BÀN TAY KHỈ

nguyenphuoctieudi

DSC_4897-2-2
(Photo by tiểu di)

Ngoài trời, đêm lạnh và ướt, nhưng trong biệt thự Lakesnam màn phủ bốn bề, và lửa cháy sáng rực trong lò.
Hai cha con ông White đang say mê đánh cờ. Người cha thua hai bàn nên có hơi bực. Bà vợ ngồi gần bên ôn tồn bảo:
“Đừng nóng, có thể ván sau ông sẽ thắng.”
Ông chồng vừa ngẩng đầu lên đúng lúc để nhìn thấy một cái nhìn đồng loã giữa hai mẹ con…
Ngay lúc đó có tiếng động cửa bên ngoài và tiếng chân bước về phía cửa. Ông White đứng lên mở cửa. Chủ và khách chào hỏi nhau rồi bước vào trong.
Khách lạ là một người cao lớn vạm vỡ, mắt nhỏ và sáng, mặt đỏ gay. Ông tự giới thiệu:
“Trung sỹ Morris.”
Khách bắt tay những người trong nhà rồi ngồi xuống bên cạnh lò sưởi trong khi chủ rót rượu mời. Đến ly thứ ba, đôi mắt khách lạ bừng sáng và ông ta bắt đầu nói chuyện. Gia đình nhỏ bé của chủ nhà gồm có ba người, quây quần chung quanh để nghe ông khách lạ từ phương xa kể nhiều chuyện kỳ quái.
Ông White gật gù nói với bà vợ và cậu con:
“Hai mươi mốt năm qua, khi cậu này ra đi lưu lạc giang hồ, cậu chỉ là một thiếu niên giúp việc trong kho hàng của mình. Bây giờ nhìn xem, cậu đã trưởng thành!”
Bà vợ góp ý:
“Cậu Morris có vẻ nhàn lắm nhỉ!”
Ông chồng nói:
“Tôi cũng muốn đi chu du thiên hạ, muốn ghé qua Ân Độ để cho biết với người ta.”
Trung sỹ lắc đầu, bảo:
“Tôi nghĩ rằng ai ở đâu nên ở đó là tốt hơn hết.”
Rồi đặt ly rượu xuống, ông khẽ thở dài rồi lại lắc đầu.
Ông White vẫn tiếp tục nói lên ý nghĩ của ông:
“Tôi muốn thấy những đền đài cổ, những ông phù thuỷ và những tay thuật sỹ. à, hôm trước cậu có nói sơ qua về câu chuyện bàn tay khỉ, cậu có thể kể thêm cho chúng tôi nghe không?”
Trung sỹ vội gạt ngang:
“Thôi bỏ qua đi. Chuyện đó không đáng nói. Toàn nhảm nhí.”
Nhưng bà White tò mò hỏi:
“Chuyện bàn tay khỉ? Chuyện đó ra sao?”
Trung sỹ giải thích:
“Đó là một câu chuyện có thể gọi là huyền bí.”
Ba thính giả chồm tới lắng nghe. Ông khách mơ màng nốc cạn ly rượu rồi đặt xuống bàn. Ông White châm rượu vào ly.
Trung sỹ mò trong túi áo lấy một vật, đưa ra:
“Đây là bàn tay khỉ!”
Nó cũng chẳng có gì lạ. Người ta đã phơi khô nó tự bao giờ.
Bà White ngả người ra sau, le lưỡi. Nhưng cậu con ngắm nghía cẩn thận. Ông White hỏi:
“Cái này có gì đặc biệt không?”
Trung sỹ Morris nói:
“Bàn tay khỉ này có một phép màu do một vị phù thuỷ cao tay ấn làm ra nó. Vị phù thuỷ này muốn chứng tỏ là con người ở đời ai cũng có số mệnh, và kẻ nào toan cải đổi số mệnh sẽ bị tai nạn buồn phiền. Bàn tay khỉ này có phép màu. Ba người ở đây có thể xin mỗi người một điều ước.”
Thái độ của khách lạ rất trịnh trọng nên thính giả không cười nữa.
Cậu Herbert hỏi:
“Tại sao ông không xin ba điều ước đó?”
Trung sỹ nhìn cậu thanh niên bằng đôi mắt của người lớn tuổi dành cho kẻ hậu sinh. Rồi ôn tồn đáp, gương mặt tái hẳn:
“Tôi đã có xin rồi!”
Rồi nâng ly rượu lên nốc cạn. Bà White hỏi thêm:
“Còn có ai khác xin nữa không?”
Trung sỹ đáp:
“Người đầu tiên được cả ba điều ước. Tôi không rõ hai điều trước là gì. Nhưng điều thứ ba là chết. Nhờ người đó chết nên tôi mới có vật này.”
Giọng nói của ông ta rất trầm buồn, nghiêm nghị nên mọi người im lặng lắng nghe
Ông White nói:
“Nếu cậu đã được ba điều ước rồi thì vật này không còn giá trị đối với cậu nữa. Tại sao cậu lại giữ nó để làm gì?”
Trung sỹ lắc đầu:
“Tôi có ý định bán nó, nhưng nghĩ lại tôi không muốn. Vì nó đã gây tai nạn cho biết bao người rồi. Vả lại không ai mua đâu, không ai tin chuyện tôi nói. Họ nghĩ thời buổi này làm gì có những chuyện hoang đường như thế. Vài người đồi thử trước rồi mới trả tiền sau.”
Ông White lại hỏi:
“Nếu cậu được phép xin thêm ba điều khác, cậu có muốn không?”
Trung sỹ lắc đầu:
“Tôi không biết, tôi không nghĩ tới vấn đề đó.”
Y cầm bàn tay khỉ lên xoay qua xoay lại giữa mấy ngón tay rồi bỗng ném nó vào lửa.
Ông White kêu lên một tiếng, cúi xuống kéo nó ra thật nhanh.
Trung sỹ cản ngăn:
“Nên đốt nó đi là hơn.”
Ông White lắc đầu:
“Nếu cậu không muốn giữ nó thì cậu cho tôi.”
Trung sỹ lắc đầu:
“Không được. Tôi ném vào lửa. Nếu ông tiếc mà giữ nó lại thì có chuyện gì xảy ra, ông đừng phiền tôi. Ông nên ném vào lửa đi cho được việc.”
Ông White lắc đầu, chăm chú ngắm vật mà ông vừa làm chủ. Một lúc sau ông hỏi:
“Muốn ước, phải làm thế nào?”
Trung sỹ:
“Nắm vật này trong tay mặt và lớn tiếng nói rõ những điều ước. Nhưng tôi khuyên ông hãy suy nghĩ cẩn thận lại. Nên thấy rõ những hậu quả của hành động của ông.”
Bà White kêu lên:
“Giống như chuyện “Ngàn lẻ một đêm”.
Bà đứng lên lo buổi ăn tối, đùa:
“Đâu, ông ước cho tôi có bốn tay để làm công việc nhà nhanh chóng.”
Ông chồng lấy bảo vật trong túi ra, và cả ba người trong gia đình bật cười khi trung sỹ hốt hoảng nắm tay ông lại, dặn dò thêm:
“Nếu ông cương quyết xin ba điều ước thì nên xin sao cho hợp lý.”
Ông White bỏ lại vật đó vào trong túi, kéo ghế mời trung sỹ ngồi xuống bàn.
Trong khi ăn, người ta quên câu chuyện bùa chú, nhưng sau lúc ăn cả ba người ngồi quây quần bên anh quân nhân để nghe những câu chuyện kỳ thú ở Ấn Độ.
Ông khách cáo từ, Herbert tiễn ông ra cửa rồi quay vào ngay nói với cha mẹ cậu:
“Nếu câu chuyện huyễn hoặc về cái bàn tay khỉ là chuyện bịa đặt cũng như các câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm mà ông ta vừa kể cho mình nghe thì mình có bảo vật đó cũng chẳng ích gì.”
Bà White nhìn chồng chăm chú rồi hỏi:
“Ông có trả cho cậu đó chút đỉnh gì không?”
Ông chồng:
“Của chả đáng gì. Cậu ta không thèm nữa, ném vào lửa. Tôi lượm mót, cậu ta lại khuyên tôi vứt đi.”
Cậu Herbert vẻ tin tưởng:
“Đâu mình thử ước xem. Nếu linh ứng thì gia đình mình sẽ giàu có, tên tuổi, hạnh phúc. Ba hãy ước được làm vua. Và trước khi làm vua, ba sẽ không sợ má nữa.”
Nói xong cậu chạy quanh bàn ăn vì mẹ cậu đuổi theo toan “ký” vào đầu cậu về câu nói phạm thượng đó.
Ông White lại móc túi lấy bùa ra, nhìn nó với vẻ bán tín bán nghi, lẩm bẩm:
“Tôi chưa biết phải ước gì đây? Kể ra thì đời tôi đầy đủ, chẳng thiếu thứ gì.”
Cậu con đến bên cạnh cha, nói:
“Bây giờ nếu có thêm một ít tiền xài chơi chắc ba thích lắm. Vậy ba nên ước có hai trăm bạc.”
Người cha cười dễ dãi, như tự tha thứ tánh dễ tin của mình rồi cầm bàn tay khỉ đưa lên cao, vẻ trịnh trọng. Ông nheo mắt về phía bà vợ đang ngồi sau chiếc dương cầm. Bà đánh lên mấy nốt nhạc thật mạnh.
Ông chồng dõng dạ nói to lên:
“Tôi muốn có hai trăm bạc.”
Bà White đánh thêm mấy nốt nhạc như để phụ hoạ với lời ước ao của chồng. Nhưng liền sau đó ông White kêu lên:
“ý trời đất ơi! Nó nhúc nhích!”
Vừa lạ, ông vừa nhìn cái bàn tay khỉ đang cử động trên sàn. Ông nói tiếp:
“Khi nãy tôi có ước là trông thấy bàn tay này nhúc nhích trong bàn tay tôi như một con rắn. Rõ ràng là điều tôi ước đã được ứng nghiệm.”
Cậu con cầm bàn tay khỉ lên, đặt trên bàn, nói:
“Nhưng con chưa thấy có tiền, và con cam đoan là số tiền đó sẽ không bao giờ đến với ta.”
Bà vợ hoang mang:
“Ông ước chuyện không hay!”
Ông chồng lắc đầu:
“Chỉ là trò đùa thôi. Bà đừng thắc mắc. Dù sao chuyện này cũng làm cho tôi kinh sợ.”
Cả gia đình ngồi bên lò sưởi. Hai cha con ông White ngồi hút ống điếu.
Bên ngoài gió gào dữ dội hơn bao giờ hết, cánh cửa trên lầu bị gió đập kêu rầm rầm, tiếng động đó khiến ông White lo sợ không đâu.
Bầu không khí lạ thường bao trùm gia đình cho đến khi họ đi ngủ.
Cậu Herbert nói:
“Con hy vọng ba sẽ nhận được số tiền hai trăm bạc mà ba ước trong một túi lớn đặt trên giường của ba và sẽ có một cái gì ghê gớm ngồi trên nóc tủ chứng kiến lúc ba nhận số tiền đó.”

Sáng hôm sau trời trong sáng, Herbert mỉm cười trước những điều lo sợ hoang đường trong đêm. Bàn tay khỉ bỏ lăn lóc trên mặt bàn trong phòng. Điều này cho thấy là báu vật lúc này không được người ta tín nhiệm, nâng niu như trong đêm.
Bà White nói:
“Tôi nghĩ ông quân nhân nào cũng vậy. Họ mê tín dị đoan lắm. Vậy mà chúng mình cũng chịu khó lắng nghe. Thật là vô lý. Vào thời buổi này làm gì có những chuyện ước nguyện như vậy! Và nếu như chuyện này có thật thì số bạc hai trăm đến tay ông bằng cách nào?”
Cậu Herbert xen vào:
“Chắc là từ trên trời rơi xuống!”
Ông White nói:
“Cậu Morris quả quyết là các điều ước ứng nghiệm một cách tự nhiên khiến người ta nghĩ đó là sự ngẫu nhiên.”
Sau khi ăn xong, Herbert đứng lên:
“Nếu có tiền thật thì ba hãy giữ nguyên trước khi con về. Con chỉ sợ số bạc đó sẽ biến ba thành một người hà tiện và má với con phải giữ số tiền đó cho ba.”
Bà mẹ cười trước câu nói đùa của con. Bà theo Herbert ra cửa rồi quay trở về bàn ăn. Bà có vẻ vui tươi trước thái độ dễ tin của ông chồng.
Dù vậy khi nghe người phát thư gõ cửa, bà cũng chạy nhanh ra hy vọng có tiền. Nhưng bà chỉ nhận được giấy đòi tiền Herbert may quần áo của ông thợ may.
Đến bữa ăn chiều, vẫn không có gì mới lạ. Bà mẹ lẩưm bẩm:
“Chốc nữa đây thằng Herbert về, nó sẽ chế nhạo ông nhiều nữa cho mà coi!”
Ông White rót bia vào ly nói:
“Có một chuyện lạ là bàn tay khỉ cử động khi tôi nắm nó trong tay.”
Bà vợ cười:
“Đó là tại ông giàu óc tưởng tượng.”
Ông chồng quả quyết:
“Tôi không nghĩ mà tôi biết rõ ràng nó cử động…”
Bà vợ không đáp, bà đang nhìn một người bên ngoài đang có những cử chỉ khác thường. Ông này nhìn đăm đăm vào nhà, nhưng do dự nửa muốn vào nửa muốn không.
Bà White thấy kẻ lạ ăn mặc đàng hoàng, đầu đội nón thật mới. Ba lần y đứng lại trước cổng rồi tiếp tục đi. Đến lần thứ tư y đứng lại, đặt tay lên cổng rồi bỗng nhiên cương quyết đẩy cửa cổng bước vào con đường trước cửa nhà.
Bà White vội vàng cởi khăn choàng trước ngực giấu dưới nệm.
Bà đưa khách lạ vào phòng. Ông này có vẻ không được tự nhiên. Ông thường nhìn trộm bà và lơ đãng nghe bà giải thích vì sao phòng khách không được ngăn nắp như thường ngày.
Bà White không dám hỏi ngay lý do cuộc viếng thăm của khách lạ. Sau cùng ông khách mới nói:
“Thưa bà, tôi được người ta nhờ đến đây để…”
Khách im lặng một lúc rồi tiếp:
“Tôi từ Maw và Meggins tới đây.”
Bà White giật mình, hổn hển nói:
“Có việc gì không? Herbert có chuyện gì?”
Ông chồng xen vào:
“Bà nên bình tĩnh. Mời ông ngồi. Chúng ta nên thong thả. Tôi nghĩ ông không mang tin dữ đến cho chúng tôi, phải vậy không?”
Vừa nói ông vừa nháy mắt với khách lạ.
Ông khách ấp úng:
“Tôi rất tiếc…”
Bà White vẫn không an tâm:
“Con tôi bị thương?”
Khách lạ gật đầu, ôn tồn nói:
“Dạ phải, cậu Herbert bị thương nặng. Nhưng cậu cảm thấy không đau đớn gì hết!”
Bà mẹ chắp hai tay lại kêu lên:
“Cám ơn Chúa đã giúp con tôi. Chúa đã…”
Bà chưa dứt lời, bỗng thấy khuôn mặt buồn thảm của khách lạ, bà bấm bàn tay chồng để giữ bình tĩnh.
Im lặng một lúc thật lâu, khách lạ nói thật nhỏ:
“Cậu Herbert bị kẹt trong guồng máy!”
Ông White lặp lại câu đó như một tiếng vang:
“Kẹt trong guồng máy!”
Rồi ông nhìn ra ngoài cửa sổ, siết chặt bàn tay vợ. Ông nói với khách lạ, giọng thật buồn:
“Herbert là đứa con duy nhất còn lại của chúng tôi. Nó chết rồi, chúng tôi thật là bơ vơ.”
Khách lạ ho mấy tiếng, đứng lên từ từ bước về phía cửa sổ. Ông nói:
“Công ty phái tôi đến để tỏ lời phân ưu với ông bà về tai nạn đáng tiếc vừa qua.”
Khách nói một hơi không nhìn đôi vợ chồng già, tiếp tục:
“Tôi chỉ là nhân viên của công ty, xin ông bà hiểu cho tình thế của tôi.”
Không ai trả lời. Gương mặt bà vợ tái xanh, đứng tròng và hơi thở của bà chỉ còn thoi thóp. Còn ông thì có vẻ xa vắng.
Khách lạ nói tiếp:
“Công ty Maw và Meggins không nhận trách nhiệm trong tai nạn này. Nhưng vì cậu Herbert đã giúp việc lâu năm cho công ty nên công ty quyết định gửi đến cho ông bà món tiền gọi là…”
Ông White buông bàn tay của bà vợ mà ông đang nắm, nhìn khách lạ với đôi mắt đầy kinh hãi:
“Bao nhiêu?”
“Hai trăm bạc.”

3.
Trong nghĩa địa mới lập rộng thênh thang, cách nhà độ hơn một dặm, hai vợ chồng già chôn cất đứa con duy nhất. Họ trở về nhà sống âm thầm như hai chiếc bóng.
Chuyện xảy ra quá nhanh chóng khiến họ ý thức được tầm quan trọng của vấn đề. Họ vẫn ở trong tình trạng chờ đợi, hy vọng một cái gì xảy ra để cho họ nhẹ bớt được phần nào gánh nặng sầu đau, quá nặng đối với hai vợ chồng già.
Nhưng ngày lại ngày thấm thoát qua và niềm hy vọng mơ hồ của họ trở thành tuyệt vọng.
Họ sống âm thầm. Cả ngày không trao đổi với nhau một lời, vì họ chẳng còn gì để nói. Cho nên ngày tháng đối với họ thật dài, dài không chịu nổi.
Một tuần sau, ông White giật mình thức giấc vào lúc nửa đêm. Ông dang cánh tay ra và chỉ thấy một mình trên giường.
Gian phòng tối đen, chỉ có tiếng khóc nghẹn ngào bên cửa sổ. Ông ngồi dậy, lắng nghe một lúc rồi bảo:
“Bà ơi! Bà vào đây, ở đó coi chừng trúng sương, trúng gió.”
Bà vợ khóc oà lên:
“Nhưng con tôi còn lạnh hơn tôi nhiều!”
Ông chồng vẫn còn mê ngủ, ông nằm xuống chiếc giường ấm êm, nhắm mắt lại.
Ông đang mơ màng thì nghe tiếng bà vợ hét lên thật hãi hùng. Ông lồm cồm bò dậy thì nghe tiếng bà vợ la tiếp:
“Cái bàn tay khỉ! Cái bàn tay khỉ!”
Ông chồng hỏi:
“ở đâu? Để làm gì?”
Bà vợ thất thểu tiến về phía ông nói:
“Tôi muốn thấy cái bàn tay khỉ! Ông đã thiêu hủy nó chưa?”
“Chưa. Tôi để nó ở ngoài phòng khách, trên giá đàn. Nhưng để làm gì?”
“Mình mới chỉ ước có một điều, còn hai điều nữa.”
Ông chồng kêu lên giận dữ:
“Trời ơi! Bấy nhiêu đó còn chưa đủ sao?”
Bà vợ cũng to tiếng không kém:
“Chưa! Tôi còn có thể ước thêm một điều nữa. Ông xuống dưới lấy lên đây. Nhanh, nghe không? Và ước cho thằng Herbert sống lại.”
Ông White ngồi dậy, vứt mền sang một bên, hoảng hốt:
“Trời đất! Bà có điên không?”
Nhưng bà vợ vẫn cương quyết:
“Ông đi lấy ngay đi. Và ước cho thằng Herbert sống lại.”
Ông chồng quẹt lửa thắp ngọn nến, bảo:
“Bà nên đi ngủ đi, bà không biết bà đang nói gì.”
Bà vợ vẫn không chịu thua:
“Chúng ta đã có điều ước thứ nhất, tại sao lại không có điều ước thứ hai?”
Ông chồng lẩm bẩm:
“Đó là một sự ngẫu nhiên.”
Bà vợ hét lên:
“Ông có đi nhanh không! Và ước y như tôi nói.”
Ông chồng đành đi xuống lầu trong đêm tối, mò mẫm vào phòng khách. Đến bên lò sưởi ông thấy bảo vật vẫn nằm ở chỗ cũ. Một sự lo sợ xâm chiếm lấy hồn ông. Ông sợ ước cậu con sống lại, cậu sẽ bị tật nguyền suốt đời. Với sự lo sợ đó ông toát mồ hôi, lò mò mãi mà không trở lên lầu được.
Nét mặt của bà vợ đổi sắc khi ông White bước vào phòng ngủ. Ông cảm thấy sợ cả bà vợ của ông.
Bà vợ kêu lên:
“ước đi!”
Ông ấp úng nhưng bà vợ lại quát:
“ước đi!”
Ông White nắm tay đưa lên:
“Tôi ước con tôi sống lại!”
Cái bàn tay khỉ rơi xuống sàn. Ông thấy nó nhúc nhích.
Hai vợ chồng già chăm chú nhìn bảo vật một lúc, tâm trí như đặt hết tin tưởng vào phép lạ. Một lúc sau bà vợ tiến đến bên cửa sổ, vén màn lên. Bà đứng đó, nhìn ra ngoài chờ đợi cậu Herrbert sống dậy trở về.
Ông chồng ngồi bất động trên ghế. Ông cảm thấy khí lạnh thấm vào cơ thể, nhưng vẫn ngồi yên, thỉnh thoảng liếc về phía bà vợ đang nhìn lom lom ra phía ngoài đường.
Ngọn nến đã tàn, ném những mảnh ánh sáng chập chờn lên trần, lên tường. Cuối cùng, khi tim nến đã lụi, đốm lửa bỗng loé lên lần chót rồi phụt tắt. Ông White thấy nhẹ người khi bảo vật không đem lại lời ước thứ hai của ông. Ông trở về giường nằm. Một hai phút sau bà cụ cũng đến ngồi bên ông.
Không ai nói với ai lời nào, cả hai nằm trong tiếng tích tắc của đồng hồ. Trong sự yên lặng của đêm, dường như có tiếng răng rắc xuất phát từ thang lầu, tiếng chuột chạy sát chân tường. Bóng tối như đè lên người khiến ông cụ ngột ngạt, khó chịu. Sau khi nằm ráng một chút để lấy can đảm, ông cụ lấy hộp quẹt, bật lửa lên, đi xuống lầu để tìm một cây nến khác.
Đúng vào lúc đó có tiếng gõ cửa thật nhẹ, lén lút cho nên tiếng động rất nhỏ, gần như đủ lớn để cho người nghe thấy.
Hộp quẹt rơi khỏi bàn tay ông White. Ông đến chết sững, hơi thở của ông ngưng lại cho đến khi tiếng gõ cửa lại vang lên lần nữa. Bấy giờ ông mới quay lưng lại để chạy về phòng ngủ, đóng cửa thật nhanh.
Một tiếng gõ cửa thứ ba vang động khắp nhà. Bà cụ giật mình kêu lên:
“Cái gì vậy?”
Ông chồng run run đáp:
“Chuột, một con chuột chạy lên thang lầu, suýt dẫm lên chân tôi.”
Bà vợ ngồi trên giường lắng nghe. Lại một tiếng động vang lên khắp nhà. Bà kêu lên:
“Herbert về! Chính Herbert về.”
Bà chạy về phía cửa, nhưng chồng bà đã tới trước bà. Ông nắm tay níu bà lại, hỏi:
“Bà định làm gì?”
Bà vợ kêu lên:
“Herbert về! Nó là con tôi. Ông phải để tôi mở cửa cho nó vào. Buông tôi ra!”
Ông chồng run rẩy, van nài:
” Không! Bà không nên cho nó vào!”
Bà vợ bất bình:
“Coi kìa! Ông sợ cả con ông nữa sao? Hãy buông tôi ra. Để tôi mở cửa cho nó vào.”
Rồi bà nói to:
“Má đây! Herbert, chờ má một chút!”
Lại thêm một tiếng, rồi hai tiếng gõ cửa. Bà vợ vùng khỏi tay chồng, chạy ra khỏi phòng. Ông chồng theo bà tới cầu thàng, dang tay bất lực gọi với theo, nhưng bà lao xuống đến tầng dưới.
Ông nghe tiếng mở khoá và tút chốt thật khó khăn. Thế rồi tiếng bà vợ hổn hển kêu to:
“Còn cái chốt! Ông mau xuống mở giùm đi!”
Trên lầu, ông chồng đang quỳ xuống sàn mò kiếm cái bàn tay khi. Ông cố kiếm được nó trước khi kẻ gây ra tiếng gõ cửa bước vào nhà.
Trong khi đó tiếng gõ cửa vang dội liên tiếp như một loạt súng. Ông nghe tiếng kéo ghế mà bà vợ đặt ngay trước cửa. Ông nghe tiếng chốt cửa khua lên. Cũng trong lúc đó ông tìm được cái bàn tay khỉ.
Hổn hển, ông nắm nó vào bàn tay, đưa lên cao nói lên lời ước thứ ba và cũng là lời ước cuối cùng.
Đột nhiên tiếng gõ cửa ngưng ngay tức khắc, mặc dầu những tiếng động trước đó vẫn còn vọng dội vào trong nhà. Cùng lúc ông nghe tiếng ghế kéo ở phía cửa và cánh cửa mở toang. Gió lạnh lùa vào, thổi tạt lên tận cầu thang…
Tiếng rên đầy đau đớn thất vọng của bà vợ khiến ông White có thêm can đảm để chạy xuống bên cạnh bà. Rồi như còn quán tính, ông chạy thẳng ra cổng bên ngoài. Ngọn đèn đường lù mù đối diện với ngôi nhà toả ánh sáng yếu ớt xuống con đường im vắng, không một bóng người…

W.W.JACOBS
nguyễn phước tiểu di

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

12660318_963349927053714_1511705570_n
12674436_961421647246542_1289047596_n
12717488_911259565655857_5582094403793843756_n

Qua Giao Thừa vài phút… Trong những thời khắc đầu tiên của năm mới, TUONGTRI.COM rất vui mừng và nhẹ nhõm thông báo cùng các bạn yêu quý, các độc giả thân thương rằng :
Hai tác phẩm NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ và KHÔNG THẤY NÚI của tác giả KHUẤT ĐẨU đã được xuất bản và sẽ ra mắt vào ngày 15/2/2016.
Một món quà đầu năm dành cho những người tâm đắc với chữ nghĩa.

1.NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ :
Trọn bộ Trio 226 trang: Gồm NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ, NGƯỜI GIỮ NHÀ THỜ HỌ, và LÃO TIỀN BỐI
“Cũng như nhân vật chính trong truyện vừa mới sinh đã bị đem thả trôi sông, tôi thả tác phẩm của mình lên mạng. Sống chết thế nào là số phận của nó. Dù sao tôi cũng xin được cảm ơn.
Trân trọng,”
KHUẤT ĐẨU

2. KHÔNG THẤY NÚI :
349 trang: Gồm TRUYỆN DÀI NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC, TRUYỆN NGẮN , và NHỮNG TRANG VIẾT NGẮN. Một tác phẩm tập hợp những bài giá trị nhất, tâm đắc nhất của nhà văn KHUẤT ĐẨU .
Đọc để “… khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…”
“…Một người bình thường, tình cờ đọc được, hỏi mượn chủ nhân cuốn sách, đem về nhà coi tiếp rồi lại cho người khác mượn. Cứ thế mà cuốn sách chạy vòng vòng khắp nơi, qua tay biết bao nhiêu là người. Một cuốn sách sức mạnh của nó nhiều hơn là trăm cuốn sách được ký tặng trong một buổi ra mắt sách.” Tôi nghĩ rằng quyển NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ và KHÔNG THẤY NÚI sẽ là những quyển sách như thế! (Tôn Nữ Thu Dung).
Đó là lý do để chúng tôi trân trọng xuất bản và giới thiệu cùng các bạn những tác phẩm này.

Xin inbox địa chỉ của bạn hoặc email về: tuong_tri@yahoo.com nếu bạn muốn có nó sớm nhất. Cảm ơn các bạn đã quan tâm.
Bạn cũng có thể mua ở AMAZON.COM

DẤU LẶNG

tonnuthudung

 

Mùa Xuân ngại ngùng lối nhỏ
Khẽ thôi, vạt nắng lưng đồi
Cánh bướm chao vờn trước ngõ
Mơ hồ nhặt sợi tình rơi.

Mùa Xuân đi ngang vườn cỏ
Lỡ tay đánh thức hoa vàng
Mùa Xuân dịu dàng thổ lộ:
Em là ngọn gió lang thang

Mùa Xuân vẽ thêm quầng mắt
Nâu nâu màu sữa cà phê
Mùa Xuân tô hồng môi nhạt
Thơm như giọt nắng rơi về.

Mùa Xuân cầm tay nói khẽ:
Đừng quên lời đã hẹn thề
Sương -hay là mưa- như lệ
Ngàn sau buốt lạnh sơn khê…

Tôn Nữ Thu Dung

xuân ca

npphan

em bước vội làm chi
trong tiếng ca đồng vọng
nắng rất đẹp, xuân thì
trên bờ môi đầy mộng

em bước vội làm chi
con chim hiền ngái ngủ
vỗ cánh trong hồn anh
ngày ru màu gió cũ

tặng em mùa thúy cúc
thơm ngát nụ tình xanh
tặng em mùa lá mới
đang ươm mộng trên cành

em bước vội làm chi
qua mùa xuân mở hội
anh nghe lòng ngần ngại
tình đã ấm hẹn hò

tặng em trời tơ lụa
hoa nở đẹp đồi thơ
đôi mắt nào bỡ ngỡ
trên cánh mộng mùa xưa?

xin em bước nhẹ nhàng
con chim hiền ngái ngủ
mắt nhìn đời bao dung
những vùng trời xao động

bàn tay em ấp ủ
những cơn mộng muôn đời
sương che trời khai hạt
rên đỉnh mùa chơi vơi

NP PHAN

Đêm giao thừa đầu tiên trên đất Mỹ

trantrungdao

Tôi xuống máy bay ở phi trường Logan, Boston khoảng 10 giờ tối, một ngày cuối tháng 11, 1981 trong cái lạnh se người. Tôi và T., một người tỵ nạn cùng chuyến và nhỏ hơn tôi vài tuổi, nhìn quanh không thấy ai. Chờ khoảng mười phút, chúng tôi tự động lần mò theo lối đi có chữ Exit để ra ngoài.
.
Bác Tôn Thất Ân làm việc cho Viện Quốc Tế (International Institute of Boston) có trách nhiệm đón chúng tôi ở phi trường. Ngày đó, người đi đón có thể vào tận cửa nhưng bác ngồi chờ ở trạm lấy hành lý vì nghĩ thế nào chúng tôi cũng ra đó trước. Tôi không có hành lý gì cả ngoài một túi nhỏ cầm trên tay, trong đó chứa vài bộ áo quần và những giấy tờ cần thiết. T. cũng thế. Bác thấy chúng tôi nên rời khỏi ghế bước lại gần. Bác Ân không lạnh lùng nhưng cũng không quá miềm nở. Bác làm việc đón đưa mỗi ngày theo phận sự một nhân viên có lương chứ không phải đón mừng một thân nhân từ bên kia trái địa cầu vừa đến. T. có bà con ở Boston còn tôi đến một mình. Lát nữa, bác Ân sẽ đưa T. đến nhà bà con của chú ấy, và sau đó sẽ mang tôi đến nơi tạm trú đầu tiên trong hành trình tỵ nạn còn mờ mịt và chông gai của mình. Sau này gần gũi bác nhiều hơn, tôi biết bác Ân rất bao dung, rộng lượng và đầy tình nhân ái nhưng tính tình hơi nghiêm nghị. Tôi gặp lại bác Ân nhiều lần khi bác còn ở Boston và luôn nghĩ đến bác như một người ơn lớn của mình.
.
Cuối tháng 11, trời Boston khá lạnh. Với một người đến từ vùng nhiệt đới và cô đơn như tôi càng cảm thấy lạnh hơn nhiều. Nhớ lại vài giờ trước đó, người đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô gái Việt làm cho cơ quan thiện nguyện. Người con gái Huế có đôi mắt đẹp và giọng nói ngọt ngào, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm. Tôi nhỏ con nên muốn một chiếc áo cỡ nhỏ. Người đẹp nhìn tôi như thương hại cho thân hình ốm yếu nhưng lắc đầu và chỉ vào thùng áo cùng một cỡ như nhau. Nếu ở trường Luật Sài Gòn, tôi đã cám ơn đôi mắt ấy một bài thơ tả tình đầy sáo ngữ nhưng ở Chicago hồn thơ cũng đã lạnh cóng như mặt hồ Michigan gần đó. Từ Chicago, đoàn tỵ nạn từ Philippine chia tay nhau lên máy bay nội địa đi về nhiều ngã. Bầy chim xa mẹ vốn lẻ loi lại càng lẻ loi hơn.
.
Bác Ân lái xe đưa chúng tôi ra khỏi phi trường nhưng không đến thẳng khu nhà chúng tôi ở. Bác bảo phải ghé lại Viện Quốc Tế trên đường Commonwealth trước cho biết chỗ vì kể từ ngày mai chúng tôi sẽ phải đến đó nhận tiền ăn cho đến khi được cấp welfare (một loại tiền trợ cấp của chính phủ dành cho người nghèo khó), và cũng luôn tiện lấy thêm đồ dùng. Bác lấy một chiếc nệm mỏng và bảo đó sẽ là của tôi.
Bác đưa T. về với bà con của chú ấy trước sau đó đưa tôi đến khu nhà số 15 đường Park Vale ở Allston, cách Boston chừng 10 dặm. Khi đó căn nhà đã có nhiều người ở trước. Tôi nhập chung với một số người ở tầng hai. Tầng ba cũng có vài gia đình người Việt trong đó có gia đình anh chị Liêm mà tôi vừa gặp lại ở Atlanta đầu năm nay sau hơn ba mươi năm xa cách. Tôi rất mừng khi gặp lai anh chị. Ngày xưa chúng tôi ở chung một khu nhà nhưng ít có dịp chuyện trò vì đời sống quá tất bật khó khăn. Bây giờ khi bước qua rồi và nhìn lại chúng tôi mới thấy quý khoảng không gian và thời gian chung sống.
Tôi đến sau và được xếp nằm gần cửa sổ nhưng chắc không phải là một ưu tiên. Nằm gần cửa kính thường lạnh hơn và gió lọt vào. Sau này mới có giường nhưng mấy tháng đầu ai cũng nằm dưới sàn gỗ. Cảm giác bất an tràn ngập kín trong lòng. Tất cả đều xa lạ. Từ những người chung quanh đến cảnh vật mùa đông, không ai và không có một ngoại cảnh nào có thể gọi là cảm thông, chia sẻ với mình.
.
Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa đông đầu rét buốt. Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ. Tôi đã băng qua nhiều ngọn núi trong đời mình nhưng những năm đầu trên đất Mỹ là ngọn núi cao nhất. Tôi phải vượt qua, nếu không, tất cả các thành tựu trong quá khứ sẽ trở thành vô nghĩa.
.
Đúng giao thừa, người anh lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một nải chuối và một bình hoa.
Thấy anh chuẩn bị cúng, tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng, thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên đất khách. Không có tiếng khóc trong đêm giao thừa đầu tiên nhưng lòng ai cũng nặng trĩu ngậm ngùi..
Không nói ra, nhưng hình như người nào cũng sợ phải đối diện với nỗi cô đơn, lạc lõng trong đêm giao thừa. Chúng tôi, thay vì về lại phòng mình, ngồi quây quần nhau chung quanh chiếc bàn dài. Vài đĩa cánh gà chiên. Vài lon bia. Một bình trà. Những bầu tâm sự. Mẹ già. Người yêu. Bè bạn. Những câu chuyện vượt biên hồi hộp và gian khổ.
.
Có một điều không ai trong chúng tôi đã hối tiếc việc ra đi. Chúng tôi kể lại cho nhau nghe chặng đường nguy hiểm của mình một cách hảnh diện. Thành quả dù lớn hay nhỏ cũng đều có giá và tự do thường phải trả giá đắt nhất, đôi khi bằng chính mạng sống của con người. Năm 2010, nhân ngày 30 tháng 4 đài VOA có phỏng vấn tôi lý do ra đi và tôi trả lời, bởi vì “Quê hương Việt Nam sau 30-4-1975 là quê hương để nhớ để thương chứ không phải để sống”.
.
Và như thế, tôi đón cái Tết đầu tiên với những người xa lạ nhưng vô cùng cần thiết trong đời sống mới, những người đã gọi nhau là đồng hương và tôi cũng được hưởng thêm một tình cảm mới mà chúng tôi gọi là tình đồng hương. Giống như một gia đình, lắm khi vui và cũng có khi buồn nhưng từ những bước đầu khó khăn, nhỏ nhoi và vui buồn đó, cộng đồng Việt Nam đã được sinh ra và lớn lên vững mạnh đến hôm nay.

Trần Trung Đạo

.

From USA To Viet Nam

tranvanle

Người đầu tiên anh gửi
lời Chúc Mừng Đầu Năm
là em thôi, em ạ
bởi vì em: Mùa Xuân!

Em mãi mãi Tân Nhân
hai đứa mình Tân Khách
hai Thế Kỷ đi lạc
bây giờ gặp lại, Vui!

Từng nụ hoa đào cười
Hoa Vì Em Mà Nở!
Mỗi nụ hoa đào đó
Đà Lạt Mình Muôn Năm!

Em! Em là mùa Xuân
Em là đầu Năm Mới
Chim trên cành đang đợi
hót ca mừng em, kia!

Mùa Xuân nữa đang về
Chào nước non yêu quý!
Anh chào em từ Mỹ,
chào em từ Trái Tim!

Em Em Em Em Em!
Đất Trời không biên giới
Chân mây xin em đợi
Anh sẽ về bên em…

Bốn mươi năm nhiều thêm
Tình mình càng vô lượng
Những gì mình ước muốn
Gom lại Một Mùa Xuân!

Anh cho em bâng khuâng
Anh cho em xao xuyến
Anh bảo bầy én liệng
Về, trao em tình anh!

Trần Vấn Lệ

NGÀY XUÂN NGHE TIẾNG CHIM TU HÚ

hacthanhhoa

Ở quê cứ mỗi lần hè đến
Bầy chim tu hú lại quay về
Tiếng chim gọi bạn xôn xao nắng
Tiếng chim đánh thức những trưa hè

Cây vải mờ bừng bao mắt lá
Gọi nhựa lên cành để trổ bông
Tu hú gọi cây mau kết trái
Trời xanh ngọt đến tận trong lòng…

Mấy chục năm làm mây viễn xứ
Theo mưa qua núi gió qua đèo
Những tưởng lòng ta thành nấm mộ
Đâu ngờ tu hú vẫn bay theo

Ở quê tu hú kêu mùa hạ
Bây giờ tu hú gọi mùa đông
Nghe tiếng chim kêu buồn muốn khóc
Tiếng kêu ngân mãi đến không cùng

Tu hú kêu hoài cũng thế thôi
Có những đên nằm mơ thấy núi
Tỉnh dậy đồng xanh bát ngát trời

Không hẹn mà luôn luôn đúng hẹn
Một năm mới ghé lại một lần
Mỗi năm cứ đến mùng hai tết
Vui mừng như gặp lại cố nhân

Tết này có cái mà chờ đợi
Có chút quê hương để trở về
Mùng hai ngồi đợi mong bạn đến
Mang về cho chút ấm tình quê

Hạc thành Hoa

MÀU ÁO XUÂN

nguyenvanthien

Tháng giêng em mặc áo hồng
Đào phương Bắc trách gió đông thích đùa
Xuân cho em tuổi thèm chua
Chim bay khế rụng mấy mùa hồn anh

Tháng hai em mặc áo xanh
Trời phương Tây giận mây thành cơn mưa
Giọt buồn lất phất lưa thưa
Bến xuân ai gọi đò vừa sang ngang

Tháng ba em mặc áo vàng
Mai phương Nam tiếc mau tàn sắc hoa
Lặng thầm treo vách – Guitar
Xuân theo tiếng hát đi xa với người

NGUYỄN VÂN THIÊN

XUÂN HƯỚNG QUÊ NHÀ

 

macphuongtu

 

 

Vẫn mang chiếc áo lỳ năm tháng cũ
Vẫn chiều nay,
Bên khung cửa hôm nào
Ta nhấp nháp chung trà hương viễn xứ
Cánh én về
Trời xuân mộng nghiêng chao.

 

Ta lặng lẽ nhìn qua khung cửa sổ
Mây nghiêng nghiêng
Vờn sóng cỏ nghiêng nghiêng
Xuân đang đến,
Hay xuân còn đâu đó…?
Nghe niềm đau cát sỏi vọng trăm miền.

 

Rồi đêm nay pháo giao thừa rực sáng
Muôn sắc màu trời New York đơm hoa
Để bao triệu con người mơ nhận dạng
Cho vạn vì sao chìm khuất giữa giang hà.
 

Những mâm pháo sáng lên đêm New York
Hay rực trời khắp Châu lục xa xôi
Pháo có làm nên cuộc đời thêm vị ngọt ?
Cho vạn nỗi niềm còn cắn lệ trên môi.!

 

Bao giá rét vẫn căm căm từng hơi thở
Dù đất trời có làm nên cảnh xuân
Những cơm áo đã làm nên con nợ…!
Những sắc màu đã trĩu nặng nghìn cân…!

 

Xuân đến đi
Tự ngàn đời vẫn thế
Dù hôm nay…
Bên khung cửa hôm qua
Ta vẫn thấy cuộc đời tuồng như thể
Những mong manh niềm vui khổ phôi pha.

 

Khi ngoài kia những màu hoa màu cỏ
Thanh khí đất trời đưa hương cỏ hương hoa
Và Xuân đến
Khi bình yên vạn nỗi niềm đây đó
Bên khung cửa khuya nay mây hướng quê nhà.

(Atlanta, đêm giao thừa 2016)

MẶC PHƯƠNG TỬ

RŨ BỤI CUỐI NĂM

nguyenthiminhngoc

Không dễ mà bốn phụ nữ Mỹ gốc Việt này cùng một cô từ Việt Nam sang có thể cùng tụ tập nhau trên đất Mỹ. Mỗi người có vài cái tên, tạm gọi họ bằng cái nghề, đúng hơn là cái nghiệp mà họ đang theo. Cô Văn, gần lục tuần, là người lớn tuổi nhứt, dù cô luôn tin rằng tuổi trẻ, chính là cái tuổi cô đang có. Cô Nghệ, khoảng năm mươi, làm những công việc phải chường mặt ra đám đông là một việc mà cô rất không thích vì phải chăm sóc vẻ ngoài. Cô Đẹp, là người luôn tránh việc khai tuổi, nhưng khi năm cô tụ lại, thấy rõ tuổi của cô ở giữa cô Nghệ và cô Vũ. Vũ ở Việt Nam sang làm việc, tuổi ở cuối ba mươi. Người cuối, cô Vợ, được bạn bè cho là có sắc mặt biến đổi theo trạng thái tinh thần, lúc như ba mươi, lúc tưởng chừng sáu chục. Tình yêu và hạnh phúc, chính xác hơn là niềm vui và nỗi buồn, đã có thể khiến người ta, nhất là phụ nữ, bị dao động khoảng thời điểm sống của mình như vậy đó.

Kỷ niệm lần gặp nhau hy hữu này, cô Đẹp đề nghị tất cả đi massage. Hè năm ngoái, ba cô, Văn, Đẹp và Vũ tình cờ gặp nhau ở San Jose, Đẹp đãi hai bạn một giờ massage chân ở một tiệm của người Tàu. Như nail trên đất Mỹ, hầu hết đều có chủ gốc Việt, còn sở hữu các tiệm foot massage ở Mỹ thường là các người Mỹ gốc Hoa.

Bấy giờ là mùa Đông, chuẩn bị sang Xuân, năm cô hội ngộ tại Orange County. Nghệ đề nghị.
“Kỳ này mình tới chỗ massage của Korea gần phi trường đi.”
Nghệ biết được nơi ấy do lần trước, khi cô sang làm đạo diễn ở Cali, một nữ nghệ sĩ đã đãi “thầy” bằng vài tiếng tẩy trần trước khi cùng tập luyện. Lần đầu cô Vợ bước chân đến mấy chỗ như vầy. Văn và Vũ thì thỉnh thoảng có đến foot massage, nhưng cũng là lần đầu họ đến một nơi vừa có nhiều phòng Rừng, Muối, Băng, Lửa như ta thường thấy trong phim Hàn, vừa có nơi bán thức ăn, và đặc biệt còn có dịch vụ được gọi là body scrub, khách sẽ được đặt nằm trên bàn cho nhân viên tắm táp.

Cả năm trong năm bộ đồng phục của Y- Spa bước vào căn phòng đầu treo lủng lẳng nhiều bịch tỏa vị thuốc nam. Nghệ kêu chúng gợi nhớ tới những bịch ‘của quý” của các thái giám trong vài phim Hàn, Tàu mà vì nghề nghiệp, Nghệ phải xem. Bốn cô còn lại ngơ ngác không hiểu, Nghệ kể thêm, các thái giám cực kỳ trân quý cái thứ mà vì công danh họ phải cắt lìa nên buộc con cháu, bằng bất cứ giá nào, loạn lạc phiêu dạt cũng phải bảo quản cẩn thận để chôn theo, không thì kiếp sau sẽ lại tiếp tục sống đời hoạn, thiến. Nằm trên những tấm khăn lót nền cho đỡ nóng, hai người đầu tiên không chịu nổi là cô Vợ và cô Văn. Văn kéo cô Vợ sang ngay phòng Băng.

Người kiệm lời nhứt trong nhóm có lẽ là Vũ. Tính ra Vũ là hậu bối nhưng Nghệ cho là tài năng và tấm lòng của Vũ không kém, thậm chí hơn nhiều lớp tiền bối trong nghề. Nghệ đã định cư bên Mỹ, thoi thóp làm nghề, vui là chính, đôi khi đi làm vở phải bỏ tiền riêng đắp vào để đỡ nhục với chồng, vì thù lao cho nghề đạo diễn kiêm viết trường kịch xứ này thua xa tiền tip của nghề nail, so với công sức bỏ ra cho cao lắm là vài ba xuất diễn, còn phải hầu hạ nhiều diễn viên không biết diễn nhưng thích chường mặt với đời bằng mọi giá. Nghệ sang Mỹ trể, muốn đi học nhưng chồng can, nói lớn tuổi rồi, học ra làm được bao nhiêu năm thì phải hưu, thôi ngồi yên đó, chồng nuôi. Nhưng dễ gì Nghệ ở yên với những người quen, dư biết cái nết không thể “say no” của Nghệ nên cứ lôi kéo Nghệ từ tiểu bang ít người Việt bay về Cali để giúp nhau làm nghề. Nghệ hỏi chuyện về những ngày Vũ đi làm việc ở Indiana. “Lính” của Vũ hóa ra không có người Hoa nào như nhiều người tưởng. Người Việt càng không. Ngoài giờ tập, niềm vui của Vũ là xem tin tức ở Việt Nam. Cùng Vũ nhắc những tin nóng vừa đọc được, Nghệ kêu chẳng vui nổi. Vũ thì tóm gọn lại: “Theo em, thì toàn bộ những chuyện thảm hại này đều là hậu quả của một nền giáo dục tệ hại trong nước”

Bên căn phòng Băng, Văn không tin được khi nghe cô Vợ lần đầu kể thiệt, đã lâu lắm, thân thể cô không được chồng chạm vào. Nói đúng hơn, cô không cho chồng làm điều đó. Việc này chỉ ba người biết, cô, chồng, cùng đứa con của hai người, vì từ lúc gặp lại chồng trên đất Mỹ, cô đề nghị được ngủ riêng cùng con gái. Đó là anh chồng thứ hai. Anh chồng đầu đã có với cô Vợ một đứa con trai. Thằng bé là đích tôn. Cả nhà chồng trân quý thằng bé như một ân sũng của Thượng Đế. Họ dồn tất cả tình thương và mọi món ngon vật lạ, áo đẹp, xe máy cho thằng bé trong giai đoạn hậu chiến khó khăn. Chỉ có một điều họ không thích về thằng bé là mẹ nó. Sợ thằng bé bị bắt đi lính sang K. họ dấu cô, đóng vàng để Chồng Nhứt của cô cùng thằng bé vượt biên. Ngủ một đêm, sáng dậy, không còn chồng và con, thấy mình không còn lý do gì để ở lại căn nhà này nữa, cô Vợ xin về sống với mẹ. Nhà chồng hoan hỉ chấp thuận ngay. Ngay sau đó, cô quen người sau này là chồng thứ hai của cô. Trước cô, Chồng Hai đã có mối tình với Chúa, sâu đậm tới độ anh cố học để thành linh mục. Gặp cô Vợ, anh cỡi áo. Họ sống với nhau, với tâm thế vọng về đất Mỹ như vùng đất hứa mà kinh thánh đã ghi. Ngày cô Vợ đi sanh đứa con với chồng mới thì anh đã xuống tàu bằng số vàng cô đi bán thuốc tây lậu dành dụm được. Người mang hoa đến nhà bảo sanh mừng Bé Út ra đời lại là anh chồng Nhứt sau khi ở tù ra. Chuyến tàu của chồng Nhứt khởi đi từ Cà Mau đã bị bão thổi giạt về lại vùng Bà Rịa. Chồng Hai đến Mỹ, một thời gian sau, viết thư về đòi chia tay cô Vợ với lý do: sang đây mới thấy “đời không như là mơ, nên đời thường giết chết mộng mơ” như lời một bài hát. Về sau, chồng Nhứt cũng đi được, trên tàu anh quen một ni cô và khi lên bờ, kết hôn với cô ấy. Cô Vợ mang con sang đất Mỹ, vì con mà ráp lại với chồng Hai, nhưng cô còn giữ thư tuyệt tình xưa để ra điều kiện như điệu Lý Đò Đưa: “lấy chồng thì em vẫn lấy, nằm chung em chẳng nằm”.

Vẫn chưa tới giờ sang khu body scrub, cô Văn chịu không nổi lạnh, để cô Vợ ở lại với cô Nghệ, thêm cô Vũ mới sang. Văn theo Đẹp đến khu hàng ăn. Đẹp nói gần đây thấy truyện của Văn lác đác đăng trên báo hải ngoại, nhưng sao chưa thấy chị viết truyện em kể hôm về Việt Nam năm kỉa năm kìa. Thật ra Văn rất thích mẫu chuyện Đẹp đã kể, thích tới độ muốn phát triển thành tiểu thuyết trăm trang, dĩ nhiên Văn sẽ còn lồng ghép thêm nhiều câu chuyện đời ly kỳ, thuộc loại cấm kỵ khác.

Năm đó, những ngày trước Tết, Đẹp từ Việt Nam gọi về Mỹ cho Văn, âm điệu lâng lâng vì sau chuyến ra Huế dự một Lễ Hội Áo Dài, nguyên văn của Đẹp là cô được vài trai “rượt”. Đẹp cho vào chung kết một trai trẻ kiểu Kim Soo-Hyun trong Vì Sao Đưa Anh Tới – My Love from Star và một chàng có vẻ chửng chạc hơn, như Ji Sung ở Kill Me, Heal Me – mà các trang mạng dịch là Tìm Lại Chính Mình. Đẹp gọi Mỹ Nam trước là Kim, còn Phờ-Tờ-Sờ (Phó Tiến Sĩ) sau là Sung. Cô bị đốn tim ngay khi nghe cả hai đều cho là cô chỉ mới ba mươi. Cô thiệt thà tin hai trai đẹp đều bị nhan sắc của mình khuynh đảo. Cả hai tận tụy đưa Đẹp tung tăng đi chơi không chỉ khắp cố đô Huế. Riêng Sung còn tổ chức đi chơi riêng đến các hang động ở Quảng Bình. Đêm ở lại Phong Nha, Đẹp kể xém thất tiết với ông chồng hờ người Mỹ của mình. Sau một tràng cười ha hả phóng khoáng, Đẹp đố, chị biết cái gì kìm em lại không? Rồi Đẹp giải luôn, văn hóa! Hay nói đúng hơn là văn minh Mỹ cứu em đó. Giường chiếu của một hotel mắc nhứt vùng đó vẫn gây Đẹp cảm giác nhớp nháp rẻ tiền nên cô đã xô Sung ra, vùng chạy.

Văn thích chi tiết đó, nhưng cũng chính chi tiết đó khiến Văn kìm tay lại. Hoàn cảnh Văn hơi hơi giống Đẹp. Chồng vẫn cho Văn về Việt Nam một mình để thăm mẹ già còn sống nơi đó. Lỡ viết ra, chồng Văn không tin chuyện của Đẹp mà nghi Văn kể đời mình, có thể sẽ không thoải mái với những chuyến về thăm mẹ của Văn như vậy nữa.

Văn cũng thích tiếng cười ha hả phóng khoáng của Đẹp khi mồng năm Tết, từ Việt Nam trở về lại Mỹ. Đẹp kể về đến đây rồi, nhận mail mới nghe hai em nó rón rén thổ lộ ý muốn được Đẹp mời sang Mỹ chơi. Hóa ra chẳng phải các ẻm mê nhan sắc thiếu phụ nửa chừng xuân của Đẹp, mà điều cuốn hút của Đẹp nằm ở cái ID mang quốc tịch Hoa Kỳ.

Văn hỏi còn liên lạc hai em nó không, Đẹp cười nhẹ hơn, nói còn giữ Kim thôi vì sau khi lộ tà ý xong, thấy không hiệu quả, nó khai thiệt là gay và xin làm em nuôi của Đẹp. Loại em nuôi đó Đẹp có hàng chục, và không ít các em nuôi tin Đẹp chỉ là con búp bê ngồi rơm nên tha hồ bày trò vòi tiền Đẹp mà không biết rằng những mảng trò ấy Đẹp “rành sáu câu”, cầm bằng mình giả ngu mua vé mắc xem các kịch sĩ tồi diễn kịch.

Tới giờ được tắm, cả năm vào phòng tập thể, tháo hết áo quần, cho nước lên người trước khi vào khu có người tắm cho mình. Ca dao cho là: Hơn nhau cái áo, cái quần, Cỡi ra mình trần ai cũng như ai! Còn Văn thấy bốn thân thể đang ở quanh cô, mỗi người một vẻ, khác hẳn body của cô. Vòng số 2 lớn nhất thuộc về Văn, đứa phải ngồi nhiều để ôm laptop, gỏ. Tương phản với Văn là Đẹp với cái bụng gần như lõm vào. Nghệ nhìn là biết dù Đẹp bỏ nhiều giờ tập luyện để bảo vệ nhan sắc mình nhưng lõm kiểu đó hẳn là phải có dao kéo can thiệp. Vòng số một và số ba hấp dẫn nhất thuộc về cô Vợ. Văn thầm nghĩ, tiếc quá, sự hấp dẫn đó lại phải để hoang phế dù tiếng đời tàn nhẫn, truyền nhau rằng cô mạnh mẻ khát tình trong sinh hoạt mây mưa. Với Văn, thân thể đẹp nhất, hài hòa nhất trong năm đứa chính là body của của Vũ. Ngực Vũ nhỏ nhưng săn chắc như nhiều vũ công và biên đạo múa khác. Dường như biết Văn ngắm mình, Vũ ngượng xoay mông lại. Thâm tâm, Vũ lại muốn được nhìn xuyên thấu Văn, để xem có cái gì trong trái tim của người đàn bà viết văn mà Vũ đã trót yêu.

Năm cô, trần truồng như năm đứa trẻ sơ sinh, ngửa rồi sấp cho năm phụ nữ khác tấm táp, kỳ cọ bằng đôi tay mang găng nhám. Mỗi chiếc bàn có tấm vách lững ngăn nên họ chẳng thấy nhau cũng chẳng thể chuyện trò thêm. Cuối năm, cơ duyên gặp nhau, cùng nhau đi rũ bụi cuối năm, có những niềm riêng tưởng trút theo ra cho nhẹ người, hóa ra chưa đủ giờ, cũng chưa đủ tin nhau nên ai cũng còn giữ chút trăn trở riêng mình.

Như cô Vợ, khi còn đi học, vốn có mối tình đầu rất đẹp, chỉ là một lần nắm tay. Nay Tình Đầu lấy vợ sang Mỹ với hợp đồng nếu hai bên tìm được tình xưa thì buông nhau ra. Thực tế thì Tình Đầu đã tìm tới cô Vợ, tuy không còn chăn gối với chồng Hai, nhưng vẫn đang là Vợ của người ta. Vợ của Tình Đầu, cũng gặp khó khăn tương tợ, nên cả bốn – không, cả sáu – người, nhân danh những đứa trẻ con mình, đồng ý cứ giữ nguyên hiện trạng các cặp vợ chồng trên giấy tờ. Cô Vợ nằm đó, cảm nhận nước tràn trên người mình, mà tưởng như ai đó rưới lệ đời xuống thân thể hoang lạnh của cô.

Còn cô Nghệ, khăn nhỏ đắp mắt. Trong tăm tối vô minh, dường như cô bay lơ lững trên cao, xấp mặt ngó xuống cái xác rỗng của mình, kiểu như Tam Tạng trong ngày cuối chuyến thỉnh kinh thấy chính hình hài mình nổi trên ngọn sóng. Nó còn Là Mình không, khi mình vẫn liên tục “say yes” với những trì níu choán giờ không cho cô sanh nở những tác phẩm vì mình, cho mình?

Tâm hồn đơn giản nhất là cô Đẹp. Nhưng đơn giản không có nghĩa cô không cảm thấy cô đơn. Cô từng học design ở Boston, cô cũng có khả năng trở thành một người thiết kế. Cô biết mình đẹp, cô bỏ giờ nhiều cho thân thể mình. Rồi như chưa đủ tự tin chạy đua với Ác Thần mang tên Thời Gian, cô liệng thêm vào đó tiền để kéo dao can thiệp. Hôm nay, nhìn rõ thân hình bốn cô bạn kia, cô chợt thấy quan niệm về đẹp của mình chông chênh lay đổ. Cô thấy có vẻ như thân thể mình bất toàn nhất, nhưng rồi cô lấy lại bình tỉnh ngay, nếu đẹp là tự nhiên thì cô tin đứa hồn nhiên nhất trong cả bọn chỉ thể là cô.

Hơn ai hết, Vũ mong nước sẽ lôi tuột hết xuống sàn những sợi vấn sợi vương trong cô với Văn. Sẽ không đi tới đâu cái tình cảm trái thường này. Nhiều người nói một phụ nữ viết văn không nên lập gia đình. Vũ thấy câu đó dùng cho các nữ biên đạo thì đúng hơn. Văn đã có chồng ở tuổi ngũ tuần. Bạn bè hồi hộp chờ ngày Văn ly dị, nhưng mười năm rồi, chuyện đó không xảy ra. Có khá nhiều người cầu hôn Vũ, mỗi lần như vậy, Vũ lại nhớ tới Văn. Nhớ điếng. Nhớ ngứu. Như tự mình đưa tay, ôm choàng lấy tim mình, ròi chà, rồi xát, rồi vò, rồi vuốt, y như thân thể cô trong tay nhân viên Y-Spa hiện tại. Vũ tự hỏi, Văn có bao giờ có cảm giác tương tợ với mình, rồi cô tự trả lời, chắc chắn là không.

Đúng như Vũ cảm nhận, hôm nay, nhân gặp lại các cô bạn này, Văn vẫn còn niềm tin rằng tuổi trẻ, chính là cái tuổi cô đang có, nhưng cô cũng không chối được sự thật rằng cô là người lớn tuổi nhứt so với họ. Cái list 50 những điều phải làm trước khi chết cô chưa soạn ra. Giờ cho công đoạn body scrub chỉ có 30 phút này, trong nửa tiếng ngắn ngủi ấy, dường như nhiều ước mơ dang dỡ thời trẻ trôi qua đầu cô. Nào giấc mơ viết về các nhà tù ở Việt Nam qua các triều Pháp, Mỹ, communist, nào dự tính cuốn sách cho trẻ em xem để bọn nhỏ ngoài Bắc biết vùng Nam Kỳ Lục tỉnh có những huyền thoại từng tỉnh, vùng khác nhau để qua đó tụi nó phân biệt được Đồng Tháp khác Cà Mau, Long Xuyên khác Rạch Giá, Bạc Liêu ra làm sao. Đó là chưa kể tới những người trút hết tâm sự vào Văn với mong cầu cô sẽ nhào nắn nó thành phim, truyện, kịch, cô hăm hở nhận lời nhưng rồi buông xuôi theo dòng đời lôi kéo. Cô thấy mình tệ hại không kém gì những lời Nghệ vẫn thường tự trách là đã để mất MÌNH.

Rời khu body scrub, đồng hồ chỉ 11:10. Người nóng ruột muốn đi về liền là Nghệ nhưng ngại các bạn mất vui nên không dám hối. Cô sắp phải nhận một số cuộc gọi từ các nước khác. Văn tỏ ý lo cho cô Vợ nhưng cô Vợ đã nói cứ ở đến giờ đóng cửa, không sao. Không để Nghệ đợi lâu, một nữ nhân viên người Hàn đến nhìn họ, rồi cúi đầu, nói bằng cái âm hưởng broken English:
– Ma’am, please we are closed!

Cô Đẹp càu nhàu, sao lại có thể như vậy được, mình đang tắm, cô ta bận quần áo đầy đủ rồi cứ đứng vậy mà nhìn sao?

Câu nói được lập lại lần thứ hai với Vũ khi cô đang làm động tác nữ tính nhứt là chải đầu. Lần này thì nhóm “đuổi khách” tăng thêm ba người.

Vũ chỉ đồng hồ và tấm bảng ghi giờ đóng cửa là Midnight.

Khi câu ấy được lập lần thứ ba với bốn nhân viên đứng cạnh Văn thì tất cả đều có cảm giác người nói ra câu ấy có một cặp mắt mang hình viên đạn.

Đẹp cất tiếng cười ha hả bất hủ của cô, cho là cô nhân viên này càng hối thì càng làm mình bối rối khiến thời gian hoàn tất vẻ ngoài sẽ bị kéo dài hơn, mới có thể bước ra đúng giờ đóng cửa. Văn nghi có thể cô ta cũng đang có một chuyện nhà nào đó cần kíp phải ra về. Nghệ thêm, biết đâu cô ta lại đi kiếm một Spa khác để nằm yên cho người ta tắm..

Chuyến về, Đẹp lái chiếc xe do mình mướn. Vũ im lặng như thường lệ. Cô Vợ thì tỏ vẻ sảng khoái khác thường. Nghệ sốt ruột hơn khi xe từ Irvine về bị kẹt cả khúc dài. Cô đành ngồi trên xe làm việc bằng viber khi một nữ nghệ sĩ từ Singapore đúng hẹn gọi cô. Văn lấy giấy nguệch ngoạc ghi vài điều phải hoàn tất trong năm tới. Khi cô buông bút, Vũ nắm tay cô hơi lâu. Văn nhìn Vũ như một dấu hỏi, Vũ lắc đầu như không có gì, nhưng Văn đọc được trong ánh mắt và nụ cười mỉm của Vũ những chữ: Love You, My Spring!

Nguyễn Thị Minh Ngọc