ĐÔI ĐIỀU VỀ MỘT NGƯỜI THẦY KHẢ KÍNH :Giáo sư Lưu Trung Khảo

phamtinanninh
12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

Giáo sư Lưu Trung Khảo, một người đã tham gia nhiều đoàn thể đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam tại hải ngoại, đã từ trần vào trưa thứ Ba, ngày 22 tháng 12, tại Quận Cam, hưởng thọ 84 tuổi.

Giáo sư Lưu Trung Khảo nguyên là giáo sư các trường trung học công lập Chu Văn An, Nguyễn Trãi Saigon và Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc). Giáo sư cũng từng giảng dạy tại các trường trung học tư thục Nguyễn Bá Tòng, Regina Mundi (Couvent des Oiseaux), Văn Khôi, Văn Học, Lyceum Cửu Long và Nguyễn Công Trứ.
Ngoài ra, Giáo Sư Khảo còn giữ các chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục của VNCH như Thanh Tra Trung Học, Thanh Tra Đặc Biệt Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Chánh Văn Phòng Thứ Trưởng Bộ QGGD, Chánh Chủ Khảo nhiều kỳ thi Trung Học, Tú Tài, và Hiệu Trưởng Trường Trung Học tại Kiến Phong.

Ông được ân thưởng Văn Hóa Giáo Dục Bội Tinh của Chính Phủ VNCH. Giáo sư Lưu Trung Khảo nhập ngũ khóa 24 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với cấp bậc Thiếu Úy, sau thăng cấp Trung Úy và biệt phái về phục vụ tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Ra hải ngoại, GS Lưu Trung Khảo tham gia nhiều đoàn thể đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Ông đã cùng phái đoàn qua Pháp, Anh, Thụy Sĩ tranh đấu cho thuyền nhân và nhân quyền.
Là một nhà giáo chuyên chính, GS Lưu Trung Khảo đã tham gia trong Ban Giảng Huấn các lớp Tu Nghiệp Sư Phạm, Chánh Chủ Khảo các kỳ thi Giải Khuyến Học, Giám Khảo các Giải Học Sinh, Sinh Viên Gương Mẫu, sáng lập và là Chủ Tịch Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức VN Tại Hải Ngoại.

Giáo Sư cũng có nhiều buổi hội luận trên đài Little Saigon Radio, Saigon Radio Hải Ngoại, đài VOA và đài Sống Trên Đất Mỹ, đài VNA/TV, chủ trương chương trình Phát Thanh Hải Triều Âm của Phật Giáo và là Trưởng Ban Tổ Chức Đại lễ Phật Đản nhiều năm tại Quận Cam, đồng thời cũng rất gắn bó với Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ.

gs-luu-trung-khao

Thời còn đi học, tôi không được may mắn học với giáo sư Lưu Trung Khảo. Thầy dạy ở Sài gòn và một vài trường ở các tỉnh miền Nam, tôi chỉ học ở Nha trang. Lúc vào lính tôi cũng chưa hề được gặp thầy, khi thầy có một thời gian trong quân ngũ. Thầy phục vụ ở Tổng Cục CTCT và Tòa Đô Chánh, còn tôi thì ở một đơn vị chiến đấu tại Vùng 2.

Sau 1975, Thầy định cư ở Mỹ, còn tôi ở mãi tận Bắc Âu, nên không biết những hoạt động của thầy. Sau này thỉnh thoảng đọc được một số bài viết của thầy, về chính trị, văn hóa và một số lãnh vực khác, tôi ngưỡng mộ một người hiểu biết rộng, rất nặng tấm lòng với quê hương dân tộc, và đặc biệt với các thế hệ hậu sinh. Thấy trước cái tên thật đẹp của thầy thường có kèm theo hai chữ giáo sư, tôi đi hỏi mấy anh bạn tốt nghiệp sư phạm, hy vọng đã từng là đồng nghiệp của thầy, cũng chỉ được biết có thời thầy dạy ở Nguyễn Trãi sau này là Chu Văn An, và cuối cùng về Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Ngoài ra tôi cũng được biết thêm về các hoạt động rất đa diện và tích cực của thầy từ khi thầy đến định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 2007, nhân dịp sang Cali thăm con và mấy người bạn cùng đơn vị cũ, tôi bất ngờ được nghe vài chương trình Phật Giáo Hải Triều Âm trên Little Saigon Radio, có giới thiệu một số truyện ngắn của tôi: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Tiểu Thơ, Đà Lạt Trời Mưa, Những Điều Mơ Ước… Người giới thiệu chính là giáo sư Lưu Trung Khảo. Tôi vui và hạnh phúc lắm, vì nghĩ mình chỉ mới tập tành viết lách, vậy mà được một vị giáo sư tiếng tăm giới thiệu và dành nhiều mỹ cảm cho các bài viết. Dù vậy, tôi cũng chỉ mới được nghe qua giọng nói từ tốn, mạch lạc và có sức lôi cuốn của thầy, nhưng chưa biết mặt thầy.

Đầu năm 2008, Tiến sĩ Trần Huy Bích, môt người tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết, đọc ở đâu đó một số bài viết của tôi, đồng cảm và dành cho tác giả một cảm tình đặc biệt. Giáo sư Bích đã liên lạc với tôi qua email, hướng dẫn và khuyến khích tôi nên tập trung các bài viết để in thành sách, và ông sẽ giúp tổ chức một buổi ra mắt sách tại miền Nam Cali. Tôi khá bất ngờ, vì đó là điều tôi chưa hề dám nghĩ tới. Hơn nữa lúc ấy tôi còn khá lạ lẫm với Little Saigon, và ngại ngùng trước bao chuyện bon chen. Nhưng qua chữ nghĩa và lời nói, tôi biết đây là một vị thầy mực thước, khiêm cung, có tấm lòng nhân hậu đáng kính. Tôi vâng lời thầy dù trong lòng chưa hết băn khoăn. Lâu nay, tôi nghĩ viết lách chỉ là một hình thức giải tỏa phần nào những ẩn ức còn đè nặng trong lòng, và cũng chỉ để chia sẻ với một số đồng đội cũ, những bạn bè có tên trong các câu chuyện kể hay cùng hoàn cảnh thăng trầm, thế thôi. Tôi chưa hề có ý nghĩ phổ biến rộng rãi những bài viết, huống hồ chuyện in thành sách và ra mắt tác phẩm.

Giáo sư Trần Huy Bích liên tục khuyến khích, giới thiệu tôi đến một số bạn bè khác của thầy, những nhà văn, nhà giáo lão thành có tiếng tăm, trong số đó có giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và giáo sư Lưu Trung Khảo. Lần đầu tiên nhận đựợc thư của thầy Lưu Trung Khảo, tôi vui và hãnh diện lắm. Không ngờ có một ngày được thầy gọi đến tên mình. Chưa gặp thầy, nhưng tôi cứ tưởng tượng và ái ngại, nghĩ mình từng là một đứa học trò dở, học hành nhếch nhác, liệu có xứng đáng được một vị thầy có tiếng tăm thương yêu, giúp đỡ.

Nhờ sự khuyến khích của giáo sư Bích rồi đến thầy Khảo, tôi mạnh dạn in tập truyện đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và xin chỉ xuất bản với mục đích góp vào quỹ Cứu trợ Thương Phế Binh VNCH. Điều mà tôi hằng ước ao, như để được trả phần nào món nợ máu xương quá lớn mà mình sẽ không bao giờ trả hết được.

Tháng 6/ 2008 tôi đến Mỹ. Giáo sư Trần Huy Bích tận tình giúp đỡ, đưa tôi đến gặp một số các cơ quan truyền thông: Little Saigon Radio, Radio Bolsa, Nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông, và đặc biệt gặp giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và Lưu Trung Khảo. Hai thầy đã đồng ý giới thiệu tác giả và tác phẩm, không những trên một số đài phát thanh mà còn trong buổi ra mắt sách tại hội trường Nhật báo Viễn Đông.

Lần đầu tiên tôi được gặp thầy Lưu Trung Khảo tại văn phòng Hội Quán Tả Quân Lê Văn Duyệt của thầy Nguyễn Thanh Liêm. Hai thầy đã hỏi tôi nhiều điều về gia đình, cuộc sống, đặc biệt chia sẻ những đau đớn mất mát mà tôi đã phải trải qua trong và sau cuộc chiến. Thầy Khảo cho biết đã đọc qua tập truyện “Ở Cuối Hai Con Đường” và dành cho tôi nhiều khích lệ. Hôm ấy, tôi cùng đi với một người bạn. Anh là một sĩ quan cùng đơn vị, rất hiền lành. Sau 75, khi anh vào tù chưa tròn một năm thì cô vợ đã bỏ anh để lấy một cán bộ Cộng sản. Điều đau lòng hơn là ngay sau khi vừa mới ra tù, anh bị cô vợ bất nhân bất nghĩa này nghe lời xúi giục của gã chồng mới, đưa anh ra tòa với lý do là thời gian ở tù 7 năm chưa đủ “đền tội ác” để xin tòa bắt anh vào tù trở lại. Đã vậy còn đầu độc và xúi hai đứa con đến chửi bới hổn láo và định đánh cả cha ruột của mình. Kể xong câu chuyện, tôi nhìn thầy Khảo. Đôi mắt của Thầy đỏ hoe và vài giọi lệ còn đọng trên khóe mắt. Ngoài các đức tính khác, bây giờ tôi còn biết Giáo sư Lưu Trung Khảo là một người dễ động lòng trước nghịch cảnh, trái tim thầy luôn đầy ắp yêu thương, cảm xúc.

Buổi ra mắt tập truyện hôm ấy rất thành công. Phần lớn là nhờ sự giúp đỡ tận tình của Giáo sư Trần Huy Bích, và đặc biệt là sự thương yêu, cổ võ và những lời giới thiệu rất chí tình, cảm động của thầy Lưu Trung Khảo.

Tôi tự biết và cũng không bao giờ dám nhận mình là một nhà văn. Về khả năng viết lách, tôi thấy mình vẫn mãi chỉ là một đứa học trò. Nhưng điều làm tôi vinh dự và hạnh phúc là được làm học trò của thầy Bích, thầy Liêm và thầy Lưu Trung Khảo.

Một người từng trải, khiêm cung như thầy, chắc chắn không thích người khác ca ngợi, nói tốt về mình. Kính mong thầy thứ lỗi. Viết những dòng này chỉ muốn nhắc lại vài kỷ niệm ít oi mà tôi may mắn đã có với thầy. Có thể, đối với thầy chỉ là nhỏ nhoi, nhưng với tôi là rất đáng trân quý. Và cũng để mừng thầy trong ngày thượng thọ 80, khi tôi không có mặt chúc thọ thầy, để được nói với thầy một lời cám ơn, dù rất muộn màng.

Phạm Tín An Ninh

Đôi mắt nào linh hiển

nguyentatnhien

Mùa đông đã về rồi đó nhỏ.
Đồng bằng miền Nam trở trời trái gió
Anh chợt nghe hồn thánh thót tiếng chuông
Vừa đủ hồi sinh miền giáo đường buồn

Mùa đông đã về rồi đó nhỏ.
Anh mặc áo len quấn khăn quàng cổ.
Bồng ẵm tim mình đi lễ tình yêu
Đồng bằng miền nam dù chẳng lạnh bao nhiêu
Nhưng cũng phải ra cái điều rét mướt
Làm chiên ngoan, cả đời, tôn vinh hạnh phúc
Cả đời tin sự thật có, thiên đàng

Đôi mắt nào của Chúa ở trần gian
Bóng tôi ngã hướng thâm cùng đời sống khó

Mùa đông đã về rồi đó nhỏ.
Phúc âm mừng ngân vọng được bao lâu?
Tôi cả tin, nên rất dễ nghi ngờ
Tôi vụng tính, nên vẫn thường do dự.
Tình chảy xiết qua đời như, thác lũ
Tội thân tôi bầm dập, mủn như bùn

Đôi mắt nào của Chúa ở trần gian
Có soi thấu tận cùng miền u uẩn ?
Đôi mắt nào sáng như trời quang đãng
Hay ân cần chuyên chở lụy phiền tôi

Chẳng bao giờ thần thánh chịu hở môi
Tôi cũng thế nên sầu say lúy túy
Tôi cũng thế nên hờn cao ngất núi
Chờ em qua, rồi, để qua luôn…

Đôi mắt nào của Chúa ở trần gian
Hãy phán đoán tâm hồn tôi, thánh thiện
Đôi mắt nào tuyệt vời linh hiển
Hãy tò mò thêm chút nữa, tình tôi !

Chẳng bao giờ thần thánh chịu lìa ngôi
Tôi cũng thế nên tượng hình rêu phủ.
Tôi cũng thế nên xương tàn cốt rũ
Nơi miếu đền hoang rợn cánh dơi bay
(Hãy một lần định bụng đến thăm tôi
Thần thánh cô đơn rất sẵn sàng đãi ngộ!)

Mùa đông đã về rồi đó nhỏ.
Anh lặng mình thấm thía tiếng chuông
Làm cây thông già đứng lặng hưởng mù sương
Còn bao nhiêu đèn và bao nhiêu nến
Hãy một lần mang ra thắp hết
Hãy một lần khôi phục lại, niềm vui

Đôi mắt nào của Chúa ở lòng tôi
Nhỏ ơi, ơi nhỏ, và nhỏ ơi…

NGUYỄN TẤT NHIÊN

CHẠM VÀ VANG

khalycham

lòng cũng muốn chân chạm bờ bỉ ngạn
bát nhã thuyền đáy rỗng sợ hồn kinh
ta treo áo giang hồ trên cành liễu
A di đà… hẹn lại kiếp lai sinh

mười phương Phật sao quá dài con số
đếm ngất ngư chưa giáp hết chỗ ngồi
có vị nào còn lang thang nơi trần thế
ta xin mời cạn vài cốc cho vui ?

nếu phạm giới kẻ phàm phu chịu tội
đã còng lưng thêm nữa có sao đâu
mấy mươi năm hít thở bằng thơ, rượu
luyện “sơ gan thần chưởng” bạc mái đầu

lòng cũng muốn vào chùa nghe hoằng pháp
sợ nhà sư phát hoảng miệng ta cười
lạ lùng gì hơn triệu năm có thể
thiên niên kỷ này vẫn kiếp đười ươi

có những lúc thèm cạo đầu xuống tóc
choàng cà sa khất thực sống cầm hơi
nhưng nghiệp chướng lục căn nào cho phép
say ngã nghiêng cóc cần biết đất trời

không còn giọt… ta ném vèo chai rượu
theo dòng đời trôi ngược phía thượng lưu
chợt bắt gặp Thích Ca ngồi nhắm mắt
ta quay về chờ chạm mặt thiên thu.

KHA LY CHÀM

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

dangphuphong

BÊN KIA CON CHỮ và NGHỆ THUẬT của nhà văn Đặng Phú Phong do nhà xuất bản Chương Văn phát hành tháng 12/2015.
Nội dung sách: viết và phỏng vấn 23 tác giả trên các lãnh vực thơ văn, âm nhạc và hội họa gồm có
:

Phần 1
Du Tử Lê : Không có họ, tôi không có thơ tình
Đặng Thơ Thơ, Không có biên độ giữ thực và hư.
Đào Hiếu: Tản mạn, một vài…
Phỏng vấn nhạc Sĩ Lê Văn Khoa
Phỏng vấn Nga Mi & Lãng Minh
Nguyễn Viện: Sự phản kháng cho phép tôi là tôi
Nhã Thuyên: Mỗi tác phẩm là một sự vong thân
Nguyễn Tôn Nhan: Chính vì mê thi ca, tôi học chữ Hán
Trò chuyện với nữ đạo diễn Song Chi
Thảo Trường: Truyện ngắn không bao giờ là truyện dài thu gọn

Phần 2

Ann Phong, biển, mãi gọi tên
Cao Bá Minh: Màu xanh trôi trong ký ức
Du Tử Lê, màu xanh vàng phai
Dương Văn Hùng: Nhà điêu khắc vô ưu
Đào Hải Triều: Thế giới có thật trong mơ
Đinh Cường, màu xanh miên viễn
Khánh Trường và phục sinh
Nguyên Khai, chất Huế trong tranh
Nguyễn Đình Thuần: Thế giới của những hang động thạch nhũ
Mạn Đàm Với Họa Sĩ Nguyễn Văn Trung Về Tranh Sơn Mài
Rừng: Gã du tử trên đại lộ màu sắc
Thanh Trí và Triển Lãm Đôi Bờ
Trịnh Cung: Treo mình trên giá vẽ
Trương Thị Thịnh: Đem thế giới quá khứ lồng vào tranh.

“Một tập biên khảo công phu, gồm các bài nhận định văn học, hội hoạ và các bài phỏng vấn sinh động, thú vị bất ngờ các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, đạo diễn và rất nhiều hoạ sĩ danh tiếng. Đây là tập biên khảo quý, vì có rất nhiều tư liệu của nhiều tác giả được truyền tải bằng nhiều hình thức phong phú và mới mẻ. Sách không thể thiếu đối với những người cầm bút, những nhà nghiên cứu và những ai muốn lưu trữ tư liệu văn chương, hội hoạ và nhiều lãnh vực khác.” (ĐH)
Sách dày 312 trang hơn 70 trang màu in những bức tranh đẹp của các họa sĩ VN. Bìa là bức tranh nổi tiếng : Treo Mình Trên Giá Vẽ” của họa sĩ Trịnh Cung. Đào Hiếu trình bày, lay out. Ấn phí 30 Mỹ kim. Muốn nhận sách có chữ ký của tác giả xin liên lạc: dpp653@yahoo.com.

TƯƠNG TRI.COM trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

ký ức noel

dunga
Sắp Noel. Chợt nhớ xóm nhỏ ngày xưa ở ven thị xã.

Có ba lối để đi ra khỏi xóm, một là băng qua chiếc cầu nhỏ bắc qua con mương lọt thỏm giữa một cái bàu nước rộng mênh mông là bèo xanh sang xóm Tân A, hai lối kia dẫn ra lộ lớn đều phải đi qua những xóm đạo. Bên kia con lộ là xứ đạo chính, gần như toàn tòng, nhà cửa xúm xít lô xô trong một mê hồn trận những con hẻm nhỏ quanh nhà thờ Chính Trạch với tháp chuông cao và cái sân rộng càng thênh thang hơn trong những trưa ngập nắng.
Xóm của tôi gồm những người lương, hoặc theo đạo Phật, nên dù muốn dù không cũng có một khoảng cách với những cư dân có đạo chung quanh.

Đa phần các xứ đạo ở Đà Nẵng thời đó đều là dân di cư từ vùng Quảng Bình vào, tiếng nói khác thung thổ rất khó nghe rõ, nhất là khi người ngoài đó thường nói rất nhanh, như chim hót và trộn lẫn rất nhiều phương ngữ.
Tôi lóm thóm biết nước là “nát”, ruột là “rọt”, sân là “cưi”, vườn sau là “nương”, quét nhà là “suốt nhà” v.v…

Các xứ đạo đều nổi tiếng là “hung” – từ Chính Trạch đến Tam Tòa, Thanh Bồ, Đức Lợi. Sau này, hiểu ra người ta bỏ làng mạc quê hương vào Nam, dẫu sao thì cũng mang tiếng ở nhờ, riết rồi phải tự co cụm, hung dữ để tự bảo vệ mình, khỏi bị dân tại chỗ ăn hiếp…
Những điều đó cộng thêm niềm tin tôn giáo khác nhau, làm con người xa rời, thù nghịch nhau.
Bọn con nít tôi chưa bao giờ dám đặt chân vào các xóm đạo, vì sẽ có đủ lý do để bị ăn đòn, mà thường là đòn hội chợ.
Và ngay ở trong xóm mình, khi bọn tôi đang chơi đùa, lũ trẻ con xóm đạo có thể ngang ngược phá rối, đá tung những chồng hình đang chơi tán, trấn lột mấy viên bi…, mà chúng tôi đành nhịn không dám ho he. Bởi ho he thì có đường mô mà ra khỏi xóm đi chơi đi học.
Nhưng cũng ấm ức trong lòng lắm!
Thành ra khắc sâu vào trong đầu: dân đạo không tốt.
Người ta đồn đãi nào nước thánh làm phép ngâm từ xương trẻ con, nào dưới nhà thờ có hầm bí mật của mấy ông cần-lao (ý đảng Cần lao Nhân vị của ông Nhu) để tra tấn rồi thủ tiêu mấy người Phật giáo. Thỉnh thoảng đi ngang nhà thờ, thấy thấp thoáng bóng cha xứ, mấy bà xơ áo chùng đen, nghe tiếng kinh nguyện rì rầm tưởng chừng như thấy một thế giới bí hiểm, xa vời, huyền hoặc và đáng sợ.

Cái thế giới đó lạnh lùng suốt một năm, rồi bỗng nhiên tưng bừng lên vào những ngày cuối Chạp. Khi thấy những chiếc lồng đèn ngôi sao ngũ sắc được treo lên, những tua kim tuyến lấp lánh trong gió, chúng tôi biết sắp đến Noel và tự nhiên, trong lòng cũng thấy náo nức, dù mình chả có dính dáng một tí teo nào đến ngày lễ đó cả.
Trẻ con mà!

DU NGÃ

Ngụ Ngôn Của Mỗi Ngày

dotrungquan

Ngồi cùng trang giấy nhỏ
Tôi đi học mỗi ngày

Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng, bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu

Tôi học lời ngọn gió
Chẳng bao giờ vu vơ
Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ

Tôi học lời con trẻ
Về thế giới sạch trong
Tôi học lời già cả
Về cuộc sống vô cùng

Tôi học lời chim chóc
Đang nói về bình minh
Và trong bia mộ đá
Lời răn dạy đời mình…

ĐỖ TRUNG QUÂN

Sự cố đêm Noel

buichivinh

Cô bé ơi, những lời ca lạc hậu
Người ta đã sử dụng nó để làm trò giác đấu
Mua vui cho bầy-công-chức-triều-đình
Có phải đột ngột anh bất thường nổi cáu
Quay mặt về em tìm kiếm sự đồng tình

Và câu trả lời của bé rất thông minh
Một cái chớp mắt đủ làm anh mát ruột
Đủ làm anh làm đơn xin từ khước
Những-bài-thơ-quốc-doanh đã in báo trước giờ
Đủ làm anh hiểu cái đầu của Goethe:
“Mọi lý thuyết đều xám xịt buồn xo”

Mà cây đời xanh lá rất tự do
Tự do tuyệt đối như anh cầm tay bé
Xưa ông bà đã cầm tay như thế
Và mẹ cha đã nắm chặt suốt đời
Ta cũng phải làm những điều giống họ
Để lập lại một cái gì truyền thống bé ơi

Anh bất cần để ý những cái đuôi
Đi lẽo đẽo ở đằng sau lưng bé
Nội chuyện gặp nhau cũng bất ngờ quá thể
Anh đã thốt lên và mắt bé chớp rồi
Mình chần chờ gì mà không ngồi xuống ghế
Nghe bé hát bài “Biển động” buồn ơi

Nghe anh kể về Duyên Hải xa xôi
Có ngọn sóng giang hồ hăm bảy tuổi
Ngọn sóng con trai thì thương thầm con gái
Nên đêm Noel bỏ biển nhảy lên bờ
Ngọn sóng này gặp ngón sóng kia chạy lại
Như bây giờ anh gặp bé đọc bài thơ

Chào khu giải trí thanh niên hai mặt lập lờ
Anh và bé bước ra đường lương thiện
Trong các ngôi sao đêm nay ta tìm kiếm
Thiếu mất ngôi sao của Chúa Hài Đồng
Chắc Thánh Giuse bận đi mua áo lạnh
Máng cỏ còn một mình Đức Mẹ (bé lạnh không?)

Ai bảo trời sinh mắt biếc môi hồng
Cho người bên cạnh phải trở thành thi sĩ
Ai bảo trời sinh đàn ông hợp lý
Cho bé ôm đàn lãng mạn hát tình ca
Ta sẽ đóng đinh tử hình ma quỷ
Mời những thiên thần xuống nhảy “cha cha cha”

Hoa quỳnh nở về đêm mới thật là hoa
Bé đã nở thành hoa trên mười ngón
Cho anh quàng vai cho anh ăn trộm
Lồng ngực lăng xăng tim đập chỗ nào
Tên thánh của anh là gì không biết nữa
Nếu Chúa có buồn cũng thông cảm chứ sao!

Bé ơi, đêm về lạnh lắm, tim đau
Hai đứa run rẩy vì không mang áo lạnh
“Đừng bỏ em một mình, trời lạnh lắm”
Bé hát hay ai? Lạnh lắm, bỏ sao đành
Sau này một mình về ngang cư xá
Khi lạnh trong lòng bé còn nhớ đến anh?

Anh như muỗng đường, bé giống miếng chanh
Mình trộn vào nhau làm thành ly nước ngọt
Cơm áo quanh năm làm môi mình mặn chát
Đổi một đêm nay: Đêm-Thánh-Vô-Cùng
Mai anh ra biển yếu lòng vì tiếng hát
Anh gọi bé hoài, bé có gọi anh không?

BÙI CHÍ VINH

10 SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ NGÀY GIÁNG SINH

anh giang sinh dep 01

Lễ Giáng sinh là dịp để mọi người quây quần, trao quà và thể hiện tình yêu thương. Mặc dù ngày càng phổ biến ở nhiều quốc gia, nhưng không phải ai cũng biết tất cả về ngày lễ đặc biệt này. Dưới đây là 10 sự thật thú vị về ngày Giáng sinh.

1. Không phải lúc nào cũng là ngày 25/12
images (3)

Mặc dù Lễ Giáng sinh là ngày kỷ niệm thời khắc Chúa Jesus ra đời, nhưng ngày 25/12 chưa từng được đề cập đến trong Kinh Thánh. Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân. Mãi đến thế kỷ thứ 3, ngày này mới được chọn làm ngày lễ chính thức. Nhiều nghiên cứu cho rằng nó được chọn vì trùng với lễ hội của Saturnalia – ngày lễ thần nông Saturn, với những buổi tiệc kéo dài và mọi người thường tặng quà cho nhau.
Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân.

2. Sự ra đời của cây Giáng sinh
images (6)

Một truyền thống khác cũng bắt nguồn từ lễ hội Saturnalia là cây Giáng sinh. Trong ngày Đông chí, những cành cây được phân phát như một lời nhắc nhở về mùa xuân, và đó chính là nguồn gốc đầu tiên của cây Giáng sinh. Người Đức là những người đầu tiên mang cây xanh vào nhà và trang trí cho chúng. Những năm 1830, chúng bắt đầu du nhập vào Hoa Kỳ, nhưng phải đến năm 1848, khi Hoàng tử nước Đức Albert tự trang trí một cây thông cho các con và vợ của ông – Nữ hoàng Anh Victoria – thì việc trang trí cây Giáng sinh mới thực sự trở thành một nghi thức truyền thống.
Hoàng tử nước Đức Albert, Nữ hoàng Anh Victoria và các con hân hoan bên cây Giáng sinh rực rỡ.

3. Ông già Noel là ai?
mallsanta_9838

Chắc không nhiều người biết rằng ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư. Thánh Nicholas đã sử dụng toàn bộ tài sản thừa kế của mình để giúp đỡ người nghèo. Ông cũng là người đứng ra giải cứu những người phụ nữ thoát khỏi kiếp hành nghề mại dâm. Truyền thuyết về ông ngày càng lan rộng, ông được biết đến với cái tên Sinter Klaas tại Hà Lan và dần bị biến thể thành Santa Claus. Ngày nay, ông già Noel bụng bự đã trở thành biểu tượng của người bảo vệ trẻ em, một người hiền lành, nhân hậu và luôn phân phát niềm vui (những món quà) cho những đứa trẻ ngoan.
Ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư.

4. Bộ đồ đỏ của ông già Noel và Coca Cola
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-3-490x301

Santa Claus từng mặc những bộ đồ có màu sắc khác nhau trong nhiều năm, bao gồm đỏ, xanh dương, trắng và xanh lá. Nhưng hình ảnh của ông già huyền thoại chỉ trở nên phổ biến khi ông mặc bộ đồ màu đỏ trong quảng cáo của Coca Cola những năm 1930

5. Câu chuyện đáng yêu của những chiếc tất
images (5)
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và chúng xuất hiện đầu tiên ở Hà Lan. Trong ngày lễ thánh Nicholas (được tổ chức vào ngày 6/12), những đứa trẻ thường treo tất của mình trước khi đi ngủ và sẽ tìm thấy những món quà nhỏ từ thánh Nicholas vào sáng hôm sau. Việc treo tất này bắt nguồn từ một câu chuyện rất đáng yêu: Có một người đàn ông nghèo không thể sắm của hồi môn khi 3 cô con gái đi lấy chồng. Thánh Nicholas muốn gây bất ngờ nên đã thả một túi vàng xuống ống khói của gia đình, nhưng nó lại rơi vào một chiếc tất đang được hong khô bên lò sưởi. Và đó là một món quà tràn đầy tình yêu thương!
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và đằng sau chúng là một câu chuyện về tình yêu thương.

6. Jingle Bells là bài hát của lễ Tạ ơn
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-10-490x634

Lames Lord Pierpont, một người chơi đàn organ đến từ Savannah, Georgia, lần đầu tiên trình diễn bài hát do anh sáng tác “The One Horse Open Sleigh” tại buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn ở nhà thờ. Bài hát được tái bản vào năm 1857 và có tên là Jingle Bells. Đây cũng là bài hát đầu tiên được phát trong không gian bởi phi hành đoàn Gemini 6 vào ngày 16/12/1965.
Bài hát Jingle Bells lần đầu tiên được biểu diễn trong một buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn

7. Washington Irving là người tạo ra cỗ xe ngọt ngào của Santa
santaclaus1
Washington Irving là nhà văn Mỹ đầu thế kỷ 19. Ông nổi tiếng với tác phẩm The Legend of Sleepy Hollow, và cũng là người có ý tưởng về cỗ xe trượt tuyết biết bay của ông già Noel. Trong The Sketch Book of Geoffrey Crayon tập hợp 1.819 truyện ngắn, Irving kể lại giấc mơ nhìn thấy Thánh Nicholas bay ngang bầu trời trong một toa xe. Câu chuyện của ông trở nên phổ biến ở Mỹ và Anh, đến mức ngay cả Charles Dickens cũng thừa nhận lấy cảm hứng từ Irving khi tạo nên tác phẩm kinh điển A Christmas Carol.
Nhà văn Washington Irving là người đầu tiên mô tả hình ảnh cỗ xe bay của Santa.

8. Ông già Noel có mã bưu điện riêng
565f9e5b-7ab8487a8f

Hàng năm, thư gửi cho Santa Claus chất cao như núi ở các bưu điện trên khắp thế giới. Một số nhân viên bưu điện người Canada thậm chí còn cố gắng trả lời, nhưng ngày càng có nhiều thư chuyển tới. Họ đã tạo nên một mã thư tín riêng cho ông già Noel như một phần của “Chương trình viết thư cho Santa” – một chương trình xóa mù chữ cho trẻ em. Mã thư tín của Santa là: H0H 0H0.

9. Vì sao “Xmas” là từ viết tắt của “Christmas”
images (4)

Theo cuốn sách “From Adam’s Apple to Xmas: An Essential Vocabulary Guide for the Politicaly Correct”, từ “Christianity” được phát âm như “Xianity” trong khoảng năm 1100. Chữ “X”, hay “Chi”, trong tiếng Hy Lạp là chữ cái đầu tiên của “Christ” và được xem như một biểu tượng độc lập. Trong năm 1551, ngày lễ là “Xtemmas” nhưng cuối cùng được rút ngắn thành “Xmas”.
Từ lâu, “Xmas” được xem là từ viết tắt của “Christmas”

10. Thịt xông khói được yêu thích hơn cả gà Tây
images (7)

Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả. Trong năm 2013, người Mỹ mua khoảng 318 triệu pound thịt xông khói trong tháng 11 và tháng 12, bằng một nửa lượng tiêu thụ của họ trong cả năm.
Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả.

Tương Tri ST