CHA VÀ CON.

 

phuongtan

Chiều nằm xuống như da vàng của mẹ
Sông núi buồn queo quắt ngó dung nhan
Vạt máu vãi trên sườn cao bóng lẻ
Máu quân thù hay máu của quê chung.

Máu vẫn đỏ những con đường đất đỏ
Mẹ còng lưng gánh lúa dắt trâu về
Cha cúi xuống suốt khoảng đời khốn khó
Những chiều hôm vấn thuốc ngủ ven đê.

Con sẽ xới cho người đôi chút máu
Chút xương da người lính ở trong này
Trông có đỏ như sông Hồng ngoài ấy
Có ngọt ngào như màu máu quê chung.

Đêm đà nổi vẫy lưng trời với bóng
Ý phân tranh vỗ cánh hót quanh mình
Mắt chưa vuốt vắt ngang đời có mỏi
Hồn chưa nguôi hồn đọng giữa tàn phai.

Ơi lường lật nằm sau tầm giới tuyến
Con giết cha không khác một kẻ thù
Người nằm đó vắt qua lòng dây kẽm
Mượt hơi bom lửa rót mát như thu.

Cánh dơi chiều vỗ một đời tủi cực
Chúa buồn thiu thần thánh cũng quay đi
Mây cũng mỏi theo đất trời day dứt
Đợi bóng câu xa lắc buổi tương phùng.

Chiều nằm xuống như da vàng của mẹ
Lá không vui che dạ thở trong cành
Và người chết vắt qua lòng dây kẽm
Xác quân thù hay xác của anh em.

PHƯƠNG TẤN
(1965)

MỘNG DỮ

khuatdau

Mèo Mao, sau khi được bốn vua của nhà nước chuột CS tự xưng đón tiếp với tất cả cung kính và sợ hãi, liền vuốt ria bảo với đám cận thần. Rằng, thì là, hảo lớ! hảo lớ!, bọn chuột ở đất phương nam này vẫn là tôi mọi của ta. Mèo Tom đừng hòng đem cái TPP ra mà thu phục được chúng. Rồi đó, Mao đánh một giấc dài, tin rằng sẽ gặp toàn mộng lành.
Nhưng không!
Vừa đặt mình xuống giường nệm lò xo, Mao bỗng thấy một ông lão râu dài, chứ không phải chuột, cầm hèo mây gõ liền lên trán ba cái. Tuy gõ nhẹ nhưng Mao thấy buốt tận óc. Chưa kịp mở miệng miao miao thét gọi vệ sĩ, đã bị ông lão xách tai như xách con thỏ ném ra khỏi phòng. Tại đây, phừng phừng một đám lực sĩ ngực trần xâm hình thuồn luồn, lôi Mao đi.
Mao bị đưa tới một đống lửa vây quanh cả ngàn người tay cầm chèo vung lên như mã tấu. Mao kinh hãi nghĩ thầm, thôi chết ngộ dồi. Cái lày là chúng muốn lột da nướng muối ớt mình đây. Ối cha mẹ ơi!
Đang lúng túng chưa biết thoát thân bằng cách nào thì có tiếng quát bảo lanh lảnh:
Thằng giặc Mao kia, mi có biết tội của mi không?
Miao! Miao!
Giả ngộ không biết hả? Đây là đám ngư phủ đã bị tàu hải cảnh của mi xua đuổi. Biển của ta, tôm cá của ta, sao mi dám ngang ngược lấn chiếm, cướp đoạt?
Miao! Miao!
Xé xác nó ra!
Ném nó xuống biển tế thần!
Những tiếng thét căm hờn bắn vọt ra như tia lửa. Mao run sợ co rúm, nằm mẹp trên đất.
Lúc này, lại thấy ông lão cầm hèo mây nói với đám người đang giận dữ. Ông bảo, tội lấn biển chỉ là tội nhỏ. Cái tội lớn nhất của nó là tưởng cả nước này chỉ toàn lũ chuột, nên vác cái mặt mèo qua đây lúc nào cũng vênh vênh váo váo. Hãy cho nó thấy ông cha của nó đã từng sống trong sợ hãi và ô nhục như thế nào, để mà biết lễ độ.
Thế là Mao bị nắm đuôi kéo qua một cái gò cao kỳ dị. Tại đây Mao nghe rền rĩ muôn ngàn tiếng khóc than của những con quỷ không đầu. Những con qủy xin Mao đưa hồn về cố quốc.
Cái gò ấy là gò Đống Đa.
Rồi Mao được đẩy xuống thuyền len lách giữa hàng ngàn cọc nhọn. Tiếng sóng vỗ ì oạp, tiếng binh khí lách cách, tiếng thét tiếng gào cùng với khói lửa ngút trời. Mao cứ tưởng trong trận Xích Bích. Nhưng hỏi ra, đây là sông Bạch Đằng, Mao càng kinh hãi.
Chưa hết, Mao bị nhét vào ống đồng lăn đi trên sỏi đá, nghe long kong như búa nện vào đầu. Đến một hẽm núi sương mù giăng trắng, mùi tử khí bốc lên ngùn ngụt, lờ mờ hai chữ Chi Lăng, Mao được đặt lên lưng ngựa nhưng chưa kịp chạy thoát đã bị quân sĩ trong hẽm núi đổ ra chém. Khi nhát kiếm chạm vào cổ, Mao sợ hãi kêu thét lên, tỉnh dậy. Mồ hôi túa ra ướt nhẹp cả nệm, Mao cũng ướt như chuột lột.
Sáng hôm sau, đọc diễn văn trước quốc hội nhà nước chuột CS tự xưng, Mao không còn cái vẻ khệnh khạng khinh khỉnh nữa. Mà có vẽ nhũn vì nỗi hãi hùng của những cơn mộng dữ vừa qua.

(Mèo chuột ký sự)
Khuất Đẩu

Kết Luận Bằng Thơ Tản Đà

tranvanle

Trời trở…mùa Thu đã trở về
Đất như cứ chuyển để người đi!
Trở về hay vẫn còn đi nữa
Sum họp ngậm ngùi nhớ biệt ly!

Tên đất nước ta…Tàu khéo đặt
“Về Nam và Chạy Trốn Về Nam!”
Chỉ là hai chữ, đời tam tứ
Xuống biển lên rừng…dân lang thang!

Với Mẹ Âu Cơ, lòng dạ nát
Lạc Long Quân thích chí cười khà
Một trăm con cái chia đôi ngã
Ly biệt khởi đầu Mẹ với Cha!

Lịch sử ngàn năm dòng huyết lệ
Nghĩa gì…xa cách bốn mươi năm!
Mùa Thu nào cũng mùa Thu nhớ
Câu mở đầu là câu-hỏi-thăm!

Hoa quỳ nở đó, biết bao thương
Một hướng mà sao lại lạc đường?
Đi kiếm đời sau lầm kiếp trước
Tấm lòng bát ngát vạn trùng dương!

Em ơi từ lúc anh ra biển
Em tựa đầu non núi chẳng mòn!
Ai khiến nước xuôi, xuôi tới biển
Ai bày mây trắng tụ về non?

May mà rừng vẫn vàng hoa nở
…và lá vàng hàng xóm bay sang
Vàng bay mấy lá, năm già nửa
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông! (*)

Trần Vấn Lệ
(*) Thơ Tản Đà

Huế Ngày Về

phamngoclu

Ngày về – về Huế – Huế xưa
Về em xuân muộn anh vừa chớm thu

Đưa nhau ra bến sa mù
Lơ ngơ kỷ niệm chần chừ bước theo
Lòng em đẩy nhẹ mái chèo
Trôi đi… trôi với bọt bèo lòng anh
Đưa nhau qua mấy cửa thành
Màu rêu bất tuyệt còn xanh não nùng
Xưa chờ em cửa Chính Đông
Anh in vào đá nỗi lòng héo hon
Xưa tìm em cửa Hiển Nhơn
Đá câm gạch lạnh rêu mòn dấu tay…

Sao lòng nghèn nghẹn nước mây
Trôi đi… trôi với tháng ngày mù sương
Đưa nhau qua những con đường
Thâm u lá rụng cuối vườn tịch liêu
Xưa em guốc mộc khua chiều
Giấu trong tà áo ít nhiều vu vơ
Anh qua cửa Phủ đứng chờ
Chiều em về muộn rêu mờ dấu chân…

Sao lòng gợn sóng bâng khuâng
Mây trôi nước lại ngập ngừng chưa trôi
Trôi đi… bèo bọt một thời
Mái chèo tâm sự rã rời lòng nhau
Đưa anh lên ngọn giang đầu
Chia ly ngày ấy rầu rầu Huế mưa
Sông Hương no nước căng bờ
Tim anh cuồn cuộn… lững lờ tình em
Tình ơi không nặng sao chìm
Trăm năm rười rượi nằm im đáy lòng…

Rồi thôi, gió bụi mịt mùng
Cuốn em ra khỏi khuê phòng đài trang
Rồi thôi, nước mắt lỡ làng
Vùi trong vạt áo vô vàn tiếc thương !

Ngày về lặng khói im sương
Về trong Huế mới buồn buồn Huế xưa
Về em ngấn lệ chưa mờ
Về anh tay lạnh thẫn thờ nâng tay
Nhìn nhau lòng nghẹn nước mây
Hồng nhan em cạn anh đầy đa truân
Lòng như gợn sóng bâng khuâng
Chuyến đò dĩ vãng tần ngần đang trôi
Trôi vô lòng Huế… Huế ơi !

PHẠM NGỌC LƯ

CHIM VỊT KÊU CHIỀU

nguyendinhbon

Ngay từ hôm đầu tiên, khi thuê được một căn phòng nhỏ ở tận trong một hẻm sâu và có nhiều nhánh, nhiều “xuyệc”, tôi lại cảm thấy mừng vì như vậy mình không phải chịu đựng hằng ngày tiếng ồn ào và khói bụi của xe cộ như ngoài mặt tiền. Vài hôm sau, qua cánh cửa sổ nhỏ, tôi càng mừng hơn vì nghe tiếng chim sẻ lích chích trên những ngọn dừa, ngọn mít. Căn phòng tôi thuê nằm cạnh những căn nhà ven kinh Nhiêu Lộc. Nơi đây vẫn còn sót lại những khoảng đất trống nhỏ nhoi có trồng cây ăn trái, vì vậy buổi sáng, buổi chiều giữa một thành phố lớn mà môi trường đã bị ô nhiễm, vẫn nghe được tiếng chim ríu rít, đã là một hạnh phúc! Rồi một buổi chiều, đang nằm lơ mơ với những trang viết dở dang, bỗng nghe “vip… vip… vip”, tôi bật dậy ngay. Phải chăng tôi vừa nghe tiếng chim vịt?
Tôi bám chặt tay vào những song sắt, dán người vào cửa sổ nhìn thật kỹ ngọn dừa trước mặt. Vip… vip… vip…, vip, vip, vip, vip… vip… Ba tiếng đầu kéo dài và những tiếng sau nhanh hơn, thấp xuống, buồn buồn. Một con chim vịt đang kêu chiều. Không còn gì nghi ngờ nữa! Và trên tàu dừa xanh đang đung đưa trước gió, tôi đã nhìn thấy nó. Thân hình bé nhỏ, dài hơn con chim sâu một chút, con chim thân thương ấy đứng một mình và cứ cách khoảng lại buông ra những tiếng kêu buồn bã…
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau

Câu ca dao quen thuộc bỗng như bật ra từ lòng tôi làm hồi sinh bao kỷ niệm của thời ấu thơ đầy vất vả và ngọt ngào như cuộc đời và tấm lòng của mẹ. Vip… vip… vip…, vip, vip, vip… Tôi nghe nhồn nhột trong tim. Cả buổi chiều hôm ấy và nhiều chiều sau nữa, con chim vịt vẫn kêu. Cái tiếng kêu với âm điệu gợi buồn ấy những lần sau không còn làm tôi rơi nước mắt nhưng thật lạ là nó như giúp tôi tin tưởng, yêu đời hơn một chút… Tôi thầm cảm ơn mảnh đất nhỏ nhoi còn sót lại mà vẫn đầy bao dung nuôi dưỡng một vài cây mít, cây dừa thân thuộc để có một con chim đồng quê bay về cất lên tiếng gọi của mình giữa lòng phố xá. Có ai mang tâm trạng như tôi trong buổi chiều này? Rồi mùa mưa đến. Mưa Sài Gòn đổ từng cơn ào ạt vào bất kỳ thời khắc nào trong ngày. Tôi cần có một chuyến đi… Tôi về đồng bằng và trở lại thành phố trong một chiều mưa lớn đến nỗi rất nhiều đường phố thành sông. Thế nhưng chỉ ngày hôm sau là nắng đã đẹp rỡ ràng. Buổi chiều, tôi lôi mấy cuốn sổ tay ra, cố khơi gợi cảm xúc từ những tứ đã ghi lại để mong viết một cái truyện ngắn cho một tờ báo quen. Thế nhưng… Tôi không viết được. Tôi cảm thấy như mình đang chờ đợi. Vẫn không nghe tiếng chim vịt kêu chiều! Nắng xế dần bên khung cửa sổ. Vẫn không nghe. Nắng phai. Vẫn không. Chỉ có vài tiếng chim sẻ lích chích tìm chỗ ngủ. Một vài nhà đã bật đèn. Vậy là hết. Không còn nữa tiếng chim vịt đã thành thân quen, đã thành cần thiết!
Tôi vẫn bám chặt những song sắt, dán mình vào cửa sổ nhìn mãi lên ngọn dừa xanh thẫm. Không còn có con chim nhỏ nào bay về đây để cất lên tiếng kêu chân chất, gợi buồn… Tôi nghe có gì đó nghèn nghẹn dâng lên trong lòng làm cay cay mắt. Một góc trời phía trước bỗng đen kịt. Rồi mưa ập xuống rất nhanh. A… Như một kẻ sắp chết đói bỗng phát hiện cả một rẫy khoai, tim tôi bừng lên một niềm vui và lòng tôi nhẹ nhõm. Đúng rồi, chính mùa mưa đã làm chú chim thân thương ấy bay đi? Mùa mưa ơi! Mùa mưa sẽ còn kéo dài nhưng tôi vẫn mong chính mưa là lý do duy nhất làm vắng tiếng chim vịt kêu chiều của tôi giữa lòng thành phố. Lần đầu tiên, tôi có một mong ước da diết như vậy cho một con chim bởi vì tôi không thể quên rằng, buổi trưa trước ngày đi đồng bằng, tôi đã nhìn thấy hai chàng trai vừa chớm tuổi thanh niên, mặc áo thun, quần soóc, miệng nhai kẹo cao su, đi vào con hẻm này với một cây súng hơi… Niềm cầu mong của tôi liệu có lắm mong manh?

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Hạt máu

nguyenducbatngan

Ta còn ta hạt máu
Vỡ bên trời căm căm
Mười năm thơ ẩn náu
Rụng giữa người đăm đăm

Ta còn ta râu tóc
Hút theo mùa long đong
Em còn em tiếng khóc
Lướt muôn trùng mây trong

Mười năm qua vội vã
Mười năm trôi ơ hờ
Mưa trong người xối xả
Nắng ngoài đời trơ vơ

Em em quỳ xuống đó
Có nghe hồn mang mang
Trái tim mình quá nhỏ
Sao dậy lời vang vang

Mười năm em ở lại
Mười năm ta qua đường
Mười năm đầy ái ngại
Mười năm tràn tai ương

Ta vẫn cười ngạo nghễ
Dù em em phai màu
Ta còn ta dâu bể
Trắng trăm mùa sương ngâu

Mười năm như nước trong
Mười năm như hư không
Mười năm mười năm rụng
Hút xa ngoài mênh mông

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

Đêm Nằm Mộng Thấy Bùi Giáng

huytuong

Đêm qua. Bùi Giáng hiện về
Mang bao giỏ xách bộn bề thị phi
Lùa chân theo gió mà đi
Áo xanh tóc trắng. phương phi khác thường!…

Nhớ thời dãi nắng dầm sương
Nửa khuya hú gọi loáng đường Lê Chân
-Bái xin hoàng hậu mẫu thân
Hồng nhan xô Trẫm xuống phần mộ xanh…

Ô hay! Bàng Giúi sao đành
Tan trong tráng lệ vô thanh ra về ?!
Tôi nằm thiếp giữa cơn mê
Câu thơ thánh nhập mãi đè nặng tôi
“Xác thân Bồ Tát tan rồi
Tụng kinh dưới đất. trên trời mây bay…”

Trên trời. mây mãi còn bay
Dưới đất tôi cố níu ngày xuống đêm
sao cho giấc mộng dài thêm…

Huy Tưởng

ĐIỂU TÁNG

haihac

Bắt đầu từ một vệt ngang bí ẩn có màu đỏ thẫm phóng ngang qua những nóc nhà bình yên trên đất nước của chúng tôi. Có rất nhiều người đã bị dính vệt ngang này – đó máu của loài quỷ đỏ từ phương Bắc. Ngay lập tức, chúng làm biến dạng gương mặt, hình hài, tay chân của họ, trở thành loài quỷ đỏ với rất nhiều hình thù khác nhau. Loài người biến dạng này càng ngày càng đông. Chúng tôi gọi lũ người đó là kền nhân, loài kền nhân ở đất nước của chúng tôi khác với loài kền kền trên thảo nguyên Tây Tạng . Chúng rất thích dùng sức mạnh của những chiếc răng nanh khát máu, những bàn tay đầy móng vuốt để uy hiếp, những chiếc búa, chiếc liềm có ánh sáng xanh như của thần chết tàn sát những con người từng là đồng loại của chúng. Máu, nhất là máu của trẻ con – đã trở thành món ăn mang lại khoái vị rất đặc biệt cho chúng. Hàng năm, chúng đều tổ chức nhiều buổi lễ trang trọng để cúng tế tổ tiên.
Ngày 5 tháng 11 năm nay, chúng đã chuẩn bị một nghi thức điểu táng rất hoành tráng, bởi lần này chúng vinh dự được đón cha của chúng từ phương Bắc sang. Sự sợ hãi đã chai lỳ. Chúng tôi lường trước được bữa tiệc máu của lũ kền nhân. Mọi nghi thức điểu táng đã được chuẩn bị từ trước đó rất lâu. Chúng tôi đã chứng kiến sự hồi hộp và lo lắng của rất nhiều con người. Đã có rất nhiều cánh máu đang chao liệng trên bầu trời, chúng bay về từ phía biển, chúng tôi ngửi thấy mùi tanh đang đến rất gần. Ở đất nước của chúng tôi bây giờ, tập tục điểu táng của bọn quỷ đỏ hầu như đã quá quen thuộc, bọn chúng vô cùng thích thú khi mang điểu táng những thân thể còn sống. Chúng trói chặt tay, chúng cầm dao xẻo từng thớ thịt tươi rói, chúng chặt nhỏ tay chân, chúng dùng búa gõ vào đầu, dùng dao cắt lưỡi, chặt từng khúc xương, chúng thè lưỡi nếm sự khoái cảm khi nhìn thấy những cơ thể sống đang quằn quại. Tất cả diễn ra theo nghi thức điểu táng rất trang trọng theo cách nghĩ riêng của chúng.
Sớm tinh mơ. Phố. Đã hoạt náo tiếng kèn, tiếng kền ca và cờ xí được giăng khắp ngõ. Chúng tôi đã bắt đầu tập hợp rất đông trên con con phố, tuyến đường để chống lại lễ đểu táng của loài kền quỷ. Chúng tôi hô to, cùng nhau cất tiếng ca vang dội khắp cả đất nước này, những mong rằng các vị thần hiển linh mà ra tay cứu giúp. Bọn kền nhân nghe thấy tiếng chúng tôi, ngay lập tức chúng ào ra và vây lấy. Tiếng hú man dại, tiếng kêu cứu thất thanh, tiếng trẻ con ré, tiếng những người mẹ già ngã khuỵu xuống. Chúng dùng những móng sắc quắp lấy từng người, từng người một, đưa họ về một nơi bí mật để tiến hành cho nghi thức điểu táng của chúng.
Năm nay, lũ kền nhân chọn quảng trường trang trọng nhất của chúng để tiến hành nghi lễ. Đó là nơi đón rước cha của chúng đến thăm. Chúng trải thảm máu, cờ máu để nghi lễ thêm sự long trọng. Từ trên cao, cha của chúng bước xuống, kền nhân đầu đàn đã đứng sẵn ở đó chờ từ lâu, khom lưng quỳ gối, cùng với nhiều kền nhân khác sắp hàng thẳng tắp. Chúng cảm thấy hạnh phúc vô cùng, hân hoan và phấn chấn. Một bữa tiệc máu đã được bày ra: những cơ thể sống đã sẵn sàng cho nghi lễ điểu táng. Lửa đã được thắp lên. Chúng bắt đầu thổi kèn, kéo cờ, cùng nhau rú lên bản kền ca man dại trong cơn hưng phấn tột cùng. Khi bản kền ca vừa kết thúc, ngay lập tức những cánh máu từ đâu đã bay đến loạn xạ. Chúng sà xuống, lúc nhúc giành nhau mổ rỉa. Chúng rú lên cười khoái trá khi nghe tiếng rên la thảm thiết của những cơ thể sống. Nhìn xem, từ trên cao, con đầu đàn kền nhân đang dùng chiếc liềm xẻ vào ngực những thanh niên mạnh khỏe nhất để tự tay móc lấy những trái tim còn nóng hôi hổi đặt vào một chiếc khay rồi quỳ xuống dâng lên cha chúng. Chúng vừa rỉa thịt vừa cụng ly vừa nhảy múa thác loạn. Chỉ sau vài tiếng, trên quảng trường của chúng chỉ còn trơ lại những bộ khung xương không còn toàn vẹn. Chúng đang gom những mẩu thừa đang nằm ngổn ngang ấy để xay vụn, nhào thành những viên nén, đó là loại thuốc rất quý, theo chúng thì loại linh dược này có tác dụng như thuốc trường sinh bất lão mà ngày xưa bạo chúa Tần Thủy Hoàng đã phải tàn sát hàng triệu sinh mạng con người vẫn chưa thể tìm ra được. Chúng tin rằng, bằng cách đó, chúng đã mang được tất cả những linh hồn của những con người đó nhốt xuống địa ngục, và sau này chúng sẽ siêu thăng lên một hành tinh khác để hóa kiếp thành hình hài của loài vượn quỷ như tổ tiên của chúng.
Hàng ngày ở đây, vẫn nghe thấy rất nhiều tiếng rên la thảm thiết, mùi tanh của máu bốc lên trong những ngôi nhà, trên từng xa lộ. Chúng tôi lại tiếp tục cùng nhau xuống đường hô to, hát vang. Mẹ đất rung chuyển. Chúng lại sà xuống, quắp, kéo cờ, cụng ly, nhảy múa, nếm khoái lạc và thác loạn giữa tiếng kêu cứu của những linh hồn.

Hải Hạc.

SAO EM KHÔNG TRẢ BÀI THƠ

trantuan

Và em trả nắng cho ngày,
Trả sương cho núi, trả mây cho trời,
Trả mùa thu chiếc lá rơi,
Trả tim…
lời hẹn đầu môi ngọt ngào,
Trả đêm nguyệt lạnh trăng sao,
Trả ta về với thuở nào ngu ngơ…
Em đi hữu ý, tình cờ?
Sao không trả nốt bài thơ nửa chừng
Để chiều buồn đến rưng rưng…

Trần Tuấn

NÍU.

tonnuthudung

Chiều níu tay vào gió
Mây níu tay vào trời
Sương níu tay vào cỏ
Em níu tay vào tôi.

Đêm níu tay vào mộng
( Mộng chỉ là hư vô)
Biển níu tay vào sóng
Từng điệu buồn đuổi xô.

Lơ đãng hồn níu bóng
Hạnh ngộ níu tàn phai
Giữa cõi người tuyệt vọng
Tôi níu vào tay ai?

Tôn- Nữ Thu- Dung