KÝ ỨC MỘT THỜI.

vudinhhuy

Tháng 10 – 1974. Chiến trường Bắc Tam Quan, Bình Định.
Chuẩn úy Phương gốc Bắc di cư, sinh năm 1954, tốt nghiệp Bộ binh Thủ Đức trước tôi vài khóa. Ngay từ lần đầu tiên gặp nhau tôi đã có thiện cảm. Phương có giọng nói nhỏ nhẹ, cử chỉ từ tốn, dáng cao gầy, ánh mắt xa xăm. Mãi nhiều năm về sau tôi mới nghiệm ra một điều, ánh mắt buồn là nỗi ám ảnh mơ hồ của định mệnh, những người có ánh mắt như vây rất giàu tình cảm và cuộc đời thường gặp nhiều bất trắc.
Chúng tôi cùng chung Đại đội, Phương nắm Trung đội 1, tôi nắm Trung đội 2. Vị trí chốt của tôi nằm cách chốt của Phương không đến một cây số tính theo đường chim bay, ở vị trí trên đồi cao chúng tôi nhìn thấy nhau rất gần. Chốt, là một thuật ngữ quân sự dùng để chỉ những vị trí chiến thuật. Thời gian đó , Bắc Tam quan là một trong những điểm nóng nhất nước, những địa danh như Đồi mười, Đồi núi chéo đã đi vào lịch sử . Nơi đây, chúng tôi và người anh em giành giật nhau từng vị trí xung yếu. Nhìn tổng quát, vị trí đóng quân hai bên như một tấm da beo lốm đốm trải dài chìm trong bạt ngàn rừng núi.
Lần cuối cùng gặp nhau, Phương khoe với tôi tấm hình bạn gái. Đó là một cô gái tuổi mười bảy có mái tóc dài và khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương. Tôi nói vài câu chúc mừng Phương mà lòng buồn rười rượi. Cách đây mấy ngày, tôi nhận được lá thư cuối cùng của người bạn gái. Chúng tôi quen nhau trước ngày tôi nhập ngũ. Tình yêu của chúng tôi trút hết vào những lá thư, những câu chữ ân cần , dặn dò và ngập ngừng một chút thương nhớ. Trong lá thư Cô ấy viết,’’ qua Lễ Noel, em sẽ rời khỏi cuộc sống và anh để vào Tu viện, đó là tâm nguyện trước đây của gia đình và em. Gía như mình gặp nhau trong hoàn cảnh khác. Mà thôi, em không hề ân hận’’. Tôi đã ứa nước mắt khi đọc dòng chữ, ‘’Anh đừng buồn nhé, em vẫn hàng đêm cầu xin Chúa che chở cho anh, bây giờ, ngày sau và mãi mãi ‘’. Với những người lính trẻ chúng tôi, tình yêu như một cánh phao cho những ngày tháng dãy dụa và tuyệt vọng trong cuộc chiến sinh tử này. Nỗi buồn lại chồng chất, tôi nuốt nghẹn, chôn dấu cuộc tình trong veo của mình vào tuồi mười chín.
– Biết mình có còn ngày về gặp em không.
Phương thở dài. Tôi không biết trả lời thế nào.
Hai đêm sau Phương mất.
Trong các lối đánh, chúng tôi sợ nhất lối đánh Đặc công của người anh em. Đó là lối đánh bất ngờ vào ban đêm, thường là nửa đêm về sáng. Khi đánh, người anh em đã điều nghiên tính toán rất kỹ. Năm, bảy người anh em bôi đen kín người, bò áp sát vị trí, cắt hàng rào và tấn công bằng lựu đạn chày, loại lựu đạn có chuôi, ném đâu là nằm yên đó, đảm bảo độ chính xác vị trí và sức công phá khá mạnh. Trong trường hợp này, hai bên gần như đánh xáp la cà, cắt đứt hoàn toàn mọi hổ trợ của đơn vị bạn.
Đêm đó, tiếng Mang ‘’ tác’’ nhiều lắm. Mang là con thú rừng có hình dạng giống như con Nai nhỏ, ‘’tác’’ là tiếng gọi của con vật này, và mỗi khi Mang ‘’tác’’ thường mang lại điềm gở. Tôi vừa đi tuần tra các vọng gác về, bỗng nghe lác đác tiếng nổ và một loạt đạn M.16 báo động. Cả Trung đội choàng dậy sẵn sàng. Tiếp theo, hỏa châu bắn rực trời, bàng bạc bên dưới là một lớp sương mù dày phủ kín địa hình. Qua máy truyền tin, tôi nghe giọng của Phương hò hét điều động và lấy tinh thần đồng đội. Tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng, tiếng gào thét hỗn loạn trong máy truyền tin lẫn trong sự hồi hộp của chúng tôi.
Tôi chưa kịp uống hết ca inox café của người cận vệ vừa đưa. Qua máy truyền tin , đơn vị thông báo chốt của Chuẩn úy Phương đã mất . Tôi rụng rời nhìn đồng hồ, mười hai giờ bốn mươi lăm, trận đánh kết thúc chưa đầy ba mươi phút.
Đúng mười lăm phút sau, tôi nhận lệnh từ Đại đội. Chia hai quân số, một nửa đóng chốt, nửa còn lại tấn công ngay. Bằng mọi giá chúng tôi phải chiếm lại ngọn đồi trước khi trời sáng. Tôi thông báo kế hoạch tác chiến và chuẩn bị chớp nhoáng. Trong màn đêm, mười ba con người như những bóng ma, lặng câm dọ dẫm tụt xuống ngọn đồi. Vội vàng quá, không ai kịp nghĩ đến con số xui xẻo.
Cách đỉnh đồi chừng hai trăm mét, chúng tôi dừng lại nằm yên. Trời bắt đầu lấm tấm mưa và lạnh. Tiếng đại bác bắt đầu rít liên tục, xuyên qua lớp sương mù dày đặc lướt qua đầu chúng tôi rồi chúi xuống đỉnh đồi nổ tung, từng lớp đất đá cuốn lên trời lả tả.Vừa dứt tiếng Pháo, chúng tôi thận trọng trườn lên áp sát đỉnh đồi. Không có tiếng nổ, không có một sự phản kháng. Người anh em đã tiên liệu rút đi để tránh tổn thất. Chúng tôi vội vã đào xới lại các giao thông hào và bố trí ngay sơ đồ tác chiến. Không được chủ quan, người anh em có thể sẽ quay lại lần thứ hai trong đêm.
Không có thời gian thu dọn xác đồng đội, chúng tôi cũng chẵng để ý đến cái lạnh đang tím tái thịt da.Thèm một hơi thuốc, nhưng không ai được hút vì đốm lửa và mùi thuốc lá dễ lộ mục tiêu.
Mười ba con người mò mẫm làm cật lực, chai cứng cảm giác.
oOo oOo oOo
Ánh sáng mù đặc của buổi chiều rừng núi hắt vào gian phòng, làm tăng thêm cảm giác âm u. Chính giữa gian phòng đặt song song hai dãy quan tài phủ lá cờ, sát tường là một bàn thờ dã chiến, khói hương nghi ngút. Tôi lặng lẽ quay mặt không dám nhìn hai người phụ nữ, mẹ Chuẩn úy Phương và cô bạn gái đang quỳ bất động trước quan tài . Trước đó, khi người con gái đặt vành khăn tang lên đầu mình, người mẹ đã ngăn lại… rồi họ ôm nhau khóc. Tôi đè nén cảm xúc bằng cách giả vờ cầm quyển sổ Nhật ký của Phương dở vài trang. Từ trong quyển sổ Nhật ký rơi ra tấm hình người bạn gái của Phương loang vết máu khô.
Tôi bước ra ngoài đốt thuốc lá. Nơi này, buổi chiều mùa Đông trời không mưa nhưng ẩm và rất lạnh, trần mây sà thật thấp, nhìn chung quanh núi rừng chỉ thấy một màu sương nhợt nhạt mênh mang. Bất chợt tôi nhớ đến vài câu trong một bài hát của Phạm duy phổ từ thơ Lê thị ý .
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thủa ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi góa phụ nhạt mờ nét son.
Tôi chợt nhận ra một điều, chỉ có cảm xúc của người trong cuộc mới làm được khổ thơ này.
oOo oOo oOo
Ngày 24. 12.1974.
Chiếc xe đò giảm tốc độ rồi dừng lại trước Trạm kiểm soát Quân sự. Từng người một bước xuống kiểm tra. Người lính Quân cảnh đứng nghiêm chào tôi.
– Chuẩn úy đi phép hay công tác, cho tôi xem giấy tờ.
Tôi trả lời tỉnh bơ.
– Tôi được Đại đội cho nghĩ phép 24 giờ, chiều mai tôi quay về đơn vị. Thời gian ngắn quá, tôi không kịp về Bộ chỉ huy Tiểu đoàn nhận giấy phép.
Người lính Quân cảnh nhìn tôi lưỡng lự, trong giây lát có lẽ anh ta cảm nhận được vẻ bất cần và liều lĩnh của những người lính tác chiến. Anh ta trao đổi nhanh với cấp chỉ huy Trạm gác rồi quay lại chào tôi.
– Chúc Chuẩn úy có 24 giờ phép vui vẻ.
Từ bến xe, tôi đi bộ một quãng theo con phố chính về nhà. Hai bên đường phố xá đã lên đèn, rực rỡ không khí đón Noel.
Ngang qua một quán Café, tôi dừng lại bên ngoài đốt điếu thuốc và lắng nghe Bài thánh ca vọng ra cồn cào tâm hồn mình.

VŨ ĐÌNH HUY

Chiều Sông Lau

tranthitrucha

Dòng sông trắng xoá hoa lau lay động trong gió chiều. Làng dừa, tháp chuông, mây trời…in trên mặt sông như bức tranh chấm phá lung linh. Gió tinh nghịch xoá nhoà tất cả và đẩy sông trôi về biển. Rồi như tiếc nuối vấn vương, gió quay trở lại vẽ tiếp vì thế mà làng dừa, tháp chuông, mây trời mãi mãi vẫn còn ở lại với sông. Cát ngồi giữa hai chàng trai tên Khoa, chẳng biết Cát đã ngồi ở quán Bên Sông với hai chàng trai cùng tên này tự bao giờ, bao nhiêu chiều nàng không nhớ hết. Chỉ biết rằng lúc nào họ cũng ngồi im lặng bên nhau mà dường như thấu hiểu tất cả những suy nghĩ vui buồn của nhau.

Ngày đó, trên con đường đi học về Cát bị bọn học trò chạy theo ném đá
-Ma lai! Ma hời tụi bây ơi…Nó đẹp vậy nhưng đêm khuya sẽ rút đầu ra khỏi cổ đi hút máu người đó.
Cát ngôi thu mình dưới bóng dừa xanh thẩm, khuôn mặt nhoè nhoẹt trong nước mắt. Đôi mắt ai oán của dân tộc bị diệt vong đẹp não nùng khiến hai chàng trai cùng tên Khoa xông vào bất kể đám đông thô bạo. Kết thúc trận chiến là bọn trẻ bỏ chạy để lại một chàng áo rách tươm, một chàng bầm tím một bên má và một cô gái yếu đuối co rúm người bên vệ đường.
-Nhà em ở đâu, bọn anh sẽ đưa em về ?
-Ở cuối dòng sông Cái… Làng chài…
-Bọn anh biết rồi.
-Về nhà em sẽ vá áo cho anh và cha em đắp thuốc tan máu bầm trên mắt anh.
Con đường đất chạy dài theo dòng sông quanh co dẫn đến làng chài cuối sông đầu biển. Nhà Cát xiêu vẹo với lưới chài giăng quanh nhà. Người đàn ông có làn da pha màu ráng chiều của biển và đôi mắt đau đáu u hoài như Cát. Hai chàng trai ngại ngùng dừng lại bên hàng rào phơi đầy cá biển. Cát thầm thì điều gì với cha, ông gật gù và vào trong cầm chai nước có mầu nâu thoa nhẹ vào vết bầm trên má chàng trai. Đau rát nhưng dễ chịu. Biển trưa thật im vắng, Cát ngồi bên thềm nắng dịu dàng với kim chỉ khâu lại chiếc áo rách.
Người đàn ông bê từ bếp ra một om đầy ghẹ xanh, nói gọn :
-Ăn đi, ghẹ mới đi lưới sáng nay.
Hai chàng trai không một chút e ngại, chén sạch om ghẹ xanh, rồi một chàng mặc chiếc áo Cát vừa vá thật khéo, cả hai cúi chào người đàn ông và ra về.

Từ đó điểm gặp gỡ để đến trường của hai chàng trai tên Khoa và Cát là bến sông và điểm chia tay ra về sau giờ tan học cũng là bến sông. Cát đi giữa hai chàng vệ sĩ học hơn mình hai lớp, chẳng còn đứa trẻ nào léng phéng chạy theo chọc ghẹo, ném đá. Con “ma lai” càng ngày càng xinh đẹp ở độ tuổi xuân thì. Họ đã đi qua con đường từ bến sông đến ngôi trường không biết bao mùa mưa nắng, để đến một ngày họ chợt nhận ra rằng họ đã lớn và phải đi xa hơn.
Hai chàng trai đã chọn cho mình một trường đại học ở hai hướng ngược nhau. Một chàng đi về phương nam đầy nắng ấm, một chàng đi ngược về miền trung với cuộc sống khắc nghiệt đầy bão lũ. Họ để lại cô gái Chăm có đôi mắt u uẩn ngóng chờ.
Không còn hai chàng trai vệ sĩ đi bên cạnh cũng chẳng có ai làm phiền nàng nữa. Hình như bọn trẻ đã lớn lên và chán ngán trò đem nàng ra để chọc ghẹo. Nàng đi miên man dọc con đường từ cuối sông về biển để đến ngôi trường. Con đường bổng thênh thang, quạnh quẽ.

Rồi một ngày Cát cũng bỏ luôn con đường đến trường. Cha nàng ốm nặng, không thể ra khơi, gia đình lâm vào túng bấn, bao nhiêu tiền vàng dành dụm được đổ hết vào thuốc thang cho cha. Vậy mà bịnh vẫn không hề thuyên giảm. Cha nói :
-Cát à, đừng lo cho cha nữa ! Cha về với mẹ, chỉ thương con ở lại một mình…
Trong cơn đau cha nghiến răng chịu đựng không một tiếng rên la. Nhưng trong những cơn mê vô thức tiếng cha kêu lên bức bối như bị trói: ” Thả tôi ra! Thả tôi ra ”
-Cha ơi, con đây.
Cha mở bừng mắt, cả người đầm đìa mồ hôi trong tiết thời se lạnh của tháng 10.
-Ai làm gì cha hở cha ?
-Ừ !… Họ trói cha … bằng lưới…mắt cá … đầy oán hận! Cát à! Cha mất rồi, con bán thuyền, bán nhà xuôi về phố mà sinh sống nghe con.
Cát chỉ còn biết nghẹn ngào: “Cha ơi !…”

Ngày cha mất cả hai chàng trai tên Khoa đều trở về, họ đứng bên cạnh Cát và quán xuyến tất cả nghi lễ tang chay.
Những lúc Cát gục ngã, cả hai cùng dìu Cát đứng dậy.
Ngôi mộ cỏ nằm trong nghĩa trang làng chài đầy xương rồng và lau lách.
Rồi cả hai phải quay về trường học tiếp. Cát xuôi về phố, xin vào bán hàng cho một cửa hàng lưu niệm ngay trên phố biển, đôi mắt hoang dại của nàng thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài.
Cát không quan tâm, nàng mong chờ mùa xuân và mùa hạ. Đó là những ngày mà hai chàng tên Khoa quay về ngồi cùng nàng bên bến sông lau. Họ cứ ngồi bên nhau, cả hai chàng trai đều muốn nói một điều gì thật sâu kín … Nhưng rồi cuối cùng không nói. Sợi dây vô hình ràng buột họ thật bền chặt nhưng cũng thật mong manh… Họ không muốn mất nhau… Và họ đã giữ lại !

Cho đến ngày tốt nghiệp đại học ra trường, hai chàng trai cùng quay về phố biển cũng là lúc Cát quyết định ra đi…
Andy Moxham, chàng trai đến từ bên kia bờ đại dương, mắt xanh biếc như biển , tóc vàng óng như nắng, chàng mê đắm vùng đất phương đông huyền bí như trẻ con mê thế giới cổ tích và đã chọn khoa Đông Phương học để nghiên cứu. Chàng mang ba lô lang thang khắp lăng tẩm chùa chiền ở kinh thành Huế, rồi ở lại hàng tháng trời ở thánh địa Mỹ Sơn Quảng Nam, tỉ mỉ soi rọi từng đường nét, hoa văn, phù điêu chạm khắc hình vũ nữ nhảy múa, tượng thần Shilva, Ganesa bằng đá, tượng nữ thần Uma, thần Bhama bằng đồng… Chàng như bị hút hồn vào những tháp Chàm đổ nát rêu phong ở Ninh Thuận, Phan Rang, Phan Rí… Đến khi dừng chân ở xứ sở Trầm Hương nhìn thấy Cát đứng trong quầy bán quà lưu niệm, chàng chếnh choáng ngỡ ngàng nhìn không chớp mắt, tưởng chừng như nàng Ápsara thiên thần bước ra từ thế giới ngàn năm của đá. Mái tóc đen tuyền, sóng mũi thẳng tắp, vành môi rõ nét, ngón tay dài mềm mại, vóc dáng hình hài phiêu lãng và đôi mắt thăm thẳm…
Andy như một cứu cánh giúp Cát thoát ra khỏi kí ức bế tắc ở thành phố biển này và nàng quyết định đi theo Andy Moxham thật vội vàng như trốn chạy.

Buổi chiều mưa nhạt nhoà trên sông Lau, gió lạnh lùng đi qua những ghế bàn im vắng, Cát không dám nhìn thẳng vào mắt của hai chàng trai, cô cúi đầu nói thật nhỏ:
-Ngày mai em rời xa nơi đây rồi.
Chàng trai tên Khoa trở về từ phía nam hỏi nàng:
-Sao em quyết định nhanh vậy hở Cát? Bọn anh lo cho em lắm !
-Không sao đâu anh, Andy rất quí em, anh ấy là giảng viên của trường đại học Melbourne thuộc bang Victoria, Andy nói mỗi năm đều về Việt Nam để giảng dạy theo chương trình đào tạo liên kết, anh ấy sẽ đưa em về. Em sẽ có dịp về đây thăm hai anh mà.
Chàng trai trở về từ miền trung vẫn đau đáu âu lo:
-Cát nè, bọn anh vẫn luôn luôn cầu mong cho em bình yên, hạnh phúc, nhưng nếu như có điều gì đó…bất an, trắc trở, em phải trở về, ở đây còn có bọn anh lo cho em.
Cát cười nhưng nước mắt ứa trên mi.
-Em biết mà, em chỉ còn có hai anh là người thân duy nhất của em trên cõi đời này.

Cát ra đi, thành phố vốn đã trầm lặng nay lại càng thêm cô tịch.
Mỗi chiều hai chàng trai vẫn ngồi bên bến sông, một chiếc ghế trống được đặt giữa. Họ vẫn nói rất ít và dường như là im lặng.
Cuộc sống vẫn trôi đi…
Rồi họ cũng có gia đình, vợ hiền và những đứa con ngoan. Chốn về của họ thật bình yên, họ là những người đàn ông thành đạt trong công việc và chuẩn mực trong gia đình. Nhưng họ chẳng bao giờ rời bỏ bến sông, có lẽ ở đây họ đã có chung một kí ức. Thỉnh thoảng họ cùng đọc chung thư của Cát gởi về.
” … Hằng ngày, Andy lái xe đến trường đại học, em quanh quẩn trong ngôi nhà nằm giữa thung lũng xanh ngát dưới chân núi, những đàn bò hiền lành gặm cỏ, thỉnh thoảng một vài chú Kangaroo phóng qua thật nhanh, loài chim khướu có bộ cánh nâu hạt dẻ như màu áo của người phụ nữ nông dân quê mình phát ra những thanh âm lạ lùng gần giống như tiếng người í ới gọi nhau. Trên đỉnh núi Alp từ New South Wales đến Victoria vào độ tháng sáu đến tháng chín tuyết phủ trắng xoá. Andy cũng nhiều lần lái xe đưa em lên núi vào mùa này để trượt tuyết. Em run cầm cập trong tuyết và nhớ nắng quê nhà… Em ước gì lúc đó có hai anh bên cạnh, minh sẽ đắp những quả núi tuyết, và có thể hai anh sẽ xây cho em cả tháp Ponagar bằng tuyết …Andy rất dịu dàng với em, anh ấy làm tất cả những việc nặng nhọc trong nhà, chỉ cho em làm những việc thật nhẹ nhàng… Nhưng em thấy buồn lắm hai anh à, em muốn có thật nhiều con, em muốn được chăm sóc trẻ, thích nhìn bọn nhóc chạy nhảy vui đùa trên cỏ… Andy thì không thích… Sau tết dương lịch Andy sẽ đưa em về vì anh có chương trình giảng dạy liên kết giữa hai trường đại học. Em mong ngày về để gặp lại hai anh trai của em lắm, nhớ chờ em ở bến sông Lau nhé !…”

Vậy mà Cát vĩnh viễn không về nữa.
Chiếc máy bay định mệnh đã mất hút trong lòng đại dương, Cát và Andy sẽ không bao giờ còn trở lại thành phố biển.
Hai người đàn ông tên Khoa vẫn ngồi bên dòng sông Lau vào mỗi chiều, tóc họ bây giờ đã bạc trắng như hoa lau. Gió vẫn tiếp tục vẽ những bức tranh trên mặt sông, vẫn những đường nét lung linh của làng dừa, tháp chuông, mây trời trôi đi theo vấn vương tiếc nuối… Họ vẫn im lặng ngồi bên nhau, chiếc ghế trống vẫn tồn tại giữa họ từ bao giờ. Cát đã theo gió bay đi nhưng dường như nàng vẫn mãi mãi ngồi bên họ, cho đến khi bóng tối nhạt nhoà tím thẩm trên sông họ mới chia tay nhau để quay về.

Trần thị Trúc Hạ

LỜI HẸN CỦA PHÙNG NGUYỄN

nguyenthikhanhminh

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Buổi mai cồn cào lời hẹn**
Cà phê mắt đen đợi nhau

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Xao xuyến quá. Một góc bàn. Hai ly cà phê hẹn
Thị trấn giữa đàng. Thảng thốt. Nhịp trần gian

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Starbucks bên đường hay cuối đất xa
Giờ cùng trời ngó nhau thăm thẳm

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Người vừa hẹn. Rồi đi ngay cái một
Then vừa cài cổng đã khói sương

Thôi trái tim đau treo trên cành lá mỏng
Thôi tháng ngày là ký ức tìm nhau
Người đã đưa. Người đã chờ. Và Người đã đến

Kia. Tiếng cười vừa tan trong câu chào
Tay bắt mặt mừng trời xanh nghiêng nón
Thị trấn giữa đàng. Chuyện kể chiêm bao…

Nguyễn thị khánh minh
Tháng 11. 2015

QUÁN CŨ

tranvannghia

Chợt qua đường phố cũ
Nhớ quán nhỏ năm nào
Chút hương còn quyến rũ
Thả vào hồn chiêm bao

Chiếc ghế ngồi ngày trước
Bỏ trống ,bụi quê nhà
Đắng bao chiều xuôi ngược
Mơ tìm áo ai xa

Tóc đời xen tóc nhớ
Anh ngơ ngẩn một thời
Núp chờ em qua ngõ
Nóng lòng,vái,trời ơi !

Là thư tình năm đó
Giờ sao chẳng thấy già
Chỉ thấy buồn lẫn nhớ
Mỗi ngày một dài ra

Mà anh mang theo mãi
Còn em ,cũng lấy chồng
Phố cũ và quán cũ
Giọt cà phê…long chong

Ghế cũ và người cũ
Có ai về nữa không ?

TRẦN VĂN NGHĨA

40 NĂM NHỚ LẠI

nguyendangtrinh

muốn ngất xỉu trước một rừng con gái
(mà mười em xinh hết thảy mười em)
ráng cầm cự không để mình tan chảy
vẫn mềm xèo số phận một que kem!…

chiều mùa đông tìm đâu ra chút nắng
run cứ run mà lại… toát mồ hôi
lần đầu tiên trong đời nghe lạnh cẳng
đầu nam mô và miệng… “chết tui rồi!”…

ngoài trận địa luôn tả xung hữu đột
không ít khi vài chục chọi hàng trăm
hô xung phong lao người lên bứng chốt
sao bây giờ bệ rạc… gã cà lăm!…

biết bao lần bị vây trên đỉnh núi
địch trùng trùng trò tiền pháo hậu xung
chơi cận chiến lưỡi lê đâm túi bụi
vẫn hiên ngang dù biết sắp tiêu tùng!…

mắc mớ chi thăm sân trường con gái
một mình ên nhè đúng lúc giờ chơi
để chết đứng trận tiền thân từ hải
giữa rừng tên: “anh thiếu úy gì ơi!”…

nguyễn đăng trình

CỘNG, HÒA, XÃ, HỘI, CHỦ, NGHĨA, VIỆT, NAM, HÙNG, MẠNH!

khuatdau

download (3)

Từ trái sang: 10 cháu bé lần lượt có tên “Cộng, Hòa, Xã, Hội, Chủ, Nghĩa, Việt, Nam, Hùng, Mạnh” do Bộ Công an đặt trong giấy khai sinh.

Đây không phải là khẩu hiệu chào mừng 70 năm thành lập nhà nước CS tự xưng, mà là tên của 10 em bé bị bán sang Trung Quốc được ông bạn bốn tốt trao trả lại và được bộ công an chính thức đặt tên trong giấy khai sinh.
Chuyện xảy ra đã bốn năm rồi, giờ nhân dịp tổng bí thư Tập Cận Bình qua thăm Việt Nam, các báo mới được phép đưa tin.
Cũng là một cách tô điểm thêm cho nước sơn bốn tốt. Và cũng ghi điểm cho ngài tổng Tập.
Vậy thì mừng!
Mừng cho dân số của cả nước được thêm chục nhân khẩu. Mừng vì 10 em hãy còn lành lặn, không bị móc mắt, xẻo bớt thận hay cắt bớt gan. Và, mừng hơn nữa vì nhờ có ông bạn 16 chữ vàng mà bộ công an được dịp khẳng định với cả thế giới rằng: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh!
Các em từ đây khỏi sợ ngỏm, khỏi sợ đói rét, khỏi sợ không đủ tiền đóng học phí, khỏi sợ khi ra trường phải gia nhập vào đội quân thất nghiệp… các em là nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh kia mà!
Sướng nhé các em! Đâu có như những đứa trẻ bất hạnh được các bà sơ đưa đi di tản trước 75. Các em ấy đã bị nổ tung xác pháo vì chính quyền Sài Gòn không đặt cho các em những cái tên thật kêu như Việt Nam Cọng Hòa Hùng Mạnh Bất Diệt Vẻ Vang… Và cái chính quyền ấy cũng chết theo vì không biết nhìn xa trông rộng.
Có thế mới thấy được rằng bộ công an ta thật sáng suốt. Bảo rằng, còn Đảng còn mình, nghe mơ hồ quá. Đảng là cái gì không thấy được, không sờ được, không biết nó thọ đến bao nhiêu nên cái “mình còn” xem ra cũng rất phập phù và rất mong manh. Đặt vấn đề như thế, nếu Đảng ngỏm mình cũng ngỏm à?! Chi bằng, với 10 em bé bị mẹ mìn bắt cóc này, nuôi chúng nó đâu tốn kém bao nhiêu mà tương lai thì rõ ràng còn dài dài, sau này chúng còn sinh con đẻ cái nữa chứ.
Thế thì dân cần gì phải xuống đường hay lên đường cho khổ bạn dân, chính phủ cần gì phải thưa kiện lên tận tòa án quốc tế làm tổn hại đến cái tình láng giềng môi hở răng lạnh, quốc hội cần gì phải chất vấn Tập Cận Bình về việc bồi đắp ở bãi cạn Trường Sa, cứ việc ngủ gật để rồi giật mình toát miệng ra cười khi nghe các vị bộ trưởng tấu hài.
Vậy nên, cho dù tàu giàn khoan có trở lại, tàu hải giám có lượn sát bờ biển hình chữ S đến nỗi gây sóng to như sóng thần… thì việc ấy đã có 10 em bé có những cái tên nổ to hơn 21 phát đại bác lo. Chẳng cần đấu pháo nước chi cho ướt át, các em chỉ việc vén chim lên là bọn chỉ huy trên tàu sẽ xấu hổ mà lập tức quay vào bờ. Và những ai chế diễu Việt Nam là nước không chịu phát triển hãy mở to mắt ra mà xem cái sự hùng mạnh đang lớn lên trông thấy từng ngày này. Đó là chưa nói tới lúc cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh bằng xương bằng thịt ấy trở thành một dàn đồng ca thập tấu đi chu du khắp thế giới, thì không biết nhân loại sẽ lác mắt đến cỡ nào. Nghĩ tới mà sướng run.
Thế mới thấy người Việt của mình thật mưu trí và khôn ngoan. Chỉ cần 10 đứa bé được đặt tên Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh là y như rằng ta đã thắng và sẽ thắng trên mọi mặt trận.
Nhưng kẻ hèn này cũng buồn năm phút, vì rằng, tai nạn giao thông mỗi năm giết chết hàng ngàn người, có nghĩa không chừa một ai, nhỡ trong số đó có một vài em, thì cái câu khẩu hiệu kiểu A.Q kia sẽ ra sao? Chẳng nhẽ cho các em đi lại bằng xe bọc thép hay có cả một dàn mô tô khủng ầm ì đi trước mở đường? Đó là chưa nói tới trường hợp bi đát nhất có thể xảy ra: biết đâu bị tụi IS bắt cóc! Tưởng tượng cái cảnh 10 em mặc áo màu da cam bị bắt quỳ chờ đao phủ thủ bịt mặt khai đao mà rụng rời cả tay chân!
Ô hô, khi đó thì còn gì là Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh!
Vậy thì, thưa ông công an, tui xin can ông!

Khuất Đẩu

DẤU CHÂN QUA CẦU HIỀN LƯƠNG

nguyenanbinh

Đọc bài thơ “ Đưa dâu qua cầu Bến Hải”*
Lòng thấy vui sao thoáng chút bùi ngùi
Dòng sông của một thời đất nước chia đôi
Cầu Hiền Lương thành chứng nhân thương nhớ.

Trai Vĩnh Linh cưới gái làng Cùa Cam Lộ*
Chuyện không ngờ chỉ tưởng ở trong mơ
Những cuộc đấu loa, sơn nhịp, chọi cờ
Sông vẫn mát sao đắng lòng đến thế.

Tôi lặng đi khi bàn chân mình bước nhẹ
Lên những tấm ván cầu một thời tấm còn tấm mất
Tìm vạch sơn trắng của những năm chia cắt
Đánh dấu 450 miếng bên nầy, 444 miếng phía bên kia.**

Vin những nhịp cầu từng thấm máu phân chia
Mong tìm thấy từng dấu bom cày đạn xới
Trong gió nghe như có tiếng gọi đò ai đó
Đò ơi xin chèo nhẹ…dưới sông còn có bạn tôi nằm.***

Tiếng gọi đò nghe thao thức trở trăn
Trong đợt sóng ầm ào của miền đất dữ
Để nhớ người bên đây cầu ngóng sang bờ Bắc
Kẻ bên kia cầu lại ngó đợi bờ Nam.

Nỗi đau thương từng se thắt đến oặn lòng
Dòng sông bạc cũng đành chia hai màu thương nhớ****
Một dòng sông nước xuôi về biển cả
Sao lại gọi bằng hai cái tên Cửa Việt, Cửa Tùng?

Nghe ai hát “Câu hò bên cầu Hiền Lương*****
Làm thao thức niềm riêng người lính gác đèn biển
Tình có khác gì nhau dù không cùng màu cờ chiến tuyến
Mưa bên nầy cũng làm ướt áo kẻ bên sông.
Đừng quên nhau cùng uống nước chung dòng
Để ngấm nỗi đau của một thời máu lửa
Hôn nấm đất bên bờ sông lịch sử
Vết thương nào thành sẹo chẳng liền da?

NGUYỄN AN BÌNH
17/10/2015
___________________________________________________________________

*Bài thơ “Rước dâu qua cầu Bến Hải” của nhà thơ Cảnh Trà viết sau ngày thống nhất đất nước 30/4/75 không lâu.
**Từ ý “Giữa 450 tấm phía bên nầy.Và trong 444 tấm phía bên kia” trong bài thơ Những tấm ván trên cầu Hiền Lương của nhà thơ Ngô Liêm Khoan.
***ý thơ “Lời người bên sông” của nhà báo Phan Bá Đương
**** Lấy từ ý lời hát “Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu” trong bài hát “Chuyến đò vĩ tuyến” của nhạc sĩ Lam Phương.
***** Tên một bài hát của nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ từ thơ của Đằng Giao

GIÓ THẬT ĐƠN ĐỘC

chuthuynguyen

1)
lá đã rụng
và cành đã đơn độc
người góa phụ còn mỗi chiếc lá trong tâm tưởng
gió cũng thổi đùa đi

2)
đếm mãi trên các ngón tay
vừa thêm một ngày nữa
rượu trong bình cạn dần
tiếng chim cũng thưa đi

3)
giấu một chút quê hương
vào ngực trái
để bất chợt một lúc nào
tim còn biết nhói đau

4)
cứ choàng vai nuối tiếc
tri kỷ cùng chần chừ
lệ quê hương tuôn mãi
tóc mình bạc như tơ

5)
đừng thổi tắt ngọn nến
đừng bới gốc tre xanh
hãy giữ cho lũ trẻ
mai còn lối quay về…

Chu Thụy Nguyên

Khi về phố cũ

huytuong

Không cất nỗi tà dương về trên mái
Chiều nao nao.úng nụ.thuở chưa rằm
Nhìn và ngắm.vết mây trời sót lại
Tôi cầm tay phố cũ.hương biệt tăm!

Tôi cầm tay.phố cũ.đã quá rằm
Ðêm chếch xám.gió tràn.khe núi lạnh
Con bướm vờn.bóng duỗi tới xa xăm
Tôi vẫn gọi.vẫn mơ.và ngóng đợi…

Tôi ngóng đợi.cả đời tôi.ngóng đợi
Dẫu tàn phai.rêu phủ lối tôi về
Tôi ngóng đợi.sao tôi không ngóng đợi
Biết đâu chừng…lửa ấm giữa hồn mê?!

HUY TƯỞNG

Rượu Vang Ở California

diemchaunguyen

Mang tiếng là cư ngụ ở tiểu bang có những hãng rượu vang ngon nổi tiếng trên thế giới, nhưng chưa bao giờ chúng tôi đi sâu tìm hiểu vào vấn đề nầy. Vì bận rộn công việc, vì đủ thứ lý do, có khi lười nữa…

Nhưng năm nay, gia đình tôi quyết định đi nghỉ lễ Giáng Sinh và Tết Tây cùng với các con tại khu vực thử rượu Wine Country ở phía Bắc (North) California, hứa hẹn sẽ có những thú vị bất ngờ.

Những ngày cuối năm 2012 tại vùng đất California trời giăng giăng mây mù, đôi khi nắng lên vài tiếng, rồi mưa đổ xuống… Có lẽ ảnh hưởng bởi các trận bão tuyết bên miền Đông Hoa Kỳ… Nhưng mưa hay nắng đều có cái đẹp, cái hay riêng của nó… có điều mưa thì đường xá ướt át, đi xa lộ nguy hiểm hơn là tiết trời khô ráo.

Dù mấy hôm nay không được khoẻ, nhưng đây là dịp lễ để gia đình tụ họp với nhau, nên tôi đành cố gắng. Con gái tôi nói:

– Dịp lễ Giáng Sinh tại đây nhiều nơi tổ chức những buổi thử rượu hay lắm… ai thích uống rượu vang là người ta thường đi cho biết. Con đã mướn sẵn phòng có đủ cả bếp núc rồi… Mẹ nhớ đưa đồ nấu phở…

Những gia đình trẻ bây giờ, dù lấy chồng hay vợ người ngoại quốc, nhưng đa số đều không quên món ăn Việt Nam, nhất là món Phở truyền thống và gỏi cuốn đã nổi tiếng trên thế giới. Sự yêu cầu đó đúng với niềm mong muốn của tôi, là nấu cho con mình những món chúng thích, như ngày nào còn trong vòng tay gia đình…

Còn về rượu… Từ hồi nào tới giờ tôi không biết uống rượu, sau đó bao tử lại yếu, nên chỉ “enjoy” cà phê thôi… nhưng tôi biết nếm rượu, chỉ cần nhấp một chút ở đầu môi, thì biết ngay đó là rượu ngon hay dở…

Hồi nào tới giờ đã hụt nhiều lần đi thử rượu, giờ thì quyết định tham gia, nhất là chồng tôi lại là dân uống rượu vang chuyên nghiệp.

Dân Việt sành uống rượu hay tham gia các buổi tiệc tùng, chắc hẳn nhiều người đã từng đến nơi nầy. Đến để biết thêm những tên rượu mới, hay phám phá ra vị rượu ngon, và mua các món quà lạ không có bán ngoài thị trường…

Sáng hôm đó, tôi để đồng hồ reo lúc bốn giờ. Một tiếng cho sửa soạn cũng đủ rồi, lúc trước khi còn trẻ thì phải lâu hơn. Thật ra tối qua tôi có ngủ nghê gì được đâu! Có những người giấc ngủ đến dễ, có người thì cứ trằn trọc mãi! Tôi thuộc diện thứ hai… thêm cái tính thấy trời mưa lại càng lo!

Rời khỏi nhà lúc năm giờ hai mươi, tôi mang đôi giày bốt, quàng khăn và giữ cho người thật ấm, nhất là hai bàn chân. Chân mà ấm thì trong người dễ chịu ngay…

Từ cuối miền Nam đi khoảng tám tiếng thì tới. Tôi cầu trời cho đừng mưa và không bị kẹt xe ở Los Angeles. Ra khỏi nhà có vài phút thì bắt đầu mưa lâm râm… Trên xa lộ cũng không bị kẹt mấy, có lẽ thiên hạ ít đi chơi xa trong năm nay? Hay là họ đã đi rồi? Vì chúng tôi khởi hành ngay sáng sớm thứ hai, tức trước buổi tối ngày Giáng Sinh.

Chúng tôi sẽ ghé qua Irvine để đón con trai cùng đi, rồi thẳng tiến đến thành phố của Rượu. Trên xa lộ mưa hơi lớn. Tôi mở to mắt để quan sát chung quanh, hoàn toàn tỉnh táo chứ không buồn ngủ vì thức suốt đêm qua.

Gần đến Irvine, khi vừa chạy vào trong “carpool lane”, chỉ khoảng mười phút thì sự lo lắng “trời mưa trơn trợt” của tôi hiện ra ngay trước mắt! Một chiếc xe truck nhỏ bên hông vì chạy nhanh nên bị lạc tay lái, từ lane bên ngoài đã đâm sầm vào trong, sát trước xe chúng tôi với tốc độ rất kinh khủng, phía sau thân xe cạ vào thành vệ đường chắn bên trái làm bùng ra những tia lửa như pháo bông và tiếng cọ sát kêu rầm rầm. Chưa kịp phản ứng thì tự nhiên chiếc xe đó lại quay đầu lao về phía bên tay phải, băng qua một lúc năm “lane” vào rìa đường bên kia… mà thật là phép lạ, không tông phải bất cứ chiếc xe nào đang lưu thông cùng chiều!

Tôi run lên, tim đập loạn xạ… thắc mắc không biết chiếc xe đó ra sao? Chồng tôi nói nhìn vào kiếng chiếu hậu, thấy “nó” đã đậu lại được bên đường, chắc thân xe phía sau hư hại hết!

Thật là may mắn. Nếu như chiếc xe tông đó vào vệ cản lề đường rồi quay vòng tròn, thì chắc xe mình không tránh khỏi! Hay lúc nó băng ngang năm làn đường mà tông nhằm xe khác đang chạy đến, thì chắc chắn sẽ có nhiều xe không tránh kịp!

Tôi thầm cám ơn Thượng Đế đã che chở cho gia đình mình và nhiều người thoát được một tai nạn trong tích tắc. Sự việc nầy là cho tôi cảm thấy mệt mỏi, và lo sợ khi đi tiếp.

Nhưng rồi sau đó mọi sự bình an. Tôi đã ngủ được một giấc khi con trai tôi cùng chồng cầm lái, qua ngọn núi ở Los, thẳng tiến về hướng Bắc ít xe hơn.

Hai bên đường vẫn xanh tươi, khí hậu miền Bắc Cali thường hay nhiều mưa hơn miền Nam. Khu nghĩ dưỡng đây rồi, một căn ở khách sạn lớn có cả bếp và phòng khách, phòng ăn cùng ba phòng ngủ mới và đẹp, lịch sự.

Đây là nơi trung điểm của Napa Valley Wine Country. Từ nơi đây, đi tiếp tục lên hướng North thì sẽ gặp các địa danh như Napa, Yountville, Oakville, Rutherford, St. Helena, Calistoga… Nơi nào cũng có những nhà kinh doanh rượu sẵn sàng mời qúy vị đến thử. Có nhà bán rượu lớn như lâu đài tên Castello di Amorosa có hầm chứa rượu lớn, bên trong vẽ tranh lên tường giống thành La Mã…

Bạn muốn đi tour cũng có xe hay Wine Trolley đưa đi nhiều địa điểm, khởi đi từ Sonoma Plaza, chuyến đi kéo dài sáu giờ, có “Tour Guides” dẫn giải qua mỗi địa danh, ghé bốn chỗ thử rượu, có ăn trưa và thức uống nhẹ…

Nếu muốn đi xe đạp cũng có chỗ cho bạn thuê, nhưng phải đặt trước cho chắc chắn.

Còn như muốn lên lơ lửng trên trời để hít thở không khí lành lạnh thì đi bằng Ballons, những trái bong to lớn đủ màu sắc tuyệt đẹp tại Napa Valley… Có điều chơi thú nầy hơi tốn, khoảng 2 ngàn đô cho hai người, được phục vụ bằng xe Limo đưa đón, uống rượu champagne, uống rượu thử và áo bay… Đi nhiều người thì giá rẻ hơn…

Chúng tôi vào phòng, bên trong ấm áp thoải mái. Thay đồ xong, ra ngoài ban công nhìn xuống dưới, hồ bơi lớn nước trong xanh cùng cái bể nước nóng bên cạnh bốc khói nghi ngút vì nóng. Thiên hạ bơi lội thong dong, vài người ngâm mình trong bồn nước nóng (hot tub) để được thư giản…

Nhiệt độ bên ngoài lạnh khoảng 40 độ, được ngồi trong bồn ngâm nước nóng chắc đã lắm! Nhưng rất tiếc tôi không nhớ mang theo áo tắm, nên đành chịu.

Buổi tối, ăn thịt bò nướng với rau xà lách trộn dầu giấm cùng bánh mì Pháp nóng hổi, bên cạnh những ly rượu vang sánh đỏ, lại không phải làm công việc dọn dẹp, vì mấy tên con trai phải lo điều nầy… cảm thấy hơi nhàn hạ…

Ngày hôm sau là một ngày trời quang mây tạnh, có chút nắng vàng trên cao… Chúng tôi xuống Lobby ăn sáng. Trên chiếc bàn phủ khăn trắng, có khoảng hơn chục món và tôi chỉ ăn độc nhất một món trứng đúc với ham, được biết do nhà hàng nổi tiếng mang lại, uống thêm ly cà phê Mỹ cho ấm bụng… cũng thấy OK… Sau đó, chúng tôi cùng lên đường đi thử rượu.

Nói đến thử rượu, tức nhà hàng mời khách uống, thường là rượu trắng trước, sau đó mới đến rượu đỏ. Có những nơi được uống “free”, và cũng có nơi phải trả tiền, giá từ mười đồng trở lên, được thử khoảng bốn năm loại. Có đi uống thử mới biết không phải là rượu của nhà nào cũng ngon… vì vậy mà khách hàng mới phải thử, nếu thấy ưng ý thì sau đó sẽ mua. Giá trung bình một chai rượu khoảng ba chục trở lên. Nhưng nếu bạn phải trả tiền để uống thử, thì không mua không sao, còn chỗ nào không lấy tiền, mình mua một thứ gì đó nếu rượu dở… để không phải áy náy công người ta tiếp khách, rửa ly và uống “chuà”!

Nhiều nhà cho thử rượu kèm với chesse hay trái olive. Bất cứ thứ gì cho “thử” cũng để bán. Tôi thử một miếng bánh mì Sourdough Pháp, chấm với dầu Olive ép tại chỗ, ăn thêm một trái olive màu xanh nho nhỏ. Rượu ở nhà nầy cho thử “free” nhưng không được ngon, nên tôi mua một ổ bánh mì còn nóng giá tám đô, một chai dầu olive nhỏ xíu để chấm với bánh mì khoảng ba chục… Nói chung, tất cả mọi thứ đều mắc hơn ngoài tiệm rất nhiều, nhưng “home made”, “organic”… và mình có thú vui khác, là được đi nhìn ngắm những nơi thiên nhiên hoang dã xanh mát…

Đi loanh quanh trong vùng thử vài nhà làm rượu, điều tôi thích nhất là bắt gặp nhiều cây chanh mọc đầy đường sai trái không ai hái. Lại còn cây hồng dòn đầy trái lớn đã chín ngoài sân, trước một nơi thử rượu mời mọc…

– Tôi có thể hái hồng được không?

Ông chủ gật đầu cười tươi khi nghe tôi hỏi:

– OK, you lấy hết dùm tui… lấy bao nhiêu cũng được…

Thế là tôi ra sân, lấy cây sào dựng gần bên có cái lồng để hái trái rớt vào trong lồng không bị rơi ra ngoài bể… Nhưng tôi hái dở quá, vì giật hoài một trái mà nó không chịu rớt! Con gái tôi thấy thế phải phụ, hái giùm cho vài trái, còn tôi thì đi loanh quanh tìm mấy trái gần tầm tay.

Chu cha, những trái hồng quá lớn. Tôi lại vào hỏi ông chủ:

– Mấy trái nầy you không ăn thì trồng làm gì?

Được trả lời là cây có tự lâu rồi nhưng họ không nỡ đốn, trái ra nhiều quá “chim ăn” cũng không hết, chín rụng phải quét dục thôi…

Ở đây là không khí nhà quê, tiếng chim trên cành chuyền qua lại kêu chíp chip thật vui…

Sau khi đi một vòng, chúng tôi cùng đồng ý là có một hãng rượu của Ý, những thùng rượu vang được chất trong một hang động lớn để giữ nhiệt độ mát lạnh, gây cho người uống cảm giác đúng cách cất rượu… Ở đây họ cũng tính mười đô cho một người uống thử, có khá đông khách thăm viếng.

Trở về với chiến lợi phẩm gồm mấy chai rượu ngon, ăn trưa lúc hai giờ chiều ở một tiệm Mễ của vùng Sonoma, trên con đường gọi là “old town”. Thức ăn Mễ cay cay, lạ miệng cũng ngon.

Tối hôm đó tôi o bế nồi phở của mình, với những cánh hoa hồi, quế vị và đinh hương mang theo. Phở không có hành hương nhưng khá độc đáo vì được thay thế bằng hành tây, ăn cùng thịt bò tái mềm, thịt chín là bò bắp. Bánh phở thì dùng tạm “pad Thai” mua ở chợ Mỹ, cũng như các loại rau húng, hành ngò giá, chanh… Đêm trời lạnh, ăn một tô Phở nóng thì còn gì bằng… Nồi Phở còn dư vậy mà làm cho trẻ con thích, ngày nào cũng phải ăn hai tô mới chịu.

Ở Mỹ, California là một nơi trồng nho làm rượu, nổi tiếng với nhiều danh hiệu, cũng như chúng tôi tự chọn được một nhãn hiệu ngon, loại Cabernet Sauvignon phù hợp với mình.

Ngoài nước Mỹ, trên toàn thế giới, thì nước Úc có hơn 60 vùng trồng nho được công nhận, có tiếng tăm trên toàn thế giới với những loại rượu vang đoạt nhiều giải thưởng.
Khám phá một số vườn nho shiraz lâu đời nhất thế giới ở McLaren Vale và thung lũng Barossa miền Nam Úc, hay loại vang trắng sauvignon từng đoạt giải thưởng ở Margaret River miền Tây Úc. Tham gia vào các sự kiện của xưởng rượu được tổ chức ở Thung Lũng Hunter gần Sydney, hay nếm loại vang Chardonnay thượng hạng, vang đen Pinot Noir và vang nổ của Thung Lũng Yarra gần Melbourne.

Hầu hết các vùng trồng nho hàng năm đều tổ chức lễ hội, trong đó du khách có thể nếm thử đồ ăn, rượu vang địa phương và tìm hiểu nét văn hóa. Lễ hội lớn nhất là lễ hội Tasting Australia tổ chức hai năm một lần, trưng bày những loại rượu vang ngon nhất của Úc.

Ở Chi Lê, Cayao là một trong những chai vang hàng đầu. Được làm từ những loại nho ngon nhất, được kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt từ những vườn nho nổi tiếng nhất Chi Lê. Hình dáng bên ngoài, vị ngon của nho đã được các chuyên gia đánh giá và lựa chọn tại từng vườn nho theo từng mùa thu hoạch hết hợp với quy trình ủ tinh tế, hoàn hảo tạo nên sự cô đọng, vị giác cân bằng, mùi hương đậm đà mà thanh tao của từng chai vang.
Chai nầy uống ngon nhất khi khui trước 45 phút. Thưởng thức cùng với pho mai, trứng cá hồi, pate gan ngỗng, thịt cừu, giá mỗi chai khoảng 200 đô.
Ở Úc và Chi Lê cũng như các nước khác trên thế giới tuy có rượu vang, nhưng không nổi tiếng với người Việt Nam, hiện ở trong nước thường cho rượu vang Pháp là hảo hạng, là thiên đường của các loài rượu. Lý luận đó không đúng với những người sinh sống ở hải ngoại sành rượu ngày nay.

Rượu vang Pháp bắt nguồn từ miền Nam nước Pháp vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, thời Hy Lạp đóng chiếm. Nghề trồng nho bắt đầu phát triển ở thành phố Marseille, thuộc địa của người Hy Lạp. Đế Chế La Mã đã cho phép những vùng ở phía Nam nước Pháp sản xuất rượu. Thánh Martin of Tours (316 – 397) đã tham gia tích cực truyền bá đạo Cơ Đốc Giáo và nghề trồng nho. Trong suốt thời Trung Cổ loạn lạc, những thầy tu đã có công giữ gìn các ruộng nho và kỹ thuật làm rượu. Các tu viện có sự bảo hộ cao, nguồn lực lao động dồi dào để sản xuất rượu vang cho những dịp lễ và nhờ nó tăng thêm thu nhập đáng kể. Trong thời kỳ đó, những ruộng nho lớn thường thuộc về các nhà thờ thiên chúa giáo và rượu của họ luôn được coi là rượu cao cấp. Sau này, giới quý tộc mở rộng thêm diện tích trồng nho. Tuy nhiên, cuộc cách mạng Pháp đã lãnh đạo phong trào tịch thu bớt ruộng đất của nhà thờ, giới quý tộc chia cho nhân dân. Chính vì lý do này, sản lượng nho cũng tăng lên.

Mặc dù thời đó Bordeaux đã xuất khẩu rượu nhưng mãi đến năm 1850 hầu hết rượu của Pháp vẫn chỉ phục vụ cho nhu cầu nội địa. Do sự phát triển của ngành đường sắt và đường bộ, chi phí vận chuyển giảm nhờ đó mà lượng rượu xuất khẩu cũng tăng lên đáng kể như ngày nay.

Tại Pháp có 4 vùng sản xuất rượu vang:

*Vùng Alsace nổi tiếng về rượu Vang trắng. Sản lượng rượu Vang trắng của Alsace chiếm 30% tổng sản lượng rượu Vang trắng của nước Pháp. Rượu Vang trắng ở đây có tên gọi duy nhất là Vang Alsace.

* Vùng Bordeaux sản xuất rượu Vang nổi tiếng và quan trọng của Bordeaux là: Médoc, Haut Médoc, Graves Barsac, Sauternes, St Emillion, Pomerol, Cérons, Loupiac, Fronsac, Bourg

* Vùng Burgundy nằm ở miền Trung nước Pháp với diện tích 47.700ha. Ở đây không có các vườn nho cỡ lớn mà chỉ có những vườn nho thuộc diện gia đình, diện tích chỉ khoảng 50 hécta nhưng lại có đến 56 ông chủ vườn. Phần đông các chủ vườn đều bán nho cho các tiệm rượu để họ pha chế và bán ra thị trường.

* Vùng Champagne, sản xuất loại rượu Vang tinh tế, quí tộc mà không nơi nào trên thế giới bì kịp. Nhờ vào giống nho, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, nhất là kỹ thuật sản xuất và kinh nghiệm nên nước Pháp đã sản xuất loại Vang đặc biệt này. Phần lớn rượu Champagne được sản xuất từ hỗn hợp giống nho đỏ thẫm Pinot Noir có chất đường, nước trắng nên độ rượu mạnh và giống như Chardonnay có màu vàng kim, đem lại vị thanh cao và hương thơm.

Tóm lại, Pháp đã qua Việt Nam đô hộ một trăm năm, do đó du nhập rượu vào nước Việt trong thời gian lịch sử gần nhất, khiến dân gian khi nói đến rượu vang là nhớ đến rượu Tây. Lý do là vậy chứ theo ý riêng của người viết, chưa chắc rượu Pháp đã là ngon nhất. Và khi khui một chai rượu vang, còn tùy vào giá tiền cũng như tên hiệu của chai rượu đó… Các tên tuổi của rượu cũng phải qua những kỳ thi đua khảo sát do các tay sành rượu chủ khảo, chứ không phải tự hãng quảng cáo tung ra thị trường.

Bên Việt Nam hiện nay cũng có sản xuất một số rượu vang, điển hình nổi tiếng là Vang Dâu, giá một chai khoảng từ ba – bốn chục ngàn trở lên. Uống thử chai loại trung bình khoảng một trăm ngàn thì thấy nhạt như công thức tự làm rượu vang tại nhà bên Mỹ!

Bây giờ thì trên thị trường Việt xuất hiện nhiều loại Rượu Vang trái cây. Trước đây phần lớn là sản xuất chỉ trong gia đình, ngày nay đã phát triển ở công nghiệp. Một số nhà máy đã sử dụng các loại quả Mơ, Dâu, Táo … để sản xuất, như: Rượu Vang Thăng Long, Vang Gia Lâm, Vang Đà Lạt. Ngoài ra một số địa phương tận dụng nguồn quả tự nhiên như rượu Chuối, Dứa, Mận, Mơ… Nghe như là tên nước xi rô… Cũng có những sản phẩm Rượu Vang đặc trưng. Đặc biệt rượu Vang Đà Lạt nổi tiếng với các loại Vang trắng, Vang đỏ tạo được chỗ đứng thị trường được nhiều người trong nước ưa chuộng.

Có một loại rượu mà các bà nội trợ gia chánh thường hay dùng, đó là rượu Rhum.

Rượu Rhum có lịch sử rất hứng khởi, bắt nguồn khởi đầu từ Châu Á, theo chân con người trong cuộc hành trình về Phương Tây. Đó chính là cây Mía, đã được Columbus mang đến Châu Mỹ, Cuba, và không lâu sau đó Rhum xuất hiện đầu tiên tại vùng này.

Rhum ngày nay hiện diện ở những nơi có trồng mía, như vậy rượu được chưng cất từ nước cốt mía hay sản phẩm của cây mía (xirô mía, mật mía). Nó được chưng cất đến khoảng dưới 95 độ cồn và thường được đóng chai ở độ thấp hơn nhiều. Rhum còn giữ lại phần lớn mùi vị tự nhiên của sản phẩm gốc (mía).

Có 3 loại chính: – Rhum trắng, nhẹ mùi, chưng cất bằng cột – Rhum vàng, mùi trung bình, chưng cất bằng nồi, ủ trong thùng gỗ sồi hơn 1 năm. – Rhum nâu, đậm mùi, chưng cất bằng nồi.

Rượu Rhum có mùi thơm, chủ yếu dùng pha chế Cocktail, nhưng nếu thích thì các bạn cũng có thể uống séc, hay pha với nước cốt trái cây, các bà nội trợ thì bỏ vào bánh, mùi bánh sẽ trở nên thơm, vô cùng quyến rũ.

Khi tôi viết bài nầy, lan man về Rượu… thì cũng đã đến giờ đón chào năm mới. Bên ngoài trời lạnh, nhưng trên bầu trời thì rất trong… Những chiếc pháo bông thi nhau rầm rộ bắn lên, nở hoa trên bầu trời đen tối, loá ra muôn ngàn tia sáng sắc màu rực rỡ, lung linh…

Một năm mới lại đến…

Diễm Châu Nguyễn