TIẾNG TRỐNG TRƯỜNG

nguyenvanthien

Có một thời tiếng trống vang vang
Sớm mai xao động nắng thu vàng
Chân tung tăng, lòng nôn nao đến lớp…

Có một thời tiếng trống nhói trong tim
Cuối mùa thi thất thểu đi tìm
Mối tình đầu đánh rơi bên gốc phượng…

Thương tiếng ai ho trong gió đầu mùa
Qua bao năm rồi tiếng trống cũng già nua
Giận chiều mưa sân chơi buồn phượng khóc..

Tóc hai màu bạc nhớ xanh thương
Hoàng hôn rơi theo tiếng trống tan trường
Nửa đời thầy chưa xong bài toán cũ…

Khi nghe rất gần, khi vọng tận xa xôi
Tiếng trống trường tiếng của lòng tôi
Âm vang một đời niềm thương nỗi nhớ…

NGUYỄN VÂN THIÊN

VỀ PHƯƠNG NAM

nguyenngocnghia

Phương nam
hề phương nam
gió nhàn du sông nước giăng giăng
lòng trăm mối đổ về lũ cuốn
rong chơi hề
ta say gió trăng

chân đẩy đưa theo nhịp sóng nhồi
vớt bóng sông Tiền, thả nắng trôi
câu ca ngọt chao lòng khách lữ
tiếng đàn kìm níu bước chân ai

về phương Nam
ừ, về phương Nam
Hàm Luông rộng cánh bóng dừa xanh
đến làm chi vướng lời hò hẹn
chân rời lòng cứ mãi quẩn quanh

đôi mắt ướt rưng chiều Đồng Tháp
nhốt nắng vàng lãng đãng bóng sen
thương cảm nhánh lục bình trôi dạt
lau sậy thất tình ngóng nước lên

ngợp lòng Hậu giang mùa lúa trổ
tình đầy vơi nước lớn nước ròng
chia làm chi hai bờ thương nhớ
nụ hôn buồn hiu hắt bến sông

về phương nam
ừ, em vẫn đợi
cổng Tam Quan đón chút tình xưa
bến thuyền chật dấu chân trôi nổi
tiếc mà chi cát bụi giang hồ

về nhặt mảnh trăng vườn dĩ vãng
cợt đùa cùng ly rượu lãng quên
sáo sang sông có kẻ say mèm
trời tháng hạ mà sao lòng lạnh

ừ. về tương tư mùa điên điển
phơn phớt nắng vàng chiều thu xa
vàng nhẹ như hương tình ngậm mật
níu gót lãng du quên nỗi nhà

phương nam
làm sao mà quên được
thóc lúa thật thà hương đất quê
trong ta vẫn lao xao châu thổ
lãng đãng xuôi con nước tìm về

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

BUỐT HẠNH

nguyenducbatngan

bất hạnh em tạc cho ta vòng hoa đỏ
vùi dưới hân hoan cùng với nhịp đất trời
dù ái ngại từ nay em cũng rõ
buổi lên đường trôi hết thuở vui chơi

tình vời vợi bặt mù luôn buổi ấy
đời riêng ta còn sừng sững không phai
hoài niệm cũ khi về em nhớ lấy
ngọn đàn xưa ru với gót trang đài

đời lồng lộng ví dù như ngăn cách
đang mỏi mòn theo se thắt ai đưa
còn một phía dậy một trời lữ khách
hẹn mai về núp bóng giữa ngàn xưa

tóc trăm sợi còn sợi dài sợi ngắn
tình trăm phương biết ngủ ở phương nào
ngày hành khất ngậm mòn hơi ngọt đắng
chút hương thề lành lạnh giữa chiêm bao

em hãy ngủ với mình em yêu dấu
rất êm đềm theo ngọn cỏ xanh xuân
đừng gọi với nghìn trùng kia có thấu
hãy hôn mình như đốm lửa thanh tân

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

CƠN GIÓ MANG LINH HỒN CHẾT(1)

download (2)

Lê Đắc Hoàng Hựu:
Gã là một thường dân chính hiệu “Con Nai Vàng”.
Gã như bụi cỏ khô giữa đồng hoang hanh nắng, và bị chứng bịnh khó ngủ.
Gã cầm viết, viết lại những câu chuyện ký ức, tình cờ trở thành phương thuốc tuyệt diệu chống lại căn bịnh này, thay vì đếm số.
Gã hy vọng nó cũng là toa kê dành cho những người giống mình.
Chuyện là một phần những gì gã đã sống qua và phần còn lại là đã thấy.
Chuyện như một bài học ghi chép, ghi chép sự thật thì đúng hơn.
Ghi chép để nhìn lại, để tiếp bước chớ hoàn toàn không phải bươi móc, đả kích cá nhân hay tập thể nào.
Đối thoại với những cơn gió hiển nhiên là hư cấu, thì lẽ dĩ nhiên phòng thí nghiệm của vị bác sĩ trong chuyện cũng vậy.

Anh ta nằm, ngồi hay đứng anh ta không thể biết.
Anh ta chỉ biết chắc chắn bộ não của mình vẫn còn hoạt động bởi anh ta còn biết suy nghĩ để biểu tay chân cử động, kêu đôi mắt và miệng mở ra, nhưng không thể, tay chân xụi lơ buồn thiu chiếc lá liễu rũ, mắt như có tảng đá đè lên làm cho nhắm nghiền, hai bờ môi như bị keo dán chặt cứng, tất cả hoàn toàn không nghe theo lời bộ não. Có lẽ những sợi dậy thần kinh điều khiển đã bất tuân chỉ huy hoặc giả liên lạc bị cắt đứt rồi mất liên lạc.
Vậy là anh ta biết mình đang nằm, chỉ có nằm mới cứng đơ như vậy. Còn đôi mắt không mở được nên không biết ngày hay đêm, cảm giác là một màn đêm tăm tối phủ lên người. Tối đến mịt mờ.
Anh ta lại nghe rất rõ tất cả những âm thanh xung quanh mình. Tiếng tích tắc của cái đồng hồ lớn tới nỗi anh ta nghe được tiếng di chuyển xạch xạch của cây kim, chắc đây là cái đồng hồ có quả lắc, rồi tiếng xè xè nghe giống tiếng máy móc, mấy tiếng này cứ đều đều làm anh ta khó chịu. Nghiệt hơn nữa là anh ta nghe tiếng đập thình thình trong lồng ngực, tiếng đập chậm chạp kinh khủng, chậm hơn tiếng tích tắc của đồng hồ, như một cuộc đua mà tiếng đập lại không muốn về đích, mỗi tiếng đập chừng muốn nổ tung lồng ngực, muốn nghe êm ái và nhanh hơn nhưng không có cách nào. Duy chỉ có tiếng từng giọt nước rơi và chạy xuống thấm vào da thịt là thấy đỡ, bất giác anh ta nghĩ đây là dòng suối ngọt ngào mà mình đang ngụp lặn trong đó và dõng tai nghe tiếng róc rách, tưởng tượng thêm vài tiếng chim chóc líu lo chuyền cành trên những bụi tre, lau sậy hai bên bờ.
Kết nối những mắc xích này lại với nhau, anh ta bỗng giựt thót người, hét thiệt to: “Trời đất ơi! Trời đất ơi! ta đã nằm bất động trong bịnh viện rồi”. Dĩ nhiên giựt mình và hét chỉ nằm trong óc chớ anh ta đâu cục cựa gì được. Nghe tiếng hét của chính mình vang dội trong óc, chạy lòng vòng như âm thanh đa chiều trong những rạp chiếu phim càng thêm nhứt nhối, buốt thấu xương.
Rồi anh ta nghe tiếng bước chân người đi tới. Hai kiểu bước chân, một bước bình thường và một bước gấp gáp, có lẽ bước gấp gáp chạy theo bước chân đi trước. Và đúng như dự đoán, có tiếng người cất lên:
-“Dạ, thưa giáo sư em mới tới, đường xá xe cộ đông đúc quá nên em không đi nhanh được, em xin lỗi tới trễ”.
Tiếng trả lời nhẹ nhàng, đây hẳn là của vị giáo sư:
-“À, không có gì đâu, tui cũng mới tới thất thì, còn dư giờ hẹn mà, thôi ta vào trong”.
Tiếng lách cách tra chìa khóa, sau đó là tiếng bật cửa cái cách, bước chân của vị giáo sư và cô gái xưng em đi vào. Cô gái hỏi:
– “Em vừa về tới nơi là chạy lại đây luôn thưa giáo sư. Dạ, mấy hôm nay tình hình có tiến triển gì hông vậy?”.
Anh ta nghe tiếng xẹt xẹt nhẹ như tiếng gió và đoán là tiếng lắc đầu của vị giáo sư, vị giáo sư trả lời:
– “Mấy hôm nay vẫn vậy”.
Tiếng thở dài phát ra từ cô gái. Anh ta nghe nó dài vô tận và thiệt não nề. Cô gái im lặng, vị giáo sư lấy ống nghe áp lên ngực anh ta, một lát sau khá lâu ông lên tiếng:
– “Bữa nay có vẻ khá hơn, có khác lạ, sự sống có vẻ hồi sinh”.
Cô gái mừng rỡ:
-“Vậy hả giáo sư, vậy thì tốt quá rồi, cảm ơn giáo sư nhiều lắm…”.
Vị giáo sư ngắt ngang lời cô gái:
-“Chưa biết tiếp theo là gì, khoan chớ vội vui mừng, tạm thời trước mắt cứ theo phát đồ điều trị này vậy”.
Cô gái nói lý nhí:
– “Dạ, trăm sự nhờ giáo sư, chỉ cần có chút hy vọng là có quyền hy vọng”.
Anh ta nghe tiếng gật đầu của vị giáo sư:
-“Phải, ta sẽ làm hết sức dù hy vọng nhỏ nhoi, cũng cần phải cầu ơn trên, biết đâu có điều kỳ diệu”.
Cô gái dạ:
-“Em sẽ ngày đêm cầu Trời khấn Phật!”.
Vị giáo sư nói tiếp:
-“Thôi, bữa nay vậy đủ rồi, ta không nên ở đây lâu không tốt, rảnh lúc nào tui sẽ ghé thăm chừng, có tin gì tui sẽ báo, hẹn gặp lại sau”.
Tiếng bước chân cô gái và vị giáo sư quay ra, cô gái nói:
– “Dạ, giáo sư đi cẩn thận”.
Anh ta lắng nghe tiếng bước chân xa dần cho tới khi không còn nghe nữa.
Trở về với thực tại, anh ta nhớ lại hai giọng nói, giọng cô gái nghe quen lắm nhưng lục lọi miết cả buổi trong đầu mà vẫn không nhớ được là của ai, còn giọng vị giáo sư thì rất lạ, anh ta chưa nghe bao giờ. Rồi anh ta nghĩ, qua cách họ nói chuyện và những âm thanh nghe được ở đây, anh ta đang nằm chỉ một mình. Quá nhiều câu hỏi cho anh ta, không lẽ bị cách ly, bị gì? bịnh gì? tại sao lại nằm yên nơi này? đã chết đi hay sao vị giáo sư nói có vẻ hồi sinh sự sống?. Không thể hiểu được, anh ta thấy quái lạ vô cùng, không giải thích nổi dù cố nhớ cố hết sức tập trung suy nghĩ.
Tiếng tích tắc, tiếng xè xè, tiếng thình thịch vẫn đều đều dội vào tai, anh ta bực bội lắm nhưng quyết đẩy nó ra không thèm nghe, tiếp tục cố nhớ. Đang vặn óc suy nghĩ chợt một luồng không khí lạnh buốt tràn khắp cơ thể, nhứt là ở sống lưng và sau ót mặc dù lưng và ót anh ta sát rạt có lẽ với tấm ra giường, luồng không khí như đi xuyên ra tất cả để thấm vào lưng anh ta vậy. Theo sau luồng không khí là một loạt tiếng lào xào, gào thét, hú hí ghê rợn, những tiếng lộn xộn này cuộn xoáy lòng vòng quanh người, có cảm giác như là tiếng của con quỷ đang chập chờn sắp xà vào người, anh ta buộc miệng hỏi:
– “Ngươi là ai? là lũ quỷ hả?”.
Lẫn trong tiếng lộn xộn là tiếng cười phát ra:
– “Ha ha ha, ta không phải là quỷ, ta chỉ là cơn gió”.
Anh ta hỏi lại:
-“Cơn gió à, cơn gió gì mà ghê rợn vậy, ngươi muốn gì ở ta và còn đọc được suy nghĩ của ta?”.
Cơn gió ngừng cười:
-“Ta không phải cơn gió xấu xa, nhưng vì chức phận ta vậy nên buộc phải vậy. Ta là cơn gió mang linh hồn chết, thực ra thì ta nói gọn chứ linh hồn không chết, ta đang nói chuyện với linh hồn ngươi, chỉ có thân xác mới chết. Ta mang linh hồn người chết ra đi”.
Anh ta nghe rợn người:
– “Mang linh hồn chết mà không xấu xa?”.
Cơn gió giọng buồn buồn:
-“Mỗi người mỗi chức phận, dù muốn dù không ta phải làm tròn việc được giao phó mà thôi”.
Anh ta hỏi tiếp:
-“Tại sao phải mang linh hồn đi?”.
Cơn gió trả lời:
-“Mai sau này thì ta không biết, vũ trụ biến đổi từng giây từng phút, hiện tại thì có sự sống ắt có diệt vong, diệt vong để nhường cho sự sống mới, cứ vậy mà luân hồi”.
Anh ta lặng đi một lát, cơn gió hỏi:
– “Vậy ngươi biết ta tới làm gì rồi chứ?”.
Anh ta đã hiểu:
“Biết rồi, ngươi đưa linh hồn ta đi đâu?”.
Cơn gió đáp:
“Việc của ta là đưa ngươi đến nơi tập trung, ở đó có người phán xét ngươi sẽ về đâu, thế giới nào, xấu hay là tốt tùy thuộc vào ngươi, điều này thì ta không biết, ngoài tầm của ta”.
“Giống như vị quan tòa?”.
“Phải, ngươi rất thông minh”.
Anh ta suy nghĩ về sự thông minh:
– “Có lẽ không, bởi nếu thông minh ta đã biết vì sao phải bị đưa đi? ta phải biết ta gây ra tội tình gì?”.
Cơn gió cười:
– “Không, không hẳn ngươi gây ra tội thì mới bị đưa đi…”.
Anh ta ngắt lời:
– “Mà là do số phận sắp đặt, ta phải an bài”.
– “Đúng, số phận, ta nói ngươi thông minh mà”.
Anh ta vẫn chưa chịu:
– “Nhưng ta còn chưa biết ta là ai, vì sao lại nằm bất động lẻ loi một mình nơi đây, nơi này là nơi đâu ta cũng chẳng biết được thì không thể nói là thông minh”.
Cơn gió bị bất ngờ:
-“Ngươi nói thiệt chứ, ngươi không biết cả bản thân mình?”.
Anh ta đâu nói dóc:
-“Ta nói thiệt, không sai nửa lời”.
Cơn gió nói tiếp:
-“Quái lạ, sao lại có chuyện như vậy, ta chỉ biết sơ ngươi là người tốt”.
Anh ta buồn buồn:
-“Tốt xấu lúc này có ích gì khi không biết cả bản thân”.
Cơn gió nghe ngậm ngùi, ngần ngừ một lúc nó lên tiếng:
-“Thôi được, ta hiểu và thông cảm cho ngươi. Ta cũng đã từng tới Sài Gòn để mang linh hồn rồi, lần này ta thấy Sài Gòn khác xưa, ta cũng muốn ngao du một chút, sẵn dịp ta chừa cho ngươi thời gian tìm hiểu về bản thân”.
Anh ta vui mừng:
-“Vậy thì hay quá, cảm ơn ngươi nhiều lắm, mà ta nên bắt đầu từ đâu… có lẽ từ nơi ta được sinh ra chăng?”.
– “Đúng, ngươi hãy bắt đầu từ đó, tìm về với cơn gió mang hồn tuổi thơ của ngươi trước tiên”.
Nói xong cơn gió chào tạm biệt và bay đi. Anh ta sợ thời gian không còn nhiều cũng liền xuất hồn bay lên không trung.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Chim và Rắn : cái nhìn tương đối trong văn chương Võ Phiến

dangtien

Sau khi mình chết mà con cháu có làm tới quận công, sao bằng đang sống mà gặp được sự chung tình. (Võ Phiến)

Tạp chí Văn học (Cali) có lần đã đăng một tạp luận của Võ Phiến : « Đối thoại về thịt cầy ».

Người quen đọc Võ Phiến sẽ ngạc nhiên : cái gì vậy cà ? Xưa nay có bao giờ nghe Võ Phiến đòi đối thoại ? Hai chữ đối thoại nó lơ láo trong từ vựng Võ Phiến. Và sao lại đối thoại về thịt cầy, một món ăn mà ông chưa chắc đã sành ? Ông đã viết về thịt ếch, thịt rắn, thịt rùa, có nghe chuyện thịt cầy bao giờ đâu ? Chắc là ông ngụ ý cái gì đây. Tôi lại có dịp suy nghĩ thêm về tác phẩm Võ Phiến.

Ngày nay, chúng ta đang có gần đầy đủ tác phẩm Võ Phiến qua bộ Toàn tập mà nhà xuất bản Văn Nghệ đã dần dà in ra từ nhiều năm nay. Võ Phiến sử dụng nhiều thể loại, và qua các tập Tùy bút, Tiểu luận, ông đề cập tới nhiều đề tài : cái ăn, cái mặc, cách nói, cách viết, cỏ cây, chim cá, người ngợm ; trong văn học, ông viết về truyện dài, truyện ngắn, truyện xưa, truyện nay, từ câu thơ tám chữ đến bài chòi. Lạ là ông chưa viết gì về món hát bội, nay gọi là tuồng cổ, một thể loại đặc biệt của quê ông, như Tản Đà đã có lần nhận xét : Tuồng Bình Định, rạp Phú phong. Sao lại có sự thiếu sót đó ? Võ Phiến nhất định phải hiểu biết về tuồng, trong cái nôi văn thơ của tuổi thơ, bằng cớ là có khi ông trích một đoạn tuồng dài của Tú Thận : « Ãi ãi quan hầu nhập yết nhập yết… » trong truyện Về một xóm quê (1957).

Suy nghĩ lang bang, tôi chợt nhớ đến truyện ngắn Trăng lu của Lê Vĩnh Hòa được xây dựng trên một vở tuồng, Trảm Trịnh Ân. Lê Vĩnh Hòa là em ruột Võ Phiến, theo kháng chiến từ thời chống Pháp rồi chống Mỹ. Võ Phiến, thỉnh thoảng rời rạc đây đó, có nhắc đến em mình một cách gián tiếp, như trong truyện Anh em (1957) « từ khi quê quán chúng tôi trải qua những biến cố to lớn… thì em Tân tôi đã xử sự ra một người dân đầy trách nhiệm. Nó mạnh dạn rời bỏ gia đình tham gia vào cuộc chiến đấu dài suốt mười năm (…) Nó hết lao những mũi nhọn vào ngoại địch thì liền quay lại lao vào những người đồng bào khác thành phần. Nó cất phương tiện chiến đấu thời loạn mà dùng một phương tiện chiến đấu thời bình. Nói cách khác, nó làm văn sĩ, một văn sĩ chiến sĩ. Nó viết những câu não nuột, ai oán về những cuộc sống bần hàn trong sạch giữa một xã hội bẩn thỉu, nhớp nhúa. Nó thành hẳn ra một kẻ hiệp sĩ hào hoa của thời đại đấu tranh giai cấp rồi.

Còn tôi (…) tôi cũng lìa bỏ gia đình ba má tôi, nhưng không phải để tham dự vào một sự nghiệp cách mạng nào. » (« Anh em » đăng trong Đêm xuân trăng sáng, nxb Nguyễn Đình Vượng, Sài gòn 1961, tr. 150, in lại trong Truyện ngắn 1, nxb Văn Nghệ, California 1987, tr. 162, có lược bỏ một đoạn.)

Đoạn văn mỉa mai, chua chát mà vẫn đằm thắm. Hai nhà văn anh em đã chọn những con đường khác nhau, vì đã có hai lối nhìn khác nhau về cuộc sống. Tôi xin trở lại chuyện tuồng hát bội với một giả thuyết : Võ Phiến chưa viết gì về hát bội vì nghệ thuật tuồng xa cách với nhãn giới ông : tuồng là một nghệ thuật cách điệu – « dưới chân không ngựa cũng ra roi » – và những nhân vật cường điệu, bị đẩy tới cực độ của cái tốt và cái xấu : những Tần Cối hay Nhạc Phi, Tạ Thiên Lăng hay Khương Linh Tá đều không xê dịch được trong không gian Võ Phiến trong đó « một con nhện đu đưa ở đầu một sợi dây tơ thả lửng lơ giữa nhà. Một con ông bầu bay quẩn vài vòng rồi chui vào cái lỗ khoét ở lòng trính. Một con chuột nhỏ, thấy im vắng chạy ra đến giữa nền nhà, rồi ngập ngừng, đứng lại, quơ cái đuôi nhọn một cách e ngại. Con nhện chạy quanh cây cột rình bắt con ruồi. Và bụi mọt lặng lẽ rơi lên mặt chiếc phản gỗ ở phía chái nhà trên…và mỗi tiếng trở mình của tôi trên chiếu đủ làm kinh động cả cái thế giới những con chuột con dán. » (Thư nhà, nxb Thời Mới, Sài gòn 1962, tr.128. In lại trong Tùy Bút II, nxb Văn Nghệ, California 1987, tr.100.) Thế giới ấy làm sao chịu nổi tiếng la hét “ãi ãi quan hầu nhập yết nhập yết” của hí trường hát bội ? Và sân khấu tuồng cổ làm sao dung dưỡng được “những nhân vật rầu rĩ lố lăng, không hứa hẹn một vinh dự gì cho chỗ quê hương” ? (Thư nhà, câu cuối).

Có lẽ vì vậy mà chưa thấy Võ Phiến viết gì về hát bội chăng ?

1. LẼ SỐNG

Ta hãy đi xa hơn vào tư tưởng của tác giả Về Đâu. Trong tập truyện Đêm xuân trăng sáng (1961) truyện ngăn “Lẽ sống” mang cái tên tiêu biểu, kể cuộc đời một ông già, ông Bốn Tản – vì là người tản cư – trôi giạt từ Quảng Nam vào Bình Định, một thời gian sống nhờ gia đình người kể chuyện, rồi tấp sang những đứa cháu hờ, nhận ông là bác, để sai vặt không công. Cuối cùng sống nhờ vào một cô gái điếm, già và nghèo, ông bị hàng xóm phê phán “một ông già nhà quê tuổi trên tám mươi làm sao có thể đến ở bên cạnh chứng kiến sự làm ăn của một người đàn bà giang hồ (…) Nó ngủ với khách thì ông ta gác cửa. Đêm nào nó đi chơi thì ông già giữ nhà (…) cái ông già này trời hành”. Kết cuộc, ông cụ chết thê thảm trong một tai nạn xe cộ, để lại một bọc giấy. “Tôi lại mở gói giấy ra thì là hai chiếc quần lót và một cái “xu-chiêng” đàn bà (…) Của con đĩ già, tôi gật đầu. Còn lại một ít máu phọt từ chỗ sọ vỡ của ông Bốn Tản và mưa bay mây mù giữa đồng” (Truyện “Lẽ sống” trong Đêm xuân trăng sáng, tr. 62, 73 và 74).

Chúng ta ghi nhận ở đây sự hoài nghi của Võ Phiến trước những lý tưởng đạo đức và chính trị lớn lao, xa vời. Có những người chết vì trung quân ái quốc, vì một lập trường, chính kiến, thì cũng có người chết bên cạnh, chết với, chết vì một ít đồ lót của con đĩ già, và Lẽ sống của họ dừng lại chỗ ấy. Các đạo lý, tôn giáo, chế độ chính trị tìm cách nâng cao lẽ sống con người, nhưng đồng thời cưỡng ép con người khi phải nhón gót, khi phải quì gối, khom lưng cho vừa với tầm thước một lý tưởng nào đó. Con người không phải ai cũng có, hay có khả năng có, một lý tưởng ; đa số tìm thấy hạnh phúc trong lẽ sống tầm thường nhất; “một ít đồ lót của con đĩ già” là một biểu tượng, nó thô bạo vì nó trả lời lại một xã hội thô bạo, một giai đoạn lịch sử thô bạo, một ý thức hệ độc tài đàn áp, trấn áp con người bằng những lý tưởng, lập trường, quan điểm. Con người không phải ai ai cũng yêu nước. Thế mà tôi buộc anh phải yêu nước; không phải yêu nước một cách tự nhiên, chung chung, mà bằng lập trường giai cấp, trên quan điểm này, chỉ thị nọ, nghị quyết kia. Võ Phiến đã nêu lên vấn đề tự do con người, trước những giáo điều nói chung, chứ không riêng gì với người cộng sản. Nhưng người cộng sản cảm thấy bị va chạm và tổn thương nhiều nhất, vì lập trường và vị trí độc tôn của họ. Và họ xúm vào xỉ vả Võ Phiến, gọi ông là “biệt kích văn nghệ”; họ chửi bới hạ cấp mà không chính xác, nên vô hình trung, làm quảng cáo cho Võ Phiến, biến ông thành một thứ lãnh tụ chống cộng, điều mà ông vẫn mang ra chế riễu.

Truyện Lẽ sống đã đưa hình tượng đến lằn mức giới hạn, để chúng ta có thể hiểu rằng : cuộc sống, tự nó, là lẽ sống. Không cần tìm ý nghĩa cuộc sống ở đâu xa : sự sống, trong mỗi hơi thở của mỗi tế bào, đã mang ý nghĩa của nó. Lịch sử trong giai đoạn khắc nghiệt đã lất át ý nghĩa đó, nhưng không thể hủy diệt vì nó là cơ bản, là nhựa sống của nhân loại. Võ Phiến đau đớn và chua cay, nhưng công bình và thân ái, đã nhận xét : “tiếc thay cuộc tranh chấp lớn lao thường khi bị bắt buộc phải khuấy động đến cả những đời sống hèn mọn, phải dùng đến những phương tiện nhỏ ấy, để làm ra cái lớn lao” (Thư nhà, tr.148). Làm ra cái lớn lao ? Làm lịch sử là một cách… viết tắt – chữ của Võ Phiến đấy !

Cái lớn lao và những cuộc đời nhỏ nhặt là một chủ đề thường xuyên lảng vảng trong văn chương Võ Phiến. Truyện Về một xóm quê bắt đầu bằng cái chết của một người anh : “Khi anh tôi đi chuyến dân công cuối cùng, anh không cho giặt chiếc chiếu vẫn lót cho đứa cháu trai đầu lòng mới mười ba tháng, anh muốn mang theo cả mùi nước tiểu của con để những đêm nằm trên núi bớt nỗi nhớ con… Anh Hai tôi chết không có mồ, và cũng không chắc được vùi đến ba tấc đất”. (Trong Đêm xuân trăng sáng, tr. 310).

“Chuyến dân công cuối cùng”… tác giả không xác định thời điểm, nhưng người đọc đoán là chiến dịch Tây Bắc khoảng 1953-1954 đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ. Chúng ta không bình luận về những mất mát trong chiến tranh – họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong chiến dịch này – mà chỉ ghi nhận hình ảnh người công dân đi làm nhiệm vụ – thành tâm hay miễn cưỡng, có hay không có ý thức công dân – đã mang theo mùi nước tiểu của đứa con thơ. Liệu những nhà lãnh đạo chính trị sẽ đánh giá ra sao ? Dù sao những con người tầm thường ấy – mà xã hội cho là thấp kém – lâu nay vẫn rầu rầu làm ra lịch sử với một vẻ hững hờ, nhẫn nại –Thư nhà, tr. 149), nhưng lúc cần thì cũng phải tàn bạo, như Bốn Thôi trong Thư nhà “tên địch đã bị bác ta đập một báng súng vào đầu, tên ấy vẫn còn bị nằm đó” (tr.146). Tôi chạnh nhớ đến truyện Đôi mắt (1947) của Nam Cao : “vô số những anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm đến vợ con”. Dĩ nhiên, những người ấy sẽ là những anh hùng dũng sĩ, họ được hưởng những vinh quang mà đa số nhân vật Võ Phiến không bao giờ mơ tưởng. Nhưng có quả thật người chiến sĩ của Nam Cao không hề bận tâm đến vợ con không ? Trên căn bản người dân quê Việt nam có thật khác nhau như thế không ? hay chỉ có những lối nhìn khác nhau về con người, những quan niệm khác nhau về Lẽ sống ?

2. CHIM VÀ RẮN

Con người vươn tới một lý tưởng, giống như lực sĩ nhảy sào, lấy trớn, bám vào cây sào, nhảy cao, càng cao càng hay, mà không còn suy nghĩ gì nữa : con người có lý tưởng khi lao vào trận tuyến, e cũng đến thế thôi. Nhưng trước đó, hay sau đó, nhất định họ đã suy nghĩ, phân biệt cái tốt và cái xấu, điều đúng với điều sai. Nếu họ không suy nghĩ sâu xa, thì sẽ có người làm giúp, viết thành những cương lĩnh lý thuyết tràng giang. Nói chung lý tưởng là một hiện tượng xã hội, dần dà điều kiện hóa con người ; nó là ý thức chủ đạo – conscience dominante – theo lời người mác-xit ; nó là “đại học chi đạo” trong xã hội Khổng giáo. Nhưng khi xã hội điên đảo thì tư tưởng chủ đạo cũng lung lay. Chúng ta còn nhớ chuyện thời chúa Trịnh, Lê Duy Mật khởi loạn, bắt được Phạm Công Thế và hỏi “Ông là người khoa bảng, sao lại theo nghịch ?” Thế cười trả lời “Lâu nay danh phận không rõ, lấy gì phân thuận nghịch ?” Hoặc lời nói của Nguyễn Trang khi lừa bắt được chúa Trịnh Khải nộp cho Tây Sơn” Sợ thầy không tày sợ giặc, quí chúa không bằng quí thân”.

Đất nước Việt Nam đã chịu đựng những trận chiến tranh ghê gớm. Ngày nay, có kẻ đã tổng kết số bom đạn trút xuống làng mạc chúng ta. Có ai tính sổ được những tang tóc, mất mát, thù hận trên đất nước ? Ngày nay, những chính nghĩa đốp chát nhau chan chát, còn những vết thương đang âm thầm nhức nhối có bao nhiêu nhà văn chịu lắng nghe, bên ngoài những gào thét thị phi ?

Những đau thương câm lặng của người dân vô tội, được Võ Phiến gói ghém trong một truyện ngắn. Chim và rắn (1967), đăng ở tạp chí Bách Khoa (số 265-266 ngày 15-01-1968). Khi xin phép xuất bản, truyện đã bị kiểm duyệt của Sài Gòn thời đó gạch xóa rất nhiều – dường như là tác phẩm Võ Phiến bị kiểm duyệt chiếu cố nhiều nhất (Bách Khoa (phỏng vấn) số 302 ngày 11-08-1969), in lại trong Tạp bút, nxb Văn Nghệ, California 1989, tr. 408). Truyện kể lại những tàn phá của chiến tranh trên cuộc đời của chị Bốn Chìa Vôi, một phụ nữ nông thôn trong một làng xôi đậu ở miền Trung, “một người nghèo rớt mồng tơi, nhà dột cột xiêu, một chị đàn bà lôi thôi lếch thếch vú bỏ lòng thòng… Chị kiếm củi, mò cua, bắt ốc, lúc ở mép suối, lúc ven rừng ven đồi”. Nhờ vậy mà chị có thể vừa làm bạn với Chim, vừa làm bạn với Rắn, trong khi loài người thích chim mà sợ rắn. Chồng bị bom chết, chị gả con gái cho một hạ sĩ quốc gia, tiệc cưới gần tàn thì bị ném lựu đạn, “anh hạ sĩ chết ngay tại chỗ, còn chị Bốn Chìa Vôi thì đứt đi nửa ống chân, khắp người lỗ chỗ đều có mảnh lựu đạn ghim “dân làng đồn rằng chính đứa con trai chị Bốn theo “lực lượng” đã ném lựu đạn để trừng phạt người em gái lấy lính ngụy. Chị được chữa chạy tại tỉnh lỵ, có khả năng tìm việc làm tại thành phố, nhưng rồi vẫn về quê. “

“Chị trở về làng làm gì ? chị đã mất một người chồng, một đứa con rể ở làng. Một đứa con gái dở dang và một đứa con trai thất lạc. Như vậy không đủ ê chề rồi sao ? chị còn trở về làng làm gì với thân hình thủng nhiều vết và với cặp nạng ? Để có thể thản nhiên trở về chỗ tử địa, chỗ sấm sét ấy, con người phải được hướng dẫn bởi một thứ tình cảm mãnh liệt, không biết là thứ tình cảm gì tốt hay xấu, nhưng nó phải thật sự mãnh liệt. “Chị về không phải vì tình yêu làng mạc, không phải như Thập Tam trong Thư nhà ngày áp Tết về làng để nghe tiếng gà gáy hay chó sủa. Chị Bốn Chìa Vôi về làng là để trả thù. “Có người nói chị bây giờ như con hổ thọt, chị dữ tợn vô song. Thằng Bướm bị phục kích hai lần, đều do chị mách. Ba Thiên cho vợ về quy chánh (…) chị Bốn Chìa Vôi cứ lồng lên : nó mang nợ với đồng bào nhiều quá lắm. Nó phải trả. Hồi chánh thế nào được (…). Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng. Biết bao giờ gỡ cho xong. Nhưng họ say rồi, họ bị hút vào cơn lốc…”

Chim và Rắn ngoài những đặc sắc riêng, còn tổng hợp được nhiều ý tưởng và phong cách Võ Phiến. Ở đây, tôi chỉ ghi lại hai điểm : cái nhìn tương đối của tác giả đối với cái tốt, cái xấu. Người kể chuyện “tôi” nâng niu một cánh hoa lan vì “một vết trắng trên lá lan” mà ông tưởng là phân chim : lòng vẫn tiềm tàng một niềm khao khát nhớ nhung. Bỗng nhiên gặp một giọt phân chim, niềm vui bừng dậy. Nhưng vài hôm sau mới biết đó là phân một chú thạch sùng, một loài bò sát như rắn, sự ngộ nhận không thể tha thứ được, một sai lầm nham nhở, bẽ bàng.

Cái tốt với xấu, chính với tà, chân với ngụy, có lúc cũng như “một vết trắng trên lá lan” – phân chim hay là phân rắn. Nhưng điều nguy hại – điểm thứ hai – là nó đã đưa đến hận thù, đã biến một phụ nữ chất phác, hồn nhiên như chị Bốn Chìa Vôi thành một con vật chính trị hung bạo, “một con hổ thọt, dữ tợn vô song, đứng về phe nhất định đòi nợ”. Và Võ Phiến, từ 1967 đã bày tỏ một ưu tư lớn về dân tộc, một ưu tư chính đáng, ngày nay, hiện giờ đang dày vò, hành hạ lương tâm người Việt chúng ta.

“Mai sau, khói lửa với quằn quại chấm dứt, nhưng cái nét tàn nhẫn nọ rồi có sẽ lưu lại như một di tích trong tâm hồn chị và những người như chị , lưu lại như một thêm thắt vào cái vốn các đặc tính truyền thống của dân tộc chăng ? (…) Chém giết lọc lừa suốt một phần tư thế kỷ, như thế liệu có thành một tập quán sinh hoạt gây một tệ hại tâm lý ?”

Chúng ta vốn tự hào về truyền thống dân tộc. Nay truyền thống ấy được thắt thêm một cái gút hận thù. Nên tự hào thêm chăng ? Tôi bâng khuâng nhớ đến ông Bốn Tản trong truyện Lẽ sống ở đầu bài này, một ông già nhà quê trên 80 tuổi … còn lại một ít máu phọt từ chỗ sọ vỡ … một ít đồ lót của con đĩ già…

Lẽ Sống của ông già nhà quê, chắc gì đã nhảm nhí? Và “mưa bay mây mù giữa đồng”

Võ Phiến và tác giả, sông Loiret 1986

Tôi lạc đề rồi. Nay xin trở lại với đề bài. Nghe Võ Phiến đòi “đối thoại về thịt cầy”, mình bèn ham, muốn thừa gió bẻ măng, đối thoại với Võ Phiến một mách, về một món ăn mà mình có nhiều hy vọng sành hơn ông ta. Nhưng nghĩ mãi không ra ý. Nghiệm cho cùng, ăn vẫn dễ hơn là viết.

Thịt cầy, người ta ăn hay không ăn, thích hay không thích, chẳng có gì phải đối thoại. Dù cho thi hào Nguyễn Du có thích thịt cầy, hay người Mỹ, đỉnh cao của văn minh công nghiệp, có không chấp nhận thịt cầy như Võ Phiến đã ra công trình thuyết, thì cũng không ảnh hưởng gì đến mùi vị một món ăn. Đối thoại về thịt cầy nghĩa là… không đối thoại gì cả. Nghĩa là tắc tị ! Như những lời qua tiếng lại về văn học, về chính trị hiện nay. Ông Ba Thê Đồng Thời thế mà thâm.

Sống, chó được phân chia thành nhiều loại, đẳng cấp phân minh. Chết, chỉ còn lại hai loại: chết có ích, chết trên mâm cơm, để bồi dưỡng cho nhân loại tiến bước, vươn lên lý tưởng, chết như vậy là cầy. Còn chết bình thường, dù cho mồ yên mả đẹp, vẫn là chó; chó chết còn tệ hơn chó sống. Gọi nhau là “đồ chó” đã là tệ, chửi là “quân chó chết” còn nặng nề hơn. Cái đạo lý của con người, kể ra cũng sơ lược.

Chiều cuối năm. Nhớ bạn hiền. Mùa đông chiều xuống sớm. Chưa thèm rượu mà đèn đường đã sáng. Nhớ xa xôi. Nhớ một câu văn Võ Phiến không biết đọc ở đâu. Có thể không phải Võ Phiến. Chỉ đơn giản thế này thôi :

“Trời ! một ngọn đèn vàng cạch tầm thường khuất lấp trong một cái thường nhật vô danh như thế, vẫn sáng đâu đó nơi chàng suốt ba mươi năm (…)

“Chiều vẫn còn mưa bay nửa trời, những con én chiều bay lẻ đã lặn mất vào bóng tối…”.

Chiều nay 28 -9 -2015, ngọn đèn đã tắt.

Và con én chiều bay lẻ đã vĩnh viễn lặn mất vào bóng tối.

Đặng Tiến
Viết 1991, cập nhật cho ngày tang Võ Phiến

Orléans, 29-9-2015

Phụ chú :
Sinh thời Võ Phiến đã tâm đắc với bài này, nên chọn in lại trong tác phẩm Đối thoại (nxb Văn Nghệ, California, 1993) với ghi chú trong phần phụ lục : “thiên bút ký của nhà phê bình văn học Đặng Tiến , nhân một bài văn mà nhìn lại một đời viết lách, nhận định sâu sắc, lời lẽ thấm thiết : những suy tưởng, thuyết luận trong phong cách một bài thơ “ (tr. 125).

một hôm hai tay che mặt

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

sao em không thật thà nhỉ
giá ta còn chút điêu ngoa
chắc gì tình hư đường hỏng
gió chẳng đưa hương đi xa

đâu ai bảo em nói dối
chẳng ai xúi anh ngây thơ
ờ… ờ , cuộc đời vốn thế
thì thôi ta cứ giả vờ

chiếc mặt nạ anh vẫn đeo
nắng lùa vào qua lỗ mọt
nhìn phố nhìn xá phải nheo
hóa ra nhìn đâu cũng xót

tiếng cười thành ra lệch lạc
rơi vào thăm thẳm bi ai
một hôm hai tay che mặt
bất chợt nước mắt chẩy dài

NGÔ YÊN THÁI

Hôm qua uống rượu vỉa hè

linhphuong

Hôm qua
uống rượu vỉa hè
Có em

có bạn bè của anh
Những người
thuở tóc còn xanh
Bây giờ
đầu chớm bạc thành muối tiêu
Một thời
anh trót mang theo
Ngày trai trẻ
thoáng bay vèo như không
Mộng tàn đã
mấy chục năm
Còn em
tri kỷ hồng nhan cuối đời
Hôm qua
uống rượu muốn khờ
Trái tim anh rớt
xuống bờ ngực em

Linh Phương

DỰ CẢM VỀ GIÃ BIỆT TRẦN GIAN TRONG THƠ VÕ PHIẾN.

tonnuthudung

Đêm 28/9/2015.Một vầng trăng huyết huyền thoại đã giã biệt những vòng quay tinh tú… rơi hẫng vào thinh không.
Có ai biết để có thể biến thành trăng huyết thì vầng trăng thanh đêm rằm đã trải qua nhiều kiếp luân hồi khắc nghiệt, thắm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt?
Bỗng dưng tôi liên tưởng đến những câu thơ sinh ly tử biệt:
...Lang thang đâu đó ngoài vô tận
Một mảnh linh hồn nhớ thịt da.
..
Khi ông viết những dòng này, ông chỉ mới biệt ly cố xứ hơn mười năm trước, thì, cõi vô tận của ông đâu phải là cõi thiên thu bát ngát mà có thể chỉ là một chốn quê xưa đau đáu nhớ về… Thơ ông, như một tâm cảm khác, mượn hình nói bóng, lộng ảo thành chân…
Không ai nói về thơ ông, (nhưng với tôi, thơ mới đích thực là tiếng nói nội tâm thầm kín mà đôi khi chúng lẩn khuất đâu đó , cần đưa chúng trở về ) vì so với số lượng tác phẩm đủ mọi thể loại : truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, tạp luận, biên khảo , phê bình, dịch thuật… thì thơ của ông ( theo các nhà phê bình) chỉ là một phần nhỏ bé và không quan trọng.
Nhưng, nếu xét về tổng thể, thì thế giới thi ca của mỗi tác giả mới chính là những thổ lộ của tâm linh… đôi khi chúng đích thực là những âm thanh cuồng nộ được cách âm tuyệt vọng bằng các ngôn ngữ tư duy tự lấy mình làm cứu cánh, trong khi văn xuôi chỉ là những ký hiệu bày tỏ sự vật bên ngoài…

Thơ ông chiếu vào nội tâm u uẩn :
tiền thân dù có, dù không có
thì vẫn:
đã tuyệt vời chưa thân xác ơi!
Cái u uẩn đó, đôi khi bộc lộ ra bằng hoan lạc:
Mỗi phân da thịt một linh hồn
Có ai ngửa cổ cười sung sướng
Cổ trắng ngần, ôi… muốn chết luôn
Có ai hất tóc qua vai ấy
Mà đây xao xuyến cả tâm hồn
Bâng quơ một nụ cười ai nở
Làm ai ngồi đứng mãi bôn chôn
Ơi gót chân son từng bước đỏ
Ơi búp tay quỳnh ngón thon thon
Nõn nà một khối: tòa hoan lạc
Nuốt lấy nguồn vui, hôn lại hôn

(TẠ TỪ THÂN XÁC)

Thân xác và tâm hồn…
Thực thể và vô hình…
Hữu hạn và vĩnh cửu…
Những cặp đối lập ấy luôn hiện hữu để cuộc đời bày biện ra những khắc khoải khôn nguôi.
Ấm hơi Thân Xác từng quên cả
Hư vô lạnh lẽo buốt càn khôn..
.
( TẠ TỪ THÂN XÁC)
Trong thơ ông, cái chết luôn là sự đợi chờ:
Nó không hình không sắc
Tuyệt không có tiếng có lời
Nó không có gì. Chỉ là một sự chờ đợi lặng lẽ
Thế thôi.

Nó là sự chờ đợi từ vô thủy đến vô chung
Ai nấy lần lượt đến với nó, không ai gặp nó
Tất cả đều hướng về nó, như hướng về ý nghĩa cốt tủy của chính mình
Tất cả đi về hướng nó. Nó chờ.
Nó chờ một con kiến, nó chờ một con voi.
Nó chờ một hạt bụi, nó chờ một đoàn quân.

Trên dòng thời gian đang trôi, những kẻ xanh mặt bảo nhau: “Nó chờ.”
Những kẻ mặt xám như tro bảo nhau: “Nó chờ đấy.”
Những kẻ run rẩy, tắc cổ, nghẹn họng thì thào: “Sắp rồi. Nó thôi.”
Trông cái nắng ngoài song cửa, tôi nghĩ: Nó đang chờ.
Nhìn chiếc răng em trắng muốt, tôi thầm nghĩ: Nó đang chờ.
Mắt nhìn con chữ đang thành hình trên giấy, tôi kêu thầm trong trí nhớ: Nó đang chờ.

Sự chờ đợi không lời mỗi lúc một thiết tha
Và mỗi khẩn trương.
(SỰ CHỜ ĐỢI)
Từ 1975, khi vừa lìa tổ quốc, ông đã muốn VỀ, Xác nương nhờ đất khách mà hồn thì cứ lãng vãng quê hương… đâu phải riêng cái chết mới có thể chia lìa hồn-xác?

Ra đi tuổi chẵn năm mươi
Năm mươi tuổi nữa nào nơi ta về
Ngàn năm mây trắng lê thê…

( VỀ)

Đã rất nhiều nhà thơ khác dự cảm về cái chết,

như Hàn Mạc Tử :
Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sương sao anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

như Đinh Hùng:
Thần chết cười trong bộ ngực điên
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền
Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng
Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.

như Bích Khê:
Thân bịnh: ngô vàng mưa lá rụng
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi…

như Mai Thảo
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy…

Như Du Tử Lê:
hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy bóng tối
một hồn đầy hương phai
một hồn đầy gió nổi…

như Nguyễn Tất Nhiên:
Cây trong vườn nhớ la đà
Lệ như thơ khóc vài ba mộ phần
Mưa nào rớt giữa hư không
Xác tôi nằm dưới bia hồng chân mây…

và nhiều nhà thơ khác , dự tưởng về cái chết luôn đau đớn , bi thảm ,trăn trở… Riêng ông , ngắn gọn thôi, đã dự cảm về cái chết của mình rất lãng đãng, thơ mộng vào một ngày tháng Chín, tháng THU CA

Tháng chín rồi
Ngày mỏng quá ngày ơi
Sắc xanh là sắc da trời
Mong manh là khói lặng lời là mây
Cả một ngày thong thả đếm từng giây
Chân trời rộng li ti từng sợi liễu
Đường cát trắng có trúc gầy yên yếu
Mặt hồ im nước biếc lại muôn xanh
Mình ta đi thấp
Dưới dãy tùng vút cao
Trong bụi con ong bầu
Còn say bên đóa hoa tàn cuối thu
Ta về quạnh quẽ trước sau
Người đi đất hút thấy đâu bóng người
Trời cao xóm nhỏ
Vườn ngõ trống trơ
Mình ta với một mình thu
Thu nghiêng tai ngóng bước thu chìm chìm
Ta say vắng vẻ im lìm
Nghiêng tai nghe rớt tiếng chim lưng trời…

( THU CA)
Và hôm nay, ông đã ĐẾN ( nơi bạn bè ông đã và sẽ đến, lần lượt không thiếu một ai) nơi thiên thu bày cuộc hội ngộ cuối cùng… Cái chết đối với ông chỉ đơn giản là một nơi để ĐẾN hoặc VỀ

Mãi miết ra đi, đâu tính đến
Đến nơi nào?
Bảy tám mươi năm, rồi cũng đến
Đến rồi sao!

(ĐẾN)

Mai kia, mình đã đi xa, đêm đêm tiếng ủng ẳng của trần gian rồi có đuổi theo sang thế giới bên kia, như thể tiếng gọi kêu tuyệt vọng của cõi nhân thế tuyệt vời?” ( Võ Phiến)

Tôi không biết viết gì về một nhà văn lớn vừa giã biệt trần gian , lòng kính trọng và ngưỡng phục đối với một bậc thầy trong văn chương nghệ thuật,  người đã đặt nền tảng cho dòng văn học hải ngoại …
Bởi có liên quan đôi chút đến chữ nghĩa và cùng chung thân phận lưu vong,  chỉ xin có vài dòng  tiễn ông về cõi vĩnh hằng:
Quê người ngựa hồng mỏi vó
Cố hương mây trắng bay về...

Tôn Nữ Thu Dung

Trong vòng 3 nốt nhạc

phamhoainhan

Một tay giáo sư tên Michal Kosinski của trường Stanford nào đó bên Mỹ vừa công bố một nghiên cứu rằng chỉ cần cho coi 10 cú bấm Like trên Facebook của một người thì máy tính có thể xác định tính cách của người đó chính xác hơn bạn đồng nghiệp của hắn ta, nếu coi 70 cú bấm Like thì biết tính cách người đó rõ hơn bạn thân của hắn, còn coi 250 cú bấm Like thì thậm chí biết rõ tính cách của hắn ta còn hơn cả vợ hắn! Nói theo kiểu Trò chơi Âm nhạc, thì trong vòng 1 nốt nhạc biết rõ đương sự hơn đồng nghiệp, trong vòng 3 nốt nhạc biết rõ hơn bạn thân, trong vòng 7 nốt nhạc biết rõ hơn vợ chồng!

Hai Ẩu hổng tin, bèn tức tốc lên mạng chat với Michal Kosinski nhằm hỏi cho ra ngô ra khoai.

Hai Ẩu: Ê, xạo bà cố vậy cha nội? Làm sao mần được chuyện như vậy?

Kosinski: Tụi tui làm có cơ sở khoa học đàng hoàng. Từ năm 2013, tụi tui tập hợp thông tin về những lần bấm Like của 6 triệu người chơi Facebook. Từ đó lập ra mô hình toán học để xác định tính cách của người dựa vào những lần bấm Like. Mới đây tụi tui chứng minh mô hình của mình xịn bằng cách thử nghiệm trên 50.000 người, kết quả là máy tính của tui luôn cho kết quả nhận định chính xác hơn người thiệt nhận định.

Hai Ẩu: Má ơi! Làm chi cho cực vậy? Để làm gì chớ?

Kosinski: Nhiều chuyện lắm chớ. Chuyện lớn như khi vận động bầu cử, biết rằng đưa thông điệp thế nào thì người đó ứng xử ra sao, từ đó có chiến dịch tranh cử hợp lý. Hay người tư vấn hướng nghiệp biết học sinh có xu hướng gì để định hướng nghề nghiệp cho đúng. Còn chuyện nhỏ như anh coi số lần bấm Like của đồng nghiệp mình mà biết tính tình của nó, thí dụ nó có bị gay hông, nó có mê tín dị đoan hông, có nghiện sex hông… từ đó anh có biện pháp chơi nó để dành ghế.

Hai Ẩu: Bà nội ơi! Như vậy anh chỉ cần coi những lần bấm Like của tui là biết tui blah blah blah hả?

Kosinski: Hoàn toàn chính xác! Nhưng thiệt ra phương pháp này chưa phải tuyệt vời nhất đâu. Nếu biết được rằng anh coi những trang web nào, mua hàng qua mạng những gì… là còn biết chính xác hơn cả chục lần ấy chứ!

Hai Ẩu: Bà cố ơi! Vậy là biết tỏng tòng tong mọi thứ rồi còn gì nữa. Nhưng may mà hổng ai biết tui vô coi những trang web nào.

Kosinski: Đừng tưởng bở! Mấy nhà khoa học như tui hoặc người bình thường thì không biết anh coi cái giống gì, nhưng các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), mấy nhà làm trình duyệt và kể cả một số công ty tiếp thị nữa biết hết mấy chuyện đó. Họ sẵn sàng cung cấp những thông tin đó cho các nhà quảng cáo, các đối thủ cạnh tranh, cả các tình địch của anh nữa. Tóm lại là trong thế giới này anh như bị lột trần truồng ra vậy đó!

Hai Ẩu: Trời đất ơi! Như vậy tui hổng dám lên mạng nữa, tui xóa sạch dữ liệu trên laptop mới được.

Kosinski: Vô phương! Anh vẫn còn cái smartphone, nó xác định anh đang ở đâu, làm gì. Tóm lại, hãy chấp nhận thương đau đi, anh chả còn gì riêng tư trên đời này đâu!

Sau cuộc trò chuyện với Kosinski, dù đang ở nhà một mình, mặc xà lỏn ngồi bên laptop nhưng Hai Ẩu vẫn vội vàng đứng dậy mặc mấy lớp quần áo vô cho nghiêm chỉnh. Ừ, dù sao thì cũng có cảm giác đỡ hơn một chút, chứ không thì cứ như là mình đang bị lột trần truồng phơi ra trước thiên hạ, nhột thấy bà luôn vậy á!

Phạm Hoài Nhân

Từ Chốn Sương Mù

khatiemly

Chưa thấy hoa đào mà trời như trở lạnh
Chưa rớt hoàng hôn mà núi đẫm sương mù.
Chưa suốt trường sơn mà chim hồng mỏi cánh
Hay Đà Lạt muôn hồng níu bước lãng du?

Đường thiên lý chang chang nắng gió
Vào quán ven sông rũ bớt bụi đường.
Chẳng cổng chiêu phu sao tú cầu nở rộ,
Chẳng khóc hè sao trắng lệ đỗ quyên! *

Mưa rơi chi cho ướt bờ tóc liễu
Rừng thông xạc xào thương cây phượng lẻ loi.
Chưa ấm dạ dù đã lưng hồ rượu
Sim dại bâng khuâng cũng đủ tím lưng đồi.

Vẫn ấp ủ mimosa ngày đó
Nhưng nắng hanh hao có nhạt đóa nhung hồng?
Phượng đây tàn, môi xưa còn thắm đỏ?
Liễu đây gầy, liễu cũ có gầy không?

Má đào xưa ta quên giữ lại
Để giờ nầy thiếu ấm lửa yêu thương.
Lại quên mượn mái tóc huyền man dại
Để đêm về đếm sợi nhớ sợi thương!

KHA TIỆM LY