VÔ ĐỊNH

trantuan

Có những lúc thấy quanh mình hiu quạnh
Rượu trong ly đắng nghét, chẳng thơm nồng
Nỗi ớn lạnh dụ xác thân thiền định
Hồn hoang đàng nghịch ngợm trốn đi rong

Rừng thay lá nên đang mùa đạo đức
Các triết gia cặm cụi cuộc bao đồng
Ngu ngơ quá nên hồn thơ bối rối
Dấn thân rồi đành chấp nhận lưu vong…

Đời trí trá mà thơ thì mông muội
Mãi loay hoay tím mấy lượt phong trần
Ngây thơ đoản đi hoài mà chưa tận
Ngược tìm về thân xác đã phù vân…

Không chỗ trú nên thơ buồn lây lất
Hoang hoải, dật dờ, quờ quạng kiếm tìm nhau
Như mình đã nguyện răng long, đầu bạc
Vẫn trẻ con để bục phát càu nhàu…

Rồi đến lúc nghe nguồn sinh lực cạn
Gom hết ăn năn thừa kế cho đời…
Khối di sản vẹn nguyên… vô định
Tình là gì mà khổ vậy ? Người ơi !

Trần Tuấn

CHO NGÀY NỖI NHỚ KHÔNG TRỞ LẠI

phuonguy

em nhặt mùa thu trên cánh lá
có gì ở đó không?
chỉ mùa qua trong lòng người rất thật
gió lùa qua lá nao lòng

em gọi mùa thu về rối tóc
ngày buồn như cánh chiêm bao
cơn mưa xanh non không chờ đợi
thản nhiên ngó trắng mùa rằm

đêm vỡ từng mảnh trong lòng tay
rưng rưng gió ngày áp thấp
phiến dương cầm loang dài
nụ cười buồn đẫm mưa mùa trước.

em vẽ mùa thu màu mực nước
nỗi đau lộng lẫy bàn tay
mảnh thời gian màu tàn thuốc
cuồng dại xóa trắng ngày

đêm tan từng sợi trên màu mắt
sáng nay rớt xuống hiên nhà
nỗi nhớ có hóa thành nhánh khói
về tạ tội với mùa qua?

Hoàng Phương Uy

Bóng Đổ Chiều Trôi

lephuhai

Mùa hè năm 2011 anh tôi gả chồng cho con gái. Vì nó là đứa con gái duy nhất của gia đình nên anh tôi muốn sự có mặt đầy đủ của hai bên họ hàng nội ngoại. Cẩn thận hơn anh tôi chọn ngày cưới rơi vào thứ bảy và chủ nhật, lại là ngày 30 tháng tư, sẽ không ai có cớ bận việc để chối từ. Nói đến ngày 30 tháng tư thì chắc ai cũng biết, ở VN đây là ngày lễ kỷ niệm trọng thể, mọi người đều được nghỉ làm việc trong ngày này. Nếu ngày lễ trúng vào thứ bảy hay chủ nhật thì sẽ được nghỉ bù vào ngày trước hoặc sau đó. Chị dâu tôi quê ở Sài Gòn nên phần lớn anh chị em sinh sống nơi đây. Họ bàn nhau hùn tiền thuê nguyên chiếc xe ca để về quê dự đám cưới. Đoạn đường từ Sài Gòn về Nha Trang khá xa, xe đi nhanh cũng phải mất gần mười tiếng đồng hồ, mọi người bàn nhau nên đi buổi tối để tiết kiệm thời gian. Mấy năm nay tôi sinh sống ở Sài Gòn nên cũng đóng tiền tham gia cùng đi cho tiện. Mọi người đi cả gia đình, riêng tôi chỉ đi mình ên…

Nói anh tôi ở Nha Trang là nói cho dễ hình dung hoặc cho “oai” chứ thật ra gia đình anh tôi ở tại xã Diên Xuân thuộc huyện Diên Khánh, cách thành phố Nha Trang gần ba mươi cây số về hướng tây, cách ngả ba Thành gần hai mươi cây số. Tên thường gọi nơi đây là Đất Sét, nguyên trước kia là vùng “kinh tế mới” mà năm 1976, sau khi “cải tạo” về anh tôi và vợ con bị cưỡng bức lên đây lập nghiệp. Dĩ nhiên ngày đó cảnh vật còn hoang vu nhưng giờ đây đã đông vui lắm rồi. Sinh hoạt bán buôn, quán xá cũng nhộn nhịp không khác gì một thị trấn nhỏ…

Sau đám cưới mọi người bàn nhau trên đường về sẽ ghé lại biển Nha Trang chơi trong khi chờ chiều tối đi về lại Sài Gòn cho mát mẽ. Tôi chẳng có ý kiến vì Nha Trang đối với tôi có xa lạ gì đâu. Tôi sinh ra, lớn lên và ăn học tại đây cho đến khi mười tám tuổi mà… Chiếc xe ca dừng lại chợ Đầm cho mọi người đi chợ trước khi chạy ra hướng biển. Biển cũng như xưa, đường cũng như xưa, chỉ khác là có thêm khá nhiều tòa nhà bê tông cốt thép và hè đường toàn lát gạch xi măng. Nhìn phía biển thấy lác đác mấy cây dừa, và hàng dương ngày xưa bây giờ già ngơ già ngắc, thân xù xì vặn vẹo như ông già hết gân. Chỉ có biển và mấy hòn đảo phía xa xa là hoàn toàn không thay đổi, lặng lẽ và im lặng… Xe chở chúng tôi ngừng ngay bờ biển cạnh đường Nguyễn Tri Phương. Mọi người vội vả chui vào mấy gốc dương tránh nắng và lần lượt bày biện thức ăn, đồ uống. Lũ trẻ con lâu ngày được nhìn thấy biển vui mừng chạy nhảy reo hò inh ỏi. Mà không chỉ chúng tôi, chung quanh còn có khá đông du khách. Nhìn để đoán thì thấy có kẻ ở thôn quê ra, người tỉnh xa mới đến. Ai cũng vui vẻ và hài lòng, vì lúc này đang là dịp cuối tuần và nghỉ lễ.

Đã ba giờ chiều mà trời vẫn còn rất nắng. Mặt trời ở đằng tây chiếu xiên qua các tòa nhà đổ bóng xuống đường Duy Tân dọc bờ biển. Từng nhóm người dưới mỗi gốc cây vẫn còn túm tụm nhau ăn uống chuyện trò rôm rả, giấy báo và bịch ny lông bay khắp chung quanh. Có cả những lon bia rỗng nằm lăn lốc. Loáng thoáng thấy có bóng áo xanh của mấy người đàn bà lao công đang quét dọn. Tôi đưa mắt nhìn ra phía biển, nắng nhuộm vàng cả bãi cát kéo dài. Tự nhiên tôi để ý đến mấy ki ốt lợp tranh lá mọc lên chênh chếch chỗ tôi ngồi. Có cả những chiếc giường gỗ be bé, trên có mấy người đang nằm đọc sách. Ủa, cảnh này thấy quen quen, giống như ở mấy cái resort trong Mũi Né mà tôi có qua lại mấy lần. Có cả mấy ông Tây bà Đầm đang ngồi phơi nắng. Thỉnh thoảng lại thấy có anh bồi đeo cà vạt cẩn thận dắt vài ba người khách ngoại quốc ở trần băng qua đường Duy Tân từ một tòa nhà lớn phía đối diện. Họ đang đến với khu vực “resort” mà tôi quan sát nảy giờ. Chuyển cái tò mò sang tòa cao ốc, tôi ngước nhìn lên cao. Hàng chữ hotel Sheraton thật to phía trên tòa nhà hiện ra mà khi mới đến tôi chưa kịp nhìn thấy. Cái tên cũng quen quen, có lẽ cái hotel này cũng có “bà con” gì đó với khách sạn Sheraton ở Sài Gòn thì phải? Toàn bộ khu vực tòa nhà nằm ngay góc đường Duy Tân và Nguyễn Tri Phương. Nhớ rồi! Khu vực này sau biến cố bảy lăm là cửa hàng ăn uống, còn trước đó hình như là một cơ quan gì đó của người Mỹ tôi không nhớ rõ. Nhưng có hề chi, dù là gì đi nữa miễn là nó phục vụ cho con người là tốt rồi. Điều ngạc nhiên ở đây là vấn đề “sở hữu”. Không biết có luật lệ nào qui định hay không nhưng có vẻ như hotel Sheraton sở hữu luôn cả khu vực bãi biển phía trước nó. Tuy không có một sợi dây nào giăng ra nhưng nhìn vào ai cũng thấy bờ biển ngay trước mặt tòa nhà là thuộc quyền riêng tư, không lấn thêm hay hẹp hơn dù chỉ một mét. Chỉ khác ở chỗ các khu resort Mũi Né nằm sát trên bờ cát, việc dành riêng bãi tắm tiếp nối ngay đó không làm mình ngạc nhiên hay thắc mắc, còn ở đây tòa nhà nằm bên kia đường Duy Tân hai chiều xe chạy, tưởng như không có mối liên quan nào tới bãi biển. Bởi vậy nên khi mới nhìn thấy tôi đã ngỡ ngàng tưởng như có cái resort be bé nào đó của Mũi Né rơi ngay xuống bãi biển Nha Trang này. Kể ra thì cũng hay hay, cũng sang trọng, nhưng nhìn tổng thể thấy giống cái mụt cóc trên mu bàn tay thật chướng.

Nhưng mà thôi! Đó là chuyện của thiên hạ. Nha Trang trong ký ức tôi vẫn là Nha Trang của tuổi học trò hồn nhiên thơ mộng. Tôi dự định đi bộ lòng vòng qua vài con đường quanh đó xem đổi khác có nhiều không. Cũng ngay góc đường Nguyễn Tri Phương và Duy Tân này là trường Lasan Bá Ninh. Tôi có học tại đây hai năm lớp tám và lớp chín. Trường có nhiều đổi khác. Các dãy lầu cũ phía bờ biển vẫn còn đó nhưng đã mọc thêm nhiều tòa nhà mới bên trong, khoảng sân trông như có vẻ bị thu hẹp lại. Khu vực phía tây thay đổi nhiều hơn, cổng trường cũng đổi khác và có thêm nhiều cổng phụ. Bây giờ nơi đây là trường cao đẳng của tỉnh nên có lẽ họ cần xây dựng thêm tối đa để khai thác. Chỉ tội cho cái sân trường. Nếu tôi nhớ không lầm thì ngày xưa cả Nha Trang chỉ có hai trường Lasan Bá Ninh và Khải Minh (trường Tàu) là có sân bóng rổ…
Từ trường Lasan Bá Ninh đi thẳng theo Nguyễn Tri Phương đến cuối đường rẻ trái là trường nữ trung học Huyền Trân, rẻ phải đến đường Bá Đa Lộc, nơi có trường nam Võ Tánh. Kế bên trường nữ trung học, qua bên kia đường Lê Thánh Tôn có trường trung học bán công Lê Quí Đôn, nằm trên đường Tô Hiến Thành. Tôi đã theo học ở đây hai năm lớp mười và mười một cho đến khi giải tán năm bảy lăm. Vì là địa điểm có nhiều trường trung học nên mỗi buổi tan trường ở khu vực này rất vui. Học sinh từ các con đường túa ra như hàng đàn bướm trắng mỗi độ vào mùa. Tôi và mấy thằng bạn đã từng đứng đó tập tễnh làm thơ. Và chắc chắn rằng đã có không ít người sẽ trở thành thi sĩ nhờ những buổi tan trường này. (Đó là chưa kể trường Hưng Đạo, Thánh Tâm và Vinh Sơn ở ngả Sáu, trường Hàn Thuyên và College của người Pháp ở gần đó).

Tôi đứng ở ngả tư bâng khuâng tự hỏi không biết những người của ngày xưa nơi đây nay có còn ai không ta? Tự nhiên tôi thèm được nói chuyện với một ai đó, khơi gợi lại chút ký ức thuở học trò xa xưa. Một ai đó chỉ cần đã từng có mặt trong đám đông ngày ấy thôi cũng được, không cần phải là người quen biết…
Bên kia đường có một quán cóc, người bán là một phụ nữ trạc thế hệ tôi, to con và có khuôn mặt dễ cảm tình. Thật ra đó không phải là cái quán, chỉ là cái bàn nhỏ, trên để mấy chai nước ngọt và tủ thuốc lá, nằm sát bên trạm xe buýt. Cạnh đó là cái bàn nhựa và bốn cái ghế nhỏ dành cho khách. – Uống gì anh hai? Tôi đưa mắt nhìn vào mấy chai nước ngọt bày sẵn trên bàn. Nắng rọi trên mấy nhãn hiệu màu xanh màu đỏ của chai nước làm tôi thấy ngại ngùng. Tôi nói: – Sao để nước ngoài nắng vậy hả chị, hư hết còn gì? – Dạ để mấy chai làm mẫu thôi anh hai. Nước bán em để trong két phía trong đây nè. Anh uống gì không để em lấy? Tôi nghĩ ngợi chút xíu rồi chọn mua chai nước lọc. Người phụ nữ đặt chai nước và ly đá lạnh lên bàn nói bâng quơ: – Trời sắp chiều rồi mà cũng còn nắng ghê. Ra đường khát nước lắm đây. À, anh hai đi theo đoàn tham quan hả? – Tham quan gì đâu – Tôi cười – theo xe đi ăn đám cưới về ghé biển chơi chút rồi vô lại Sài Gòn. À, mùa này chắc khách du lịch đông lắm hả chị? – Dạ, cũng đông. – Sao bán buôn gì có mấy cái ghế vậy, lỡ khách vô nhiều chỗ đâu ngồi? – Bán lề đường mà anh hai. Phải gọn gàng để mỗi khi trật tự đô thị tới thì mình chạy cho nhanh chớ. Người ta đâu có cho buôn bán trên vĩa hè này, sợ mất thẩm mỹ. Tôi tỏ vẻ thông cảm: – Chà, cũng cực dữ ha. – Quen rồi anh ơi!
– Nhà chị có ở gần đây không? – Tôi hỏi.
– Dạ em ở trên Phương Sài, gần chợ Phường Cũi.
– Từ Phương Sài xuống đây bán cũng hơi xa à?
– Dạ, bán lâu nên cũng quen anh ạ. Ờ, mà anh hai người Sài Gòn hay ở đâu vậy?
– Sài Gòn gì, trước đây tôi cũng ở Nha Trang đó chớ.
– Vậy sao? Ờ, mà anh hai biết không, nói chắc không ai tin chớ từ nhỏ tới giờ em chưa vô tới Sài Gòn bao giờ cả.
Tôi ngạc nhiên: – Ủa, sao lạ vậy? Cũng đâu có xa xôi gì.
– Thì bởi vậy mới nói. Thiệt ra em cũng có một vài người bà con xa ở trong đó, và có mấy lần em tính vô Sài Gòn một chuyến cho biết, nhứt là ghé mấy cái chợ lớn coi người ta buôn bán ra sao. Nhưng lưỡng cước rồi không đi. Mà nghe nói trong đó người Sài Gòn hồi xưa không còn nữa, người ta đi hết trơn rồi.
– Ủa, người ta đi đâu?
– Thì đi di tản qua ngoại quốc chớ đâu. Bây giờ toàn là người mới tới không hà.
Tự nhiên tôi có cảm giác hơi giật mình. Người phụ nữ này có cái suy nghĩ thật lạ, mà nghĩ cho đến cùng cũng không sai. Ví như tôi đây cũng chỉ mới lưu lạc sinh kế trong đó chưa tới mười năm, chưa đủ sức dựng cho mình một mái che trú mưa trú nắng. Và những người tôi gặp trong bước đường bươn bả mỗi ngày cũng vậy, chẳng phải họ từ miền bắc, miền trung, hay miền tây về đó hay sao? Kể cả những căn nhà phố, nhà trệt, nhà lầu, chung cư hay biệt thự chẳng hạn, chắc gì chủ nhà là những người Sài Gòn trước kia còn lại? Chắc là không còn. Công việc của tôi đi lại tiếp xúc khá nhiều và cũng chưa hề gặp người nào.
Tôi chỉ tay qua bên phía trường cao đẳng: – Trước đây tôi có học trường này hai năm. Hồi đó là trường Lasan Bá Ninh. Còn chị trước có học trường nào gần đây không?
– Dạ không, em học ở Phương Sài.
– Ủa, Phương Sài có trường nào vậy ta?
– Là em nói trường tiểu học đó. Em đang học lớp sáu là “giải phóng”, sau đó có đi học thêm hai năm nữa nhưng nhà cực quá nên nghỉ luôn.
Tôi cảm thấy hơi chưng hửng. Cứ tưởng người phụ nữ này nếu không phải đồng trang lứa với tôi thì chí ít chỉ nhỏ hơn hai ba lớp là cùng. Ai dè! Tôi lén nhìn kỹ lại khuôn mặt của chị ta. Kể ra thì cũng chưa đến nỗi “già” như tôi nhưng có lẽ do vất vả và chả sửa soạn gì nên mới nhìn tưởng đã lớn tuổi. Có lẽ hiểu lầm vẻ mặt đang ngớ ra của tôi, cô ta nói tiếp, như là muốn phân bua. – Hồi đó đáng lẽ em cũng còn tiếp tục đi học nữa nhưng vì ba em chết năm bảy lăm nên gia đình cũng sa sút , đành phải nghỉ học để đi làm.
– Vậy năm bảy lăm gia đình chị có đi di tản hay chạy loạn gì không mà bác trai bị chết vậy?
– Dạ không. Ba em chết trận.
Tôi thoáng chút ngạc nhiên. Còn nhớ rất rõ ngày 10 tháng 3 thất thủ Ban Mê Thuộc, ba tôi bị mất liên lạc trong những ngày này. Sau đó đoàn người di tản đi theo tỉnh lộ 7 về Tuy Hòa. Ngày 1 tháng 4 mất Tuy Hòa, 2 tháng 4 mất Nha Trang.
Tôi nói: – Ngày 2 tháng 4 là “giải phóng” Nha Trang rồi. Vậy ba chị chết trận lúc nào.
– Dạ, đâu là sau tết. Em nhớ tết đó ba còn về ăn tết mà. Ba chết ở Qui Nhơn. Ba là lính của “sư đoàn bốn lăm”.
Tôi im lặng nghĩ thầm, năm bảy lăm người đàn bà này chừng mười hai tuổi, đâu có hiểu gì về chiến tranh, tội nghiệp! Có lẽ ba cô ta là lính của sư đoàn 22.
Tôi tò mò: – Hồi đó chị cũng còn nhỏ mà. Có còn nhớ gì về ba không?
– Sao lại không nhớ, hồi đó em cũng lớn rồi mà anh hai – Cô ta bỗng trở nên sôi nổi – Anh hai biết không, hồi trẻ ba em rất đẹp trai, ổng làm nghề sửa đồng hồ ở chợ Phương Sài ai cũng biết. Má em thương ổng nên dù cho phía ngoại không bằng lòng bả vẫn cứ đòi lấy ổng cho được. Cho tới lúc tới tuổi đi lính. Không thể sống xa được vợ con nên ổng trốn. Ổng dời tiệm đồng hồ ngoài chợ về nhà làm, khi nào có cảnh sát xét nhà thì ổng lánh mặt. Miết sau này ông trưởng ấp tới nói trốn hoài đâu có được, sớm muộn gì cũng bị bắt nên ba em mới đi đăng lính. Ổng nói đăng lính ở Qui Nhơn cũng không xa, có thể chạy về thăm vợ thăm con được. Bình yên được mấy năm ai dè qua năm bảy lăm thì ổng chết. Tội ghê. Ráng thêm mấy tháng nữa là qua được rồi.
Tôi nói theo kiểu xuôi xị: – Thì cũng là cái số thôi chị à, cái số phải chết trận.
– Thì đó! Ba bị đạn bắn chết khi hai bên đang đánh nhau.
– Rồi có đưa xác về được không?
– Có chớ. Má ra Qui Nhơn nhận xác ba. Xe nhà binh chở về trong này. Nghe má kể lại trên xe không phải chỉ có ba, còn có nhiều xác lính khác nữa. Mà trên đường về cũng rất nguy hiểm, bị chận đánh và pháo kích dữ lắm, nghe đâu là chỗ cái đèo gì ngoài đó em cũng chẳng nhớ nữa. Cực lắm mới đưa được về tới Nha Trang.
Tôi hình dung có lẽ người lính này chết trong những ngày tháng ba năm bảy lăm, ở một trong những trận đánh cuối cùng nào đó của quân đội miền Nam, vì sau đó không lâu thì cả miền trung bị thất thủ. Cô ta kể tiếp: – Đám tang của ba cũng trọng thể lắm anh hai ạ. Hòm của ba có phủ cờ và có lính khiêng đàng hoàng. Có súng bắn tiễn đưa nữa đó. Bây giờ nhắc lại thấy thương ba quá chừng.
Chà! không biết cô bạn này có “nổ” không vậy ta? Lính lác chớ có phải sĩ quan đâu mà súng bắn tiễn đưa? Tôi nhìn qua người phụ nữ, thấy cô ta đang rơm rớm nước mắt. Và tôi nghĩ chắc cô ta không khoác lác. Lúc đó cô ta chỉ là đứa bé con còn bây giờ thì đâu có lý do hay vinh dự gì để nói khoác. Cô ta chỉ đang nhớ ba mình và kể lại những hồi ức chập chờn còn mất. Nhà tôi ở sát bên nghĩa trang núi Sạn nên tôi đã từng nhiều lần chứng kiến người ta chôn cất những người lính chết trận. Có người chôn trong hòm kẽm, có người chôn bằng hòm gỗ, luôn có một lá cờ vàng sọc đỏ phủ lên trên. Tôi còn biết những người nằm trong hòm kẽm là xác đã chết lâu ngày và chuyển từ mặt trận ở xa về. Thường trước khi lấp đất người ta phải dùng xà beng đâm thủng một lổ trên nắp hòm, để thông hơi cho xác chết mau tiêu. Những lúc ấy mùi hôi thối bốc lên thật là kinh khủng. Ba của người phụ nữ này chết trong những ngày tháng cuối cùng của một chế độ, còn kịp đón nhận loạt súng tiễn đưa, xét ra cho cùng vẫn còn may mắn hơn hàng vạn người chết vất vưởng bụi bờ sau đó…

Một cái đám cưới, một ngày 30 tháng tư, một chuyến đi và một chút hồi ức về thời học sinh tự nhiên lại dẫn tôi quay về với nỗi ngậm ngùi của những mất mát qua câu chuyện riêng tư của người phụ nữ bán nước ven đường. Tôi trả tiền nước rồi quay về theo hướng biển. Trời đã chiều, ánh nắng chiếu cái bóng tôi dài ngoằng đang bước đi trên hè đường. Cái bóng có vẻ buồn và cô độc.

Lê Phú Hải

SỢI TÓC

tuketuong

Em cách tôi đủ dài sợi tóc
Để mùi hương bay mất vai mình
Ngày lấy chồng em cười, mà khóc
Thơ tôi buồn câu chữ long lanh

Sài Gòn xa, Sài Gòn nhạt nắng
Cỏ bên đường xanh đến vô tư
Tôi nằm ngắm mây trời yên lặng
Theo giấc mơ vào cõi xa mù

Nếu nhắm mắt bây giờ, và chết
Sợi tóc em vẫn cột lòng tôi
Nơi xa thẳm một mình tưởng tiếc
Nụ cười xưa đã khép môi rồi?

Tôi cách em nghìn trùng cơn gió
Thổi nghiêng chiều vàng lá thu xưa
Cầm hạt bụi gửi về nơi đó
Chút tàn phai trong lúc giao mùa.

TỪ KẾ TƯỜNG

QUA ĐÈO MANG YANG

tranbaodinh

gửi Trần Viết Dũng, Phú Phong.

sương giăng mờ phố núi
mây mù ôm Mang Yang
chiều mùa đông mưa bụi
rét mướt giữa đại ngàn

Trường sơn xòe cánh quạt
sông bỏ dọc, chảy ngang
vượt qua muôn ghềnh thác
trôi về biển gian nan

hoa rừng khoe sắc nở
độ dốc đứng cổng trời
gió sóng đùa tranh cỏ
rượt đuổi nhau sườn đồi

dòng Ayun huyễn hoặc
chở nổi nhớ Tây Nguyên
lửa bập bùng khuya khoắt
hòa nhịp trống, cồng chiêng!

làng K’Tu thấp thoáng
núi Kông Tần xa xa
hương cà phê thoang thoảng
đường sơn cước chiều tà

đèo Mang Yang cửa ngõ
vào núi rừng Tây Nguyên!

Trần Bảo Định

Lương tâm hay lương tháng tao cũng cóc cần

nguyentri

Tên của nàng là Thuý, tuổi con mèo. Đặc biệt yêu màu đen. Từ áo quần giày dép mũ nón bao tay tuốt tuồn tuột một mầu huyền hoặc. Giang hồ gọi Hắc Thuý Miêu. Thuý đẹp lắm. Đẹp từ tóc tai môi má đến dáng người và ăn nói cực kỳ duyên. Theo đuổi Thuý toàn con nhà danh gia vọng tộc. Vậy mà tiên sư bố cái ông tơ bà nguyệt, sư cha cái tình yêu vô bổ. Nàng lại say đắm một anh đã không đẹp thì chớ còn làm việc trong trại hòm Ngũ Hành với chức năng thợ mộc. Giang hồ nghe qua mà tiếc hùi hụi. Chả hiểu thằng thợ mộc kia có ngón chi mà đạp đổ được một nhan sắc tầm cỡ thành trì. Bố mẹ anh chị em nhà nàng cực lực phản đối. Chả nói chả rằng Hắc Thuý Miêu cuốn áo cuốn quần đến trại hòm anh làm việc ở luôn mới gọi là tình yêu đích thực. Anh khố rách đến độ nhà chỉ là cái cấp bốn không tô kề bên trại hòm. Thêm một lần thiên hạ chửi sư bố cái tình yêu.
Ai cũng tưởng – nhất là gia đình Thuý – đời cô xem như thúi hẻo và bao nhiêu hy vọng về một nhan sắc có thể kéo cái gia đình nghèo tú mú tù mù ra khỏi kiếp khoai lang củ mì là kết thúc. Có ai ngờ chỉ sau một năm Cô Thuý xinh đẹp đập cái nhà cấp bốn không tô của chồng để lên một căn bề thế không kém ai trên ta bà hẻm nhỏ. Gia đình ruột của cô cũng hưởng sái cực ngon lành. Anh em trai nhà Hắc Thuý Miêu gọi Lãm- chồng Thuý – là sự phụ trong nghề cưa đục bào xẻ. Họ tham gia thi công làm hòm và ai cũng có chân trong ban đạo tỳ của trại. Đại khái là, nếu có đám tang thì họ cùng nhau o í e đờn ca sáo thổi, không đám thì nhào vô đóng hòm. Không có rể làm thuê của trại hòm thì dễ chi nhà cô thoát đói.
Cũng tình thiệt mà nói không có cô Thuý e là trại hòm Ngũ Hành bán xới mà kiếm nghiệp khác làm ăn. Chả là ông bà chủ Ngũ Hành tranh không lại đồng nghiệp. Bên trại Bát Quái những ba xe rồng ngày nào cũng đưa ra nghĩa địa hai ba nhân mạng về đất mẹ. Thân nhân người chết không phải thích Bát Quái ở chỗ đạo tỳ chơi nhạc lã lướt, thầy tụng ê a rất mê ly âm phủ, hay hòm hiếc ở Bát Quái tốt hơn Ngũ Hành. Ở xứ sở nầy rừng đâu có mà ra gỗ quý, tựu trung cũng chỉ ba cây bạch đàn hoặc tràm bông vàng là hết phép. Gỗ lạt thì xẻ ra mặt hai mươi là lớn, muốn năm mươi thì thợ mộc ra tay. Cái hòm nào cũng nhờ sự bóng loáng của vẹc ni để lừa nhân thế. Tất cả đều bằng nhau mà Bát Quái làm ăn được hơn Ngũ Hành là nhờ vào kiểu làm ăn đầu trâu mặt ngựa.
Có trong nghiệp nầy mới biết nghe, lơ mơ là bó tay chấm com. Bất kỳ một cái chết nào từ chết đường chết chợ chết xe cán chết bệnh vân vân và vân vân miễn cái chết ấy có thân nhân là không lọt tay Bát Quái. Người của Bát Quái đến ngay chỗ người chết và xem như cái chết ấy phải nằm trong hòm của họ. Thân nhân người chết phải nhất nhất nghe theo bọn ôn dịch nầy, không nghe nó quậy cho người sống điêu đứng luôn. Chúng còn dám mò đến tận nhà xác để dành nữa đó. Kỳ đó một người quen với Ngũ Hành có người thân bị chết ở bệnh viện. Ngũ Hành nói chỉ cần đưa cái xác về là Ngũ Hành kính tặng một cổ áo. Vậy mà cũng không được với Bát Quái. Người của quái nói rằng có cho thì quy ra tiền mà cho, còn cái xác nầy là của họ. Nghe mà tức ói mật ói gan. Nhưng ở cái thời quỷ lộng hành, ma quái lên làm cha, dân lương thiện phải im mẹ cho rồi. Kiện cáo lôi thôi đang đêm nó cho một cây vô đầu, chết chả nói làm chi, lỡ man man ai chịu? Mà với chính quyền thì có đơn kiện mới thụ lý, không nói thì ai biết đâu mà lần? Vậy nên Bát Quái ngày một lớn mạnh. Nghe đâu trong cái mớ chuyên đi lùng người chết để báo cho Bát Quái kiếm tiền xài vặt có thằng ghiền xi ke bị nhiễm hát có ết. Lơ mơ nó cho một mũi kim thì đời mình đi đứt. Thôi thì chết thì phải chôn, mà ai chôn thì cũng vậy.
Vậy mà tất cả xếp giáo trước Hắc Thuý Miêu thì quả là thần khấp quỷ khấp. Cứ Bát Quái làm sao thì chị Thuý làm vậy, có điều chị ra tay mạnh hơn. Với đôi mắt tinh đời và trí lự hơn người, nhìn qua Thuý biết bọn Bát Quái là một lũ bá đạo. Một cái hòm thành phẩm năm triệu là hết phép, vậy mà chúng tính hai chục chưa kể đạo tỳ, thầy tụng và xe rồng đưa đón. Hai mươi triệu là loại hàng chót bẹt dành cho nhà nghèo, còn dân có của thì ba chục triệu đi lên. Lời quá xá nên bất kỳ ai phôn cho Bát Quái một cái chết ở bất kỳ đâu là kẻ đó có trăm ngàn xài chơi đỡ buồn. Sau đó có ba anh thứ thiệt xì kè phi phân khối lớn đến canh cái xác. Đến nước đó thì ông cố nội ai dám vô tranh. Cả người nhà cũng chịu sầu. Dây với hủi còn có tình hơn dây với xì cọc hỡi người ơi.
Nhưng chị Thuý bản lĩnh lắm. Vì yêu chị dám bỏ cha bỏ mẹ bỏ anh em cuốn gói theo tình thì vừa chi? Chị suy tư và chờ cơ hội. Và cơ hội đến. Hôm đó một bà dì trong xóm ra đi ở bệnh viện. Nhà cũng hẻo nên họ sợ Bát Quái chặt đẹp. Hắc Thuý Miêu liền thân chinh đi đem xác về, tất nhiên bọn Bát Quái đã có mặt tại nhà xác. Chỉ cần người nhà đến là chúng sẽ thực thi nhiệm vụ. Nhìn Thuý Miêu đẹp, cằm chẻ môi trái tim má lúm đồng tiền thì ai cũng tin em hiền như ma sơ. Tóc dài ngang vai nữa mới là nên thơ. Một thằng ghẹo:
– Em đẹp quá em gái.
– Em cái bà nội mày. Cà chớn tao cho ăn guốc vô đầu bây giờ.
Văng tục liền:
– Cái con này… hổn mậy?
Trên tay Hắc Thuý Miêu xuất hiện chiếc guốc gót nhọn và gõ một cái cóc vô đầu thằng du côn. Mô Phật, nói láo cho bà bắn, máu xịt có vòi chứ chảy thì còn nhẹ lắm. Chị cầm chiếc guốc ngạo nghể nhìn hai thằng còn lại;
– Người chết là bà con của tao thằng nào dám lấy xác tao cho thằng đó ăn dao.
Ngay lập tức tay chị lo le thêm lưỡi dao Thái:
– Mày không yên với tao đâu. – Một trong hai thằng doạ.- Tao sẽ đến nhà mày xin miếng thịt làm mồi nhậu. Tao ăn luôn thịt người đó con đĩ.
– Khỏi. Tao đi với mày ngay bây giờ.
Sau đó chị lịnh cho người nhà vô nhận xác. Còn chị phi chiếc 78 cà là mèng đến trạm xăng mua một bình hai lít. Mười phút sau chị có mặt tại trại hòm Bát Quái:
– Ông Quới bà Bát đâu ra nói chuyện tí coi.
Thì ra chủ trại nầy chồng tên Quới vợ tên Bát nên ra Bát Quái chứ chẳng tàu phù chi:
– Có chuyện gì không cô?
– Thằng lính ông đòi làm thịt tôi thì chớ còn gọi tôi là con đĩ. Ông không biểu nó xin lỗi tôi đốt cái trại của ông ngay hôm nay. Con này nói là làm. Cùng lắm tù chục năm về tội đốt nhà là cùng. Sau tù là cả ba họ nhà ông tui cũng trảm.
Chủ trại xuống nước. Đời có câu tránh voi chả xấu mặt nào, cương lên nó quê độ đốt thiệt là chết ông bà cố tổ mình luôn:
– Thôi thì cô cho tôi xin lỗi…
– Ông đáng cha tôi, có lỗi gì mà xin? Thằng kêu tôi là đĩ phải xin lỗi.
Bị lâm thế triệt buộc giang hồ trại hòm phải cúi mặt. Nhận xin lỗi xong chị phán:
– Bắt đầu từ bữa nay thấy mặt tao là tụi mày biến gấp. Cà chớn có thứ thiệt xử tụi mày.
Lần đầu tiên giang hồ tuy vặt nhưng mặt cũng có máu gặp một nữ lưu không biết chết là chi, chúng vờ hèn cho qua chuyện. Âm mưu sẽ cho chị biết tay khi có cơ hội, nhưng chị luận việc nhanh như thần. Kết thân ngay với một thằng từng vào tù về tội chém người. Thằng này tự nguyện làm vệ sĩ không lương cho chị. Lý do nó là đệ tử ruột của anh chồng thợ mộc. Thì ra chồng chị cũng một thứ thiên lôi đả không chết. Dưới trướng thằng đệ nầy có mười ôn dịch dạng xem trời chỉ một phần tư hạt tiêu. Chúng nói với chị rằng thích xử ai cứ nói. Chiêu thức nầy làm rung động trại Bát Quái. Ông Quới phải đích thân đến gặp trại chủ Ngũ Hành thương lượng địa bàn hoạt động. Từ a đến m là của Bát Quái, từ n đến z là của Ngũ Hành. Ông bà Ngũ kêu con vợ thằng thợ mộc lên nói chuyện phải quấy, bởi ông bà thật thà như đếm… lộn, nào có biết chi.
Hắc Thuý Miêu thi triển tinh thần vô độc bất trượng phu. Ông bà chủ Ngũ Hành giao cho chị toàn quyền định giá với khách hàng. Ông bà chỉ lấy như vậy, dôi ra Thuý hưởng. Chỉ hai năm sau ngày lấy chồng Thuý chạy mẹc xê đì màu đen vi vu trên mọi nẻo đường. Cô qua mặt Bát Quái khoản quen biết lớn. Có một ông kia con bị đưa vô nhà xác lúc mười giờ đêm. Vì bị giết nên phải chờ pháp y đến khám nghiệm tử thi mới được đem xác về. Hắc Thuý Miêu phôn một cú. Uy đến độ mà hai giờ sáng pháp y tỉnh phải đánh xe vào. Xong việc ông kia phải è cổ ra trả riêng cái hòm cho con là hai chục triệu, ba cái nhạc nhẽo và tụng tiếc chục ngoài nữa. Ông cha bất hạnh và nghèo túng văng tục:
– Tao nói thiệt con quỷ cái nầy ác hơn cả Tào Thị, nó còn gấp hai lần bọn bên Bát Quái. Trời không dung nó đâu.
Nhưng làm chi có trời. Bằng chứng là chị Thuý cũng như cha má chị lên như diều. Tha nhân chửi đến đá còn chảy nước mắt nếu có trời ổng đã phạt nặng chị rồi. Đó mới là phần của hàng họ hòm hiếc, vụ làm mả chị kiếm cũng bộn. Con ai đó bị xe đụng chết, sau khi nằm yên dưới đất chị môi giới luôn vụ mả, từ hoa cương đến gạch men. Mấy thằng làm dịch vụ nầy muốn có đơn hàng phải nhờ chị. Chao ơi khi thời vịn tiền sao mà vô như nước. Hắc Linh Miêu như một bà hoàng xứ cà ry cay vậy. Lòng tham của con người quả vô độ. Không cái chi trong chết chóc Thuý không ra tay. Giàu nghèo sang hèn chị không cần biết, vì trước cái chết mọi người đều bình đẳng. Có thật là vậy không?
Chắc là không, vì những người giầu va vô tay chị thì còn cho qua chứ nghèo thì hận lắm. Vì nghèo nên thấp cổ bé họng, kêu đâu cũng không đến. Kêu còn bị nó cho ăn cù loi nữa kìa. Nên tức thì tức vậy chứ dám làm chi. Và Thuý khoái nhất ăn của bọn nghèo. Nghèo luôn sợ quyền lực của chính phái lẫn tà đạo. Mấy thằng có tí chữ nghĩa còn dám cãi chính phái chứ sợ tà đạo hơn cọp. Nói bi nhiêu chúng chi bí nhiêu. Bọn giàu thì luôn đi chơi với quan quyền. Ăn của chúng đâu có ngon, chúng méc với anh hai anh ba chi đó thì mình cũng mệt. Nên chi Hắc Thuý Miêu nghe nói thằng tàn hoặc con tạ con nhà ông khố rách kia hay bà áo ôm nọ là chị có mặt trên từng cây số liền.
Vậy mà một hôm kia Hắc Linh Miêu ngoảnh mặt với một cái chết vì giao thông.
Bên Bát Quái cũng vậy.
***
Người chết ở khu nghĩa địa. Nghèo đến hẻo luôn. Với người khác thì Hắc Linh Miêu không bỏ qua. Nhưng dân nghĩa địa rành sáu câu và ba mươi hai bản nhỏ giá cả từ hàng họ đến tụng tiếc thì nuốt của chúng không vô. Mà đã ăn không vô thì giao cho hội Bảo thọ của xã muốn làm chi thì làm. Những cái chết bị xe tô phải hay trái không cần biết, nhà xe phải lo chôn cất cho mồ yên mả đẹp mới mong bên bị nạn làm cho cái bãi nại mà bớt được chút đỉnh trước toà. Mấy vụ nầy chủ trại hòm muốn hét giá bao nhiêu cũng qua. Khốn thay cho kẻ thọ nạn. Nửa đêm đi nhậu băng qua đường xe tô một phát nó chạy luôn. Chả có ai chứng kiến để biết là hai hay bốn bánh nữa mới là bí mật. Thân nhân người bị nạn khóc hết nước mắt đành lôi về lo hậu sự. Hội bảo thọ cho cái hàng cây da sơn màu đỏ. Trù trì Bảo Long Cổ Tự cùng tăng ni đến tụng từ thiện cho hương hồn người chết về tây phương Phật. Nói cho ngay cả hai Ngũ hành và Bát Quái cũng cho người đến thắp nén hương và cúng mỗi bên một phong bao một trăm ngàn.
Thiên hạ lắc đầu cho cái vô cảm của con người.
Ngày thứ tư sau lễ mở cửa mả. Cả nhà người chết chả biết moi đâu ra tiền để làm cái lễ thất nhật cho vong linh người chết đỡ tủi thì đùng một cái như sấm động. Người thân kẻ gây tai nạn mò đến xóm nghĩa địa và hỏi thăm nhà người chết.
Mẹ của tài xế kể rằng tô xong anh ta bỏ chạy luôn. Và vô cùng mừng rỡ khi chả ai biết gì về cú đâm xe định mệnh ấy. Nhưng khốn thay suốt cả ba hôm nay anh ta bất an. Gia đình và bè bạn nói kiểu gì cũng không nguôi nổi ám ảnh và tiếng động của xe khi va vô người. Cái xác của kẻ bị nạn phủ ngập tâm hồn khiến anh ta không ngủ được. Sáng nay tài xế quyết định ra đầu thú và yêu cầu gia đình đến để giải quyết hậu hoạn.
Nhưng có cái gì đâu mà giải quyết. Hàng họ thì của cho. Đám thì ba cái bánh ngọt vài can rượu đế chả đáng là bao. Thân nhân người gây tai nạn ngõ ý muốn xây một ngôi mộ có mái vòm yên ủi người chết để người gây tai nạn bớt cắn rứt lương tâm.
Bầy em của Hắc Thuý Miêu đánh hơi ra vị tiền liền thoại cho chị.
Hắc Thuý Miêu chốt giá một ngôi mộ đá hoa cương có mái vòm là năm mươi triệu.
Ta bà nói thẳng:
– Bà sống có lương tâm chút coi bà Thuý.
Hắc Linh Miêu hát một câu trong tuồng cải lương:
– Lương tâm hay lương tháng, tao cũng cóc cần…
Nguyễn Trí

Răng

nguyenvanthien

Quanh sân gạch ai cùng ai đuổi bắt
Vấp ánh trăng tuổi thơ ngã lăn cù
Răng sún cười chân mây xa lắc
Hương ổi hoài thơm ngọt góc vườn thu

Xưa răng sữa dại khờ đau vú mẹ
Giọt ca dao nhỏ máu thắm nuôi hồn
Táo cành cao em gọi mời leo té
Vườn địa đàng nay gãy chiếc răng khôn

Thương nội quê nghèo móm mém nhai ngô
Ngày giáp hạt cháo cơm nhường con cháu
Ta lưu lạc xứ người gặm bánh mì khô
Cắn phải nỗi buồn chân răng rươm rướm máu

Rừng chưa kịp xanh mùa thu vội đến
Kỷ niệm hoá răng nanh hoang thú xé hồn ta
Hiên mưa xưa ai đứng cười răng khểnh
Cuối trời còn hiu hắt nắng môi hoa.

Nguyễn Vân Thiên

CÓ THỂ EM VỀ TÔI ĐàĐI

truongdinhphuong

Em này
có thể ngày mai em về
cũng là khi tôi đã đi xa
chỉ còn đó linh hồn phố cũ
và con gió nằm rên trên xác cỏ
đã từ rất lâu
một mình vâng chỉ một mình tôi
kiên trì đo chiều sâu từng giọt lệ
đêm nối tiếp đêm
len tàn tro nguội lạnh
khêu dậy trong tôi cô độc tận cùng
quá nhiều lần tôi tự hỏi
có gì buồn hơn ánh mắt mùa đông ?
có gì tàn phai hơn mái tóc những ngả đường lỡ hẹn ?
có gì gây tổn thương hơn lời kẻ mình yêu mến?
có gì mặn hơn năm tháng đợi chờ?
ngày mai có thể em sẽ về
cũng là khi tôi đã đi xa
và phố có lẽ sẽ gầy thêm một chút
nhưng chắc chẳng nghĩa lý gì
bởi em về đâu phải để tìm tôi.

Trương Đình Phượng

Ác mộng

nguyendinhbon

Thấy đi giữa dòng người cuồn cuộn
Và bao nhiêu máu chảy đầu rơi
Rồi thảng thốt giật mình tỉnh lại
Một giấc trưa ngủ giữa ngậm ngùi…

Ngày tôi sống bao điều oan trái
Bao tang thương ẩn ức căm hờn
Nên giấc mộng nhuốm màu man dại
Dù lòng tôi chỉ muốn yêu thương

Đã xa quá mộng lành ngày cũ
Một bàn tay ánh mắt bờ vai
Một con sông một triền cỏ dại
Một tiếng chim về hót hiên nhà…

Bỗng thấy thương mình thương dân Việt
Hận thù kia cứ mãi chất chồng
Ngay cả ngủ cũng toàn ác mộng
Trong mơ mà máu chảy như sông!

Nguyễn Đình Bổn

CƯỠI NGỌN SẤM(11)

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 6: Các trinh sát của Ripley

Trận chiến tiếp tục mãnh liệt từ xế trưa đến tận chiều tối, vẫn là cận chiến và tàn bạo, thường là bằng lưỡi lê và trong tầm ném lựu đạn. Phi pháo yểm trợ cho TQLC Hoa Kỳ rất có hiệu quả và chận đứng được phần lớn quân Bắc Việt từ phía xa và làm nhụt nhuệ khí của bọn chúng tuy không hoàn toàn đánh tan được âm mưu của họ muốn tái chiếm các trang thiết bị bỏ rơi lại.

Lực lượng TQLC được tăng viện cho các Tiểu đội thuộc các Trung đội 1 và 2 mang theo đầy đủ đạn dược để sử dụng. Các trực thăng chỉ tản thương những thương binh nặng. Phần còn lại, hầu như tất cả mọi người đều ở lại chiến đấu.

Trong khi đó, Đại đội India tăng viện cho Lima vẫn tiếp tục hành quân vào trận địa ròng rã suốt ngày. Vào khoảng 5 giờ rưỡi hay sau đó một chút thì một Trung đội thuộc India đã bắt liên lạc được với tuyến phòng thủ của Lima. Thật là một điều vui mừng cho tất cả các chiến sĩ Lima khi biết rằng đoàn “kỵ mã,” mặc dù muộn màng nhưng rốt cuộc đã vào được trận chiến. Tất cả các TQLC Lima reo hò “Chúa ban phước cho India!”

Đại úy Ripley nghĩ rằng vị trí Đại đội anh đã được tăng cường và tái bố trí lại đầy đủ. Do đó, họ đủ sức để giữ lại toàn bộ các quân dụng của quân Bắc Việt không bị mất trở lại vì Đại đội anh đã trả một giá quá đắt cho mảnh rừng địa ngục tắm quá nhiều máu của đồng đội. Tuy nhiên anh vô cùng sửng sốt khi Thượng sĩ Mack, Trung đội trưởng của Đại đội India mới bắt được liên lạc, truyền lệnh của cấp trên là phải bỏ mục tiêu và lợi dụng bóng đêm rút về chỗ ngã ba đường mòn mà Trung đội 3 đang án binh bất động.

Đại úy Ripley tái cả mặt. Cho dù nếu Đại đội anh không phải trả cái giá cao như vậy để chiếm toàn bộ trang thiết bị của quân Bắc Việt, vị “đích thân” của Lima 6 không hề nghĩ đến chuyện phải bỏ hết chiến lợi phẩm để rồi lại phải tái chiếm trở lại lần nữa. Tuy nhiên, giả sử toàn bộ Đại đội Lima còn sức khỏe tối đa, hay đây không phải là một tình huống chiến thuật, hoặc giả đi mướn một công ty chuyển vận nào đó có đăng quảng cáo trên báo, Đại úy Ripley có lẽ sẽ cần cả một đội vận tải hoặc toàn bộ phương tiện chuyển vận của quân đoàn mới chở hết chiến lợi phẩm nổi.

Trên thực tế có lẽ không có phương cách hay điều nào trong sách quân sự hướng dẫn làm thế nào để ngưng chiến được. Cuộc chiến tự nó giảm dần cường độ khi bóng đêm phủ xuống vì cả hai phía đều kiệt sức về thể chất, tinh thần cũng như cạn hết thiết bị.

Trước khi tháo lui khỏi vị trí lúc này nhuộm đầy máu của chiến sĩ Đại đội Lima và bộ đội Bắc Việt, Đại úy Ripley và “Hoàng tử” Henry, cũng bị thương giống như xếp của mình, phối hợp gọi hỏa lực yểm trợ còn dữ dội hơn trước nhằm xóa trắng khu vực họ sắp rời bỏ. Tâm lý của những tay TQLC giống như những đứa trẻ ngoan cố và ích kỷ, nếu họ không giữ được vị trí thì đừng hòng quân Bắc Việt xớ rớ tới. Chẳng bao lâu các phi tuần không yểm thả xuống những trái bom “snakes” (Snake-Eye là những trái bom chứa hơn 500 cân Anh chất nổ cực mạnh) và “nape” (tức Napalm, một hóa chất dẻo có thể đốt cháy tất cả mọi thứ khi nó chạm vào). Hỏa lực pháo binh thì rót xuống hàng loạt đạn pháo cực mạnh. Đến khi cuộc không tập hoàn tất thì các đồ tiếp liệu chẳng còn lại thứ gì mà bộ đội Bắc Việt có thể sử dụng được nữa.

Trong khi giữ trật tự hàng quân để bảo đảm nắm vững được tất cả TQLC, Đại úy Ripley hỏi Thượng sĩ Đại đội để kiểm tra lại về tình hình quân số. Duyệt qua bản phân công bi thảm bị cắt xén của Đại đội Lima, với cách nói rặt theo kiểu TQLC, Thượng sĩ Đại đội báo cáo lại với anh một cách vắn tắt về kết quả khủng khiếp trong ngày: “Thưa xếp, chỉ còn 15 con là không bị chết hay bị thương trong ngày hôm nay… Đó là kể cả xếp nữa đấy.” Với quân số còn lại như vậy, Đại đội Lima đồng loạt rút ra khỏi trận địa hướng về phía con đường mòn.

Bóng dáng Lưỡi Hái Tử Thần
Cái mệnh lệnh hùng hồn, tuy không hợp pháp lắm theo quân kỷ của Đại úy Ripley cho thuộc hạ là “Dù có bị thương, không bao giờ được chuyển taovề hậu cứ!” đã được tuân hành một cách tuyệt đối. Đoạn điện đàm sai lạc “xếp gục rồi, xếp gục rồi!” của một tay truyền tin đại đội đã được loan truyền ngược về bản doanh Sư đoàn G-3, nơi theo dõi mọi cuộc trao đổi, và chắc chắn nó cũng bị phía truyền tin Bắc Việt nghe lén được.

Một nhân viên truyền tin vô danh của Sư đoàn biết Đại úy John Ripley có người anh tên là George Ripley hiện đang làm Thiếu tá, sĩ quan hành quân của Sư đoàn 3 TQLC, đơn vị chủ quản của 3/3. Do đó anh ta đã ghi lại đoạn tin này trên một trong các loại mẫu giấy đưa tin chính thức của chính phủ Hoa Kỳ, loại có ba mầu đệm giấy cạc-bon ở giữa. Thiếu tá George Ripley nhận được bản sao màu vàng chép cái tin bán chính thức và chưa kiểm chứng là: “Đại đội trưởng L 3/3 đã bị trọng thương. Vẫn còn thở…” Thiếu tá George Ripley chính là người đã trái lệnh thân phụ, cho đứa em mình mượn cuốn “Tiếng thét xung trận” của Leon Uris từ thuở nào. Chính sự kiện đó đã ghi sâu đậm vào tâm hồn non trẻ của đứa bé và đưa đẩy nó vào một cuộc sống có vẻ như sắp đến hồi cáo chung lần này. Lòng nặng trĩu vì hối hận chen lẫn bực tức, Thiếu tá George Ripley vò nhầu mảnh giấy vàng và bỏ vào túi.

Khi tin Đại úy Ripley bị thương, mặc dù chưa kiểm chứng được truyền ra thì cái thủ tục hết sức vô lý và bất di bất dịch là phải báo cho thân nhân biết ngay đã được khởi động lập tức. Vì còn ở ngoài mặt trận nên Đại úy Ripley không có cách nào để ngăn chận cái thủ tục đó được.

Trận đánh ngày 2 tháng Ba kết thúc đã lâu, để thay bằng nhiều cuộc đụng độ lẻ tẻ khác trong những ngày kế tiếp nhưng viên sĩ quan có nhiệm vụ báo tin dữ đã thông báo cho Moline, vợ của John Ripley rồi. Lúc đó Đại úy Ripley vẫn còn tả xung hữu đột ngoài trận địa chỉ huy binh lính nên không biết là vợ mình cùng gia đình đã được tin mình bị thương mà chẳng làm gì được.

Với tâm trạng khắc khoải chờ đợi tin dữ, Moline Ripley luôn chú ý đến các tin tức tường thuật có liên quan đến Việt Nam. Nàng có thể đang ở một phòng khác chăm sóc cho cậu bé Stephen hay đang lo việc nhà nhưng đôi tai lúc nào cũng lắng nghe những chữ như “TQLC” hay “thương vong” hoặc “Quân đoàn I…” Nếu không có tin gì, không có cuộc hành quân nào liên quan đến TQLC có nghĩa là tin vui.

Vào buổi chiều tối ngày 3 tháng Ba, 1967, Moline vừa đọc xong mẩu tin về đề nghị ba điểm của Thượng nghị sĩ Robert Kennedy nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Kế hoạch của ông bao gồm việc ngưng dội bom Bắc Việt, rút quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH về phía Nam, và thay thế bởi một lực lượng quốc tế trung lập. Ý tốt của ông TNS chắc hẳn không tác động gì đến cả hai phía hiện còn đang mải mê đụng độ quyết tử tại Vùng I Chiến Thuật.

Cũng có nhiều tin tức liên quan đến phong trào phản chiến đang lan nhanh trong môi trường Đại học. Mới hai tuần trước đó, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra trong trường Đại học Wisconsin. Các sinh viên phản đối sự hiện diện của đại diện hãng Dow Chemical tại trường. Dow Chemical chính là hãng đã sản xuất loại bom napalm mà Đại úy Ripley và “hoàng tử” Henry mới chỉ vài tiếng đồng hồ trước đó đã điều khiển tài tình ném vào trận địa cứu các TQLC của Đại đội Lima và tiêu diệt kẻ thù. Họ đến trường đại học nhằm thu phục các nhà khoa học gia trẻ tuổi trong tương lai. Các cuộc biểu tình đã gây chú ý cho dư luận toàn quốc. Khi các cuộc biểu tình tàn lụi thì nhóm sinh viên, ngoại trừ những tay tổ chức, ai nấy trở về cuộc sống sinh viên trụy lạc muôn thuở của họ. Đối với các TQLC được sống sót nhờ tài nghệ khoa học của các kỹ sư hãng Dow thì cuộc sống và cái chết là tất cả những gì làm họ bận tâm nhất.

Moline và người chị dâu Maureen lớn hơn vài tuổi rất thân và qua lại thường xuyên với nhau. Chồng của Maureen là Thiếu tá George Ripley, người đầu tiên trong gia đình nhận được cái tin dữ. Hai bà vợ sống trong cùng một tòa chung cư tại Alexandria, Virginia trong khi các đấng phu quân đã tòng quân ra mặt trận. Họ thậm chí có thể gọi nhau ơi ới từ căn này qua căn kia. George và Maureen có ba đứa con gái đều lớn hơn Stephen cho nên hai bà mẹ có thể nhờ vả lẫn nhau những lúc cần thiết.

Cửa sổ căn bếp của Maureen nhìn ra khu đậu xe chính mà khách viếng khu vực chung cư bắt buộc phải đậu xe tại đó. Maureen là người đầu tiên phát hiện ra chiếc xe của viên sĩ quan đại diện TQLC Hoa Kỳ. Chẳng thà tay sĩ quan này là bộ xương tử thần cưỡi ngựa còn hơn. Vì Maureen và Moline là hai người vợ lính duy nhất trong khu vực này thành thử trừ phi tay TQLC bị lạc, sự kiện này đã làm hỏng ngay lập tức buổi sáng của nàng. Maureen nghĩ rằng hoặc là chồng mình hay người em rể đã ra đi.

Maureen Ripley vội vã bồng ngay đứa con gái út, hai đứa kia thì còn trong trường học. Nàng chạy ra đón viên Đại úy TQLC trẻ tuổi ngay khi anh này mới đậu xong chiếc xe. Nhận ra từ xa nỗi sợ hãi cùng cực trong ánh mắt của người phụ nữ khi nàng đến gần, anh Đại úy nói ngay một tích tắc trước khi Maureen mở lời thành thử cả hai dường như cùng nói một lúc.

“Xin bà làm ơn cho biết gia đình Ripley ở đâu?”
“Đại úy muốn tìm Ripley nào?”
Khi Maureen hiểu ra là John chứ không phải George thì nàng có một thoáng biết ơn là chồng vẫn chưa sao cả. Sự mừng rỡ lập tức bị thay thế bởi niềm hối hận của người thoát nạn và nỗi buồn và cảm thông đối với Moline và cả bé Stephen nữa. “Để tôi dắt anh gặp vợ của Đại úy John Ripley…”

Maureen Ripley dẫn viên Đại úy đến căn chung cư của em dâu mình. Trong lúc đi, mặc dù cố gắng lễ độ và giữ thái độ hết sức chuyên nghiệp, tay sĩ quan không thể nào bắt chuyện thân mật với người phụ nữ được. Và đoạn đường dài tưởng chừng như vô tận. Khi họ đến trước cửa phòng Moline, anh Đại úy gõ nhẹ một cách lịch sự lên cánh cửa. Maureen thì đứng nép phía sau.

Moline Ripley trả lời ngay vì nàng không trông đợi ai sáng hôm đó và bà chị dâu thì chẳng bao giờ gõ cửa cả. Nhưng khi mở cửa ra thì thái độ của nàng chuyển nhanh như chớp, từ nụ cười tự nhiên thành nỗi kinh hoàng, sợ hãi và buồn bã cùng cực. Mặc dù chưa quen lắm với công tác này nhưng anh Đại úy trẻ đã trải qua nhiều kinh nghiệm với những phản ứng khác nhau khi anh hiện diện trong tình huống như thế. Chẳng có lần nào tốt đẹp cả, chỉ có lần này đỡ tồi tệ hơn lần khác mà thôi. Chẳng thà anh đối diện với quân thù như Đại úy Ripley còn hơn là phải làm các công việc sĩ quan đưa tin. Nhưng nhiệm vụ thì phải thi hành thôi.

Moline kêu lên, nói lớn: “Trời ơi, không…?” Gắng gượng giữ bình tĩnh và giữ một thái độ chững chạc, nàng kiếm lời mời viên Đại úy vào. Trong giây phút hoảng hốt, Moline quên cả người chị dâu và đóng sầm cửa lại.

Nhiệm vụ sĩ quan liên lạc báo tin thương vong hết sức kỳ dị và khủng khiếp. Trong những trường hợp liên quan đến TQLC bị tử trận không bao giờ có kết quả tốt đẹp hay niềm vui nào cả. Tuy nhiên đối với gia đình của các sĩ quan hay hạ sĩ quan TQLC chuyên nghiệp thì họ gần như mừng rỡ khi biết tin người thân “chỉ” bị thương mà thôi.

Khi viên sĩ quan liên lạc đã trấn an Moline rằng chồng nàng vẫn chưa mệnh hệ nào và có lẽ sẽ hồi phục, không khí chung thay đổi hẳn. Moline cảm ơn anh ta rối rít và ghi nhận lòng tốt bụng và tính chuyên nghiệp của anh. Moline được an ủi là chồng không bị nguy hiểm đến tính mạng. Ít nhất là chưa, trong lúc này.

Thủ tục báo cho người thân nhất, tức người vợ nếu người lính đã có gia đình hay cha mẹ khi người này còn độc thân thường mang tính cách trực tiếp cá nhân hơn là khi báo cho những người không phải là trực hệ. Trong trường hợp của Đại úy John Ripley thì cha mẹ anh nhận được bức điện tín vô hồn vô xúc đặc trưng vào thời kỳ đó. Cho đến năm 1967 điện tín được sử dụng càng lúc càng ít đi vì điện thoại viễn liên đã được phổ biến nhiều hơn, ngoại trừ thói quen liên lạc kỳ lạ của một cơ quan chính phủ nào đó có nhu cầu báo tin cho gia đình biết về cái chết của một người thân ngoài chiến trường.

Trong cái tỉnh lẻ Radford nằm về hướng Tây Nam, ông bà Bud và Verna được mọi người biết đến là cả ba người con của họ đang chiến đấu tại Việt Nam trong cùng một thời điểm. Dân chúng trong các tỉnh nhỏ toàn cõi nước Mỹ vào năm 1967 đều có quan niệm là người phát tín viên hãng Western Union, tuy trông vô hại trong bộ đồng phục kỳ cục nhưng chính là “lưỡi hái tử thần” trong thời kỳ chiến tranh đang lan rộng ra. Ngoại trừ trường hợp có ai đó gởi điện tín báo tin sanh con – một tình huống đáng tiền để gọi điện thoại đường dài – còn lúc này thì không có ai trong đại gia tộc của ông bà Ripley đang mang thai, do đó bất cứ điện tín nào cũng không thể là tin vui được.

Khi bức điện tín đến và trước khi nó được trao cho người nhận, ngay cả cũng chưa ai biết nội dung ra sao, thì tin ông bà Ripley có điện tín lan đi cấp kỳ khắp tỉnh Radford, lan nhanh đến nỗi có một số lớn người cho rằng đã biết tin dữ rồi, ngay cả khi ông bà Ripley chưa nhận được nó.

Bà Verna Ripley đã nhìn thấy nhân viên Western Union từ xa trước khi ông ta đến cửa nhà. Cho là chỉ có tin dữ mà thôi, bà chạy ngay về hướng khác khóc la thảm thiết, làm như chẳng thà không biết chính xác thì có thể chối bỏ được thực tại. Ông chồng Bud buộc phải ở lại để nhận cái tin còn khá mông lung nhưng nhờ Trời, điều chắc chắn là người con út vẫn còn sống.

Tin Đại úy John Ripley thật ra vẫn còn sống và còn đủ sức chỉ huy đơn vị là một liều thuốc bổ cho cô vợ trẻ xinh đẹp. Moline Ripley cố gắng tiếp nhận cái tin đó và bám víu vào hy vọng là chồng vẫn còn an toàn có lẽ là cách duy nhất để nàng chấp nhận cái thực tế là không có thêm chi tiết nào khác về tình trạng của chồng. Mà nếu biết thêm thì chắc sẽ làm Moline càng lo lắng hơn nữa. Thôi thì ít nhất là chồng vẫn còn sống sót. Điều này an ủi và khiến nàng tiếp tục tập trung vào việc chăm sóc thằng con cưng Stephen, một điều hoàn toàn trong tầm kiểm soát của nàng.

Tuy nhiên tình trạng Đại úy Ripley không hẳn là đã an toàn. Mặc dù anh không muốn người thân phải lo âu nhưng thực tế là các hoạt động tại Vùng I Chiến Thuật không bao giờ chấm dứt và không hề lắng dịu trở lại.

24 tiếng đồng hồ trôi qua sau trận đánh và khi kiểm điểm quân số còn lại thì cả hai Trung đội trưởng của Ripley đã cùng bị tử thương và tất cả các Tiểu đội trưởng của cả hai Trung đội 1 và 2 đều đã bị tử trận hoặc trọng thương. Thật là một điều oái oăm là cuộc đụng độ đã được phát động và chấm dứt bởi cái Tiểu đội có người đã phát hiện ra bộ chỉ huy của Trung đoàn Bắc Việt vào khoảng 12 tiếng đồng hồ trước đó.

Sau rốt thì Đại úy Ripley cùng với một ít quân số còn sống sót cộng thêm quân tiếp viện trong ngày đã bắt tay lại được với Trung đội 3 đang trấn giữ chỗ ngã ba con đường mòn. Cùng với đám hỗn tạp TQLC của Đại đội Lima là số lớn chiến sĩ của Đại đội India và một ít chiến sĩ của Tiểu đoàn.

Vừa đánh xong một trận quan trọng, bị thiệt hại và bổ sung thêm một số lớn binh sĩ nhưng các TQLC không hề được nghỉ ngơi. Đây không phải là một trận bóng chày thể thao. Thời gian không hề đừng lại mặc dù Đai đội Lima đã gần cạn nhân lực. Họ là TQLC Hoa Kỳ và nơi đây, tại Vùng I Chiến Thuật, cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn.

Khi các đơn vị rời rạc đã kết hợp lại được với nhau trước khi đêm xuống thì các biện pháp chiến thuật thông lệ được thiết lập trở lại. Các chiến sĩ được lệnh sẵn sàng ứng chiến 50%, cứ mỗi hầm phòng thủ với hai người thì một người được ngủ trong khi người kia canh gác. Mỗi Trung đội phải cử ra một toán cảnh vệ hay phục binh để phòng thủ trung tâm hành quân. Mặc dù đã kiệt sức nhưng Đại úy Ripley vẫn dùng điện đàm điều động mọi người cùng với viên truyền tin. Hạ sĩ Hobbs được phái đi cùng với Tiểu đội anh đến một địa điểm do Đại đội trưởng chỉ định. Họ chọn một vị trí phục kích thuận lợi nhất để phòng ngừa nếu quân Bắc Việt có muốn tấn công, chúng bắt buộc phải đi qua địa điểm đó. Quả nhiên Hạ sĩ Hobbs và thuộc hạ của anh chẳng cần phải chờ đợi lâu lắc gì mấy.

Một cuộc tàn sát không hơn không kém đã xảy ra. Có lẽ bộ đội Bắc Việt nghĩ rằng quân Mỹ sẽ án binh bất động vì cho rằng kẻ thù đã bị tổn thất nặng nề gấp nhiều lần họ và cũng kiệt sức như họ. Cường độ hỏa lực xé nát bóng đêm. Vị trí phục kích khá xa nhưng cũng đủ gần để toàn bộ Đại đội nghe kẻ thù kêu thét lên, giống như đang van xin: “Chiêu hồi! Chiêu hồi!” TQLC trả lời: “Chiêu hồi cái con mẹ mày… Chiêu hồi là cái quái gì?…”

Về sau này họ mới biết là toán lính Bắc Việt bị trúng phục kích của Hạ sĩ Hobbs đã có ý định muốn đầu hàng. Họ nói “chiêu hồi” ám chỉ là muốn buông súng mà thôi. Tuy nhiên đêm hôm đó TQLC đã không tha một ai. Cho dù họ có hiểu ý định của toán lính Bắc Việt nhưng trải qua nỗi kinh hoàng của trận đánh trước đó, không thể biết liệu họ có chịu bắt tù binh hay không?

Các cuộc giao tranh vào ngày 3 tháng Ba cũng chẳng khác ngày hôm trước bao nhiêu. Ngày 4, 5 và 6 cũng vậy. Đại đội Lima vẫn trấn giữ trận địa, tả xung hữu đột từ địa điểm này qua vị trí khác và đụng độ mỗi ngày. Sự nhận xét của Machete Eddie khá chí lý, John Ripley dường như là cái nam châm thu hút mọi hoạt động vào anh. Đại đội Lima đã phải nằm lại tuyến đầu cho đến hết tháng Ba. Chuck Goggin vẫn chỉ huy Trung đội 1 và được Đại úy Ripley phong lên cấp bậc Trung sĩ mặc dù anh không có thẩm quyền để làm chuyện đó. Tướng Ryan vài ngày sau đó đã thị sát mặt trận và thăng cấp chính thức cho Goggin.

Mỗi một ngày đều giống như ngày hôm trước, và ngày trước đó. Toán TQLC chỉ biết là Chủ nhật đã đến vì đó là ngày mà nhân viên thường vụ phát thuốc ngừa sốt rét. Các cuộc giao tranh và đụng độ với kẻ thù liên tục không ngừng nghỉ. Hàng ngày, binh lính bị tử trận và thương vong cũng không giảm.

Cuộc hành quân liên quan đến Lima 3/3 vào đầu tháng 3 năm 1967 không phải là duy nhất trong Vùng I Chiến Thuật. Tại các vùng còn lại của Quân đoàn I và khắp miền Nam Việt Nam, trong tuần đầu của tháng 3, quân đội Hoa Kỳ đã chịu các sự thiệt hại nặng nề nhất từ trước đến nay. Tổng cộng có 1.617 quân Mỹ đã bị thiệt mạng, bị thương hay mất tích.

Cho dù bị đánh tơi bời và kiệt sức lực nhưng các binh sĩ TQLC còn lại rất tin tưởng vào khả năng của các cấp chỉ huy họ. Các TQLC Lima còn sống sót rất đáng được tự hào. Trong mỗi cuộc đụng độ họ đều bị thiệt hại nhưng vẫn luôn luôn chiến thắng kẻ thù.

Vào khoảng hai tuần sau trận giao tranh đầu tiên ngày 2 tháng Ba thì một chiến sĩ Đại đội Lima nhận được trong thư tín của mình một mảnh tin cắt ra từ báo Boston Globe hay một tờ báo nào đó vùng Đông Hoa Kỳ mô tả về thành tích của toán quân mệnh danh là “Các Trinh Sát của Ripley.”

Điều lạ lùng đã xảy ra là trong cái ngày tưởng chừng như vô tận đó, trong một lần tiếp tế và tản thương cho vị trí của Đại đội Lima đã chiếm lĩnh được và đang phòng thủ trong ngày 2 tháng Ba, một nhóm thông tin báo chí đã được người ta chở đến để quan sát cái “tổ ong vò vẽ” mà Lima đã đụng phải. Trong lúc Đại úy Ripley và mỗi một TQLC còn bận chiến đấu thì các toán quay phim và ghi âm đã tùy tiện quay các vị trí của Đại đội Lima, làm như là họ đứng ngoài và không can dự vào cuộc chiến đang diễn ra chung quanh. Đối với các TQLC đang thi hành nhiệm vụ thì chuyện này rất bực mình và làm xao nhãng tinh thần họ. Một nhóm phóng viên với thái độ bàng quan trước các sự việc đang xảy ra chung quanh còn quay cảnh một toán TQLC khiêng thương binh trên tấm poncho dùng làm cáng ra trực thăng tản thương đang chờ ngoài bãi đáp. Một loạt bích kích pháo nổ rền làm các TQLC nhào xuống núp và đánh rớt đồng đội xuống đất. Nhóm quay phim lập tức chụp được cảnh này. Cha mẹ của người thương binh đã xem được cảnh bi đát của con mình như vậy trong bản tin chiến sự buổi chiều tại Hoa Kỳ. Điều này đã tạo cho họ một nỗi buồn sâu đậm không ngơi.

Từ lâu, trước khi sự việc này xảy ra, cảm tình của các TQLC đang lâm trận đối với giới truyền thông chẳng khá gì hơn tình cảm của họ đối với quân Bắc Việt chút nào. Khi trận đánh tiến triển và tăng dần cường độ, chính các phóng viên báo chí cũng bị lâm vào tình thế hiểm nghèo. Phản xạ bảo toàn tính mạng đã làm cho một anh ký giả chạy bổ về phía một chiếc trực thăng CH-46 đang sắp sửa bay lên với cái bửng đã bắt đầu rời khỏi mặt đất. Anh chàng này chạy thục mạng với tốc độ ngang với lực sĩ Jesse Owens và ném đồ nghề vào trong trực thăng. Chúng rơi đè lên cả một số thương binh TQLC đang được tản thương. Sau đó thì hắn cố trèo lên cái bửng đang đóng lại phía sau của chiếc Chinook. Các TQLC chứng kiến được cảnh hèn nhát này hầu hết ngán ngẩm và nổi giận. Một người của Đại đội Lima còn có ý định muốn cho hắn một phát đạn cho rồi.

Trong nhóm phóng viên thoát ra được và viết tường thuật lại thì ít ra cũng có một người rất ngưỡng mộ sự can trường và lòng quyết tâm của các chiến sĩ Đại đội Lima. Khi kể lại những gì mà anh đã chứng kiến và học hỏi từ các TQLC lúc đụng độ với kẻ thù, anh đã mệnh danh nhóm kiêu hùng này là “Các Trinh Sát của Ripley.” Họ đã chiến đấu anh dũng với quân số bị thu hẹp lại dần theo từng giờ đồng hồ.

Không rõ quân Bắc Việt có đọc tờ Boston Globe hay không, nhưng chuyện này cũng chẳng mấy quan trọng. Họ đổ vào trận chiến những đơn vị tinh nhuệ nhất càng lúc càng nhiều để quần thảo với các TQLC Hoa Kỳ khắp Vùng I Chiến Thuật. Các cuộc đụng độ đã xảy ra liên tục với cường độ tăng dần đối với các đơn vị Hoa Kỳ từ cuối tháng Hai 1967 trở đi là một thực tế mà ít người ở nhà có thể thấu hiểu nổi.

Đối với bất cứ đơn vị quân đội nào khác mà bị đóng quân tại Cà Lũ thì được mô tả là một nhiệm vụ khó khăn cùng cực. Nhưng so với trận tuyến mà Đại đội Lima vừa mới trải qua bốn tuần lễ trước đó, so với các trận giao tranh rùng rợn mà họ phải đối mặt hàng ngày với các đơn vị Bắc Việt tại vùng đất nhỏ bé phía Bắc Vùng I Chiến Thuật thì sự trở về Cà Lũ – bản doanh của Đại đội, một bản doanh kiên cố như Thành Apache giữa vùng hoang dã – lại là một điều tương đương với chuyện được lên thiên đàng nếu không bị sát hại vào đầu tháng Tư năm 1967.

Nằm trên một vị trí chiến lược dọc theo quốc lộ 9 bên cạnh giòng sông Thạch Hãn, Cà Lũ là một tiền đồn kiên cố do TQLC Hoa Kỳ trấn giữ nằm về hướng Tây trước khi đến Khe Sanh và chỉ cách biên giới Lào vào khoảng hai mươi cây số.

Nhằm giúp cho Đại đội Lima được tạm nghỉ ngơi dưỡng quân, một Đại đội khác được trực thăng vận xuống phòng thủ vòng đai căn cứ Cà Lũ. Khi người lính cuối cùng của Đại đội Lima đã vào được trong căn cứ vào khoảng 5 giờ rưỡi chiều, các TQLC được chiêu đãi theo đúng điệu của Binh chủng TQLC Hoa Kỳ. Thịt bít-tết được mang ra ăn thả giàn và bia rẻ tiền như từ trên trời rơi xuống cho mọi người. Lúc này họ trông giống như vừa tham gia vào một cuộc thử nghiệm điên khùng hàng loạt về sự mất ngủ, sự căng thẳng và thiếu thốn nhiều hơn là các chiến sĩ đã dày dạn chiến trường. Cho đến 10 giờ đêm khi một số lớn bụng đã no nê vì ăn quá nhiều thịt steak và uống say mèm bia thì lệnh trên báo xuống là một Tiểu đoàn của Sư đoàn 9 đang đụng độ lớn. Cần tăng viện gấp. Nửa tiếng đồng hồ sau, các “Trinh Sát của Ripley” đã sắp sẵn và lên đường hành quân. Họ đã trở lại trận địa… một cách nhiệt tình… thêm một lần nữa

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM