Thế rồi xuân cũng vội
Trôi qua lòng hoàng hôn
Vàng hoa chiều tiếc nuối
Rơi như giọt lệ buồn
Hình như em cầm giữ
Mấy mươi mùa xuân tôi
Hình như em vừa thả
Tình xuân tôi bên trời
Tôi hóa thành chiếc lá
Vàng suốt một rừng xuân
Em ướm lòng hương cũ
Chưa nguôi niềm lãng quên
Ngày xuân qua quá vội
Lòng chưa kịp giao thừa
Có người thay áo mới
Thầm nhớ mùi hương xưa
Tình em vàng hoa cúc
Từ buổi nguyệt chưa rằm
Tôi một đời nở muộn
Nở muộn hoài trăm năm.
Lê Văn Trung
Author Archives
u hồn cỏ hoa
ĐỢI XUÂN SAU
Tiễn năm đi dùng dằng chiều sau chót
Mơ người về men mật rót môi hoa
Đàn đứt dây lặng thinh treo vách mọt
Người không về hoen bụi phím ghi-ta
Tình xa lắc xa lơ người có nhớ
Nến chập chờn soi mắt đợi khuya xanh
Đàn ta chạm tay run sầu hoang vỡ
Tiếng hát người huyền hoặc khói mong manh
Dư âm từ mùa xa về cám dỗ
Rót cạn đời ta chúc tuổi tình nhau
Chợt lặng hồn ngoài kia xôn xao phố
Tự dỗ lòng: thôi cứ đợi xuân sau
…
Người sẽ về phục sinh từng thớ gỗ
Lại nâng đàn lau phím nhẹ dây đau
Nguyễn Vân Thiên
MÙI CHẠP PHÔ
Trong những khu xóm nhỏ, tiệm chạp phô báo hiệu Tết đến sớm khi bắt đầu đưa hàng về bán càng lúc càng nhiều. Trong đó, có nước mắm tĩn, cải xá bấu, khô cá và có cả đầu ông Địa. Hàng hóa của ông tạo thành một thứ mùi riêng, đó là…
MÙI… CHẠP PHÔ
Cuối tuần mấy ông bạn già ngồi cà phê với nhau. Sau khi nói hết chuyện thời sự, một ông cắc cớ hỏi: “Nghề tui là lái xe cho ông chủ. Có lúc ngồi đợi chủ ngoài bãi xe, tôi chợt nghĩ: người ta hay nói… mùi quê hương. Nghe cũng hay hay, nhưng theo mấy ông, mùi quê hương là mùi gì?”Một ông buông tờ báo nói: “Đó là mùi sữa mẹ!”.“Thôi đi, nghe nói hồi ông còn nhỏ, má ông đứt sữa sớm, ông phải uống sữa Guigoz. Không có bú sữa mẹ thì làm sao ông nhớ được tới giờ?!”Ông khác nói: “Đó là mùi đất sau cơn mưa. Hồi xưa vùng Gia Định này còn nhiều đất trống. Mùa hè, sau cơn mưa, mặt đất xông lên mùi âm ẩm. Mưa ít thì mùi đất nồng, người lớn bảo hít vào dễ bị bệnh. Có lúc mùi đất sau cơn mưa lớn thơm mát như mùi cỏ, dễ chịu. Nắng hạn lâu ngày, tụi mình chơi đánh trổng, phải đào đất đặt con trổng vào. Khi xới miếng đất ẩm, có chút mùi đất ẩm hít vào nhớ mùa mưa ghê lắm!”.Cả nhóm gật gù, có lý!Ông lái xe bảo: “Nghề nghiệp bắt tui hay phải đi xa đi gần. Có lúc đi cả tháng ngoài Bắc, khi nhớ về Sài Gòn là nơi sinh ra, tui nhớ nhất là… mùi chạp phô. Đó là mùi quê hương của tui!Mùi chạp phô! Đó là mùi gì mà nhớ dữ vậy! Mà chạp phô là cái gì, một ông gốc ngoài Bắc xen vào. Mấy ông còn lại gật gù, không biết ý ra sao.Mùi chạp phô? Ông lái xe bảo đó là một mùi khó diễn tả. Nó là thứ mùi tổng hợp, có mùi xà bông cục Cô Ba, mùi xà bông bánh dài hình chữ nhật hiệu Cây Đờn. Hai thứ mùi thơm đó quyện với mùi củ cải muối, mùi tương hột và mùi nước tương, nước mắm. Tất cả tạo thành một mùi hơi hâm hẩm, luẩn quẩn trong gian nhà trước của tiệm chạp phô với hằng trăm hàng ngàn món, không chỉ là những món đồ nhà bếp như mắm muối, hộp quẹt diêm, đá lửa, dầu hôi, ngo chụm lửa… mà còn có nhiều thứ khác như kim, chỉ, nút áo, tim đèn… có cả thuốc Con Rồng trị đau bụng, thuốc nhức răng nhức đầu… Hàng hóa đựng trong hũ, treo lủng lẳng trên đầu, đựng trong cái tủ kiếng luôn luôn mờ căm vì không chùi bao giờ, hàng hóa vun ngọn trong mấy cái bao đang hé miệng đặt dưới đất. Ông chủ tiệm người Hoa (nhiều chủ tiệm chạp phô là đàn ông) ngồi trong một góc chật hẹp, chen giữa lối đi bé nhỏ để lấy đồ cho khách, miệng còn lơ lớ: “Hầy cái lầy, ngộ tính năm cắc dẻ dồi!”, “Nị mua từ từ chả cũng lược mà!”. Tiệm chạp phô giống như cửa hàng tiện lợi, dù không bán 24 giờ nhưng trưa trời nắng đúng ngọ hay đêm hôm cần mua, như mua chai dầu gió hay thuốc đau bụng chẳng hạn, đến kêu cửa họ cũng bán, chẳng càu nhàu. Ai mua đồ, chê đồ dỏm họ cũng tỉnh bơ không tự ái, khuyên vậy thì mua cái khác đi. Tiệm đặt trong hẻm cũng có, ngoài mặt tiền đường cũng có, nhất là góc ngã tư. Trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) ở Phú Nhuận, chỉ một đoạn ngắn đã có mấy tiệm, chưa kể trong chợ Lò Đúc. Góc đường này, giáp đường Trương Quốc Dụng có một tiệm chạp phô lâu đời, tính ra đã hơn bảy chục năm giờ vẫn còn. Ông lái xe vẫn lui tới tiệm này, như tìm chút ký ức hồi còn nhỏ nhà còn ở xóm Lộc Lì gần đường rầy xe lửa cổng số 8 đường Nguyễn Minh Chiếu, nay là đường Nguyễn Trọng Tuyển. Hồi nhỏ, ngoài chuyện đi học và bắn bi, đánh trổng với bạn bè, con nít trong xóm giao tiếp với xã hội bên ngoài qua tiệm chạp phô. Nhờ cái tiệm mà biết trên đời có bao nhiêu món người ta sản xuất ra để phục vụ cuộc sống, như đường thì có đường cát trắng, cát vàng, đường phèn, đường phổi, đường thốt nốt… mắm thì có đủ thứ mắm thu, mắm lóc, mắm tôm chà… khô thì khô tra phồng, khô cá đuối, khô khoai… đứa nào chịu để ý sẽ khôn ra nhiều. Nhờ có cái tiệm, đứa nào đựợc sai đi mua nước mắm, mua gạo hay củi, than sẽ được chủ tiệm cho thêm cây kem, cái bánh vòng… Nếu có tĩn nước mắm dùng hết, thay vì đem bán cho ve chai, đem ra tiệm đổi mỗi cái tĩn 3,5 lít sẽ được hai cây cà rem, không cần dài cổ đợi bà ve chai vô xóm. Nếu đi mua xà bông Cây Đờn, nhìn ông chủ dùng dây cắt xà bông rất sướng, một đầu dây ông cột vào tay nắm cửa, tay kia ông cầm sợi dây kéo thẳng ra và hạ xuống cắt bánh xà bông rất ngọt. Nhà hết gạo, ra mua thiếu ông cũng chịu, hỉ hả nói cứ từ từ cũng được mà. Có vài người nghèo có lúc ngặt quá, ra lấy vài ký gạo rồi xin thiếu, sau đi ngang qua tiệm, ông ngó lơ, để rồi người ta cũng nhớ trả nhưng chậm, có khi cả tháng. Ngày qua ngày, ông vẫn nhập hàng về đều đều, nhớ từng món một để ở đâu, ai cần là đứng dậy đến đúng chỗ mà lấy rất nhanh. Có lần, chú bé trong câu chuyện này hỏi ông có bán cây súng gỗ bắn pháo không? Ông lắc đầu. Nhưng chỉ chiều hôm sau, ông nhắc: “Có súng bắn pháo rồi đó, có mua không?”. Người ta nói: ai cần gì thì ông bán cái đó! Có người trong xóm phân tích: “Ông chủ tiệm chạp phô bán rẻ vậy, sao có lời? Hay ông bán hàng giả?”. Mấy người trong xóm lắc đầu bảo tui thấy rẻ là được, gạo mắm ăn được còn nói gì nữa? Về nhà, hỏi má, má bảo: “Con nhớ có bán cho ổng mấy cái tĩn nước mắm phải không? Ổng đi mua nước mắm rẻ tiền trong can nhựa chiết ra tĩn, bán ra với giá nước mắm tĩn, có lời hơn vì giá nước mắm tĩn cao hơn. Ai cũng biết, nhưng người ta vẫn mua. Thôi kệ, không có cái tiệm chạp phô đó ra mua chỗ khác cũng vậy, chắc chắn không có chuyện cho thiếu!”. Sau này lớn lên, thấy chút tiểu xảo của ông không đáng gì so với sự dễ dãi, có khi tốt bụng với người nghèo của ông. Anh Thành, người lái xe trong câu chuyện này chia sẻ với tôi những câu chuyện vụn vặt về… mùi quê hương của anh. Anh bảo tui luôn nhớ cái tiệm chạp phô góc đường Trương Quốc Dụng đó và có mấy lần ghé mua vài thứ cho vui. Ông chủ tiệm đã mất, hai cô con gái của ông đã lớn tuổi, không lập gia đình vẫn duy trì cái tiệm cũ, vẫn xởi lởi vui vẻ với khách như cha mình, chỉ có khác là khi tính tiền thì nhẩm trong miệng hoặc dùng máy tính, không gảy bàn toán gỗ lạch cạch như cha nữa. Tiệm này tuy vẫn bề bộn, cũ kỹ nhưng đã sáng sủa hơn. Có điều không còn cảm thấy cái mùi xưa cũ đậm đà. Có lần sau khi ghé tiệm về, anh Thành chợt nhớ mình vẫn chưa hỏi hai cô chủ là vì sao ngày xưa ba của các cô không bao giờ bán cây kim vào ban đêm. Ông trả lời khi Thành đến hỏi mua cây kim cho má vào một buổi tối: “Lâu có lược, ngộ không bán cây kim vào buổi tối lược!”. Cùng với cách phát âm lơ lớ của người Hoa ngụ cư trên đất Việt, có thể đó là một phong tục cũ kỹ của đất tổ Trung Hoa mà ông mang theo khi sang sống bên xứ này.Ngày xưa, ngoài Chợ Lớn là nơi tập trung sinh sống đông đúc của người Hoa, ở Sài Gòn – Gia Định và khắp Nam kỳ ở xóm làng nào, con đường nào cũng có vài tiệm chạp phô của họ. Ngay trung tâm Sài Gòn, từ những con đường vây quanh chợ Bến Thành cho đến các con đường Bonard (Lê Lợi), đường George Guynemer (Hồ Tùng Mậu), lề đường chợ Cũ đều có nhiều tiệm vách ván. Họ bán chạp phô, có khi kiêm luôn tiệm nước bán hủ tiếu, cà phê. Sau này, đặc biệt sau 1954, các tiệm tạp hóa thay thế dần, dù không quá đa dạng hàng hóa như tiệm chạp phô nhưng bày biện thoáng, sạch sẽ hơn. Tiệm chạp phô biến thành một hình ảnh để hoài niệm của những đứa nhỏ nay đã hai thứ tóc, nhớ lại cái thời hồi đó suốt ngày le te chạy ra tiệm chú Xồi, chú Sừng mua chai nước mắm, miếng cải xá bấu, để được xâu bánh vòng treo trên cổ ăn dần.
PHẠM CÔNG LUẬN (Trích trong SÀI GÒN NGOẢNH LẠI TRĂM NĂM – Công ty sách Phan Book xuất bản 2021)
Mặt Mộc
Đâu cần chi điểm trang, em đã là nhan sắc! Em giai nhân có thật để anh kề mặt hôn…
Đẹp, một phần phấn son mà xinh là mặt mộc! Em là Niềm Hạnh Phúc, Trời đã ban cho anh!
Em mãi mãi Xuân xanh, đó cũng là ước vọng, ai ở trong đời sống không mơ gặp người Tiên?
Có người ước liên miên, cả đời không vừa ý! Có người đi tới Mỹ, đẹp nhất vẫn Quê Huơng!
Em là trăm ngàn thương. Em là trăm ngàn nhớ. Anh không giỏi tính sổ nhưng anh biết tính em…
Người con gái thật hiền, người con gái thật giỏi, anh, không một anh nói: “Em Xinh Nhất Trần Gian!”.
Hỏi Đất Nước Việt Nam, mấy bà Trưng bà Triệu? Anh biết đời sẽ thiếu nếu không em hôm nay…
Biển có Đông có Tây, biển có Nam có Bắc…biển vẫn là biển chật! Tình em mới bao la!
Em là ánh trăng ngà. Em là tinh tú ngọc. Em đúng là Tổ Quốc trọn đời anh ghé vai!
Mai mốt về Bồng Lai (một nơi gần Tùng Nghĩa, nơi gần chỗ em ở), mình gặp nhau lại thôi!
Anh sẽ thưa với Trời: Em là Tiên, đa tạ! Mình lên rừng đếm lá, em thấy tình anh nha!
Bây giờ anh rất xa sẽ về chân em bước. Đố mà em bay được trong vòng tay anh ôm!
Trần Vấn Lệ
Nụ Tình Buồn

chút an vui sót lại
trên lá nắng rưng vàng
chút ngày xưa rớt lại
trên chuỗi ngày cưu mang
phố lên xanh màu nhớ
ngày nào xa rất xa
ta đi qua mùa gió
con đường về ngập hoa
người xa như bóng nắng
chảy vào chiều quạnh hiu
nghe tiếng lòng trĩu nặng
thương nhớ ngợp mắt chiều
rồi mai về lại phố
mùa nắng tràn gió đông
ly cafe quán gió
hắt hiu xao xác lòng.
sông xa dài mấy nhánh
núi mênh mông ngút ngàn
trên tay cầm sót lại
nụ tình buồn trăm năm
Nguyễn Dao Lam
Thừa
Valentine’s Day

Ngày Lễ Tình Yêu hay Tình Nhân?
Một đôi trai gái hỏi cho lòng
mình chao lượn sóng nền hoa nở
bốn tay nâng từng mảng nắng trong…
Tình Yêu, Tình Nhân, đều là Tình
Chàng trao cho nàng nhánh lộc xanh
Nàng trả lại chàng môi thắm đỏ
Gió mùa Xuân rung sương lung linh…
Ngày đầu năm mùa Xuân gió thơm
Tóc nàng bay chàng vòng tay ôm
Trong bức tranh của người họa sĩ
Muôn năm còn Một Đôi Tình Nhân!
Tôi muốn nói về ngày Lễ này
khi tình cờ tôi ngang qua đây
trước màu cỏ màu hoa dan díu
ấn tượng là mái tóc em bay…
Tôi lại nhớ thời tôi Đà Lạt
nắng mùa Xuân ngát hoa quỳ vàng
tôi đứng ở cuối hành lang gió
nhìn học trò mùa Xuân mênh mang…
Em học trò hay cô giáo nhỉ?
Hình như tôi không hỏi mùa Xuân?
Học trò nhiều cô thì chỉ một,
và thơ thì áo lụa thành nhung…
Tôi tương tư mùa Xuân quê nhà
từ những ngày tôi đi rất xa
trên chiến trường trên lao trường cũ
và bây giờ thế giới mở ra…
Ngày Tình Yêu hay Ngày Tình Nhân?
Mây đỉnh núi, giang đầu rưng rưng!
Tôi đi núp chỗ không ai thấy
Mình cô đơn không ai đi chung!
Trần Vấn Lệ
Xuân Khúc

gió mùa đang thì con gái
cho nên rất đỗi dịu dàng
chút nắng vàng ươm như lụa
mơ hồ một nẻo xuân sang
mơ hồ làn hương đâu đó
rộn ràng một khúc xuân tươi
ta nghe đất trời rộng mở
cầm tay nhau ấm môi cười
những nụ mai vàng chúm chím
trong lòng người đã mãn khai
bước vào vườn xuân bất tận
ngẩn ngơ gặp đóa xuân hoài
mai mốt về thăm tuổi nhỏ
ta tìm lại chút xuân xưa
mùa xuân u hoài năm tháng
nhớ thương biết mấy cho vừa
NP phan
TRÔI THEO DÒNG LUÂN LẠC
Những ngày cuối năm đầy gió, gió từ triền sông thổi mãi xô dạt những bờ lau trắng xoá, nhưng những cơn gió Santa Ana có xô dạt nỗi những hồi ức xa xăm!
Cũng chỉ là những chiều muộn như những chiều khác trên vùng bình nguyên châu thổ, nơi tụ hội của những giòng sông tìm đường ra biển lớn, tôi nghe như mùi khói đốt đồng vương đầy căn phòng nhỏ, mùi cỏ khô và rơm rạ ngày xưa, mùi gỗ ngo nồng nàn của tuổi thơ xa lắc. Người đàn bà mở to đôi mắt nhìn tôi, những đôi mắt phụ nữ đặc trưng của giòng họ, khi cúi xuống thì thuỳ mị khiêm cung, khi ngước lên thì tràn ngập một nỗi buồn u uất. Chị thầm thì:
– Ông nội chị là con trưởng, ông cam phận ở nhà nuôi mẹ để cha và các em trai rộng đường quan lộ. Khi ông cố chết, vua ban cho bao nhiêu là vàng bạc để lo việc thọ tang, nhưng ông nội chị đã mang hết vào chiếu bạc, trắng tay bỏ trốn! Ông bị bắt về quỳ bên quan tài mấy ngày đêm trước khi công bố nhục hình. Ông tức giận thù hằn vì cho rằng ông nội em đã giành cái quyền huynh thế phụ để truất quyền thừa kế của ông, ông đốt nhà ông nội em xong đem cả gia đình ra Bắc…
Chị đã đưa tôi về lại một quê nhà xa lắc, một ký ức mù mờ mà tôi quên bẵng từ lâu… câu chuyện chị kể tôi đã từng được nghe trong những ngày thơ dại, đêm đêm rúc vào lòng bà nội để chìm vào giấc ngủ.
Chị sống trong nursing home này khá lâu và là một bệnh nhân im lặng mà tôi không hay biết, vô tình khi trực thay cho một nhân viên khác tôi ngỡ ngàng nhìn thấy tên chị trên hồ sơ bệnh án: Thiên Kiều Tôn Nữ, một cái tên đài các và rất Huế! Tôi đã hỏi hàng trăm lần và câu trả lời chỉ là thinh lặng… nhưng dần dà, những trạng thái biểu hiện trong đôi mắt cúi xuống, đôi mắt nhìn lên của chị cho tôi một chút hy vọng mong manh. Công việc của tôi đơn giản là an ủi và xoa dịu những tổn thương âm thầm của những bệnh nhân trầm cảm, có người chỉ cần ai đó kề bên là đủ, có người chìm vào một cõi vô thanh, vô ngôn, có người như chỉ chờ ai gỡ một nút thắt là hồi ức cuồn cuộn tuôn về… một nhân viên xã hội quèn như tôi, không cần thiết phải gỡ những nút thắt, việc đó dành cho những bác sĩ chuyên khoa, lương cao chót vót.
Dân trong nghề đều biết một bệnh nhân nằm ở dưỡng đường này mỗi tháng tiền phí đủ trả cho 3 nhân viên xã hội cỡ tôi thì hà cớ gì tôi phải ôm thêm công việc!
Nhưng người đó là chị…
– Em biết không, ông nội và ba chị sống ngoài Bắc chẳng dễ dàng gì với cái họ con giòng cháu giống, phải thay tên đổi họ để không bị ảnh hưởng đến việc học hành thăng tiến, rồi đời chị phải học giỏi gấp 5 gấp 10 bọn nó mới có đường tiến thân. Năm 75 về tới Huế chị mới lấy lại cái họ mà ba chị đã đau đớn khướt từ!
Về Huế, các chú các bác phần lớn đều đi cải tạo, những người còn lại đều mang mặc cảm… con vua cháu chúa nên chỉ muốn yên thân! Lúc ấy ba chị mở cuốn gia phả, cay đắng nhìn tên ông nội chị với cái ngoặc đơn bị trướt tịch. Ba chị làm mọi cách để lấy lại những gì đã mất… những gì đã mất đó, nhân danh bên thắng cuộc đã vào lại tay ba chị… nhà thờ họ, nhà từ đường, đất xây lăng, đất thừa tự … cộng với những chức vụ các anh chị nắm vững trong thành phố đã được hợp thức hoá dần dần – trừ đất của ông nội em- nơi ông nội chị đã từng đốt cháy để trút xuống hận thù không hiểu vì sao lại làm ba chị chùn tay.
Rồi thành phố quy hoạch, vùng đó trở thành đất vàng, đất bạc, đất kim cương tuỳ theo những công trình chị ký, một phó chủ tịch địa chính tỉnh cứ xuống tay là tiền chảy vào tài khoản! Rồi các anh chị khoác lên thân phận mình một vỏ bọc cao sang, vừa con giòng cháu giống vừa quan chức đại gia… con cái gởi đi ăn học ở các nước tư bản từ ngày còn nhỏ xíu! Các anh chị quên dần cái dấu ấn nhục nhã ngày xưa, hoặc có nhớ thì lập tức phủi đi như phủi một vết nhơ cần che giấu!
Cho đến một ngày, những cơn ác mộng hằng đêm trở về, cứ nhắm mắt là chị thấy một người đàn bà đài các đến bên giường, nhìn chị với đôi mắt đầy u uẩn, đôi mắt của những dòng đời luân lạc… cái chết đột ngột của người thư ký riêng thân tín, căn bệnh ung thư bất ngờ phát hiện đã vào giai đoạn cuối của chồng, tai nạn xe làm con trai chấn thương cột sống nằm liệt… đã làm chị kinh hoàng và xôn xao dư luận của một thành phố vốn trầm mặc linh thiêng… hằng đêm, chị bị đánh thức bởi những tiếng khóc than ai oán… dưới tay chị, những ngôi mộ bị dời đi hoặc san bằng để có một khu đất đẹp nhân danh mỹ quan thành phố, một cứu cánh biện minh cho lòng tham không đáy… tự thâm tâm, đôi khi chị cũng áy náy xót xa, đôi khi tiền bạc cũng chỉ là phù du vô nghĩa, nhưng chị đang ở trong một guồng máy quay đều, chị chỉ là một thứ phụ tùng nhỏ bé… chị không muốn cái mác tiểu tư sản trí thức một lần nữa lại vùi dập con đường công danh đang trên đà thăng tiến… chị nhắm mắt ký khi những công văn để trên bàn có sự gởi gắm từ trên mà không còn quan tâm đến những con số phần trăm chia chác! Đã qua rồi cái thời kỳ đói khát cầm từng tờ bạc phân vân đo đếm, đã qua rồi cái thời tấp tểnh bước vào đường hoạn lộ với mặc cảm tự ti!
Trong giấc mơ, ba chị về, nói: con, lúc nào con cũng có thể dừng lại khi cần.
Trong giấc mơ, chị trả lời đầy nước mắt: ba, con không thể dừng lại khi mọi người đang đi tới.
Trong giấc mơ, bà Phi Tần đài các xinh đẹp trong ngôi mộ bị đào xới nửa chừng được che phủ bởi tấm bạt màu xanh mà nhiều người trong dòng họ đang ra sức đấu tranh để dành lại cho bà một chốn yên nghỉ ngàn thu nhìn chị với một đôi mắt tràn ngập u buồn!
Tôi không còn những buổi chiều muộn ngồi nghe chị kể.
Tôi không có gì để trách cứ hay minh oan cho chị.
Tôi không biết gì về những điều đã và sẽ xảy ra.
Đôi mắt chị hé mở, đó là đôi mắt của những người ngủ đang mơ, một giấc mơ êm ả! Ngủ ngon nghe chị.
Khung cửa rực sáng những tia nắng rực rỡ đầu ngày, Cầm Uyên thầm thì trong nước mắt:” con không hề biết về những điều này dì ơi!”
Tôi đặt tay lên vai nó, muốn ôm nó vào lòng, nhưng nó đã là một người trưởng thành từ lâu và xưa nay tôi vẫn xem nó như một người xa lạ: “ không sao đâu con, cái gì qua thì để nó qua đi… như đời sống đã bắt đầu thì sẽ có giờ kết thúc…”
tôi biết, một điều đã xảy ra rồi sao có thể nói là không! Chúng sẽ tồn tại vĩnh viễn trong trang lịch sử mà mai sau mở ra có thể chúng ta không tin dù đó là sự thật.
Chiếc thập giá chị đã mang đó quá nặng đối với một kiếp người… nhưng ai có thể nói được lời tha thứ lãng quên?
TÔN-NỮ THU-DUNG






