Cám Ơn Thượng Đế

diemchaunguyen

– Riết rồi nhà nầy như cái Chùa!
Lời than thầm của Thúy thế mà đúng sự thật! Quanh đi quẩn lại chỉ thấy cái mặt của nàng thường xuyên hiện diện trong nhà, còn cha con nó thì hiếm khi gặp! Bíbo từ khi thân thiết với thằng Lucky, coi như ở nhà thằng kia thường xuyên hơn… vì từ trường đi về gặp nhà bạn trước! Cũng may là những khi Thuý hô lên một tiếng, thì tụi nhỏ lập tức có mặt ngay.
Từ nhỏ, Bíbo được mẹ cưng chiều, con một không cưng sao được! Nhưng dù sao thì Thúy cũng dạy dỗ con theo phương pháp của Mỹ, cùng với niềm hy vọng là mai sau, khi về già còn có con cháu quanh mình để hủ hỉ, chứ không cô độc như vài người bạn quen biết lớn tuổi.
Công nhận là lúc nhỏ thằng Bíbo nó quấn mẹ hơn những đứa trẻ khác, làm cho Thúy bằng lòng và hãnh diện, vì con người ta khi tụ lại chơi đùa có đứa nào nhớ đến cha mẹ đâu, chỉ có Bíbo cứ thỉnh thoảng chạy đến chỗ mẹ hôn một cái, rồi mới chạy chơi tiếp… và con nàng lại là một đứa đẹp trai, xinh xắn.
Trong lúc Thúy dành hết thì giờ cho công việc và chăm con, thì Văn luôn có các sinh hoạt riêng cho mình. Ngoài giờ đi làm, còn lại thì Văn dành cho họp hành thơ phú, lúc sinh hoạt cộng đồng, lúc đi văn nghệ nhảy đầm, ra mắt sách…
Vợ chồng hai xe, mạnh ai nấy đi. Văn cứ nghĩ con do vợ coi, thế nên ít khi kề cận bên thằng bé.
Sự suy nghĩ của Văn đối với gia đình là thế, Thúy cũng cho là đúng, vì nàng đã có thằng con làm điểm tựa tinh thần đủ rồi. Mỗi lần ở gần Văn, cứ đưa ra ý kiến ý cò gì, là hai vợ chồng lại hay tranh cãi, nên Thúy không thích lúc nào chồng cũng ở một bên.
Nhưng niềm vui nơi đứa con Thúy chỉ có được hoàn hảo khi Bíbo còn nhỏ. Đến năm thằng bé mười hai tuổi, nó bắt đầu không còn thích đi chung với mẹ như trước. Mỗi khi Thúy ôm âu yếm hôn con, nó lại mắc cỡ né tránh…
Lúc đầu Thúy chau mày bực bội. Khi vào sở nói chuyện, thì ra tâm trạng của mấy bà kia cũng thế! Bà Becky to mồm:
– Bà còn đỡ, con tôi khi mới mười tuổi, nó đã không cho ôm rồi!
– Tại con bà lớn xác hơn mấy đứa kia!
– Ừ… nó mới nhiêu đó mà trông như thiếu niên mười sáu, làm sao để mẹ nựng được nữa!
Mấy bà cười ha hả khi bà Rose thêm:
– Mẹ hun thì không cho, nhưng con gái ôm là Ok liền…
Biết vậy, nhưng Thúy cũng lo lắng trong thời gian đầu… rồi sau đó cũng quen.
– Mẹ nhớ đừng ôm hôn con chỗ có người!
Thằng Bíbo dặn dò, nó nói có lý, nó cũng có “sĩ diện” chứ giỡn sao!
– Con mình, mình thương mà cũng bị bắt bẻ!!!
Nghe giọng mẹ có vẽ giỗi hờn, Bíbo cười:
– À, con có đứa bạn, ba mẹ nó mất đã lâu, lúc nầy nó hay buồn vì không có ai ở gần… con giới thiệu cho mẹ nghe…
– Để làm gì?
– Thằng nầy nói với con nó thèm một vòng tay ấm áp của mẹ, một tình mẫu tử thiêng liêng mà nó đã mất… Nó tới đây mẹ được ôm đã đời luôn, hai người cùng thích!
Thúy lườm thằng Bíbo một cái đích đáng! Đúng là đùa vô duyên!
– Dẹp đi, dù sao hoàn cảnh nó cũng tội nghiệp! Con đừng có giỡn trên sự đau khổ của kẻ khác!
Tuy lẵng qua chuyện khác, nhưng Thúy vẫn thắc mắc về đứa trẻ mồ côi mà con vừa nói, định bụng hôm nào nhắc Bíbo đưa nó về đây để đãi ăn chả giò Việt Nam.
– Thằng bạn con nói nó tên gì?
– Lucky.
– Tên vậy mà đời chán thế!
– Chắc mẹ nuôi của nó đặt để lấy hên… Bà đó ít nói ít cười, con sợ lắm, bả lại mê đánh bài!
– Sao con biết?
– Nghe nó nói… khi nào buồn vì kiếm việc không ra, bả hay tới “parking” của chợ Von, nơi đó có xe bus của sòng bài đợi để chở miễn phí đến nơi chơi đánh bài trên núi.
– Bộ bả thắng hay sao mà đi hoài?
Bíbo cười lắc đầu:
– Mỗi lần chán là bả đi… mom có nghe ai cũng nói câu “đi đánh bài để góp tiền gắn bóng đèn” cho Casino không!
Thúy trợn mắt nhìn thằng con bé bỏng:
– Con còn nhỏ mà cũng biết câu nầy nữa à? Ở đâu ra mà học hay vậy?
– Thằng Lucky nó nói cho con nghe!
– Má nó hư vậy sao người ta lại cho bả nuôi nó?
– Hồi đó mới xin nó về bả cũng đàng hoàng lắm, như mom vậy đó…
– Rồi sao?
– Sau đó chồng bả mê người khác, lấy cớ không thích có con nuôi trong nhà, nhất định ly dị… nên bả thất tình, buồn mới đi chơi bài!
– Người ta buồn đi uống rượu cho quên, còn bà nầy thì đi đánh bài…
– Bả đánh bài hoài đến nỗi đi làm thất thường vì mất ngủ, sau đó bị xếp ghét, đuổi việc luôn…
– Nói vậy là mom biết chắc số thằng Lucky khổ rồi!!! Sao người ta không lấy lại nó?
– Chắc họ chưa biết…
Rồi thằng bé nhìn mẹ:
– Bộ mom muốn nuôi nó hả?
Thúy trố mắt nhìn con:
– Đâu có, sao con hỏi vậy?
– Tại con thấy mon hay thương người…
– Không phải… thương thì có thương… nhưng nuôi một đứa nhỏ không dễ đâu con, nhiều thủ tục rắc rối, trách nhiệm lắm… với lại mom có Bíbo rồi, đâu cần nuôi đứa khác chi nữa!
Thằng Bíbo có vẻ cảm động khi nghe mom của nó nói, nhưng nó vẫn ngồi im đó chứ không xà vào mẹ như xưa…
– Nó đã biết suy nghĩ rồi!
Câu chuyện giữa hai mẹ con có vậy mà làm cho Thúy vấn vương mãi trong đầu hình ảnh thằng Lucky mà nàng hình dung ra một đưá trẻ ốm o tội nghiệp. Trong lòng Thuý thầm nhủ phải làm một bữa chả giò tôm cua nổi tiếng trên thế giới của người Việt Nam, rồi kêu Bíbo rủ Lucky đến nhà ăn tối… không phải Thúy đặc biệt gì thằng bé, nhưng chính nàng và cả nhà lâu rồi không ăn cũng nhớ, vì thịt cua quá mắc mỏ!
Tính toán như vậy, nhưng bỗng dưng trong sở Thúy lại gia tăng số đơn đặt hàng, phải làm cho xong trước ngày lễ… thế là nhân viên cong lưng ra mà miệt mài với công việc, Thúy quên luôn vụ nấu đồ ăn để mời bạn của con đến ăn tối.
Cho đến một hôm Văn đi làm về tới nhà thấy tối om, ngạc nhiên vào bếp tìm tòi xem bà vợ và thằng con hôm nay làm gì, không thấy mở đèn như mọi hôm?
Muì chả giò chiên thơm phức vẫn bốc lên thơm lừng làm cho Văn đói bụng hơn. Trên bàn đã dọn sẵn một số thức ăn, nhìn hấp dẫn chịu không nổi. Văn đưa tay bốc một miếng chả giò bỏ vào miệng…
– Ngon quá, chả giò cua… bà nầy chịu chơi dám mua cua làm, mọi lần chỉ là chả giò tôm đâu có ngon bằng!
Gọi phôn cầm tay của Thúy hỏi, thì ra hai mẹ con đang đi đón thằng bạn của Bíbo đến nhà ăn tối…
– Về liền, về liền, em đang lái xe, sắp tới nhà rồi…
Vào phòng thay áo quần cho thoải mái, Văn nghĩ tối nay phải uống một chai bia thay thế cho ly rượu vang vì chả giò quá ngon.
– Hừm… Đi đón bạn thằng Bíbo? Thằng nào mà “quan trọng” thế? được ăn chả giò cua?
Trả lời cho sự thắc mắc của Văn, tiếng xe ngừng trước cửa nhà, rồi thì vợ con và một thằng nhóc xuất hiện.
– Chào bác.
Thằng nầy nhìn giống người Hawaii, mặt mũi xinh trai ra phết! Cao hơn Bíbo cả nửa gang tay.
– Thôi, các con đi rửa tay rồi mình vào bàn ăn không nguội…
Nói xong, Thúy vào bếp lấy rau bỏ ra đĩa. Những lá xà lách xanh tươi mơn mởn, những cây rau thơm đủ loại nằm im bên mớ đồ chua, gồm cà rốt và củ cải trắng hấp dẫn.
– Xong rồi, ngồi vào bàn đi anh.
Mọi người quây quần bên nhau. Văn đọc vài lời cám ơn Thượng Đế và cả nhà bắt đầu ăn… Gắp bún vào chén, Lucky ăn một miếng chả giò và bật miệng:
– Non… non…
Nghe nó nói, Thúy không hiểu, hỏi lại bằng tiếng Mỹ:
– Cháu nói cái gì? Non là gì hả Bíbo?
– Non là “good” phải không Lucky?
– Yes… Non…non…
Bíbo xác định lại lần nữa:
– Là ngon phải không?
Thằng bé gật gật cái đầu, giơ ngón tay cái lên. Thúy cười… thằng nầy mà cũng biết nói “ngon” nữa! “Ủa, mà sao nó biết”?
Thúy quay qua Bíbo:
– Con dạy Lucky nói tiếng Việt hả Bíbo?
– Không mẹ… Lucky, sao mày biết chữ ngon?
Lucky giải thích:
– “Boy friend” của má nuôi dạy nói…
– Ủa bộ ổng người Việt hả?
– Yes…
Vừa nghe nó nói “yes”, hai mẹ con ngạc nhiên, “phỏng vấn” thằng bé ngay lập tức:
– Ổng có thương cháu không?
Cái đầu thằng Lucky lắc nhè nhẹ, mặt xịu xuống!
– Ổng có đánh mày không?
– Có… uống rượu là đánh!
– Sao vậy? sao lại đánh?
– Khi nào uống say, ổng hay bắt nói tiếng của ổng, cháu không biết thì bị đánh…
– Thằng cha cà chớn! Đánh ở đâu?
– Tát vô mặt!
Văn “hừ” một tiếng, Thúy tiếp:
– Cháu biết chữ ngon và gì nữa?
– Có mấy chữ thôi à!
– Chữ gì?
– Cám ơn, bia, nhậu, cút đi…
Nghe thằng bé nói, vợ chồng Thúy vừa thương vừa tức cười… Thằng cha bồ mụ mẹ nuôi của nó chắc cũng thuộc loại giang hồ đây!
– Ở nhà cháu ăn bánh mì hay cơm?
– Khi nào bồ của má nuôi tới thì ăn cơm.
– Ăn cơm với gì?
– Dạ, gà chiên, cá chiên ổng mua ngoài chợ…
– Con thích không?
Thằng bé im re không trả lời. Chắc sợ Thúy mách lại với má nuôi nó!
Nhìn hai đứa con trai, đúng là ông Trời cho mỗi người một số phận! Thằng Lucky vừa tướng tá dễ thương, nó có da có thịt chứ không ốm o như Thúy nghĩ, mặt mũi lại phương phi hồng hào, bảnh trai… không nói thì ai cũng tưởng con nhà giàu có, bố mẹ cưng chiều!!! Ai ngờ lại đang sống bám vào một người không thân thích, thiếu trách nhiệm!
Đúng là Trời nuôi…
– Lúc ba má mất, con mấy tuổi?
– Con bảy tuổi.
– Con có nhớ tại sao ba mẹ chết không?
– Dạ, bị xe tông… con cũng có đi trên xe, nhưng bị văng xuống vũng bùn, thoát chết!
– Tội nghiệp con quá… Thôi từ nay biết nhà bác rồi, có chuyện gì cứ gọi nhé… nhất là khi ông ta đánh cháu…
– Cháu có kinh nghiệm rồi, khi nào say ổng mới đánh… thì cháu chạy!
– Bộ say là có quyền đánh người à!
Rồi Thúy đùa:
– Bác tới bác “xổ” tiếng Việt… là ổng sợ ngay!
Văn nhìn Thúy nghi ngờ:
– Em tính nói gì mà chả sợ?
– Nói… a… nói…. Mà chưa tới lúc, khi nào gặp chuyện em sẽ nghĩ ra ngay!
– Hay quá há! Coi chừng chả còn đục em luôn là khác!
– Còn khuya!
– Lucky à, nếu con muốn bác sẽ lên sở xã hội khiếu nại cho con.
– Thôi bác, con thương má nuôi…
– Thương cái gì! tối ngày mê bài bạc bỏ đói con là không được rồi!
– Má có mua bánh mì, sữa và bơ đậu phọng cho con mà bác…
– Đến bữa phải nấu ăn đàng hoàng chứ! Chẳng lẽ ngày nào con cũng ở nhà một mình ăn mấy thứ đó à!
– Con ăn cũng được… má con buồn mới bị vậy! Tội nghiệp má con lắm… bả cũng ăn như con vậy!
– Tội nghiệp cái gì! Đúng là cháu đa sầu đa cảm…
– Tại cháu mà má mới bị chồng bỏ! Nhiều khi má con cũng đi kiếm việc làm mà đâu có ai nhận! Con còn thấy ban đêm má khóc nữa đó bác!
– Thiệt hông đó nhóc?
– Dạ thiệt! Có lúc con nói “hay là trả con lại cho chính phủ” thì má không chịu, ôm chặt lấy con… má nói “sorry”!
Nghe thằng nhỏ nói, Thúy thấy hơi khó hiểu! Ngưòi đàn bà đó thật sự như thế nào? Khi ai nấy đều cảm thấy no, Thúy còn ép:
– Ăn cho no đi rồi còn có bánh cup cake nữa đó…
Lucky nhìn thức ăn trên bàn, rụt rè:
– Còn nhiều quá, cho con một ít đem về được không bác?
– Được chứ, con để dành mai ăn hả?
– Dạ không, con cho má nuôi…
Thúy tròn mắt:
– Cái gì, cho má nuôi?
– Dạ, được không bác… con thấy “non” lắm….
Thúy còn chần chừ thì Văn trả lời:
– Dĩ nhiên… nhà bác có hộp nhiều lắm.
Quay qua Thúy, Văn nói:
– Thằng bé nầy có hiếu, rất tốt.
Vào bếp, bưng đĩa bánh cho hai nhóc, Thúy lấy hai cái hộp, một đựng chả giò và bún, một đựng rau và chai nước mắm nhỏ. Bỏ vào cẩn thận trong bọc ny long, Thúy còn lấy thêm cho Lucky chục cái bánh cup-cake:
– Khi nào muốn ăn cái gì “non”, nhớ nói Bíbo, bác sẽ nấu cho cháu ăn. OK.
– Cám ơn bác.
Hai đứa trẻ ăn xong kéo nhau vào phòng chơi game. Thúy vừa thu dọn vừa ngẫm nghĩ, không hiểu sao thằng bé lại có vẻ binh vực cho má nuôi, chắc có lẽ nó ở với bà ta cũng lâu, nên quen rồi!
Buổi tối, lẽ ra Văn chở Lucky về nhà, nhưng Thúy lại muốn làm việc nầy, vì nàng muốn nhìn tận mắt xem bà ta ra sao… để còn can thiệp vào việc thằng bé.
Thấy trong nhà đèn sáng, Lucky reo lên:
– Má có nhà.
– Bác vô “say hi” với má cháu.
Mở cửa, Thúy thấy trước mắt mình là một người đàn bà mắt xanh tóc vàng dáng mảnh mai, vóc người nhỏ nhắn như phụ nữ Á Châu. Lucky nhìn bà:
– Má, đây là mẹ của Bíbo, bạn con…
– Chào bà…
– Hôm nay tôi làm chả giò cho cháu ăn, nhân tiện chở cháu về… xin phép bà cho cháu thỉnh thoảng đến nhà tôi chơi và ngủ lại một đêm với con tôi…
Trái với lời mô tả của Bíbo, bà má nuôi mau mắn:
– Được chứ, cám ơn bà đã lo cho cháu hôm nay…
Nhìn những bao bị cầm về với ánh mắt dò hỏi, nghe Lucky giải thích, bà nhìn Thúy với đôi mắt xanh cảm động, mời Thúy ngồi chơi uống nước.
Qua câu chuyện, Thúy mới biết bà thường hay đi xin việc nhưng đều bị khước từ vì thành tích “đi trễ” ghi từ chỗ làm cũ! Những lần như thế, bà buồn leo lên xe bus để tới sòng bài hy vọng kéo máy trúng, cũng như được phiếu bữa ăn “free” từ những cơ sở thương mại muốn quảng cáo cho hãng mình…
Bà đi để tìm quên và được ăn ngon, chứ chưa đánh bài đam mê như những tay chơi khác! Bà cảm thấy có lỗi đã để thằng con một mình trong thời gian nầy… Có Bíbo để chơi là bà rất cám ơn…
– “Boy friend” của tôi người Việt, anh ta uống rượu vào hay đánh thằng nhỏ… nên tôi đã chia tay rồi! Thú thực với bà là tôi thương Lucky như con ruột của tôi… tôi đang cố gắng tìm cho ra một việc làm để có tiền lo cho hai mẹ con… ngày xưa tôi nhận nuôi nó vì thấy mặt nó là tôi thương ngay…
Những lời má nuôi của Lucky nói rất chân tình. Bà ta cũng cố tìm việc làm chứ không phải là tối ngày cứ đi đánh bài như thiên hạ tưởng…
Chuyện mới đó mà giờ hai bên đã trở nên thân thiết. Hôm nay nhân dịp Lễ tạ Ơn, Thúy mời mẹ con Lucky đến ăn tiệc gia đình, và nhân tiện thông báo cho họ một tin vui, rất vui… Mọi việc nàng chuẩn bị cũng gần xong.
Có tiếng chuông cửa dồn dập và cha con nhà nó ló mặt vào:
– Anh biết em cần cha con anh ở nhà để phụ… nhưng anh phải đi dự buổi ra mắt sách chút xíu, rồi còn mua thêm nước đá cho em…
– Anh đi được rồi, lôi thằng Bíbo theo làm chi?
– Cho nó gặp đồng hương cho quen…
Thúy trề môi, “nhà thơ” nói cái gì nghe cũng có lý hết! Nàng cũng cần nước đá thiệt! Thôi không bực mình nữa cho đời nó vui.
Mẹ con Lucky đến với bó hoa trên tay. Hôm nay mẹ nó diện thật đẹp với mái tóc vàng óng ả buông xõa sau lưng, trông trẻ hơn nhiều so với lần trước Thúy gặp ở nhà. Cứ nhìn ánh mắt của chồng là Thúy thấy mình nghĩ không sai…
– “Kệ, cho ổng rửa mắt “địa gái” một chút cũng không sao… thế nào cũng có vô số ý thơ tuôn tràn rồi đây”!
Đàn bà đúng là “chỉ xấu khi không biết làm đẹp”! Mình mà xoã tóc chắc cũng làm “đắm đuối” đàn ông! Với ý nghĩ đó, Thúy cười cùng má Lucky:
– Chị ơi, tôi có hỏi xếp của tôi, ổng nói chị cứ đem “resume” tới, ổng sẽ nhận vì đang cần người…
Nghe Thúy nói, ai nấy đều cảm thấy phấn khởi, vui nhất là thằng Lucky. Nó lật đật đứng lên trịnh trọng, khoanh tay nhìn Thúy với ánh mắt chân thành:
– Cám ơn bác…
Mẹ Lucky cũng nói theo bằng tiếng Việt như thằng con:
– Cám ơn rất nhiều…
Trên bàn ăn, buổi tiệc tiếp tục diễn ra với sự hân hoan và nồng ấm của mọi người. Riêng Thúy, nàng cảm thấy mình đã làm một việc có lý, tâm hồn nàng cảm động xen lẫn vui vẻ và tâm tư bồi hồi… “Cám ơn Thượng Đế”…
Diễm Châu

–

VÔ ĐỊNH

trantuan

Có những lúc thấy quanh mình hiu quạnh
Rượu trong ly đắng nghét, chẳng thơm nồng
Nỗi ớn lạnh dụ xác thân thiền định
Hồn hoang đàng nghịch ngợm trốn đi rong

Rừng thay lá nên đang mùa đạo đức
Các triết gia cặm cụi cuộc bao đồng
Ngu ngơ quá nên hồn thơ bối rối
Dấn thân rồi đành chấp nhận lưu vong…

Đời trí trá mà thơ thì mông muội
Mãi loay hoay tím mấy lượt phong trần
Ngây thơ đoản đi hoài mà chưa tận
Ngược tìm về thân xác đã phù vân…

Không chỗ trú nên thơ buồn lây lất
Hoang hoải, dật dờ, quờ quạng kiếm tìm nhau
Như mình đã nguyện răng long, đầu bạc
Vẫn trẻ con để bục phát càu nhàu…

Rồi đến lúc nghe nguồn sinh lực cạn
Gom hết ăn năn thừa kế cho đời…
Khối di sản vẹn nguyên… vô định
Tình là gì mà khổ vậy ? Người ơi !

Trần Tuấn

CHO NGÀY NỖI NHỚ KHÔNG TRỞ LẠI

phuonguy

em nhặt mùa thu trên cánh lá
có gì ở đó không?
chỉ mùa qua trong lòng người rất thật
gió lùa qua lá nao lòng

em gọi mùa thu về rối tóc
ngày buồn như cánh chiêm bao
cơn mưa xanh non không chờ đợi
thản nhiên ngó trắng mùa rằm

đêm vỡ từng mảnh trong lòng tay
rưng rưng gió ngày áp thấp
phiến dương cầm loang dài
nụ cười buồn đẫm mưa mùa trước.

em vẽ mùa thu màu mực nước
nỗi đau lộng lẫy bàn tay
mảnh thời gian màu tàn thuốc
cuồng dại xóa trắng ngày

đêm tan từng sợi trên màu mắt
sáng nay rớt xuống hiên nhà
nỗi nhớ có hóa thành nhánh khói
về tạ tội với mùa qua?

Hoàng Phương Uy

Bóng Đổ Chiều Trôi

lephuhai

Mùa hè năm 2011 anh tôi gả chồng cho con gái. Vì nó là đứa con gái duy nhất của gia đình nên anh tôi muốn sự có mặt đầy đủ của hai bên họ hàng nội ngoại. Cẩn thận hơn anh tôi chọn ngày cưới rơi vào thứ bảy và chủ nhật, lại là ngày 30 tháng tư, sẽ không ai có cớ bận việc để chối từ. Nói đến ngày 30 tháng tư thì chắc ai cũng biết, ở VN đây là ngày lễ kỷ niệm trọng thể, mọi người đều được nghỉ làm việc trong ngày này. Nếu ngày lễ trúng vào thứ bảy hay chủ nhật thì sẽ được nghỉ bù vào ngày trước hoặc sau đó. Chị dâu tôi quê ở Sài Gòn nên phần lớn anh chị em sinh sống nơi đây. Họ bàn nhau hùn tiền thuê nguyên chiếc xe ca để về quê dự đám cưới. Đoạn đường từ Sài Gòn về Nha Trang khá xa, xe đi nhanh cũng phải mất gần mười tiếng đồng hồ, mọi người bàn nhau nên đi buổi tối để tiết kiệm thời gian. Mấy năm nay tôi sinh sống ở Sài Gòn nên cũng đóng tiền tham gia cùng đi cho tiện. Mọi người đi cả gia đình, riêng tôi chỉ đi mình ên…

Nói anh tôi ở Nha Trang là nói cho dễ hình dung hoặc cho “oai” chứ thật ra gia đình anh tôi ở tại xã Diên Xuân thuộc huyện Diên Khánh, cách thành phố Nha Trang gần ba mươi cây số về hướng tây, cách ngả ba Thành gần hai mươi cây số. Tên thường gọi nơi đây là Đất Sét, nguyên trước kia là vùng “kinh tế mới” mà năm 1976, sau khi “cải tạo” về anh tôi và vợ con bị cưỡng bức lên đây lập nghiệp. Dĩ nhiên ngày đó cảnh vật còn hoang vu nhưng giờ đây đã đông vui lắm rồi. Sinh hoạt bán buôn, quán xá cũng nhộn nhịp không khác gì một thị trấn nhỏ…

Sau đám cưới mọi người bàn nhau trên đường về sẽ ghé lại biển Nha Trang chơi trong khi chờ chiều tối đi về lại Sài Gòn cho mát mẽ. Tôi chẳng có ý kiến vì Nha Trang đối với tôi có xa lạ gì đâu. Tôi sinh ra, lớn lên và ăn học tại đây cho đến khi mười tám tuổi mà… Chiếc xe ca dừng lại chợ Đầm cho mọi người đi chợ trước khi chạy ra hướng biển. Biển cũng như xưa, đường cũng như xưa, chỉ khác là có thêm khá nhiều tòa nhà bê tông cốt thép và hè đường toàn lát gạch xi măng. Nhìn phía biển thấy lác đác mấy cây dừa, và hàng dương ngày xưa bây giờ già ngơ già ngắc, thân xù xì vặn vẹo như ông già hết gân. Chỉ có biển và mấy hòn đảo phía xa xa là hoàn toàn không thay đổi, lặng lẽ và im lặng… Xe chở chúng tôi ngừng ngay bờ biển cạnh đường Nguyễn Tri Phương. Mọi người vội vả chui vào mấy gốc dương tránh nắng và lần lượt bày biện thức ăn, đồ uống. Lũ trẻ con lâu ngày được nhìn thấy biển vui mừng chạy nhảy reo hò inh ỏi. Mà không chỉ chúng tôi, chung quanh còn có khá đông du khách. Nhìn để đoán thì thấy có kẻ ở thôn quê ra, người tỉnh xa mới đến. Ai cũng vui vẻ và hài lòng, vì lúc này đang là dịp cuối tuần và nghỉ lễ.

Đã ba giờ chiều mà trời vẫn còn rất nắng. Mặt trời ở đằng tây chiếu xiên qua các tòa nhà đổ bóng xuống đường Duy Tân dọc bờ biển. Từng nhóm người dưới mỗi gốc cây vẫn còn túm tụm nhau ăn uống chuyện trò rôm rả, giấy báo và bịch ny lông bay khắp chung quanh. Có cả những lon bia rỗng nằm lăn lốc. Loáng thoáng thấy có bóng áo xanh của mấy người đàn bà lao công đang quét dọn. Tôi đưa mắt nhìn ra phía biển, nắng nhuộm vàng cả bãi cát kéo dài. Tự nhiên tôi để ý đến mấy ki ốt lợp tranh lá mọc lên chênh chếch chỗ tôi ngồi. Có cả những chiếc giường gỗ be bé, trên có mấy người đang nằm đọc sách. Ủa, cảnh này thấy quen quen, giống như ở mấy cái resort trong Mũi Né mà tôi có qua lại mấy lần. Có cả mấy ông Tây bà Đầm đang ngồi phơi nắng. Thỉnh thoảng lại thấy có anh bồi đeo cà vạt cẩn thận dắt vài ba người khách ngoại quốc ở trần băng qua đường Duy Tân từ một tòa nhà lớn phía đối diện. Họ đang đến với khu vực “resort” mà tôi quan sát nảy giờ. Chuyển cái tò mò sang tòa cao ốc, tôi ngước nhìn lên cao. Hàng chữ hotel Sheraton thật to phía trên tòa nhà hiện ra mà khi mới đến tôi chưa kịp nhìn thấy. Cái tên cũng quen quen, có lẽ cái hotel này cũng có “bà con” gì đó với khách sạn Sheraton ở Sài Gòn thì phải? Toàn bộ khu vực tòa nhà nằm ngay góc đường Duy Tân và Nguyễn Tri Phương. Nhớ rồi! Khu vực này sau biến cố bảy lăm là cửa hàng ăn uống, còn trước đó hình như là một cơ quan gì đó của người Mỹ tôi không nhớ rõ. Nhưng có hề chi, dù là gì đi nữa miễn là nó phục vụ cho con người là tốt rồi. Điều ngạc nhiên ở đây là vấn đề “sở hữu”. Không biết có luật lệ nào qui định hay không nhưng có vẻ như hotel Sheraton sở hữu luôn cả khu vực bãi biển phía trước nó. Tuy không có một sợi dây nào giăng ra nhưng nhìn vào ai cũng thấy bờ biển ngay trước mặt tòa nhà là thuộc quyền riêng tư, không lấn thêm hay hẹp hơn dù chỉ một mét. Chỉ khác ở chỗ các khu resort Mũi Né nằm sát trên bờ cát, việc dành riêng bãi tắm tiếp nối ngay đó không làm mình ngạc nhiên hay thắc mắc, còn ở đây tòa nhà nằm bên kia đường Duy Tân hai chiều xe chạy, tưởng như không có mối liên quan nào tới bãi biển. Bởi vậy nên khi mới nhìn thấy tôi đã ngỡ ngàng tưởng như có cái resort be bé nào đó của Mũi Né rơi ngay xuống bãi biển Nha Trang này. Kể ra thì cũng hay hay, cũng sang trọng, nhưng nhìn tổng thể thấy giống cái mụt cóc trên mu bàn tay thật chướng.

Nhưng mà thôi! Đó là chuyện của thiên hạ. Nha Trang trong ký ức tôi vẫn là Nha Trang của tuổi học trò hồn nhiên thơ mộng. Tôi dự định đi bộ lòng vòng qua vài con đường quanh đó xem đổi khác có nhiều không. Cũng ngay góc đường Nguyễn Tri Phương và Duy Tân này là trường Lasan Bá Ninh. Tôi có học tại đây hai năm lớp tám và lớp chín. Trường có nhiều đổi khác. Các dãy lầu cũ phía bờ biển vẫn còn đó nhưng đã mọc thêm nhiều tòa nhà mới bên trong, khoảng sân trông như có vẻ bị thu hẹp lại. Khu vực phía tây thay đổi nhiều hơn, cổng trường cũng đổi khác và có thêm nhiều cổng phụ. Bây giờ nơi đây là trường cao đẳng của tỉnh nên có lẽ họ cần xây dựng thêm tối đa để khai thác. Chỉ tội cho cái sân trường. Nếu tôi nhớ không lầm thì ngày xưa cả Nha Trang chỉ có hai trường Lasan Bá Ninh và Khải Minh (trường Tàu) là có sân bóng rổ…
Từ trường Lasan Bá Ninh đi thẳng theo Nguyễn Tri Phương đến cuối đường rẻ trái là trường nữ trung học Huyền Trân, rẻ phải đến đường Bá Đa Lộc, nơi có trường nam Võ Tánh. Kế bên trường nữ trung học, qua bên kia đường Lê Thánh Tôn có trường trung học bán công Lê Quí Đôn, nằm trên đường Tô Hiến Thành. Tôi đã theo học ở đây hai năm lớp mười và mười một cho đến khi giải tán năm bảy lăm. Vì là địa điểm có nhiều trường trung học nên mỗi buổi tan trường ở khu vực này rất vui. Học sinh từ các con đường túa ra như hàng đàn bướm trắng mỗi độ vào mùa. Tôi và mấy thằng bạn đã từng đứng đó tập tễnh làm thơ. Và chắc chắn rằng đã có không ít người sẽ trở thành thi sĩ nhờ những buổi tan trường này. (Đó là chưa kể trường Hưng Đạo, Thánh Tâm và Vinh Sơn ở ngả Sáu, trường Hàn Thuyên và College của người Pháp ở gần đó).

Tôi đứng ở ngả tư bâng khuâng tự hỏi không biết những người của ngày xưa nơi đây nay có còn ai không ta? Tự nhiên tôi thèm được nói chuyện với một ai đó, khơi gợi lại chút ký ức thuở học trò xa xưa. Một ai đó chỉ cần đã từng có mặt trong đám đông ngày ấy thôi cũng được, không cần phải là người quen biết…
Bên kia đường có một quán cóc, người bán là một phụ nữ trạc thế hệ tôi, to con và có khuôn mặt dễ cảm tình. Thật ra đó không phải là cái quán, chỉ là cái bàn nhỏ, trên để mấy chai nước ngọt và tủ thuốc lá, nằm sát bên trạm xe buýt. Cạnh đó là cái bàn nhựa và bốn cái ghế nhỏ dành cho khách. – Uống gì anh hai? Tôi đưa mắt nhìn vào mấy chai nước ngọt bày sẵn trên bàn. Nắng rọi trên mấy nhãn hiệu màu xanh màu đỏ của chai nước làm tôi thấy ngại ngùng. Tôi nói: – Sao để nước ngoài nắng vậy hả chị, hư hết còn gì? – Dạ để mấy chai làm mẫu thôi anh hai. Nước bán em để trong két phía trong đây nè. Anh uống gì không để em lấy? Tôi nghĩ ngợi chút xíu rồi chọn mua chai nước lọc. Người phụ nữ đặt chai nước và ly đá lạnh lên bàn nói bâng quơ: – Trời sắp chiều rồi mà cũng còn nắng ghê. Ra đường khát nước lắm đây. À, anh hai đi theo đoàn tham quan hả? – Tham quan gì đâu – Tôi cười – theo xe đi ăn đám cưới về ghé biển chơi chút rồi vô lại Sài Gòn. À, mùa này chắc khách du lịch đông lắm hả chị? – Dạ, cũng đông. – Sao bán buôn gì có mấy cái ghế vậy, lỡ khách vô nhiều chỗ đâu ngồi? – Bán lề đường mà anh hai. Phải gọn gàng để mỗi khi trật tự đô thị tới thì mình chạy cho nhanh chớ. Người ta đâu có cho buôn bán trên vĩa hè này, sợ mất thẩm mỹ. Tôi tỏ vẻ thông cảm: – Chà, cũng cực dữ ha. – Quen rồi anh ơi!
– Nhà chị có ở gần đây không? – Tôi hỏi.
– Dạ em ở trên Phương Sài, gần chợ Phường Cũi.
– Từ Phương Sài xuống đây bán cũng hơi xa à?
– Dạ, bán lâu nên cũng quen anh ạ. Ờ, mà anh hai người Sài Gòn hay ở đâu vậy?
– Sài Gòn gì, trước đây tôi cũng ở Nha Trang đó chớ.
– Vậy sao? Ờ, mà anh hai biết không, nói chắc không ai tin chớ từ nhỏ tới giờ em chưa vô tới Sài Gòn bao giờ cả.
Tôi ngạc nhiên: – Ủa, sao lạ vậy? Cũng đâu có xa xôi gì.
– Thì bởi vậy mới nói. Thiệt ra em cũng có một vài người bà con xa ở trong đó, và có mấy lần em tính vô Sài Gòn một chuyến cho biết, nhứt là ghé mấy cái chợ lớn coi người ta buôn bán ra sao. Nhưng lưỡng cước rồi không đi. Mà nghe nói trong đó người Sài Gòn hồi xưa không còn nữa, người ta đi hết trơn rồi.
– Ủa, người ta đi đâu?
– Thì đi di tản qua ngoại quốc chớ đâu. Bây giờ toàn là người mới tới không hà.
Tự nhiên tôi có cảm giác hơi giật mình. Người phụ nữ này có cái suy nghĩ thật lạ, mà nghĩ cho đến cùng cũng không sai. Ví như tôi đây cũng chỉ mới lưu lạc sinh kế trong đó chưa tới mười năm, chưa đủ sức dựng cho mình một mái che trú mưa trú nắng. Và những người tôi gặp trong bước đường bươn bả mỗi ngày cũng vậy, chẳng phải họ từ miền bắc, miền trung, hay miền tây về đó hay sao? Kể cả những căn nhà phố, nhà trệt, nhà lầu, chung cư hay biệt thự chẳng hạn, chắc gì chủ nhà là những người Sài Gòn trước kia còn lại? Chắc là không còn. Công việc của tôi đi lại tiếp xúc khá nhiều và cũng chưa hề gặp người nào.
Tôi chỉ tay qua bên phía trường cao đẳng: – Trước đây tôi có học trường này hai năm. Hồi đó là trường Lasan Bá Ninh. Còn chị trước có học trường nào gần đây không?
– Dạ không, em học ở Phương Sài.
– Ủa, Phương Sài có trường nào vậy ta?
– Là em nói trường tiểu học đó. Em đang học lớp sáu là “giải phóng”, sau đó có đi học thêm hai năm nữa nhưng nhà cực quá nên nghỉ luôn.
Tôi cảm thấy hơi chưng hửng. Cứ tưởng người phụ nữ này nếu không phải đồng trang lứa với tôi thì chí ít chỉ nhỏ hơn hai ba lớp là cùng. Ai dè! Tôi lén nhìn kỹ lại khuôn mặt của chị ta. Kể ra thì cũng chưa đến nỗi “già” như tôi nhưng có lẽ do vất vả và chả sửa soạn gì nên mới nhìn tưởng đã lớn tuổi. Có lẽ hiểu lầm vẻ mặt đang ngớ ra của tôi, cô ta nói tiếp, như là muốn phân bua. – Hồi đó đáng lẽ em cũng còn tiếp tục đi học nữa nhưng vì ba em chết năm bảy lăm nên gia đình cũng sa sút , đành phải nghỉ học để đi làm.
– Vậy năm bảy lăm gia đình chị có đi di tản hay chạy loạn gì không mà bác trai bị chết vậy?
– Dạ không. Ba em chết trận.
Tôi thoáng chút ngạc nhiên. Còn nhớ rất rõ ngày 10 tháng 3 thất thủ Ban Mê Thuộc, ba tôi bị mất liên lạc trong những ngày này. Sau đó đoàn người di tản đi theo tỉnh lộ 7 về Tuy Hòa. Ngày 1 tháng 4 mất Tuy Hòa, 2 tháng 4 mất Nha Trang.
Tôi nói: – Ngày 2 tháng 4 là “giải phóng” Nha Trang rồi. Vậy ba chị chết trận lúc nào.
– Dạ, đâu là sau tết. Em nhớ tết đó ba còn về ăn tết mà. Ba chết ở Qui Nhơn. Ba là lính của “sư đoàn bốn lăm”.
Tôi im lặng nghĩ thầm, năm bảy lăm người đàn bà này chừng mười hai tuổi, đâu có hiểu gì về chiến tranh, tội nghiệp! Có lẽ ba cô ta là lính của sư đoàn 22.
Tôi tò mò: – Hồi đó chị cũng còn nhỏ mà. Có còn nhớ gì về ba không?
– Sao lại không nhớ, hồi đó em cũng lớn rồi mà anh hai – Cô ta bỗng trở nên sôi nổi – Anh hai biết không, hồi trẻ ba em rất đẹp trai, ổng làm nghề sửa đồng hồ ở chợ Phương Sài ai cũng biết. Má em thương ổng nên dù cho phía ngoại không bằng lòng bả vẫn cứ đòi lấy ổng cho được. Cho tới lúc tới tuổi đi lính. Không thể sống xa được vợ con nên ổng trốn. Ổng dời tiệm đồng hồ ngoài chợ về nhà làm, khi nào có cảnh sát xét nhà thì ổng lánh mặt. Miết sau này ông trưởng ấp tới nói trốn hoài đâu có được, sớm muộn gì cũng bị bắt nên ba em mới đi đăng lính. Ổng nói đăng lính ở Qui Nhơn cũng không xa, có thể chạy về thăm vợ thăm con được. Bình yên được mấy năm ai dè qua năm bảy lăm thì ổng chết. Tội ghê. Ráng thêm mấy tháng nữa là qua được rồi.
Tôi nói theo kiểu xuôi xị: – Thì cũng là cái số thôi chị à, cái số phải chết trận.
– Thì đó! Ba bị đạn bắn chết khi hai bên đang đánh nhau.
– Rồi có đưa xác về được không?
– Có chớ. Má ra Qui Nhơn nhận xác ba. Xe nhà binh chở về trong này. Nghe má kể lại trên xe không phải chỉ có ba, còn có nhiều xác lính khác nữa. Mà trên đường về cũng rất nguy hiểm, bị chận đánh và pháo kích dữ lắm, nghe đâu là chỗ cái đèo gì ngoài đó em cũng chẳng nhớ nữa. Cực lắm mới đưa được về tới Nha Trang.
Tôi hình dung có lẽ người lính này chết trong những ngày tháng ba năm bảy lăm, ở một trong những trận đánh cuối cùng nào đó của quân đội miền Nam, vì sau đó không lâu thì cả miền trung bị thất thủ. Cô ta kể tiếp: – Đám tang của ba cũng trọng thể lắm anh hai ạ. Hòm của ba có phủ cờ và có lính khiêng đàng hoàng. Có súng bắn tiễn đưa nữa đó. Bây giờ nhắc lại thấy thương ba quá chừng.
Chà! không biết cô bạn này có “nổ” không vậy ta? Lính lác chớ có phải sĩ quan đâu mà súng bắn tiễn đưa? Tôi nhìn qua người phụ nữ, thấy cô ta đang rơm rớm nước mắt. Và tôi nghĩ chắc cô ta không khoác lác. Lúc đó cô ta chỉ là đứa bé con còn bây giờ thì đâu có lý do hay vinh dự gì để nói khoác. Cô ta chỉ đang nhớ ba mình và kể lại những hồi ức chập chờn còn mất. Nhà tôi ở sát bên nghĩa trang núi Sạn nên tôi đã từng nhiều lần chứng kiến người ta chôn cất những người lính chết trận. Có người chôn trong hòm kẽm, có người chôn bằng hòm gỗ, luôn có một lá cờ vàng sọc đỏ phủ lên trên. Tôi còn biết những người nằm trong hòm kẽm là xác đã chết lâu ngày và chuyển từ mặt trận ở xa về. Thường trước khi lấp đất người ta phải dùng xà beng đâm thủng một lổ trên nắp hòm, để thông hơi cho xác chết mau tiêu. Những lúc ấy mùi hôi thối bốc lên thật là kinh khủng. Ba của người phụ nữ này chết trong những ngày tháng cuối cùng của một chế độ, còn kịp đón nhận loạt súng tiễn đưa, xét ra cho cùng vẫn còn may mắn hơn hàng vạn người chết vất vưởng bụi bờ sau đó…

Một cái đám cưới, một ngày 30 tháng tư, một chuyến đi và một chút hồi ức về thời học sinh tự nhiên lại dẫn tôi quay về với nỗi ngậm ngùi của những mất mát qua câu chuyện riêng tư của người phụ nữ bán nước ven đường. Tôi trả tiền nước rồi quay về theo hướng biển. Trời đã chiều, ánh nắng chiếu cái bóng tôi dài ngoằng đang bước đi trên hè đường. Cái bóng có vẻ buồn và cô độc.

Lê Phú Hải

SỢI TÓC

tuketuong

Em cách tôi đủ dài sợi tóc
Để mùi hương bay mất vai mình
Ngày lấy chồng em cười, mà khóc
Thơ tôi buồn câu chữ long lanh

Sài Gòn xa, Sài Gòn nhạt nắng
Cỏ bên đường xanh đến vô tư
Tôi nằm ngắm mây trời yên lặng
Theo giấc mơ vào cõi xa mù

Nếu nhắm mắt bây giờ, và chết
Sợi tóc em vẫn cột lòng tôi
Nơi xa thẳm một mình tưởng tiếc
Nụ cười xưa đã khép môi rồi?

Tôi cách em nghìn trùng cơn gió
Thổi nghiêng chiều vàng lá thu xưa
Cầm hạt bụi gửi về nơi đó
Chút tàn phai trong lúc giao mùa.

TỪ KẾ TƯỜNG

QUA ĐÈO MANG YANG

tranbaodinh

gửi Trần Viết Dũng, Phú Phong.

sương giăng mờ phố núi
mây mù ôm Mang Yang
chiều mùa đông mưa bụi
rét mướt giữa đại ngàn

Trường sơn xòe cánh quạt
sông bỏ dọc, chảy ngang
vượt qua muôn ghềnh thác
trôi về biển gian nan

hoa rừng khoe sắc nở
độ dốc đứng cổng trời
gió sóng đùa tranh cỏ
rượt đuổi nhau sườn đồi

dòng Ayun huyễn hoặc
chở nổi nhớ Tây Nguyên
lửa bập bùng khuya khoắt
hòa nhịp trống, cồng chiêng!

làng K’Tu thấp thoáng
núi Kông Tần xa xa
hương cà phê thoang thoảng
đường sơn cước chiều tà

đèo Mang Yang cửa ngõ
vào núi rừng Tây Nguyên!

Trần Bảo Định

Lương tâm hay lương tháng tao cũng cóc cần

nguyentri

Tên của nàng là Thuý, tuổi con mèo. Đặc biệt yêu màu đen. Từ áo quần giày dép mũ nón bao tay tuốt tuồn tuột một mầu huyền hoặc. Giang hồ gọi Hắc Thuý Miêu. Thuý đẹp lắm. Đẹp từ tóc tai môi má đến dáng người và ăn nói cực kỳ duyên. Theo đuổi Thuý toàn con nhà danh gia vọng tộc. Vậy mà tiên sư bố cái ông tơ bà nguyệt, sư cha cái tình yêu vô bổ. Nàng lại say đắm một anh đã không đẹp thì chớ còn làm việc trong trại hòm Ngũ Hành với chức năng thợ mộc. Giang hồ nghe qua mà tiếc hùi hụi. Chả hiểu thằng thợ mộc kia có ngón chi mà đạp đổ được một nhan sắc tầm cỡ thành trì. Bố mẹ anh chị em nhà nàng cực lực phản đối. Chả nói chả rằng Hắc Thuý Miêu cuốn áo cuốn quần đến trại hòm anh làm việc ở luôn mới gọi là tình yêu đích thực. Anh khố rách đến độ nhà chỉ là cái cấp bốn không tô kề bên trại hòm. Thêm một lần thiên hạ chửi sư bố cái tình yêu.
Ai cũng tưởng – nhất là gia đình Thuý – đời cô xem như thúi hẻo và bao nhiêu hy vọng về một nhan sắc có thể kéo cái gia đình nghèo tú mú tù mù ra khỏi kiếp khoai lang củ mì là kết thúc. Có ai ngờ chỉ sau một năm Cô Thuý xinh đẹp đập cái nhà cấp bốn không tô của chồng để lên một căn bề thế không kém ai trên ta bà hẻm nhỏ. Gia đình ruột của cô cũng hưởng sái cực ngon lành. Anh em trai nhà Hắc Thuý Miêu gọi Lãm- chồng Thuý – là sự phụ trong nghề cưa đục bào xẻ. Họ tham gia thi công làm hòm và ai cũng có chân trong ban đạo tỳ của trại. Đại khái là, nếu có đám tang thì họ cùng nhau o í e đờn ca sáo thổi, không đám thì nhào vô đóng hòm. Không có rể làm thuê của trại hòm thì dễ chi nhà cô thoát đói.
Cũng tình thiệt mà nói không có cô Thuý e là trại hòm Ngũ Hành bán xới mà kiếm nghiệp khác làm ăn. Chả là ông bà chủ Ngũ Hành tranh không lại đồng nghiệp. Bên trại Bát Quái những ba xe rồng ngày nào cũng đưa ra nghĩa địa hai ba nhân mạng về đất mẹ. Thân nhân người chết không phải thích Bát Quái ở chỗ đạo tỳ chơi nhạc lã lướt, thầy tụng ê a rất mê ly âm phủ, hay hòm hiếc ở Bát Quái tốt hơn Ngũ Hành. Ở xứ sở nầy rừng đâu có mà ra gỗ quý, tựu trung cũng chỉ ba cây bạch đàn hoặc tràm bông vàng là hết phép. Gỗ lạt thì xẻ ra mặt hai mươi là lớn, muốn năm mươi thì thợ mộc ra tay. Cái hòm nào cũng nhờ sự bóng loáng của vẹc ni để lừa nhân thế. Tất cả đều bằng nhau mà Bát Quái làm ăn được hơn Ngũ Hành là nhờ vào kiểu làm ăn đầu trâu mặt ngựa.
Có trong nghiệp nầy mới biết nghe, lơ mơ là bó tay chấm com. Bất kỳ một cái chết nào từ chết đường chết chợ chết xe cán chết bệnh vân vân và vân vân miễn cái chết ấy có thân nhân là không lọt tay Bát Quái. Người của Bát Quái đến ngay chỗ người chết và xem như cái chết ấy phải nằm trong hòm của họ. Thân nhân người chết phải nhất nhất nghe theo bọn ôn dịch nầy, không nghe nó quậy cho người sống điêu đứng luôn. Chúng còn dám mò đến tận nhà xác để dành nữa đó. Kỳ đó một người quen với Ngũ Hành có người thân bị chết ở bệnh viện. Ngũ Hành nói chỉ cần đưa cái xác về là Ngũ Hành kính tặng một cổ áo. Vậy mà cũng không được với Bát Quái. Người của quái nói rằng có cho thì quy ra tiền mà cho, còn cái xác nầy là của họ. Nghe mà tức ói mật ói gan. Nhưng ở cái thời quỷ lộng hành, ma quái lên làm cha, dân lương thiện phải im mẹ cho rồi. Kiện cáo lôi thôi đang đêm nó cho một cây vô đầu, chết chả nói làm chi, lỡ man man ai chịu? Mà với chính quyền thì có đơn kiện mới thụ lý, không nói thì ai biết đâu mà lần? Vậy nên Bát Quái ngày một lớn mạnh. Nghe đâu trong cái mớ chuyên đi lùng người chết để báo cho Bát Quái kiếm tiền xài vặt có thằng ghiền xi ke bị nhiễm hát có ết. Lơ mơ nó cho một mũi kim thì đời mình đi đứt. Thôi thì chết thì phải chôn, mà ai chôn thì cũng vậy.
Vậy mà tất cả xếp giáo trước Hắc Thuý Miêu thì quả là thần khấp quỷ khấp. Cứ Bát Quái làm sao thì chị Thuý làm vậy, có điều chị ra tay mạnh hơn. Với đôi mắt tinh đời và trí lự hơn người, nhìn qua Thuý biết bọn Bát Quái là một lũ bá đạo. Một cái hòm thành phẩm năm triệu là hết phép, vậy mà chúng tính hai chục chưa kể đạo tỳ, thầy tụng và xe rồng đưa đón. Hai mươi triệu là loại hàng chót bẹt dành cho nhà nghèo, còn dân có của thì ba chục triệu đi lên. Lời quá xá nên bất kỳ ai phôn cho Bát Quái một cái chết ở bất kỳ đâu là kẻ đó có trăm ngàn xài chơi đỡ buồn. Sau đó có ba anh thứ thiệt xì kè phi phân khối lớn đến canh cái xác. Đến nước đó thì ông cố nội ai dám vô tranh. Cả người nhà cũng chịu sầu. Dây với hủi còn có tình hơn dây với xì cọc hỡi người ơi.
Nhưng chị Thuý bản lĩnh lắm. Vì yêu chị dám bỏ cha bỏ mẹ bỏ anh em cuốn gói theo tình thì vừa chi? Chị suy tư và chờ cơ hội. Và cơ hội đến. Hôm đó một bà dì trong xóm ra đi ở bệnh viện. Nhà cũng hẻo nên họ sợ Bát Quái chặt đẹp. Hắc Thuý Miêu liền thân chinh đi đem xác về, tất nhiên bọn Bát Quái đã có mặt tại nhà xác. Chỉ cần người nhà đến là chúng sẽ thực thi nhiệm vụ. Nhìn Thuý Miêu đẹp, cằm chẻ môi trái tim má lúm đồng tiền thì ai cũng tin em hiền như ma sơ. Tóc dài ngang vai nữa mới là nên thơ. Một thằng ghẹo:
– Em đẹp quá em gái.
– Em cái bà nội mày. Cà chớn tao cho ăn guốc vô đầu bây giờ.
Văng tục liền:
– Cái con này… hổn mậy?
Trên tay Hắc Thuý Miêu xuất hiện chiếc guốc gót nhọn và gõ một cái cóc vô đầu thằng du côn. Mô Phật, nói láo cho bà bắn, máu xịt có vòi chứ chảy thì còn nhẹ lắm. Chị cầm chiếc guốc ngạo nghể nhìn hai thằng còn lại;
– Người chết là bà con của tao thằng nào dám lấy xác tao cho thằng đó ăn dao.
Ngay lập tức tay chị lo le thêm lưỡi dao Thái:
– Mày không yên với tao đâu. – Một trong hai thằng doạ.- Tao sẽ đến nhà mày xin miếng thịt làm mồi nhậu. Tao ăn luôn thịt người đó con đĩ.
– Khỏi. Tao đi với mày ngay bây giờ.
Sau đó chị lịnh cho người nhà vô nhận xác. Còn chị phi chiếc 78 cà là mèng đến trạm xăng mua một bình hai lít. Mười phút sau chị có mặt tại trại hòm Bát Quái:
– Ông Quới bà Bát đâu ra nói chuyện tí coi.
Thì ra chủ trại nầy chồng tên Quới vợ tên Bát nên ra Bát Quái chứ chẳng tàu phù chi:
– Có chuyện gì không cô?
– Thằng lính ông đòi làm thịt tôi thì chớ còn gọi tôi là con đĩ. Ông không biểu nó xin lỗi tôi đốt cái trại của ông ngay hôm nay. Con này nói là làm. Cùng lắm tù chục năm về tội đốt nhà là cùng. Sau tù là cả ba họ nhà ông tui cũng trảm.
Chủ trại xuống nước. Đời có câu tránh voi chả xấu mặt nào, cương lên nó quê độ đốt thiệt là chết ông bà cố tổ mình luôn:
– Thôi thì cô cho tôi xin lỗi…
– Ông đáng cha tôi, có lỗi gì mà xin? Thằng kêu tôi là đĩ phải xin lỗi.
Bị lâm thế triệt buộc giang hồ trại hòm phải cúi mặt. Nhận xin lỗi xong chị phán:
– Bắt đầu từ bữa nay thấy mặt tao là tụi mày biến gấp. Cà chớn có thứ thiệt xử tụi mày.
Lần đầu tiên giang hồ tuy vặt nhưng mặt cũng có máu gặp một nữ lưu không biết chết là chi, chúng vờ hèn cho qua chuyện. Âm mưu sẽ cho chị biết tay khi có cơ hội, nhưng chị luận việc nhanh như thần. Kết thân ngay với một thằng từng vào tù về tội chém người. Thằng này tự nguyện làm vệ sĩ không lương cho chị. Lý do nó là đệ tử ruột của anh chồng thợ mộc. Thì ra chồng chị cũng một thứ thiên lôi đả không chết. Dưới trướng thằng đệ nầy có mười ôn dịch dạng xem trời chỉ một phần tư hạt tiêu. Chúng nói với chị rằng thích xử ai cứ nói. Chiêu thức nầy làm rung động trại Bát Quái. Ông Quới phải đích thân đến gặp trại chủ Ngũ Hành thương lượng địa bàn hoạt động. Từ a đến m là của Bát Quái, từ n đến z là của Ngũ Hành. Ông bà Ngũ kêu con vợ thằng thợ mộc lên nói chuyện phải quấy, bởi ông bà thật thà như đếm… lộn, nào có biết chi.
Hắc Thuý Miêu thi triển tinh thần vô độc bất trượng phu. Ông bà chủ Ngũ Hành giao cho chị toàn quyền định giá với khách hàng. Ông bà chỉ lấy như vậy, dôi ra Thuý hưởng. Chỉ hai năm sau ngày lấy chồng Thuý chạy mẹc xê đì màu đen vi vu trên mọi nẻo đường. Cô qua mặt Bát Quái khoản quen biết lớn. Có một ông kia con bị đưa vô nhà xác lúc mười giờ đêm. Vì bị giết nên phải chờ pháp y đến khám nghiệm tử thi mới được đem xác về. Hắc Thuý Miêu phôn một cú. Uy đến độ mà hai giờ sáng pháp y tỉnh phải đánh xe vào. Xong việc ông kia phải è cổ ra trả riêng cái hòm cho con là hai chục triệu, ba cái nhạc nhẽo và tụng tiếc chục ngoài nữa. Ông cha bất hạnh và nghèo túng văng tục:
– Tao nói thiệt con quỷ cái nầy ác hơn cả Tào Thị, nó còn gấp hai lần bọn bên Bát Quái. Trời không dung nó đâu.
Nhưng làm chi có trời. Bằng chứng là chị Thuý cũng như cha má chị lên như diều. Tha nhân chửi đến đá còn chảy nước mắt nếu có trời ổng đã phạt nặng chị rồi. Đó mới là phần của hàng họ hòm hiếc, vụ làm mả chị kiếm cũng bộn. Con ai đó bị xe đụng chết, sau khi nằm yên dưới đất chị môi giới luôn vụ mả, từ hoa cương đến gạch men. Mấy thằng làm dịch vụ nầy muốn có đơn hàng phải nhờ chị. Chao ơi khi thời vịn tiền sao mà vô như nước. Hắc Linh Miêu như một bà hoàng xứ cà ry cay vậy. Lòng tham của con người quả vô độ. Không cái chi trong chết chóc Thuý không ra tay. Giàu nghèo sang hèn chị không cần biết, vì trước cái chết mọi người đều bình đẳng. Có thật là vậy không?
Chắc là không, vì những người giầu va vô tay chị thì còn cho qua chứ nghèo thì hận lắm. Vì nghèo nên thấp cổ bé họng, kêu đâu cũng không đến. Kêu còn bị nó cho ăn cù loi nữa kìa. Nên tức thì tức vậy chứ dám làm chi. Và Thuý khoái nhất ăn của bọn nghèo. Nghèo luôn sợ quyền lực của chính phái lẫn tà đạo. Mấy thằng có tí chữ nghĩa còn dám cãi chính phái chứ sợ tà đạo hơn cọp. Nói bi nhiêu chúng chi bí nhiêu. Bọn giàu thì luôn đi chơi với quan quyền. Ăn của chúng đâu có ngon, chúng méc với anh hai anh ba chi đó thì mình cũng mệt. Nên chi Hắc Thuý Miêu nghe nói thằng tàn hoặc con tạ con nhà ông khố rách kia hay bà áo ôm nọ là chị có mặt trên từng cây số liền.
Vậy mà một hôm kia Hắc Linh Miêu ngoảnh mặt với một cái chết vì giao thông.
Bên Bát Quái cũng vậy.
***
Người chết ở khu nghĩa địa. Nghèo đến hẻo luôn. Với người khác thì Hắc Linh Miêu không bỏ qua. Nhưng dân nghĩa địa rành sáu câu và ba mươi hai bản nhỏ giá cả từ hàng họ đến tụng tiếc thì nuốt của chúng không vô. Mà đã ăn không vô thì giao cho hội Bảo thọ của xã muốn làm chi thì làm. Những cái chết bị xe tô phải hay trái không cần biết, nhà xe phải lo chôn cất cho mồ yên mả đẹp mới mong bên bị nạn làm cho cái bãi nại mà bớt được chút đỉnh trước toà. Mấy vụ nầy chủ trại hòm muốn hét giá bao nhiêu cũng qua. Khốn thay cho kẻ thọ nạn. Nửa đêm đi nhậu băng qua đường xe tô một phát nó chạy luôn. Chả có ai chứng kiến để biết là hai hay bốn bánh nữa mới là bí mật. Thân nhân người bị nạn khóc hết nước mắt đành lôi về lo hậu sự. Hội bảo thọ cho cái hàng cây da sơn màu đỏ. Trù trì Bảo Long Cổ Tự cùng tăng ni đến tụng từ thiện cho hương hồn người chết về tây phương Phật. Nói cho ngay cả hai Ngũ hành và Bát Quái cũng cho người đến thắp nén hương và cúng mỗi bên một phong bao một trăm ngàn.
Thiên hạ lắc đầu cho cái vô cảm của con người.
Ngày thứ tư sau lễ mở cửa mả. Cả nhà người chết chả biết moi đâu ra tiền để làm cái lễ thất nhật cho vong linh người chết đỡ tủi thì đùng một cái như sấm động. Người thân kẻ gây tai nạn mò đến xóm nghĩa địa và hỏi thăm nhà người chết.
Mẹ của tài xế kể rằng tô xong anh ta bỏ chạy luôn. Và vô cùng mừng rỡ khi chả ai biết gì về cú đâm xe định mệnh ấy. Nhưng khốn thay suốt cả ba hôm nay anh ta bất an. Gia đình và bè bạn nói kiểu gì cũng không nguôi nổi ám ảnh và tiếng động của xe khi va vô người. Cái xác của kẻ bị nạn phủ ngập tâm hồn khiến anh ta không ngủ được. Sáng nay tài xế quyết định ra đầu thú và yêu cầu gia đình đến để giải quyết hậu hoạn.
Nhưng có cái gì đâu mà giải quyết. Hàng họ thì của cho. Đám thì ba cái bánh ngọt vài can rượu đế chả đáng là bao. Thân nhân người gây tai nạn ngõ ý muốn xây một ngôi mộ có mái vòm yên ủi người chết để người gây tai nạn bớt cắn rứt lương tâm.
Bầy em của Hắc Thuý Miêu đánh hơi ra vị tiền liền thoại cho chị.
Hắc Thuý Miêu chốt giá một ngôi mộ đá hoa cương có mái vòm là năm mươi triệu.
Ta bà nói thẳng:
– Bà sống có lương tâm chút coi bà Thuý.
Hắc Linh Miêu hát một câu trong tuồng cải lương:
– Lương tâm hay lương tháng, tao cũng cóc cần…
Nguyễn Trí

Răng

nguyenvanthien

Quanh sân gạch ai cùng ai đuổi bắt
Vấp ánh trăng tuổi thơ ngã lăn cù
Răng sún cười chân mây xa lắc
Hương ổi hoài thơm ngọt góc vườn thu

Xưa răng sữa dại khờ đau vú mẹ
Giọt ca dao nhỏ máu thắm nuôi hồn
Táo cành cao em gọi mời leo té
Vườn địa đàng nay gãy chiếc răng khôn

Thương nội quê nghèo móm mém nhai ngô
Ngày giáp hạt cháo cơm nhường con cháu
Ta lưu lạc xứ người gặm bánh mì khô
Cắn phải nỗi buồn chân răng rươm rướm máu

Rừng chưa kịp xanh mùa thu vội đến
Kỷ niệm hoá răng nanh hoang thú xé hồn ta
Hiên mưa xưa ai đứng cười răng khểnh
Cuối trời còn hiu hắt nắng môi hoa.

Nguyễn Vân Thiên

CÓ THỂ EM VỀ TÔI ĐàĐI

truongdinhphuong

Em này
có thể ngày mai em về
cũng là khi tôi đã đi xa
chỉ còn đó linh hồn phố cũ
và con gió nằm rên trên xác cỏ
đã từ rất lâu
một mình vâng chỉ một mình tôi
kiên trì đo chiều sâu từng giọt lệ
đêm nối tiếp đêm
len tàn tro nguội lạnh
khêu dậy trong tôi cô độc tận cùng
quá nhiều lần tôi tự hỏi
có gì buồn hơn ánh mắt mùa đông ?
có gì tàn phai hơn mái tóc những ngả đường lỡ hẹn ?
có gì gây tổn thương hơn lời kẻ mình yêu mến?
có gì mặn hơn năm tháng đợi chờ?
ngày mai có thể em sẽ về
cũng là khi tôi đã đi xa
và phố có lẽ sẽ gầy thêm một chút
nhưng chắc chẳng nghĩa lý gì
bởi em về đâu phải để tìm tôi.

Trương Đình Phượng

Ác mộng

nguyendinhbon

Thấy đi giữa dòng người cuồn cuộn
Và bao nhiêu máu chảy đầu rơi
Rồi thảng thốt giật mình tỉnh lại
Một giấc trưa ngủ giữa ngậm ngùi…

Ngày tôi sống bao điều oan trái
Bao tang thương ẩn ức căm hờn
Nên giấc mộng nhuốm màu man dại
Dù lòng tôi chỉ muốn yêu thương

Đã xa quá mộng lành ngày cũ
Một bàn tay ánh mắt bờ vai
Một con sông một triền cỏ dại
Một tiếng chim về hót hiên nhà…

Bỗng thấy thương mình thương dân Việt
Hận thù kia cứ mãi chất chồng
Ngay cả ngủ cũng toàn ác mộng
Trong mơ mà máu chảy như sông!

Nguyễn Đình Bổn