Đó, như bạn thấy đó: lá phong đỏ từ từ…là sắp sửa mùa Thu, lá vàng mùa Thu tới! Bạn thấy và cứ đợi / một tuần lễ nữa thôi / lác đác vài lá rơi…rồi đâu cũng đầy lá! Mùa Thu như biển cả, lá vàng lượn nhấp nhô. Nhiều đống lá như mồ của ai ngoài thổ mộ… Bạn tha hồ mà nhớ / những người thân đi xa! Bạn tha hồ thở ra / những buổi chiều sương khói! Nửa tháng thôi, đồng nội / hay trong thành phố này / lá vàng sẽ bay bay / bạn đưa tay mà hứng… Và bạn nghe tiếng vọng / của nỗi buồn bao la! Nước mắt bạn ứa ra…là chuyện riêng của bạn! *Bạn ơi có một sáng / tôi đứng chờ buổi trưa / chờ đợi người đưa thư / để mong nhận cánh thiếp… Mùa Thu có ngày Tết…là Ngày Tết Trung Thu! Tôi vẫn còn trẻ thơ / mong trăng tròn để ngắm! Gì…cũng đều xa lắm! Bốn mươi năm hơn rồi! Bao người xa đã xôi, bao nhiêu đời đã khép! Tôi vẫn mong ngày Tết / mình có đêm Liêu Trai / thấy hình như có ai / về vuốt mình mái tóc… Và mình tha hồ khóc! Quê Hương mình xa xăm… Tôi muốn hôn bàn chân của người mình thuơng quá…Tôi muốn hôn biển cả những con thuyền tả tơi…Bạn bè của tôi ơi, mùa Thu sắp về đó – lá phong hồng rồi đỏ…rồi rạng rỡ…hoàng hôn!
Tin buồn lại đến khi biết tin nhà văn Nhật Tiến giã biệt cõi đời, chỉ sau cô Đỗ Phương Khanh hơn hai tuần. Riêng tôi, cảm thấy mình như vừa mất đi người thân. Thế hệ 6X ở miền Nam sẽ không quên bộ tuần báo Thiếu Nhi do thầy chủ biên, in ấn đẹp, bài vở thiết thực và tính giáo dục đậm đà. Cũng không quên cuốn sách “Thềm hoang” của thầy mà học trò trung học Đệ nhất cấp đã phải thuyết trình trước lớp. Tôi vẫn nhớ nhiều chi tiết cuốn sách đặc sắc “Thuở mơ làm văn sĩ”, gần như là hồi ký mà thầy kể về thời học trò tập tành làm báo ở Hà Nội. Cuốn sách này đã thúc giục tôi đi vào con đường làm báo sau này. Những cuốn sách đó, cùng cuốn “Những người áo trắng”, vở kịch “Người kéo màn”, khi gặp nhau, thầy đều tặng cho vợ chồng tôi, luôn ghi trang trọng: “Tặng cô chú….”, dù chúng tôi chỉ ở tuổi con của thầy. Cách nay đúng một năm, tôi xin phép phỏng vấn thầy qua email. Bài trả lời khá dài, sau đó thầy còn viết bổ sung thêm phần cảm nghĩ về Hà Nội xưa, về Sài gòn… Có vài đoạn tôi muốn chia sẻ: Thầy kể kỷ niệm đáng nhớ với nhà văn Nhất Linh: “Do quen biết với gia đình nhà văn Nguyễn Thị Vinh nên sau khi Văn Hóa Ngày Nay đình bản, tôi còn có vài cơ hội gặp gỡ Nhất Linh ở nhà in Trường Sơn, đường Nguyễn An Ninh Sài Gòn do bà Nguyễn Thị Vinh làm chủ. Có một buổi gặp gỡ mà mãi sau này trong ký ức của tôi vẫn thấy như là mới mẻ, đó là buổi tối của hôm trước khi xẩy ra cuộc đảo chính ngày 11-11-1960. Nhà tôi, Đỗ Phương Khanh thì đã lên lầu trò chuyện với anh chị Trương Bảo Sơn và Nguyễn thị Vinh. Ở tầng dưới, nhà văn Nhất Linh thì ngồi trầm ngâm bên một cái bàn nhỏ, chung quanh đầy những cột ram giấy của nhà in chất cao nghệu. Thấy tôi, ông mỉm cười và rủ tôi chơi bài domino. Thế là tôi sà vào bên ông, vui vẻ đổ cỗ bài lên mặt bàn và ngắm nhìn ông xếp những con bài nhựa bằng đôi bàn tay đã bắt đầu thấy hơi run run. Có lẽ đấy là lần đầu tiên tôi có cảm giác gần gũi với ông nhất. Bởi vì sự liên hệ giữa tôi và ông lúc này chỉ là hai con người trong một trò giải trí chứ chẳng phải là giữa một nhà văn vốn đã lừng lẫy trong suốt một chiều dài của lịch sử Văn học Việt Nam, với một thanh niên mới chỉ có 24 tuổi đời, vừa chập chững đi vào thế giới của văn chương. Tôi nhớ là mình đã “gí” ông tận tình và rất thích thú nhìn đôi lông mày rậm của ông nhíu lại, vầng trán cao ngất phảng phất nhiều nếp nhăn, và mỗi khi phản công lại thì ông mỉm cười, nụ cười nom rất hiền từ và bao dung khiến tôi thấy lòng mình như ấm áp hơn lên. Trong những giây phút thân ái đó, tôi thật đâu có ngờ là đầu óc của ông lại còn đang suy tưởng về một cuộc đảo chính sắp sửa xẩy ra, chỉ trong vài giờ sau đó !”. Trong bài, ông nhắc về Hà Nội, nơi sinh ra: “… đối với tôi có quá nhiều kỷ niệm. Hồi tôi còn bé (thập niên 40s thế kỷ trước) nhà tôi ở ngõ Thanh Miến mà đầu ngõ bên này tiếp xúc với trường tiểu học Sinh Từ, tên khi đó là trường Pierre Pasquier, còn đầu ngõ bên kia thì trông ra cổng sau của Văn Miếu hay Quốc Tử Giám hồi đó quen gọi tắt là Giám. Lũ bạn bè còn trẻ nhỏ chúng tôi rất thường theo cổng sau vào Giám để cưỡi lên cổ những con Rùa mà trên lưng của chúng có những bia đá ghi khắc sự nghiệp của những vị Tiến Sĩ thời xưa”. Một đọan khác sau khi hồi cư: “Nhưng chỉ hơn một năm sau, mọi sự được phục hồi nhanh chóng. Tiếng xe điện leng keng đã bắt đầu rộn rã. Người hồi cư trở về buôn bán tấp nập. Và nhiều trường học đã mở cửa lại. Chỉ trong vòng 5 năm sau đó, cho đến 1952, 1953 thì mọi sinh hoạt đã trở lại bình thường. Hà Nội đã xuất hiện nhiều tiệm sách với khung cửa kính sáng choang, bên trong bầy đầy ắp sách báo mới ra chen giữa những văn phòng phẩm đủ các loại như tập vở học sinh in hình nữ tài tử điện ảnh tuổi nhỏ xíu Shirley Temple, bút máy Kaolo vỏ ngoài là bút máy nhưng bên trong thì chỉ cắm ngòi bút phải chấm mực. Loại bút máy thứ thiệt như Wearever, Pilot, Chatodo thì phải mãi sau này, khoảng năm 1952, 1953 mới thấy có”. Trả lời câu hỏi về những suy nghĩ gì về cuộc sống, cùng những triết lý nhân sinh mà ông đúc kết lại trong đời: “Với tôi, tôi cứ sống hết lòng với những gì mình theo đuổi. Mỗi khi thất bại, tôi không cho là trò may rủi mà chỉ tại mình chưa vận dụng hết khả năng đó thôi. Và sau cùng, nếu có đạt được thành quả nào đó thì cũng chẳng nên coi là quan trọng. Vì theo kinh Phật thì đời người như mộng, như huyễn, bèo nổi, ảnh hiện, như sương mai, chớp nhoáng … mà thôi”. Tôi đọc câu cuối mà thương cho hai nhà giáo dục của một thời Sài gòn ngày xưa, hai nhà văn Nhật Tiến và Đỗ Phương Khanh, mà chúng tôi đã may mắn thụ hưởng những thành quả văn chương báo chí của ông bà, và từ những vị có tâm huyết khác thời đó, ông Nguyễn Hiến Lê, ông Nguyễn Hùng Trương, nhà văn Minh Quân v.v… Lần cuối ông bà Nhật Tiến – Đỗ Phương Khanh về chơi năm 2016, chúng tôi đưa ông bà ra Đường Sách. Sau khi ghé nhiều cửa hàng, tôi thấy ông bước ra gần đầu đường, móc bóp lấy tiền lẻ ra để mua gói đậu phộng luộc của chị bán dạo, vừa đợi múc đậu vào bao vừa tươi cười hỏi chuyện. Hình ảnh đó sao mà thương! Chào lần cuối để ra về, cô Đỗ Phương Khanh đọc hai câu thơ của Lý Thương Ẩn thời vãn Đường: “Tương kiến thời nan biệt diệc nan,/ Đông phong vô lực bách hoa tàn”. Câu dịch là “Gặp gỡ nhau đã khó, chia lìa nhau lại càng khó/ Gió xuân không đủ sức, để trăm hoa tàn úa”. Sau, về đọc tiếp hai câu của bài thơ này, càng khiến tôi nhớ thầy cô nhiều hơn: “Xuân tàm đáo tử ty phương tận,/ Lạp cự thành hôi lệ thuỷ can (Tằm xuân đến chết mới nhả hết tơ/ Ngọn nến thành tro mới khô nước mắt”.
Theo sau sự ra đi của hiền thê là nữ văn sĩ, dịch giả Đỗ Phương Khanh vào ngày 26 tháng 8 vừa qua, gia đình cho hay: 11:26 phút trưa ngày 14 tháng 9, 2020 (tức 27 tháng 7 năm Canh Tý), nhà văn Nhật Tiến vừa từ trần tại thành phố Irvine, Nam California, hưởng thọ 84 tuổi. Vô cùng thương tiếc một nhà văn, nhà giáo đã tận tụy cống hiến suốt đời cho nền văn học nước nhà trước 75 và hải ngoại sau 75.
Có những nẻo đường đi hoài không hết Có những nẻo đường lẩn thẩn mình ta Có những nẻo đường dẫn về đất mẹ Quanh quẩn tìm hoài những lối bơ vơ.
Sao con không thấy mẹ ngồi sau cửa Nhìn nắng lung linh trên bụi tre già Sao con không thấy mẹ cười môi thắm Tay dắt bé thơ qua mấy chuyến đò
Ngang dọc đi về tóc bay vai nhỏ Áo tím nhạt nhòa thuở ấy ngày xưa. Ngày nay con đi trên đường miệt mài Mây trắng đầy trời rừng núi mênh mông
Nhớ những con đường ngập đầy cát bụi Lối nhỏ về nhà có mẹ chờ trông. Sao con không thấy mẹ ngồi bên cửa Nhìn nắng hanh vàng trên mấy hàng cau
Sao con không thấy mẹ gầy như liễu Đôi mắt buồn thương một nỗi mong chờ Đi hết đường đời mẹ về thiên cổ Con đứng một mình trong cõi bơ vơ Mắt dõi xa vời tìm hình ảnh mẹ Suối tóc đen dài trong bức tranh xưa.
Hạt lệ vỡ như nửa vành trăng khuyết Mắt hoàng hôn chìm đắm lụa sương mù Em có thấy hồn tôi mây ngũ sắc Những gam màu diễm tuyệt của thương đau
Hồn ẩn nguyệt bên đồi xưa mộng mị Lá vàng phai chợt rụng buổi xuân thì Em có thấy tình tôi dòng sông chảy Buổi xanh hồng lục tím rũ nhau đi
Ôi ẩn nguyệt nửa vành như lệ vỡ Suối quỳnh hương chảy thắm giấc mơ buồn Môi phượng đỏ và sen hồng ngực biếc Có bao giờ thắm lại đóa thanh tân
Em từ buổi thuyền trăng neo bến nguyệt Tôi lều mây giăng mấy sợi thơ chiều Thơ vẫn chảy giữa vô cùng bất tuyêt Em linh hồn ẩn nguyệt có tan theo?
25. 04. 20
ÁNH SÁNG LƯU ĐÀY
Tôi thắp hồn tôi nghìn ngọn nến Đêm buồn sưởi ấm một niềm thu Trăng từ thiên cổ còn soi bóng Sao biệt? Người đi chẳng trở về
Tôi hóa thân thành những giọt sương Lóng lánh trong đêm giọt lệ buồn Nghe tiếng trăm năm về réo gọi Bóng người tan giữa cõi trời không
Chiếc lá rơi vàng bên xác bướm Như tiễn đưa nhau cuối phận người Sao chẳng ai về, câu kinh lặng Rớt nhẹ vào đêm nỗi lẻ loi
Tôi đứng bên thềm trăng lạnh buốt Ngọn nến run vì động bóng mây Tôi rơi chìm giữa miền vô thức Mộng du qua những cõi lưu đày.
ÁO BẠC MƯỜI PHƯƠNG TÌNH MỘT PHƯƠNG
Ta về, áo bạc, lòng trăm mảnh Chén rượu tương phùng trắng thế nhân Tay cầm sợi tóc đau đoài đoạn Hà cớ vì đâu ta phong trần
Tay cầm sợi tóc mà nước mắt Chảy ngược vào tim, chảy nghẹn ngào Ta cầm đời ta, sao em khóc Ta cầm đời ta, sao em đau
Ta nghe sầu tận trời ly xứ Ta nghe buồn xót đời lưu phương Ta gọi tên mình nghe lạ hoắc Ta gọi tên em mà quặn lòng
Năm mươi năm trôi giạt thác ghềnh Làm sao đành nhớ, không đành quên Tay cầm sợi tóc mà thương xót Mái tóc ai xưa đen dáng huyền
Tay cầm sợi tóc mà không thể Nối cuộc tình xưa đã chớm phai Ta cầm đời ta như chén rượu Bình không, ly vỡ, không đành say.
PHỐ XƯA
Có kẻ đêm nay về ngang phố Nhớ từng chiếc lá rơi bên đường Nhớ lời ru lặng buồn trong gió Nhớ áo quỳnh hương nhuộm bóng trăng
Có kẻ đêm nay ngồi giữa phố Quán lạnh đèn vàng mưa hắt hiu Nhìn giọt cafe rơi rất chậm Rơi hoài cho kín một niềm đau
Rơi mãi chưa tròn lời hẹn ước Lòng còn soi quạnh bóng trăng khuya Lòng còn lạnh suốt mùa sương cũ Còn mãi hoang mang một nẽo về
Phố bổng không quen, người cũng lạ Đường hút mù xa, tình cũng xa Hình như có chuyến tàu qua phố Vô tình bỏ lại một sân ga
PHÙ VÂN
Khi về với là muôn chiều hư tưởng Là hoang vu chìm cuối mộng hoang đường Là bát ngát một hồn sương gió lộng Là tịch liêu vời vợi khói hoàng hôn
Khi về với là về muôn nẻo biệt Nẻo chia lìa tàn cháy mộng trùng lai Khi về với là mộ sầu đã khép Là thiên thu lạc giữa cõi lưu đày
Trăng viễn mộng trên vực bờ mê hoặc Hồn Đông Phương cháy rực lửa điêu tàn Ta về giữa trần gian bưng mặt khóc Con đường nào không nhỏ lệ đau thương
Khi về với là vòng xoay kiếp kiếp Là luân- hồi – là – sinh – diệt – tồn – vong Là không – có là tương phùng – chia biệt Sợi tóc nào bay trắng xóa cõi phù vân.
QNh tháng 4. 2019
KHI CHIA TAY NGƯỜI
Gió réo mùa đông về buốt lạnh Cho vàng cho úa lá tương tư Cho mây chiều phố chùng thương nhớ Cho nắng tình phai nỗi đợi chờ
Gió réo buồn như lời tiễn đưa Em đi như thể chẳng quay về Chẳng vẫy tay nhau, nhìn nhau nữa Tôi cầm sợi nhớ thả trong mơ
Em đi như thể là đi mãi Bóng khuất trong chiều xa khuất xa Tôi muốn gửi lòng tôi ở lại Tình em như một chốn quê nhà
Tôi muốn gửi tình tôi ở lại Mà gió sầu đông cứ sụt sùi Mà nỗi đời tôi còn xa ngái Nẻo về hun hút một mình tôi
Thôi đành thôi, thôi chia tay người Gió réo buồn thay lời tiễn đưa Tôi vẫy tay chào con ngõ vắng Trời hanh vàng hay trời đang mưa?
Khi Đứng Bên Này Sông Thu Bồn
Anh trở lại bến ngày xưa đứng gọi Con đò không nằm đợi khách chưa về Cây cổ thụ trơ cành khô cháy rụi Quán tranh buồn xơ xác vách phên tre
Dòng sông vắng cụm bèo trôi dờ dật Làng thôn xa lành lạnh khói sương mờ Trên lối cũ vườn hoang cây cỏ mọc Con chim buồn bóng lặng hút trong mưa
Anh đứng đợi bên này sông bến cũ Thật đìu hiu mây khói gợi ưu phiền Chắc bây giờ phương trời xa biền biệt Mẹ già nua lòng dõi đợi trăm miền
Thương dòng nước tội tình cây cổ thụ Mấy năm rồi không một kẻ qua sông Đêm trầm tịch rợn người nghe gió hú Mái tranh nghèo lạnh ngắt buổi tàn đông
Anh trở lại bến ngày xưa đứng gọi Con đò không nằm đợi khách chưa về Thương nhớ lắm nhưng làm sao nhắn gửi Dòng sông buồn con nước có mang đi.