VÁC NỖI BUỒN QUA PHỐ

lephuhai

Ta vác nỗi buồn đi qua phố
Cũng nặng như hồi ta cõng em
Trời đất nghiêng nghiêng chiều thổ mộ
Ngày ấy bên rừng ta gởi đem

Ta gởi đem cho người bé bỏng
Bếp chiều hiu hắt tuổi mười ba
Có dáng mẹ em ngày hắt bóng
Thân cò lặn lội cánh đồng xa

“Trời đất mang mang ai tri kỷ?”
Bây giờ xa lắc nhớ gì không?
Nhớ mái tranh nghèo tình độ lượng?
Ngày nào tuổi nhỏ đã mênh mông?

Nên buổi chiều nay ta lại nhớ
Em giờ đã lớn lắm còn đâu
Tiếng vạc kêu sương đêm tan vỡ
Nợ này sao trả được tình đau…

Lê Phú Hải

KÝ ỨC MỘT THỜI.

vudinhhuy

Tháng 10 – 1974. Chiến trường Bắc Tam Quan, Bình Định.
Chuẩn úy Phương gốc Bắc di cư, sinh năm 1954, tốt nghiệp Bộ binh Thủ Đức trước tôi vài khóa. Ngay từ lần đầu tiên gặp nhau tôi đã có thiện cảm. Phương có giọng nói nhỏ nhẹ, cử chỉ từ tốn, dáng cao gầy, ánh mắt xa xăm. Mãi nhiều năm về sau tôi mới nghiệm ra một điều, ánh mắt buồn là nỗi ám ảnh mơ hồ của định mệnh, những người có ánh mắt như vây rất giàu tình cảm và cuộc đời thường gặp nhiều bất trắc.
Chúng tôi cùng chung Đại đội, Phương nắm Trung đội 1, tôi nắm Trung đội 2. Vị trí chốt của tôi nằm cách chốt của Phương không đến một cây số tính theo đường chim bay, ở vị trí trên đồi cao chúng tôi nhìn thấy nhau rất gần. Chốt, là một thuật ngữ quân sự dùng để chỉ những vị trí chiến thuật. Thời gian đó , Bắc Tam quan là một trong những điểm nóng nhất nước, những địa danh như Đồi mười, Đồi núi chéo đã đi vào lịch sử . Nơi đây, chúng tôi và người anh em giành giật nhau từng vị trí xung yếu. Nhìn tổng quát, vị trí đóng quân hai bên như một tấm da beo lốm đốm trải dài chìm trong bạt ngàn rừng núi.
Lần cuối cùng gặp nhau, Phương khoe với tôi tấm hình bạn gái. Đó là một cô gái tuổi mười bảy có mái tóc dài và khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương. Tôi nói vài câu chúc mừng Phương mà lòng buồn rười rượi. Cách đây mấy ngày, tôi nhận được lá thư cuối cùng của người bạn gái. Chúng tôi quen nhau trước ngày tôi nhập ngũ. Tình yêu của chúng tôi trút hết vào những lá thư, những câu chữ ân cần , dặn dò và ngập ngừng một chút thương nhớ. Trong lá thư Cô ấy viết,’’ qua Lễ Noel, em sẽ rời khỏi cuộc sống và anh để vào Tu viện, đó là tâm nguyện trước đây của gia đình và em. Gía như mình gặp nhau trong hoàn cảnh khác. Mà thôi, em không hề ân hận’’. Tôi đã ứa nước mắt khi đọc dòng chữ, ‘’Anh đừng buồn nhé, em vẫn hàng đêm cầu xin Chúa che chở cho anh, bây giờ, ngày sau và mãi mãi ‘’. Với những người lính trẻ chúng tôi, tình yêu như một cánh phao cho những ngày tháng dãy dụa và tuyệt vọng trong cuộc chiến sinh tử này. Nỗi buồn lại chồng chất, tôi nuốt nghẹn, chôn dấu cuộc tình trong veo của mình vào tuồi mười chín.
– Biết mình có còn ngày về gặp em không.
Phương thở dài. Tôi không biết trả lời thế nào.
Hai đêm sau Phương mất.
Trong các lối đánh, chúng tôi sợ nhất lối đánh Đặc công của người anh em. Đó là lối đánh bất ngờ vào ban đêm, thường là nửa đêm về sáng. Khi đánh, người anh em đã điều nghiên tính toán rất kỹ. Năm, bảy người anh em bôi đen kín người, bò áp sát vị trí, cắt hàng rào và tấn công bằng lựu đạn chày, loại lựu đạn có chuôi, ném đâu là nằm yên đó, đảm bảo độ chính xác vị trí và sức công phá khá mạnh. Trong trường hợp này, hai bên gần như đánh xáp la cà, cắt đứt hoàn toàn mọi hổ trợ của đơn vị bạn.
Đêm đó, tiếng Mang ‘’ tác’’ nhiều lắm. Mang là con thú rừng có hình dạng giống như con Nai nhỏ, ‘’tác’’ là tiếng gọi của con vật này, và mỗi khi Mang ‘’tác’’ thường mang lại điềm gở. Tôi vừa đi tuần tra các vọng gác về, bỗng nghe lác đác tiếng nổ và một loạt đạn M.16 báo động. Cả Trung đội choàng dậy sẵn sàng. Tiếp theo, hỏa châu bắn rực trời, bàng bạc bên dưới là một lớp sương mù dày phủ kín địa hình. Qua máy truyền tin, tôi nghe giọng của Phương hò hét điều động và lấy tinh thần đồng đội. Tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng, tiếng gào thét hỗn loạn trong máy truyền tin lẫn trong sự hồi hộp của chúng tôi.
Tôi chưa kịp uống hết ca inox café của người cận vệ vừa đưa. Qua máy truyền tin , đơn vị thông báo chốt của Chuẩn úy Phương đã mất . Tôi rụng rời nhìn đồng hồ, mười hai giờ bốn mươi lăm, trận đánh kết thúc chưa đầy ba mươi phút.
Đúng mười lăm phút sau, tôi nhận lệnh từ Đại đội. Chia hai quân số, một nửa đóng chốt, nửa còn lại tấn công ngay. Bằng mọi giá chúng tôi phải chiếm lại ngọn đồi trước khi trời sáng. Tôi thông báo kế hoạch tác chiến và chuẩn bị chớp nhoáng. Trong màn đêm, mười ba con người như những bóng ma, lặng câm dọ dẫm tụt xuống ngọn đồi. Vội vàng quá, không ai kịp nghĩ đến con số xui xẻo.
Cách đỉnh đồi chừng hai trăm mét, chúng tôi dừng lại nằm yên. Trời bắt đầu lấm tấm mưa và lạnh. Tiếng đại bác bắt đầu rít liên tục, xuyên qua lớp sương mù dày đặc lướt qua đầu chúng tôi rồi chúi xuống đỉnh đồi nổ tung, từng lớp đất đá cuốn lên trời lả tả.Vừa dứt tiếng Pháo, chúng tôi thận trọng trườn lên áp sát đỉnh đồi. Không có tiếng nổ, không có một sự phản kháng. Người anh em đã tiên liệu rút đi để tránh tổn thất. Chúng tôi vội vã đào xới lại các giao thông hào và bố trí ngay sơ đồ tác chiến. Không được chủ quan, người anh em có thể sẽ quay lại lần thứ hai trong đêm.
Không có thời gian thu dọn xác đồng đội, chúng tôi cũng chẵng để ý đến cái lạnh đang tím tái thịt da.Thèm một hơi thuốc, nhưng không ai được hút vì đốm lửa và mùi thuốc lá dễ lộ mục tiêu.
Mười ba con người mò mẫm làm cật lực, chai cứng cảm giác.
oOo oOo oOo
Ánh sáng mù đặc của buổi chiều rừng núi hắt vào gian phòng, làm tăng thêm cảm giác âm u. Chính giữa gian phòng đặt song song hai dãy quan tài phủ lá cờ, sát tường là một bàn thờ dã chiến, khói hương nghi ngút. Tôi lặng lẽ quay mặt không dám nhìn hai người phụ nữ, mẹ Chuẩn úy Phương và cô bạn gái đang quỳ bất động trước quan tài . Trước đó, khi người con gái đặt vành khăn tang lên đầu mình, người mẹ đã ngăn lại… rồi họ ôm nhau khóc. Tôi đè nén cảm xúc bằng cách giả vờ cầm quyển sổ Nhật ký của Phương dở vài trang. Từ trong quyển sổ Nhật ký rơi ra tấm hình người bạn gái của Phương loang vết máu khô.
Tôi bước ra ngoài đốt thuốc lá. Nơi này, buổi chiều mùa Đông trời không mưa nhưng ẩm và rất lạnh, trần mây sà thật thấp, nhìn chung quanh núi rừng chỉ thấy một màu sương nhợt nhạt mênh mang. Bất chợt tôi nhớ đến vài câu trong một bài hát của Phạm duy phổ từ thơ Lê thị ý .
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thủa ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi góa phụ nhạt mờ nét son.
Tôi chợt nhận ra một điều, chỉ có cảm xúc của người trong cuộc mới làm được khổ thơ này.
oOo oOo oOo
Ngày 24. 12.1974.
Chiếc xe đò giảm tốc độ rồi dừng lại trước Trạm kiểm soát Quân sự. Từng người một bước xuống kiểm tra. Người lính Quân cảnh đứng nghiêm chào tôi.
– Chuẩn úy đi phép hay công tác, cho tôi xem giấy tờ.
Tôi trả lời tỉnh bơ.
– Tôi được Đại đội cho nghĩ phép 24 giờ, chiều mai tôi quay về đơn vị. Thời gian ngắn quá, tôi không kịp về Bộ chỉ huy Tiểu đoàn nhận giấy phép.
Người lính Quân cảnh nhìn tôi lưỡng lự, trong giây lát có lẽ anh ta cảm nhận được vẻ bất cần và liều lĩnh của những người lính tác chiến. Anh ta trao đổi nhanh với cấp chỉ huy Trạm gác rồi quay lại chào tôi.
– Chúc Chuẩn úy có 24 giờ phép vui vẻ.
Từ bến xe, tôi đi bộ một quãng theo con phố chính về nhà. Hai bên đường phố xá đã lên đèn, rực rỡ không khí đón Noel.
Ngang qua một quán Café, tôi dừng lại bên ngoài đốt điếu thuốc và lắng nghe Bài thánh ca vọng ra cồn cào tâm hồn mình.

VŨ ĐÌNH HUY

Chiều Sông Lau

tranthitrucha

Dòng sông trắng xoá hoa lau lay động trong gió chiều. Làng dừa, tháp chuông, mây trời…in trên mặt sông như bức tranh chấm phá lung linh. Gió tinh nghịch xoá nhoà tất cả và đẩy sông trôi về biển. Rồi như tiếc nuối vấn vương, gió quay trở lại vẽ tiếp vì thế mà làng dừa, tháp chuông, mây trời mãi mãi vẫn còn ở lại với sông. Cát ngồi giữa hai chàng trai tên Khoa, chẳng biết Cát đã ngồi ở quán Bên Sông với hai chàng trai cùng tên này tự bao giờ, bao nhiêu chiều nàng không nhớ hết. Chỉ biết rằng lúc nào họ cũng ngồi im lặng bên nhau mà dường như thấu hiểu tất cả những suy nghĩ vui buồn của nhau.

Ngày đó, trên con đường đi học về Cát bị bọn học trò chạy theo ném đá
-Ma lai! Ma hời tụi bây ơi…Nó đẹp vậy nhưng đêm khuya sẽ rút đầu ra khỏi cổ đi hút máu người đó.
Cát ngôi thu mình dưới bóng dừa xanh thẩm, khuôn mặt nhoè nhoẹt trong nước mắt. Đôi mắt ai oán của dân tộc bị diệt vong đẹp não nùng khiến hai chàng trai cùng tên Khoa xông vào bất kể đám đông thô bạo. Kết thúc trận chiến là bọn trẻ bỏ chạy để lại một chàng áo rách tươm, một chàng bầm tím một bên má và một cô gái yếu đuối co rúm người bên vệ đường.
-Nhà em ở đâu, bọn anh sẽ đưa em về ?
-Ở cuối dòng sông Cái… Làng chài…
-Bọn anh biết rồi.
-Về nhà em sẽ vá áo cho anh và cha em đắp thuốc tan máu bầm trên mắt anh.
Con đường đất chạy dài theo dòng sông quanh co dẫn đến làng chài cuối sông đầu biển. Nhà Cát xiêu vẹo với lưới chài giăng quanh nhà. Người đàn ông có làn da pha màu ráng chiều của biển và đôi mắt đau đáu u hoài như Cát. Hai chàng trai ngại ngùng dừng lại bên hàng rào phơi đầy cá biển. Cát thầm thì điều gì với cha, ông gật gù và vào trong cầm chai nước có mầu nâu thoa nhẹ vào vết bầm trên má chàng trai. Đau rát nhưng dễ chịu. Biển trưa thật im vắng, Cát ngồi bên thềm nắng dịu dàng với kim chỉ khâu lại chiếc áo rách.
Người đàn ông bê từ bếp ra một om đầy ghẹ xanh, nói gọn :
-Ăn đi, ghẹ mới đi lưới sáng nay.
Hai chàng trai không một chút e ngại, chén sạch om ghẹ xanh, rồi một chàng mặc chiếc áo Cát vừa vá thật khéo, cả hai cúi chào người đàn ông và ra về.

Từ đó điểm gặp gỡ để đến trường của hai chàng trai tên Khoa và Cát là bến sông và điểm chia tay ra về sau giờ tan học cũng là bến sông. Cát đi giữa hai chàng vệ sĩ học hơn mình hai lớp, chẳng còn đứa trẻ nào léng phéng chạy theo chọc ghẹo, ném đá. Con “ma lai” càng ngày càng xinh đẹp ở độ tuổi xuân thì. Họ đã đi qua con đường từ bến sông đến ngôi trường không biết bao mùa mưa nắng, để đến một ngày họ chợt nhận ra rằng họ đã lớn và phải đi xa hơn.
Hai chàng trai đã chọn cho mình một trường đại học ở hai hướng ngược nhau. Một chàng đi về phương nam đầy nắng ấm, một chàng đi ngược về miền trung với cuộc sống khắc nghiệt đầy bão lũ. Họ để lại cô gái Chăm có đôi mắt u uẩn ngóng chờ.
Không còn hai chàng trai vệ sĩ đi bên cạnh cũng chẳng có ai làm phiền nàng nữa. Hình như bọn trẻ đã lớn lên và chán ngán trò đem nàng ra để chọc ghẹo. Nàng đi miên man dọc con đường từ cuối sông về biển để đến ngôi trường. Con đường bổng thênh thang, quạnh quẽ.

Rồi một ngày Cát cũng bỏ luôn con đường đến trường. Cha nàng ốm nặng, không thể ra khơi, gia đình lâm vào túng bấn, bao nhiêu tiền vàng dành dụm được đổ hết vào thuốc thang cho cha. Vậy mà bịnh vẫn không hề thuyên giảm. Cha nói :
-Cát à, đừng lo cho cha nữa ! Cha về với mẹ, chỉ thương con ở lại một mình…
Trong cơn đau cha nghiến răng chịu đựng không một tiếng rên la. Nhưng trong những cơn mê vô thức tiếng cha kêu lên bức bối như bị trói: ” Thả tôi ra! Thả tôi ra ”
-Cha ơi, con đây.
Cha mở bừng mắt, cả người đầm đìa mồ hôi trong tiết thời se lạnh của tháng 10.
-Ai làm gì cha hở cha ?
-Ừ !… Họ trói cha … bằng lưới…mắt cá … đầy oán hận! Cát à! Cha mất rồi, con bán thuyền, bán nhà xuôi về phố mà sinh sống nghe con.
Cát chỉ còn biết nghẹn ngào: “Cha ơi !…”

Ngày cha mất cả hai chàng trai tên Khoa đều trở về, họ đứng bên cạnh Cát và quán xuyến tất cả nghi lễ tang chay.
Những lúc Cát gục ngã, cả hai cùng dìu Cát đứng dậy.
Ngôi mộ cỏ nằm trong nghĩa trang làng chài đầy xương rồng và lau lách.
Rồi cả hai phải quay về trường học tiếp. Cát xuôi về phố, xin vào bán hàng cho một cửa hàng lưu niệm ngay trên phố biển, đôi mắt hoang dại của nàng thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài.
Cát không quan tâm, nàng mong chờ mùa xuân và mùa hạ. Đó là những ngày mà hai chàng tên Khoa quay về ngồi cùng nàng bên bến sông lau. Họ cứ ngồi bên nhau, cả hai chàng trai đều muốn nói một điều gì thật sâu kín … Nhưng rồi cuối cùng không nói. Sợi dây vô hình ràng buột họ thật bền chặt nhưng cũng thật mong manh… Họ không muốn mất nhau… Và họ đã giữ lại !

Cho đến ngày tốt nghiệp đại học ra trường, hai chàng trai cùng quay về phố biển cũng là lúc Cát quyết định ra đi…
Andy Moxham, chàng trai đến từ bên kia bờ đại dương, mắt xanh biếc như biển , tóc vàng óng như nắng, chàng mê đắm vùng đất phương đông huyền bí như trẻ con mê thế giới cổ tích và đã chọn khoa Đông Phương học để nghiên cứu. Chàng mang ba lô lang thang khắp lăng tẩm chùa chiền ở kinh thành Huế, rồi ở lại hàng tháng trời ở thánh địa Mỹ Sơn Quảng Nam, tỉ mỉ soi rọi từng đường nét, hoa văn, phù điêu chạm khắc hình vũ nữ nhảy múa, tượng thần Shilva, Ganesa bằng đá, tượng nữ thần Uma, thần Bhama bằng đồng… Chàng như bị hút hồn vào những tháp Chàm đổ nát rêu phong ở Ninh Thuận, Phan Rang, Phan Rí… Đến khi dừng chân ở xứ sở Trầm Hương nhìn thấy Cát đứng trong quầy bán quà lưu niệm, chàng chếnh choáng ngỡ ngàng nhìn không chớp mắt, tưởng chừng như nàng Ápsara thiên thần bước ra từ thế giới ngàn năm của đá. Mái tóc đen tuyền, sóng mũi thẳng tắp, vành môi rõ nét, ngón tay dài mềm mại, vóc dáng hình hài phiêu lãng và đôi mắt thăm thẳm…
Andy như một cứu cánh giúp Cát thoát ra khỏi kí ức bế tắc ở thành phố biển này và nàng quyết định đi theo Andy Moxham thật vội vàng như trốn chạy.

Buổi chiều mưa nhạt nhoà trên sông Lau, gió lạnh lùng đi qua những ghế bàn im vắng, Cát không dám nhìn thẳng vào mắt của hai chàng trai, cô cúi đầu nói thật nhỏ:
-Ngày mai em rời xa nơi đây rồi.
Chàng trai tên Khoa trở về từ phía nam hỏi nàng:
-Sao em quyết định nhanh vậy hở Cát? Bọn anh lo cho em lắm !
-Không sao đâu anh, Andy rất quí em, anh ấy là giảng viên của trường đại học Melbourne thuộc bang Victoria, Andy nói mỗi năm đều về Việt Nam để giảng dạy theo chương trình đào tạo liên kết, anh ấy sẽ đưa em về. Em sẽ có dịp về đây thăm hai anh mà.
Chàng trai trở về từ miền trung vẫn đau đáu âu lo:
-Cát nè, bọn anh vẫn luôn luôn cầu mong cho em bình yên, hạnh phúc, nhưng nếu như có điều gì đó…bất an, trắc trở, em phải trở về, ở đây còn có bọn anh lo cho em.
Cát cười nhưng nước mắt ứa trên mi.
-Em biết mà, em chỉ còn có hai anh là người thân duy nhất của em trên cõi đời này.

Cát ra đi, thành phố vốn đã trầm lặng nay lại càng thêm cô tịch.
Mỗi chiều hai chàng trai vẫn ngồi bên bến sông, một chiếc ghế trống được đặt giữa. Họ vẫn nói rất ít và dường như là im lặng.
Cuộc sống vẫn trôi đi…
Rồi họ cũng có gia đình, vợ hiền và những đứa con ngoan. Chốn về của họ thật bình yên, họ là những người đàn ông thành đạt trong công việc và chuẩn mực trong gia đình. Nhưng họ chẳng bao giờ rời bỏ bến sông, có lẽ ở đây họ đã có chung một kí ức. Thỉnh thoảng họ cùng đọc chung thư của Cát gởi về.
” … Hằng ngày, Andy lái xe đến trường đại học, em quanh quẩn trong ngôi nhà nằm giữa thung lũng xanh ngát dưới chân núi, những đàn bò hiền lành gặm cỏ, thỉnh thoảng một vài chú Kangaroo phóng qua thật nhanh, loài chim khướu có bộ cánh nâu hạt dẻ như màu áo của người phụ nữ nông dân quê mình phát ra những thanh âm lạ lùng gần giống như tiếng người í ới gọi nhau. Trên đỉnh núi Alp từ New South Wales đến Victoria vào độ tháng sáu đến tháng chín tuyết phủ trắng xoá. Andy cũng nhiều lần lái xe đưa em lên núi vào mùa này để trượt tuyết. Em run cầm cập trong tuyết và nhớ nắng quê nhà… Em ước gì lúc đó có hai anh bên cạnh, minh sẽ đắp những quả núi tuyết, và có thể hai anh sẽ xây cho em cả tháp Ponagar bằng tuyết …Andy rất dịu dàng với em, anh ấy làm tất cả những việc nặng nhọc trong nhà, chỉ cho em làm những việc thật nhẹ nhàng… Nhưng em thấy buồn lắm hai anh à, em muốn có thật nhiều con, em muốn được chăm sóc trẻ, thích nhìn bọn nhóc chạy nhảy vui đùa trên cỏ… Andy thì không thích… Sau tết dương lịch Andy sẽ đưa em về vì anh có chương trình giảng dạy liên kết giữa hai trường đại học. Em mong ngày về để gặp lại hai anh trai của em lắm, nhớ chờ em ở bến sông Lau nhé !…”

Vậy mà Cát vĩnh viễn không về nữa.
Chiếc máy bay định mệnh đã mất hút trong lòng đại dương, Cát và Andy sẽ không bao giờ còn trở lại thành phố biển.
Hai người đàn ông tên Khoa vẫn ngồi bên dòng sông Lau vào mỗi chiều, tóc họ bây giờ đã bạc trắng như hoa lau. Gió vẫn tiếp tục vẽ những bức tranh trên mặt sông, vẫn những đường nét lung linh của làng dừa, tháp chuông, mây trời trôi đi theo vấn vương tiếc nuối… Họ vẫn im lặng ngồi bên nhau, chiếc ghế trống vẫn tồn tại giữa họ từ bao giờ. Cát đã theo gió bay đi nhưng dường như nàng vẫn mãi mãi ngồi bên họ, cho đến khi bóng tối nhạt nhoà tím thẩm trên sông họ mới chia tay nhau để quay về.

Trần thị Trúc Hạ

LỜI HẸN CỦA PHÙNG NGUYỄN

nguyenthikhanhminh

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Buổi mai cồn cào lời hẹn**
Cà phê mắt đen đợi nhau

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Xao xuyến quá. Một góc bàn. Hai ly cà phê hẹn
Thị trấn giữa đàng. Thảng thốt. Nhịp trần gian

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Starbucks bên đường hay cuối đất xa
Giờ cùng trời ngó nhau thăm thẳm

Tôi sẽ đến. Tôi nhất định sẽ đến
Người vừa hẹn. Rồi đi ngay cái một
Then vừa cài cổng đã khói sương

Thôi trái tim đau treo trên cành lá mỏng
Thôi tháng ngày là ký ức tìm nhau
Người đã đưa. Người đã chờ. Và Người đã đến

Kia. Tiếng cười vừa tan trong câu chào
Tay bắt mặt mừng trời xanh nghiêng nón
Thị trấn giữa đàng. Chuyện kể chiêm bao…

Nguyễn thị khánh minh
Tháng 11. 2015

QUÁN CŨ

tranvannghia

Chợt qua đường phố cũ
Nhớ quán nhỏ năm nào
Chút hương còn quyến rũ
Thả vào hồn chiêm bao

Chiếc ghế ngồi ngày trước
Bỏ trống ,bụi quê nhà
Đắng bao chiều xuôi ngược
Mơ tìm áo ai xa

Tóc đời xen tóc nhớ
Anh ngơ ngẩn một thời
Núp chờ em qua ngõ
Nóng lòng,vái,trời ơi !

Là thư tình năm đó
Giờ sao chẳng thấy già
Chỉ thấy buồn lẫn nhớ
Mỗi ngày một dài ra

Mà anh mang theo mãi
Còn em ,cũng lấy chồng
Phố cũ và quán cũ
Giọt cà phê…long chong

Ghế cũ và người cũ
Có ai về nữa không ?

TRẦN VĂN NGHĨA

40 NĂM NHỚ LẠI

nguyendangtrinh

muốn ngất xỉu trước một rừng con gái
(mà mười em xinh hết thảy mười em)
ráng cầm cự không để mình tan chảy
vẫn mềm xèo số phận một que kem!…

chiều mùa đông tìm đâu ra chút nắng
run cứ run mà lại… toát mồ hôi
lần đầu tiên trong đời nghe lạnh cẳng
đầu nam mô và miệng… “chết tui rồi!”…

ngoài trận địa luôn tả xung hữu đột
không ít khi vài chục chọi hàng trăm
hô xung phong lao người lên bứng chốt
sao bây giờ bệ rạc… gã cà lăm!…

biết bao lần bị vây trên đỉnh núi
địch trùng trùng trò tiền pháo hậu xung
chơi cận chiến lưỡi lê đâm túi bụi
vẫn hiên ngang dù biết sắp tiêu tùng!…

mắc mớ chi thăm sân trường con gái
một mình ên nhè đúng lúc giờ chơi
để chết đứng trận tiền thân từ hải
giữa rừng tên: “anh thiếu úy gì ơi!”…

nguyễn đăng trình

CỘNG, HÒA, XÃ, HỘI, CHỦ, NGHĨA, VIỆT, NAM, HÙNG, MẠNH!

khuatdau

download (3)

Từ trái sang: 10 cháu bé lần lượt có tên “Cộng, Hòa, Xã, Hội, Chủ, Nghĩa, Việt, Nam, Hùng, Mạnh” do Bộ Công an đặt trong giấy khai sinh.

Đây không phải là khẩu hiệu chào mừng 70 năm thành lập nhà nước CS tự xưng, mà là tên của 10 em bé bị bán sang Trung Quốc được ông bạn bốn tốt trao trả lại và được bộ công an chính thức đặt tên trong giấy khai sinh.
Chuyện xảy ra đã bốn năm rồi, giờ nhân dịp tổng bí thư Tập Cận Bình qua thăm Việt Nam, các báo mới được phép đưa tin.
Cũng là một cách tô điểm thêm cho nước sơn bốn tốt. Và cũng ghi điểm cho ngài tổng Tập.
Vậy thì mừng!
Mừng cho dân số của cả nước được thêm chục nhân khẩu. Mừng vì 10 em hãy còn lành lặn, không bị móc mắt, xẻo bớt thận hay cắt bớt gan. Và, mừng hơn nữa vì nhờ có ông bạn 16 chữ vàng mà bộ công an được dịp khẳng định với cả thế giới rằng: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh!
Các em từ đây khỏi sợ ngỏm, khỏi sợ đói rét, khỏi sợ không đủ tiền đóng học phí, khỏi sợ khi ra trường phải gia nhập vào đội quân thất nghiệp… các em là nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh kia mà!
Sướng nhé các em! Đâu có như những đứa trẻ bất hạnh được các bà sơ đưa đi di tản trước 75. Các em ấy đã bị nổ tung xác pháo vì chính quyền Sài Gòn không đặt cho các em những cái tên thật kêu như Việt Nam Cọng Hòa Hùng Mạnh Bất Diệt Vẻ Vang… Và cái chính quyền ấy cũng chết theo vì không biết nhìn xa trông rộng.
Có thế mới thấy được rằng bộ công an ta thật sáng suốt. Bảo rằng, còn Đảng còn mình, nghe mơ hồ quá. Đảng là cái gì không thấy được, không sờ được, không biết nó thọ đến bao nhiêu nên cái “mình còn” xem ra cũng rất phập phù và rất mong manh. Đặt vấn đề như thế, nếu Đảng ngỏm mình cũng ngỏm à?! Chi bằng, với 10 em bé bị mẹ mìn bắt cóc này, nuôi chúng nó đâu tốn kém bao nhiêu mà tương lai thì rõ ràng còn dài dài, sau này chúng còn sinh con đẻ cái nữa chứ.
Thế thì dân cần gì phải xuống đường hay lên đường cho khổ bạn dân, chính phủ cần gì phải thưa kiện lên tận tòa án quốc tế làm tổn hại đến cái tình láng giềng môi hở răng lạnh, quốc hội cần gì phải chất vấn Tập Cận Bình về việc bồi đắp ở bãi cạn Trường Sa, cứ việc ngủ gật để rồi giật mình toát miệng ra cười khi nghe các vị bộ trưởng tấu hài.
Vậy nên, cho dù tàu giàn khoan có trở lại, tàu hải giám có lượn sát bờ biển hình chữ S đến nỗi gây sóng to như sóng thần… thì việc ấy đã có 10 em bé có những cái tên nổ to hơn 21 phát đại bác lo. Chẳng cần đấu pháo nước chi cho ướt át, các em chỉ việc vén chim lên là bọn chỉ huy trên tàu sẽ xấu hổ mà lập tức quay vào bờ. Và những ai chế diễu Việt Nam là nước không chịu phát triển hãy mở to mắt ra mà xem cái sự hùng mạnh đang lớn lên trông thấy từng ngày này. Đó là chưa nói tới lúc cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh bằng xương bằng thịt ấy trở thành một dàn đồng ca thập tấu đi chu du khắp thế giới, thì không biết nhân loại sẽ lác mắt đến cỡ nào. Nghĩ tới mà sướng run.
Thế mới thấy người Việt của mình thật mưu trí và khôn ngoan. Chỉ cần 10 đứa bé được đặt tên Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh là y như rằng ta đã thắng và sẽ thắng trên mọi mặt trận.
Nhưng kẻ hèn này cũng buồn năm phút, vì rằng, tai nạn giao thông mỗi năm giết chết hàng ngàn người, có nghĩa không chừa một ai, nhỡ trong số đó có một vài em, thì cái câu khẩu hiệu kiểu A.Q kia sẽ ra sao? Chẳng nhẽ cho các em đi lại bằng xe bọc thép hay có cả một dàn mô tô khủng ầm ì đi trước mở đường? Đó là chưa nói tới trường hợp bi đát nhất có thể xảy ra: biết đâu bị tụi IS bắt cóc! Tưởng tượng cái cảnh 10 em mặc áo màu da cam bị bắt quỳ chờ đao phủ thủ bịt mặt khai đao mà rụng rời cả tay chân!
Ô hô, khi đó thì còn gì là Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hùng Mạnh!
Vậy thì, thưa ông công an, tui xin can ông!

Khuất Đẩu

DẤU CHÂN QUA CẦU HIỀN LƯƠNG

nguyenanbinh

Đọc bài thơ “ Đưa dâu qua cầu Bến Hải”*
Lòng thấy vui sao thoáng chút bùi ngùi
Dòng sông của một thời đất nước chia đôi
Cầu Hiền Lương thành chứng nhân thương nhớ.

Trai Vĩnh Linh cưới gái làng Cùa Cam Lộ*
Chuyện không ngờ chỉ tưởng ở trong mơ
Những cuộc đấu loa, sơn nhịp, chọi cờ
Sông vẫn mát sao đắng lòng đến thế.

Tôi lặng đi khi bàn chân mình bước nhẹ
Lên những tấm ván cầu một thời tấm còn tấm mất
Tìm vạch sơn trắng của những năm chia cắt
Đánh dấu 450 miếng bên nầy, 444 miếng phía bên kia.**

Vin những nhịp cầu từng thấm máu phân chia
Mong tìm thấy từng dấu bom cày đạn xới
Trong gió nghe như có tiếng gọi đò ai đó
Đò ơi xin chèo nhẹ…dưới sông còn có bạn tôi nằm.***

Tiếng gọi đò nghe thao thức trở trăn
Trong đợt sóng ầm ào của miền đất dữ
Để nhớ người bên đây cầu ngóng sang bờ Bắc
Kẻ bên kia cầu lại ngó đợi bờ Nam.

Nỗi đau thương từng se thắt đến oặn lòng
Dòng sông bạc cũng đành chia hai màu thương nhớ****
Một dòng sông nước xuôi về biển cả
Sao lại gọi bằng hai cái tên Cửa Việt, Cửa Tùng?

Nghe ai hát “Câu hò bên cầu Hiền Lương*****
Làm thao thức niềm riêng người lính gác đèn biển
Tình có khác gì nhau dù không cùng màu cờ chiến tuyến
Mưa bên nầy cũng làm ướt áo kẻ bên sông.
Đừng quên nhau cùng uống nước chung dòng
Để ngấm nỗi đau của một thời máu lửa
Hôn nấm đất bên bờ sông lịch sử
Vết thương nào thành sẹo chẳng liền da?

NGUYỄN AN BÌNH
17/10/2015
___________________________________________________________________

*Bài thơ “Rước dâu qua cầu Bến Hải” của nhà thơ Cảnh Trà viết sau ngày thống nhất đất nước 30/4/75 không lâu.
**Từ ý “Giữa 450 tấm phía bên nầy.Và trong 444 tấm phía bên kia” trong bài thơ Những tấm ván trên cầu Hiền Lương của nhà thơ Ngô Liêm Khoan.
***ý thơ “Lời người bên sông” của nhà báo Phan Bá Đương
**** Lấy từ ý lời hát “Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu” trong bài hát “Chuyến đò vĩ tuyến” của nhạc sĩ Lam Phương.
***** Tên một bài hát của nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ từ thơ của Đằng Giao

GIÓ THẬT ĐƠN ĐỘC

chuthuynguyen

1)
lá đã rụng
và cành đã đơn độc
người góa phụ còn mỗi chiếc lá trong tâm tưởng
gió cũng thổi đùa đi

2)
đếm mãi trên các ngón tay
vừa thêm một ngày nữa
rượu trong bình cạn dần
tiếng chim cũng thưa đi

3)
giấu một chút quê hương
vào ngực trái
để bất chợt một lúc nào
tim còn biết nhói đau

4)
cứ choàng vai nuối tiếc
tri kỷ cùng chần chừ
lệ quê hương tuôn mãi
tóc mình bạc như tơ

5)
đừng thổi tắt ngọn nến
đừng bới gốc tre xanh
hãy giữ cho lũ trẻ
mai còn lối quay về…

Chu Thụy Nguyên

Khi về phố cũ

huytuong

Không cất nỗi tà dương về trên mái
Chiều nao nao.úng nụ.thuở chưa rằm
Nhìn và ngắm.vết mây trời sót lại
Tôi cầm tay phố cũ.hương biệt tăm!

Tôi cầm tay.phố cũ.đã quá rằm
Ðêm chếch xám.gió tràn.khe núi lạnh
Con bướm vờn.bóng duỗi tới xa xăm
Tôi vẫn gọi.vẫn mơ.và ngóng đợi…

Tôi ngóng đợi.cả đời tôi.ngóng đợi
Dẫu tàn phai.rêu phủ lối tôi về
Tôi ngóng đợi.sao tôi không ngóng đợi
Biết đâu chừng…lửa ấm giữa hồn mê?!

HUY TƯỞNG