MẢNH VỠ CHIẾC GƯƠNG XUÂN

nguyenlienchau
Gởi Phù Hư

Xin được ngồi cùng em
Đốt thời gian qua tay mình nghiệt ngã
Yêu thương nhau bằng những vòng ôm giả
Nhưng rất thật nỗi buồn

Xin được chạm môi vào một làn hương
Mùi thánh nữ nguyên trinh trong đáy vực
Mọi nỗi niềm nhẫn nhục
Trong cuộc đời này đều đáng kính như nhau

Xin được hôn em bằng nụ hôn của mối tình đầu
Phút trai trẻ của người luống tuổi
Những cuộc tình đã qua, bao cuộc tình sẽ tới
Nỡ lòng nào so sánh cân đo

Xin được ngồi lặng thầm giữa nhận và cho
Nước mắt em chảy xuôi, nỗi buồn tôi thấm ngược
Những giọng cười trẻ con, những lời đùa xấc xược
Được buông ra hoen ố chiếc khăn bàn

Xin được yếu lòng trân trọng những tay đan
Năm ngón thơ tôi lời yêu khô khốc
Năm ngón tình em sầu buồn bạch ngọc
Thèm khát những hờn ghen

Xin được ngồi với một thói quen
Chẳng bao giờ nói lời xin lỗi
Xuân ngoài kia đất trời đang đợi
Hãy tha thứ đời nhau bằng chính trái tim mình

Cảm ơn em gương mặt một người tình
Mảnh vỡ nhỏ của tháng ngày thơ dại
Mảnh vỡ nhỏ chiếc gương xuân còn sót lại
Cho tôi soi và tìm thấy lại mình…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

XUÂN ĐÃ VỀ RỘN RÀNG TRÊN…

ledachoanghuu

Thân tặng Phạm Thị Thu An

Có hai thằng, một là chúa ở dơ đến nỗi thấy… chí trên đầu nên kêu là Chí. Một còn lại thì đỡ hơn chút đỉnh, phủ một lớp bên ngoài che chắn phần bốc mùi ở bên trong, gọi là Cốt. Hai thằng Chí Cốt cả hai nghĩa đen và bóng từ thuở còn để tóc chổm cho tới nay đã là “sanh ziên”, dù rằng Cốt chánh gốc Sài Gòn, Chí miệt quê xa lắc.
Cuối năm Cốt “oánh dây thép” reng reng…:
“Ê, mai Tất niên, ba đứa như mọi năm nhưng đổi chỗ, ở quán số 7, đường… nghen mậy, tao gọi nó rồi”.
Chí đáp:
“Ừa, được á, sớm sớm chút đặng dìa quê phụ tết với ba má, mơi (mai) gặp hén”.
Nó, con bé xinh xinh, bầu bĩnh dễ thương cùng xóm với Chí, nhập thành bộ ba không lâu sau với hai thằng. Chí Cốt có rồi, coi như có bên ngoài và sâu thẳm tận cùng bên trong, nên đành cho nó lưng lửng, kêu nó là xương, cho vô giữa, Chí Xương Cốt. Tới ngày tóc nó xõa ngang vai óng mượt, đi đứng dịu dàng ý tứ, thấy cũng kỳ kỳ thành thử hai thằng đổi chữ X ra S. Đọc thì Xương nào cũng là… Sương. Với bà con cô bác, bạn bè… thì nó là giọt sương long lanh long lanh, với ba đứa thì long lanh vẫn là xương. Tóc Sương óc mượt cũng có góp công kha khá của hai thằng. Cốt len lén gởi hoài hoài chai dầu gội mà bên ngoài nhãn ghi óng mượt như tơ thì Chí cũng dễ chi chịu thua, dấu dấu nhưng liên tục hái chùm bồ kết đưa tới. Bồ kết mà nấu nước gội đầu thì còn nói gì nữa…
Đúng hẹn tới quán. Long lanh giọt Sương tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên một thì Chí ngạc nhiên mười:
“Ngộ dữ mậy, có nhỏ Sương tao thấy bao giờ mày cũng rủ vô quán ốc, sò, cua ghẹ… các loại khoái khẩu của các nàng, bữa nay cắc cớ gì lại quán bê thui?”.
Dấu hỏi bự tổ bố cũng ở trên mặt Sương. Cốt cười hehe:
“Thấy nắng vàng vàng hông?”.
Chí bạnh cầm, Sương thì gật đầu nhè nhẹ:
“Cũng có thấy… xíu xíu… hoe hoe đó anh”. Nói xong nó nhe răng cười khì.
Cốt hất đầu:
“Thì Sài Gòn mà, vậy là ngon lắm rồi. Nhiêu đó cũng đủ gợi nhớ “Ngày Tháng Nào”* đã qua (*Tựa truyện của Tôn Nữ Thu Dung). À, nói chớ cũng nhờ “Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh”* rần rần hổm rày (* Tựa truyện cũng là tựa phim chuyển thể từ truyện của Nguyễn Nhật Ánh).
Chí nhíu mày:
“Vàng vàng thì có liên quan vụ gì tới bê thui, tao chẳng nhớ mậy?”.
“Em có biết hôn?”. Sương dõng tai chờ đợi bởi Cốt thủng thẳng trộn bột thính, nặng chanh, gắp thịt bê, chuối chát, khế chua, dưa leo và ngắt từng cọng ngò, húng quế, húng lủi, tía tô… cho hai đứa. Rồi Cốt nói:
“Mần* miếng đi (*làm)”. Cốt cũng gắp một miếng, cắn thêm trái ớt hiểm, có hít hà nhưng nhai thấy ngon lành: “Chà chà, cay cay chát chát chua chua nhưng quá đã! Vô trăm phần trăm… trà đá cái coi rồi nói cho nghe”.
Ba đứa cụng ly lốp cốp. Cốt khà một tiếng sảng khoái y như mấy ông già uống rượu:
“Biết… hôn thì đỡ quá, hai thằng này đâu có… ế – hehehe – Nói chớ em là nhân vật chánh chớ còn ai vô đây mà hông biết. Mần nhà thơ mà hổng nhớ sao?”.
Chí càng nhíu mày, nó gõ gõ trán:
“Bán con chó… bó trán. Tao thua, hổng nhớ nổi”.
Sương càng long lanh bởi đồng tử nó giãn hết cỡ thợ mộc:
“Em mần nhà thơ hồi n…à….ooo?”.
“Hồi ở ngoài cánh đồng chớ đâu. Lúc ba đứa đang dựa gốc cây mơ màng nghe bài hát Xuân Đã Về vang vang tới. Mà rất ư là hợp, Xuân đã về có đủ hết ráo trọi, có chim hót trên cánh đồng, có bao tà áo khoe cùng bông tím vàng, có bác nông dân cày ruộng vui xuân sang, có ngàn cô gái quê tươi cười đón gió mới… Rồi trong ngàn cô đó có cô dựa gốc cây với hai thằng tui trở thành…”.
Chí chồm người đập tay cái bốp, cắt ngang lời Cốt tưởng như la:
“Nhớ rồi, thành thi sĩ… – hihi… hi hi… Mới đầu Chí hihi…hihi… rồi không nín được nó bật hì hì liên tục, hì hì liên tục chừng như không dừng được, cũng khá lâu sau nó mới nói tiếng được tiếng mất, chen lẫn trong tiếng hị hị: Câu thơ… hị hị… của… của thi… hị hị… thi sĩ đọc độc đáo lắm, xuân đã về… hị hị… xuân đã về rộn ràng trên… trên lưng con bò nhỏ… hị hị…”.
Đúng ý, Cốt vung mạnh tay trong không khí búng cái bóc:
“Ngay chóc, câu đó đó, có điệu trầm bổng thì hổng là thơ chớ là gì. Xuân đã về… xuân đã về rộn ràng trên lưng con bò nhỏ”.
Cô bé phụ bán quán nãy giờ nép mình phía sau lén nghe, dù đã bụm miệng nhưng vẫn không giữ được, bung ra cười hặc hặc, kéo theo hặc hặc ào ào từ ba đứa nó. Bây giờ thì có tới tám giọt sương long lanh long lanh bởi tuyến lệ phải hoạt động hết công suất. May có cô bé nên bà con cô bác xung quanh mới nghĩ chắc có chuyện gì vui lắm đây, chớ không sẽ nghĩ ngay ba đứa vô duyên khùng điên cán cuốc.
Thấm ướt đẫm cái khăn, Sương nói còn có phần mắc cỡ:
“Anh Cốt này nhớ dai ghê”.
Cốt đáp:
“Hay vậy sao hổng nhớ”.
Chí thắc mắc rồi tự trả lời, xong lại thắc mắc:
“Ở quê rành sáu câu vọng cổ, con trâu con kêu là nghé ọ, sao hổng là xuân về trên lưng con bê, con nghé? À, mất chỉ một từ mà nghe nó cụt ngủn hen. Với lại phải có nho nhỏ nhè nhẹ, cơn gió nhỏ, dòng sông nhỏ, con đường nhỏ… mới nên thơ hén. Nhưng sao lại là con bò, ngộ vậy ta?”.
“Thì lúc đó em nhìn thấy có mỗi con bê, bê con nhảy lưng tưng là rộn ràng, lưng nó mịn màng dải lông vàng như… bông vàng, nắng vàng chớ sao nữa”.
Cốt gục gật:
“Cái tuổi đó mà. Ngộ là mày đó. Lúc đó mày thấy lạ chớ có cãi đâu. Mày đồng tình hết mình hết mẩy luôn”.
Chí nhún vai, nghiêng đầu xòe ngửa hai bàn tay:
“Mày cũng có khác chi”.
Ừ, thì cả hai có khác gì. Ở cái tuổi như nụ chớm nở hoa, đã có cảm nhận những rung động đầu đời dù chẳng hiểu là mấy. Đã biết là… mếch (thích) nó thì ra sức mà “che chờ” chớ không như lúc còn con nít, chòng ghẹo cho tới phát khóc mà thôi. Và cả hai cũng có những cay cú lẫn nhau, nhưng cũng biết bỏ qua những sân si sì sượng mà giữ đủ bộ ba. Giữ cho tới tận bây giờ mà cái sự… mếch nó vẫn còn đầy đặn nếu không muốn nói là đã tràn ra và cái sự cay cú vẫn còn ngập đó. Một bộ ba như xuân với màu vàng phương Nam. Một bộ ba vượt lên cả tình bạn bè. Tình gia đình, tình anh em và cả tình yêu đã len lỏi trong da thịt. Đôi khi trong ý nghĩ ba đứa đó là một mối tình thiêng liêng, thần thánh lắm, không thể phá vỡ. Song, cái ý nghĩ này sẽ mau chóng bị phất phẩy cho qua. Suy nghĩ chi cao siêu cho mệt đầu mệt óc. Chỉ là những đứa bình thường, có thể gặp nhau, bắt đầu bằng một câu chuyện, một câu nói tào lao mía lao, rồi gợi nhớ những “Ngày Tháng Nào” đầy ắp kỷ niệm. Những chui rúc ụ rơm, ùm ùm nhảy sông, lặt lá mai vàng, canh mà ngủ gục bên bếp lửa nấu bánh nồi bánh tét…
“Chia tay hén”. Cốt nói.
Sương gật đầu:
“Hẹn gặp lợi hai anh ở Tân niên”
Chí cười behehe:
“Năm mới, ánh dương về trên lưng… con dê nhỏ – behehe – Gặp một anh thôi”.
“Oánh tù xì mày”.
Hai thằng một hai ba, oánh tù xì ra cái gì cả hai ra cái kéo, bốn năm sáu cùng ra cái búa, bảy tám chín… hai cái bao cùng ra. Thôi thì bao cả ba lại, Chí Sương Cốt, bao luôn cả xuân phương Nam, xuân giản dị lắm, thế thôi hén!.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

LẠI VỀ

phudu

tôi lại về đây, lại về
giữa phố đời thấy hồn quê dạt dào
dẫu cho thị tứ xôn xao
thâu đêm cũng có trăng sao trên trời
tôi về đây, lại về thôi
bao trang sử cũng lướt trôi mây ngàn
biển dâu mấy đoạn sang trang
cũng còn chỗ ghé để mang hồn về
tôi về đây, lại về quê
sông xanh vẫn biếc, bờ tre vẫn dày
tôi về qua quãng đường dài
đồng xanh phố đỏ vẫn đầy hiện sinh
tôi về nhưng cứ lặng thinh
bên sông nhìn ngắm lục bình lướt trôi
tôi về đây, lại về thôi
dẫu cho con tạo có thôi hỏi chào.

Phù Du Vĩnh Hiền

vết thương

tonphong

Em vuốt vết thương
trên người anh
cho anh gọi mây về với tóc

Em xoa nỗi đau
trong lòng anh
cho anh gọi màu xanh về với mắt

Mười ngón tay em
luồn từng chân tóc
ngắn dài cũng bấy yêu thương

Sao nỗi oan khiên đời anh
cứ tấy lên dưới bàn tay em chăm chắt
vết sẹo dài đo bằng tháng năm
rạch nát con người
Anh đi giữa đời
mang vết thương không bao giờ kín miệng.

TÔN PHONG

Mùa Xuân trong ký ức

huongthuy

– Na, lấy cho ôn cái ghế đẩu cháu!
Đang làm dở bài toán đố, Na bỏ viết xuống, lật đật bưng ghế chạy ra. Đằng trước hòn non bộ, cạnh gốc mai già lão, ôn nội đang nhặt lá. Trên cái nền gạch tàu đỏ sẫm, những lá mai màu vàng nâu nằm rải rác.
– Ôn nội nhặt lá mai a?
– Ừ, hôm ni rằm tháng chạp rồi. Năm ni trời khô hanh, nhặt chừ mới hy vọng nở đúng tết cháu nờ. Khi mô cháu được nghỉ?
– Ngày ông Táo về trời ôn ơi. Cô giáo nói lớp của cháu phải học nhiều mới hy vọng đậu vô đệ thất trường công.
– Ừ, ráng vô được trường Thành Nội cho ba mi vui. Tội nghiệp, năm ni biết có về ăn Tết được không…Năm mô cũng hứa …hứa mà mô có thấy…
Ôn nội bỏ dỡ câu nói, đứng lên cái ghế thấp, vói tay bứt mấy nhánh lá trên cao. Cây mai có tuổi đời bằng ba Na. Ôn nội kể khi ba cất tiếng khóc đầu tiên trong tay bà mụ cũng là lúc ôn đặt bầu mai xuống hố. Qua thời gian, gốc cây sù sì như một con trăn lớn vươn lên năm cành mà ôn đã bỏ công uốn theo thế ngũ thường: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Na biết trong đầu ôn nội đang nghĩ đến ba, người con trai trưởng của dòng họ Hà Thúc đóng quân tận đâu trên Dakley, Dakpao… “Cái tên chi mà đọc muốn trẹo quai hàm”. Ôn hay cằn nhằn mỗi khi nhận thư ba từ tay người bưu tá.
Na cũng nhớ ba lắm. Đứa con gái lên chín tuổi nhưng số lần gặp ba chỉ rải rác trên mười đầu ngón tay. Hai cha con gặp nhau qua thư từ nhiều hơn. Nhất là từ khi Na biết đọc, bao giờ ba cũng giành cho Na một đoạn trong những lá thư gởi về nhà. Mạ thường thở dài khi nghe o Hường bóng gió “Chị lo có con trai đi. Anh Nghĩa là trưởng tộc đó!”.
Thât sự, ba mạ Na cũng sống bên nhau liên tục được ba năm. Đó là thời gian mạ theo ba sau ngày cưới. Đơn vị ba thuộc Liên đoàn II Biệt động quân. Mạ lên tận tỉnh Pleiku xa xôi, thuê nhà ở, chờ ba về sau những cuộc hành quân. Khi đó ba đóng ở Suối Đôi. Mạ kể lúc bấy giờ Pleiku hoang sơ lắm, đàn ông người Thượng còn mang khố và cà răng căng tai. Những ngày cuối tuần , họ ra chợ với gùi măng sau lưng, tay cầm thêm những chú sóc hoặc chim két đủ màu bán lấy tiền mua gạo. Và Na được hoài thai ở xứ “nắng bụi mưa bùn” này.
Nhưng đơn vị ba di chuyển liên miên khắp vùng Cao nguyên Trung phần. Bà nội đau yếu và mất, o Hường đi lấy chồng dưới An Cựu, mạ về Huế sinh nở vừa để chăm sóc ôn nội và ổn định lâu dài. Hằng năm, những lần về phép của ba khi có khi không. Nhất là dịp tết nhất, bao giờ tiểu đoàn cũng trực chiến 100%. Biết chắc ba khó về nhưng Na vẫn chắp tay cầu khẩn “Lạy trời! Cho ba về với con.”

***
Ngày 27 tháng Chạp, Na ngồi coi mạ vớt những lát gừng mới luộc qua một cái rổ cho ráo nước. Trên lò than bên cạnh, thau mứt bí đang xên. Những thỏi bí bằng ngón tay út trong ngần sôi lục ục, mùi đường bốc lên thơm ngào ngạt. Năm nào mạ cũng làm nhiều mứt để ôn nội uống nước trà sáng và gởi cho ba ăn tết muộn.Thẩu dưa món đang bung dần những cánh hoa đu đủ, cà rốt mạ tỉ mỉ cắt tỉa hôm trước. Ở nhà trên, ôn nội lúi húi dọn bàn thờ. Ngoài cổng, có tiếng lao xao rồi giọng o Thơ nói vói qua hàng chè tàu cắt hình chim phượng:
– Mạ con Na ơi! Ba hắn về nì! Ui cha, cái thằng đen như củ súng…
Ba về? Hai mạ con lật đật chạy ra. Ba thiệt rồi! Ba đang đứng với chú Long hàng xóm, người bạn thời nhỏ cùng đá dế bắn chim. Chú làm bên Ty Cảnh sát Gia Hội. Chú nói:
-Thôi vô đi cho cả nhà mừng. Thong thả hai đứa mình nhậu nhẹt. Mồng một tau ra trực. Kỳ ni ráng kiếm một thằng cu cho vui cửa vui nhà.
Ba quay lại, bế xốc Na lên rồi một tay quàng lưng mạ đi vô. Ba cao to trong bộ quân phục da beo, ba lô cộm sau lưng, mũ nâu đội đầu, ba bông mai đen trên cổ áo. `Mạ nửa cười nửa khóc: “ Anh về thiệt a!”. Ôn nội đứng trên thềm, mặt tươi rói, chòm râu bạc phất phơ :
– Hèn chi sáng ni ôn nghe con chim kêu “Khách! Khách!”
Mạ hốt hoảng :- Ui trời! Cái thau mứt… rồi lật đật xuống bếp.
Chiều nớ, nhà Na vui như có hội. Cả cái xóm nhỏ kéo tới hỏi thăm “thằng Nghĩa Cọp đen về phép”. Mạ chạy vội ra chợ Xép mua thêm thức ăn. Ôn Nội châm trà liên tục. Lòng Na reo vang theo khúc nhạc Xuân trong Radio “Mừng Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”
Từng làn mưa bụi rơi rơi. Na thiếp ngủ trong vòng tay mạnh mẽ của ba .

****
Bao năm đã trôi qua nhưng trong đầu Na vẫn nhớ như in những ngày Xuân Mậu Thân ấy.
Ngày 28 ba giúp ôn nội chà bộ lư đồng trên bàn thờ sáng bóng, tỉa lại hàng chè tàu trước ngỏ. Na lẩn quẩn bên cạnh cho ba sai vặt, lâu lâu lại rúc đầu vào để được hôn lên má, để tận hưởng “mùi ba” và để nghe ba huýt sáo bài ca muôn thuở “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…”
Ngày 29 ba chở Na ra Phu Văn Lâu coi chợ hoa và mua hai chậu cúc đại đóa về đặt hai bên bậc tam cấp. Buổi chiều, cả nhà ngồi gói bánh tét trên cái phản dưới nhà ngang. Ba không quên gói hai cái bánh ú nhỏ giành riêng cho con gái yêu.
Ngày 30 cả nhà lên núi Ngự Bình thắp nhang mộ bà nội rồi về nhà chuẩn bị cúng Tất niên. Bửa tiệc cuối năm thật ấm cúng. Có nhà o Hường bên An Cựu sang, có chú Long, bác Năm hàng xóm…Cả con đường Ông Ích Khiêm dưới chân cửa Thượng Tứ sực nức mùi nhang trầm. Chú Long nói: -“ Ngày mồng hai, mình rủ nhau chơi xì lát coi đứa nào hên…Nhớ hồi thằng Nghĩa chưa đi lính, hắn chơi bài ăn cả xóm rạt gáo…”.Câu chuyện kéo dài đến xế chiều. Đã nghe những tràng pháo nổ sớm. Ba cũng treo sẵn một dây pháo trước cửa. Không khí tết tràn ngập mọi nhà.Tiếng pháo nổ đì đùng.
Ngày mồng một, ba mạ thủ trại cho ôn nội đi thắp nhang nhà thờ họ Hà và thăm bà con. Ở Huế, con cháu ngày mồng hai mới được ra đường. Cây mai bắt đầu bung cánh. Ba đếm được mấy chục cái hoa có sáu cánh. Ba mừng tuổi cho Na những đồng bạc mới trong phong bao đỏ và cười, nói với mạ -“ Còn em lì xì cho anh một thằng cu”. Mạ đỏ mặt xấu hỗ…
Buổi trưa cả nhà ăn cơm chay. Ôn nội khen năm ni trời hửng, chắc mưa thuận gió hòa rồi ngâm nga sấm Trạng Trình “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”. Ba thưa với ôn ngày mai cho cả nhà đi chúc tết bên họ ngoại và bạn bè cũ vì ngày mồng năm hết phép. Ôn nói : – “Về ăn tết được là vui rồi. Đã là chỉ huy thì phải làm gương cho lính tráng.”
Đêm mồng một trời tối thui, mưa xuân rắc những hạt như bụi mỏng. Ôn nội thắp thêm nhang trên bàn thờ và giục cả nhà đi ngủ để ngày mai lấy sức đi chơi Xuân…Giấc ngủ đến với Na êm đềm, không mộng mị …
Na tỉnh dậy trong cái lay nhẹ của ba. Ba thì thầm: -“ Ôm cổ, ba cõng con!”
Trong cơn ngái ngủ, Na vẫn nhận ra ba đưa mình ra nằm trên chiếc chiếu dưới bộ ngựa gõ dày. Ba không quên trải cho con gái cái chăn ấm. Tiếng nổ ran, lâu lâu lại nghe những tiếng “ầm, ầm” vang dội. -“Ai đốt pháo dữ rứa ba?” – “Tiếng súng đó con”.
Căn nhà chìm ngập trong bóng tối. Trên bàn thờ vẫn còn chấm nhang đỏ le lói. Mạ lo lắng: – “Đánh nhau à anh? Hưu chiến mà?”. Ba không trả lời, lẩm bẩm: – “ Tiếng tiểu liên AK 47…Tiếng thượng liên…Chúng nó tấn công Huế rồi…”
Bấy giờ thì tiếng súng vang đâu mạn An Hòa và Hữu ngạn thành phố. Na nghe rõ cả tiếng rít của hỏa tiển 122 ly bay qua mái nhà. Qua cửa bức bàn, bầu trời lóe sáng bởi những tia đạn đan chéo. Căn nhà rung lên. Na nắm chặt tay ba. Ba nói với mạ: – “Chắc anh phải làm một cái hầm cho nhà mình trước khi trả phép”.
Trời tờ mờ sáng. Tiếng súng có ngớt hơn nhưng xóm nhỏ yên lặng một cách đáng sợ. Ngoài đường vắng ngắt. Nhà ai cũng kín cửa. Mạ nói: – “Để con xuống bếp nấu nước cho ôn cúng sớm”. Ôn gạt tay – “Để coi tình hình ra răng đã”. Mạ cắt những lát bánh tét cho cả nhà ăn với dưa món nhưng ai cũng quấy quá cho qua bữa. Ba chất thêm bộ bàn ghế chắn chung quanh cái hầm bất đắc dĩ. “Coi như hết tết!”. Na nghĩ thầm.
. Rồi bất chợt, xế chiều tiếng ầm ầm nổ vang bốn phía. Từ ngoài cửa Thượng Tứ, Đông Ba, trong Đại Nội, bên tê sông Hương…Mái ngói hàng xóm rơi sàn sạt. Ba nói với ôn nội: – “Ngó bộ đánh lớn rồi ôn…Đó là tiếng phóng lựu B40 của chúng nó…Sao nghe tiếng súng Carbin M1 của mình thưa thớt quá!…”. Điện tắt tối om. Không ai dám thắp đèn. Sau vườn nhà Na nghe tiếng chân chạy rầm rập, tiếng “ chóc…chóc” của loại súng gì nghe rất lạ…Ba ôm chặt Na trong bóng tối…Giấc ngủ của đứa bé mới lên mười tuổi được một ngày lâu lâu lại giật thột vì tiếng nổ…
Na tỉnh dậy vì tiếng thút thít của mạ : – “Làm răng bây chừ anh. Tụi hắn chạy ngoài đường. Đông lắm, em thấy rõ ràng”. Ôn thở dài lo lắng : – “Nhè Tết nhất mà đánh nhau. Đồ vô hậu!”. Ba nói : – “Chắc anh phải tìm cách vô trại Trần Cao Vân trong Mang Cá”. Mạ nói: – “Anh đừng đi. Nguy hiểm lắm. Em sợ…”. Một ngày dài lại trôi qua.
Sáng mồng bốn, ngoài đường ồn ào rồi tiếng loa vang lên : “ Đây là tiếng nói của Liên Minh Mặt trận Giải phóng Miền Nam…Quân ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Huế…Đồng bào ai ở nhà đó…Ôn thất thanh “Thôi rồi con ơi!”. Ba nghiến chặt răng.
Ba giờ chiều mồng năm, bên nhà chú Long nghe có tiếng khóc òa. Ôn nội dòm qua cái chấn song :- “Chúng hắn bắt thằng Long rồi. Chắc ai chỉ điểm…Con ơi! Trốn đi. Mãnh hổ nan địch quần hồ…”. Ba leo lên rầm thượng, tay cầm khẩu súng Colt. Mạ nói – “Em lạy anh, anh đưa cho em…”
Đêm xuống. Cả nhà hầu như không ai ăn uống gì. Mạ pha cho Na một ly sữa nhưng miệng Na đắng ngắt. Cô bé hình dung ra một cái gì đó nghiêm trọng đang diễn ra với nhà mình, với mọi người, với Huế.
Ba nhảy xuống, đưa tay phủi mạng nhện trên áo: – “ Con phải đi thôi ôn à! Ở đây thế nào cũng bị bắt. Một liều ba bảy cũng liều… Con đi tìm đồng đội chơi lại tụi nó”. Mạ nói – “Làm răng anh đi được. Chỗ mô cũng có tụi hắn”. – “Anh sẽ lần vô Ngã tư Âm Hồn, qua đường Nguyễn Hiệu, qua hồ Tịnh Tâm. Chắc chắn chúng nó không bao giờ chiếm được Mang Cá, đầu não của Sư đoàn I…”. Ôn thở dài – “Biết như thế ni thì chẳng mong con về ”. Ba mặc thêm một cái áo thun dài tay, áo khoác xanh bên ngoài. Mạ bịn rịn – “Thôi anh ơi, ở lại đây sống chết có nhau…”. Ba cương quyết – “ Anh không thể ngồi một chỗ để chúng bắt ”. Mạ nước mắt vòng quanh.
Ba hôn lên hai má Na hàng chục cái rồi ôm mạ nói – “ Đừng lo cho anh. Ở nhà chăm ôn và con. Chuẩn bị sẵn một số vật dụng cần thiết. Nếu thấy không an toàn thì chạy qua nhà o Thơ, bên nớ có cái hầm bao cát”. Ôn nội mở cửa nhà bếp, dòm quanh năm phút rồi vẫy ba. Bóng ba khuất vào đêm tối sau vườn…
Trưa mồng sáu, có tiếng kêu mở cổng. Năm người xuất hiện trước hiên nhà. Họ đều mặc đồ vải Tô Châu đen, đội mũ tai bèo, khoác súng, hai người đeo băng đỏ. Một người giọng Bắc lên tiếng: – “ Thằng đại úy Ngụy trốn đâu? Mau ra trình diện chính quyền Cách mạng”. Ôn nội bình tĩnh trả lời: – “ Dạ, mô có ai. Nhà chỉ có ông già con nít…”. – “Ngoan cố. Có người thấy hắn về phép mấy hôm nay”. – “Dạ, hắn có về. Nhưng đã đi cúng nhà thờ họ dưới La Chữ hôm mồng một”. Người cầm súng cắt ngang: – “Các đồng chí vô kiểm tra. Coi chừng. Lũ lính rằn ri này ngoan cố lắm!”.
Cà toán kéo vô nhà sục sạo. Mạ ôm Na đứng nép một góc nhà. Một tên leo lên tận trên rầm thượng kiểm tra. Hai tên kéo xuống nhà bếp, lui tận sau vườn dòm ngó.
Mười lăm phút sau họ kéo đi sau khi ném vào mặt ôn nội cái nhìn hăm dọa. Mạ thở ra: “Mô Phật!”.
Súng nổ dồn dập. Có tiếng máy bay trực thăng trên trời. Rồi những tràng rốc két bắn xuống dữ dội. Ôn nội nói: – “ Chạy qua nhà o Thơ thôi con!”. Mạ dắt tay Na, tay khác ôm một cái bao băng qua sân. O Thơ kéo hai mạ con vô hầm thì thào: – “Thằng Nghĩa thoát không? Chúng bắt nhiều người lắm. Túi qua, tau thấy buộc cả dây trước đường. Ai ngờ thằng thợ cúp là Việt cộng nằm vùng. Ghê thiệt”.
Cả mấy ngày trời hai gia đình toàn ăn bánh tét nóng cả ruột. Mạ làm liều ra khỏi hầm nấu cơm vắt thành từng nắm nhỏ. O Thơ lui sau vườn vơ vội mấy cây cải nấu canh. O chạy vô nói :- “Mạ cha ui! Hắn treo cờ trước cửa Ngọ Môn ngó rõ mồn một. Chắc còn đánh nhau dữ. Cơ chừng ni biết chạy đi mô trời!”
Na dòm lên cuốn lịch mấy ngày không ai xé tính nhẩm: Hôm ni là ngày mồng mười. Đáng lẽ hôm ni mình đã đi học, đã khoe cái kẹp tóc mới, khoe tiền mừng tuổi với tụi con Linh, con Chi…thì bỗng nghe tiếng “ầm ầm” vang dội. Mấy cái ly trên bàn lăn long lóc, thằng Tí con o Thơ khóc thét… Mười lăm phút sau bác Năm chạy vô – “ Cầu Trường Tiền bị giật sập rồi. Bên Quốc gia sắp phản công. Chạy mau . Ở đây bom thả chắc chết hết …” – “Chạy mô chừ?” – “Thì cứ chạy đi rồi tính…”
Cả hai gia đình kéo nhau ra đường. Mới có mười ngày mà khung cảnh đã tan tành, đổ nát. Những bóng người lếch thếch tay xách nách mang, những nét mặt thất thần…Trên con đường ra chợ Xép, xác người chết nằm la liệt, Na nhắm chặt mắt không dám nhìn. Tiệm vải đầu đường Mai Thúc Loan nghi ngút khói. Ra cửa Đông Ba, năm tay du kích ngăn lại nhưng o Thơ cứ đẩy mấy đứa nhỏ ra trước “ Cho tụi tui đi tránh đạn mấy chú nờ. Ba mấy đứa chết trong xóm rồi…”. Ngó lên đường Phan Bội Châu, dãy phố sang trọng đổ sụp. Bác Năm chụp cái nón xuống mặt, hai tay bồng hai đứa con dẫn mọi người chạy ra Hàng Bè đi xuống phía Bao Vinh…
Lại gần mười ngày ăn nhờ ở đậu trong nhà mạ o Thơ. Hai con mắt mạ trõm lơ vì lo cho ba không biết bây chừ ở đâu. Ôn ngoại cứ thở ra. Máy bay thả bom phía thành phố, khói lửa bốc lên nghi ngút. Na hình dung ra ba đang chiến đấu ở đó. Ngày 22 tháng giêng, phía An Hòa vòng vô Bao Vinh xuất hiện những toán lính da beo. Ôn nội nghẹn ngào: – “Quân ta…Quân ta…Sống rồi …Con ơi!…”
Những người lính cọp đen thuộc tiểu đoàn 21 Liên đoàn I Biệt Động Quân áo quần vương mùi thuốc súng. Họ cung cấp cho dân chúng những bịch gạo sấy, thịt hộp rồi kéo quân đi. Bác Năm thì thào: – “Lính ôn Võ Vàng đó. Lính ni đánh ác chiến lắm!”. Nghe nói sau đó mấy ngày, chính họ là những người tái chiếm Gia Hội và cắm những lá cờ VNCH đầu tiên lên phía Chi Lăng. Sau hơn hai mươi ngày, Na được ăn chén cơm có mùi thịt…Lá cờ VNCH phấp phới trên kỳ đài. Mạ thở ra – “Sắp được về nhà rồi!” Na nghe mừng húm.
Nhưng cũng phải mươi ngày sau đám người tản cư mới được trở vô thành phố. Mạ vừa đi vừa dòm xem thử trong những toán lính đang chốt ven đường có dáng ba không. Vạt chợ Xép gần như thành bình địa. Một đoạn thượng thành đổ sụp. Nhà bếp o Thơ tan nát, một quả bom rơi đúng sau vườn. Nhà ôn nội một mái sạt góc, hòn non bộ giữa sân bể tan, tượng ông tiên đánh cờ văng ra xa mất tiêu cái đầu. Ôi! Hòn non bộ , thế giới kỳ bí tuổi nhỏ của Na với những hang động, ngõ ngách. Cây lão mai bật gốc nhưng ở một nhánh nhỏ vẫn còn sót lại mươi bông hoa. Một màu vàng tàn tạ trên sự hoang tàn, đổ nát.
Vừa đặt cái bao xuống, mạ đã nói với ôn nội – “Để con vô Mang Cá tìm nhà con!”. Ôn nội trấn an : – “Đang lúc lộn xộn, đàn bà con gái biết chi việc quân sự. Thế mô hắn cũng ghé qua nhà coi ngó vợ con”. Cả nhà phụ nhau dọn dẹp tạm bợ cho gọn mắt. Mấy người hàng xóm cũng lần lượt trở về xúm lại hỏi thăm tin tức. Thím Long khóc òa: – “Tụi hắn bắt chồng con lúc chưa có một hột cơm vô bụng. Chừ không biết ở mô mà kiếm…Anh ôi là anh…”. Bác Năm nói có một gia đình xóm Âm Hồn chết trụm cả nhà, chó kéo từng miếng thịt đi khắp xóm. Ông Tăng Duyệt giàu nứt đố đổ vách bên đường Trần Hưng Đạo, chủ nhà xuất bản Tinh Hoa, cũng nằm phơi thây trước chợ Đông Ba. Chuyến ni Huế e “Mười người mất bảy còn ba”. Ôn nội chùi sơ trên bàn thờ rồi thắp bó nhang còn sót lại trong đống đổ nát. Mùi hương thơm làm buổi chiều thêm ảm đạm.
Hai ngày rồi ba ngày, bốn ngày… bóng ba vẫn mù tăm. Ôn nội không giấu nổi sự bồn chồn. Mạ đứng ngồi không yên, tất bật đi dò la tin tức. Mạ cứ lần theo con đường ba nói hôm trước. Từ Ông Ích Khiêm ra chợ Xép, vòng qua Mai Thúc Loan rẽ vào Đinh Bộ Lĩnh vô Cầu Kho…Mạ đi và đi, mòn đàng chết cỏ, lầm lụi sáng chiều rồi trở về cúi mặt khóc thầm. Đơn vị cử người ra hỏi thăm, ông Đại úy xử lý thường vụ nhìn cảnh nhà hoang vắng cũng chỉ biết thở dài… Mạ còn nghe lời người ta, dắt Na đi coi bói ở cô Thanh Ròon trong Thành Nội. Người đàn bà ốm nhom ốm nhách thắp hương khấn vái trước bàn thờ với những hình ảnh kỳ bí và mươi phút sau thở dài nhìn mạ con Na nói khẽ : – “Rồi sẽ có tin. Lành ít dữ nhiều”. Chiều đó mạ bỏ cơm, nằm bệt. Hai tuần sau, một anh thanh niên đường Hàn Thuyên ghé tới nói có thấy ba trong đám người bị lũ áo đen bắt giải đi. Anh ta nhận ra vì ba là bạn của ông chú lúc nhỏ hay qua leo cây nhãn nhà anh. Cả nhà nghe nhưng không ai muốn tin đó là sự thật…
Huế đổ nát tang thương. Công binh bắc cầu phao qua sông Hương. Cây cầu Trường Tiền gãy nhịp đập vào mắt mọi người nhức nhối. Na đi học. Trong lớp nhiều bạn chít khăn tang. Một số bạn giàu có theo gia đình bỏ Huế mà đi. Ngày đầu tiên, cô trò nhìn nhau ngơ ngẩn.
Những cái hố chôn người bắt đầu được phát hiện. Ở Phú Thứ, trên Cầu Lòn, bên sân trường Gia Hội…Mạ tất tưởi đi theo thím Long , người đầy mùi dầu khuynh diệp Bác sỹ Tín, lúc về không ăn nổi cơm, gầy rộc. Ôn nội trở mình với những tiếng thở dài trong đêm…Cả thành phố ngập trong màu trắng của những bộ đồ xô gai. Hương đèn,vàng bạc trở thành mặt hàng bán chạy. Nhà nào cũng có người chết, người mất tích…
Mới sáng sớm, o Thơ chạy vô nhà kêu hớt hãi : – “ Chạy xuống Bãi Dâu coi. Người ta mới đào lên mấy chục xác tề!”. Mạ lật đật xỏ tay vô áo dài chạy đi. Không hiếu sao Na cũng chạy sau mạ. Ôn nội đang cột lại cổng ngỏ cũng bỏ đó….
Cái trại dã chiến được dựng lên bằng những tấm bạt quân đội. Đám đông vây quanh. Tiếng khóc hờ thảm não của những người đàn bà vang thê thiết. Một dãy dài xác người được đưa từ chiếc hố sâu nằm trên đất, mặt phủ những tờ giấy trắng. Mùi tử khí bốc lên. Mấy ông phu đào huyệt đặt những di vật của người chết ở trên đầu cho thân nhân nhận dạng. Một chiếc bật lửa hiệu Zippo, một cây bút bic, một cái thẻ kiểm tra cáu bẩn…Mạ nhào vô, lật từng tờ giấy che mặt rồi lại lao ra. Mặt mạ trắng bệch nhưng lạnh căm. Những cái xác…rồi những cái xác…Tất cả đều bị trói thúc ké, bị đập sau gáy… chất chồng nhau trong hố.
Một ôn phu kêu lên: – “Có thẻ bài trên cổ xác áo xanh tề! Lấy ra coi.” Ôi! Cái áo khoác màu xanh ba mặc trong đêm ra khỏi nhà định chạy vô trại Trần Cao Vân, cái thẻ bài có tên ba và số quân cùng loại máu O Rh +. Ôn nội, mạ và Na ào tới.
Ba ứa máu. Dòng máu đen kịt từ mũi, miệng trào ra chảy xuống nền cát ẩm. Mọi người chung quanh thì thào: “Gặp đúng người thân rồi đó…” Mạ rú lên : “Anh ơi anh!” rồi ngã lăn ra, hai tay quơ quào vô thức trên cát. Nước mắt đứa con gái chảy quanh nhưng Na không khóc lớn tiếng. Na nhìn ôn nội mặt nhăn nhúm, lặng lẻ phụ những người phu tháo chiếc dây trói từ cổ tay, lau đất cát dính trên người ba, chuyển ba vô cái hòm vừa được đưa tới. Cô Nữ trợ tá quân đội dìu mạ ngồi dậy và cả nhà cùng ba được đưa đi trên một chiếc xe nhà binh…

***

. Từ đó Na vĩnh viễn mất ba. Không còn những dòng thư ngọt ngào, không còn ai để ngóng đợi. Mạ cầm trong tay cuốn sổ quả phụ, ba tháng một lần đi qua Ty Ngân khố lãnh tiền tử tuất. Ôn nội thỉnh thoảng vuốt tóc Na : – “Tội nghiệp cháu tui, mồ côi mồ cút…”
Mạ xin làm thư ký bên Tòa Hành chính Tỉnh, ngày ngày đi xe đạp qua cầu phao, chiếc khăn tang phất phơ trong gió. Cuối năm, Na thi đậu đệ thất trường Thành Nội nhưng không cảm thấy vui. Ôn nội thắp nhang trên bàn thờ : “Con có linh thiêng, phù hộ cho cháu”.
Những mùa Xuân tiếp tục đến rồi đi. Cả thành phố ngào ngạt hương khói trên bàn thờ đặt ở trước nhà, ngoài đường. Có lẽ không có nơi nào trên đất nước buồn như Tết Huế. Nhà mô cũng cúng, nhà mô cũng có tang. Cây cầu Trường Tiền được sửa lại nhưng không còn nguyên vẻ đẹp cũ. Xác chú Long vẫn chưa tìm ra… Nhìn ảnh ba trong bộ quân phục, nhìn dáng vẻ buồn bã của mạ, Na quyết tâm học thật giỏi. Năm nào Na cũng được lãnh phần thưởng danh dự toàn trường. Cô Hiệu trưởng Tôn Nữ Tiểu Bích tuyên dương em học sinh mồ côi học giỏi dưới cột cờ. Ba có biết để mừng cho Na?
Sức khỏe ôn nội ngày càng sa sút. Thỉnh thoảng o Hường từ An Cựu lên thăm ôn rồi ghé tai thì thào chi đó. Na không nghe rõ nhưng ôn nội có vẻ cáu giận: – “ Trai hay gái thì cũng là cháu tau, giọt máu của thằng Nghĩa. Đừng nhiều chuyện…” O Hường sầm mặt xuống, háy mắt nhìn Na rồi bỏ đi. “Còn cha gót đỏ như son. Một mai cha chết gót con đen sì ”. Chưa bao giờ Na thấm thía câu ca dao đến thế.
Một buổi tối, ôn nội kêu hai mẹ con lại gần bộ ván ngựa nơi ôn nằm rồi nói khẽ:- “Dạo ni ôn thấy trong người không được khỏe…Ôn cũng trên bảy mươi. Chết được rồi nhưng nghĩ thương dâu hiền cháu thảo… không đành”. Mạ òa khóc : – “ Ôn đừng nghĩ bậy. Ôn phải sống với mạ con con…” Ôn rút trong túi áo ra một gói nhỏ dúi vào tay mạ: – “Có chút ni con giữ lại cho cháu, cố gắng nuôi con ăn học nên người…” Na ứa nước mắt thương ôn.
Rồi ôn nằm liệt như một cành cây khô hết nhựa. Na ngồi bên ôn đút từng muỗng sâm nhỏ. Ôn thở những làn hơi nhẹ như gió thoảng. O Hường và chồng lên thăm, lấy chìa khóa trong túi ôn mở tủ lục lọi, tìm tòi… Và một buổi sáng ôn nhẹ nhàng ra đi trong những cơn mưa lê thê tháng mười, trên khóe còn vương hai giọt nước mắt.
Đám tang ôn hầu như cả xóm đều có mặt. Ôn nằm cạnh bà nội trên vạt đất đã được chọn sẵn từ trước trên Ngự Bình. Còn mộ ba Na lại ở Nghĩa trang Ba Tầng dành riêng cho những nạn nhân Tết Mậu Thân. O Hường khóc ơi là khóc, kể lể : – “ Cha ui! Cha mất rồi lấy ai hương khói thờ tự khổ lắm cha ui!…”. Bác Năm nạt : – “Mi có cho ôn nằm yên không? Đám tang mà còn cạnh khóe…”. Mạ lặng lẽ lau những giọt nước mắt.
Những buổi tối hai mạ con nằm ôm nhau trong căn nhà rộng.Tiếng thằn lằn chắc lưỡi trên trần nhà. Mạ thì thầm : – “ Gia tài của ba mạ là con gái. Mạ bây chừ chỉ còn con…” rồi khấn thầm với ôn, với ba phù hộ cho hai mạ con mạnh khỏe, chân cứng đá mềm…Những nén nhang lóe sáng trên bàn thờ như chứng giám.
Thời gian nhanh như một cái chớp mắt. Na lớn lên, qua bên kia sông Hương học đệ nhị cấp trường Đồng Khánh. Mái tóc bum bê đã được để xõa ngang vai. O Thơ trầm trồ: – “Mi giống hệt mạ mi thời con gái. Gắng học cho mạ nhờ. Có nhiều mụ chồng chết ba bảy hăm mốt đã đi lấy chồng. Không phải như mạ mi mô đó”. Na biết mạ còn đẹp. Bạn bè hay khen cái dáng nhẹ nhàng, thanh thoát của mạ. Tóc mạ vẫn đen nhánh, đi ngoài đường có người tưởng hai chị em. Những ngày tết nhất, kị quảy, o Hường lên thắp nhang hay nói bâng quơ: – “Khi mô chị có chi vui, nhớ báo cho tui sắp xếp công việc nhà. Tui nghe người ta nói có ôn ni ôn tê theo chị tề. Chị nhớ giữ ý tứ. Chó đâu chó sủa lỗ không…” Na ghét cay ghét đắng những câu châm chích của o Hường nhưng mạ cứ lặng yên.
Những lúc rảnh rỗi, mạ thường kể cho Na nghe chuyện ba mạ gặp nhau, yêu nhau như thế nào. Ba lúc nhỏ nghịch thấu trời.Từng bơi bên ni qua bên tê sông Hương trước Phu Vân Lâu, từng leo trộm nhãn dọc hai bên đường trong Tử Cấm Thành, từng lấy áo dài của mệ nội mặc nhát ma mấy o đi gánh nước đêm…nhưng ba cũng nổi tiếng học giỏi nhất xóm. Ba trốn ôn mệ tình nguyện đi Sỹ quan Đà Lạt khi thi đậu tú tài. Ra trường có mười ngày phép về gặp mệ, bị mệ đấm thùm thụp vào lưng còn ba nhấc bổng mệ nội trên hai tay đi một vòng xóm trong tiếng cười của bà con. Ba chững chạc hẳn lên. Nhiều cô ưng ba nhưng ba chỉ để ý đến mạ, người con gái nhà ở bên hồ Tịnh Tâm, có mái tóc dài ngang thắt lưng. Câu tỏ tình của ba với mạ là : “Lấy lính cực lắm, em có chịu thì tui về thưa với ba mạ đi dạm?”. Na cười hỏi “Rồi mạ nói răng?”. Bây chừ kể lại mà mạ còn đỏ mặt: – “Nói chi được mà nói!…”. Trong lòng Na ước mơ rồi tương lai cũng có một chàng trai tuấn tú, kiêu hùng như ba sẽ đến với mình…Nhưng trước mắt là phải học cho giỏi như ước nguyện của ba mạ. Mỗi lần được cô Tường Loan, cô Giáng Châu, thầy Châu Trọng Ngô… khen là Na lại nhớ đến lời căn dặn của ôn ngày còn sống.
Nhưng có ai học được chữ ngờ! Ngày Na mười bảy tuổi, ngày Na má đỏ môi hồng, ngày Na học lớp 12 tràn đầy sức sống…là ngày thiên đường đổ sụp. Chỉ hai tháng trời mà đất nước đổi chủ thay ngôi…
Cả thành phố tràn ngập một màu đỏ gắt, những câu khẩu hiệu sắt máu được viết đầy trên bờ tường, những tay cán bộ nhà quê hò hét…
Ngôi trường Đồng Khánh cổ kính yêu dấu của Na cũng đi xuống một cách tàn tạ. Không còn vẻ quý phái của cô Hiệu trưởng Bích Đào mỗi sáng thứ hai trên cột cờ, không còn dáng dấp mô phạm của thầy Phạm Kiêm Âu dọc hành lang với những tràng tiếng Pháp bay như gió khi vào lớp…Thay vào đó là những khuôn mặt lưỡi cày, ăn mặc nhếch nhác, mở mồm ra là “chủ nghĩa tư bản giãy chết, phồn vinh giả tạo…”
Thầy cô và học trò ngưng học hành, xách cuốc đi lao động, tăng gia sản xuất. Ngày đi trồng sắn trên núi Thiên Thai, cô Diệu Vân còn cắm lộn đầu và đuôi hom sắn bị một bà răng vẫu mắng là “tàn dư Mỹ Ngụy”…Buổi chiều chủ nhật trồng bạch đàn trước trường Đại học sư phạm, nhìn từng đoàn xe phủ bạt chở “chiến lợi phẩm” Honda, xe đạp chất chồng như núi ra phía Bắc, thầy Lê Quân Thụy nói bâng quơ “Ngoài ta thiếu gì!”… Ngày bắt buộc đi theo Đoàn Thanh Niên bài trừ “nền văn hóa phản động ”, Na ứa nước mắt nhìn những tác phẩm văn học lớn bị cháy bùng trong tiếng vỗ tay của bọn Cách Mạng theo đuôi…
Mạ mất việc, nấu một nồi cháo trắng cá kho khô ngồi bán dưới gốc cây trước cổng Đại Nội. Khách hàng là những chú đạp xích lô, anh kéo xe bốn bánh, cô thợ may… nhưng không khó để nhận ra vẻ trí thức một thời trên gương mặt đăm chiêu của họ. Nhìn mạ với gánh hàng trên vai mỗi sáng, Na muốn bỏ học nhưng mạ nói mạ làm tất cả miễn sao con vô được Đại học đi làm bác sỹ chữa bệnh cho mạ khi trái gió trở trời… Cuối năm Na đậu trường Y với số điểm Lý, Hóa, Sinh cao ngất ngưỡng.
Nhưng – lại một chữ “nhưng” ác nghiệt- lý lịch của Na khi đi chứng trên Phường bị tay Chủ tịch xuất thân lái heo “Xát nhận: Con của Ngụy có nhiều nợ máu bị Cách mạng trừng trị trong tết Mậu Thân, không đủ tiêu chuẩn vào Đại học ”. Na về vùi mặt vào gối khóc hết ba ngày. Ba ngày mạ bỏ gánh cháo ngồi bên cạnh Na, mạ sợ con gái thất vọng làm điều dại dột.
Ngày thứ tư Na ngồi dậy tỉnh táo nói : – “ Không học được nữa, thôi thì mạ cho con theo o Thơ đi buôn. Con không muốn làm cái gánh nặng của mạ”. Mạ thảng thốt: – “Hiền lành như con đi buôn răng được!”. Na cả quyết: – “ Mạ cứ để con đi.”
Na theo o Thơ đi buôn chuyến từ Huế ra Đông Hà và ngược lại. Hàng đi ra là bột ngọt,vải vóc; hàng đi vô là thuốc lá Samith buôn lậu từ bên Lào về. Hàng họ phải thu giấu kỹ lưỡng, có khi phải buộc trong người để qua mắt bọn thuế vụ. Thoát được thì lời, bị bắt thì khóc lóc van xin, mất nhiều lần thì cụt vốn, thậm chí phải chịu những hành động sàm sỡ…Các trạm thuế như cái chợ, mấy tay quản lý thị trường mặt hất lên trời hống hách. Người đi buôn đa số là phụ nữ, một số có chồng đi “cải tạo” phải bươn chải để bới xách và nuôi con. Phần nhiều các chị đều tận tình giúp đỡ, che chở cho nhau khi qua trạm. Mỗi người đều có chung bi kịch của thời đại. Nhưng đi được ba chuyến thì o Thơ nói mạ cấm không cho Na đi nữa, “nhìn cảnh chướng tai gai mắt nó hư người đi”. Na nhờ bác Năm làm cái tủ thuốc lá ngồi cạnh mạ, kiếm mấy hào bạc Bắc qua ngày.
O Hường bán nhà dưới An Cựu, mang chồng và ba đứa con lên nhập hộ khẩu. O nói : – “ Nhà rộng, hai người ở phí. Con Na mai mốt theo chồng thì có hai thằng cháu trai hương khói cho ôn. Cháu ngoại mà là cháu trai thì cũng tốt hơn là cháu nội gái ”. O Thơ xí một cái dài : – “ Nói rứa mà cũng nói. Tụi nớ mô phải họ Hà…”.Mạ cắn môi coi bộ suy tính hung lắm.
Nghĩa trang Ba Tầng nhà nước bắt di dời.Tấm bảng đá khắc lịch sử nghĩa trang bị đập bỏ. Bọn họ phủ nhận tội ác đã gây ra trong Tết Mậu Thân cho người dân Huế. Mạ hốt cốt ba đem thiêu và xin sư thầy trụ trì cho thờ trong chùa Vạn Phước, nơi ngày xưa ba đã qui y. Mạ thầm thì với ba lâu lắm, hai dòng nước mắt chảy dài trên má.
Một chiều tháng ba năm bảy tám, mạ xách chiếc túi nhỏ dắt tay Na nói với o Hường đi về chợ Mai mua gạo ruộng lên nấu cháo cho rẻ. Hai mạ con xuống bến đò ở sau chợ Đông Ba. Nhưng đò không dừng ở làng Chuồn, ở Mậu Tài mà đi thẳng tuốt dưới Thuận An. Đêm hôm đó, hai mạ con ra khơi trên một chiếc gọ, đánh cược tính mạng mình với số phận…

****

Mạ ơi! Rứa là mạ đã xa con vỉnh viễn. Cho đến trước lúc nhắm mắt xuôi tay, trong đầu mạ con vẫn là đứa con gái bé nhỏ của gần ba mươi năm trước. Ngày bỏ nhà, bỏ nước ra đi, trong túi nhỏ mạ xách trên tay chỉ có cái thẻ bài của ba, tấm hình ba đội mũ nâu Biệt Động Quân, tấm ảnh ba mạ ngày cưới và cái chứng chỉ học trình của con. Nhưng nó là động lực để hai mạ con vươn lên trên đất khách quê người. Con không quên hai bàn tay nổi gân xanh của mạ khi hàng ngày phải clean sàn nhà; cũng bàn tay ấy đêm khuya đã tỉ mẩn làm từng thau bánh bột lọc, bánh nậm bỏ mối cho nhà hàng Việt Nam. Con nhớ mãi ánh mắt mừng rỡ của mạ khi con được vào Đại học Berkeley danh giá; nhớ món cá kho thơm phức của mạ khi con không hợp cái bánh Pizza béo ngậy…Con nhớ lắm mạ ơi!
Nhờ ba lượng vàng của ôn nội, nhờ sự liều lĩnh của mạ, mạ con ta đã thoát khỏi cái nhà tù lớn ấy và con đã thực hiện được nguyện ước của ôn, của ba mạ, của riêng mình. Con đã có một gia đình hạnh phúc, một nghề nghiệp vững vàng. Các cháu của mạ đã lớn lên trên một đất nước tự do, không phải trải qua những vất vả về vật chất và khổ nhục về tinh thần như mạ con ta thuở ấy. Tóc trên đầu con đã nhiều sợi bạc nhưng mỗi lần thức giấc nửa đêm con vẫn thèm được dúi đầu vào ngưc mạ, nghe mạ kể chuyện về ba, người cha thân yêu đã bị giết vào mùa Xuân Mậu Thân.
Làm sao quên được khi mỗi lần Tết đến Xuân về bàn thờ nhà ta lại nghi ngút khói nhang và hình ảnh ba nằm trên nền cát ẩm, miệng ứa máu là một nỗi ám ảnh trong con. Ngày ấy đã có lúc con thề sẽ không bao giờ về Việt Nam, về xứ Huế thương đau, về căn nhà xưa dưới chân Thượng thành đã cho con hạnh phúc và nhiều đau khổ.
Nhưng mạ ơi, con sẽ về theo lời trăn trối của mạ lúc lâm chung. Con sẽ đem theo bình tro cốt của mạ. Con sẽ vào chùa Vạn Phước cúng ba, xin sư thầy cho nhận bình tro mạ gởi ngày ấy. Con sẽ thuê một chiếc đò chèo ra giữa dòng Hương giang trước chùa Linh Mụ. Và ở đó, con sẽ nhập hai bình tro cốt làm một rải xuống con sông quê hương để ba mạ mãi mãi bên nhau trong cõi vĩnh hằng…

Hương Thủy

Di ngôn

tanhoaidavu

Rồi anh sẽ gối đầu lên giấc mộng
Ngủ quên đời trong giường mộ bình yên
Em hãy khuấy hai tay làm biển động
Che giùm anh tiếng đại bác vang rền.

Xin em hãy liệm anh bằng tiếng hát
Đắp mặt anh bằng mái tóc em buồn
Cho anh quên những xác người tan nát
Những kẽm gai còn rào kín tâm hồn.

Em có nhớ, thắp hương bằng nước mắt
Ngọt vô cùng anh sẽ uống no say
Để anh quên chuyện trần gian đói khát
Chén cơm đen muối mặn nuốt qua ngày.

Và em hãy viết thư bằng cổ tích
Đừng nhắc chuyện quê hương chinh chiến hận thù
Anh sẽ tưởng hồn anh không xiềng xích
Bay tìm em dù gió cát, sương mù.

Anh sẽ dựng nhà với chân tay làm cột
Giăng mùng cỏ xanh ngồi đợi em về
Hai chúng mình sẽ bắt đầu hạnh phúc
Tủi nhục nầy rồi con cháu quên đi.

Tần Hoài Dạ Vũ
1965

SƯƠNG KHÓI TRÊN ĐỒI…

tonnuthudung

Anh vẫn nhớ cuối con đường ra biển
Quán cà phê, cành phượng vỹ nghiêng buồn
Bài hát cũ còn nguyên màu ly biệt
Còn nguyên màu thăm thẳm tím hoàng hôn.

Bởi kỷ niệm hãy còn xanh như lá
Bặm môi thề không được nói yêu ai
Và tóc ngắn cột đời nhau cũng khó
Nên giận hờn: “Anh là gió”- buông tay!

Anh vẫn nhớ một ngày trong ký ức
“Quên em đi” con nhóc hét trên đồi:
“Anh là gió mà em là sương khói
Nên suốt đời anh chỉ đẩy em- trôi!”.

Tôn Nữ Thu Dung

Kẻ vô danh

tradoa

Lời giới thiệu: đây là một trong những truyện đầu tay, được viết cách đây 10 năm. Có một câu chuyện vui vui liên quan đến truyện này. Đó là khi truyện đăng được một thời gian, có lần tôi search google và thấy nó được đăng lại trên một diễn đàn của… GAY. Tò mò đọc hết mấy trang “bình lựng” mới thấy họ phân tách hay hơn gấp mấy lần cái truyện của mình. Họ cho rằng hai nhân vật nam trong truyện này là gay và yêu nhau. Lý giải của họ như vầy: khi một kẻ là đàn ông lại đi ganh ghét, tị hiềm “rát rạt” với một kẻ đàn ông khác, thì đó là “triệu chứng” của tình yêu đồng giới. Tôi nghĩ cũng có lý, vì đó cũng là mặt trái của thứ mà ta hay gọi là tình yêu.
Những chàng gay, những kẻ vì một lý do gì đó lại có lượng estrogen cao hơn mức bình thường, và nhờ vậy họ thường sở hữu một sự tinh tế và nhạy cảm hơn hẳn những đàn ông thuần khác. Và tôi đã học được ở họ một khía cạnh tâm lý sâu sắc mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới.

Đến lúc sức chịu đựng của tôi cạn kiệt. Tôi không thể tưởng tượng mình có thể tiếp tục ngồi chung phòng với hắn ta được nữa. Mỗi buổi sáng cứ trông thấy gương mặt tươi cười của hắn, một cảm giác khó chịu dai dẳng chạy dọc từ dạ dày lên tận óc, gây ra một thứ triệu chứng vừa tưng tức vừa muốn tống khứ một cái gì đó ra khỏi người. Từ cái dáng đi điệu đàng, đến cách ăn nói nhỏ nhẹ, hay mọi thứ của hắn,… đều khiến người tôi như nổi gai ốc khắp nơi.
Và tôi bắt đầu nghĩ đến việc phải chơi hắn vài vố cho bỏ tức…
Nhưng tôi hiểu những cách chơi khăm lặt vặt sẽ chẳng khi nào xoá nổi nụ cười trên môi hắn chứ đừng nói đến chuyện triệt hạ được hắn. Dù sao cũng phải thừa nhận hắn là kẻ sở hữu một nội tâm vững vàng. Những thứ khen chê thói thường chẳng khi nào có thể làm hắn xao động. Tâm hồn hắn là một cõi kỳ bí mà tôi chẳng thể nào mường tượng ra.
Tôi biết để làm được cái việc triệt hạ hắn, tôi phải nghĩ ra một phương án hoàn hảo, một tầm nhìn dài hơi, phải chậm rãi và chắc chắn mới hy vọng dụ được hắn vào bẫy. Mục đích tối hậu mà tôi luôn nhủ thầm trong đầu là phải làm cho hắn ta không còn hiện diện nơi công sở ấy nữa, nếu biến mất thì càng tốt. Có khi nào hắn sẽ biến mất như chưa hề tồn tại? Cái ý nghĩ “biến mất như chưa hề tồn tại” nó ám ảnh tôi từ lúc xuất hiện. Nếu một kẻ tự dưng biến mất sẽ để lại những gì? Một gia đình, một vài người quen, một vài câu hỏi và một bộ hồ sơ nghi vấn ở trụ sở cơ quan điều tra. Nếu hắn vẫn cứ biến mất không tăm tích lâu ngày, những người quen cũ sẽ mau chóng quên hắn đi. Còn gia đình, qua thời gian lâu hơn cũng sẽ bắt đầu quen dần với sự vắng mặt của hắn và lấy ngày hắn mất tích để làm ngày giỗ. Còn bên cơ quan điều tra, họ sẽ xếp hồ sơ, vì chẳng hơi đâu phải theo dõi một kẻ tầm thường và chẳng có tăm hơi gì.
Lâu dần, sẽ chẳng còn ai mường tượng ra nụ cười của hắn nữa. Cái tên xưa kia của hắn cũng sẽ nhạt nhoà vào trong vô số những cái tên đến sau, hay ngập chìm trong mớ bòng bong thông tin mà một người phải tiếp nhận hằng ngày. Và hắn tan biến vào hư vô…
Tôi phải làm được điều này.
Từ đó, ngày đêm tôi lên kế hoạch và bắt đầu theo dõi hắn chặt chẽ để tìm cơ hội. Tôi tin rằng bất kỳ kẻ nào cũng có những thói quen xấu, hay những sơ hở cố hữu nào đó trong cách sống.
Điểm đầu tiên tôi nghĩ đến đó là đàn bà. Một kẻ dễ coi và hào hoa như hắn chắc sẽ có lắm đàn bà. Và để có thể ăn vụng hẳn phải lén lút. Vâng, tôi muốn được thấy hắn lén lút. Đó là khi tôi dễ hành động nhất. Và quả nhiên, có rất nhiều đàn bà bao quanh hắn (dĩ nhiên… không kể vợ hắn). Hắn hay đến quán karaoke nhỏ ở gần bờ kênh đen. Đây là vùng tụ tập gái làng chơi mạt hạng từ khắp nơi đổ về. Một vài giờ hát hò, cợt nhã bên một ả gái điếm hết thời nào đó sẽ không quá tốn kém. Nếu mức độ “ăn chơi” của hắn chỉ dừng lại ở đây thì quả là khó cho tôi. Nhưng thật may, đúng như tôi nghĩ, hắn rất hám gái. Cứ khoảng hơn 11 giờ khuya hắn lại chở một cô ả từ đó về. Tôi lặng lẽ bám theo. Họ vào một khu nhà trọ tồi tàn cách đó khoảng vài cây số. Cái khu ổ chuột này vô cùng chật chội. Con hẻm đi vào có đoạn chỉ dành cho một chiều xe máy. Tôi đành đứng ở một góc khuất bên ngoài để đợi hắn ra. Và khoảng nửa tiếng sau, hắn xuất hiện ra về một mình.
“Chỉ có vậy, có khi chỉ phí công” – tôi bực bội vì chẳng tìm thấy tí cơ may nào trong cái trò gái gú mạt hạng này của hắn.
Nhưng, một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu tôi “tại sao không…?”. Chẳng hạn như bí mật báo cho vợ hắn biết, sau đó gia đình hắn sẽ tan nát vì ghen tuông. Rồi sau khi ly dị, hắn sẽ chuyển đến ở với ả gái bán bia ấy, và được một thời gian cái cặp kì quặc này chắc phải chia tay. Sau đó, điều tôi chờ đợi phải tới: hắn đâm ra chán đời, rượu chè bê tha và bắt đầu trượt dài. Đây chính là thời điểm mà tôi mong đợi…
Vào những đêm sau, tôi mang theo một máy chụp hình. Rồi những tấm hình ả đó đang ngồi ép sát phía sau và ôm eo hắn rất tình tứ, đã được tôi phóng to lên và gửi kèm một lá thư hướng dẫn chi tiết những điều tôi đã theo dõi được, dưới dạng nặc danh, đến địa chỉ mà nó phải đến.
Những ngày sau đó, tôi luôn đến chỗ làm thật sớm và ngồi đợi. Một lát, như thường lệ, hắn xuất hiện. Nhưng không như tôi mường tượng, hắn vẫn tươi cười chào hỏi mọi người. Cuối cùng hắn về chỗ của mình và nở nụ cười chào tôi. Và không như mọi khi, tôi không còn giữ bộ mặt lầm lì cố hữu nữa, mà ngước lên nhìn hắn và chào lại. “Sao hắn vẫn cười được nhỉ?”. Tôi cố phát hiện một điểm khả nghi nào đó trên gương mặt kia, nhưng chịu, nó vẫn như mọi khi, chẳng có biểu hiện gì khác lạ.
Được một thời gian, bỗng một hôm hắn không đi làm. Tôi bán tín bán nghi. Buổi tối, tôi phóng xe đến theo dõi ở quán karaoke đến nửa đêm, nhưng vẫn không thấy hắn đâu. Rồi liên tiếp nhiều hôm hắn không đi làm. Sau đó tôi mới được biết hắn đã làm đơn xin thôi việc. “Hay cái kế hoạch của mình đã thành công rồi?”. Cái ý nghĩ này nó làm tôi sướng rơn người.
Nhưng từ ngày hắn bỏ việc, tôi cũng đâm ra chán làm việc. Chỗ của hắn vẫn chưa có ai thay thế. Hàng ngày, tôi vẫn hay nhìn sang đấy vài lần. Tôi vẫn còn hay hình dung ra cái dáng ngồi ưỡn người của hắn trên cái ghế có trục xoay. Hắn vẫn còn ngồi đó, hay cười và luôn chào mọi người. Hắn thích nhìn sang phía tôi, và tôi có cảm giác hắn rất muốn làm thân. Nhưng mỗi lần hắn định có ý tiến tới, tôi lại càng cố tỏ ra khó chịu hơn nên hắn đành phải rút lui nhưng vẫn không mất nụ cười trên môi.
Hắn đã biến mất thật rồi, mọi người đã bắt đầu quên sự hiện diện trước đây của hắn. Công sở đôi lúc giống cái chùa, và người ra vào nơi này giống như đi viếng. Một vài nụ cười gượng, một câu nói hài hước,… rồi thôi. Gương mặt là thứ khó nhớ nhất. Thật khó để hình dung ra một gương mặt sau vài tuần không gặp. Cái gương mặt của hắn, một gương mặt mà tôi gọi là “đại chúng”, nó vừa mập vừa trắng trẻo dễ nhìn. Nó hay cười và rạng ngời khi đến công sở. Đây là điều khiến tôi khó chịu nhất. Tại sao có thể lúc nào cũng rạng ngời? Trước vô số cái nhàm chán, gương mặt nên lầm lì và khó coi. Điều này khiến bạn mất đi thiện cảm của một vài kẻ, nhưng bù lại nó thông báo cho những kẻ xung quanh một thông điêp rõ ràng rằng “Này, mọi thứ đang bốc mùi, đừng tỏ ra đạo đức giả như thế”.
Một buổi sáng nọ, khi tôi đến công sở, trên chiếc ghế của hắn đã có một thằng oắt trẻ tuổi đang ngồi. Nó nở nụ cười hơi ngượng ngùng chào tôi. Thằng oắt ngồi thẳng, mắt chăm chú vào màn hình máy tính. “Nó ta đang làm gì thế nhỉ?”. Có lẽ là một sự háo hức ban đầu, nơi công sở mới. Có thể nó đang sợ tôi theo dõi để đánh giá. Hay có khi nó đang cố tỏ ra một phong cách chuyên nghiệp khi làm việc? Thế đấy, lại một tên nữa lao vào. Những tay trẻ tuổi lại khiến tôi mau chán hơn. Bởi bọn chúng không cần hiểu, không cần biết, không cần đam mê. Nói quách ra là bọn trẻ bây giờ không biết mình cần gì. Nhưng sự xuất hiện của thằng oắt ấy là sự xoá sổ những dấu vết cuối cùng nơi đây của gã đại chúng.
Nhưng tôi biết, anh ta vẫn còn tồn tại cho đến khi nào tôi còn hiện diện ở đó…
Liên tiếp nhiều đêm, tôi ẩn mình theo dõi ở đầu con hẻm nơi khu ổ chuột phía tây. Rồi một đêm khuya, nhờ trời, hắn đã xuất hiện. Ôi, trước mặt tôi bây giờ là một tên say khướt đi đứng xiêu vẹo với quần áo dơ dáy lếch thếch. Gương mặt “đại chúng” của hắn trông gớm ghiếc và dị dạng. Hắn lần mò đi vào con hẻm nhỏ tăm tối. Tôi bám theo đến tận nơi. Một ả đen đúa gầy trơ xương ngồi trước căn gác gỗ tồi tàn rít lên một tràng ngôn ngữ lạ lùng với hắn.
Tôi nhủ thầm “hắn đã rơi xuống tận đáy thật rồi”. Chắc vợ con hắn đã từ hắn. Có ai lại có thể chấp nhận một tên bê tha như thế làm chồng làm cha. Tôi không ngờ hắn lại rơi xuống nhanh đến vậy. Cái kế hoạch “rơi xuống” của hắn mà tôi đã dày công mường tượng ra trước đó, và đã góp phần thúc đẩy, lại có thể thành công dễ dàng vậy sao? Và tôi biết, đây là thời điểm vàng mà tôi đã chờ đợi. Nó đã đến ấn tượng hơn tôi có thể tưởng. Nó đang hiện diện thật sự ở đó, nơi căn gác gỗ tồi tàn trong con hẻm tăm tối ở khu ổ chuột phía tây. Hắn đang nằm sẵn ở đó như cá trên thớt đợi tôi xuống tay những nhát chém cuối cùng.
Cho dù mọi thứ có vẻ đã sẵn sàng, nhưng tôi vẫn chưa nghĩ ra được ý tưởng khả dĩ để kết thúc cuộc chơi tăm tối này.
Hằng đêm, hắn vẫn cứ lếch thếch lê từng bước xiêu vẹo vào trong con hẻm nhỏ như để trêu ngươi tôi…
*
Rồi một đêm khuya, hắn xuất hiện trên chiếc xe máy chạy từ trong hẻm ra. Vẫn với bộ dạng gớm ghiếc thường ngày, hắn đang phóng xe chạy về phía tây, ra xa thành phố. Tôi bám theo. Đến những đoạn có ngả rẽ, hắn như cố ý chạy chậm lại chờ tôi. Hắn làm như sợ tôi bị lạc mất dấu vết hắn. Hắn vẫn cứ chạy mãi miết. Tôi kiên nhẫn bám theo. Bây giờ trời đã rất khuya. Màn đêm đen kịt bao phủ xuống con đường. Hắn vẫn cứ chạy.
Hắn đi đâu thế nhỉ?
Đã ra khá xa thành phố, xung quanh bây giờ là những khối núi cao dày đen kịt. Con đường mấp mô lên xuống với nhiều đèo dốc. Hắn định dẫn tôi đi đâu? Tôi hoàn toàn mù mờ nhưng khó cưỡng lại cái ý định bám theo. Phía trước là hắn, xung quanh là đồi núi và những hố sâu, tôi như đang trôi theo cái ý định điên khùng nào đó của hắn. Tôi không còn biết phải làm gì, ngoài việc phải bám theo hắn như ma lực. Bây giờ, trò chơi không còn do tôi điều khiển nữa. Hắn đã thực sự làm chủ, hắn đang là kẻ lèo lái cuộc chơi. Chiếc xe của hắn vẫn lao với tốc độ vừa phải. Cái ánh sáng nhỏ nhoi phía đuôi xe luôn nhấp nhô nhưng vừa đủ để cho tôi nhận thấy mà bám theo. Nhưng không lẽ hắn không dừng lại, hay hắn đang chạy vô mục đích? Có thể lắm chứ, một kẻ đã rơi xuống tận cùng như hắn thì làm gì còn có mục đích.
Bấy giờ trăng khuya đã lên cao, phủ xuống vùng núi hoang vắng một thứ ánh sáng mờ ảo ma quái. Chúng tôi đã lên đến đỉnh đèo. Bên phải là đỉnh núi đá cao vút, bên trái là vực sâu đen hun hút. Hắn dừng xe lại bên bờ vực, bước ra và đứng nhìn xuống. Cái bóng của hắn không còn xiêu vẹo nữa mà thẳng người và im lìm như bóng núi. Hắn hơi nghiêng người nhìn xuống vực sâu. Hắn đang tính chuyện điên khùng gì đây? Tôi thoáng nghi hoặc. Rồi bất ngờ hắn đẩy chiếc xe xuống hố. Tiếng nó va vào đá nghe khô khốc và sâu thẳm. Hắn vẫn đứng im. Tim tôi đập mạnh. Nhưng tôi chẳng muốn làm gì. Mà tôi có thể làm được gì? Chạy lại khuyên can hắn ư? Không đời nào. Hay ít nhất cũng kéo hắn ra xa miệng vực? Tôi không thể làm những điều đó với hắn, bởi một lý do đơn giản: hắn đang thực hiện theo đúng bài bản kế hoạch mà tôi đã mường tượng ra, trừ những chi tiết cuối cùng này. Hắn là diễn viên, còn tôi vừa là tác giả kịch bản vừa là đạo diễn. Nhưng giờ đây, hắn đang làm hết thảy, vừa đạo diễn vừa diễn xuất. Có thể hắn sẽ diễn cảnh cuối cùng này cho được hoành tráng và bi thương. Người như hắn thì có thể làm được gì trong cuộc đời, ngoài cái kiểu luôn làm vừa lòng người khác. Cho nên giờ đây, hắn có cơ hội để diễn thật bi thương cái thân phận người mà hắn đã trót mang, cái số phận run rủi đã khiến cho hắn rơi xuống tận cùng đáy. Và tôi biết hắn đang ý thức đầy đủ về điều đó. Hãy để yên cho hắn tự kết thúc. Và tôi sẽ làm người theo dõi tận tuỵ.
Nhưng hắn vẫn đứng im lìm như đá núi. Hắn còn tiếc nuối điều gì chăng? Hắn đang nhớ vợ con mình? Hay hắn vẫn chưa thỏa cơn thích xác thịt với ả gái hết thời kia? Hay tất cả những điều ấy?
Càng lúc hắn càng tiến sát miệng vực hơn. Hắn nhích từng chút một về nơi mà hắn đã chọn. Bây giờ thì tôi tin chắc rằng hắn đang muốn xoá dấu tích cuối cùng của mình trên thế gian. Sau hành động này, hắn sẽ hoàn toàn biết mất như chưa hề tồn tại.
Bây giờ hắn đã đứng sát miệng vực như không thể gần hơn. Một cơn gió nhẹ cũng đủ đẩy hắn xuống đó. Vâng, thật kỳ diệu như định mệnh, một cơn gió khuya lạnh lẽo chợt thổi đến. Nó ngang qua chỗ tôi, sau đó bay sang bên kia đường tới nơi hắn đang đứng. Hắn chao đảo liên hồi, hai tay chới với. Rồi một tiếng “soạt” nghe gọn gàng: hắn rơi xuống hố. Đất đá rơi theo va vào lá cây nghe lạo xạo. Hắn đã rơi xuống đó, nhẹ tênh, và gây ra tiếng động không đủ làm thức bọn côn trùng đang ngủ.
Tôi tiến qua đường và nhìn xuống. Đó là một vực sâu thăm thẳm tối đen. Bây giờ thi tôi tin không có cách nào để hắn quay trở lại được nữa.
Hắn đã thực sự biến mất không để lại dấu vết…
Tôi quay về nhà với lòng trống không. Một vài hôm sau tôi đi làm lại. Thằng trai trẻ vẫn đang ngồi đó, đọc đọc viết viết ra vẻ rất miệt mài. Chỉ có điểu kỳ lạ là chẳng ai buồn nhìn tôi hay hỏi vì sao tôi nghỉ làm lâu thế. Những gì tôi đã trải qua và những gì tôi đã chứng kiến, thật sự rất khốc liệt. Thỉnh thoảng tôi lại nhìn sang anh chàng trai trẻ. Hắn vẫn chẳng để ý gì đến tôi. Mà hắn trẻ thật, gương mặt còn đầy những nét ngây ngô của môt thằng học trò. Tôi đang ước ao được hắn nhìn sang tôi dù chỉ một lần. Được như thế, tôi sẽ nở nụ cười với hắn ngay lập tức…
Buổi chiều hôm ấy, khi trở về nhà, tôi nhận được một bưu kiện không đề tên người gửi. Khi mở ra, tôi thật sự bị sốc khi đó là những tấm hình mà tôi đã chụp lén gã “đại chúng”. Những tấm hình tôi đã gởi đi cùng với lá thư hướng dẫn chi tiết, bây giờ nó quay về đầy đủ cùng với một lá thư khác.
Tôi mở vội thư ra: đó là thư của hắn. Hắn đã viết thư này để gởi tôi ư?
“Chào anh,
Cám ơn anh vì đã kiên nhẫn chứng kiến những giây phút cuối cùng của đời tôi. Bây giờ chắc anh đã mãn nguyện rồi chứ? Tôi đã hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết như anh mong muốn. Nhưng tôi vẫn chưa phải là kẻ vô danh, bởi vẫn còn ít nhất một người đã biết ít nhiều về cuộc đời tôi. Người đó là anh.
Một kẻ vô danh, theo như tôi nghĩ, phải là kẻ biến mất mà chỉ có trời biết, đất biết. Trong trò chơi của chúng ta, tôi chỉ trở nên vô danh nếu anh cũng là kẻ vô danh. Anh có dám làm cái điều mà tôi đã làm hay không?
Cái hố sâu ấy vẫn còn đủ chỗ cho nhiều người, và tôi đang đợi anh đến vào một ngày nào đó.
Nhân tiện đây, tôi xin gởi trả lại anh mấy tấm hình vì không còn ai giữ chúng nữa. Và anh cũng nên biết một điều: tôi chưa lập gia đình.
Chào anh, chúc anh khoẻ. Tôi vẫn luôn đợi anh đến”
Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu làm cách nào hắn lại thực hiện trọn vẹn cái kế hoạch mà tôi chỉ mới tưởng tượng ra trong đầu.

TRÀ ĐÓA

GIỮA RỪNG GIÀ CÁT TIÊN

tranthoainguyen

Vào rừng sâu,lạc lối
Cây rừng già ngàn năm
Vạch lá tìm nguồn cội
Thấy mình vẻ vô tăm!

Rễ cắm lòng đất sâu
Chim ngàn năm về đậu.
Sụp lạy Ngài cổ thụ
Thương đời người phù du!

Giữa rừng già Cát Tiên
Trong lòng Mẹ Thiên Nhiên
Làm ngoan đồng Lão Tử
Cùng trăng chơi vạn miền.

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Thuyền Ai Trôi Trong Sương

tranvanle

Sắp Tết rồi là cũng sắp mùa Xuân,
trời vẫn lạnh, chắc mùa Đông lười biếng?
Ở nước Mỹ, mùa Xuân không én liệng,
chưa một điềm báo trước những ngày mai…

Tuyết đang rơi, gặp gió tuyết bay bay,
những chiếc khăn quàng cổ thêm bề dày thêm đẹp!
Không có nắng nên nhà nhà cửa khép,
không bàn tay nào không có bao tay!

Tôi không ở bên trong, không ở bên ngoài,
tôi đi giữa mùa Đông tuyết trắng,
tôi chắc giống ai kia mắt buồn sâu lắng,
ngó xa xôi, ai cũng tha hương?

Sắp Tết rồi…là sắp hết buồn,
tôi lại nhắc chữ Tha Hương, lại nghe buồn da diết.
Tại sao người Việt Nam mình cứ đi hoài đi miết…
không lẽ vì oan nghiệt tự ngày xưa?

Nếu Thủy Tinh đừng làm gió làm mưa…
Nếu Sơn Tinh đừng dựng cờ trên đỉnh núi…
Nếu Âu Cơ đừng dẫn năm mươi con tan đàn lầm lũi…
Nếu Lạc Long Quân đừng dẫn năm mươi con bơi lội đại dương…

Tôi chợt nhớ Vũ Hoàng Chương,
“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa…”.
Tôi giận tôi, tại sao mình “chợt nhớ”,
sẽ “chợt quên” chăng? Lúc đó, lúc nào?

Sắp đến Tết rồi, sắp thấy hoa đào,
“khứ niên kim nhật”, tôi chờ đợi.
Mây trên đèo Ngoạn Mục kia, phải không, đang nổi?
Sóng trên dòng Hương Giang kia, phải không, thuyền ai trong sương?

Trần Vấn Lệ