NGÀY CŨ…

huvo

Ta những tưởng giấu mùi hương năm trước
Đợi mùa sang trổ lộc nở xuân hồng
Ngày rạng rỡ hoa vàng che lá biếc
Tình phù sa thầm vực dậy đơm bông.

Em chiếc lá với bốn mùa biêng biếc
Hạ reo vui hay đông giá phủ phàng
Rừng thuở ấy ân cần buông tay mở
Để vàng thu gieo nắng hửng miên man.

Gởi làn gió bay theo tà áo mỏng
Bóng ngày xuân tha thướt gót mong manh
Tìm một thuở để một đời vọng tưởng
Mộng ngày xanh hương rớt đọng trên cành.

HƯ VÔ

Mùa xuân của Xuyến

nguyentri

Năm hết. Dãy trọ mười bốn phòng, trên dưới năm mươi nhân mạng ai cũng chuẩn bị cho ngày trở về, không năm nào vui bằng năm nay.
Cô A anh B chị C ai cũng nói về nơi mình làm việc bằng một giọng phẩn khởi. Nào tháng này tao hơn một trăm tiếng tăng ca. Mà tăng ca là nhân với một chấm năm đó nghe. Người khoe năm nay công ty tui cho công nhân phần quà cả ba trăm ngàn luôn đó. Một tháng lương thưởng mới là trên cả tuyệt vời à nha. Lại thêm xe đưa về tận nhà. Nghệ An thì chung tuyến với Hà Tĩnh. Châu Đốc thì về cùng Đồng Tháp. Đại khái là ai cũng vui như hội.
Vậy thôi, tha phương một năm chỉ mong về để hát quê hương là chùm khế ngọt. Vậy là tốt quá rồi, chả bù với năm ngoái – một người nói – tao nằm trong trọ khóc hết nước mắt nhớ ông bà già lủi thủi sau vườn. Tui cũng vậy chớ hơn gì ông – người khác thêm-. Năm nay chủ trọ cho mỗi người một phần quà tết gọi là. Không vui mới thiệt là lạ à.
Chỉ riêng Xuyến lại buồn. Buồn muốn chết.
Chớ sao vậy kìa? Làm ăn thất bát hay bị mất của?
Không phải đâu. Xuyến buồn bởi vì Thành – người Xuyến gọi là chồng – không thương hoa tiếc ngọc chi ráo. Thành phủ vào mặt Xuyến bằng bạt tai, che thì anh ta cho cú đấm vô lưng. Bạt đến cú cả chục phát và Xuyến la như giặc. Vậy mà cả dãy trọ chả ai ghé đến để can ngăn. Bà chủ thì lâu lâu mới tạt qua coi sóc. Cũng một lần bà chủ đến bởi được a lô, nhưng thằng chồng nạt rằng vợ tui hư tui trị mắc mớ chi đến chị? Xét cần tui dọn đi chỗ khác, chị lấy quyền gì xen vô gia đình tui? Chủ trọ không quý khách trọ thì quý ai? Vậy nên đèn nhà ai nấy tỏ. Gần dãy trọ có một tạp phẩm chuyên mua bán hành tiêu ớt tỏi muối đường vân vân, chủ nhân có tuổi lại bán thiếu tới kỳ lương thanh toán nên khách trọ cũng nể chút chút. Chủ quán can riết rồi cũng kệ cha tui bây tao mệt quá.
Nhưng tệ quá thì thôi. Đánh nhau thì ta phải can ra mới là đạo lý chớ, lỡ suông đòn thì sao? Đằng nầy cả mấy chục nhân mạng mà lơ. Thiệt là… Cả mấy đứa chung sở làm với Xuyến cũng vậy luôn. Bốn năm sáu bảy tám đứa đóng cửa phòng điềm nhiên chặt hẻo. Xuyến la làng kệ Xuyến, thiệt là tàn nhẫn quá thôi. Có đứa còn nói:
“Kệ mẹ nó. Ngu ráng chịu.”
Ái chà. Có kệ mẹ, có ngu ráng chịu là chuyện không hề thường đâu nghe. Đàn bà con gái mà xướng kệ mẹ thì cũng gớm ghê à. Ồ! Chuyện nhỏ thôi, thời buổi nầy văng tục chửi thề trong miệng các mặt hoa da phấn có chi đâu lớn. Nghe nè:
“Đ… má. Đồ mê trai. Cho chết mẹ nó đi.”
Xin chớ có ngạc nhiên khi người đẹp bổ báng người ơi. Nghề nghiệp nó khiến con người ta phải thế. Nguyên dãy trọ nầy các cô là khách víp. Bà chủ quý lắm. Không như các công nhân của công ty, tiền trọ bê trể là thường. Các cô thì tuyệt. Một đêm thu nhập dăm bảy trăm một triệu là thường. Tiếp viên nhà hàng nó vậy. Lương lậu không bao nhiêu nhưng đã là nhà hàng thì khách phải xịn, mà xịn thì bo biếc là chuyện vặt. Làm nghề nầy trước tiên phải đẹp, thứ đến phải dịu dàng, thứ nữa phải biết uống bia. Và phải biết chấp nhận. Đôi khi có men, hay lợi dụng men khách sàm sở tí tí em cũng cười. Cười là liệu pháp tinh thần tuyệt vời. Nếu khách bị mê hoặc bởi nụ cười mà mời đi chơi sau giờ làm việc, tức sau mười hai giờ đêm, thì tuỳ, bởi nửa đêm ngủ hay thức tùy em quyết định.
Em đẹp. Đóng vai hiền cả diễn viên hô-li-út còn chắp tay chào thua. Nhưng đó là diễn, còn thực tế thì Bà La Sát phải kêu em là chúa. Vậy mà để cho chồng nó đập thì ngu là phải quá.
Bà Ba chủ quán nói với ông Ba rằng:
“Chồng gì mà chồng. Chồng hổng chồng hông thì có. Để tui kể ông nghe. Con Thắm nói…”
“Chuyện của thiên hạ kệ thiên hạ. Mắt thấy tai nghe còn không ra ôn dịch gì. Ở đó mà kể lại. Mà con Thắm nói với bà sao?”
“Ủa, Bà ba bỉu môi, nói vậy mà sao hỏi?”
“Thì nghe nhưng đừng có tin. Như mình vậy.”
Như mình vậy là ông Ba nói gia cảnh chính mình. Ông Ba có thằng con. Mụ nội cha nó. Ăn chung ngủ chung đi làm chung, vậy mà lúc công an ập vô nhà mới biết thằng con, chẳng những chích mà còn tàng trữ và mua bán chất cấm. Thử hỏi còn ai trên đời nầy để tin nữa không hả trời đất? Cũng may là ông nhà nước cho uống mêthađôn và ông con chịu uống bằng không là vác bị đi ăn mày hết kiếp. Nên chi ông Ba không tin chuyện kể lại cũng đúng. Nhưng mà nghe cho vui:
“Con Thắm một quê với thằng Thành và con Xuyến. Nó kể rằng…”
Thành có vợ và có một con trai. Vợ con Thành đang ở với ông bà nội ở quê. Con Xuyến yêu đương với một thằng họ Sở. Sau khi ngâm xong câu con ong đã tỏ đường đi lối về nó dông tuốt. Đang buồn Xuyến gặp Thành. Biết người ta có vợ con mà vẫn đâm đầu vô cặp kè là quá xá ngu. Lại thêm con vợ thằng Thành chận đường xáng mũ bảo hiểm vô đầu mắng vô mặt là đồ giựt chồng nữa đó. Cha má anh chị em lôi Xuyến về. Anh trai điểm mặt Thành mà rằng:
“Mày có tin là tao cho mày một dao không?”
Vậy rồi cả hai tạm biệt sông nước đi xây tổ uyên ương. Thời nầy tổ ở đâu cũng có. Một tổ mười sáu mét vuông thêm gác lửng quá đẹp cho một đôi. Chàng đi làm công ty, nàng tiếp viên nhà hàng. Lương chàng không bao nhiêu. Năm triệu cả tăng ca thì tết công gô mới sắm được xe, đằng nầy chàng còn phải gửi tiền về cho con trai ăn học. May mà Xuyến làm ra tiền. Tiếp viên mà, lương chả bao nhiêu nhưng bo biếc là chủ yếu. Xuyến tậu được tay ga xịn loại bốn chục triệu một chiếc. Sáng chàng thức sớm rồ ga ra chợ mua đồ ăn sáng về cho nàng. Sau đó chàng lên đàng đến công ty. Nàng ở nhà vùi đầu ngủ mãi mê. Tỉnh dậy là cùng bạn chung sở làm thi nhau chặt hẻo. Vợ chồng Ba chủ quán khoái lắm bởi các cô xài sang lắm – A lô năm cà phê sữa đá, năm tô mỳ có trứng nghe chú Ba với lại một cây bài cào. Công an sở tại còn khuya mới bắt được các cô đánh bài, vừa xuất hiện là bà Ba đã a lô…Kiểu vậy nên bà Ba mới xác định rằng:
“Thằng Thành lợi dụng sự nhẹ dạ của con Xuyến để ăn tiền con nhỏ ông hiểu không? Nó là thứ đàn ông bám chéo áo đàn bà. Thứ đó trời không đánh thánh cũng đâm.”
“Thôi, cho tui xin. Bà không thấy có rất nhiều điểm vô lý dồn vô một chỗ không?”
“Vô lý sao?”
“Bà nói thằng Thành có vợ con rồi?”
“Ừ.”
“Con vợ thằng Thành từng xáng mũ bảo hiểm vô đầu con Xuyến?”
“Ừ.”
“Vậy mà con Xuyến vẫn đâm đầu đi theo là nó bị điên. Bà nghĩ đúng không? Chả có ai trên thế gian nầy biết người khác có vợ có con mà còn đắm đuối. Nếu là con gái mới lớn thì còn có thể, đằng nầy con Xuyến đã hai mươi mấy, yêu đương rồi, bị phụ tình rồi. Nó khôn nẻ võ, tui với bà cố cựu xứ nầy, bầy con bốn đứa làm hộc gạch được chiếc Wave an-pha là hết, nó mới mấy tháng là tay ga chạy vù vù, nó thua cây bài bằng tui làm hai ngày công thợ. Nó đâu có điên bà hiểu không?”
– “Nhưng mà…”
– “Tui biết thằng Thành vợ con rồi. Tui biết con Xuyến bị đánh ghen luôn. Cả chuyện thằng Thành đem tiền về cho con nó tui cũng biết. Nhưng chuyện mấy đứa ở đây bảo thằng Thành bám chéo áo đàn bà là không đúng. Chuyện thằng con mình thoi thằng Thành lúc tui không có nhà là trật chìa bả hiểu không?”
“Thứ đàn ông mà đánh đàn bà bị con mình đập là phải.”
“Thằng Thành sai nhưng mình chỉ can thôi. Đánh người là không đúng.”
“Tui không hiểu ông nghĩ sao mà đi binh thằng Thành.”
“Để tui nói bà nghe. Thằng Thành tâm sự vầy nè…”

Thành là con nhà có tí chút của nả. Sống bằng nghề mua lúa bán gạo. Đại khái đậu ghe lớn ngoài sông cái rồi dong thuyền nhỏ vô mấy chòi lúa trong tắc, trong ráng, trong bưng. Một kiểu lấy công làm lời. Thành con một nên cha má thương lắm. Lấy vợ xong cha má cho con dâu một nơi bán gạo trong chợ. Mua tận gốc bán tận ngọn kiểu nầy thì lên nhà lầu không chóng thì chầy. Vợ Thành đúng số đẻ bọc điều khi hạ sinh một hoàng nam, cha mẹ chồng nâng như trứng mỏng. Có câu già sinh tật đất sinh cỏ sướng quá ắt hư. Vợ Thành hư thiệt. Nó ngoại tình.
Nghĩ cũng đúng thôi. Sống trong đủ đầy con người ta cần phải có sự trung hoà. Thặng dư là phát phì. Không nở bề ngang nó sẽ tràn qua bề dọc. Chính xác là vậy. Thành nổi trôi thương hồ ghé đâu là dập dìu tài tử giai nhân đến đó để vợ nhà trơ cái hồng nhan với nước non nên ra cớ sự. Phải chi cái thằng nhơn tình đừng có ăn vô cái hàng gạo thì không đến nổi. Cha má Thanh thấy gạo hụt ngọn nên sinh nghi. Một hôm kia Thanh quả tang trai trên gái dưới ngay trên giường của mình.
Thành kể với ông Ba vậy và ông già có ý kiến:
“Khi đàn bà ngoại tình thì lỗi trước hết về thằng đàn ông. Mày không êm thấm vụ giường chiếu thì nó phát sinh là tất yếu. Thằng đàn ông mình vốn ích kỷ chỉ biết mình mà không biết người. Thằng nào cũng nghĩ người đàn bà khi đã cho ai họ cho bằng trái tim, bằng tâm hồn. Mình cho qua có ngày sẽ làm con ma cụt đầu. Mày chia tay phải rồi.”
Nhưng con nhỏ không chịu ly thân hay ly hôn chi ráo. Nó cứ trơ mặt ở cái nhà mà cha má Thành đã cho. Thằng nhân tình thì quất ngưa phi mất, có còn chi nữa mà nó bám? Cái nhục lớn quá nên cô không đi thì tui đi. Thành trả ghe máy cho cha má còn mình nhét túi vài đồng lang thang mấy quán cóc, và cu cậu ghé quán em Xuyến làm đôi xị lai rai. Xuyến cũng bắt mắt, ăn nói mượt mà dễ thương. Rất nhanh chóng hai tâm hồn đơn độc và bị đả thương như nhau ra một cặp. Thằng kể chuyện bị vợ cặm sừng cho em Xuyến nghe, Xuyến cũng kể bị tình phụ cho anh Thành nghe. Đã thiệt tình thì tình thiệt. Và trăng gió lâu ngày là ra đá vàng. Con vợ đang cố lấy điểm trong vai hiền phụ mong một ngày chồng chuyển ý nghe tin liền ra máu Hoạn Thư. Nó đánh Xuyến là có thiệt.
Thiên hạ nói đúng hết nhưng mà sai. Rằng Thành không dụ dỗ ai hết, Thành không hề bám chéo áo đàn bà khờ dại. Cà rá dây chuyền Thành có là Xuyến mua, Xuyến đưa tiền cho Thành về thăm con. Nhưng tất cả là do Xuyến tự nguyện. Thanh tâm sự vậy với già Ba:
“Nhưng sao mày đánh nó? Còn trói nó lại nữa. Con Thắm chụp cái hình con Xuyến bị trói đưa tao xem. Mày liệu hồn, con Thắm hăm sẽ gửi cái ảnh về Mail của anh con Xuyến, mày liệu mà xử lý.”
“Không phải con muốn vậy đâu chú Ba. Con không trói lại dám nó ở tù vị tội giết người.”
Thành về quê thăm con. Hẹn một ngày sẽ lên, nhưng thằng con bị sốt ác tính. Ở bệnh viện Thành thoại cho Xuyến nhưng máy hết pin. Xuyến gọi nhưng máy ò í e thuê bao quý khách… Nghĩ rằng chàng đã tình cũ không rủ cũng tới nên Xuyến cũng Hoạn Thư. Thành vừa lên Xuyến đã mè nheo khóc lóc, đang bực Thành có nặng một đôi câu. Xuyến chửi thề, xin thông cảm nghề tiếp viên nhà hàng nó vậy. Và không có chi nhanh quen cho bằng chửi thề. Giận quá Thành cho Xuyến bạt tai, vậy là cô xách dao lụi thiệt luôn. Nếu không trói lại Thành chết chắc. Nhưng sau đó Thành ỉ ôi năn nỉ. Đàn bà con gái mười cô hết một chục nghe tình òn ỉ là xuôi liền. Kẹt cái nhỏ Thắm nghe Xuyến kêu cứu khi bị trói nên chạy qua, và từ cửa sổ nó chộp lẹ một pô Xuyến bị trói dấu trong ai-pát của nó. Thắm đem thắng lợi nầy khoe với bà Ba lại hăm rằng Thành mà thượng cẳng tay với Xuyến là bức ảnh sẽ bay về nhà của Xuyến.
“Vậy sao đêm qua mày còn đánh nó? – Ông Ba gằn giọng – Con Thắm gửi tấm hình về dưới rồi, mày lo mà trốn đi. Anh con Xuyến mà lên là mày chết đó. Nhưng tại sao ra vụ đánh nhau mày nói tao nghe?”
….
“Sao mày khóc?”
“Buồn quá chú Ba. Đêm qua con tăng ca, nhưng đau bụng nên về lúc hai giờ sáng. Đến lúc đó mà Xuyến chưa về. Chú biết cô ấy đi đâu không?”
“Tiếp viên nhà hàng là vậy đó.”
“Không. Xuyến nói với con, hứa với con chỉ đơn thuần làm tiếp viên. Mọi chuyện sau mười hai giờ đêm cô ấy không bao giờ bước chân vào. Vậy mà…”
“Mày phải chấp nhận. Nó trẻ và đẹp. Kẻ có tiền thích cũng đâu có gì lạ? Còn nếu không muốn bị dối trá qua mặt thì xin cho nó đi làm công nhân.”
“Hoàn toàn không được chú Ba à.”
“Tại sao không?”
“Chú biết không Xuyến phải gửi tiền về cho cha má, và thậm chí anh em cô ấy dưới quê. Cha cô ấy rượu và mẹ nghiện bài. Anh em cũng bê tha lắm chú.”
“Trời đất ơi…”
“Dạ… ở dưới con chuyện nầy thường lắm. Chú đọc báo chắc biết nhiều gia đình có con gái chỉ chực chờ gã cho nước ngoài. Dạo nầy nhiều cô dâu xứ mình oan mạng nên họ có chùng lại. Dịch vụ bây giờ là kéo nhau đi làm tiếp viên. Chú thấy đó uống với khách, chiều chuộng một tí. Nghề nầy có đêm ngoài triệu bạc đó chú…”
Ông Ba thở dài:
“Tao cũng chả biết nói sao. Sống kiểu nầy làm sao trăm năm được hả Thành? Mày lo vụ tấm hình, đừng để…”
“Không có gì đâu chú. Chẳng ai thèm lên xứ nầy đâu. Họ cũng không đưa Xuyến về đâu. Cô ấy mà về thì tiền đâu để họ…”
Vậy nên Xuyến buồn. Buồn muốn chết.
Năm hết nhưng mùa xuân không đến với cô. Và cả Thành.
Nguyễn Trí

Ngày Xuân Sau Tết

tranvanle

Ngày ra Giêng rồi, gió rất êm, nắng ban mai ấm, nắng nghiêng nghiêng, bầy chim sẻ đã bay về đủ, nhánh liễu đong đưa mặc sức chuyền…

Ngày rất êm đềm, cỏ rất xanh và hoa như mắt chớp long lanh, lát đây hoa nở cười trong nắng, lúc đó chắc là em nhớ anh?

Hết Tết, đời không hết nhọc nhằn, đường xe xuôi ngược, bụi tung tăng…Ờ trong bụi đó bao nhiêu khói, bao tiếng thở dài gió dọc ngang?

Em trong đám bụi, anh trong bụi, hai dãy lề hoa cỏ bụi mờ, thi thoảng có người đi tản bộ, tay đùa nắng gió thấy rồi thơ?

Ra Tết, bài thơ còn chút Tết, em cầm lên chuyến bus em xa; cái gần: hoa mới rơi vài cánh, rớt xuống lề đường lại nở hoa!

Xứ Mỹ toàn hoa – Mỹ thật kỳ: cờ hoa như ngọc giát lưu ly, đường hoa như ngọc người vương vãi, ánh mắt người yêu chan chứa chi?

Anh biết là em sẽ trả lời: trong lòng em chứa nhớ thương thôi, miếng cơm manh áo đời xui khiến, nhớ lắm Quê Hương ở cuối trời…

Ở đây xứ Mỹ không toàn Mỹ mà triệu triệu người kết tụ nhau, da trắng, da đen, vàng với đỏ, đất lành chim đậu, nắng trên cao…

Hết Tết, ra Giêng, nắng thật hồng, tôi thèm nhìn nắng dọc con sông, con sông chở tuyết vừa tan đá, đá hóa thành mây trắng bập bồng…

Trần Vấn Lệ

MỘT MÙA XUÂN.

khatiemly
(Về muà xuân Ất Dậu 1789)

Ta bỗng thấy mặt trời nghiêng ánh lửa,
Vùng giang sơn nhỏ bé rạng huy hoàng.
Cả trăm ngàn hồn quân giặc than van:
Ôi khủng khiếp, một giống nòi uy dũng!

Tứng ánh thép, từng chiếc đầu rơi rụng,
Quân kỳ bay làm ngợp vía quân thù
Đống Đa một thuở,
Oanh liệt ngàn thu!
Ai gây hấn, mang hờn căm về nước?
Ai xâm loàn, cho xương ngất biên khu?

Áo vải cờ đào,
Hồ Thơm Nguyễn Huệ,
Ra chút uy linh , danh lừng bốn bể.
Lời ban ra, muôn tướng sĩ cúi đầu.

Sau lưng bạch tượng,
Ngàn vạn vó câu.
Quyết đem máu tẩy bao trang nhục sử.
Dựng mùa xuân hoa trăm sắc muôn màu

Trời cao ngân ngất,
Đất rộng thênh thênh,
Lũ chàng Tôn sao chẳng tìm đường chạy,
Qua chi sông Hồng cho xác nổi lênh bênh?

Hồ Thơm Nguyễn Huệ,
Áo vải cờ đào.
Người đã tạo một mùa xuân vĩ đại,
Cho bây giờ và mãi mãi về sau
Áo vải cờ đào,
Hồ Thơm Nguyễn Huệ.

Vó ngựa rung rinh trời phương bắc
Ánh gươm mờ mịt mấy tầng sao
Ngàn năm dấu ngựa dù rêu phủ,
Mà nước sông Hồng vẫn đỏ au!

1963
Kha Tiệm Ly

Một kẻ thiện tâm

tradoa

Anh là người chỉ được trời phú cho một trí não tầm tầm dưới mức trung bình, nhưng chưa khi nào anh than thân trách phận vì điều đó, cũng như chưa bao giờ anh nghĩ chính cái tầm tầm ấy lại kéo theo những thứ khác tệ hơn, như cái tính nhút nhát đến đớn hèn chẳng hạn. Luật nhân quả thường lắt léo mà một bộ óc tầm tầm chẳng đời nào có thể nhìn thấu ra đường dây mối nhợ.
Nhưng, nhờ luật bù trừ, cái óc bã đậu ấy lại giúp anh hiểu về bản thân theo một cách có lợi nhất cho cuộc sống của mình. Chẳng hạn, anh thích cái nhút nhát đến thảm hại của mình chẳng phải vì nó giúp anh trú ẩn an toàn mà vì, anh cảm thấy đó là thứ hợp lý. Anh chẳng cần phải đưa ý kiến ra trước người khác, như trong các cuộc họp chẳng hạn, và điều này – một cách mặc nhiên – giúp anh tránh được những va chạm có khi rất khốc liệt. Còn khi có chuyện phải đối diện đám đông, cả người anh gần như lạnh toát, hai vai run bần bật, miệng líu lại còn não thì trống không, và đó là khi anh không cần phải nói ra một lời nào cả.
Chẳng phải hoạ tòng khẩu xuất hay sao?
Nhưng khi bước vào tuổi trung niên, đột nhiên một buổi sáng thức dậy, anh lại cảm thấy mình chẳng ra gì. Rồi từ cái buổi sáng định mệnh ấy, có thứ gì đó vừa mở toang khiến anh có cơ hội nhìn lại chính con người mình. Nhờ vậy mà đến một thời điểm anh chợt mơ hồ nhận ra những dây mơ rễ má kéo lê từ cái óc bùn lầy đến những thứ mà anh cứ ngỡ là hợp lý của mình.
Từ đó trong con người anh luôn có một sự thôi thúc không yên và càng ngày càng mãnh liệt. Mỗi khi nhìn thấy một người ăn xin đi ngang qua, tự nhiên trong anh lại cảm thấy bứt rứt kỳ lạ. Một tin trẻ lạc trên báo cũng có thể khiến anh bất an cả ngày… Và chúng, những khổ đau mà anh chưa bao giờ biết gọi tên, như những chiếc bóng đen hằng đêm vẫn đè lên giấc ngủ của anh. Và anh trở nên khó ngủ. Hằng đêm, nằm bên vợ, anh cứ trằn trọc mãi không thôi. Vợ anh lấy làm khó chịu và ra sức cật vấn. Cuối cùng, bằng cách nào đó, anh cũng đã thú nhận cho vợ hiểu được những bất an trong lòng mình. A, mà vợ anh cũng là một người biết điều, và không chỉ biết điều, cô ấy còn là một người thiện tâm. Chỉ có điều, chuyện cơm áo gạo tiền đã làm cho cô ấy càng ngày càng dễ cáu kỉnh hơn thôi. Vì lời nói của anh nhỏ nhẹ, tự đáy lòng, nên vợ anh, trái với thường lệ, tỏ ra thông cảm ngay. Cô ấy quàng tay ôm ngang lưng anh và an ủi nhẹ nhàng. Cuối cùng cô ấy nghĩ ra một cách:
“Hay anh làm từ thiện đi… Sáng chủ nhật anh vào công viên tập thể dục… rồi bố thí luôn, ở đó có nhiều người ăn xin lắm”
Rồi cô ấy giải thích lòng vòng mà anh hiểu được rằng, làm từ thiện phải đúng nơi đúng chỗ và có giới hạn (vì nếu không sẽ biến chính mình thành những kẻ xứng đáng nhận từ thiện). Và cô ấy nghiêm khắc khuyên anh chỉ nên mỗi tuần một lần, và mỗi lần không quá mười ngàn,..v…v…
Anh chẳng cần suy nghĩ mà đồng ý ngay.
*
Cuối tuần, anh vận chiếc quần ngắn cùng đôi giày vải rồi đi vào công viên. Dĩ nhiên là anh không quên nhét túi mười ngàn trước khi ra cửa.
Anh chạy một vòng chậm rãi quanh bãi cỏ rồi ngồi nghỉ trên một chiếc ghế đá. Không khi im ắng dễ chịu. Và đúng như vợ anh nói, những kẻ ăn xin luôn chực chờ sẵn ở đây. Một anh chàng da trắng bạc nhạc, cao lêu nghêu như cây sậy, vai mang bao lượm ve chai, xuất hiện ngay lập tức. Anh ta hỏi xin điếu thuốc, nhưng anh nói mình không hút thuốc. Hắn ta toan bỏ đi, nhưng anh nhột lòng bèn hỏi:
“Anh có muốn lấy tiền không?”
Anh ta hơi sững người nhưng nhanh chóng gật đầu lia lịa. Anh rút trong túi ra tờ mười ngàn và đưa cho hắn. Anh chàng lêu nghêu nhận tiền rồi phóng đi mất dạng…
Chủ nhật đến anh lại vào công viên. Anh chạy lấy lệ vài vòng rồi ngồi nghỉ trên ghế đá. Anh chàng ve chai lần trước như từ dưới đất chui lên, đứng trước mặt anh tự bao giờ. Nhưng hôm nay phía sau anh ta còn có thêm một anh chàng đen đúa và gầy trơ xương. Cả hai cùng nhe răng cười chờ đợi.
Anh rút ra tờ mười ngàn đưa cho anh chàng da trắng và nói:
“Chia cho anh kia năm ngàn”
Và hai anh chàng biến đi gần như lập tức.
Rồi chủ nhật lại đến…
Những ngày chủ nhật luôn đến đều đặn, nhưng tự dưng anh cảm thấy quá lâu. Chưa bao giờ anh lại mong đợi ngày chủ nhật đến thế. Mỗi lần rút ra tờ mười ngàn để cho, anh có cảm giác như vừa giải thoát một điều ẩn ức nào đó trong lòng, và nó khiến anh vô cùng thoải mái. Có lẽ, anh đã nghiện cái cảm giác đó mất rồi. Suốt tuần anh chỉ mong đến sáng chủ nhật để được bước vào công viên, để lại được nhìn thấy ánh mắt sáng rực niềm vui trên những gương mặt đen bẩn…
Bây giờ anh lại đang ngồi trên ghế đá. Xung quanh vẫn im ắng như thường lệ, nhưng hai anh chàng ăn xin vẫn chưa thấy xuất hiện. Và rồi anh chàng bạc nhạc cũng đến. Hắn ta bước thong thả về phía anh, đến đứng trước mặt. Anh hỏi anh da đen đâu. Anh chàng trắng cười nói hôm nay tay da đen sẽ không đến. Anh lưỡng lự một lúc rồi rút tờ mười ngàn đưa cho anh ta. Hắn nở nụ cười mãn nguyện và huýt gió bỏ đi.
Anh bước ra về mà vẫn còn chút áy náy. Dù sao anh chàng da đen vẫn đáng thương hơn, vì trông có vẻ đau khổ và thực thà hơn.
Khi anh bước ra đến cổng công viên, bỗng anh chàng da đen xuất hiện đột ngột với gương mặt sưng húp bầm tím. Trông anh ta thật thảm thương. Anh ta nói là do gã trắng đánh và thậm chí, hắn còn cấm anh ta không được bén mảng đến công viên vào ngày chủ nhật.
Anh nhìn anh ta ái ngại và cảm thấy xót thương vô cùng.
“Nhưng… hôm nay đã đủ rồi, vả lại mình chẳng còn tiền” – Anh tự nhủ. Cuối cùng anh cũng nghĩ ra được một cách:
“Tuần sau tôi sẽ đến vào ngày thứ bảy, anh đến ghế đá đợi tôi!”
Anh chàng tội nghiệp vâng dạ rối rít.
Tuần sau, vào sáng thứ bảy, anh bước vào công viên. Lần này anh chẳng tập tành gì mà đến thẳng chỗ ghế đá. Anh chàng đen đúa đã đứng ở đó tự khi nào. Hôm nay trông anh ta tươi tỉnh hơn lần trước. Anh hỏi có còn bị tên trắng đánh nữa không. Anh ta cười e thẹn nói không. Khi anh chuẩn bị rút tiền ra thì bất ngờ, gã trắng xuất hiện. Trông hắn hớt hơ hớt hải và thở gấp, anh đoán hắn đã phải chạy rất nhanh đến đây. Anh đưa ánh mắt bực tức nhìn hắn rồi quay ngoắt đi chẳng thèm để ý nữa. Anh cầm tờ mười ngàn ấn vào tay anh chàng da đen và cố ý nói lớn:
“Cho anh hết đó”
Anh chàng gầy trơ xương nhận tiền rồi lấm la lấm lét chạy đi. Anh cũng đứng dậy ra về mặc cho gã trắng đứng chưng hửng phía sau…
Anh nghĩ, chỉ hôm nay mình mới làm được việc từ tâm đích thực. Anh mường tượng ra niềm hạnh phúc mà anh chàng da đen có được từ đồng bạc anh đã cho. Có lẽ anh ta sẽ nhớ anh mãi, nhớ cái đặc ân mà anh đã dành cho anh ta khi tước đi cái quyền được nhận của gã đồng nghiệp xấu tính kia.
Thứ bảy lại đến, anh háo hức bước vào công viên. Hôm nay anh cũng quyết định dành hết tiền cho anh chàng da đen đáng thương đó. Lòng anh rộn lên niềm vui khi nghĩ mình đã tìm ra đúng nơi để gởi gắm những đồng tiền từ thiện.
Khi anh mới đến cổng công viên, bỗng anh chàng da đen xuất hiện. Trông anh ta tiều tụy và thảm hại kinh khủng. Với gương mặt sưng vù với nhiều vết rạch ngang dọc, anh ta lết từng bước chậm chạp đến gần. Anh đã loáng thoáng đoán ra sự việc.
“Hắn lại đánh anh?”
Anh ta đau khổ gật đầu và nói:
“Hắn còn cấm tôi không được đến công viên vào ngày thứ bảy nữa!”
Lòng anh trào lên một sự tức giận ghê gớm. Anh ước nếu gã lêu nghêu ấy có ở đây, anh sẽ nện cho gã một trận tơi bời.
Anh rút tờ mười ngàn chìa ra trước mặt nhưng anh chàng đen đúa tội nghiệp chẳng buồn đưa tay ra nhận. Một hồi, anh ta cất tiếng mệt mỏi nói:
“Anh cất tiền đi, tôi không dám lấy đâu. Chỉ cầu xin anh một việc”
Anh hỏi việc gì, anh ta rên rỉ:
“Xin anh đừng đến đây nữa. Nếu không, hắn sẽ cấm tôi không bao giờ được vào công viên này nữa”
Ôi, cái quái gì thế này. Anh không thể tưởng tượng ra cái tình thế mà mình vừa dính vào. Nhưng nhìn ánh mắt cầu khẩn của anh chàng tội nghiệp, anh biết anh ta đang nói thật lòng. Dù sao đối với anh, đây cũng là việc kỳ quặc nhất mà anh phải trải qua. Đầu óc anh đang suy nghĩ lung tung thì anh ta đã lên tiếng tiếp. Lần này anh chàng tội nghiệp quỳ xuống, chắp hai tay trước ngực như vái thành hoàng:
“Trăm lạy anh, làm ơn làm phước…”
Nói đến đó nước mắt, nước mũi anh ta trào ra như mưa, rồi nấc lên từng cơn thảm khốc.
Đợi cho anh chàng thảm hại bớt xúc động, anh kéo hắn đứng lên. Cuối cùng, sau một hồi đắn đo, anh nói:
“Được, tôi sẽ không đến đây nữa, tôi hứa”
Chỉ đợi có vậy, anh chàng ngưng khóc ngay lập tức, ánh mắt sáng rực niềm vui và quay lưng nhảy chân sáo khập khiểng bước đi, miệng huýt gió một bài hát gì đó…
Khi cái bóng đen như que củi khô ấy khuất dạng sau hàng cây, anh cũng quay gót chậm rãi bước về. Lòng anh trống không như chẳng có chút cảm xúc gì. Nhưng khi về đến nhà, anh lại nghĩ ra được một lý do để tự an ủi mình, và thực sự, nó đã giúp anh vui vẻ trở lại:
“Có khi, đây là việc thiện nhất mà mình làm được cũng nên…”

TRÀ ĐÓA

Mỏi mòn cỏ thi

tranthienthi

chỉ cần một cái vẫy tay
thì ta sẽ bỏ quê này mà đi
bói mòn tay
đám cỏ thi
cung dâu chẳng biêt buồn chi cỏ bồng
nói với nhau
một ngàn lần
trước sau em cứ lấy chồng cho xong
chiều nay trải chiếu mà nằm
tay phiền nhớ phiến trân cầm xa xôi
chiều nay chống gối mà ngồi
mây lam
gió sóc
nhớ trời vạn xuân
chiều nay nhớ hói nhớ rừng
tưởng người còn ở trên lưng khóc cười

trần thiên thị

SÁNG MỒNG MỘT Ở QUÁN CÀ PHÊ

quanduong
Mồng một tết, bạn gặp ta ở quán
Bạn chúc ta năm mới được phát tài
Ta chúc lại bằng vài câu thông lệ
Xong hai thằng kéo ghế cùng líu lo

Ta gọi một ly cà phê sữa
Quán thưa người mặc sức hỏi thăm nhau
ta hỏi : hôm nay sao không đi làm cha nội
– tết nhất lặn ở nhà một bữa… đâu có sao

Tết với nhất. Hồn mấy thằng xa xứ
Trôi lang thang vất vưởng về quê nhà
Bạc đã đủ thân già mệt mõi
lá úa vàng chờ rụng về cội xa

Bạn hỏi có cách gì không chảy máu
khi bị ai chặt mình rơi đầu
Nam Quan – Việt Nam như thân với thể
bị cắt dứt lìa làm sao không đau

Bạn hói có cách gì mà vẫn sống
Khi bị ai bóp mũi bịt mồm
Hoàng Sa Trường Sa là xương liền máu
Đâu có lý gì còn thở lại đem chôn

Sáng mồng một lạnh run gần chết
tuổi già sức yếu lạnh teo gân
Bạn hỏi làm ta rợn tóc
nhớ nhà… bạn hỏi…. thêm nhức xương

Ta hỏi ngược lại câu bạn hỏi
Bạn cũng như ta ngọng câu trả lời
Ai bảo ngày xưa không giữ nước
Bây giờ hỏị
Biết hỏi ai đây

Đất biển nhức mình , bạn và ta nhức mẫy
Nước Việt Nam từ Nam Quan đến Cà Mau
Điều rất rõ họ lại cố tình không dám rõ
Bạn và ta từ thua tới thuạ

Sáng mồng một gặp nhau ở quán
Cà kê dê ngỗng xong rồi về
Dỗ giấc, ráng giữ mình tới sáng
Đời còn dàị
Đường chồng thêm nhiêu khê

Quan Dương

Mẹ và những cuốn sách.

trachantranhuuhoi

Cuối năm, chuẩn bị đón tết, vợ và các con bận rộn quét, lau mọi ngõ ngách trong nhà ra tận cửa. nước lênh láng từ tầng trên xuống tầng dưới…Ông Cần vì cái chân cụt, không làm được việc gì nên ngồi trên giường sắp xếp lại cái tủ sách, làm cho có việc.
Từ ngày vào Sài gòn, không biết đã là định cư chưa, bởi có nơi ông đã ở tới 40 năm, tưởng sẽ là vĩnh viễn, thế mà rồi phải bán tất cả để vào ở cùng các con. Vào đây, ông mua lại căn nhà, bé hơn nhà ông ở quê, bé hơn nhiều lắm, nên ông cho cái tủ sách nằm ngay trong phòng ngủ, ở cuối giường. Cũng hay, xưa nay ông thích nằm đọc sách hơn là ngồi.
Hôm chuẩn bị chuyển nhà, ông quyết định đồ đạc tủ bàn bỏ lại hết, vào trong này mua lại. Chỉ có sách là ông tiếc, không bỏ hết được, lọc lựa thế nào cũng còn mấy thùng giấy cứng. Vào đây hai năm, mua thêm một ít, bạn bè tặng một ít thành nhiều…
Miên man với những cuốn sách, rối nhớ tới những ngày mẹ còn sống, những năm tháng khốn khó 40 năm trước, những cuốn sách của ông đã làm mẹ khốn khổ hơn, ông ứa nước mắt vì thương mẹ…
Ngày ấy, ông chỉ mới hai mươi, mẹ đã còng lưng theo năm tháng cực nhọc từ hồi nào rồi, thủa chưa rời quê vì bom đạn.
Theo đoàn di dân vào lập nghiệp nơi núi rừng Ninh Thuận này, những luống khoai, đám mì càng làm lưng mẹ còng hơn.
Chính thể đổi thay, kéo theo mọi sự thay đổi. Gia đình ông bấy lâu nhờ vào đồng lương của người chị, anh rể là lính. Nay không còn lương tháng nên vất vả hơn.
Mấy tháng sau khi tạm ổn định việc đưa đi học tập cải tạo các đối tượng thuộc chế độ trước. Ủy ban Quân quản có lệnh thu giữ và tiêu hủy văn hóa cũ, không phân ra loại sách nào là đồi trụy hay phản động…mà là tất cả!
Hồi còn đi học, lâu lâu chị cho tiền mua sách, ngoài sách học, thừa tiền ông mua thêm những cuốn sách mà ông thích, lần hồi cũng được chừng mấy chục cuốn.
Nhìn kệ sách, vuốt ve, lật xem từng cuốn…ông quyết định không đem nộp, biết rằng những cái tên tác giả nước ngoài trên bìa sách có thể lả tai họa! Ông lấy một cái bao gạo, loại bao 50 kg, sắp gọn tất cả vào, rồi cho xuống gầm giường, đẩy sâu vào góc tường, dự tính nếu nghe có đi kiểm tra thì mang vào rẫy dấu đâu đó.
Cả thôn rầm rộ đem nộp sách, truyện…Có người một hai cuồn, có người mang cả chồng báo Playboy, có người là thầy giáo dạy học bao năm, cho xe kéo đến mấy thùng, toàn: Tự điển, sách Nghiên cứu Giảng dạy, Văn học, Lịch sử Thế giới…Tất cả được cho vào kho trụ sở. Bạn thân ông làm Tuyên Văn Giáo thôn, từng học Đại học Văn, ban Việt-Hán tại Đại học Đà lạt, cả hai đứng nhìn mà lòng tiếc xót!
Chừng hai tháng sau ngày 30/4/1975. Ông cùng bạn được gọi lên trụ sở thôn. Cán bộ trên xã về lảm việc, bạn ông được giao cho làm Tuyên-Văn-Giáo, còn ông, cho đi học hai tuần về làm Kinh Tài thôn.
Bạn ông cũng như ông, thương mấy cuốn sách lắm, nhưng cha của bạn ấy là Công chức chế độ cũ, không cho ông giữ lại, buộc phải đem nộp hết! Hai đứa phụ bưng các thùng sách vào kho mà tâm trí cứ băn khoăn không biết người ta có duyệt, chọn lọc loại nào cần tiêu hủy, loại nào cần trả lại hay không. Chẳng lẽ tất cả đều là đồi trụy và phản động hết sao!?
oOo
Lâu lắm rồi, kể từ ngày đem sách đến nộp, không thấy ai nhắc nhở gì đến chuyện tiêu hủy hay giải quyết thế nào về số phận của những cuốn sách, những chỗ dột làm ướt một số, một số bị các ủy viên lén lấy về làm giấy đi vệ sinh.
Căn phòng được trưng dụng làm kho cũng là phòng đặt máy phóng thanh, trong các ban ngành, Kinh Tài là ban thông báo nhiều hơn hết, từ gạo, mắm, dầu lửa đến vải, nilon…Hằng ngày ông vào thông báo trên loa phóng thanh cho bà con trong thôn, cứ thấy đống sách là ông xót ruột mặc dù chẳng phải của mình.
Một hôm, trong trụ sở thôn không có ai, ông nấn ná ngồi lại sau khi thông báo xong. Lật xem mấy cuốn, toàn sách của những tác giả ông ưa thích: F. Dostoievsky, E. M. Remaque, A. Camus, J. P. Sartre, V. Gheorghiu…Nhiều tác giả, tác phẩm mà Cha Mai Nghị, dạy môn Triết ông hồi còn đi học hay nhắc đến nhưng ông chưa được đọc. Số sách này phần nhiều ký tên Lê Thanh Dân, một thầy giáo dạy Văn ở Quy Nhơn đem nộp. Ngày thầy đem sách đến, ông đứng bên thầy, nhìn thầy húng hắng ho. nhìn nước da tái xanh và đôi mắt đỏ như muốn khóc mà thương…
Biết chắc là không có ai, ông lấy cuốn “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, cho vào chiếc túi mang về. Cuốn này, bao nhiêu lần ông đứng ngắm nó trong hiệu sách, nhưng không dám hỏi mua vì biết chắc rất đắt, nhìn độ dày của nó cũng đủ biết! Ông khóa cửa phòng lại, đi ra mà lòng lo sợ đủ thứ chuyện, lỡ có ai đi vào, dọc đường gặp ai đó tò mò hay một cán bộ xã…Ông đi như chạy, vào trong nhà, ngồi trên giường mà tim ông đập như vừa chạy bộ mấy cây số, vội vàng cho xuống gầm giường, dự tính vài ngày sau mới lôi ra đọc.
Được một lần, đọc xong, rồi những lần sau ông lấy hai cuốn, ba cuốn tùy độ dày mỏng của những cuốn sách. Tò mò về Chủ nghĩa Cộng Sản, ông lấy những cuốn liên quan về Chủ nghĩa này, đọc ngấu nghiến hằng đêm. Đọc xong, ông cho thêm vào bao gạo, chẳng bao lâu, phải kiếm một cái bao khác…Cứ thế, lấy về, đọc xong cho vào bao. Đã bốn cái bao đầy mà không ai phát giác hay nói chuyện mất sách trong kho, chừng như ai cũng có lấy về đi vệ sinh, nên chẳng ai thèm thắc mắc gì!
Có một hôm, cán bộ phụ trách an ninh, họp toàn dân phổ biến lệnh kêu gọi những ai còn tàng trữ sách báo chưa nộp thì đem nộp tiếp, phát giác ai còn cất giấu thì tố cáo với chính quyền để thu hồi…Ông ngồi nghe mà lo sợ cho những cuốn sách, lo sợ cho bản thân sẽ bị quy là ngoan cố hay phản động! Ông muốn đem đi nộp nhưng lại ngại là sẽ bị hỏi sao lâu nay không nộp!
Mấy ngày sống trong âu lo, cuối cùng, ông quyết định sẽ dần dần mang vào đám rẫy gần nhà. Khi đã chuyển vào hết, mẹ cùng ông đào một cái hồ, lót một lớp nilon ở dưới, phủ một lớp bên trên rồi lấp đất lại. Cả hai mẹ con vừa đào vừa hồi hộp, thỉnh thoảng ông chạy ra đường đi nhìn trước nhìn sau…Kể từ hôm đó, ông không đọc mà cũng không lấy thêm cuốn sách nào!
Chừng hai tháng sau, cả ông và bạn đều bị cho nghỉ việc thôn. Một ông lớn tuổi, từ Quảng Ngãi vào được thay ông làm Kinh Tài, một anh bên chi đoàn Thanh Niên thay bạn ông làm Tuyên Văn Giáo.
Nghỉ việc thôn, bạn ông bị gọi đi Nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong, còn ông, có mẹ già nên được miễn.
Ở cuối đám rẫy cùa mẹ, có một bộng mối rất lớn, một hôm trời trở mưa, mối bay đầy, bay cả vào mặt ông. Lo cho mấy bao sách, ông bàn với mẹ đem về lại nhà, thời gian này thấy cũng êm êm, không còn nhắc chuyện nộp sách nữa. Hai mẹ con lại đào lên rồi lần hồi chuyển về, dấu sau đám mì của lô gia cư. Những lúc mưa, không có ông ở nhà, một mình mẹ lôi vào nhà từng bao thật vất vả. Ông lại đọc những cuốn chưa kịp đọc, chuyền cho những bạn thân của ông cùng đọc.
oOo
Anh rể đi cải tạo về, làm rẫy chỉ khoai lang và mì không đủ qua ngày bèn đưa chị và đứa con vào Long Khánh làm ăn. Cũng không khấm khá hơn là bao. Nhà chỉ còn ông và mẹ.
Kinh tế càng lúc càng khó, ông bèn đi buôn tàu lửa cùng những người dân trong vùng. Dân buôn xứ ông đầy sân ga…Đi buôn cũng không đủ gạo cơm mắm muối, phải ăn độn mì, khoai… Một hôm, mẹ ngại ngần nói:
– Con lựa cho mẹ mấy cuốn sách đã đọc rồi.
– Làm gì vậy mẹ?
– Mẹ bán cho mấy người bán hàng, họ gói hàng.
– Sách khổ nhỏ họ có mua không?
– Họ cắt nhỏ gói bột ngọt, ớt bột, tiêu…
Ông ra sau nhà, giữa mấy luống mì ngồi lựa, cuốn nào cầm lên cũng tiếc! Ông đem cho mẹ năm cuốn. Mẹ cho vào bao mang ra chợ!
Vốn không có, đi buôn càng khó. Chái bếp nhà ông đã dỡ hết tôn đem bán lần hồi, tội nghiệp mẹ phải ngồi nấu nướng giữa nắng, những lúc mưa phải dời bếp vào trong nhà! Vốn cứ cụt dần vì vừa ăn, vừa bị bắt mất hàng.
Chị cả ông ở Quảng Trị vào thăm, mẹ và chị ôm nhau khóc suốt mấy ngày. Hôm về, chị bảo ông cùng ra quê. Mấy ngày về quê không vui, chỉ gặp được các cháu nhưng chúng còn nhỏ, ông dành một ngày đi thăm mộ cha và bà con, hôm sau ông vào lại. Đứng trước sân nhà, chị sụt sùi:
– Chị muốn đưa mẹ và em về làng, nhưng em không làm ruộng Hợp tác xã nổi đâu. Chị còn mấy chỉ vàng, em cầm hai chỉ làm vốn mà buôn bán.
Ông òa khóc, còn khóc to hơn chị! Nhìn túm gạo chị ông cột sẵn cho ông mang vào, chỉ chừng 10 kg, nhưng ông lo không biết có mang vào được không!
– Em sợ không mang gạo vào được, hay chị để lại, có vốn rồi, em vào đi buôn mua gạo trong đó cũng được, mất uổng lắm!
– Mất thì thôi em ạ.
Chị đưa ông ra cổng làng, ngay trạm kiểm soát này đã không qua được. Chị năn nỉ mãi nhưng cũng đành mang về. May mà gặp thằng cháu trong họ gác trạm, nếu không thì đã bị tịch thu.
oOo
Có hai chỉ vàng, ông bán đi làm vốn, theo một người bạn đi buôn xe đạp từ Sài gòn về bán trong địa phương. Một lần đi, ông mua hai chiếc, thỉnh thoảng có người đặt mua xe cũ, ông mua thêm một chiếc theo ý người đặt. Đi buôn xe đạp thì đi bằng xe đò, ít vất vả nhưng hồi hộp hơn là đi xe lửa, bởi phải qua nhiều trạm kiểm soát, nhờ tài xế và lơ xe năn nỉ cũng qua lọt. Không chi cho trạm thì chi cho tài xế. trạm tốn nhiều, tài xế ít hơn!
Ông đi được chừng sáu chuyến, mẹ mừng vì bớt nổi lo gạo mắm. Chuyến cuối, ông từ Sài gòn về vừa vào nhà, mẹ ghé tai ông thì thào:
– Họ đến tìm con!
– Ai vậy mẹ?
– Du kích và công an!
Ông nhìn mẹ lo lắng, nói:
– Mình có làm gì đâu mà sợ mẹ, chắc chuyện đi buôn thôi!
Mẹ không bớt lo âu nhưng cũng xuống dọn cơm, hai mẹ con vừa ngồi vào bàn thì ba du kích cùng công an xã đi vào:
Với lý do không xin phép đi lại, anh bị bắt. Ở trại tạm giam huyện, anh được biết thầy dạy Lý- Hóa của anh và ba người bạn học khác, bị bắt trước anh nhưng cũng cùng ngày!
Hơn hai năm bốn tháng, ông trở về cùng mẹ. Lệnh tha ghi tội danh là: “Nhen nhóm âm mưu lật đổ chính quyền”. Thầy ông phải ở thêm ba năm nữa mới được tha.
Chiều hôm trở về, mẹ mừng quá, hét lên khi ông vào nhà. Đôi tay gầy guộc ôm chặt lấy ông khóc mếu máo!
Sáng hôm sau, ông hỏi mẹ về mấy cuốn sách. Mẹ buồn rầu:
– Mẹ bán dần dần đi thăm nuôi, còn mấy cuốn thôi con ạ!
Anh cười lớn, nói cho mẹ yên lòng, mặc dù còn nhiều cuốn ông chưa kịp đọc:
– Hết thì thôi, con đọc hết rồi mẹ ạ.
Những ngày trong tù, hàng tháng mẹ đi thăm đều đặn. Mẹ kể chuyện làng xóm, người xắt cho ký thuốc rê, người cho đường tán, bánh tráng…Mẹ không tốn gì, chỉ bán vài cuốn sách mua cho anh ít đồ ăn ngay như bánh mì, xôi, gói chè, nải chuối…
Mẹ lôi cái bao gạo dưới gầm giường, anh sắp mấy cuốn sách ra xem: “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, “Exodus” của Leon Uris, “Hố thẳm thư tưởng” của Phạm Công Thiện, “Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran và “Sử thi Mahabhahta” của Ấn độ.
Những cuốn sách này dày hoặc do bìa mới, mẹ cho là hay, có lẽ ông quý hơn cả nên chừa lại!
– Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.
Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký! Ông thầm nghỉ bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ(*) mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:
– Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!
– Lâu lâu mới có người ở Động Mé lên bán xương bò của HTX, mẹ mua được cái xương, lóc thịt ra đó.
Năm cuốn sách dày và hay, mua được cái xương bò. Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!

Sài Gòn, Tháng I, năm 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội
————————————————————————————————
(*) – “ Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky: Nga.
– “ Exodus- Về miền đất hứa.” của Leon Uris: Mỹ.
– “ Hố thẳm tư tưởng” của Phạm Công Thiện : Việt Nam.
– “Sử thi Mahabhata”: của: Ấn Độ.
– “ Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran : Ả Rập.

Đời lặng yên như rượu

nguyenminhphuc

Không ai đến bên cõi ngày xa lạ
Nằng trầm luân và mưa cũng mịt mùng
Sương khói trắng bay trong chiều vô ngã
Lặng yên ngày như chén rượu hư không

Người cũng chỉ như vũng sầu năm tháng
Đến rồi đi rồi xa vắng . Ôi . Buồn
Ngó lại xem trong úa sầu dĩ vãng
Còn lại gì khi tình đã mưa tuôn

Đời có thể đã một mùa giông gió
Cuốn tôi đi về phía cuối chân trời
Hình như có ai về con phố đợi
Sợi mưa buồn làm sao níu đơn côi

Nên đời sống vẫn hoài như lá mục
Sầu trên cây trái đắng rụng hiên trời
Ngậm cay đắng nghe đời buồn rẽ khúc
Thả lên ngàn từng nỗi nhớ chơi vơi…

Nguyễn Minh Phúc

NỤ HÔN THÁNG GIÊNG

linhphuong

Nụ hôn anh định cư lâu rồi trên ngực em
Bỏ giấc mơ một đời phiêu bạt
Để trở thành những câu thơ hạnh phúc
Níu tuổi thanh xuân về với nhan sắc ngày nào
Tháng giêng chân trần buốt nhức cơn đau
Anh xoa xoa sợi lông tơ em biến khúc
Bản giao hưởng số 6 của nhạc sĩ thiên tài Beethoven bật khóc
Định mệnh tình yêu là đường chỉ tay sinh tử cuối cùng
Nụ hôn anh định cư lâu rồi trên đôi môi đỏ màu son
Ngọt ngào như mật ong hạ vàng con ve sầu ngân tiếng hát
Thèm phút say mê cởi xiêm y sống theo bản năng gốc
Không dối lừa-không màu mè đạo đức dở hơi
Phong linh lanh canh – trăng khuyết chờ mùa gió thổi
Tháng giêng những người đàn bà đi tìm nửa của mình
Nửa của mình lạc đâu đó trong thành phố đầy mưu mô toan tính
Sau ngày Sài Gòn đổi tên
Nụ hôn anh định cư lâu rồi giữa trái tim
Giấu sau bầu vú nhỏ hình quả cam thênh thang bình nguyên màu lụa bạch
Mờ mờ khói sương anh giấu khuôn mặt
Khuôn mặt hôm qua-quá khứ một kiếp người
Hoa đã nở rồi
Vùng hương em mang mùi sữa rắc kín chiếc lưỡi anh- vua các vị thần
Chiếc lưỡi uốn cong thăng hoa tình yêu bất tận
Nồng nàn tháng giêng xa
Nụ hôn anh định cư lâu rồi trên thịt da
Mềm-ướt từng tế bào thương nhớ
Mềm-ướt từng hơi thở
Anh ngã xuống em
Cả hành tinh thảng thốt nổi-chìm
Bóng tối khỏa thân lắng nghe cơn động đất 12 độ richter thành phố Sài Gòn hoảng hốt
Tháng giêng thế giới thao thức
Khi anh yêu em
Yêu em
Yêu em

LINH PHƯƠNG