ĐỘC THỦ ĐẠI BỊP

nguyendinhbon

Bất kỳ một quốc gia nào cũng kế thừa văn hóa tiền nhân. Các vương triều Trung Hoa xưa được xem là bậc thầy dùng độc dược, mà nổi danh bậc nhất có lẽ là Từ Hy Thái Hậu. Trong tiểu thuyết lịch sử “Thanh cung thập tam triều” có mô tả điều này. Sống động nhất có lẽ chuyện Lan Nhi, người sau này là Từ Hy đã dùng độc dược hạ sát cả 4 “nàng Xuân” của vua Hàm Phong để độc chiếm sự sủng ái và sau đó là độc chiếm cả vương triều Mãn Thanh. Hàm Phong yêu hoa, thích mùaxuân nên trước khi Lan Nhi nhập cung, ổng mê đắm 4 nàng là Hải Đường Xuân, Hạnh Hoa Xuân, Mẫu Đơn Xuân và Liên Hoa Xuân. Sau khi vào cung, Lan Nhi trở thành Tây phi và bắt đầu kế hoạch “nhổ gai” của mình. Đầu tiên một đêm trước khi đến nơi hành lạc với nhà vua, Hạnh Hoa được một nữ tì dâng một bình xuân dược và nàng đã uống và chết ngay sau đó. Khi các ngự y khám nghiệm tử thi, họ tuyên bố nàng dùng xuân dược… quá liều. Người thứ 2 là Mẫu Đơn Xuân. Cô nàng thiên hương quốc sắc này không uống xuân dược, nhưng chết khi đang xông trầm hương. Độc dược Tây cung gửi đến được trộn vào trong đó, và hơi độc đã thẩm thấu qua da, khi nàng đang khỏa thân ướp hương để hầu hạ hoàng đế. Người thứ 3 là Hải Đường Xuân, nàng này thích tắm sữa tươi vào sáng sớm, và một sáng xuân nàng đã ngủ yên trong bồn tắm đầy sữa lừa mà không hề biết rằng viên thái giám hầu hạ mình đã cho độc dược vào đó.
Chỉ còn lại Liên Hoa Xuân. Hàm Phong đã nghi ngờ bèn đem nàng đến một khu vực khá cách ly trồng đầy hoa vì Liên Hoa Xuân thích hương hoa trong vườn ngự uyển. Nhưng người đẹp này đã gục chết bên những đóa hoa đang nở rộ sau khi ngửi một đóa lan quý. Theo nghiên cứu về độc chất sau này, độc dược mà Từ Hy dừng chỉ cần 1 giọt nhỏ thơm tho, ẩn trong nhụy hoa, đủ giết một con bò. Dù vậy, tất cả các cái chết kể trên đều được ngự y đưa ra những kết luận khác nhau, và Lan Nhi đều vô can. Sau khi Hàm Phong chết, nàng thẳng tiến thành Từ Hy thái hậu, tất nhiên con đường đó đầy xác người (kể cả con đẻ của mình) phải ra đi vĩnh viễn từ độc dược của nàng.

Rảnh kể chơi câu chuyện xưa xứ Tàu nhân chuyện một doanh nhân xinh đẹp của VN, là bà Hà Thúy Linh vừa bị hậu duệ của Từ Hy đầu độc. Ở gần một “độc thủ đại bịp” như vậy, nhưng người Việt, từ quan tới dân đều thiếu cảnh giác nên cực kỳ nguy hiểm. Họ đang đầu độc chúng ta bằng thực phẩm, đồ chơi, hàng tiêu dùng… và có vẻ đang chờ nạn nhân ngáp ngáp sẽ vung đao lần cuối.

Bất hạnh đã nhìn thấy, liệu có tránh được hay không?

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Ở HUẾ NHỚ PHƯƠNG

phuongtan

Ơi mắt hiền đen mắt buồn dưới phố
Không mắt nào buồn,
buồn hơn mắt Phương
Phố thả lầu cao phố trắng dị thường
Gió hót véo von cười nghiêng ngửa áo.

Gót lẫn trong sương sầu bay ảo não
Trời cũng trầm trầm thơm ngát da Phương
Cánh trắng choai choai phơ phất trong trời
Ơi Phương ơi Phương anh về nhóm lửa.

Xin dấy cho cao hồn reo từng bữa
Để lấy thơ hồng thắp sáng thân Phương
Sương sẽ vàng phai chảy xuống êm đềm
Mắt sẽ hiền vui nằm ve vuốt nắng.

Thơ thắp cho cao soi tay lụa trắng
Phương đứng bên trời chải tóc trong mai
Nắng thả lầu cao nhỏ xuống hai vai
Chim cũng chuyền vui reo đầy vạt áo.

Anh vuốt thân Phương ăn từng hạt bão
Anh ăn sầu em cho hết cô đơn
Yêu Phương của anh bằng nước mắt này
Chăn con chiên anh chăn từng sợi tóc.

Những lúc Phương biếng ăn
biếng ngủ
biếng chơi
hay Phương hờn khóc
Anh đấm ngực mình đổ tội cho anh
E Phương gầy thêm mắt có còn xanh
Mắt có còn xanh nằm ve vuốt nắng.

Ơi Huế buổi mai buổi chiều nhớ chi nhớ lạ
Ngại quê mình trời trở lấy ai hôn
Ai bồng Phương anh ngại má phai hồng
Ai khẽ đậu cho mây trời xuống nhạc.

Ớt chi không cay muối chi không mặn
Má lúm đồng tiền bảo chi không thương
Mùa thu quê mình thường mưa không Phương
Sao lệ anh rơi dù chưa kịp khóc.

Sao mây bay bay cho anh tưởng tóc
Sao trời xanh xanh cho nhớ dáng Phương
A người ngày xưa bảo có thiên đường
Anh e thiên đường nằm trong mắt ngọc
Ngọc những buồn buồn vì Phương hay khóc
Công chúa khóc nhè là Phương của anh !

Phương nghe đó trời thu lên lành lạnh
Lòng cũng vàng theo lá ở trong cây
Vui cũng bay theo gió ở trong ngày
Một chút lệ thêm chút buồn vừa chín.

Nhớ chi lạ biết môi còn mũm mĩm
Cắn ô mai răng là lúa ở trên trời
Tay cầm lược là lụa ở trên mây
Mắt là ngọc ở trong thu vừa trổ.

Buồn chi lạ buồn không ai buồn hộ
Hồn vi vu bay khuất ở trong trăng
Ngậm chút gió chừng có hơi Phương thở
Phương là sương hay sóng vỗ trong anh…

PHƯƠNG TẤN (Huế 1964)

Hương Cau

nguyenducbatngan

nghe nhau về giữa yêu thương
với tà huy rạng bình thường hôm qua
hẹn từ nghìn ải truông xa
thềm đông phấn đượm trên tà áo đưa
tìm nhau về giữa ban trưa
khơi con nắng dậy cho vừa ái ân
gọi nhau trong mắt thánh thần
này em thơ dại tinh ngần hương cau
gọi trời xanh gọi biển dâu
nguyền sao cho trọn một màu ban sơ
nằm ru từng thuở tình chờ
anh nằm im giữa dại khờ quặn đau
gọi ngàn xưa gọi ngàn sau
gọi em cổ lụy gọi sầu theo anh.

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

Nợ một điều không nói

quanduong

Núi kết núi dáng em nằm xõa tóc
Đợi chờ ai mà năm tháng mõi mòn
Thành phớ biển cùng em trong tiềm ức
Ta nhớ mình còn có một cố hương

Cố hương với cánh chim trời bay lạc
vào hồn ta hót tiếng hót nhẹ nhàng
Chia tóc em thành hai bờ trái đất
Nửa ở bên này nửa ở Nha Trang

Nửa ở bên này dòng sông em chảy
Len êm đềm qua ngõ ngách đời ta
Có chuỗi nắng ai xâu từ ký ức
Đeo nụ hôn lên gò má trắng ngà

Có giọt biển xưa chạy vòng khoé mắt
Như bóng hoàng hôn quanh quẩn nỗi sầu
Từ New Orleans ngồi nhớ về cổ tháp
Nối nụ buồn vào mắc xích hư vô

Chiều xa xứ vàng hồn ai vật vã
Rót thời gian xuống dòng nước xanh trong
Con đường cũ hỏi khi nào trở lại
Để bao giờ biển mặn được vầng trăng

Mơ một giấc mơ về một thành phố
Cổng nhà ta xưa dĩ vãng chứa đầy
Có tiếng guốc em đi từ một buổi
Cùng lời thề ước nguyện ở đâu đây

Cuộc sống vốn có nhiều điều khác biệt
Cuộc đời ta và em chẳng giống nhau
Ta có một tuổi thơ đầy khánh kiệt
Tuổi thơ em dòng sữa ngọt ca dao

Ta trải qua thời chiến tranh đói khổ
Thành trái cây lột vỏ vứt ngoài đường
Em là giọt sương bón ta nhú rễ
Nứt xuân thì trên cuối biển đầu non

Rừng hành quân xưa mùa này sim nở
Nghe bên tai tiếng bìm bịp kêu chiều
Nỗi thấm đó giải thích sao em hiểu
Dĩ vãng của ta buồn như tương lai

Mưa xuống núi trôi Nha Trang ra biển
Xưa bày em môn đánh lưới ái tình
Tay lớ ngớ bủa ra ngoài vô vọng
Mõi mắt trông vời đã mấy mươi năm

Ta mắc nợ em một điều không nói
Cuộc sống khiến ta phá sản ngôn từ
Đêm chắc lưỡi tiếng thạch sùng quá khứ
Nếu có luân hồi xin hẹn kiếp sau

Quan Dương

TÌNH CŨ

ms8SH5AryqIcp18c-lnGIWA

“Năm đó anh 45 còn nàng 27, kém anh 18 tuổi.”
“Lại một chuyện tình không có gì?”
“Không, rất có gì là đằng khác”.
“Vậy em nghe, kể đi”.

Thung lũng tinh mơ lung linh huyền ảo dưới kia, tôi đang ngồi trong một quán vắng ấm áp trên đồi, bên khung cửa kính trong suốt phóng xa tầm nhìn. Sát bậu cửa là chùm dây leo thả một loại hoa màu cam tươi có hình dạng những chiếc hài be bé. Một rừng hoa đào bàng bạc xa xa đang đâm chồi nảy lộc chuẩn bị khoe sắc. Triền đồi phủ đầy cỏ xanh mịn màng, từng vạt hoa tim tím đọng sương bâng khuâng. Những ngón tay của tôi buốt lạnh khi tháo găng ra để chạm vào bàn phím. Nhạc êm đềm rơi từng giọt từng giọt như cà phê, và lòng thì đang rỗng.

“Nàng và anh tình cờ gặp nhau, hay nói cách khác là một sự sắp đặt của số phận cũng được. Nàng đẹp, đã có sự nghiệp riêng, tuổi thanh xuân phơi phới, và một gia cảnh đáng mơ ước. Rồi chẳng hiểu thế nào nàng lại đâm đầu vào yêu anh, một thằng đàn ông có vợ hai con, nặng nợ đủ đường.
“Dễ hiểu mà, không thành vấn đề đâu”.
“Ừ. Nàng yêu anh vô điều kiện, không cần bất cứ cái quái gì, chỉ cần những giây phút hiếm hoi ở bên anh.”
“Cái này em cũng hiểu luôn, những chiếc bóng bên đời như thế này cũng không phải là hiếm lắm, dù chỉ tồn tại khi còn…ánh sáng”.
“Phải. Dù anh đã nói rất rõ, anh không thể bỏ gia đình, công việc, vị trí xã hội.”
“Cô ấy sẽ nói là cô ấy yêu luôn cả cái lý trí của người đàn ông từng trải. Một người đàn ông chỉn chu với gia đình luôn hấp dẫn phụ nữ nói chung.”

Yêu một người đã khổ, yêu phải một người chằng chéo ràng rịt bao nhiêu thứ dây nhợ thòng lọng thì đúng là sống trong mơ khỏi tỉnh luôn. Vậy mà càng yêu hơn, càng điên hơn, càng tung tăng đắm đuối trong cái cõi mơ của riêng mình hơn. Cái hạnh phúc càng chắt mót, càng cân đo rị mọ càng ngời ngời. Và rồi, khi ánh sáng phụt tắt…

“Lúc đó anh tưởng bở, và chấp nhận, tại sao không. Bỗng dưng lại có một món quà từ Thượng Đế. Chẳng mất mát, sứt mẻ gì cả. Mọi cảm xúc tươi rói cứ ồ ạt ập đến, nhấn chìm rồi cuốn phăng đi. Anh và cô ấy đã có với nhau ba năm ngất ngây bay bổng, như trên thiên đường.”
“Thăng hoa những ba năm, lâu hơn em nghĩ đó”.
“Ừ, tiếp theo là hai năm địa ngục, sống không bằng chết”.
“Chỉ có hai năm thôi sao?”
“Thật sự là địa ngục, từng giờ từng ngày trong hai năm tiếp theo. Cô ấy buộc anh phải luôn có mặt khi cô ấy cần, buộc anh phải ly dị vợ, và chỉ cần anh tay trắng bước ra khỏi nhà. Tất nhiên, anh không đồng ý, anh không thể đẩy người thân của mình qua bên kia chiến tuyến. Men tình trong anh đã cạn khi cô ấy bật thốt giữa lúc tuyệt vọng, bây giờ em chỉ mong cho chị ấy chết đi để anh cưới em.”

Lần đầu tiên được anh run rẩy nâng mặt lên tìm môi hôn, tôi cũng chẳng nghĩ gì được ngoài cảm giác vũ trụ này đang tan biến. Chỉ còn lại hai người. Ước gì thế giới này chỉ có anh và em.

“Điên rồ.”
“Và nàng đã tìm cách giết vợ anh thật, khi quyết định gặp mặt riêng và nói tất cả.”
“Phải, sẽ đến lúc thế thôi. Chiếm đoạt luôn là cái đi theo sau giai đoạn tình yêu dâng hiến.”
“Ừ. Đêm đó vợ anh bỏ nhà đi luôn, lần đầu tiên trong đời. Hôm sau cô ấy về, với bộ dạng của một người vừa ngược cầu Nại Hà.”
“Thật kinh khủng.”
“Vợ anh đã kịp dừng lại ý định quyên sinh để quay về nhà, và không nói gì tới anh trong suốt sáu tháng sau đó.”
“Chị ấy thật vĩ đại.”
“Đến lúc đó thì anh hoàn toàn tỉnh táo. Nhưng quyền chấm dứt không thuộc về anh nữa. Nàng vẫn điên cuồng phải chiếm giữ anh bằng mọi giá.”
“Yêu mà.”
“Nàng muốn anh cùng chết với nàng, để cả hai được tự do tuyệt đối ở bên nhau trong thế giới mới. Hoặc nàng biến thành sương khói, để có thể quẩn quanh mãi mãi bên anh.”
“Ý kiến hay”.
“Em đã từng nghĩ như thế sao?”
“Ơ, ai lại chẳng từng mong được đời đời kiếp kiếp bên người yêu dấu chứ.”
“Không phải là chuyện đùa đâu, nàng thực sự muốn vậy, khi không còn cách nào bứt anh ra khỏi vợ con.”
“Bế tắc quá, cho tất cả.”
“Ừ, giá lúc đó anh chết được thì cũng chết quách, mà có khi chết rồi cũng nên, đang ở địa ngục mà.”
“Rồi sao, Diêm Vương chê hả?”
“Có thể em không tưởng tượng ra nổi tình cảnh của nàng, anh, và vợ anh lúc ấy. Ai cũng đòi chết, không chết lẻ thì chết chùm. Suốt ngày trong anh cứ vạ vật hình ảnh nàng hoặc vợ anh được vớt từ dưới sông lên, oặt ẹo bợt bạt. ”

Ngày ấy, khi rời anh tôi cũng đã từng bước đi trong một trạng thái vô hồn, không nghe, không thấy, không hiểu cái gì đang diễn ra trước mắt. Những hàng cây xà cừ đang mùa rụng lá vươn cành trơ trụi bỗng dưng đổ nhào xuống rối nùi lại. Những con người đi lại chung quanh bỗng hóa thành bóng ma dật dờ. Những ngã đường quen thuộc phút chốc biến thành mê lộ. Gió thổi bời bời tung tóe bụi cát, tôi liêu xiêu tả tơi còn tệ hơn cái bóng của chính mình. Thấy mình tan ra, bay là đà vô định.

“Em đã tưởng tượng ra xong.”
“Giữa lúc đó…”
“Đừng nói là có ai đó chịu hy sinh nhé, chuyện cổ tích!”
“Anh nghĩ là có. Nàng chỉ có duy nhất một đứa em gái, cũng xinh đẹp tài hoa và long đong chuyện tình duyên như chị.”
“Buồn thật.”
“Hai chị em cùng quẫn trí như nhau khi trút hết nỗi lòng về cuộc tình không lối thoát của mình. Sự tuyệt vọng bị nhân đôi thật đáng sợ. Cô em bị gia đình ép gả cho một ông tiến sĩ từ nước ngoài về, khi đã lỡ đem lòng yêu thương sâu đậm một anh thợ máy chưa học hết cấp 3.”
“Tình yêu thật khó giải thích.”
“Hai chị em đều muốn chết để được trọn vẹn sống với tình yêu của mình.”
“Em hiểu.”
“Đêm đó, sau khi khóc vùi bên nhau và trở về phòng mình, cô em đã treo cổ tự sát trước.”
“Mô Phật.”
“Cô bé mới 21 tuổi, chết vào giờ trùng. Gia đình phải khâm liệm ngay trong đêm. Trước khi đóng nắp áo quan, cô được trát sơn đỏ bê bết lên mặt, và thi hài được đặt nằm sấp. Người ta giải thích, để linh hồn cô bé không phải quay về, và sẽ vất vả để nhận ra mình là ai, sẽ đời đời úp mặt vào đất, đi thẳng vào lòng đất.”
“Em đang lạnh hết cả sống lưng đây.”
“Anh cũng vậy.”
“Số phận cả, thật độc ác.”
“Và thế là mọi chuyện kết thúc trong kinh hoàng đến rã rời và câm lặng. Cô bé đó đã cứu được chị mình.”
“Và cả anh.”
“Ừ, cái giá phải trả quá đắt và thê thảm.”
“Cuối cùng cũng chỉ có mình mới giải thoát được mình ra khỏi ngục tù tình yêu thôi anh ạ.”
“Em nói ai?”
“À…tất cả chúng ta.”
“Thực sự, anh không dám hình dung ra cái kết thúc này, anh không hề muốn làm tổn thương ai. Anh thật chẳng ra gì.”
“Tình yêu không có lỗi.”
“Nếu là em thì sao?”
“Em là em hay em là anh?”
“Nếu em là anh.”
“Nói thật là em không biết, nhưng với bất kỳ cái guồng quay định mệnh nào, lỡ sa vào rồi thì chỉ cần một người chịu dừng lại là sẽ thấy rơi ra lắm thứ linh tinh, may ra thoát được.”
“Em đã như vậy bao giờ chưa?”
“Nếu là em thì khỏe rồi, làm gì để tới nước đó, chỉ cần có ai đó tổn thương vì cái sự yêu đương nhăng nhít của mình thì em bỏ của chạy lấy người ngay.”
“Xạo.”

Vì điều này mà tôi khốn đốn, nhưng tôi chưa bao giờ hối tiếc hay ân hận vì phải tự mình băng bó chữa chạy cho chính mình.
Tôi nâng tách cà phê lên nhắp một ngụm nguội ngắt. Những ngày mùa đông trở gió, lạnh giá và xám xịt luôn làm tôi nhớ đến anh, người đàn ông đầu tiên tôi yêu. Nhưng hôm nay lại là một ngày đông hiếm hoi có nắng ấm rất đỗi dịu dàng, nắng vàng sánh như rót mật, nắng long lanh trong veo lay động từng mắt lá. Từng cơn gió không ngừng lả lướt uyển chuyển cuốn vào nhau chạy từ triền đồi xuống thung lũng rồi dắt díu nhau trèo ngược qua bên kia đồi, tiếp tục cuộc chơi bất tận. Đâu rồi tình yêu của tôi?

“Hồi đó anh có yêu em không? ”

Không thấy anh trả lời. Tôi đồ rằng, một là anh vẫn giữ thói quen cũ, không bao giờ nói tiếng yêu dù đang yêu muốn chết, hai là, có thể anh không biết tôi đang là ai.
Tôi đóng laptop lại và thong thả mang găng tay vào, cà phê một mình vẫn thú vị. Quán vẫn vắng và vẫn ấm áp. Đời hãy còn rất dài.

ÁI DUY

HOẠ SĨ THANH TRÍ (Trích “Bên kia con chữ & nghệ thuật”- xuất bản tháng 12/15),

dangphuphong

Thanh Trí

Tiểu sử: Sinh 1939 tại Hue Vietnam
Tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật Huế 1961
Tốt Nghiệp Khóa “Sư Phạm Hội Họa” tại Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, Sài Gòn 1962.
1987 Định cư tại Hoa Kỳ (Sacramento, California)
1993 Tốt nghiệp Cosumnes River College California USA in Design Drafting 1993
Đã dạy vẽ 24 năm tại các trường Trung học ở Nha Trang, Nguyễn Du, Văn Hiến- Saigon
Giải thưởng:
The League Of Carmichael Artists Presents (Silence Color )
Sacramento Fine Art Center (Old Man)
California Art League (Reflection)
The League Of Carmichael Artists Presents (The Nature’s Color)

Chợ Tết
Chợ Tết Đầu Làng- Tranh sơn mài

Đã triển lãm: California State University of Sacramento
1991 Consumnes River College,Sacramento
-Sacramentp fine art center
– Silk painting exhibition, Eastwest gallery, Maryland
– De Anza College gallery, San Jose-State Capital, Sacramento
– Philippine-Noumea, Nouvell Caledonie
– Cal Expo, Sacramento
– San Jose Museum of Art, group show
-Work Gallery, San Jose-group show
– VAALA Gallery Garden Grove
– Vietnamese female Artists Pomona- group show
– La Galeria, San Jose-group show
– 2005 San Jose, California
– 2007 Triển Lãm 50 năm Cao đẳng Mỹ thuật Huế Việt Báo Gallery
– 2009 – Triển Lãm Tranh thanh Trí “ Đôi Bờ”
– Stream Of Thought .VIVO Center SanJose.
– DanChi Art Gallery Westminster, CA USA. Etc
Tác phẩm đã xuất bản : “Tập Tranh và Thơ Thanh Trí “ tại Hoa Kỳ, 2004.

THANH TRÍ và Triển Lãm Đôi Bờ

Hành trình của đá
Hành Trình của Đá , sơn dầu.
Mùa thu: vàng.. Vui thì ửng đỏ và lấp lóe đâu đó chút xanh biên biếc. Buồn thì vàng đen , vàng nâu, vàng đất, vàng …đá . Ít thấy họa sĩ nào diễn tả mùa thu mạnh và đầy góc cạnh như Họa sĩ Thanh Trí. Mạnh nhưng không thô, cái mạnh của lực tạo hóa. Góc cạnh vì cái nhìn , cảm nhận đa chiều đối với một không gian xơ cứng , trầm uất. Mùa thu có trọng lượng, sức nặng ở những chiếc lá rơi, ở những giọt sương làm trĩu những chiếc lá sen già nua. Ngắm những bức tranh mùa thu của Họa sĩ Thanh Trí, người xem thấy được những hang hóc hoang vu sổng người lên chịu đựng đám lá mục thời gian qua những nhát cọ khá hào phóng. Điều nầy càng dễ thấy hơn qua bức tranh Hành Trình Của Đá. Trong những hình khối đa dạng, chập chùng đè lẫn lên nhau tạo nên ấn tượng hổn mang của thời hoang sơ lập địa , mời gọi người xem hòa mình vào cảnh trí của bức tranh, để cùng bước theo hành trình của đá. Có hành trình của đá thì cũng sẽ có giấc mơ của đá. Đá cũng là tôi là anh là mọi người.

Hình của bài
Mời Trầu- Tranh lụa

Nhưng tranh sơn dầu của Thanh Trí không chỉ như vậy. Qua những bức tranh vẽ chân dung , người ta dễ thấy cách xử dụng màu sắc của bà khá đa dạng, nhưng vẫn không đi khác đi cái gam màu so với các tranh khác, dù đó là tranh trên lụa hay màu nước trên giấy. Bức tranh Gặp Gỡ, tranh màu nước, bà vẽ hai con gián chụm đầu nhau trò chuyện trong môt bối cảnh mờ nhạt nhưng vui mắt . Người xem sẽ tha hồ tưởng tượng hai con gián đang nói chuyện gì. Ngụ ý trong tranh Thanh Trí rất nhiều. Những chim bồ câu, những thiếu nữ, những thiếu phụ trong tranh của bà là hiện thân của sự thanh bình và thương yêu. Có lẽ xuyên suốt bao nhiêu tranh của bà là sự nhắc nhở, ca tụng tình yêu để chúng ta có được một thế giới an bình.

Tôi tin rằng trong hơn hai mươi năm dạy hội họa, tính cách sư phạm rất ảnh hưởng trong bố cục tranh của bà. Có sự kềm hãm và nhẹ nhàng trong những bức tranh mà thoạt tiên ta có thể nghĩ rằng bà đang phóng bút. Cho dù đâu đó nét tiểu thư của một thiếu nữ Huế thoáng ẩn hiện trong tranh của bà. Từng ngần ấy điều kiện khách quan cùng với một tâm hồn nhạy cảm, say mê nghệ thuật đã tạo cho tranh Thanh Trí một nét khá riêng.Thời Thanh Trí học trường Mỹ Thuật Huế, thời các cô gái Huế khi ở nhà thì kín cổng cao tường , ra đường luôn luôn cúi mặt, khép nép, tay lúc nào cũng sẵn sàng chực giữ lấy tà áo dài bị gió thổi tung bay thì chắc bà cũng đã từng phải đối phó gay go để theo đuổi con đường nghệ thuật đầy thơ mộng của mình. Sự thơ mộng đó trãi đều trên chiều dày tác phẩm của bà, nhất là trên tranh lụa. Không khí tranh lụa của Thanh Trí thật lãng đãng, huyền hoặc và có lẽ tất cả những đôi mắt thiếu nữ trong loại tranh này bà đều diễn tả nó thật diệu vợi xa xăm hướng về một chân trời riêng tư nào đó.

Khó mà xác định được khuynh hướng của Họa sĩ Thanh Trí. Về tranh sơn dầu có lúc thì bà ẩn mình trong Tân Cổ Điển (Neo-classic) lúc thì Trường Phái Biểu Hiện ( Expressionism) lúc thì Trừu Tượng Biểu Hiện (Abtract Expressionism) vân vân. Bà còn vẽ Sketch , tranh sơn mài và tranh thơ (xin tạm gọi như vậy để chỉ loạt tranh vẽ bên cạnh những bài thơ của bà) Ở thể loại nào bà cũng vẽ với tất cả tấm lòng , nét cọ nhanh mạnh nhưng vẫn thể hiện được nét dịu mềm của một tâm hồn đầy thơ mộng. Nhưng nếu phải chọn loại tranh nào là thành công nhất của bà có lẽ tôi xin chọn tranh lụa . Thật vậy Thanh Trí đã đưa được vào tranh lụa của bà cái nét đặc biệt nhất của loại tranh này là nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm, huyền hoặc nhưng tươi mát. Thêm một chút tim tím đặc trưng của Huế bà đã đưa tranh lụa của bà đi sâu vào lòng người thưởng ngoạn.

ĐẶNG PHÚ PHONG

Quà Giáng Sinh Cho Bé Ly

luuthy

Bố vẫn chưa tới! Bố lúc nào cũng trễ! Để rồi xem, gặp mình lại nói cái câu như thường lệ “Ly chờ bố có lâu không? Gớm! Chiều thứ sáu xe lúc nào cũng kẹt!“ Cô giáo hồi nãy chúc mình Merry Christmas, dúi vô tay mình món quà nhỏ rồi dặn mình đúng ngày Giáng Sinh mới mở ra. Cô hình như có hơi ngập ngừng muốn hỏi điều gì rồi nghĩ sao lại thôi. Mình biết cô muốn nói gì. Cô sợ mình buồn. Mình chúc cô và gia đình một mùa Giáng Sinh vui vẻ đầm ấm bên người thân. Cô chỉ cười rồi gật đầu cảm ơn. Cái cười của cô sao mà buồn buồn. Chúc mừng sao lại buồn? Cô buồn cho mình, mình biết. Chỉ có cô là hiểu mình nhiều nhất. Cô ơi, Ly chúc thêm cô một lần nữa một đêm Giáng Sinh sum họp vui vẻ với người thân.
Giờ này mà bố vẫn chưa chịu tới. Hai con chim bồ câu đang rỉa lông bên bồn nước phía bên kia. Con nào là bồ câu cha con nào là bồ câu mẹ đây? Còn có con bồ câu nho nhỏ bé tí đang quanh quẩn bên cạnh nữa. Bồ câu con ơi, mi hạnh phúc hơn Ly nhiều.
Bên tay phải phía xa xa có hai cô chú đang ngồi thì thầm tâm sự. Sao cái chú ấy có cái gương mặt xương xương dài ngoằn giống bố đến lạ kỳ. Còn cô kia không giống mẹ một chút nào hết, chỉ ngoại trừ cái xắc tay. Mẹ với cô chắc cùng rủ nhau đi mua một chỗ một nơi. Ơ, hai cô chú vẫy tay chào mình kìa, thôi mình chào lại rồi nhìn sang chỗ khác đi, mẹ bao giờ cũng dặn “Chớ có nhìn người lạ đăm đăm trừng trừng như vậy làm người ta khó chịu, là không tốt, là bất lịch sự.” Bố thì lúc nào cũng dễ chịu, với bố sao sao cũng được. Bố giờ này đi tới đâu rồi? Bố ơi là bố, bố của Ly sao giờ này vẫn chưa tới!

– Con bé kia đang nhìn hai đứa mình kìa. Con bé con trông dễ thương chi lạ, mà sao anh thấy cái gương mặt của nó buồn buồn làm sao. Em có thấy vậy không? Sau này em thích có con trai hay con gái?
– Ờ ! Dễ thương mà buồn. Để em vẫy tay chào nó. Nó ngồi một mình chắc đang chờ bố mẹ tới đón. Chờ lâu không thấy tới nên giận là đúng rồi.
– Em chưa trả lời anh. Em thích con trai hay con gái?
– Đồ quỷ! Em thích cả hai, một trai một gái. Như vậy được chưa ông nỡm.

Chết cha! Lại trễ nữa rồi. Vẫn cái tật lừng khừng cố hữu, đã tính trước rồi mà không chịu mua ngay, cứ để cho tới cận ngày, nước tới chân mới nhảy, rồi mới ghé mua quà Giáng Sinh cho con bé. Ly giờ lớn rồi, hết còn là bé con, mấy con búp bê với gấu nhồi bông giờ hết còn hiệu nghiệm. Quần áo thì chỉ có mình Liên là biết cách chọn. Liên? Lại Liên! Con bé kín như bưng không hé lộ một điều gì về Liên. Thôi, nghĩ chuyện khác đi. Cái ông bố là mình đây thật là kì cục! Mua cho con gái cái gì đây mà cũng không biết. Con gái thích gì cũng không hay. Bố ơi là bố. May là vừa rồi nghĩ ra được cái cách nhờ cô bán hàng chọn giùm một món gì đó rồi gói lại hộ luôn. “Cô cứ chọn rồi gói lại, nhớ đừng cho tôi biết là món gì. Tôi cũng muốn ngạc nhiên bất ngờ thích thú như con bé.” Cô bán hàng có trố mắt nhìn mình. Chắc lại có chuyện để kể về cái ông khách dị thường hôm nay mà từ trước đến nay cô chưa bao giờ gặp. Cô ta có vẻ tò mò muốn hỏi thêm nhưng ngại ngùng. Cô không hỏi tội gì mình phải khai, mà dù có hỏi, mình biết trả lời sao đây.
Xe đâu mà nhiều quá vậy trời. Đâu phải chỉ có một mình mình, cũng còn khối người chờ cho tới cái ngày cuối cùng rồi mới hớt hơ hớt hải chạy đi mua quà Giáng Sinh cho người thân. Chiều thứ sáu mọi khi lúc nào cũng kẹt xe, huống hồ là ngày này. Đã trễ hơn gần tiếng đồng hồ rồi. Xe cứ chạy nhích nhích nãy giờ. Thôi gắng chịu đựng thêm luồng xe này nữa, qua cái ngả rẽ tới là xong.
Nó kia rồi! Tội nghiệp con nhỏ.

– Ly chờ bố có lâu không? Gớm! Chiều thứ sáu xe lúc nào cũng kẹt!

***
– …
– Bố ơi, bố cho con mượn chiếc vớ lớn của bố đi.
– Đống vớ sạch bố để trong ngăn kéo bên cạnh bồn rửa chén. Mà con lấy để làm gì?
– Bố lúc nào cũng bê bối, đồ đạc để lung tung, thảo nào mẹ… mà thôi… con dùng để treo trên lò sưởi cho ông già Noel.
– Con xin ông món gì. Con có chắc là ổng sẽ cho không?
– Con có để lá thư trong chiếc vớ. Con tin ổng sẽ cho con.
– Một mình ổng làm sao lo cho xuể. Cả thế giới biết bao nhiêu là đứa con nít như con mà ổng thì chỉ có một mình.
– Đâu phải chỉ có một ông già Noel đâu bố. Bố biết Tề Thiên Đại Thánh không? Ông già Noel cũng giống như vậy, một sợi râu của ổng là biến ra biết bao nhiêu là ông già Noel.
– Lỡ ổng quên cái laptop với GPS ở nhà rồi không biết đường tới thì sao?
– Con có email dặn trước rồi. Con nói tối nay con về nhà bố. Con đi treo chiếc vớ có lá thư con gửi ông già Noel đây. Bố hứa với con bố không được đọc. Bố hứa?
– Ừ, bố hứa.
– Bố nhớ đó. Bố hứa không được đọc. Good night bố.
– Good night con.

Giờ này Liên có còn thức không đây? Gần một giờ sáng rồi còn gì. Đi vội đi vàng quên mang cả cái áo khoác ngoài, trời lạnh và tuyết đang rơi lất phất ngay đúng đêm Giáng Sinh. Đã hứa với con nhỏ là không được đọc thư nó gửi cho ông già Noel, mà lại tò mò chờ nó ngủ say, rồi lén la lén lút như tên trộm, rồi lại còn cẩn thận không dám mở đèn, bật đèn pin lấy thư ra mà đọc. Cái tội thất hứa với con nít là cái tội lớn. Con đây vô số tội, thôi thì một năm 365 ngày Chúa tha tội cho con một lần. Nhà Liên ở phía trước kia rồi. Vẫn còn ánh đèn ở bên trong. Liên ở một mình hay với ai đây? Con bé kín miệng không bao giờ hé răng cho biết mẹ giờ đang làm gì ở với ai. Có ỡm ờ hỏi bóng hỏi gió nhưng con bé cứ làm lơ đánh trống lảng. Có nên gõ cửa không đây? Giờ cũng đã lỡ tới rồi, chân cũng đã đặt ngay bên ngạch cửa. Thôi thì một liều ba bảy cũng liều. Cứ gõ cửa rồi tới đâu hay tới đó …
….
– Con bé có chuyện gì phải không? Gặp chuyện gì phải không?
– Không có chuyện gì. Nó đang ngủ, anh có cái này muốn cho Liên coi.
– Anh vô trong nhà đi. Anh biết giờ này là mấy giờ không?
– Anh biết! Một giờ sáng. Xin lỗi em, nhưng anh không chờ được. Đây là lá thư con bé gởi cho ông già Noel bỏ trong chiếc vớ treo ngay trên lò sưởi. Liên đọc đi.

Nhìn Liên đọc thư con bé rồi ôm mặt khóc mình muốn ôm Liên vào lòng nhưng sao vẫn cứ đứng yên, tay chân bất động, không làm gì được. Có phải chúng ta đã không còn như ngày xưa. Liên cứ ôm lá thư mà khóc ròng còn ta cứ đứng đó mà nhìn. Khoảng cách chưa tới nửa sải tay mà sao chúng ta cứ như là trùng trùng xa cách.
Đưa tay đóng nhẹ cửa rồi ra về nhưng sao ta vẫn cứ như nghe thấy tiếng thút thít của Liên văng vẳng bên tai. Ngoài trời đêm tuyết lất phất rơi, đèn đường vàng vọt, đêm Giáng Sinh vắng vẻ im ắng, trên đường đơn độc một mình ta.
Con bé vẫn đang ngủ say.
Ông già Noel của bé, ông đang ở nơi nao?

***

– Bố ơi bố…
– Gì con?
– Ông già Noel lấy lá thư của con đi rồi mà không để lại gì hết, con kiếm khắp nhà rồi mà không thấy quà.
– Con xin cái gì? Có thể điều con xin ổng thấy khó kiếm quá nên ổng hẹn lại sang năm chăng? Ổng có để thư trả lời lại không?
– Không để lại gì hết. Con không tin là ổng làm không được. Con gửi thư cho ổng mỗi ngày đều cầu xin một thứ như nhau. Ổng có làm việc ban ngày không hở bố.
– Cái này bố không biết. Hình như chỉ ban đêm, bố nghĩ vậy.
– Hôm nay mà không có vậy là con phải chờ thêm 365 ngày nữa sao bố.
– Ơ …ơ … Bố cũng không biết nữa. Có lẽ vậy … Mà hình như có ai đang bấm chuông kìa. Chắc lại là ông già hàng xóm hay chạy qua mượn bố đồ nghề sửa chữa. Bố đang bận tay, con lại mở cửa xem thử, nhớ Merry Christmas ông ta.
– Có khi nào là ông già Noel không bố? Để con lại mở cửa…

– Bố ơi bố! Bố ra đây mà xem… Con đã nói mà, ông già Noel không bao giờ quên ai hết. Ông già Noel tặng cho con món quà con yêu cầu. Cảm ơn ông già Noel… Bố ơi bố …ra mà coi món quà Giáng Sinh ông già Noel tặng con nè bố… bố ơi bố ơi … Mẹ vô đi … Mẹ đưa cái xách tay con phụ mẹ mang vào. Bố ơi bố ơi …

Lưu Thy

Noel Mưa

tranvanle

Có thể đêm nay mưa – điều không ai chờ đợi. Nhưng kìa…mưa sắp tới: mây đã mờ tháp chuông!
Có thể đêm nay buồn…vì máng cỏ sẽ ướt và câu chúc ơn phước cũng ướt sũng vì mưa?
Gió lật Kinh từng tờ, nước mắt từng giọt nhỏ. Những chùm hoa Lys nở chứa biết bao yêu thương…
Mẹ ôm chặt lấy con, đầy ắp lòng nhân ái. Những vì sao thức dậy, mây trời bắt đầu tan…
Người ta thấy vầng trăng hiện ra cùng với Chúa. Người ta nghe lời hứa của Thượng Đế. Chuông rung!
Những tiếng Kinh Kính Mừng vang vang đêm về sáng. Một ngày mới đang rạng. Một đời mới mở ra…
Cơn mưa có lướt qua rồi đã bay về núi. Những con cừu cắm cúi gậm cỏ non mùa Xuân…
Noel vào cuối năm. Tuần sau là Năm Mới. Những cơn mưa sẽ tưới xanh cánh đồng Tân Niên…
Em ơi em em em! Cơn mưa là bước dạo của đêm Chúa ra đời. Anh muốn em mỉm cười cho Ngày Vui Mở Hội…
Ngày vui: Ngày Năm Mới. Rồi ngày nào cũng vui. Non nước ta đẹp tươi. Thế giới rồi rực rỡ…
Anh chúc em thế đó! Anh hôn em chỗ nào…hỡi đôi má hoa đào mà Ba trồng trước ngõ…
Nhớ…những nụ hoa nở, Mạ hái chìa cho Ba. Cũng nhớ…ngày em xa, hồi đó em, mười bảy!

Trần Vấn Lệ

Giáng Sinh

tonnuthunga

Đêm Giáng sinh trăng tròn kỳ diệu,
Soi đường đi cho kẻ không nhà
Tìm nơi trú như ngàn năm trước
Theo lối mòn trôi dạt phương xa.

Đêm Giáng Sinh người người vui vẻ
Ăn đầy mâm những món ngon lành
Dưới trăng rằm có người lạnh lẽo,
Co quắp nằm không một tấm chăn.

Đêm Giáng Sinh trăng soi đường nhỏ,
Ai ngậm ngùi cúi xuống nhìn con,
Những đứa bé vẫn còn thiếu thốn,
Bụng đói đêm nay dưới ánh trăng vàng

Nhìn đèn hoa sáng tươi rực rỡ,
Có ai nghe giai điệu điêu tàn,
Bom đạn phá quách thành rạng vỡ,
Những mảnh đời nay đã tan hoang!

Có ai nghe tiếng rơi của lệ?
Giọt lệ buồn lăn xuống cho con,
Thiên thần đâu chẳng còn hộ mạng.
Tặng cõi đời một chút hào quang.

Ngàn năm xưa có ngôi sao lạ,
Chắc là không sáng như đêm nay?
Trong bóng tối có người lữ khách,
Đi tìm hoài một chút hương phai.

Tôn Nữ Thu Nga

ĐÔI ĐIỀU VỀ MỘT NGƯỜI THẦY KHẢ KÍNH :Giáo sư Lưu Trung Khảo

phamtinanninh
12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

Giáo sư Lưu Trung Khảo, một người đã tham gia nhiều đoàn thể đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam tại hải ngoại, đã từ trần vào trưa thứ Ba, ngày 22 tháng 12, tại Quận Cam, hưởng thọ 84 tuổi.

Giáo sư Lưu Trung Khảo nguyên là giáo sư các trường trung học công lập Chu Văn An, Nguyễn Trãi Saigon và Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc). Giáo sư cũng từng giảng dạy tại các trường trung học tư thục Nguyễn Bá Tòng, Regina Mundi (Couvent des Oiseaux), Văn Khôi, Văn Học, Lyceum Cửu Long và Nguyễn Công Trứ.
Ngoài ra, Giáo Sư Khảo còn giữ các chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục của VNCH như Thanh Tra Trung Học, Thanh Tra Đặc Biệt Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Chánh Văn Phòng Thứ Trưởng Bộ QGGD, Chánh Chủ Khảo nhiều kỳ thi Trung Học, Tú Tài, và Hiệu Trưởng Trường Trung Học tại Kiến Phong.

Ông được ân thưởng Văn Hóa Giáo Dục Bội Tinh của Chính Phủ VNCH. Giáo sư Lưu Trung Khảo nhập ngũ khóa 24 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với cấp bậc Thiếu Úy, sau thăng cấp Trung Úy và biệt phái về phục vụ tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Ra hải ngoại, GS Lưu Trung Khảo tham gia nhiều đoàn thể đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Ông đã cùng phái đoàn qua Pháp, Anh, Thụy Sĩ tranh đấu cho thuyền nhân và nhân quyền.
Là một nhà giáo chuyên chính, GS Lưu Trung Khảo đã tham gia trong Ban Giảng Huấn các lớp Tu Nghiệp Sư Phạm, Chánh Chủ Khảo các kỳ thi Giải Khuyến Học, Giám Khảo các Giải Học Sinh, Sinh Viên Gương Mẫu, sáng lập và là Chủ Tịch Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức VN Tại Hải Ngoại.

Giáo Sư cũng có nhiều buổi hội luận trên đài Little Saigon Radio, Saigon Radio Hải Ngoại, đài VOA và đài Sống Trên Đất Mỹ, đài VNA/TV, chủ trương chương trình Phát Thanh Hải Triều Âm của Phật Giáo và là Trưởng Ban Tổ Chức Đại lễ Phật Đản nhiều năm tại Quận Cam, đồng thời cũng rất gắn bó với Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ.

gs-luu-trung-khao

Thời còn đi học, tôi không được may mắn học với giáo sư Lưu Trung Khảo. Thầy dạy ở Sài gòn và một vài trường ở các tỉnh miền Nam, tôi chỉ học ở Nha trang. Lúc vào lính tôi cũng chưa hề được gặp thầy, khi thầy có một thời gian trong quân ngũ. Thầy phục vụ ở Tổng Cục CTCT và Tòa Đô Chánh, còn tôi thì ở một đơn vị chiến đấu tại Vùng 2.

Sau 1975, Thầy định cư ở Mỹ, còn tôi ở mãi tận Bắc Âu, nên không biết những hoạt động của thầy. Sau này thỉnh thoảng đọc được một số bài viết của thầy, về chính trị, văn hóa và một số lãnh vực khác, tôi ngưỡng mộ một người hiểu biết rộng, rất nặng tấm lòng với quê hương dân tộc, và đặc biệt với các thế hệ hậu sinh. Thấy trước cái tên thật đẹp của thầy thường có kèm theo hai chữ giáo sư, tôi đi hỏi mấy anh bạn tốt nghiệp sư phạm, hy vọng đã từng là đồng nghiệp của thầy, cũng chỉ được biết có thời thầy dạy ở Nguyễn Trãi sau này là Chu Văn An, và cuối cùng về Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Ngoài ra tôi cũng được biết thêm về các hoạt động rất đa diện và tích cực của thầy từ khi thầy đến định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 2007, nhân dịp sang Cali thăm con và mấy người bạn cùng đơn vị cũ, tôi bất ngờ được nghe vài chương trình Phật Giáo Hải Triều Âm trên Little Saigon Radio, có giới thiệu một số truyện ngắn của tôi: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Tiểu Thơ, Đà Lạt Trời Mưa, Những Điều Mơ Ước… Người giới thiệu chính là giáo sư Lưu Trung Khảo. Tôi vui và hạnh phúc lắm, vì nghĩ mình chỉ mới tập tành viết lách, vậy mà được một vị giáo sư tiếng tăm giới thiệu và dành nhiều mỹ cảm cho các bài viết. Dù vậy, tôi cũng chỉ mới được nghe qua giọng nói từ tốn, mạch lạc và có sức lôi cuốn của thầy, nhưng chưa biết mặt thầy.

Đầu năm 2008, Tiến sĩ Trần Huy Bích, môt người tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết, đọc ở đâu đó một số bài viết của tôi, đồng cảm và dành cho tác giả một cảm tình đặc biệt. Giáo sư Bích đã liên lạc với tôi qua email, hướng dẫn và khuyến khích tôi nên tập trung các bài viết để in thành sách, và ông sẽ giúp tổ chức một buổi ra mắt sách tại miền Nam Cali. Tôi khá bất ngờ, vì đó là điều tôi chưa hề dám nghĩ tới. Hơn nữa lúc ấy tôi còn khá lạ lẫm với Little Saigon, và ngại ngùng trước bao chuyện bon chen. Nhưng qua chữ nghĩa và lời nói, tôi biết đây là một vị thầy mực thước, khiêm cung, có tấm lòng nhân hậu đáng kính. Tôi vâng lời thầy dù trong lòng chưa hết băn khoăn. Lâu nay, tôi nghĩ viết lách chỉ là một hình thức giải tỏa phần nào những ẩn ức còn đè nặng trong lòng, và cũng chỉ để chia sẻ với một số đồng đội cũ, những bạn bè có tên trong các câu chuyện kể hay cùng hoàn cảnh thăng trầm, thế thôi. Tôi chưa hề có ý nghĩ phổ biến rộng rãi những bài viết, huống hồ chuyện in thành sách và ra mắt tác phẩm.

Giáo sư Trần Huy Bích liên tục khuyến khích, giới thiệu tôi đến một số bạn bè khác của thầy, những nhà văn, nhà giáo lão thành có tiếng tăm, trong số đó có giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và giáo sư Lưu Trung Khảo. Lần đầu tiên nhận đựợc thư của thầy Lưu Trung Khảo, tôi vui và hãnh diện lắm. Không ngờ có một ngày được thầy gọi đến tên mình. Chưa gặp thầy, nhưng tôi cứ tưởng tượng và ái ngại, nghĩ mình từng là một đứa học trò dở, học hành nhếch nhác, liệu có xứng đáng được một vị thầy có tiếng tăm thương yêu, giúp đỡ.

Nhờ sự khuyến khích của giáo sư Bích rồi đến thầy Khảo, tôi mạnh dạn in tập truyện đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và xin chỉ xuất bản với mục đích góp vào quỹ Cứu trợ Thương Phế Binh VNCH. Điều mà tôi hằng ước ao, như để được trả phần nào món nợ máu xương quá lớn mà mình sẽ không bao giờ trả hết được.

Tháng 6/ 2008 tôi đến Mỹ. Giáo sư Trần Huy Bích tận tình giúp đỡ, đưa tôi đến gặp một số các cơ quan truyền thông: Little Saigon Radio, Radio Bolsa, Nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông, và đặc biệt gặp giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và Lưu Trung Khảo. Hai thầy đã đồng ý giới thiệu tác giả và tác phẩm, không những trên một số đài phát thanh mà còn trong buổi ra mắt sách tại hội trường Nhật báo Viễn Đông.

Lần đầu tiên tôi được gặp thầy Lưu Trung Khảo tại văn phòng Hội Quán Tả Quân Lê Văn Duyệt của thầy Nguyễn Thanh Liêm. Hai thầy đã hỏi tôi nhiều điều về gia đình, cuộc sống, đặc biệt chia sẻ những đau đớn mất mát mà tôi đã phải trải qua trong và sau cuộc chiến. Thầy Khảo cho biết đã đọc qua tập truyện “Ở Cuối Hai Con Đường” và dành cho tôi nhiều khích lệ. Hôm ấy, tôi cùng đi với một người bạn. Anh là một sĩ quan cùng đơn vị, rất hiền lành. Sau 75, khi anh vào tù chưa tròn một năm thì cô vợ đã bỏ anh để lấy một cán bộ Cộng sản. Điều đau lòng hơn là ngay sau khi vừa mới ra tù, anh bị cô vợ bất nhân bất nghĩa này nghe lời xúi giục của gã chồng mới, đưa anh ra tòa với lý do là thời gian ở tù 7 năm chưa đủ “đền tội ác” để xin tòa bắt anh vào tù trở lại. Đã vậy còn đầu độc và xúi hai đứa con đến chửi bới hổn láo và định đánh cả cha ruột của mình. Kể xong câu chuyện, tôi nhìn thầy Khảo. Đôi mắt của Thầy đỏ hoe và vài giọi lệ còn đọng trên khóe mắt. Ngoài các đức tính khác, bây giờ tôi còn biết Giáo sư Lưu Trung Khảo là một người dễ động lòng trước nghịch cảnh, trái tim thầy luôn đầy ắp yêu thương, cảm xúc.

Buổi ra mắt tập truyện hôm ấy rất thành công. Phần lớn là nhờ sự giúp đỡ tận tình của Giáo sư Trần Huy Bích, và đặc biệt là sự thương yêu, cổ võ và những lời giới thiệu rất chí tình, cảm động của thầy Lưu Trung Khảo.

Tôi tự biết và cũng không bao giờ dám nhận mình là một nhà văn. Về khả năng viết lách, tôi thấy mình vẫn mãi chỉ là một đứa học trò. Nhưng điều làm tôi vinh dự và hạnh phúc là được làm học trò của thầy Bích, thầy Liêm và thầy Lưu Trung Khảo.

Một người từng trải, khiêm cung như thầy, chắc chắn không thích người khác ca ngợi, nói tốt về mình. Kính mong thầy thứ lỗi. Viết những dòng này chỉ muốn nhắc lại vài kỷ niệm ít oi mà tôi may mắn đã có với thầy. Có thể, đối với thầy chỉ là nhỏ nhoi, nhưng với tôi là rất đáng trân quý. Và cũng để mừng thầy trong ngày thượng thọ 80, khi tôi không có mặt chúc thọ thầy, để được nói với thầy một lời cám ơn, dù rất muộn màng.

Phạm Tín An Ninh