoại yêu quý nhận chăm sóc tại tỉnh nhà Radford, Virginia cho nên Moline có thể yên tâm tập trung vào việc đi thăm chồng.

Moline Ripley diện một bộ đồ mới y chang như từ trong số cuối của tạp chí thời trang Ladies Home Journal hay Good Housekeeping bước ra thành thử người vợ TQLC này đã được mời lên ngồi ghế hạng nhất trong chuyến bay đầu tiên trong đời, một dấu hiệu báo trước điềm lành và là một cách tuyệt vời nhất để khởi đầu một chuyến đi lý tưởng.

Trong khi đó thì tại giao thông hào cuối phi đạo Đông Hà không có cả nóc che để bảo vệ hỏa tiễn và pháo kích thì làm sao có nổi các phương tiện để John Ripley sửa soạn qua loa trước chuyến bay nghỉ phép của mình? Co cụm cùng với nhiều chiến sĩ TQLC từ các đơn vị khác nhau đến, Đại úy Ripley chờ chuyến bay “Chim Tự Do” chở họ đến Hawaii. Họ nằm trong bùn ngóng chiếc C-130 đang hạ cánh từ phía đầu kia của phi đạo. Khi đáp được xuống đất rồi thì cái mục tiêu di động khổng lồ đó sẽ quay ngược lại chạy chầm chậm trên phi đạo với tấm bửng phía đuôi hạ xuống, vừa đủ để các hành khách phóng vội lên máy bay, vừa khấn là bọn quan sát Bắc Việt không có đủ thời giờ để pháo kích một vài quả đạn. Khi người chậm chân nhất lên được máy bay rồi và đưa ngón cái ra hiệu mọi chuyện tốt đẹp, trưởng phi hành đoàn đóng bửng lại và phi công tống ga tối đa cho máy bay cất cánh nhắm hướng Đà Nẵng để rồi chuyển tiếp sang các địa điểm khác nữa về hướng Đông. Thời gian máy bay ở mặt đất hiếm khi quá 60 giây đồng hồ. Thật là một kiểu kỳ lạ để điều hành một đường bay.

Chuỗi dài các vấn đề, các sự kiện đã xảy ra cùng với các cảm xúc và sự căng thẳng phải đối phó trong khoảng thời gian năm ngày trong nắm ấm Hawaii quá đủ để thử thách sự tỉnh táo và ổn định của bất cứ cuộc hôn nhân hay mối quan hệ thân thiết nào.

Đến thẳng từ vùng chiến sự Việt Nam, sự căng thẳng của người lính được cộng hưởng thêm bởi sự kiện họ không có thời gian định thần lại và nỗi ân hận đã tạm bỏ rơi các chiến hữu lại phía sau. Bây giờ lại đến thời hạn đau đớn của 120 giờ phép và sự khó khăn không biết phải phải kể lại hay dấu vợ những gì mà anh đã thực sự trải qua.

Đối với người phụ nữ thì tất cả những điều như không hiểu được chồng để thực sự thông cảm cho anh, sự dằn vặt có nên biết hay không về những gì đã xảy ra cho chồng và viễn ảnh phải biệt ly lần nữa, có thể là lần cuối cùng, đã làm cho cõi lòng họ tan nát. Vì họ thường là những người ra đi sau cùng thành thử họ giống như bị bỏ rơi lại, thường là cô đơn một mình trong cái cõi thiên đường để bắt đầu cuộc hành trình dài trở về lại nhà.

Buồn vui lẫn lộn, cuộc đoàn tụ chua chát chỉ có thể là niềm vui nếu ai đó có đủ sức mạnh để sống cái khoảng khắc hiện tại mà thôi. Các kỷ niệm chỉ có thể đẹp và dễ chịu nếu câu chuyện có hậu để có thể nhớ lại hai mươi năm sau.

Moline Ripley đã sống sót qua trận kinh hoàng khi nghe tin chồng bị thương lần đầu. Do đó mọi lo lắng của nàng dồn vào vấn đề sức khỏe của chồng, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Khi anh bước xuống xe buýt, Moline nhận ra ngay những sự thay đổi của chồng. Nàng cảm thấy anh vẫn hào hùng và, mượn lời hát trong bài ca có tên anh trong đó: “Vai rộng hông hẹp…” Đại úy Ripley trông vẫn còn hết sức phong độ, gầy hơn một chút và làn da rám nắng hơn.

Khi Moline quàng tay ôm John lần đầu, nàng cảm thấy lưng chồng rộng và các bắp thịt rắn chắc hơn trước. Cảm giác giống như ôm một cái tủ lạnh với các sợi dây thừng và cáp sắt bọc chung quanh. Ngay cả nét mặt chàng cũng có nét sắc bén hơn, giống như được tạc một cách sắc sảo và chỉ một chút nữa là trở thành hốc hác. Nàng biết ngay mà không cần phải nghe kể nữa là chồng nàng đã trải qua quá nhiều rồi.

Năm ngày – 120 giờ phép đang cạn dần

Tận dụng khoản lương đại úy còm cõi, John và Moline cố gắng tận hưởng sự sang trọng và lãng mạn của khách sạn Princess Kaiulani. Nằm tại khu vực Diamond Head phía đoạn cuối của Waikiki, khách sạn Princess Kaiulani pha trộn sự quyến rũ cổ kính của Hawaii thời trước và tinh thần hiếu khách “Aloha,” tuy bớt cuồng nhiệt hơn tại đây. Điều này hoàn toàn phù hợp cho nhu cầu của hai người. Từ khách sạn, họ có thể thả bộ một cuốc ngắn rồi dùng cơm tối dưới ánh đèn cầy tại những tiệm ăn nổi tiếng thế giới nhất. Sau đó, khi đêm xuống, họ có thể tản bộ dọc theo bãi biển, tay trong tay và quên hết tất cả những gì đang xảy ra chung quanh họ.

Sự thích nghi lại với đời sống văn minh và cảm giác sạch sẽ là một thử thách lớn đối với Đại úy Ripley. Mặc dù anh đã có mặt tại Honolulu với một bộ quân phục tương đối tươm tất, dù các bộ khăn trải giường tại khách sạn đã được giặt giũ thật sạch, và dù cho đến ngày thứ hai anh đã tắm gội biết bao nhiêu lần, anh vẫn có cảm giác là bụi đất Việt Nam vẫn còn bám trong anh và trên thân thể anh. Anh biết chắc chắn chẳng có một tên lính Bắc Việt nào trên đảo Oahu cả nhưng sự vắng bóng hiểm nguy và đạn pháo kích vẫn mang lại cho anh một cảm giác gì đó không bình thường.

Moline chẳng màng đến những chuyện đó. Đối với cả hai, đó là năm ngày trời tuyệt vời. Xen kẽ giữa những lúc đi chơi ngoài bãi biển, đi thăm các nơi, đi ăn hoặc làm những chuyện gì khác họ vẫn còn thời gian để đi xem phim. Cuốn phim The Sand Pebbles do tài tử Steve McQueen đóng vai chính vừa mới được trình chiếu tại rạp Waikiki Theater nằm phía dưới khách sạn dọc theo bãi biển. Đây là một cái rạp xi-nê khá cũ và cổ kính nhưng rất lịch sự. John Ripley đã có dịp được đọc cuốn sách trong lúc công vụ trên biển rồi và nay vì đã là một người từng trải kinh nghiệm tại Á Châu cho nên anh rất thông cảm những vấn đề và trường hợp mà các thủy thủ chiến hạm đó phải đối phó, những điều mà cấp trên chưa bao giờ huấn luyện họ. Ngoài chuyện đó ra thì không khí mát lạnh của máy điều hòa nhiệt độ, được ngồi thoải mái trên những chiếc ghế bọc nhung êm ái, ăn bắp rang và nắm tay Moline thì quả thật là hết sức thú vị.

Đối với John Ripley thì chuyến đi nghỉ phép sẽ hoàn toàn lý tưởng nếu được gặp đứa con trai Stephen. Cơ thể anh ước ao được ôm ấp và nựng nịu thằng bé. Đến giờ này chắc nó cũng chẳng còn biết bố nó là ai nữa.

Moline đã cố gắng hết sức để bù đắp điều thiếu sót này trong cuộc đoàn tụ. Nàng đã mang theo trong giỏ hàng trăm tấm hình chụp Stephen. Nàng đã chụp tất cả những tình huống có thể mường tượng được, ngày cũng như đêm và các giai đoạn con đang lớn và kể lại cho John nghe các câu chuyện lý thú về nó. Họ nói chuyện với nhau bất tận về đứa bé.

Đối với một người có tâm hồn như John Ripley thì chuyến viếng thăm địa danh mà người dân Hawaii xưa gọi là Pu’owaina, còn tất cả mọi người khác đặt tên là Punchbowl là một điều tiền định không thể tránh khỏi. Đây là nghĩa trang quốc gia của vùng Thái Bình Dương nằm trong miệng núi lửa cũ tại Honolulu, giữa đường từ Diamond Head đến Pearl Harbor. Nơi này là đất thánh cho lòng quả cảm và thịt xương của quân đội Hoa Kỳ đã đổ ra trong các trận chiến chống lại kẻ thù của đất nước. Trong một cảm giác khá rùng rợn, với ý niệm nơi mà Đại úy Ripley sắp trở lại sau này có thể sẽ làm cho anh trở nên một “khách hàng” tương lai của cái nghĩa địa này đã bám vào tâm trí của cả hai người. Tuy vậy, điều này không làm John Ripley bận tâm. Anh và Moline chỉ đơn giản muốn nhìn thấy nó, muốn tỏ lòng trân quý, bàng hoàng trước các đền thờ và tranh ghép đá mosaic của các trận đánh Thái Bình Dương lừng danh, và cung kính tưởng niệm sự hy sinh tập thể của biết bao nhiêu thế hệ thanh niên. Lẫn lộn trong những giọt nước mắt của niềm tự hào và nỗi buồn cho các chiến sĩ vô danh đã ra đi từ lâu cũng có những giọt dành cho một số không nhỏ các đồng đội mà Ripley đã quen biết trong cuộc chiến vừa qua.

Lộ trình mà John Ripley đã trải qua đến Punchbowl, đến Việt Nam và bất cứ nơi nào mà anh phục vụ chắc chắn đã khởi đầu từ trạm ga xe lửa tại quê nhà Radford đâu đó vào khoảng thời kỳ cuối năm 1942 hay đầu năm 1943. Trong một buổi sáng điểm tâm ông cha Bud Ripley đã hỏi hai đứa con John và người anh Mike có muốn theo bố đến trạm ga xe lửa hay không? Một chuyến tàu hỏa đặc biệt sẽ chạy qua vào sáng hôm đó. Vui mừng vì có dịp được gần gũi với cha và cơ hội được ra chơi vùng ga xe lửa là điều mà cả hai không thể bỏ lỡ được.

Bud Ripley là một nhân vật có chức sắc trong ngành xe lửa. Dòng họ Ripley đã dành được sự kính trọng của dân trong cái tỉnh lẻ đó. Do đó John và Mike luôn được những người có quen biết với ông bà Bud và Verna đối xử một cách đặc biệt. Đến sớm hơn chuyến tàu, John và Mike được thả dàn chạy đi chơi quanh quất. Sân ga đầy những khách đến thăm, hầu hết ăn vận chỉnh tề giống như họ đi lễ nhà thờ vào ngày thường vậy.

Hai đứa trẻ chẳng bận tâm gì đến mọi thứ cho đến khi chuyến xe lửa hụ còi báo hiệu và từ từ tiến vào ga. Khi chuyến tàu xuất hiện, họ có thể thấy được các toa phụ treo cờ xí màu đỏ, trắng và xanh trải dài qua hết khúc cong của con đường sắt. Xe lửa không dừng lại mà chỉ chầm chậm tiến qua vùng Radford. Đám đông dân chúng hầu hết là đàn ông đều đứng thẳng trong tư thế trang nghiêm. Những người đội mũ thì dở xuống đặt vào ngực trái còn những người khác thì đặt tay phải vào tim. Mọi chuyện diễn tiến hết sức tự nhiên, thật trang trọng và hoàn toàn tự động trong niềm tôn kính sâu sắc. Nhiều người rớt lệ khi chuyến tàu từ từ vượt qua. Trong số hàng chục và hàng chục toa xe lửa là niềm tinh hoa của tuổi trẻ Hoa Kỳ đang lên đường đi chiến đấu. Hầu hết các thanh niên tỏ ra phấn khởi và chắc chắn đã kích thích sự ngưỡng mộ của đám đông. John và Mike là hai đứa bé duy nhất hiện diện, do đó đã thu hút được sự chú ý của các quân nhân, các thủy thủ, các phi công và TQLC.

Khe suối nhỏ ban đầu đã trở thành một một dòng nước lũ khi các hành khách bắt đầu ném kẹo và tiền keng xuống cho hai anh em Ripley. Thật là vui nhộn khôn tả. Tuy vậy, hơn bao giờ hết, từ thời điểm đó, John Ripley luôn nhớ đến cha mình; cặp mắt đẫm lệ cùng niềm hãnh diện sâu sắc khi ông đứng nhìn các chàng trai trẻ lên đường ra ngoài mặt trận. Ngay cả sau này khi đã già dặn chiến trận, John Ripley luôn luôn tưởng nhớ lại cái buổi sáng hôm đó và bài học yêu nước của cha với lòng bồi hồi xúc động.

Trong lúc nắm tay vợ mà không nói nên lời, John Ripley mường tượng đến các trận chiến tại Guadalcanal, Tarawa, Peleliu, Guam, Iwo Jima, Okinawa… Anh hồi tưởng đến những người đó và lính TQLC của anh. Tất cả đã pha trộn với nhau trong một lòng hi sinh như nhau.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

LẶNG LẼ

nguyenhaithao

Lặng lẽ ly cà phê
Lặng lẽ khói thuốc
Lặng lẽ cơn mộng du giữa ngày
Lặng lẽ khóc…
Giọt nước mắt đàn ông
Lặng lẽ rơi
Giữa cõi đời
Hư- thực
Tôi và nỗi cô đơn
Xé lòng!!
Lặng lẽ đi
Lặng lẽ về
Một tôi
Một hình
Một bóng
Một niềm vui
Một nỗi buồn
Và một chút hy vọng
Lấp lánh
Sau đêm đen…

Nguyễn Hải Thảo

Lời Một Người Ở Rừng Lá Khô Gửi Về Loài Chim Vương Thái Khanh

linhphuong

Anh ví tình yêu như những viên đạn đồng
Viên đạn cho em
Viên đạn cho bạn bè
Viên đạn cho anh
Viên đạn cuối cùng

Và nếu mai này
Ở rừng lá khô đại bàng gẫy cánh
Dấu ngựa hồng gục chết trên quê hương
Thì viên đạn nào cưu mang
Viên đạn nào chia xa hai đứa
Viên đạn nào ngọt bùi hương lửa
Viên đạn nào mật đắng cay nồng
Thôi đừng thương anh nữa
Quên nhau em lấy chồng
Nghe loài chim thành phố mang huyền thoại Vương Thái Khanh

Và nếu mai này
Ở rừng lá khô
Tình cờ viên đạn xuyên phá lồng ngực
Cho máu đỏ hiền hòa thấm mạch đất chứa lưu lượng phù sa
Em hãy cúi đầu
Nhưng đừng bao giờ khóc cho người yêu
Vừa nằm xuống
Ôi ! Anh suốt đời thương em
Suốt đời say mê loài chim thần thánh chở sa mù về nuôi lớn tình yêu
Ôi ! Suốt đời lo sợ
Suốt đời kinh hoàng viên đạn đồng cách ngăn người ở rừng lá khô và loài chim cánh trắng

Xin một lần anh hoài hoài ăn năn
nụ hôn đầu trên má
nụ hôn thứ nhì trên môi
nụ hôn thứ ba tội lỗi
Nụ hôn thứ tư thay ngôn ngữ đầu đời

Thôi ! Đừng thương anh nữa
Dù những ngày xa em là những ngày nhớ em
Ôi ! Trái tim muộn phiền
Anh suốt đời tội nghiệp
Như lời một người ở rừng lá khô gửi về cho loài chim thành phố mang huyền thoại Vương Thái Khanh
Anh xin một lần cầu nguyện…

LINH PHƯƠNG

Cám Ơn Thượng Đế

diemchaunguyen

– Riết rồi nhà nầy như cái Chùa!
Lời than thầm của Thúy thế mà đúng sự thật! Quanh đi quẩn lại chỉ thấy cái mặt của nàng thường xuyên hiện diện trong nhà, còn cha con nó thì hiếm khi gặp! Bíbo từ khi thân thiết với thằng Lucky, coi như ở nhà thằng kia thường xuyên hơn… vì từ trường đi về gặp nhà bạn trước! Cũng may là những khi Thuý hô lên một tiếng, thì tụi nhỏ lập tức có mặt ngay.
Từ nhỏ, Bíbo được mẹ cưng chiều, con một không cưng sao được! Nhưng dù sao thì Thúy cũng dạy dỗ con theo phương pháp của Mỹ, cùng với niềm hy vọng là mai sau, khi về già còn có con cháu quanh mình để hủ hỉ, chứ không cô độc như vài người bạn quen biết lớn tuổi.
Công nhận là lúc nhỏ thằng Bíbo nó quấn mẹ hơn những đứa trẻ khác, làm cho Thúy bằng lòng và hãnh diện, vì con người ta khi tụ lại chơi đùa có đứa nào nhớ đến cha mẹ đâu, chỉ có Bíbo cứ thỉnh thoảng chạy đến chỗ mẹ hôn một cái, rồi mới chạy chơi tiếp… và con nàng lại là một đứa đẹp trai, xinh xắn.
Trong lúc Thúy dành hết thì giờ cho công việc và chăm con, thì Văn luôn có các sinh hoạt riêng cho mình. Ngoài giờ đi làm, còn lại thì Văn dành cho họp hành thơ phú, lúc sinh hoạt cộng đồng, lúc đi văn nghệ nhảy đầm, ra mắt sách…
Vợ chồng hai xe, mạnh ai nấy đi. Văn cứ nghĩ con do vợ coi, thế nên ít khi kề cận bên thằng bé.
Sự suy nghĩ của Văn đối với gia đình là thế, Thúy cũng cho là đúng, vì nàng đã có thằng con làm điểm tựa tinh thần đủ rồi. Mỗi lần ở gần Văn, cứ đưa ra ý kiến ý cò gì, là hai vợ chồng lại hay tranh cãi, nên Thúy không thích lúc nào chồng cũng ở một bên.
Nhưng niềm vui nơi đứa con Thúy chỉ có được hoàn hảo khi Bíbo còn nhỏ. Đến năm thằng bé mười hai tuổi, nó bắt đầu không còn thích đi chung với mẹ như trước. Mỗi khi Thúy ôm âu yếm hôn con, nó lại mắc cỡ né tránh…
Lúc đầu Thúy chau mày bực bội. Khi vào sở nói chuyện, thì ra tâm trạng của mấy bà kia cũng thế! Bà Becky to mồm:
– Bà còn đỡ, con tôi khi mới mười tuổi, nó đã không cho ôm rồi!
– Tại con bà lớn xác hơn mấy đứa kia!
– Ừ… nó mới nhiêu đó mà trông như thiếu niên mười sáu, làm sao để mẹ nựng được nữa!
Mấy bà cười ha hả khi bà Rose thêm:
– Mẹ hun thì không cho, nhưng con gái ôm là Ok liền…
Biết vậy, nhưng Thúy cũng lo lắng trong thời gian đầu… rồi sau đó cũng quen.
– Mẹ nhớ đừng ôm hôn con chỗ có người!
Thằng Bíbo dặn dò, nó nói có lý, nó cũng có “sĩ diện” chứ giỡn sao!
– Con mình, mình thương mà cũng bị bắt bẻ!!!
Nghe giọng mẹ có vẽ giỗi hờn, Bíbo cười:
– À, con có đứa bạn, ba mẹ nó mất đã lâu, lúc nầy nó hay buồn vì không có ai ở gần… con giới thiệu cho mẹ nghe…
– Để làm gì?
– Thằng nầy nói với con nó thèm một vòng tay ấm áp của mẹ, một tình mẫu tử thiêng liêng mà nó đã mất… Nó tới đây mẹ được ôm đã đời luôn, hai người cùng thích!
Thúy lườm thằng Bíbo một cái đích đáng! Đúng là đùa vô duyên!
– Dẹp đi, dù sao hoàn cảnh nó cũng tội nghiệp! Con đừng có giỡn trên sự đau khổ của kẻ khác!
Tuy lẵng qua chuyện khác, nhưng Thúy vẫn thắc mắc về đứa trẻ mồ côi mà con vừa nói, định bụng hôm nào nhắc Bíbo đưa nó về đây để đãi ăn chả giò Việt Nam.
– Thằng bạn con nói nó tên gì?
– Lucky.
– Tên vậy mà đời chán thế!
– Chắc mẹ nuôi của nó đặt để lấy hên… Bà đó ít nói ít cười, con sợ lắm, bả lại mê đánh bài!
– Sao con biết?
– Nghe nó nói… khi nào buồn vì kiếm việc không ra, bả hay tới “parking” của chợ Von, nơi đó có xe bus của sòng bài đợi để chở miễn phí đến nơi chơi đánh bài trên núi.
– Bộ bả thắng hay sao mà đi hoài?
Bíbo cười lắc đầu:
– Mỗi lần chán là bả đi… mom có nghe ai cũng nói câu “đi đánh bài để góp tiền gắn bóng đèn” cho Casino không!
Thúy trợn mắt nhìn thằng con bé bỏng:
– Con còn nhỏ mà cũng biết câu nầy nữa à? Ở đâu ra mà học hay vậy?
– Thằng Lucky nó nói cho con nghe!
– Má nó hư vậy sao người ta lại cho bả nuôi nó?
– Hồi đó mới xin nó về bả cũng đàng hoàng lắm, như mom vậy đó…
– Rồi sao?
– Sau đó chồng bả mê người khác, lấy cớ không thích có con nuôi trong nhà, nhất định ly dị… nên bả thất tình, buồn mới đi chơi bài!
– Người ta buồn đi uống rượu cho quên, còn bà nầy thì đi đánh bài…
– Bả đánh bài hoài đến nỗi đi làm thất thường vì mất ngủ, sau đó bị xếp ghét, đuổi việc luôn…
– Nói vậy là mom biết chắc số thằng Lucky khổ rồi!!! Sao người ta không lấy lại nó?
– Chắc họ chưa biết…
Rồi thằng bé nhìn mẹ:
– Bộ mom muốn nuôi nó hả?
Thúy trố mắt nhìn con:
– Đâu có, sao con hỏi vậy?
– Tại con thấy mon hay thương người…
– Không phải… thương thì có thương… nhưng nuôi một đứa nhỏ không dễ đâu con, nhiều thủ tục rắc rối, trách nhiệm lắm… với lại mom có Bíbo rồi, đâu cần nuôi đứa khác chi nữa!
Thằng Bíbo có vẻ cảm động khi nghe mom của nó nói, nhưng nó vẫn ngồi im đó chứ không xà vào mẹ như xưa…
– Nó đã biết suy nghĩ rồi!
Câu chuyện giữa hai mẹ con có vậy mà làm cho Thúy vấn vương mãi trong đầu hình ảnh thằng Lucky mà nàng hình dung ra một đưá trẻ ốm o tội nghiệp. Trong lòng Thuý thầm nhủ phải làm một bữa chả giò tôm cua nổi tiếng trên thế giới của người Việt Nam, rồi kêu Bíbo rủ Lucky đến nhà ăn tối… không phải Thúy đặc biệt gì thằng bé, nhưng chính nàng và cả nhà lâu rồi không ăn cũng nhớ, vì thịt cua quá mắc mỏ!
Tính toán như vậy, nhưng bỗng dưng trong sở Thúy lại gia tăng số đơn đặt hàng, phải làm cho xong trước ngày lễ… thế là nhân viên cong lưng ra mà miệt mài với công việc, Thúy quên luôn vụ nấu đồ ăn để mời bạn của con đến ăn tối.
Cho đến một hôm Văn đi làm về tới nhà thấy tối om, ngạc nhiên vào bếp tìm tòi xem bà vợ và thằng con hôm nay làm gì, không thấy mở đèn như mọi hôm?
Muì chả giò chiên thơm phức vẫn bốc lên thơm lừng làm cho Văn đói bụng hơn. Trên bàn đã dọn sẵn một số thức ăn, nhìn hấp dẫn chịu không nổi. Văn đưa tay bốc một miếng chả giò bỏ vào miệng…
– Ngon quá, chả giò cua… bà nầy chịu chơi dám mua cua làm, mọi lần chỉ là chả giò tôm đâu có ngon bằng!
Gọi phôn cầm tay của Thúy hỏi, thì ra hai mẹ con đang đi đón thằng bạn của Bíbo đến nhà ăn tối…
– Về liền, về liền, em đang lái xe, sắp tới nhà rồi…
Vào phòng thay áo quần cho thoải mái, Văn nghĩ tối nay phải uống một chai bia thay thế cho ly rượu vang vì chả giò quá ngon.
– Hừm… Đi đón bạn thằng Bíbo? Thằng nào mà “quan trọng” thế? được ăn chả giò cua?
Trả lời cho sự thắc mắc của Văn, tiếng xe ngừng trước cửa nhà, rồi thì vợ con và một thằng nhóc xuất hiện.
– Chào bác.
Thằng nầy nhìn giống người Hawaii, mặt mũi xinh trai ra phết! Cao hơn Bíbo cả nửa gang tay.
– Thôi, các con đi rửa tay rồi mình vào bàn ăn không nguội…
Nói xong, Thúy vào bếp lấy rau bỏ ra đĩa. Những lá xà lách xanh tươi mơn mởn, những cây rau thơm đủ loại nằm im bên mớ đồ chua, gồm cà rốt và củ cải trắng hấp dẫn.
– Xong rồi, ngồi vào bàn đi anh.
Mọi người quây quần bên nhau. Văn đọc vài lời cám ơn Thượng Đế và cả nhà bắt đầu ăn… Gắp bún vào chén, Lucky ăn một miếng chả giò và bật miệng:
– Non… non…
Nghe nó nói, Thúy không hiểu, hỏi lại bằng tiếng Mỹ:
– Cháu nói cái gì? Non là gì hả Bíbo?
– Non là “good” phải không Lucky?
– Yes… Non…non…
Bíbo xác định lại lần nữa:
– Là ngon phải không?
Thằng bé gật gật cái đầu, giơ ngón tay cái lên. Thúy cười… thằng nầy mà cũng biết nói “ngon” nữa! “Ủa, mà sao nó biết”?
Thúy quay qua Bíbo:
– Con dạy Lucky nói tiếng Việt hả Bíbo?
– Không mẹ… Lucky, sao mày biết chữ ngon?
Lucky giải thích:
– “Boy friend” của má nuôi dạy nói…
– Ủa bộ ổng người Việt hả?
– Yes…
Vừa nghe nó nói “yes”, hai mẹ con ngạc nhiên, “phỏng vấn” thằng bé ngay lập tức:
– Ổng có thương cháu không?
Cái đầu thằng Lucky lắc nhè nhẹ, mặt xịu xuống!
– Ổng có đánh mày không?
– Có… uống rượu là đánh!
– Sao vậy? sao lại đánh?
– Khi nào uống say, ổng hay bắt nói tiếng của ổng, cháu không biết thì bị đánh…
– Thằng cha cà chớn! Đánh ở đâu?
– Tát vô mặt!
Văn “hừ” một tiếng, Thúy tiếp:
– Cháu biết chữ ngon và gì nữa?
– Có mấy chữ thôi à!
– Chữ gì?
– Cám ơn, bia, nhậu, cút đi…
Nghe thằng bé nói, vợ chồng Thúy vừa thương vừa tức cười… Thằng cha bồ mụ mẹ nuôi của nó chắc cũng thuộc loại giang hồ đây!
– Ở nhà cháu ăn bánh mì hay cơm?
– Khi nào bồ của má nuôi tới thì ăn cơm.
– Ăn cơm với gì?
– Dạ, gà chiên, cá chiên ổng mua ngoài chợ…
– Con thích không?
Thằng bé im re không trả lời. Chắc sợ Thúy mách lại với má nuôi nó!
Nhìn hai đứa con trai, đúng là ông Trời cho mỗi người một số phận! Thằng Lucky vừa tướng tá dễ thương, nó có da có thịt chứ không ốm o như Thúy nghĩ, mặt mũi lại phương phi hồng hào, bảnh trai… không nói thì ai cũng tưởng con nhà giàu có, bố mẹ cưng chiều!!! Ai ngờ lại đang sống bám vào một người không thân thích, thiếu trách nhiệm!
Đúng là Trời nuôi…
– Lúc ba má mất, con mấy tuổi?
– Con bảy tuổi.
– Con có nhớ tại sao ba mẹ chết không?
– Dạ, bị xe tông… con cũng có đi trên xe, nhưng bị văng xuống vũng bùn, thoát chết!
– Tội nghiệp con quá… Thôi từ nay biết nhà bác rồi, có chuyện gì cứ gọi nhé… nhất là khi ông ta đánh cháu…
– Cháu có kinh nghiệm rồi, khi nào say ổng mới đánh… thì cháu chạy!
– Bộ say là có quyền đánh người à!
Rồi Thúy đùa:
– Bác tới bác “xổ” tiếng Việt… là ổng sợ ngay!
Văn nhìn Thúy nghi ngờ:
– Em tính nói gì mà chả sợ?
– Nói… a… nói…. Mà chưa tới lúc, khi nào gặp chuyện em sẽ nghĩ ra ngay!
– Hay quá há! Coi chừng chả còn đục em luôn là khác!
– Còn khuya!
– Lucky à, nếu con muốn bác sẽ lên sở xã hội khiếu nại cho con.
– Thôi bác, con thương má nuôi…
– Thương cái gì! tối ngày mê bài bạc bỏ đói con là không được rồi!
– Má có mua bánh mì, sữa và bơ đậu phọng cho con mà bác…
– Đến bữa phải nấu ăn đàng hoàng chứ! Chẳng lẽ ngày nào con cũng ở nhà một mình ăn mấy thứ đó à!
– Con ăn cũng được… má con buồn mới bị vậy! Tội nghiệp má con lắm… bả cũng ăn như con vậy!
– Tội nghiệp cái gì! Đúng là cháu đa sầu đa cảm…
– Tại cháu mà má mới bị chồng bỏ! Nhiều khi má con cũng đi kiếm việc làm mà đâu có ai nhận! Con còn thấy ban đêm má khóc nữa đó bác!
– Thiệt hông đó nhóc?
– Dạ thiệt! Có lúc con nói “hay là trả con lại cho chính phủ” thì má không chịu, ôm chặt lấy con… má nói “sorry”!
Nghe thằng nhỏ nói, Thúy thấy hơi khó hiểu! Ngưòi đàn bà đó thật sự như thế nào? Khi ai nấy đều cảm thấy no, Thúy còn ép:
– Ăn cho no đi rồi còn có bánh cup cake nữa đó…
Lucky nhìn thức ăn trên bàn, rụt rè:
– Còn nhiều quá, cho con một ít đem về được không bác?
– Được chứ, con để dành mai ăn hả?
– Dạ không, con cho má nuôi…
Thúy tròn mắt:
– Cái gì, cho má nuôi?
– Dạ, được không bác… con thấy “non” lắm….
Thúy còn chần chừ thì Văn trả lời:
– Dĩ nhiên… nhà bác có hộp nhiều lắm.
Quay qua Thúy, Văn nói:
– Thằng bé nầy có hiếu, rất tốt.
Vào bếp, bưng đĩa bánh cho hai nhóc, Thúy lấy hai cái hộp, một đựng chả giò và bún, một đựng rau và chai nước mắm nhỏ. Bỏ vào cẩn thận trong bọc ny long, Thúy còn lấy thêm cho Lucky chục cái bánh cup-cake:
– Khi nào muốn ăn cái gì “non”, nhớ nói Bíbo, bác sẽ nấu cho cháu ăn. OK.
– Cám ơn bác.
Hai đứa trẻ ăn xong kéo nhau vào phòng chơi game. Thúy vừa thu dọn vừa ngẫm nghĩ, không hiểu sao thằng bé lại có vẻ binh vực cho má nuôi, chắc có lẽ nó ở với bà ta cũng lâu, nên quen rồi!
Buổi tối, lẽ ra Văn chở Lucky về nhà, nhưng Thúy lại muốn làm việc nầy, vì nàng muốn nhìn tận mắt xem bà ta ra sao… để còn can thiệp vào việc thằng bé.
Thấy trong nhà đèn sáng, Lucky reo lên:
– Má có nhà.
– Bác vô “say hi” với má cháu.
Mở cửa, Thúy thấy trước mắt mình là một người đàn bà mắt xanh tóc vàng dáng mảnh mai, vóc người nhỏ nhắn như phụ nữ Á Châu. Lucky nhìn bà:
– Má, đây là mẹ của Bíbo, bạn con…
– Chào bà…
– Hôm nay tôi làm chả giò cho cháu ăn, nhân tiện chở cháu về… xin phép bà cho cháu thỉnh thoảng đến nhà tôi chơi và ngủ lại một đêm với con tôi…
Trái với lời mô tả của Bíbo, bà má nuôi mau mắn:
– Được chứ, cám ơn bà đã lo cho cháu hôm nay…
Nhìn những bao bị cầm về với ánh mắt dò hỏi, nghe Lucky giải thích, bà nhìn Thúy với đôi mắt xanh cảm động, mời Thúy ngồi chơi uống nước.
Qua câu chuyện, Thúy mới biết bà thường hay đi xin việc nhưng đều bị khước từ vì thành tích “đi trễ” ghi từ chỗ làm cũ! Những lần như thế, bà buồn leo lên xe bus để tới sòng bài hy vọng kéo máy trúng, cũng như được phiếu bữa ăn “free” từ những cơ sở thương mại muốn quảng cáo cho hãng mình…
Bà đi để tìm quên và được ăn ngon, chứ chưa đánh bài đam mê như những tay chơi khác! Bà cảm thấy có lỗi đã để thằng con một mình trong thời gian nầy… Có Bíbo để chơi là bà rất cám ơn…
– “Boy friend” của tôi người Việt, anh ta uống rượu vào hay đánh thằng nhỏ… nên tôi đã chia tay rồi! Thú thực với bà là tôi thương Lucky như con ruột của tôi… tôi đang cố gắng tìm cho ra một việc làm để có tiền lo cho hai mẹ con… ngày xưa tôi nhận nuôi nó vì thấy mặt nó là tôi thương ngay…
Những lời má nuôi của Lucky nói rất chân tình. Bà ta cũng cố tìm việc làm chứ không phải là tối ngày cứ đi đánh bài như thiên hạ tưởng…
Chuyện mới đó mà giờ hai bên đã trở nên thân thiết. Hôm nay nhân dịp Lễ tạ Ơn, Thúy mời mẹ con Lucky đến ăn tiệc gia đình, và nhân tiện thông báo cho họ một tin vui, rất vui… Mọi việc nàng chuẩn bị cũng gần xong.
Có tiếng chuông cửa dồn dập và cha con nhà nó ló mặt vào:
– Anh biết em cần cha con anh ở nhà để phụ… nhưng anh phải đi dự buổi ra mắt sách chút xíu, rồi còn mua thêm nước đá cho em…
– Anh đi được rồi, lôi thằng Bíbo theo làm chi?
– Cho nó gặp đồng hương cho quen…
Thúy trề môi, “nhà thơ” nói cái gì nghe cũng có lý hết! Nàng cũng cần nước đá thiệt! Thôi không bực mình nữa cho đời nó vui.
Mẹ con Lucky đến với bó hoa trên tay. Hôm nay mẹ nó diện thật đẹp với mái tóc vàng óng ả buông xõa sau lưng, trông trẻ hơn nhiều so với lần trước Thúy gặp ở nhà. Cứ nhìn ánh mắt của chồng là Thúy thấy mình nghĩ không sai…
– “Kệ, cho ổng rửa mắt “địa gái” một chút cũng không sao… thế nào cũng có vô số ý thơ tuôn tràn rồi đây”!
Đàn bà đúng là “chỉ xấu khi không biết làm đẹp”! Mình mà xoã tóc chắc cũng làm “đắm đuối” đàn ông! Với ý nghĩ đó, Thúy cười cùng má Lucky:
– Chị ơi, tôi có hỏi xếp của tôi, ổng nói chị cứ đem “resume” tới, ổng sẽ nhận vì đang cần người…
Nghe Thúy nói, ai nấy đều cảm thấy phấn khởi, vui nhất là thằng Lucky. Nó lật đật đứng lên trịnh trọng, khoanh tay nhìn Thúy với ánh mắt chân thành:
– Cám ơn bác…
Mẹ Lucky cũng nói theo bằng tiếng Việt như thằng con:
– Cám ơn rất nhiều…
Trên bàn ăn, buổi tiệc tiếp tục diễn ra với sự hân hoan và nồng ấm của mọi người. Riêng Thúy, nàng cảm thấy mình đã làm một việc có lý, tâm hồn nàng cảm động xen lẫn vui vẻ và tâm tư bồi hồi… “Cám ơn Thượng Đế”…
Diễm Châu